- Theo Điều 257, BLDS 2005 quy định về Quyền đòi lại động sản không phải đăng ký quyền sở hữu từ người chiếm hữu ngay tình: “Chủ sở hữu có quyền đòi lại động sản không phải đăng ký quyề
Trang 1BUỔI THẢO LUẬN THỨ TƯ: BẢO VỆ QUYỀN SỞ HỮU.
I Phần thứ nhất: Đòi bất động sản từ người thứ ba.
Câu 1: Trâu là động sản hay bất động sản? Vì sao?
- Trâu là động sản
- Vì Theo Điều 174, BLDS 2005 và Điều 107, BLDS 2015 có quy định:
“1 Bất động sản bao gồm:
a) Đất đai;
b) Nhà, công trình xây dựng gắn liền với đất đai;
c) Tài sản khác gắn liền với đất đai, nhà, công trình xây dựng;
d) Tài sản khác theo quy định của pháp luật.
2 Động sản là những tài sản không phải là bất động sản.”
Như vậy, dựa vào Khoản 1, của Điều 107, BLDS 2015 nêu trên thì trâu không thuộc bất động sản Do đó, theo Khoản 2 của Điều này thì trâu là động sản
Câu 2: Trâu có là tài sản phải đăng ký quyền sở hữu không? Vì sao?
- Trâu không là tài sản phải đăng ký quyền sở hữu
- Vì theo Khoản 2, Điều 106, BLDS 2015 có quy định:
“2 Quyền sở hữu, quyền khác đối với tài sản là động sản không phải đăng ký, trừ trường
hợp pháp luật về đăng ký tài sản có quy định khác.”
Như vậy, vì trâu là động sản nên quyền sở hữu đối với trâu không phải đăng ký
Câu 3: Đoạn nào của Quyết định cho thấy trâu có tranh chấp thuộc quyền sở hữu của ông
Tài?
- Đoạn trong Quyết định cho thấy trâu có tranh chấp thuộc quyền sở hữu của ông Tài:
“Căn cứ vào lời khai của ông Triệu Tiến Tài (BL 06, 07, 08), lời khai của các nhân chứng là anh Phúc (BL 19), anh Chu (BL 20), anh Bảo (BL 22) và kết quả giám định con trâu đang tranh chấp (biên bản giám định ngày 16-8-2004, biên bản xác minh của cơ quan chuyên môn
về vật nuôi ngày 17-8-2004, biên bản diễn giải biên bản kết quả giám định trâu ngày
Trang 220-8-2004), (BL 40, 41, 41a, 42) thì có đủ cơ sở xác định con trâu cái màu đen 4 năm 9 tháng tuổi mới sấn mũi lần đầu và con nghé đực khoảng 3 tháng tuổi là thuộc quyền sở hữu hợp pháp của ông Triệu Tiến Tài”
Câu 4: Thế nào là chiếm hữu tài sản và ai đang chiếm hữu trâu có tranh chấp?
- Theo Điều 179, BLDS 2015 về khái niệm chiếm hữu:
“1 Chiếm hữu là việc chủ thể nắm giữ, chi phối tài sản một cách trực tiếp hoặc gián tiếp
như chủ thể có quyền đối với tài sản.
2 Chiếm hữu bao gồm chiếm hữu của chủ sở hữu và chiếm hữu của người không phải là chủ sở hữu.
Việc chiếm hữu của người không phải là chủ sở hữu không thể là căn cứ xác lập quyền sở hữu, trừ trường hợp quy định tại các điều 228, 229, 230, 231, 232, 233 và 236 của Bộ luật này”.
- Trong vụ án trên, thì ông Dòn là người đang chiếm hữu trâu có tranh chấp
Câu 5: Việc chiếm hữu của ông Dòn có căn cứ pháp luật không? Vì sao?
