BUỔI THẢO LUẬN THỨ TƯBẢO ĐẢM THỰC HIỆN NGHĨA VỤ,Buổi thảo luận môn hợp đồng hay còn được gọi mà môn dân sự 2, trả lời đầy đủ cái câu hỏi được đề ra trong các vấn đề, ngoài ra còn có các câu hỏi bổ sung thêm, câu hỏi và câu trả hời đầy đủ, rõ ràng, giúp người đọc và người nghe dễ hiểu, ngoài ra bài thảo luận này chỉ mang tính chất tham khảo thuii. Ai có nhu cầu thì có thể tham khảo, vì còn là sinh viên nên kiến thức cũng chưa đủ để bàn luận chuyên sâu từng vấn đề
Trang 11
BUỔI THẢO LUẬN THỨ TƯ BẢO ĐẢM THỰC HIỆN NGHĨA VỤ
Trang 22
MỤC LỤC
MỤC LỤC
BIÊN BẢN LÀM VIỆC NHÓM ……… 3
VẤN ĐỀ 1: ĐỐI TƯỢNG DÙNG ĐỂ BẢO ĐẢM VÀ TÍNH CHẤT PHỤ CỦA BIỆN PHÁP BẢO ĐẢM ……… 4
VẤN ĐỀ 2: ĐĂNG KÝ GIAO BẢO ĐẢM ………11
VẤN ĐỀ 3: ĐẶT CỌC ………14
VẤN ĐỀ 4: BẢO LÃNH ….…… ……… 23
DANH MỤC TÀI LIỆU KHAM KHẢO……… 33
Trang 3 Đỗ Văn Đại, Giáo trình Pháp luật về hợp đồng và bồi thường thiệt hại
ngoài hợp đồng, Nxb Hồng Đức-Hội Luật gia Việt Nam 2017,
Chương 3;
Đỗ Văn Đại, Luật các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ Việt
Nam-Bản án và Bình luận bản án, Nxb Hồng Đức-Hội Luật gia Việt
Nam 2021 (xuất bản lần thứ tư), Bản án số 5 và tiếp theo;
Nguyễn Xuân Quang, Lê Nết và Nguyễn Hồ Bích Hằng, Luật dân sự
Việt Nam, Nxb Đại học quốc gia TP HCM 2007, tr 387 đến 389.
Và các tài liệu liên quan khác (nếu có)
HCM
- Nguyên đơn: ông Phạm Bá Minh
- Bị đơn: bà Bùi Thị Khen và ông Bùi Khắc Thảo
Bà Bùi Thi ̣ Khen và ông Nguyễn Khắ c Thảo thế chấp cho ông Pha ̣m Bá Minh giấ y sử du ̣ng sa ̣p D2-9 ta ̣i chợ Tân Hương để vay 60 triê ̣u đồng, thời ha ̣n vay là 6 tháng,
lãi suất là 3%/ tháng Khi hết ha ̣n hợp đồng bà Khen và ông Thảo vẫn chưa trả hết nợ cho ông Minh Nay ông Minh khở i kiê ̣n yêu cầ u bà Khen trả hết số nợ còn la ̣i trong thời
hạn là mô ̣t tháng kể từ ngày bản án có hiê ̣u lực pháp luâ ̣t Còn về phía bà Khen, ông Minh thì đồng ý trả phần còn la ̣i nhưng xin trả trong vòng 12 tháng Tòa án xét thấ y giấ y chứ ng nhân sa ̣p trên chỉ là giấy đăng kí sử du ̣ng sa ̣p, không phải là quyền sở hữu, nên giấ y chứ ng nhâ ̣n sử du ̣ng sa ̣p không đủ cơ sở pháp lý để bà Khen trả tiền cho ông Minh Buộc ông Minh trả la ̣i giấy chứng nhâ ̣n sử du ̣ng sa ̣p cho bà Khen và ông Thảo,
bà Khen và ông Thảo có nghĩa vu ̣ thanh toán tiền còn la ̣i cho ông Minh ngay khi bản án
có hiê ̣u lực pháp luâ ̣t
Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang
- Nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn Ôn, bà Lê Thị Xanh
- Bị đơn: Ông Nguyễn Văn Rành, bà Hồ Thị Hết
Trang 44
Ngày 30/8/1995 vợ chồng ông Võ Văn Ôn cùng ông Nguyễn Văn Rành thỏa thuận về viê ̣c thu ̣c đất Theo đó vợ chồng ông Ôn giao cho ông Rành quyền sử du ̣ng đất để ông Rành canh tác, đổi la ̣i ông Rành sẽ giao la ̣i cho vợ chồng ông Ôn 30 cây vàng 24k để sử du ̣ng và có thỏa thuâ ̣n nếu quá 3 năm vợ chồng ông Ôn không chuô ̣c la ̣i đất bằ ng số vàng trên thì ông Rành có quyền canh tác ruô ̣ng đất trên vĩnh viễn Hai bên có
lập “Giấy thu ̣c đất làm ruô ̣ng” Bản án sơ thẩm xác đi ̣nh quan hê ̣ tranh chấp trên là
“Tranh chấp hợp đồng cầm cố quyền sử du ̣ng đất” và tuyên bố giao di ̣ch thu ̣c đất trên
là vô hiê ̣u Tòa giám đốc thẩm hủy bản án sơ thẩm và công nhâ ̣n giao di ̣ch thu ̣c đấ t trên
cao tại Tp Hồ Chí Minh
- Nguyên đơn: Ngân hàng liên doanh V
- Bi ̣ đơn: Công Ty PT
và để đảm bảo cho khoản vay 1.500.000.000 đồng của Công ty PT theo Hợp đồng tín dụng số 60/2014/HĐTD ngày 14/4/2014 thì giữa ông Trần T, bà Trần Thị H và Ngân hàng có ký kết hợp đồng thế chấp số 63/2014/HĐTC ngày 05/6/2014 Theo đó, ông T
và bà H đồng ý thế chấp tài sản là quyền sử dụng đất có diện tích là 120,75m2 và căn nhà 02 tầng gắn liền với đất có diện tích sử dụng là 214,62m2 ; đất thuộc thửa số 392;
tờ bản đồ số 3, tại số 40, đường Đ, Phường 13, quận T, Thành phố H do ông Trần T và
