Những vấn đề văn hóa trong truyền thuyết

Một phần của tài liệu Giáo trình thi pháp văn học dân gian (Trang 56 - 61)

2.2. Đặc trưng thi pháp truyền thuyết

2.2.6. Những vấn đề văn hóa trong truyền thuyết

88 Trần Đình Sử tuyển tập, Tập 2, Nxb GD, 2005, tr.101-102.

89 Lê Đức Luận (2009), Thi pháp các thể loại truyện kể dân gian, B 2008-ĐN 03-27.

2.2.6.1. Tín ngưỡng a. Tín ngưỡng dân gian

Tín ngưỡng thờ Mẫu (truyện Thánh Mẫu Thượng ngàn, truyện Bà Đênh-Linh sơn thánh mẫu, Truyền thuyết về Thiên Ya Na, Truyện nàng MưJưk). Tín ngưỡng thờ nhiên thần: Tín ngưỡng thờ Núi (truyện Thần núi Đồng cổ, Sự tích thần núi Đồng cổ). Tín ngưỡng thờ Đất (truyện Đống chải đầu). Tín ngưỡng thờ Cây (truyện vị thần làng Bố Cái). Tín ngưỡng thờ Đá (truyền thuyết tượng Nghè). Tín ngưỡng thờ Rắn: (truyện Sự tích sông Độc, Bạch xà nương). Tín ngưỡng thờ Thủy thần (truyện Thánh Linh Lang, Sự tích Thần Linh Lang). Tín ngưỡng phồn thực: Tín ngưỡng thờ sinh thực khí (truyện Sự tích miếu bà Chúa Ngựa).Tín ngưỡng thờ cúng người có công (truyện Hăm mốt Lê Lai, hăm hai Lê Lợi, hăm ba giỗ mụ hàng dầu).

Tín ngưỡng thờ nhiên thần: núi, đá, cây: Biểu tượng đá, nước, cây: Hiện thân của Đất trong các nhân vật truyền thuyết và thần tích thời Hùng Vương được biểu hiện ba ngôi: thần Núi, thần Cây và thần Đá. Bản kể về vị thần này là: Sự tích Cao Sơn, Qúy Minh; Sự tích hai anh em sinh đôi Cao Sơn, Qúy Minh; Sự tích Sao Sơn - Qúy Minh đánh Thục. Nhân vật có nguồn gốc từ núi khác như bản Sự tích năm vị Sơn thần đời Thục: “Thiên đình cho năm vị Sơn thần giáng sinh...”.

Thần Núi biểu hiện phổ quát trong nhân vật Sơn thần, còn gọi là Sơn Tinh trong truyện các bản:

Tản viên Sơn thánh, Nói về sự tích ông thần núi Tản viên, Tản Viên Sơn thánh, Truyện núi Tản Viên, Sự tích Đức thánh Tản, Nói về sự tích ông thần Tản viên cưới vợ, Sơn Tinh đánh giặc, Sơn Tinh dạy dân săn bắn, Sơn Tinh làm lửa, Sơn Tinh cùng dân đánh cá, Tản viên đón vợ. Có nơi cho Cao Sơn và Qúy Minh là Tản Viên, anh em con chú con bác với Tản viên, hai anh em kết nghĩa của Tản Viên. Cái tên Cao Sơn ít nhiều có liên quan đến núi. Nếu Sơn Tinh là Thần Núi thì Cao Sơn là Núi cao, vị thần cao cả. Cuộc chiến tranh giữa Sơn Tinh và Thủy Tinh thực ra là hình tượng hóa cuộc tranh giành cương vực giữa hai thủ lĩnh của bộ lạc vùng trung du núi cao, bộ lạc “Núi (Sơn)” với bộ lạc vùng đồng trũng, bộ lạc Nước (Thủy). Cuộc tranh giành này đã được thần thoại hóa. Việc Hùng Vương thiên vị cho Sơn Tinh thực ra cũng đáp ứng nguyện vọng của cư dân vùng trung du, do Hùng Vương, một trong những đứa con do Âu Cơ cai quản. Thủy Tinh thực ra là vị thần Nước do Lạc Long Quân, Long Vương cai quản đã không có lợi thế khi chiếm lĩnh vùng đất cao. Thực ra thì cả hai đều là hậu duệ của Lạc Long Quân và Âu Cơ và cuộc đấu trí, thi tài giữa hai người cùng chung dòng tộc để chọn người kế vị vua Hùng.