- Việc chiếm hữu của ông Dòn là không có căn cứ pháp luật
- Vì theo Điều 183, BLDS 2005:
“Chiếm hữu có căn cứ pháp luật là việc chiếm hữu tài sản trong các trường hợp sau đây:
1 Chủ sở hữu chiếm hữu tài sản;
2 Người được chủ sở hữu uỷ quyền quản lý tài sản;
3 Người được chuyển giao quyền chiếm hữu thông qua giao dịch dân sự phù hợp với quy định của pháp luật;
4 Người phát hiện và giữ tài sản vô chủ, tài sản không xác định được ai là chủ sở hữu, tài sản bị đánh rơi, bị bỏ quên, bị chôn giấu, bị chìm đắm phù hợp với các điều kiện do pháp luật quy định;
5 Người phát hiện và giữ gia súc, gia cầm, vật nuôi dưới nước bị thất lạc phù hợp với các điều kiện do pháp luật quy định;
6 Các trường hợp khác do pháp luật quy định”.
Trang 3Như vậy, việc chiếm hữu của ông Dòn không rơi vào trường hợp nào của Điều cho nên việc chiếm hữu của ông Dòn là không có căn cứ pháp luật
Câu 6: Thế nào là chiếm hữu không có căn cứ pháp luật nhưng ngay tình? Nêu cơ sở pháp lý
khi trả lời.
- Theo Điều 180, BLDS 2015 quy định về chiếm hữu ngay tình:
“Chiếm hữu ngay tình là việc chiếm hữu mà người chiếm hữu có căn cứ để tin rằng mình có
quyền đối với tài sản đang chiếm hữu”.
Câu 7: Ông Dòn có là người chiếm hữu ngay tình không? Vì sao?
- Ông Dòn là người chiếm hữu ngay tình
- Vì việc chiếm hữu của ông Dòn phù hợp với quy định của pháp luật, cụ thể là tại Khoản 3, Điều 183, BLDS 2005 do đó ông Dòn có căn cứ để tin rằng mình có quyền đối với tài sản đang chiếm hữu Như vậy, ông Dòn là người chiếm hữu ngay tình (theo Điều 180, BLDS 2015)
Câu 8: Thế nào là hợp đồng có đền bù và không có đền bù theo quy định của Điều 257
BLDS?
- Theo Điều 257, BLDS 2005 quy định về Quyền đòi lại động sản không phải đăng ký quyền
sở hữu từ người chiếm hữu ngay tình:
“Chủ sở hữu có quyền đòi lại động sản không phải đăng ký quyền sở hữu từ người chiếm
hữu ngay tình trong trường hợp người chiếm hữu ngay tình có được động sản này thông qua hợp đồng không có đền bù với người không có quyền định đoạt tài sản; trong trường hợp hợp đồng này là hợp đồng có đền bù thì chủ sở hữu có quyền đòi lại động sản nếu động sản đó bị lấy cắp, bị mất hoặc trường hợp khác bị chiếm hữu ngoài ý chí của chủ sở hữu”.
Thì theo đó:
- Hợp đồng có đền bù: là hợp đồng mà trong đó mỗi bên sau khi thực hiện cho bên kia một lợi ích sẽ nhận được từ bên bên kia một lợi ích tương ứng Lợi ích tương ứng ở đây không đồng nghĩa với lợi ích ngang bằng vì các lợi ích các bên dành cho nhau không phải lúc nào
Trang 4cũng cùng một tính chất hay chủng loại Trong trường hợp hợp đồng là hợp đồng có đền bù thì chủ sở hữu có quyền đòi lại động sản nếu động sản đó bị lấy cắp, bị mất hoặc trường hợp khác bị chiếm hữu ngoài ý chí của chủ sở hữu
Ví dụ: hợp đồng thuê biểu diễn ca nhạc - trong đó một bên sẽ nhận được một lợi ích vật chất
là tiền thù lao biểu diễn, catxê… và một bên sẽ đạt được lợi ích về mặt tinh thần – đáp ứng nhu cầu giải trí, thưởng thức âm nhạc
- Hợp đồng không có đền bù: là những hợp đồng trong đó một bên nhận được một lợi ích nhưng không phải giao lại cho bên kia một lợi ích nào Trong trường hợp là hợp đồng không
có đền bù thì chủ sở hữu có quyền đòi lại động sản không phải đăng ký quyền sở hữu từ người chiếm hữu ngay tình có được tài sản thông qua giao dịch với người không có quyền định đoạt tài sản
Ví dụ: hợp đồng tặng cho tài sản
Câu 9: Ông Dòn có được con trâu thông qua giao dịch có đền bù hay không có đền bù? Vì
sao?