bà Trần Thị H đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất Quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn Ngân hàng Việt Nga thừa nhận Công ty PT đã tất toán các khoản vay từ Hợp đồng tín dụng số 60/2014/HĐTD ngày 14/4/2014 lần lượt vào các ngày 15/10/2014; ngày 25/10/2014 và ngày 12/11/2014 Vì vậy, việc thế chấp tài sản của ông
T, bà H đã chấm dứt theo quy định tại khoản 1 Điều 357 Bộ luật dân sự năm 2005 và khoản 1 Điều 327 Bộ luật dân sự năm 2015 Nhưng Ngân hàng la ̣i muốn dùng tài sản thế chấ p trên vào các khoản vay khác
Hướng giải quyết của Tòa án: Chấp nhận Kháng nghị số
10/KNGĐT-VKS-KDTM ngày 07/12/2020 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh và hủy Bản án kinh doanh thương mại phúc thẩm số 20/2020/KDTM-
PT ngày 26/8/2020 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương và giữ nguyên Bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 11/2019/KDTM-ST ngày 12/9/2019 của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương đối với vụ án “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” giữa nguyên đơn Ngân hàng Liên doanh V với bị đơn Công ty PT
Và cho biết:
1.1 Những điểm mới của BLDS 2015 so với BLDS 2005 liên quan đến tài sản có thể dùng để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ
Trang 5+ Điều 320: vật bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự
+ Điều 321: Tiền, giấy tờ có giá dùng để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự
+ Điều 322: Quyền tài sản dùng để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự
BLDS 2015 đã rút gọn lại thành một điều luật tại Điều 295:
1 Tài sản bảo đảm phải thuộc quyền sở hữu của bên bảo đảm, trừ trường hợp cầm giữ tài sản, bảo lưu quyền sở hữu
2 Tài sản bảo đảm có thể được mô tả chung, nhưng phải xác định được
3 Tài sản bảo đảm có thể là tài sản hiện có hoặc tài sản hình thành trong tương lai
4 Giá trị của tài sản bảo đảm có thể lớn hơn, bằng hoặc nhỏ hơn giá trị nghĩa vụ được bảo đảm
Ở BLDS 2005, việc quy định cụ thể tài sản là vật, tiền, hay quyền tài sản sẽ không thể bao quát được hết những gì là tài sản, vì tài sản có nghĩa rộng hơn những gì BLDS 2005
đã liệt kê
- Thứ hai, Điều 295 BLDS 2015 quy định về tài sản bảo đảm hình thành trong
tương lai Ở đây, luật đã quy định rõ tài sản, tức là bao gồm những gì là tài sản hình thành trong tương lai sẽ là tài sản bảo đảm, chứ không chỉ quy định về “vật” hình thành trong tương lai như ở Điều 320 BLDS 2005
- Thứ ba, BLDS 2015 cũng đã có những điểm mới về phạm vi bảo lãnh mà ở
BLDS 2005 chưa có, tại Điều 336 “Phạm vi bảo lãnh”
1 Bên bảo lãnh có thể cam kết bảo lãnh một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ cho bên được bảo lãnh
2 Nghĩa vụ bảo lãnh bao gồm cả tiền lãi trên nợ gốc, tiền phạt, tiền bồi thường thiệt hại, lãi trên số tiền chậm trả, trừ trường hợp có thỏa thuận khác
3 Các bên có thể thỏa thuận sử dụng biện pháp bảo đảm bằng tài sản để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh
4 Trường hợp nghĩa vụ được bảo lãnh là nghĩa vụ phát sinh trong tương lai thì phạm vi bảo lãnh không bao gồm nghĩa vụ phát sinh sau khi người bảo lãnh chết hoặc pháp nhân bảo lãnh chấm dứt tồn tại
Cụ thể, BLDS 2015 quy định rằng, bên bảo lãnh có thể cam kết bảo lãnh một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ, biện pháp bảo đảm tài sản sẽ do các bên thoả thuận, và phạm vi bảo lãnh của nghĩa vụ phát sinh trong tương lai sẽ không bao gồm nghĩa vụ phát sinh sau khi người bảo lãnh chết hoặc pháp nhân chấm dứt tồn tại Đây cũng là một điểm mới rất quan trọng và thực tế của BLDS 2015
Trang 66
- Thứ tư, BLDS 2015 đã quy định về giá trị tài sản đảm bảo có thể lớn hơn, bằng
hoặc nhỏ hơn giá trị nghĩa vụ được đảm bảo, tại Khoản 4 Điều 295, mà ở BLDS 2005 chưa quy định về điều này Đây là biện pháp loại bỏ trường hợp người yêu cầu giá trị tài sản đảm bảo cao hơn giá trị nghĩa vụ được đảm bảo
1.2 Đoạn nào của bản án số 208 cho thấy bên vay dùng giấy chứng nhận sạp để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ trả tiền vay?
