1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

BUỔI THẢO LUẬN THỨ TƯ môn dsu 2

33 76 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 33
Dung lượng 133,18 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

gồm quyền tài sản đối với đối tượng quyền sở hữu trí tuệ, quyền sử dụng đất và các quyền tài sản khác”.Vì quyền sử dụng đất được luật thừa nhận là quyền tài sản, là bất động sản nê

Trang 1

BUỔI THẢO LUẬN THỨ TƯ

BẢO ĐẢM THỰC HIỆN NGHĨA VỤ

MỤC LỤC

Trang 2

MỤC LỤC

BIÊN BẢN LÀM VIỆC NHÓM ……… 3

VẤN ĐỀ 1: ĐỐI TƯỢNG DÙNG ĐỂ BẢO ĐẢM VÀ TÍNH CHẤT PHỤ CỦA BIỆN PHÁP BẢO ĐẢM ……… 4

VẤN ĐỀ 2: ĐĂNG KÝ GIAO BẢO ĐẢM ………11

VẤN ĐỀ 3: ĐẶT CỌC ………14

VẤN ĐỀ 4: BẢO LÃNH ….…… ……… 23

DANH MỤC TÀI LIỆU KHAM KHẢO……… 33

VẤN ĐỀ 1: ĐỐI TƯỢNG DÙNG ĐỂ BẢO ĐẢM VÀ TÍNH CHẤT PHỤ CỦA BIỆN PHÁP BẢO ĐẢM

Trang 3

Đỗ Văn Đại, Giáo trình Pháp luật về hợp đồng và bồi thường thiệt

hại ngoài hợp đồng, Nxb Hồng Đức-Hội Luật gia Việt Nam 2017,

Chương 3;

Đỗ Văn Đại, Luật các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ Việt

Nam-Bản án và Bình luận bản án, Nxb Hồng Đức-Hội Luật gia Việt

Nam 2021 (xuất bản lần thứ tư), Bản án số 5 và tiếp theo;

Nguyễn Xuân Quang, Lê Nết và Nguyễn Hồ Bích Hằng, Luật dân sự

Việt Nam, Nxb Đại học quốc gia TP HCM 2007, tr 387 đến 389.

 Và các tài liệu liên quan khác (nếu có)

Tóm tắt Bản án số 208/2010/DS-PT ngày 09/03/2010 của Tòa án nhân dân TP HCM

- Nguyên đơn: ông Phạm Bá Minh

- Bị đơn: bà Bùi Thị Khen và ông Bùi Khắc Thảo

Bà Bùi Thị Khen và ông Nguyễn Khắc Thảo thế chấp cho ông Phạm Bá Minhgiấy sử dụng sạp D2-9 tại chợ Tân Hương để vay 60 triệu đồng, thời hạn vay là 6tháng, lãi suất là 3%/ tháng Khi hết hạn hợp đồng bà Khen và ông Thảo vẫn chưa trảhết nợ cho ông Minh Nay ông Minh khởi kiện yêu cầu bà Khen trả hết số nợ còn lạitrong thời hạn là một tháng kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật Còn về phía bàKhen, ông Minh thì đồng ý trả phần còn lại nhưng xin trả trong vòng 12 tháng Tòa ánxét thấy giấy chứng nhân sạp trên chỉ là giấy đăng kí sử dụng sạp, không phải làquyền sở hữu, nên giấy chứng nhận sử dụng sạp không đủ cơ sở pháp lý để bà Khentrả tiền cho ông Minh Buộc ông Minh trả lại giấy chứng nhận sử dụng sạp cho bàKhen và ông Thảo, bà Khen và ông Thảo có nghĩa vụ thanh toán tiền còn lại cho ôngMinh ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật

Tóm tắt Quyết định số 02/2014/QĐ-UBTP ngày 28/2/2014 của Tòa án nhân dân Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang.

- Nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn Ôn, bà Lê Thị Xanh

- Bị đơn: Ông Nguyễn Văn Rành, bà Hồ Thị Hết

Ngày 30/8/1995 vợ chồng ông Võ Văn Ôn cùng ông Nguyễn Văn Rành thỏathuận về việc thục đất Theo đó vợ chồng ông Ôn giao cho ông Rành quyền sử dụng

Trang 4

đất để ông Rành canh tác, đổi lại ông Rành sẽ giao lại cho vợ chồng ông Ôn 30 câyvàng 24k để sử dụng và có thỏa thuận nếu quá 3 năm vợ chồng ông Ôn không chuộclại đất bằng số vàng trên thì ông Rành có quyền canh tác ruộng đất trên vĩnh viễn Haibên có lập “Giấy thục đất làm ruộng” Bản án sơ thẩm xác định quan hệ tranh chấptrên là “Tranh chấp hợp đồng cầm cố quyền sử dụng đất” và tuyên bố giao dịch thụcđất trên là vô hiệu Tòa giám đốc thẩm hủy bản án sơ thẩm và công nhận giao dịchthục đất trên.

Tóm tắt Quyết định số 27/2021/DS-GĐT ngày 02/6/2021 của Toà án nhân dân cấp cao tại Tp Hồ Chí Minh.