Ngoài ra, các nhân vật khác là hiện thân của Đất có nguồn gốc từ cây, đá. Nhân vật được giáng sinh từ cây trong bản Sự tích vua bà Bến Nước và vua ông Cội Cây: “Một tối kia, vợ chồng nằm trong nhà vừa mơ màng chợp mắt, bỗng thấy cậu bé trừ trên ngọn cây tụt xuống dưới góc trước sân, rồi bước tới bà Trần mà nói: “Ta là Sơn Nhạc Tư Tào, phụng mệnh Thiên đình giáng sinh...”. Sự tích Đà công thời Hùng Vương: “Cái bào thai ở trong cây gỗ bấy nay biến thành nước ngọt chảy đi, chỉ còn lưu lại một đoạn khoảng ba bốn chục thước cứng như sắt, rắn như đá...Vua Hùng đem kiệu rồng rước cái bào thai về....”. Sự tích bảy anh em Lương, Hải, Long, Lôi, Sơn, Nhạc, Lĩnh thời Hùng Vương: “Muôn lạy quân vương, đừng chặt cây gỗ này, cây gỗ nay là hiện thân của bốn anh em chúng tôi”. Nhân vật có nguồn gốc từ đá: “Đá công thiên đình giáng trần, Đầu thai Trần thị tôi thần Nguyễn Xuân” (Sự tích Thiên Đá và Đường Lô đánh giặc Ân).

Có thể nói, Sơn Tinh là nhân vật quan trọng thứ hai sau Hùng Vương, có vai trò to lớn giúp Hùng Vương đánh giặc và trị nước. Sơn Tinh là vị tướng soái tài năng và có địa vị cao nhất, là con rể của vua Hùng. Sơn Tinh xuất hiện trong phần lớn các truyền thuyết và thần tích thời Hùng Vương. Sơn Tinh vừa là anh hùng chiến trận, vừa là anh hùng văn hóa. Anh hùng chiến trận thể hiện trong vai trò là một tướng lĩnh cầm quân, anh hùng văn hóa thể hiện trong việc “dạy dân săn bắn, làm lửa, đánh cá..”.

Tín ngưỡng thờ Núi, thờ Đất gắn với tín ngưỡng âm phù: Truyện Thần núi Đồng cổ, Sự tích thần núi Đồng cổ kể rằng thần núi Đồng cổ, tục gọi là núi Khả Phong, thuộc địa phận xã Đan Nê, huyện An Định, Thanh Hóa, hiển linh âm phù giúp Hùng Vương, Lý Thái Tông thắng giặc Chiêm, vua sai quân gia tạ lễ rồi rước về kinh đô. Lý Thái Tổ mất, Lý Thái Tông được lên ngôi, có ba người anh em định làm phản cướp ngôi, thần báo mộng, quả y như thế, nhờ Lê Phụng Hiểu giúp mới phá được. Truyện Đống chải đầu kể rằng ngày xưa, đầu làng Sấu có một cái đống nhô lên giữa hồ, ban ngày thì cái đống nhưng ban đêm thành hình một cô gái khổng lồ đứng chải tóc giữa hồ. Đến khi có giặc Hán xâm lược, cô biến thành nữ tướng chiêu binh đánh giặc, trai tài gái giỏi đến đầu quân như nước. Sau khi đất nước yên bình, cô lại trở về cái đống giữa hồ. Người ta lập đền thờ, và gọi cái đống là đống chải đầu nhưng sợ cô quở nên gọi chệch đi là Đống Giải. Hai truyện trên không chỉ là tín ngưỡng nhiên thần mà còn là tín ngưỡng nhân thần.

