Phân định các thể loại truyện kể

Một phần của tài liệu Giáo trình thi pháp văn học dân gian (Trang 24 - 30)

1.4. Vấn đề xác định ranh giới các thể loại văn học dân gian

1.4.1. Phân định các thể loại truyện kể

34 Lê Đức Luận, Biểu tượng Long – Rồng từ cội nguồn văn hoá giống nòi thể hiện trong truyền thuyết đến địa danh Thăng Long- Hà Nội, Ngôn ngữ và Đời sống, số171+172, H., Tháng 1,2/ 2010.

Các tác giả nhóm Lê Quý Đôn, khi xác định thể lại truyền thuyết đã viết như sau: “Truyền thuyết là tất cả những chuyện lưu hành trong dân gian có thật xảy ra hay không thì không có gì đảm bảo. Như vậy có những truyền thuyết lịch sử mà cũng có cả những truyền thuyết khác, hoặc dính dáng về một đặc điểm (chuyện nàng Tô Thị, chuyện Núi Vọng phu, v.v...), hoặc kể lại gốc tích một sự vật gì (chuyện Trầu Cau,...), hoặc giải thích những phong tục tập quán, hoặc nói về tích các nghề nghiệp, và tất cả những chuyện kì lạ khác”35. Cách quan niệm truyền thuyết của nhóm tác giả này quá rộng, lấn sang các truyện thuộc thể loại cổ tích.

Về phân loại truyền thuyết, Lê Chí Quế tạm chia truyền thuyết theo 3 loại: truyền thuyết lịch sử, truyền thuyết anh hùng, truyền thuyết về các danh nhân văn hóa36. Hoàng Tiến Tựu thì chia truyền thuyết thành 4 giai đoạn lịch sử: truyền thuyết về họ Hồng Bàng và thời kỳ Văn Lang, truyền thuyết thời kỳ Âu Lạc và Bắc thuộc, truyền thuyết về thời kỳ phong kiến tự chủ, truyền thuyết về thời kỳ Pháp thuộc37. Đỗ Bình Trị đưa ra 2 cách phân loại truyền thuyết. Cách thứ nhất vừa căn cứ theo lịch sử, vừa căn cứ vào phạm vi những sự kiện và nhân vật lịch sử được nhân dân quan tâm thì có 2 loại: những truyền thuyết về thời các vua Hùng, những truyền thuyết về sau thời vua Hùng. Cách thứ hai không căn cứ vào đề tài thì có: truyền thuyết địa danh, truyền thuyết phổ hệ, truyền thuyết về nhân vật và sự kiện lịch sử38. Kiều Thu Hoạch cho rằng truyền thuyết có 3 loại lớn: truyền thuyết nhân vật (nhân vật anh hùng chống xâm lược, nhân vật anh hùng văn hóa, nhân vật anh hùng nông dân), truyền thuyết địa danh, truyền thuyết phong vật (phong tục và sản vật)39. Quan điểm của Đặng Văn Lung trong cuốn: “Lịch sử và Văn học dân gian” hầu như xếp những truyện về thần có liên quan đến cuộc sống con người đều là truyền thuyết. Vì thế mà ông cho truyền thuyết có nhiều loại: truyền thuyết lịch sử (Truyện Nam Man, Truyện An Dương Vương, Truyện Trưng Trắc và Thi Sách…); truyền thuyết địa danh; truyền thuyết về vật tổ (Truyện Chim- Rồng, Truyện Điếu Điểu); truyền thuyết về vật thiêng (Thần Đồng cổ, Thuyền Đồng, Đá thần, Truyện Mộc Đa, Trâu thần, Ngựa thần…); Truyền thuyết về Shaman (phương thuật, biến hình);

truyền thuyết về phong tục, luật lệ, làm ăn; truyền thuyết về nhận dạng (giao ngón chân).40 Giữa ba thể loại: thần thoại, truyền thuyết và cổ tích có chỗ đường ranh giới giao nhau.