- Ông Dòn có được trâu thông qua giao dịch có đền bù
- Vì con trâu mà ông Dòn có được là do giao dịch với ông Thi, cụ thể là ông Thi đổi cho ông Dòn lấy con trâu cái sổi Từ đó ta có thể thấy, đây là giao dịch mà trong đó mỗi bên sau khi thực hiện cho bên kia một lợi ích sẽ nhận được từ bên bên kia một lợi ích tương ứng Do vậy, đây là hợp đồng có đền bù
Câu 10: Trâu có tranh chấp có phải bị lấy cắp, bị mất hay bị chiếm hữu ngoài ý chí của ông
Tài không?
- Trâu có tranh chấp là bị chiếm hữu ngoài ý chí của ông Tài
- Vì Toà án đã xác minh và khẳng định ông Thơ là người chiếm hữu, sử dụng tài sản không
có căn cứ pháp luật
Câu 11: Theo Tòa dân sự Tòa án nhân dân tối cao, ông Tài được đòi trâu từ ông Dòn không?
Đoạn nào của Quyết định cho câu trả lời?
Trang 5- Theo Tòa dân sự Tòa án nhân dân tối cao, ông Tài không được đòi trâu từ ông Dòn.
- Đoạn của Quyết định cho câu trả lời:
“Toà án phúc thẩm nhận định con trâu mẹ và con nghé con là của ông Tài là đúng nhưng lại cho rằng con trâu cái đang do ông Nguyễn Văn Dòn quản lý nên ông Tài phải khởi kiện đòi ông Dòn và quyết định chỉ buộc ông Thơ phải trả lại trị giá con nghé là 900.000đ, bác yêu cầu của ông Tài đòi ông Thơ phải trả lại con trâu mẹ là không đúng pháp luật”
Câu 12: Suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết trên của Tòa dân sự Tòa án nhân dân tối
cao.
- Hướng giải quyết trên của Toà án dân sự Toà án nhân dân tối cao là hợp lý và đúng theo quy định của pháp luật Đảm bảo được quyền lợi của chủ sở hữu là ông Tài và người chiếm hữu ngay tình là ông Dòn trong vụ tranh chấp trâu nêu trên
Câu 13: Khi ông Tài không được đòi trâu từ ông Dòn thì pháp luật hiện hành có quy định nào
bảo vệ ông Tài không?
Theo Điều 256, BLDS 2005 quy định về Quyền đòi lại tài sản:
“Chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp có quyền yêu cầu người chiếm hữu, người sử dụng
tài sản, người được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật đối với tài sản thuộc quyền sở hữu hoặc quyền chiếm hữu hợp pháp của mình phải trả lại tài sản đó, trừ trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 247 của Bộ luật này Trong trường hợp tài sản đang thuộc sự chiếm hữu của người chiếm hữu ngay tình thì áp dụng Điều 257 và Điều 258 của Bộ luật này”.
Vì ông Dòn là người chiếm hữu ngay tình và trâu là động sản không đăng ký quyền sở hữu nên sẽ áp dụng Điều 257, BLDS 2005 quy định về Quyền đòi lại động sản không phải đăng ký quyền sở hữu từ người chiếm hữu ngay tình:
“Chủ sở hữu có quyền đòi lại động sản không phải đăng ký quyền sở hữu từ người chiếm
hữu ngay tình trong trường hợp người chiếm hữu ngay tình có được động sản này thông qua hợp đồng không có đền bù với người không có quyền định đoạt tài sản; trong trường hợp hợp đồng này là hợp đồng có đền bù thì chủ sở hữu có quyền đòi lại động sản nếu động sản đó bị lấy cắp, bị mất hoặc trường hợp khác bị chiếm hữu ngoài ý chí của chủ sở hữu”.
Trang 6Theo Quyết định của Toà án thì ông Tài là người chủ sở hữu, chiếm hữu hợp pháp đối với con trâu Còn ông Dòn là người chiếm hữu ngay tình con trâu đó Vì giao dịch của ông Dòn với ông Thi để có được trâu là giao dịch có đền bù, cho nên theo Điều 257 nêu trên thì chủ sở hữu là ông Tài có quyền đòi lại động sản (con trâu) đó
Câu 14: Khi ông Tài không được đòi trâu từ ông Dòn thì Tòa án đã theo hướng ông Tài được
quyền yêu cầu ai trả giá trị con trâu? Đoạn nào của Quyết định cho câu trả lời?
