1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

bài thảo luận môn luật lao động buổi thứ 5, chương 5: tiền lương

8 526 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 8
Dung lượng 620,45 KB
File đính kèm bài-thảo-luận-5-nhóm-2.rar (589 KB)

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tháng 011995 đến tháng 92008, ông Nguyễn Hồng là cán bộ kỹ thuật Ban quản lý các dự án giao thông tỉnh Vĩnh Long. Từ tháng 102008 đến tháng 122008, chuyển đổi các Ban quản lý các dự án đầu tư xây dựng công trình cấp tỉnh theo Quyết định số 2206QĐUBND ngày 29102007 của Ủy ban nhân dân tỉnh Vĩnh Long, ông Hồng được điều về Công ty Cổ phần Tư vấn quản lý các dự án xây dựng V. (“Công ty V.”) từ tháng 102008 cho đến khi nghỉ việc. Do điều kiện hoàn cảnh khó khăn nên ông Hồng xin chấm dứt HĐLĐ số: 32HĐ.PMC2010 có hiệu lực từ ngày 26022009 và nghỉ việc theo quyết định số 25QĐPMC ngày 03122015 của Công ty V.Sau khi việc, ông có yêu cầu Công ty V. trả trợ cấp thôi việc nhưng Công ty này không đồng ý. Ngoài ra, ông Hồng còn yêu cầu Công ty V. phải chi trả tiền thù lao Hội đồng quản trị từ tháng 82012 đến tháng 112015 với số tiền 40.000.000 đồng (40 tháng x 1.000.000 đồng).Hỏi: Ông Hồng có nhận được trợ cấp thôi việc và tiền thù lao Hội đồng quản trị do Công ty V. chi trả không? Vì sao?

Trang 1

KHOA CÁC CHƯƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO ĐẶC BIỆT

BUỔI THẢO LUẬN THỨ NĂM

LUẬT LAO ĐỘNG

̣ môn: Luâ ̣t Lao Đô ̣ng

Giảng viên: Th.S Lê Ngo ̣c Anh

TS Lê Thị Thuý Hương

Trang 2

CHƯƠNG 5: TIỀN LƯƠNG

1 Tình huống số 1

Tháng 01/1995 đến tháng 9/2008, ông Nguyễn Hồng là cán bộ kỹ thuật Ban quản lý các dự án giao thông tỉnh Vĩnh Long Từ tháng 10/2008 đến tháng 12/2008, chuyển đổi các Ban quản lý các dự án đầu tư xây dựng công trình cấp tỉnh theo Quyết định số 2206/QĐ-UBND ngày 29/10/2007 của Ủy ban nhân dân tỉnh Vĩnh Long, ông Hồng được

điều về Công ty Cổ phần Tư vấn quản lý các dự án xây dựng V (“Công ty V.”) từ tháng

10/2008 cho đến khi nghỉ việc Do điều kiện hoàn cảnh khó khăn nên ông Hồng xin chấm dứt HĐLĐ số: 32/HĐ.PMC-2010 có hiệu lực từ ngày 26/02/2009 và nghỉ việc theo quyết định số 25/QĐ-PMC ngày 03/12/2015 của Công ty V

Sau khi việc, ông có yêu cầu Công ty V trả trợ cấp thôi việc nhưng Công ty này không đồng ý Ngoài ra, ông Hồng còn yêu cầu Công ty V phải chi trả tiền thù lao Hội đồng quản trị từ tháng 8/2012 đến tháng 11/2015 với số tiền 40.000.000 đồng (40 tháng x 1.000.000 đồng)

Hỏi: Ông Hồng có nhận được trợ cấp thôi việc và tiền thù lao Hội đồng quản trị do Công ty V chi trả không? Vì sao?

Trả lời:

Ông Hồng hoàn toàn được nhận trợ cấp thôi việc

Vì theo Khoản 1 Điều 46 về Trợ cấp thôi việc:

“ 1 Khi hợp đồng lao động chấm dứt theo quy định tại các khoản 1, 2, 3, 4, 6, 7, 9

và 10 Điều 34 của Bộ luật này thì người sử dụng lao động có trách nhiệm trả trợ cấp thôi việc cho người lao động đã làm việc thường xuyên cho mình từ đủ 12 tháng trở lên, mỗi năm làm việc được trợ cấp một nửa tháng tiền lương, trừ trường hợp đủ điều kiện hưởng lương hưu theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội và trường hợp quy định tại điểm e khoản 1 Điều 36 của Bộ luật này.”