Nguyễn Đổng Chi trong Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam cho có loại cổ tích lịch sử. Giáo trình Văn học dân gian Việt Nam của trường Đại học sư phạm Hà Nội (1961-1962) và tái bản vào những năm 1970 cũng cho có truyện cổ tích lịch sử. Giáo trình Văn học dân gian Việt Nam của Đinh Gia Khánh và Chu Xuân Diên (1972-1973) cũng có loại cổ tích lịch sử. Những cách phân loại cổ tích có tiểu loại cổ tích lịch sử thể hiện một cách quan niệm rằng cổ tích phản ánh lịch sử và điều này thì gần gũi với chức năng truyền thuyết. Có hiện tượng những tác phẩm giao điểm giữa hai thể loại thần thoại và truyền thuyết như: Họ Hồng Bàng, Thánh Gióng, Sơn Tinh Thủy Tinh, Nỏ thần.

Các truyện này theo Đinh Gia Khánh là thần thoại. Theo chúng tôi, đây là những truyện truyền thuyết mang nhiều yếu tố huyền thoại. Mặc dù các truyện này có nhân vật thần nhưng về cơ bản vẫn là nhân vật có tính người, hoạt động như con người. Truyện Nỏ thần, dù thần Kim Quy mang màu sắc thần thoại nhưng nó nằm trong hệ thống truyền thuyết An Dương Vương nên nhân vật trung tâm vẫn là An Dương Vương. Nếu cứ cho các truyện có thần vật là thần thoại thì các truyện thuộc nhóm cổ tích thần kì cũng thần thoại vì loại truyện này có yếu tố thần. Sơn Tinh Thủy Tinh

35 Lược thảo lịch sử văn học Việt Nam, Nxb Xây dựng, H. 1957, tr. 60.

36 Văn học dân gian Việt Nam, Nxb. Đại học và Giáo dục chuyên nghiệp, H. 1990, tr. 62.

37 Văn học dân gian Việt Nam, Tập II, Nxb. Giáo dục, H. 1990, tr.28.

38 Đỗ Bình Trị, Trần Đình Sử, Văn học, Tập II, Nxb GD, H, 1998, tr. 184-195.

39 Tổng tập văn học dân gian người Việt, Truyền thuyết dân gian người Việt, Khải luận, Tập 4, Nxb. Khoa học Xã hội, H.,tr.35.

40 Đặng Văn Lung, Lịch sử và Văn học dân gian, Nxb Văn học, H.2003

là hiện tượng thần thoại hóa truyền thuyết hoặc truyền thuyết xen vào thần thoại. Truyện này chủ yếu là truyền thuyết phong tục thời Văn Lang về việc thi tài kén rể, cuộc tranh giành ảnh hưởng giữa hai thủ lĩnh Núi và Nước. Yếu tố thần thoại là sự giải thích hiện tượng mưa lũ xảy ra và cuộc đấu tranh chống lại thần nước của cư dân Lạc Việt.