Đoạn “nhận thấy” của bản án số 208 cho thấy bên vay dùng giấy chứng nhận sạp
để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ trả tiền vay: “vào ngày 14/9/2007 bà Bùi Thị Khen và
ông Nguyễn Khắc Thảo có thế chấp cho ông một giấy sử dụng sạp D2-9 tại chợ Tân Hương để vay 60.000.000 đồng, thời hạn vay là 6 tháng, lãi suất thoả thuận là 3%tháng” và đoạn “bị đơn là bà Bùi Thị Khen và ông Nguyễn Khắc Thảo đã xác nhận
có thế chấp một giấy tờ sạp D2-9 tại chợ Tân Hương để vat 60.000.000 đồng cho ông Phạm Bá Minh là chủ dịch vụ cầm đồ Bá Minh”
1.3 Giấy chứng nhận sạp có là tài sản không? Vì sao?
Giấy chứng nhận sạp không phải là tài sản Vì:
Khoản 1 Điều 105 BLDS 2015 quy định: Tài sản là vật, tiền, giấy tờ có giá và
quyền tài sản
Theo Khoản 8 Điều 6 Luật ngân hàng nhà nước Việt Nam 2010: “ Giấy tờ có giá
là bằng chứng xác nhận nghĩa vụ trả nợ giữa tổ chức phát hành giấy tờ có giá với người
sở hữu giấy tờ có giá trong một thời hạn nhất định, điều kiện trả lãi và các điều kiện khác”
Các giấy tờ có giá bao gồm:
a) Hối phiếu đòi nợ, hối phiếu nhận nợ, séc, công cụ chuyển nhượng khác được quy định tại Điều 1 của Luật các công cụ chuyển nhượng năm 2005;
b) Trái phiếu Chính phủ, trái phiếu công ty, kỳ phiếu, cổ phiếu được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 4 của Pháp lệnh ngoại hối năm 2005;
c) Tín phiếu, hối phiếu, trái phiếu, công trái và công cụ khác làm phát sinh nghĩa
vụ trả nợ được quy định tại điểm 16 Điều 3 của Luật quản lý nợ công năm 2009; d) Các loại chứng khoán (cổ phiếu, trái phiếu, chứng chỉ quỹ; quyền mua cổ phần, chứng quyền, quyền chọn mua, quyền chọn bán, hợp đồng tương lai, nhóm chứng khoán hoặc chỉ số chứng khoán; Hợp đồng góp vốn đầu tư; các loại chứng khoán khác do Bộ Tài chính quy định) được quy định tại khoản 1 Điều 6 của Luật chứng khoán năm 2006 (đã được sửa đổi, bổ sung một số điều năm 2010);
đ) Trái phiếu doanh nghiệp được quy định tại Điều 2 của Nghị định số 52/2016/NĐ-CP ngày 19/5/2006 của Chính phủ về “Phát hành trái phiếu doanh nghiệp”…’’
Trang 77
Quyền tài sản theo Điều 115 BLDS 2015: Quyền tài sản là quyền trị giá được bằng tiền, bao gồm quyền tài sản đối với đối tượng quyền sở hữu trí tuệ, quyền sử dụng đất
và các quyền tài sản khác
Giấy chứng nhận sạp không thuộc loại giấy tờ có giá hay quyền tài sản nào như
đã nêu trên, do đó giấy chứng nhận sạp không phải là tài sản
1.4 Việc dùng giấy chứng nhận sạp để bảo đảm nghĩa vụ dân sự có được Tòa án chấp nhận không? Đoạn nào của bản án cho câu trả lời?