Theo như tình huống có đề cập “do điều kiện hoàn cảnh khó khăn nên ông Hồng xin chấm dứt HĐLĐ số: 32/HĐ.PMC-2010 có hiệu lực từ ngày 26/02/2009 và nghỉ việc theo quyết định số 25/QĐ-PMC ngày 03/12/2015 của Công ty V” ông xin nghỉ và được Công

ty đồng ý chứng tỏ một điều giữa ông và Công ty đã thỏa thuận chấm dứt hợp đồng lao đồng theo quy định tại Khoản 3 Điều 34 của Bộ luật này

Đồng thời theo như tình huống ông làm việc tại công ty V kể từ ngày 10/2008 đến khi nghỉ việc (nghỉ việc theo quyết định số 25/QĐ-PMC ngày 03/12/2015 của Công ty V) như vậy thời gian làm việc của ông đã vượt quá 12 tháng trở lên

Trang 3

Dựa vào những lập luận đã đưa ra ở trên thì Công ty có trách nhiệm trả trợ cấp thôi việc cho ông Hồng

Còn về tiền thù lao Hội đồng quản trị thì theo tình huống không đề cập đến việc ông

có là thành viên của Hội đồng quản trị hay không nên việc ông yêu cầu Công ty chi trả tiền thù lao trợ cấp thôi việc là không hợp lý

Cùng với đó theo Khoản 2 Điều 163 về Tiền lương, thù lao, thưởng và lợi ích khác của thành viên Hội đồng quản trị, Giám đốc, Tổng Giám đốc:

“2 Trường hợp Điều lệ công ty không có quy định khác thì tiền lương, thù lao, thưởng và lợi ích khác của thành viên Hội đồng quản trị, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc được trả theo quy định sau đây:

a) Thành viên Hội đồng quản trị được hưởng thù lao công việc và thưởng Thù lao công việc được tính theo số ngày công cần thiết hoàn thành nhiệm vụ của thành viên Hội đồng quản trị và mức thù lao mỗi ngày Hội đồng quản trị dự tính mức thù lao cho từng thành viên theo nguyên tắc nhất trí Tổng mức thù lao và thưởng của Hội đồng quản trị do Đại hội đồng cổ đông quyết định tại cuộc họp thường niên;”

Theo đó, tiền thù lao Hội đồng quản trị là do Hội đồng quản trị quyết định cho từng thành viên

2 Tình huống 2:

Ông Liên Thanh và Công ty Cổ phần S (gọi tắt là Công ty S) đã ký HĐLĐ với mức lương căn bản 8.000.000 đồng, lương công việc là 24.727.500 đồng, phụ cấp trách nhiệm

là 12.000.000 đồng Thu nhập thực lãnh sau khi trừ các khoản khấu trừ (thuế thu nhập cá nhân, tiền BHXH, BHTN) là 40.000.000 đồng/tháng Ngày 14/3/2016, ông có viết đơn xin nghỉ việc, thời gian chính thức nghỉ việc của ông sẽ là ngày 13/4/2016

Ngày 18/5/2016, Công ty S ra thông báo vi phạm và tổn thất số 10/2016/TB nội dung là đang xem xét về công việc của ông và hẹn là ngày 2/6/2016 sẽ có kết quả Sau ngày 02/6/2016, ông Thanh vẫn không nhận được bất cứ kết quả nào từ Công ty S

Người đại diện Công ty S trình bày: Hiện Công ty còn giữ của ông Thanh 60.000.000 đồng tiền lương (tiền lương 1 tháng 13 ngày làm việc) Sau khi kiểm tra lại, Công ty mới phát hiện ông có hành vi vi phạm nội quy Công ty, ông Thanh đã có các hành vi vi phạm: (i) Tự ý chia nhỏ hóa đơn cho khoản mục xây dựng chuồng gà với tổng giá trị 22.817.000 đồng; (ii) Tự ý mua hàng đắt hơn so với giá khảo sát đối với các mặt hàng: Bảng tên nhân viên, số phòng Mica, In mark nhôm, lắc khóa tròn Do đó, Công ty