Các truyện: Sự tích Bánh chưng bánh dày, sự tích Dưa hấu, Sự tích Trầu cau các nhà nghiên cứu cũng có quan điểm khác nhau. Hai truyện Sự tích Bánh chưng bánh dày, sự tích Dưa hấu được cho là cổ tích thần kì 41. Vũ Kim Biên trong cuốn “Truyền thuyết Hùng Vương thần thoại vùng đất tổ” đã cho các truyện: Trầu cau, Chử Đồng Tử (sách này có tên là Tiên Dung công chúa) là truyền thuyết. Ngay cả tên gọi cho cuốn sách cũng nhập nhằng hai thể loại: Thần thoại và truyền thuyết 42. Truyện Trầu cau là truyện thuộc tiểu loại cổ tích hoá thân, nằm trong kiểu truyện lí giải phong vật. Nhưng truyện Chử Đồng Tử là truyện khó xử lí. Lâu nay các nhà nghiên cứu folklore vẫn cho tác phẩm này là cổ tích thần kì. Tuy nhiên, nếu xếp vào nhóm truyện có nhân vật bị bức hại, bị đày đoạ, bị lừa đảo chiếm đoạt như kiểu truyện Tấm Cám, Thạch Sanh, Cây khế…thì không đúng. Chử Đồng Tử là nhân vật mồ côi nghèo khổ nhưng không bị ai ức hiếp, cướp đoạt. Cuộc hôn nhân giữa chàng với công chúa Tiên Dung là sự ngẫu nhiên bất ngờ như một cuộc hôn nhân định mệnh. Trước đó hai người không hề biết nhau, Tiên Dung thì nguyện không lấy chồng còn Chử Đồng Tử thì khó lấy được vợ vì quá nghèo. Tình duyên của họ như có người sắp đặt để rồi nên vợ nên chồng. Chử Đồng Tử là nhân vật có cơ duyên với đạo giáo nên được gặp đạo sĩ rồi được truyền dạy phép thuật. Suýt nữa thì hai cha con đấu đầu nhau nhưng Tiên Dung và Chử Đồng Tử nhờ phép thuật mà giải thoát. Truyện này có một tên khác là Sự tích đầm Nhất Dạ hay bãi Tự nhiên. Phải chăng nó thuộc loại truyền thuyết địa danh hay cổ tích hoang đường lí giải về duyên số và phép thuật của đạo giáo? Tiên Dung và Chử Đồng Tử sau này đều bay lên trời. Ngay cả tên Tiên Dung cũng mang yếu tố đạo giáo, không phải là cái tên Mị Nương như tên gọi con gái vua thời kì này. Việc bay lên trời này khác với nhân vật lịch sử sau khi chết cũng bay lên trời. Cái tên địa danh cũng để lí giải dấu tích lâu đài và sự thăng thiên của Tiên Dung và Chử Đồng Tử. Thời Hùng Vương, phương thuật và đạo giáo đã khá thịnh. Tăng Cổn, viên quan đô hộ cùng đi với Cao Biền trong Giao Chỉ ký (thế kỉ IX) đã ghi: Hùng Vương của thế kỉ VII tr. C.n. là một pháp sư, tóm thâu được thần quyền và thế quyền trong tay.43 Các truyện Sự tích núi Ngũ Hành, Sự tích núi Vàng thiên về lí giải địa danh chúng tôi cho là truyền thuyết thì cũng được xếp vào bộ phận cổ tích thần kì.

Truyện cổ tích loài vật và truyện thần thoại về các loài vật đều có chung đối tượng phản ánh. Tuy nhiên, giữa chúng cũng có những chỗ giao thoa. Các truyện Cá gáy hoá rồng; Cuộc tu bổ lại các giống vật; Rắn già rắn lột, người già người chui tuột vô săng thì Nguyễn Đổng Chi xếp vào thần thoại còn Tổng tập Văn học dân gian người Việt, Tập 6 lại xếp vào cổ tích loài vật. Trong các truỵên trên thì truỵên Cá gáy hoá rồng, Rắn già rắn lột, người già người chui tuột vô săng đã gắn vào niềm tin vốn con người sống lâu không chết và cá chép là con vật thiêng và như vậy, theo chúng tôi vẫn nghiêng về thần thoại nhiều hơn. Truyện cổ tích loài vật thường lí giải đặc tính, đặc điểm, gốc tích của con vật nhằm cung cấp cho người nghe những kiến thức về loài vật. Còn truyện ngụ ngôn, nhân vật loài vật là nhân vật đóng vai nhằm ngụ ý về một bài học triết lí nhân sinh. Tuy nhiên, cũng có những trường hợp khó phân định như truyện Con công và con quạ, Con cóc là cậu ông trời, Con nhện và con ruồi ở Tập 10 xếp vào truỵên ngụ ngôn. Truyện Con cóc là cậu ông trời

41 Tổng tập Văn học dân gian người Việt, Tập 6, Truyện cổ tích thần kỳ, Nguyễn Thị Huế chủ biên, Nxb Khoa học xã hội, H. Tr. 827-934.