Việc dùng giấy chứng nhận sạp để đảm bảo nghĩa vụ dân sự không được Toà án
chấp nhận, trong đoạn: “Xét sạp thịt heo do bà Khen đứng tên và cầm cố, nhưng giấy
chứng nhận sạp D2-9 tại chợ Tân Hương là giấy đăng kí quyền sử dụng sạp, không phải là quyền sở hữu, nên giấy chứng nhận trên không đủ cơ sở pháp lý để bà Khen thi hành án trả tiền cho ông Minh”
1.5 Suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết và cơ sở pháp lý của Tòa án đối với việc dùng giấy chứng nhận sạp để bảo đảm nghĩa vụ
Trong bản án trên, giấy chứng nhận sạp được dùng để bảm đảm nghĩa vụ, nhưng
đó không phải là tài sản theo quy định của pháp luật, mà chỉ là giấy đăng kí sử dụng sạp Bà Khen cũng không lấy chính sạp D2-9 hay quyền sở hữu sạp để làm tài sản đảm bảo Vì vậy, hướng giải quyết và cơ sở pháp lý của Toà án đối với sự việc này là hoàn toàn hợp lý và có cơ sở
1.6 Đoạn nào của Quyết định số 02 cho thấy các bên đã dùng quyền sử dụng đất
để cầm cố?
Đoạn: “Ngày 30/8/1995” vợ chồng ông Võ Văn Ổn và Lê Thị Xanh cùng ông
Nguyễn Văn Rành thoả thuận việc thục đất Hai bên có lập “Giấy thục đất làm ruộng” với nội dung giống như việc cầm cố tài sản”, “Bản án sơ thẩm xác định quan hệ tranh chấp là “tranh chấp hợp đồng cầm cố quyền sử dụng đất” là đúng”
1.7 Văn bản hiện hành có cho phép dùng quyền sử dụng đất để cầm cố không? Nêu cơ sở văn bản khi trả lời?
Khoản 1 Điều 167 Luật Đất đai năm 2013 quy định: “Người sử dụng đất được
thực hiện các quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho, thế chấp, góp vốn quyền sử dụng đất”
Khoản 1 Điều 105 BLDS 2015: “Tài sản là vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài
sản” và Điều 115 BLDS 2015 “Quyền tài sản là quyền trị giá được bằng tiền, bao gồm
Trang 8“được” thực hiện các quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa
kế, tặng cho, thế chấp, góp vốn quyền sử dụng đất theo quy định của Luật Đất đai (Khoản 1 Điều 167) mà không có quy định hạn chế quyền của người sử dụng BLDS
2015 cho phép cầm cố bất động sản
Dựa vào những cơ sở pháp lý và lập luận trên, tôi cho rằng quy định hiện nay của BLDS 2015 và Luật Đất đai 2013 thì có thể cầm cố quyền sử dụng đất, nhưng không được vi phạm điều cấm của luật theo quy định của BLDS 2015
1.8 Trong Quyết định trên, Tòa án có chấp nhận cho phép dùng quyền sử dụng đất để cầm cố không? Đoạn nào của Quyết định cho câu trả lời?
Trong Quyết đi ̣nh trên, Tò a án có chấp nhâ ̣n cho phép dùng quyền sử du ̣ng đất để cầ m cố
Đoa ̣n của Quyết đi ̣nh: “Hô ̣i đồng xét xử giám đốc thẩm xét thấy kháng nghi ̣ của Viện trưởng Viê ̣n kiểm sát nhân dân tỉnh Tiền Giang là có căn cứ chấp nhâ ̣n.”
Kháng nghi ̣ của Viê ̣n trưởng Viê ̣n kiểm sát nhân dân tỉnh Tiền Giang: “… Với giao di ̣ch trên cho thấ y mặc dù pháp luâ ̣t dân sự không qui đi ̣nh cu ̣ thể cho người sử
dụng đất có quyền cầm cố QSDĐ nhưng xét về bản chất của giao di ̣ch này thấy rằng giữa các bên đương sự đã thực hiê ̣n mô ̣t giao di ̣ch cầm cố tài sản cho nhau và giao di ̣ch
này không trái pháp luâ ̣t, không trái đa ̣o đức xã hô ̣i và tuân thủ đúng quy đi ̣nh của pháp luật về hình thức, nô ̣i dung của hợp đồng cầm cố tài sản được Bô ̣ luâ ̣t Dân sự quy đi ̣nh
từ Điều 326 đến Điều 341.”