- Khi ông Tài không đòi được con trâu từ ông Dòn, Tòa án đã theo hướng ông Tài được quyền yêu cầu ông Thơ trả giá trị con trâu
- Đoạn của Quyết định cho câu trả lời là: “Trong quá trình giải quyết vụ án,tòa án cấp sơ thẩm đã điều tra, xác minh thu thấp đầy đủ các chứng cứ và xác định con trâu tranh chấp giữa ông Tài và ông Thơ và đã quyết định buộc ông Thơ là người chiếm hữu tài sản không có căn
cứ pháp luật phải hoàn trả lại giá trị con trâu và con nghé cho ông Tài là có căn cứ pháp luật”
Câu 15: Suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết trên của Tòa dân sự Tòa án nhân dân tối
cao.
Hướng giải quyết trên của Toà án dân sự Toà án nhân dân tối cao là hợp lý Bản án đã giải quyết việc hoàn trả lại giá con trâu cho phù hợp với giá cả và đảm bảo quyền lợi của hai bên đương sự
II Phần thứ hai: Đòi bất động sản từ người thứ ba.
Câu 1: Đoạn nào của Quyết định cho thấy quyền sử dụng đất tranh chấp thuộc sử dụng hợp
pháp của các con cụ Ba và đang được ông Vĩnh chiếm hữu?
- Đoạn của Quyết định cho thấy quyền sử dụng đất tranh chấp thuộc sử dụng hợp pháp của các con cụ Ba và đang được ông Vĩnh chiếm hữu:
“Nay vợ chồng cụ Ba đã chết thì các con của cụ Ba được thừa kế tài sản này Nhà của cụ Ba, ông Vĩnh đã phá đi không còn, khi ông Vĩnh phá nhà, các con cụ Ba không chứng minh được
đã có khiếu nại, nên chỉ còn đất tranh chấp thuộc quyền sử dụng hợp pháp của các con cụ Ba”
Trang 7Câu 2: Đoạn nào của Quyết định cho thấy Toà án xác định ông Vĩnh chiếm hữu ngay tình
quyết sử dụng đất tranh chấp?
- Đoạn của Quyết định cho thấy Toà án xác định ông Vĩnh chiếm hữu ngay tình quyết sử dụng đất tranh chấp:
“Khi ông Vĩnh mua nhà đất của vợ chồng bà Thu thì nhà đã được cấp giấy chứng nhận
quyền sở hữu, nên ông Vĩnh mua nhà đất này là hợp pháp Nay ông Vĩnh cũng đã được cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà và quyền sử dụng đất ở, nên xác định ông Vĩnh là người mua bán tài sản tranh chấp ngay tình”
Câu 3: Suy nghĩ của anh/chị về việc Toà án xác định ông Vĩnh là người ngay tình.
Việc Toà án xác định ông Vĩnh là người ngay tình là đúng và phù hợp với quy định của pháp luật Vì khi ông Vĩnh mua nhà đất của vợ chồng bà Thu thì nhà đã được cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu, nên ông Vĩnh mua nhà đất này là hợp pháp Và ông Vĩnh cũng đã được cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà và quyền sử dụng đất ở nên có thể xác định ông Vĩnh
là người mua bán tài sản tranh chấp ngay tình Cụ thể, theo Điều 189 BLDS 2005 quy định:
“Người chiếm hữu tài sản không có căn cứ pháp luật nhưng ngay tình là người chiếm hữu mà
không biết và không thể biết việc chiếm hữu tài sản đó là không có căn cứ pháp luật”.
Câu 4: Trên cơ sở các quy định hiện hành, ông Vĩnh có phải hoàn trả quyền sử dụng đất tranh
chấp cho các con cụ Ba không? Vì sao? Nêu cơ sở pháp lý khi trả lời.
- Trên cơ sở các quy định hiện hành, ông Vĩnh không phải hoàn trả quyền sử dụng đất tranh chấp cho các con cụ Ba
- Vì theo Điều 258, BLDS 2005 quy định về Quyền đòi lại động sản phải đăng ký quyền sở hữu hoặc bất động sản từ người chiếm hữu ngay tình :
“Chủ sở hữu được đòi lại động sản phải đăng ký quyền sở hữu và bất động sản, trừ trường
hợp người thứ ba chiếm hữu ngay tình nhận được tài sản này thông qua bán đấu giá hoặc giao dịch với người mà theo bản án, quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền là chủ
sở hữu tài sản nhưng sau đó người này không phải là chủ sở hữu tài sản do bản án, quyết định bị huỷ, sửa”.