42 Vũ Kim Biên (2005), Truyền thuyết Hùng Vương thần thoại vùng đất tổ, Sở Văn hóa Thông tin Phú Thọ.

43 Lê Đức Luận, Xã hội Hùng Vương thể hiện trong ngôn ngữ truyền thuyết và cổ tích, Ngôn ngữ và Đời sống, số 4 (138), H., 2007.

có dấu hiệu của bài học về sự đoàn kết của các kẻ yếu cũng có thể thắng những thế lực mạnh.

Truyện Không biết lượng sức mình có thể là truyện ngụ ngôn về sự bắt chước làm theo mà không biết lượng sức mình, một đồng dạng của truyện Cáo mượn oai hùm44. Truyện ngụ ngôn và truyện cười cũng có sự giao thoa, giữa chúng đều có yếu tố cười nhưng truyện ngụ ngôn lấy tiếng cười làm phương tiện còn truyện cười lấy tiếng cười làm mục đích. Truyện cười chỉ nhằm cười cợt còn ngụ ngôn nhằm nêu bài học nhân sinh. Có những truyện ngụ ngôn cười ra nước mắt nhưng không phải mục đích gây cười mà chỉ là tình huống gây cười mà thôi. Truyện Xẩm xem voi hay Thầy bói xem voi, cảnh năm ông thầy bói cãi nhau rồi đánh nhau toạc đầu chảy máu làm người nghe cười nhưng đó lại là truyện ngụ ngôn nêu lên bài học về cách đánh giá, nhận xét sự vật. Truyện Treo biển, tương tự với truyện này là truyện Đẽo cày giữa đường là dạng truyện ngụ ngôn nêu lên bài học về bản lĩnh tiếp nhận ý kiến góp ý, phê bình. Tuy nhiên truyện Treo biển lại được tác giả sách Ngữ văn 6 tập Một cho là truyện cười45. Theo Triều Nguyên, giữa truyện cười và truyện cổ tích sinh hoạt có những điểm chung là có yếu tố gây cười vì thế mà có sự nhầm lẫn một số truyện cổ tích sinh hoạt là truyện cười.46.

Hiện nay các giáo trình VHDG còn xếp chung các truyện như Trạng Quỳnh, Xiển Bột, Trạng Lợn, Thủ Thiệm, Ông Ó, Ba Phi nằm trong truyện cười. Theo Vũ Ngọc Khánh: “Khởi đầu, truyện trạng phải là truyện kể về ông trạng người thật việc thật với những tiểu sử đặc sắc, học hành công phu, ứng xử giỏi trong chính trị ngoại giao. Dần dần truyện được lưu truyền phát huy tác dụng. Phải có người mới có truyện. Nhưng khi đã có truyện thì người ta nhớ truyện chứ không nhất thiết nhớ đến người. Chuyện thật sẽ thành giai thoại để mang thêm giá trị văn học thẩm mĩ nhiều hơn là giá trị sử liệu. Có thể có chuyện của ông trạng này ghép cho ông trạng kia hay những truyện được thêm thắt. Rồi có những người không đỗ vẫn được tôn là trạng”47. Hiện nay các ý kiến chưa thống nhất về thể loại truyện trạng, có 3 nhóm ý kiến:

- Xếp truyện trạng vào truyện cười. Đó là các tác giả Đinh Gia Khánh và Chu Xuân Diên trong Văn học dân gian, Chu xuân Diên và Trần Gia Linh trong Từ điển văn học, Cao Huy Đỉnh trong Tìm hiểu tiến trình văn học dân gian Việt Nam, Nguyễn Ngọc Côn và Hoàng Tiến Tựu trong Lịch sử văn học Việt Nam.

- Xếp truyện trạng vào cổ tích sinh hoạt. Tiêu biểu là Đỗ Bình Trị trong Nghiên cứu tiến trình lịch sử của văn học dân gian Việt Nam.