Qua đó, tôi thấy rằng mă ̣c dù không nói rõ trong bản án nhưng với viê ̣c chấp nhâ ̣n kháng nghi ̣ của Viê ̣n trưởng Viê ̣n kiểm sát tỉnh Tiền Giang đồng nghĩa với viê ̣c Hô ̣i đồng xét xử giám đốc thẩm đã đồng ý với viê ̣c cho phép dùng quyền sư du ̣ng đất để cầ m cố
1.9 Suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết trên của Tòa án trong Quyết định
số 02
Theo suy nghĩ của tôi hướng giai quyết trên của Tòa án là hoàn toàn hợp lí, phù
hợp với quy đi ̣nh của pháp luâ ̣t khi công nhâ ̣n giao di ̣ch thu ̣c đất trên Vì theo như trình
bày ở trên thì quyền sử du ̣ng đất là quyền tài sản, theo Điều 115: “Quyền tài sản là quyền tri ̣ giá được bằ ng tiền, bao gồm quyền tài sản đối với đối tượng quyền sở hữu trí tuệ, quyền sử du ̣ng đất và các quyền tài sản khác” Và trong quy đi ̣nh của Luâ ̣t Đất đai
cũng không cấ m viê ̣c cầm giấy chứng nhâ ̣n đất để cầm cố Thêm vào đó, giấy chứng nhận quyền sử du ̣ng đất trên thuô ̣c sở hữu của ông Ôn và bà Xanh, viê ̣c cầm cố cũng
Trang 9Trong Quyết đi ̣nh số 27, thế chấ p được sử du ̣ng để đảm bảo cho nghĩa vu ̣ trả nợ
Vì đối tượng kinh doanh là tiền và thu nhập chủ yếu của ngân hàng được tạo ra từ hoạt động tín dụng Trong khi đó bất kì một khoản cho vay nào cũng đều chứa đựng những rủi ro nhất định Một khi có rủi ro xảy ra thì ngân hàng phải chịu tổn thất Để hạn chế rủi ro thì ngay từ đầu tất cả các khoản cho vay phải có ít nhất hai nguồn trả nợ tách biệt Do đó bảo đảm tín dụng là một tiêu chuẩn bổ sung những hạn chế của nhà quản trị ngân hàng cũng như phòng ngừa những diễn biến không thuận lợi
1.11 Đoạn nào trong Quyết định số 27 cho thấy Toà án xác định hợp đồng thế chấp đã chấm dứt?
Đoạn “Quá trình giải quyết vu ̣ án, nguyên đơn Ngân hàng Viê ̣t Nga thừa nhâ ̣n Công ty PT đã tất toán các khoản vay từ Hợp đồng tín du ̣ng số 60/2014/HĐTD ngày 14/4/2014 lầ n lượt vào các ngày 15/10/2014; ngày 25/10/2014 và ngày 12/11/2014 Vì
vậy, viê ̣c thế chấp tài sản của ông T, bà H đã chấm dứt theo quy đi ̣nh ta ̣i Khoản 1 Điều
357 Bộ luâ ̣t Dân sự năm 2005 và Khoản 1 Điều 327 Bô ̣ luâ ̣t Dân sự năm 2015.”
1.12 Vì sao Toà án xác định hợp đồng thế chấp nêu trên đã chấm dứt?
Vì theo sự xác nhận của phía Ngân hàng thì Công ty PT đã thanh toán tất cả các khoản nợ theo các hợp đồng tín dụng cụ thể và phía Ngân hàng cũng đã tất toán các hợp đồng này vào ngày cuối cùng là 25/11/2014 Do vậy, căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 357 Bộ luật dân sự năm 2005 và theo Khoản 1 Điều 327 Bô ̣ luâ ̣t Dân sự 2015 về việc thế chấp tài sản chấm dứt khi nghĩa vụ được bảo đảm bằng thế chấp chấm dứt thì Hợp đồng thế chấp bất động sản số 63/2014/HĐTC ngày 06/6/2014 đã chấm dứt, hết hiệu lực từ ngày 25/11/2014
1.13 Việc Toà án xác định hợp đồng thế chấp nêu trên đã chấm dứt có thuyết phục không? Vì sao?
Việc Tòa án xác đi ̣nh hợp đồng thế chấp nêu trên đã chấm dứt hoàn toàn thuyết phu ̣c
Vì:
+ Hợp đồng thế chấp bất động sản số 63/2014/HĐTC ngày 05/6/2014 được ký kết với ông Trần T, bà Trần Thị H vớ i Ngân hàng V để đảm bảo nghĩa vu ̣ trả nợ 1.500.000.000 đồng Tại Khoản 2, Điều 1 của hợp đồng nêu trên, đã thỏa thuận
“Bên thế chấp đồng ý dùng toàn bộ tài sản thế chấp được mô tả tại Điều 2 Hợp đồng
Trang 1010
này để bảo đảm thực hiện toàn bộ nghĩa vụ đã, đang và sẽ phát sinh trong tương lai theo toàn bộ các Hợp đồng tín dụng đã và sẽ ký giữa Ngân hàng với Bên vay trong giới hạn số tiền tối đa bằng giá trị tài sản thế chấp” nhưng ngày 17/6/2014, Ngân hàng và Công ty PT ký kết Phụ lục 01 sửa đổi, bổ sung hợp đồng tín dụng hạn mức
số 60/2014/HĐTD ngày 14/4/2014, nâng hạn mức tín dụng từ 1,5 tỷ đồng lên 5 tỷ đồng Ngày 23/09/2014, Ngân hàng và Công ty PT ký kết Phụ lục 02 sửa đổi, bổ sung hợp đồng tín dụng hạn mức số 60/2014/HĐTD ngày 14/4/2014, nâng hạn mức tín dụng từ 1,5 tỷ đồng lên 10 tỷ đồng Như vậy, Ngân hàng đã tự ý nâng ha ̣n mức
tín du ̣ng mà không được sự đồng ý của ông Trần T, bà Trần Thị H