Trang 4

đã áp dụng biện pháp khấu trừ tiền lương của ông Thanh Các hành vi này gây thiệt hại cho Công ty 27.402.000 đồng nên Công ty đề nghị khấu trừ vào khoản tiền lương hiện Công ty đang giữ, số tiền lương còn lại 32.598.000 đồng, Công ty đồng ý hoàn trả lại cho ông Q

Trong đơn khởi kiện, Ông Thanh yêu cầu: Thanh toán cho ông tiền lương tháng 3/2016; 13 ngày công tháng 4/2016 số tiền làm tròn 60.000.000 đồng như Công ty đã xác nhận và thanh toán số tiền lãi chậm trả theo quy định pháp luật, tính từ ngày 13/4/2016 đến ngày xét xử

Hỏi, theo quy định của pháp luật hiện hành:

1 Công ty có thể áp dụng biện pháp khấu trừ tiền lương đối với ông Thanh hay không? Vì sao?

2 Các yêu cầu trên đây của ông Thanh được giải quyết như thế nào?

Trả lời:

1 Công ty có thể áp dụng biện pháp khấu trừ tiền lương đối với ông Thanh hay không?

Theo cơ sở pháp lý tại Điều 102 quy định về Khấu trừ tiền lương, Công ty chỉ

có thể áp dụng biện pháp khấu trừ tiền lương đối với ông Thanh để bồi thường thiệt hại về tài sản của Cty theo quy định theo Điều 129 của BLLĐ 2019 Trong đó Điều 129 Bộ luật

này có quy định như sau “Người lao động…có hành vi khác gây thiệt hại tài sản của người sử dụng lao động thì phải bồi thường theo quy định pháp luật hoặc nội quy của người sử dụng lao động”

Tuy nhiên trong thời hạn 14 ngày kể từ ngày chấm dứt hợp đồng lao động, hai bên có trách nhiệm thanh toán đầy đủ các khoản tiền có liên quan đến quyền lợi của mỗi bên, trừ trường hợp người sử dụng lao động không phải là cá nhân chấm dứt hoạt động có thể kéo dài nhưng không được quá 30 ngày như trong quy định của khoản a Điều 48 Bộ luật này quy định Đối chiếu với tình tiết trong vụ việc trên, thời điểm chính thức kết thúc hợp đồng lao động của ông với Công ty là ngày 13/4/2016, trong khi ngày Công ty ra thông báo vi phạm tổn thất là ngày 18/5/2016, tức qua 4 ngày so với thời hạn 30 ngày

Trang 5

theo quy định của pháp luật lao động Do vậy Công ty không thể áp dụng biện pháp khấu trừ tiền lương đối với ông Thanh

2 Hướng giải quyết yêu cầu ông Thanh:

Do việc áp dụng biện pháp khấu trừ tiền lương của Cty đối với ông Thanh đã quá thời hạn yêu cầu cho nên Cty cần thanh toán đầy đủ số tiền lương chưa trả cho ông, ngoài ra cần phải thanh toán số tiền lãi chậm trả theo quy định của pháp luật

3 Tình huống 3:

Ông Bùi Quang là chuyên viên công tác tại Công ty TNHH G (viết tắt là Công ty G) theo HĐLĐ số 30VP-HĐLĐ ngày 18/6/2012 Ban điều hành Công ty G gồm hai thành viên là ông Lee Dong C (đại diện bên nước ngoài) được Hội đồng thành viên bổ nhiệm làm Tổng giám đốc; ông Bùi Quang (đại diện bên Việt Nam) được Hội đồng thành viên

bổ nhiệm làm Phó tổng giám đốc Ngày 17/02/2014 Hội đồng thành viên Công ty G ra Nghị quyết số 07/HĐTV , thống nhất tại mục 4 ghi: “Lương, phụ cấp và các chế độ của Phó tổng giám đốc như sau: mức lương 2.850 USD/tháng; tiền thưởng 500USD/tháng; hoàn thành công việc được giao 300USD/tháng; tiền thưởng quí (3 tháng) 1.500 USD/quí, ”