Tín ngưỡng thờ Đá: Truyền thuyết tượng Nghè kể rằng ngày xưa, ở làng Phương Sơn nay thuộc xã Triệu Sơn có anh nhà nghèo sống bằng nghề nhủi cá. Nhưng có lần hết cả buổi mà anh vẫn chưa bắt được con nào mà sau mỗi lần nhủi chỉ thấy hòn đá nằm trong nhủi. Anh quẳng nó đi thật xa nhưng mỗi lần cất nhủi lại thấy nó. Lo sợ trước việc này, anh đem hòn đá rửa sạch, đặt ngay ngắn trên bờ ruộng rồi quỳ xuống cầu nguyện rằng xin hòn đá đừng quấy rầy anh, cho anh nhủi được nhiều cá sống qua ngày, nếu được như thế sẽ mang hòn đá về thờ. Quả như nguyện, từ đó anh thờ cúng hòn đá như một vị thần. Điều lạ là hòn đá ngày một lớn và ngày càng giống người.

Anh hoảng sợ báo cho làng xóm biết, bà con cho là vị thần hộ dân nên lập miếu thờ, tôn là tượng ông Nghè. Truyện này nêu rằng tín ngưỡng bắt nguồn từ sự linh thiêng và ứng nghiệm.

Tín ngưỡng thờ cây kết hợp với tín ngưỡng thờ thần Nước: Truyện vị thần làng Bố Cái kể rằng thần làng Bố Cái là tinh của Viêm Long. Xưa ở làng Hạn Kiều, lộ Hạ Hồng có 2 anh em Thiện Minh và Thiện Xạ xuống biển đánh cá gặp một vật lạ như hình cây gỗ, dài hơn 3 thước dập dềnh trôi theo ngọn sóng, hai anh em nhặt lấy đem về. Đến đêm bỗng nghe trong vật ấy có tiếng động, hai anh em kinh hãi vội vất ra dòng nước, sau đó anh em mộng thấy một người đến xưng là vợ Đông hải Long vương, trót lỡ đi lại với Viêm Long vương sinh ra đứa con ấy, sợ Đông hải Long vương biết nên đem gửi các ngươi, sau này nó trưởng thành tất sẽ ban phúc cho các ngươi.

Tỉnh dậy, hai anh em lại thấy cây gỗ trôi theo thuyền bèn đem về, đến Bố Cái cây gỗ nhảy lên mặt đất. Hai anh em bèn lập đền thờ, lấy cây gỗ tạc tượng thờ, gọi là Long Quân.

Tín ngưỡng thờ Rắn trong truyện Bạch xà nương kể rằng vào đời Hán, Dương Đình Nghệ bị tên phản bội Kiều Công Tiễn đánh thuốc độc chết rồi giết cả gia đình ông. Chỉ có người hầu gái là Tiết Thị Huệ chạy thoát liền liên kết với thủ hạ của ông Dương để trả thù nhưng mưu kế bại lộ, nàng bị hại. Cô mất, hồn hiện thành con rắn trắng hiển linh đến doanh trại Ngô Quyền quấn vào người ông đang ngủ, Ngô Quyền tỉnh giấc thì đúng lúc người đưa tin dữ đến. Ngô Quyền đem binh giết bọn Kiều Công Tiễn và kéo binh giao chiến với quân Nam Hán. Trong trận đánh, người ta thấy con rắn hiện ra phun một luồng khói mịt mù làm quân giặc bối rối. Sau thắng lợi, nhân dân lập đền thờ con rắn, tôn là Bạch Xà nương, đền chính dựng ở làng Đằng Trung, Thanh Hóa. Truyện này thể hiện tín ngưỡng rắn báo oán, phù trợ cho ân nhân.

Tín ngưỡng thờ thủy thần trong hình thức thờ Rắn cũng chính là thần sông: Truyện Sự tích sông Độc kể thần Rắn giúp chúa Trịnh khi đi trên Sông Độc, nguồn từ sông Hát chảy ra, là nhánh của sông Phú Lương (sông Nhị). Chỗ ngã ba sông có miếu thờ thần sông thiêng lắm, thuyền buôn qua lại phải sửa đồ lên lễ không thì thuyền tan. Khoảng năm Cảnh Hưng, chúa Trịnh ngự giá tuần du phương Nam, khi thuyền qua chỗ ấy, dưới sông bỗng nổi lên một bãi cát, thuyền không đi được, chúa sai khơi đào, đào đến đâu lại đầy đến đấy. Chúa sai người lên lễ, hứa sẽ thăng trật, bỗng chốc dưới sông xuất hiện 2 con rắn dài hơn 10 thước, to bằng ống tre, bò qua bãi cát ấy, bò đến đâu, cát rẽ đến đấy, nước lại đầy như cũ.