+ Đồng thờ i theo quyết đi ̣nh của Tòa án nhân dân tối cao: “nguyên đơn Ngân hàng Việt Nga thừa nhận Công ty PT đã tất toán các khoản vay từ Hợp đồng tín dụng số 60/2014/HĐTD ngày 14/4/2014 lần lượt vào các ngày 15/10/2014; ngày 25/10/2014 và ngày 12/11/2014 Vì vậy, việc thế chấp tài sản của ông T, bà H đã chấm dứt theo quy định tại Khoản 1 Điều 357 Bộ luật ân sự năm 2005 và Khoản 1 Điều 327 Bộ luật Dân sự năm 2015
VẤN ĐỀ 2: ĐĂNG KÝ GIAO DỊCH BẢO ĐẢM
Đỗ Văn Đại, Giáo trình Pháp luật về hợp đồng và bồi thường thiệt hại
ngoài hợp đồng, Nxb Hồng Đức-Hội Luật gia Việt Nam 2017,
Chương 3;
Đỗ Văn Đại, Luật các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ Việt
Nam-Bản án và Bình luận bản án, Nxb Hồng Đức-Hội Luật gia Việt
Nam 2021 (xuất bản lần thứ tư), Bản án số 31 và tiếp theo;
Nguyễn Xuân Quang, Lê Nết và Nguyễn Hồ Bích Hằng, Luật dân sự
Việt Nam, Nxb Đại học quốc gia TP HCM 2007, tr 390;
Và các tài liệu liên quan khác (nếu có)
Tóm tắt bản án: số: 09/2019/KDTM-PT ngày 16/08/2019 về v/v: "Tranh chấp hợp đồng tín dụng" của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội
- Nguyên đơn: Ngân hàng N
- Bị đơn: Công ty TNHH xây dựng và thương mại V
Hai bên đã ký hợp đồng tín dụng như sau: Hợp đồng tín dụng số
1421-LAV-200900142/HĐTD ký ngày 29/9/2009 và số 1421-LAV-201000037/HMTD ký ngày 21/05/2010 và 21/5/2012, Ngân hàng N tiếp tục ký Hợp đồng hạn mức tín dụng số 1421-LAV-201000037, theo đó Ngân hàng N tiếp tục gia hạn cho công ty thêm 12 tháng với hạn mức tín dụng như cũ Quá trình thực hiện hợp đồng này, Ngân hàng N chưa giải ngân mà chỉ theo dõi phần dư nợ chuyển sang giữa Ngân hàng N với Công
Trang 11Tuyên bố Hợp đồng thế chấp tài sản số công chứng: 1013.2009/HĐTC, ngày 07/9/2009 được ký kết giữa bên thế chấp là ông Đỗ Văn Q và bà Phạm Thị V, bên nhận thế chấp là Ngân hàng và bên vay là Công ty V chưa phát sinh hiệu lực pháp luật.Ngân hàng N và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập là ông
Đỗ Văn Q và bà Phạm Thị V phải đi đăng ký lại giao dịch bảo đảm theo đúng quy định
Bản án phúc thẩm tuyên:
Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với yêu cầu kháng cáo của ông Đỗ Văn Q và bà Phạm Thị V do vắng mặt tại phiên tòa phúc thẩm hai lần
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng N về việc yêu cầu Công
ty V phải thanh toán trả nợ gốc, lãi và lãi chậm trả phát sinh từ hợp đồng tín dụng hạn mức như bản án sơ thẩm
Bác bỏ yêu cầu độc lập của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan (ông Q, bà V)
về việc tuyên bố Hợp đồng thế chấp tài sản là vô hiệu, chưa phát sinh hiệu lực pháp luật cũng như yêu cầu Ngân hàng N phải trả lại bản gốc Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà
và quyền sử dụng đất
Và cho biết:
2.1 Điểm mới của BLDS 2015 so với BLDS 2005 về đăng ký giao dịch bảo đảm
Tại BLDS 2015 thì nội hàm về đăng ký giao dịch bảo đảm không có gì mới, vẫn trên tinh thần kế thừa BLDS 2005, chỉ thay đổi về thuật ngữ “giao dịch” và “biện pháp” BLDS 2005 đề cập về vấn đề “đăng ký giao dịch bảo đảm”, còn BLDS 2015 thì quy định về “đăng ký biện pháp bảo đảm” Giao dịch bảo đảm là giao dịch dân sự do các bên thoả thuận hoặc pháp luật quy định về việc thực hiện biện pháp bảo đảm Tại BLDS
2015 đã dùng “biện pháp” để giới hạn lại phạm vi cần bảo đảm được quy định tại điều
292 BLDS 2015
Trang 12Như vậy, hợp đồng thế chấp số 1013.2009/HĐTC ngày 07/9/2009 là hợp đồng thế chấp tài sản cụ thể là nhà đất để đảm bảo nghĩa vụ trả nợ nên thuộc trường hợp phải đăng ký
2.3 Hợp đồng thế chấp số 07/9/2009 đã được đăng ký phù hợp với quy định không? Đoạn nào của bản án cho câu trả lời?
Hợp đồng thế chấp số 07/9/2009 chưa được đăng ký phù hợp với quy định Đoạn trong bản án cho câu trả lời: “Tuyên bố Hợp đồng thế chấp tài sản số công chứng: 1013.2009/HĐTC, ngày 07/9/2009 được ký kết giữa bên thế chấp là ông Đỗ Văn Q và bà Phạm Thị V, bên nhận thế chấp là Ngân hàng và bên vay là Công ty V chưa phát sinh hiệu lực pháp luật Ngân hàng và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan
có yêu cầu độc lập là ông Đỗ Văn Q và bà Phạm Thị V phải đi đăng ký lại giao dịch bảo đảm theo đúng quy định”
2.4 Theo Toà án, nếu không được đăng ký, hợp đồng thế chấp số 07/9/2009
có vô hiệu không? Vì sao?