Trang 8Như vậy, theo quy định trên thì ông Vĩnh là người chiếm hữu ngay tình đối với bất động sản nhận được tài sản thông qua giao dịch với người àm theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền là chủ sở hữu tài sản, cho nên các con cụ Ba không có quyền đòi ông Vĩnh trả quyền sử dụng đất và ông Vĩnh không phải hoàn trả quyền sử dụng đất cho các con cụ Ba
Câu 5: Toà án tối cao đã có hướng giải quyết bảo vệ các con cụ Ba như thế nào và hướng giải
quyết này đã được quy định trong văn bản chưa? Vì sao?
- Trong Quyết định số 94/2013/GĐ-DS ngày 25/7/2013 về vụ án tranh chấp quyền sở hữu tài sản, để bảo vệ các con của cụ Ba, hướng giải quyết của Toà án là không chấp nhận Toà án sơ thẩm và phúc thẩm bác yêu cầu của nguyên đơn, xác định ông Vĩnh là người mua bán tài sản tranh chấp ngay tình và yêu cầu bồi thường thiệt hại do việc bán nhà trái pháp luật cho nguyên đơn
- Tuy nhiên, hướng giải quyết này chưa được quy định rõ ràng trong văn bản Vì Toà án chưa xác định được chính xác ai là người có nghĩa vụ bồi thường thiệt hại cho các con của cụ Ba và cần phải làm rõ Ông Vĩnh là người chiếm hữu ngay tình, tức là việc mua nhà số 2 Nguyễn Thái học của ông là do không biết và không thể biết việc chiếm hữu của ông là không có căn
cứ pháp luật nên Toà án cần phải xác minh ông Sơn hay ông Đạo là người đã bán căn nhà đó
và số tiền đó có phải được dùng xây dựng trường mẫu giáo không, nếu có hiện ai đang quản lí
Từ đó mới xác định được ai là người có nghĩa vụ bồi thường thiệt hại Đồng thời cũng cần làm việc với Uỷ ban nhân dân thành phố Quy Nhơn, nếu có thể xem xét hỗ trợ cấp đất mới tương ứng giá trị đất tranh chấp cho nguyên đơn để tập thể không phải bồi thường thiệt hại cho nguyên đơn để giải quyết vụ án cho hợp lí
Câu 6: Suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết bảo vệ các con của cụ Ba nêu trên.
- Hướng giải quyết bảo vệ các con của cụ Ba nêu trên của Toà án là hợp tình, hợp lý
- Vì vụ án có nhiều điểm chưa được làm rõ, chẳng hạn như ai là người bán nhà số 2 Nguyễn Thái Học, số tiền bán nhà dùng để làm gì và từ đó xác định ai là người có nghĩa vụ bồi thường nên Toà đã yêu cầu xem xét lại để đảm bảo được quyền lợi của các con cụ Ba và cả ông Vĩnh Đồng thời, Toà đã yêu cầu của Uỷ ban nhân dân TP Quy Nhơn xem xét hỗ trợ cấp đất mới
Trang 9tương ứng giá trị đất tranh cấp cho các con cụ Ba để tránh tập thể phải bồi thường thiệt hại là hoàn toàn hợp tình và hợp lý
III Phần thứ ba: Lấn chiếm tài sản liền kề.
Câu 1: Đoạn nào của Quyết định số 23 cho thấy ông Hậu đã lấn sang đất thuộc quyền sử
dụng của ông Trê, bà Thi và phần lấn cụ thể là bao nhiêu?