- Xếp truyện trạng vào giai thoại dân gian. Vũ Ngọc Khánh trong các công trình: Truyện trạng Việt Nam, Dẫn luận nghiên cứu folklore Việt Nam, Kho tàng giai thoại Việt Nam đề nghị xếp các truyện Trạng vào giai thoại.

Đặc điểm tính danh của nhân vật trạng gắn liền với quá trình sáng tạo folklore vừa rất chung vừa rất riêng của truyện trạng. Nhân vật truyện trạng là nhân vật ở thế lưỡng phân: vừa nhân vật sáng tạo truyện vừa là nhân vật trung tâm của hệ thống truyện. Thứ hai là truyện trạng có sử dụng phương thức phóng đại làm yếu tố tạo ra tiếng cười cho tác phẩm. Thứ ba, vì thế, truyện trạng có yếu tố gây cười là lẽ đương nhiên. V. Guxep nói về tính hài của folklore “Trong folklore, tính hài của tình thế, của cảnh ngộ lấn át tính hài của tính cách. Ở nhân vật hài được tách ra một nét nào đó, một đặc tính nào đó và tính chất tiêu cực này được cố tình cường điệu, tô đậm đến chỗ

44 Tổng tập Văn học dân gian người Việt, Tập 7, Truyện cổ tích loài vật, Truyện cổ tích sinh hoạt, Nguyễn Thị Huế chủ biên, Nxb Khoa học xã hội, H. tr. 30-133.

45Lê Đức Luận (2006), Từ ngôn ngữ thông tin quảng cáo đến việc xử lý tình huống trong truyện Treo biển, Thế giới trong ta, Số 57+58, H.

46 Triều nguyên (2010), Sự khác biệt giữa truyện cười và cổ tích sinh hoạt có yếu tố gây cười, Sông Hương.

47 Dẫn luận nghiên cứu folklore Việt Nam, Sở giáo dục Thanh Hóa xuất bản, 1991, tr.212

phi lý”48. Thứ tư, truyện trạng bao giờ cũng tạo tình huống có vấn đề để khẳng định tính cách của nhân vật truyện.

Công trình Mĩ học folklore của V.E. Guxep có nhắc đến một số công trình nghiên cứu về giai thoại như: Những tìm tòi trong văn học giai thoại của N.F. Xumtxoc, Đặc trưng tư tưởng và nghệ thuật của giai thoại dân gian Nga của V.M.Xidelnikov in năm 1964. Ở Việt Nam vào các thời nhà Lê đến nhà Nguyễn trong các sách Hán Nôm ghi chép khá nhiều giai thoại xung quanh các nho sĩ như Công dư tiệp ký (1755) của Vũ Phương Đề (Ghi nhanh lúc rỗi việc công) nhưng không dùng chữ giai thoại. Truyện kể với tên gọi giai thoại hoặc có tính chất giai thoại xuất hiện trong khoảng những năm 1930-1945 nhưng phải đến năm 1965 mới có cuốn sách sưu tập giai thoại với tên gọi Giai thoại văn học Việt Nam của Hoàng Ngọc Phách, Kiều Thu Hoạch do Trần Thanh Mại viết giới thiệu. Theo Kiều Thu Hoạch thì “Mục đích của truyện cười là gây cười thì mục đích của giai thoại văn học lại chỉ để mua vui, chỉ nhằm đưa tới cho mọi người cái cảm giác sảng khoái, thú vị, một sự giải trí trí tuệ, thông minh, dí dỏm qua thơ văn và bằng thơ văn. Một truyện cười sở dĩ được gọi là truyện cười chính là do tính gây cười tạo nên. Một giai thoại sở dĩ được gọi là giai thoại chính là do tính lí thú tạo nên... Nói riêng về giai thoại văn học thì khi nói đến tính lí thú là nói một cách toàn diện, đó là tính lí thú ở cả bản thân thơ văn trong giai thoại cũng như tính lí thú ở tình huống của giai thoại”49. Giới folklore thế giới đã không đồng tình với quan điểm một thời đã qua, coi sáng tác folklore chỉ là sáng tạo của người lao động, của người mù chữ. Trần Quốc Vượng đã đồng tình với quan điểm của một nhà nghiên cứu folklore người Pháp “là dân gian, cái gì không phải là chính thống”50. Theo V.E. Guxep: “Chúng tôi tách giai thoại khỏi cổ tích sinh hoạt và đặc biệt khỏi cổ tích trào phúng vì nó có một số đặc điểm cho phép xem nó như một thể loại độc lập. Chúng tôi gọi là giai thoại tác phẩm tự sự trào phúng hoặc hài hước (saitirique ou humoristique) được xây dựng trên một tình tiết có một sự tăng tiến tới điểm cao (culmination), biểu hiện rõ rệt và kết thúc bất ngờ. Những giai thoại có thể kết chuỗi xung quanh một nhân vật quen thuộc với đại chúng (populaire), có thể là nhân vật lịch sử hoặc tưởng tượng...”51 .