Theo Tòa án, nếu không được đăng ký, hợp đồng thế chấp số 07/9/2009 sẽ vô hiệu
Vì dựa trên những cơ sở pháp lý sau: Khoản 1 Điều 298 BLDS 2015 quy định:
“1 Biện pháp bảo đảm được đăng ký theo thỏa thuận hoặc theo quy định của luật
Việc đăng ký là điều kiện để giao dịch bảo đảm có hiệu lực chỉ trong trường hợp luật có quy định”
Do đó, việc đăng ký là điều kiện để hợp đồng này có hiệu lực
- Điểm b Khoản 1 Điều 4 Nghị định 102/2017/NĐ-CP:
“b) Thế chấp tài sản gắn liền với đất trong trường hợp tài sản đó đã được chứng nhận quyền sở hữu trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền
sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất”
Hợp đồng thế chấp số 07/9/2009 thuộc trường hợp mà pháp luật quy định phải đăng ký
Trang 1313
- Khoản 1 Điều 5 Nghị định 102/2017/NĐ-CP quy định:
“1 Trường hợp đăng ký biện pháp bảo đảm bằng quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất, tàu bay, tàu biển, thì thời điểm có hiệu lực của đăng ký biện pháp bảo đảm là thời điểm cơ quan đăng ký ghi nội dung đăng ký vào
sổ đăng ký Trường hợp đăng ký biện pháp bảo đảm bằng tài sản là động sản khác, thì thời điểm có hiệu lực của đăng ký biện pháp bảo đảm là thời điểm nội dung đăng ký được cập nhật vào cơ sở dữ liệu về biện pháp bảo đảm.”
Qua đó, về nguyên tắc, biện pháp bảo đảm thế chấp quyền sử dụng đất, quyền
sở hữu nhà ở có hiệu lực kể từ thời điểm đăng ký thế chấp nên nếu không được đăng ký thì hợp đồng thế chấp sẽ vô hiệu
Từ những cơ sở nêu trên, việc hợp đồng thế chấp số 07/9/2009 nếu không được đăng ký sẽ trở nên vô hiệu và mất giá trị pháp lý
2.5 Hướng của Toà án như trong câu hỏi trên có thuyết phục không? Vì sao?
Hướng của Tòa án như trong câu hỏi trên là thuyết phục, vì:
Tòa đã áp dụng những QPPL mà pháp luật quy định nhằm đảm bảo tính công bằng, về bản chất đăng ký giao dịch bảo đảm là hoạt động ghi vào sổ đăng ký các giao dịch, hoạt động của cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo một trình tự, thủ tục luật định nhằm đảm bảo hiệu lực của các giao dịch bảo đảm hoặc có hiệu lực đối với người thứ
ba Do đó nếu không được đăng ký thì hợp đồng thế chấp số 07/9/2009 sẽ không được ghi nhận khiến hợp đồng này trở nên vô hiệu và như vậy sẽ ảnh hưởng lớn đến quyền lợi của bên có quyền
Đỗ Văn Đại, Giáo trình Pháp luật về hợp đồng và bồi thường thiệt hại
ngoài hợp đồng, Nxb Hồng Đức-Hội Luật gia Việt Nam 2017,
Chương 3;
Hoàng Thế Cường, Sách tình huống Pháp luật hợp đồng và bồi
thường thiệt hại ngoài hợp đồng, Nxb Hồng Đức-Hội Luật gia Việt
Nam 2017, Vấn đề 19;
Trang 1414
Đỗ Văn Đại, Luật các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ Việt
Nam-Bản án và Bình luận bản án, Nxb Hồng Đức-Hội Luật gia Việt
Nam 2021 (xuất bản lần thứ tư), Bản án số 149 và tiếp theo;
Nguyễn Xuân Quang, Lê Nết và Nguyễn Hồ Bích Hằng, Luật dân sự
Việt Nam, Nxb Đại học quốc gia TP HCM 2007, tr 393 và 394;
Và các tài liệu liên quan khác (nếu có)
bên (sau đây gọi là bên
cầm cố) giao tài sản thuộc
quyền sở hữu của mình
cho bên kia (sau đây gọi là
bên nhận cầm cố) để bảo
đảm thực hiện nghĩa vụ
(điều 309)
Đặt cọc là việc một bên (sau đây gọi là bên đặt cọc) giao cho bên kia (sau đây gọi là bên nhận đặt cọc) một khoản tiền hoặc kim khí quý, đá quý hoặc vật có giá trị khác (sau đây gọi chung là tài sản đặt cọc) trong một thời hạn để bảo đảm giao kết hoặc thực hiện hợp đồng (điều 328)