- Đoạn của Quyết định số 23 cho thấy ông Hậu đã lấn sang đất thuộc quyền sử dụng của ông Trê, bà Thi:
“Toà án cấp phúc thẩm buộc ông Hậu trả 132,8 m2 đất đã lấn chiếm nhưng là đất trống do ông Trê và bà Thi, còn phần đất ông Hậu cũng lấn chiếm nhưng đã xây dựng nhà (52,2 m2) thì giao ông Hậu sử dụng nhưng phải thanh toán giá trị quyền sử dụng đất cho ông Trê và bà Thi
là hợp tình hợp lý”
“Tuy nhiên, ngoài diện tích 52,2 m2 nêu trên, căn nhà của ông Hậu còn có hai máng xối đúc
bê tông chiếm khoảng không trên phần đất của ông Trê và bà Thi có diện tích 10,71 m2 chưa được Toà án sơ thẩm và Toà án phúc thẩm xem xét buộc ông Hậu phải tháo dỡ hoặc phải thanh toán giá trị quyền sử dụng đất cho ông Trê và bà Thi là chưa đảm bảo quyền lợi hợp pháp của ông Trê và Thi”
“Mặt khác, theo báo cáo của Cơ quan Thi hành án và theo khiếu nại của ông Trê, thì ngoài căn nhà nằm trên diện tích 52,2 m2 Toà án các cấp giao cho ông Hậu sử dụng, còn có một căn nhà phụ có diện tích 18,57 m2 của ông Hậu xây dựng trên diện tích đất mà Toà án các cấp buộc ông Hậu trả lại cho ông Trê, bà Thi nhưng Toà án các cấp cũng chưa xem xét giải quyết, gây khó khăn cho việc thi hành án”
- Phần lấn cụ thể như sau:
+ 132,8 m2 đất trống
+ 52,2 m2 đất đã xây dựng nhà
+ 10,71 m2 hai máng xối đúc bê tông chiếm khoảng không trên phần đất của ông Trê
+ 18,57 m2 đất đã xây dựng một căn nhà phụ
Do vậy, phần lấn chiếm tổng cộng là 214,28 m2
Trang 10Câu 2: Đoạn nào của Quyết định số 617 cho thấy gia đình ông Hòa đã lấn sang đất (không
gian, mặt đất, lòng đất) thuộc quyền sử dụng của gia đình ông Trụ, bà Nguyên?
- Đoạn nào của Quyết định số 617 cho thấy gia đình ông Hòa đã lấn sang đất (không gian, mặt đất, lòng đất) thuộc quyền sử dụng của gia đình ông Trụ, bà Nguyên:
“Quá trình giải quyết vụ án, Toà án sơ thẩm và Toà án phúc thẩm xác định gia đình ông Hoà làm 4 ô văng cửa sổ, một máng bê tông chờm qua phần đất thuộc quyền sử dụng của gia đình ông Trụ, bà Nguyên nên quyết định buộc gia đình ông Hoà phải tháo dỡ là có căn cứ
Tuy nhiên, dưới lòng đất sát tường nhà ông Hoà có ông nước do gia đình ông Hoà chôn, nhưng Toà án cấp sơ thẩm và Toà án cấp phúc thẩm không buộc gia đình ông Hoà phải tháo
dỡ là không đúng, không đảm bảo được quyền lợi của gia đình ông Trụ”
Câu 3: BLDS có quy định nào điều chỉnh việc lấn chiếm đất, lòng đất và không gian thuộc
quyền sử dụng của người khác không?
Bộ luật Dân sự năm 2005 có quy định điều chỉnh việc lấn chiếm đất,lòng đất,không gian thuộc quyền sử dụng của người khác Cụ thể là Khoản 2, Khoản 3, Điều 265 của Bộ luật Dân
sự 2005 về nghĩa vụ tôn trọng ranh giới giữa các bất động sản
“2 Người có quyền sử dụng đất được sử dụng không gian và lòng đất theo chiều thẳng đứng
từ ranh giới trong khuôn viên đất phù hợp với quy hoạch xây dựng do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định và không được làm ảnh hưởng đến việc sử dụng đất liền kề của người khác.
Người sử dụng đất chỉ được trồng cây và làm các việc khác trong khuôn viên đất thuộc quyền
sử dụng của mình và theo ranh giới đã được xác định; nếu rễ cây, cành cây vượt quá ranh giới thì phải xén rễ, tỉa cành phần vượt quá, trừ trường hợp có thoả thuận khác.
3 Trong trường hợp ranh giới là kênh, mương, hào, rãnh, bờ ruộng thì người sử dụng đất
có nghĩa vụ tôn trọng, duy trì ranh giới chung; không được lấn, chiếm, thay đổi mốc giới ngăn cách.”
Câu 4: Ở nước ngoài, việc lấn chiếm như trên được xử lý như thế nào?