Kiều Thu Hoạch chủ biên cuốn Tổng tập văn học dân gian người Việt, Tập 11, Giai thoại văn học Việt Nam quả là lúng túng khi phân loại giai thoại văn học. Tác giả chia thành hai loại:

Giai thoại về các tác gia (357 truyện) và giai thoại khuyết danh (84 truyện). Đã là giai thoại dân gian kể về nhân vật nào đó, nhà văn nhà thơ nào đó thì không thể gọi là tác gia. Dùng thuật ngữ

“tác gia” thường để chỉ các tác giả văn học lớn” chứ không thể chỉ nhân vật giai thoại. Vả lại có những “tác gia” chỉ xuất hiện với tư cách là nhân vật lịch sử thì không phải là nhân vật văn học như Lý Công Uẩn, Nguyên phi Ỷ Lan... Lại có những truyện thuộc về một phần truyện Trạng cũng được xếp vào giai thoại văn học như Chó khôn chớ cắn càn, Tú Cát-bọ hung, Thơ tạ thành hoàng, Da trắng vỗ bì bạch, Dòm nhà Bảng nhãn, Thơ tức cảnh mót lúa, Bài văn hai nghĩa, Thừa giấy vẽ voi, Tráo thơ giáo thụ trong truyện Trạng Quỳnh. Các truyện: Thơ điên cuồng ngu ngộ, Đít thớt đầu chày, Tổng đốc cay mũi, Ba quan bốn chó, Vào huyện đường họa thơ nằm trong truyện Xiển Ngộ. Các truyện: Bài thơ gỡ thể diện, Câu hò hay bảy mười một, Cây không trái gái không chồng nằm trong truyện Nguyễn Kinh. Các truyện: Thơ tập Kiều gỡ bí, Tấm vóc giá một chinh, Thơ nịnh sư nằm trong truyện Tú Xuất. Thiết tưởng đây chỉ là những mẫu chuyện thể hiện tài trí của nhân vật giai thoại.

Truyền thuyết lịch sử và giai thoại lịch sử có rất nhiều điểm khác nhau:

48 Mỹ học folklore, Hoàng Ngọc Hiến dịch, Nxb Đà Nẵng, 1999, tr. 572-573.

49 Tổng tập văn học dân gian người Việt, Tập 11, Giai thoại văn học Việt Nam, Khải luận, Nxb. KHXH, 2004 ,tr.25-31.

50 Folklore Việt Nam-trữ lượng và viễn cảnh, Tạp chí NCVHNT số 5-1990.

51 V.E. Guxep (1999), Mĩ học folklore, Hoàng Ngọc Hiến dịch, Nxb Đà Nẵng,tr. 233.

Một phần của tài liệu Giáo trình thi pháp văn học dân gian (Trang 24 - 30)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(122 trang)