Thế chấp tài sản là việc một bên (sau đây gọi là bên thế chấp) dùng tài sản thuộc sở hữu của mình để bảo đảm thực hiện nghĩa
vụ và không giao tài sản cho bên kia (sau đây gọi là bên nhận thế chấp)
Tài sản thế chấp do bên thế chấp giữ Các bên có thể thỏa thuận giao cho người thứ ba giữ tài sản thế chấp
Phương
thức
thực
hiện
Bên cầm cố giao tài sản
thuộc quyền sở hữu của
mình cho bên nhận cầm cố
Một bên giao cho bên kia một khoản tiền hoặc kim khí quý, đá quý hoặc vật có giá trị khác
Tài sản thế chấp do bên thế chấp giữ Các bên có thể thỏa thuận giao cho người thứ ba giữ tài sản thế chấp
1 Nghĩa vụ được bảo
đảm bằng thế chấp chấm dứt
2 Việc thế chấp tài
sản được hủy bỏ hoặc được thay thế bằng
Trang 15Tài sản cầm cố được trả lại
cho bên cầm cố Hoa lợi,
lợi tức thu được từ tài sản
cầm cố cũng được trả lại
cho bên cầm cố
Tài sản đặt cọc được trả lại cho bên đặt cọc hoặc được trừ để thực hiện nghĩa vụ trả tiền
Nhận lại tài sản thế chấp do người thứ ba giữ và giấy tờ liên quan đến tài sản thế chấp do bên nhận thế chấp giữ
Mục
đích
Bảo đảm thực hiện nghĩa
vụ dân sự Bảo đảm việc giao kết
hoặc thực hiện hợp đồng
Bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự
Xử lý tài
sản bảo
đảm
Được bán, thay thế, trao
đổi, tặng cho tài sản cầm
cố nếu được bên nhận cầm
cố đồng ý hoặc theo quy
định của pháp luật
Được bán, thay thế, trao đổi, tặng cho tài sản cầm
cố nếu được bên nhận cầm
cố đồng ý hoặc theo quy định của pháp luật Trường hợp hợp đồng được giao kết, thực hiện thì tài sản đặt cọc được trả lại cho bên đặt cọc hoặc được trừ để thực hiện nghĩa vụ trả tiền; nếu bên đặt cọc từ chối việc giao kết, thực hiện hợp đồng thì tài sản đặt cọc thuộc về bên nhận đặt cọc; nếu bên nhận đặt cọc từ chối việc giao kết, thực hiện hợp đồng thì phải trả cho bên đặt cọc tài sản đặt cọc và một khoản tiền tương đương giá trị tài sản đặt cọc, trừ trường hợp
có thỏa thuận khác
Không có quy định
về xử lý tài sản bảo đảm
3.2 Thay đổi giữa BLDS 2015 và BLDS 2005 về đặt cọc
Trang 16Đặt cọc là việc một bên (sau đây gọi là bên đặt cọc) giao cho bên kia (sau đây gọi là bên nhận đặt cọc) một khoản tiền hoặc kim khí quý,
đá quý hoặc vật có giá trị khác (sau đây gọi chung là tài sản đặt cọc) trong một thời hạn để bảo đảm giao kết hoặc thực hiện hợp đồng
Mục đích
của đặt cọc
- Thỏa thuận đặt cọc phải được lập thành văn bản Thỏa thuận đặt cọc có thể được thể hiện bằng văn bản riêng nhưng cũng có thể được thể hiện bằng một điều khoản trong hợp đồng chính thức
- Đối với đặt cọc nhằm giao kết hợp đồng thì việc đặt cọc phải được thể hiện bằng văn bản riêng vì tại thời điểm giao kết thỏa thuận đặt cọc thì hợp đồng chưa được hình thành
- Bên cạnh đó, pháp luật cũng không quy định thỏa thuận đặt cọc bắt buộc phải công chứng chứng thực, mà tùy vào thỏa thuận giữa các bên
- Các bên trong đặt cọc có thể thỏa thuận về mục đích của đặt cọc theo một trong ba trường hợp sau:
“Chỉ bảo đảm cho việc giao kết hợp đồng, thực hiện hiện hợp đồng hoặc vừa bảo đảm cho việc giao kết hoặc vừa bảo đảm cho việc thực hiện hợp đồng”
- Việc đặt cọc là một trong các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ, chỉ cần bảo đảm đúng mục đích, ngoài ra không đòi hỏi đáp ứng về điều kiện hình thức xác lập
- Tuy nhiên các bên vẫn nên có những hình thức xác lập thỏa thuận
dễ nhận biết và xử lý cũng như dễ dàng cho các bên chứng minh
3.3 Theo BLDS, khi nào bên đặt cọc mất cọc, bên nhận cọc bị phạt cọc?
Cơ sở pháp lý: Khoản 2 Điều 328 BLDS 2015