Tín ngưỡng thờ Thủy thần: Truyện Thánh Linh Lang, Sự tích Thần Linh Lang (Thần tích trại Thủ Lệ) kể rằng Hạo Nương, vợ của Lý Thánh Tông. Một ngày phi ra hồ Dân Đàm tắm gội, Long thần ở dưới hồ bơi tới quấn lấy thân phi, sau có thai 14 tháng sinh ra một con trai khôi ngô tuấn tú, rồi sau 7 tháng thì bệnh đậu phát sinh, sau đó hóa, biến thành con giao long trên 100 thước bò vào hang đá ở giữa dinh thự rồi bò ra hồ Dâm Đàm mà lặn biến đi. Đến triều Lý Nhân Tông, vua thường xem cá ở hồ Dâm Đàm thấy cô gái giặt lụa bên hồ, vua thương yêu mang về cung sau đó nàng sinh một bọc hai con trai: anh là Linh Long và em là Lương Long. Được mấy tháng mà hai anh em biết nói, đầy tuổi thôi nôi thì xin từ biệt vua về trời. Vua cử quan Trung sứ tống tiễn, ra đến cửa thì biến thành rồng bò xuống dòng Độc Giang ở Hoài An (nay thuộc Hương Sơn, Hà Tây) lặn biến đi. Đến triều Trần có hai vị Dực vương và Vệ Vương là hóa thân lần thứ ba của thần.

Truyện này liên quan đến tín ngưỡng Đạo giáo về sự hóa thân, hóa kiếp của Long thần dưới dạng các nhân vật thuộc dòng vua chúa.90

b. Tín ngưỡng tôn giáo

Tín ngưỡng Phật giáo (Truyện Man Nương, Sự tích Man Nương, Tích truyện Man Nương, Sự tích nội đạo tràng, Truyện chùa Bối Khê, Tích cây mía và lễ chiêu hồn). Tín ngưỡng Đạo giáo:

Phép tu luyện, phương thuật (Truyện ông Tiên sư núi Nưa); hồn nhập xác (Truyện đền thờ Trương Ba); kiếp trước, tái sinh (truyện Sự tích tái sinh). Tín ngưỡng tôn giáo gắn liền với tín ngưỡng bản địa. Phật giáo gắn với tín ngưỡng thờ thần tự nhiên của người Việt: Pháp Vân, Pháp Vũ, Pháp Lôi, Pháp Điện. Vì trọng Mẫu nên người Việt có Phật Mẫu. Người Việt quan niệm vạn vật có linh hồn, con người có hai phần: hồn và xác, cũng chính là quan điểm của Đạo giáo có kiếp phận, thiên mệnh, thờ cúng, lên đồng, nhập hồn. Phật và Lão kết hợp lại thành Phật Lão nên thật khó phân định đâu là Phật và Lão. Đây là đặc điểm tâm linh người Việt: cải hoán, dung hòa các loại tín ngưỡng.91

Biểu tượng về cơ duyên tôn giáo: Chử Đồng Tử. Truyện Nhất dạ trạch kể Chử Đồng Tử một lần cùng phú thương ra bể buôn bán đã lên một cái am gặp tiểu tăng gọi là Ngưỡng Quang truyền phép cho. Mặc dù nói đến Phật giáo nhưng theo truyện kể thì phép thuật là của Đạo giáo.

Mối tình giữa Chử Đồng Tử và Công chúa Tiên Dung cũng là mối tình của cơ duyên sắp đặt, “do trời xui nên”. Chử Đồng Tử là đệ tử của Phật Lão, là ông tổ của Đạo giáo.