Ông Lee Dong C tự ý ban hành nhiều văn bản, chỉ thị không trả lương cho ông Quang từ tháng 9/2014 Đồng thời ông Lee Dong C - Tổng giám đốc buộc ông Quang là Phó Tổng giám đốc phải ký HĐLĐ với Tổng giám đốc và chỉ thị thu hồi tiền lương của ông Quang đã nhận từ tháng 3/2014 đến tháng 8/2014 Ông Quang khởi kiện yêu cầu Công ty G thực hiện việc trả lương từ tháng 9/2014 đến ngày xét xử sơ thẩm (20/5/2015)

và các khoản tiền thưởng tháng, quý

Đại diện bị đơn đã xác nhận từ khi Công ty hoạt động cho đến nay Hội đồng thành viên chưa có tổ chức cuộc họp hoặc lập biên bản đánh giá về việc hoàn thành tốt công việc của Tổng giám đốc, Phó tổng giám đốc, nhưng hàng năm Tổng giám đốc, Phó tổng giám đốc (trừ ông Quang) cũng vẫn được nhận đầy đủ các khoản thưởng hàng tháng, quý

và Tết Dương lịch; Trước khi xảy ra vụ việc, ông Quang vẫn làm việc bình thường

Tại Điều 7, 8, 9 Điều lệ Công ty quy định: “Tổng giám đốc, Phó tổng giám đốc do Hội đồng thành viên bổ nhiệm và bãi nhiệm Tiền thù lao, phúc lợi và các phụ cấp khác

Trang 6

của Tổng giám đốc; Phó tổng giám đốc cùng các điều khoản và điều kiện lao động khác

do Hội đồng thành viên quy định phù hợp với luật pháp Việt Nam” Hội đồng thành viên

và Ban điều hành của Công ty chưa có bất kỳ Quyết định nào việc thay đổi Chế độ tiền lương, thưởng, phụ cấp và các chế độ khác của mọi người lao động trong Công ty

Từ khi “Công ty không trả tiền lương, thưởng cho ông Quang đến nay thì Phó Tổng giám đốc người nước ngoài vẫn được chi trả tiền thưởng bình thường”; tình hình kinh

doanh của Công ty K rất tốt

Hỏi, theo quy định hiện hành:

1 Yêu cầu của ông Quang về việc buộc Công ty G thực hiện việc trả lương từ tháng 9/2014 đến ngày xét xử sơ thẩm (20/5/2015) có được chấp nhận hay không? Vì sao?

2 Yêu cầu trả các khoản tiền thưởng tháng, quý của ông Quang được chấp nhận hay không? Vì sao?

Trả lời:

1.Yêu cầu của ông Quang về việc buộc Công ty G thực hiện việc trả lương từ tháng 9/2014 đến ngày xét xử sơ thẩm (20/5/2015) có được chấp nhận hay không? Vì sao?

Yêu cầu của ông Quang về việc buộc Công ty G thực hiện việc trả lương từ tháng 9/2014 đến ngày xét xử sơ thẩm (20/5/2015) được chấp nhận:

Xét thấy, theo quy định tại Điều 11.1, 11.3 hợp đồng liên doanh sửa đổi năm 2010

và tại Điều 7.1 và Điều 9 Điều lệ sửa đổi năm 2010 của Công ty thì “tiền thù lao, phúc lợi

và cả phụ cấp khác của Phó tổng giám đốc Bùi Quang T cùng các điều khoản, điều kiện lao động khác sẽ do Hội đồng thành viên quy định phù hợp với pháp luật Việt Nam” Như vậy, chỉ có Hội đồng thành viên của Công ty mới có quyền quyết định về lương cũng như các vấn đề khác về lao động của Phó tổng giám đốc Bùi Quang T Nếu ông T vi phạm nội quy lao động của Công ty thì Tổng giám đốc chỉ có thể kiến nghị đến Hội đồng thành viên của Công ty để Hội đồng thành viên quyết định Việc Tổng giám đốc Công ty chỉ thị cho bảo vệ chấm công ông T Phó Tổng giám đốc để tính ra thời gian ông T vắng mặt tại Công ty làm căn cứ trừ tiền lương từ tháng 9/2014 đến ngày 15/7/2015 và yêu cầu trả lại tiền lương đã nhận từ ngày 01/3/2014 đến 31/8/2014 là không có căn cứ, không đúng thẩm quyền, trái quy định tại khoản 2 Điều 128 Bộ luật lao động năm 2012

Căn cứ theo khoản 2 và khoản 4 Điều 97 BLLĐ 2019 quy định về Kỳ hạn trả lương:

Trang 7

“2 Người lao động hưởng lương theo tháng được trả một tháng một lần hoặc nửa tháng một lần Thời điểm trả lương do hai bên thỏa thuận và phải được ấn định vào một thời điểm có tính chu kỳ

4 Trường hợp vì lý do bất khả kháng mà người sử dụng lao động đã tìm mọi biện pháp khắc phục nhưng không thể trả lương đúng hạn thì không được chậm quá 30 ngày; nếu trả lương chậm từ 15 ngày trở lên thì người sử dụng lao động phải đền bù cho người lao động một khoản tiền ít nhất bằng số tiền lãi của số tiền trả chậm tính theo lãi suất huy động tiền gửi có kỳ hạn 01 tháng do ngân hàng nơi người sử dụng lao động mở tài khoản trả lương cho người lao động công bố tại thời điểm trả lương.”

Do trước khi xảy ra vụ việc, ông Quang vẫn làm việc bình thường, ngoài ra, không ghi nhận bất kỳ trường hợp nào ông Quang tự ý nghỉ việc hay vi phạm quy định của công

ty, cho nên ông Quang vẫn được hưởng tiền lương theo đúng quy định của khoản 2 Vậy, yêu cầu của ông Quang về việc buộc Công ty G thực hiện việc trả lương từ tháng 9/2014 đến ngày xét xử sơ thẩm (20/5/2015) được chấp nhận

2 Yêu cầu trả các khoản tiền thưởng tháng, quý của ông Quang được chấp nhận hay không? Vì sao?

Yêu cầu trả các khoản tiền thưởng tháng, quý của ông Quang được chấp nhận

Theo Khoản 2 Điều 104 BLLĐ 2019: “Quy chế thưởng do người sử dụng lao động quyết định và công bố công khai tại nơi làm việc sau khi tham khảo ý kiến của tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở đối với nơi có tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở”

Hội đồng thành viên Công ty G ra Nghị quyết số 07/HĐTV , thống nhất tại mục

4 về các khoản lương, thưởng, phụ cấp Và tại Điều 7, 8, 9 Điều lệ Công Ty cũng quy

định “Tiền thù lao, phúc lợi và các phụ cấp khác của Tổng giám đốc; Phó tổng giám đốc cùng các điều khoản và điều kiện lao động khác do Hội đồng thành viên quy định phù hợp với luật pháp Việt Nam” Đồng thời cũng nói rõ “ Hội đồng thành viên và Ban điều hành của Công ty chưa có bất kỳ Quyết định nào việc thay đổi Chế độ tiền lương, thưởng, phụ cấp và các chế độ khác của mọi người lao động trong Công ty”

Trong tình huống trên cũng đã nêu rõ rằng từ khi công ty không trả tiền lương, thưởng cho ông Quang đến nay thì Phó Tổng giám đốc người nước ngoài vẫn được chi trả tiền thưởng bình thường, và tình hình kinh doanh của Công ty G rất tốt

Vì ông Lee Dong C tự ý ban hành văn bản, chỉ thị không trả lương cho ông Bùi Quang mà Hội đồng thành viên và Ban điều hành Công ty chưa hề có bất kỳ Quyết định nào về việc thay đổi chế độ lương, thưởng, phụ cấp của mọi người lao động trong Công

ty, và cũng không có dẫn chứng nào nói đến lí do ông Quang không được nhận các khoản

Trang 8

khi Công ty hoạt động cho đến nay Hội đồng thành viên chưa có tổ chức cuộc họp hoặc lập biên bản đánh giá về việc hoàn thành tốt công việc của Tổng giám đốc, Phó tổng giám đốc và hội đồng thành viên nắm được việc chi trả tiền thưởng cho Phó tổng giám đốc nên

có thể nhận định rằng Phó tổng giám đốc đã hoàn thành tốt công việc Nên việc Công ty vẫn trả tiền lương, thưởng cho Phó tổng giám đốc người nước ngoài mà không trả cho ông Bùi Quang là hành vi trái với Nghị quyết, Điều lệ Công ty, trái với quy định của pháp luật Việt Nam

Vì vậy, ông Quang yêu cầu trả các khoản tiền thưởng tháng, quý là được chấp nhận

Ngày đăng: 08/12/2021, 10:08

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w