Biểu tượng về sự kết ngưỡng tôn giáo: Man nương. Các bản Truyện Man Nương, Sự tích Man Nương, Tích truyện Man Nương, Man Nương và Tứ pháp kể vào cuối đời Hán Minh Đế, có cô gái mồ côi theo học đạo Phật nhưng có tật nói lắp. Man nương là người phụ nữ đầu tiên xuất gia theo đạo Phật. Có tật nói lắp hay biểu tượng của sự lệch pha giữa ngôn ngữ bản địa và ngôn ngữ Ấn Độ, khó phát âm giữa tiếng Việt và tiếng Phạn của kinh Phật nên phát âm không chuẩn khi đọc kinh. Một bữa cô ngủ quên ở cửa, sư Già la bước qua không ngờ thụ thai có thể là biểu tượng của sự kết giao giữa tín ngưỡng Phật giáo và tín ngưỡng bản địa qua sự thụ thai linh nghiệm giữa một vị truyền giáo và một cư dân bản địa muốn theo Phật giáo. Sản phẩm của sự kết hợp ấy là các biểu tượng Phật giáo Việt với Tứ Pháp: Pháp Vân, Pháp Vũ, Pháp Lôi, Pháp Điện. Còn Man Nương thành Phật Mẫu.

2.2.6.2. Văn hóa nghề nghiệp

Nghề canh cửi, dệt may: Về nuôi tằm ươm tơ (truyện Bà chúa nghề tằm,truyện Sự tích Đông Hải Uy hiển Đại vương); dệt lụa lĩnh (truyện Bà tổ nghề dệt lụa, truyện Bà chúa Dệt lụa La công chúa, Bà chúa dệt vải, truyện Bà chúa Thiên niên). Nghề đan lát mây tre chiếu cói: nghề đan

90Lê Đức Luận (2015), Tiếp cận văn học nhà trường theo phương pháp phức hợp, Nxb. Văn học, H. tr.30-31

91 Lê Đức Luận (2015), “Đặc điểm tín ngưỡng và lễ hội trong truyền thuyết”, Khoa học Đại học Sài Gòn, số 8 (33).;

In trong Những vấn đề ngôn ngữ và văn hóa, Tập 1, Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội, 2017.

lát mây tre (truyện Bà Chúa Vót); nghề đan chiếu (truyện Trạng Chiếu). Nghề kim hoàn (truyện Nói về sự tích nghề thợ bạc ở nước Nam). Nghề rèn và tiện (Truyện ông tổ nghề rèn, Sự tích tổ sư nghề tiện thời Lê). Nghề giấy in (truyện Nói sự tích ông Lương Nhữ Hộc, Truyện Ông tổ nghề in là ai, truyện Vị tổ nghề giấy). Nghề gốm sứ (truyện Thực Nghiệp Đỉnh Phiêu). Nghề thuộc da và lọng ô (truyện Nói về sự tích thuộc da làm dày dép ở nước Nam, truyện Ông tổ nghề làm lọng).Nghề bánh trái mía đường (truyện Bà chúa Mía, truyện Cốm làng Thạc). Nghề đàn hát (truyện Mãn Đào Hoa công chúa).

Nghề gắn với nông nghiệp gồm các nghề trồng dâu, chăn tằm, ươm tơ, dệt vải, dệt lĩnh, trồng mía, làm cốm. Nghề trồng dâu, ươm tơ, dệt vải đã có từ rất sớm, ít nhất được ghi nhận từ thời Hùng Vương. Các nghề thủ công như kim hoàn, giấy in, gốm sứ, rèn, tiện, đan lát, thuộc da và lọng ô đều là các nghề cần sự tinh xảo, khéo tay, kĩ thuật cao. Riêng nghề rèn xuất hiện từ thời Hùng Vương với sự tích các thợ rèn đúc ngựa sắt, áo giáp sắt, roi sắt cho Thánh Gióng còn lại các nghề khác chỉ được nhắc đến sớm nhất vào thời Lý. Các nghề được ghi nhận trong truyền thuyết có nghề được phát sinh từ bản địa, có nghề được học tập, giao lưu nhân dân với các làng nghề của các tỉnh phía Nam Trung Hoa. Việc giao lưu, học hỏi nghề giữa nhân dân các tỉnh dọc biên giới hai nước là một lẽ thường tình.

Công trạng của danh nhân gắn liền với việc sáng tạo và truyền nghề. Các vị quan của các triều đại phong kiến, đặc biệt là thời nhà Lê và Lý đã có ý thức qua việc bang giao với chính quyền phong kiến Trung Hoa để học hỏi tri thức, trong đó quan trọng nhất là học nghề từ đó thực nghiệm đạt kết quả rồi truyền nghề cho dân chúng. Các công chúa, vợ vua chúa quan lại thì sáng tạo các nghề, bỏ tiền của công sức lập làng nghề, dạy dân chúng làm ăn. Nhân dân các làng nghề tôn vinh bằng việc lập đền thờ, thành thần hoàng làng: Công chúa Quỳnh Hoa khi chết bà trở thành thần hoàng thôn Nghi Tàm là nơi bà mất, ngoài ra có đến gần 60 nơi thờ bà (Bà chúa nghề tằm). Bà Phạm Thị Ngọc Đô phi của vua, dân chúng lập đền thờ, gọi là bà chúa dệt lĩnh, làng Trích Sài dựng chùa trên trang trại và gọi là bà chúa Thiên Niên (Bà chúa Thiên niên). Ông Phạm Đôn Lễ được nhân dân gọi ông là Trạng chiếu, lập đền thờ (Trạng Chiếu). Làng Rũi Tiện lấy ngày cụ đi làm ngày tưởng niệm cụ, và làng từ đấy mang tên là Rũi Tiện (Sự tích tổ sư nghề tiện thời Lê). Bà Nguyễn Thị Ngọc Liệu, khi bà mất, họ tôn bà là thần và gọi là bà Chúa Mía, tên chữ là Giá Sơn thánh mẫu (Bà chúa Mía). Nàng không những đàn hay mà còn hát hay múa dẻo, cùng chồng về làng quê Cổ Đạm dạy lớp trẻ đàn hát và Cổ Đạm thành mảnh đất thanh lịch, thịnh hành lối hát ả đào với cây đàn đáy. Khi nàng mất, dân Cổ Đạm lập đền thờ tôn bà là Mãn Đào Hoa công chúa, vị tổ ngành hát ả đào (Mãn Đào Hoa công chúa).

Các danh nhân làng nghề được phong làm tổ sư: Ông Nguyễn Thục được dân các phường tơ tằm tôn ông là tổ sư (Sự tích Đông Hải Uy hiển Đại vương). Công chúa Hoàng Phủ Thiếu Hoa được nhân dân các vùng coi bà Thiếu Hoa là thủy tổ nghề dệt lụa của mình (Bà tổ nghề dệt lụa).

Làng Trịnh Công, nay thuộc huyện Thanh Trì, Hà Nội có 3 anh em tên là Trần Hòa, Trần Điện, Trần Điền được những người làm nghề thờ và tôn là tổ sư (Nói về sự tích nghề thợ bạc ở nước Nam). Thám hoa Lương Hữ Hộc, sau khi ông ấy mất, dân làng xin rước về làm tổ sư (Nói sự tích ông Lương Nhữ Học). Tiến sĩ Nguyễn Thì Trung, sau khi ông mất, làng thờ làm tổ sư (Nói về sự tích thuộc da làm dày dép ở nước Nam). Tiến sĩ Trần Xuân Tiến được coi là ông tổ của nghề cốm Thạc (Cốm làng Thạc). Nhân dân đặt tên làng theo nghề: Lâu dần nghề này trở nên phát đạt, nên làng được gọi tên là Vạn Vót, tên chữ là Đặc Đạt, nay là xã Hoằng Đạt, Thanh Hóa (Bà Chúa Vót).

Vị tổ nghề giấy đã dạy nghề đầu tiên cho làng An Hòa và làng đó có tên là làng Giấy. Ở Nghĩa Đô

Một phần của tài liệu Giáo trình thi pháp văn học dân gian (Trang 56 - 61)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(122 trang)