- Nguyên đơn: Ngân hàng liên doanh V

- Bị đơn: Công Ty PT

Lý do tranh chấp: Ngân hàng V và Công ty PT đã ký kết các hợp đồng tín

dụng và để đảm bảo cho khoản vay 1.500.000.000 đồng của Công ty PT theo Hợpđồng tín dụng số 60/2014/HĐTD ngày 14/4/2014 thì giữa ông Trần T, bà Trần Thị H

và Ngân hàng có ký kết hợp đồng thế chấp số 63/2014/HĐTC ngày 05/6/2014 Theo

đó, ông T và bà H đồng ý thế chấp tài sản là quyền sử dụng đất có diện tích là120,75m2 và căn nhà 02 tầng gắn liền với đất có diện tích sử dụng là 214,62m2 ; đấtthuộc thửa số 392; tờ bản đồ số 3, tại số 40, đường Đ, Phường 13, quận T, Thành phố

H do ông Trần T và bà Trần Thị H đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất Quátrình giải quyết vụ án, nguyên đơn Ngân hàng Việt Nga thừa nhận Công ty PT đã tấttoán các khoản vay từ Hợp đồng tín dụng số 60/2014/HĐTD ngày 14/4/2014 lần lượtvào các ngày 15/10/2014; ngày 25/10/2014 và ngày 12/11/2014 Vì vậy, việc thế chấptài sản của ông T, bà H đã chấm dứt theo quy định tại khoản 1 Điều 357 Bộ luật dânsự năm 2005 và khoản 1 Điều 327 Bộ luật dân sự năm 2015 Nhưng Ngân hàng lạimuốn dùng tài sản thế chấp trên vào các khoản vay khác

Hướng giải quyết của Tòa án: Chấp nhận Kháng nghị số

10/KNGĐT-VKS-KDTM ngày 07/12/2020 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thànhphố Hồ Chí Minh và hủy Bản án kinh doanh thương mại phúc thẩm số20/2020/KDTM-PT ngày 26/8/2020 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương và giữnguyên Bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 11/2019/KDTM-ST ngày12/9/2019 của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương đối với vụ

án “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” giữa nguyên đơn Ngân hàng Liên doanh V với bịđơn Công ty PT

Và cho biết:

1.1 Những điểm mới của BLDS 2015 so với BLDS 2005 liên quan đến tài sản

có thể dùng để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ.

Trang 5

BLDS 2015 đã có những điểm mới so với BLDS 2005 liên quan đến tài sản cóthể dùng để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ như sau:

- Thứ nhất, BLDS 2005 có 3 điều luật quy định về tài sản có thể dùng để bảo

đảm thực hiện nghĩa vụ, cụ thể:

+ Điều 320: vật bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự

+ Điều 321: Tiền, giấy tờ có giá dùng để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự+ Điều 322: Quyền tài sản dùng để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự

BLDS 2015 đã rút gọn lại thành một điều luật tại Điều 295:

1 Tài sản bảo đảm phải thuộc quyền sở hữu của bên bảo đảm, trừ trường hợpcầm giữ tài sản, bảo lưu quyền sở hữu

2 Tài sản bảo đảm có thể được mô tả chung, nhưng phải xác định được

3 Tài sản bảo đảm có thể là tài sản hiện có hoặc tài sản hình thành trong tươnglai

4 Giá trị của tài sản bảo đảm có thể lớn hơn, bằng hoặc nhỏ hơn giá trị nghĩa vụđược bảo đảm

Ở BLDS 2005, việc quy định cụ thể tài sản là vật, tiền, hay quyền tài sản sẽ không thểbao quát được hết những gì là tài sản, vì tài sản có nghĩa rộng hơn những gì BLDS

2005 đã liệt kê

- Thứ hai, Điều 295 BLDS 2015 quy định về tài sản bảo đảm hình thành trong

tương lai Ở đây, luật đã quy định rõ tài sản, tức là bao gồm những gì là tài sản hìnhthành trong tương lai sẽ là tài sản bảo đảm, chứ không chỉ quy định về “vật” hìnhthành trong tương lai như ở Điều 320 BLDS 2005

- Thứ ba, BLDS 2015 cũng đã có những điểm mới về phạm vi bảo lãnh mà ở

BLDS 2005 chưa có, tại Điều 336 “Phạm vi bảo lãnh”

1 Bên bảo lãnh có thể cam kết bảo lãnh một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ chobên được bảo lãnh

2 Nghĩa vụ bảo lãnh bao gồm cả tiền lãi trên nợ gốc, tiền phạt, tiền bồi thườngthiệt hại, lãi trên số tiền chậm trả, trừ trường hợp có thỏa thuận khác

3 Các bên có thể thỏa thuận sử dụng biện pháp bảo đảm bằng tài sản để bảođảm thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh

4 Trường hợp nghĩa vụ được bảo lãnh là nghĩa vụ phát sinh trong tương lai thìphạm vi bảo lãnh không bao gồm nghĩa vụ phát sinh sau khi người bảo lãnhchết hoặc pháp nhân bảo lãnh chấm dứt tồn tại

Cụ thể, BLDS 2015 quy định rằng, bên bảo lãnh có thể cam kết bảo lãnh mộtphần hoặc toàn bộ nghĩa vụ, biện pháp bảo đảm tài sản sẽ do các bên thoả thuận, vàphạm vi bảo lãnh của nghĩa vụ phát sinh trong tương lai sẽ không bao gồm nghĩa vụphát sinh sau khi người bảo lãnh chết hoặc pháp nhân chấm dứt tồn tại Đây cũng làmột điểm mới rất quan trọng và thực tế của BLDS 2015

Trang 6

- Thứ tư, BLDS 2015 đã quy định về giá trị tài sản đảm bảo có thể lớn hơn, bằng

hoặc nhỏ hơn giá trị nghĩa vụ được đảm bảo, tại Khoản 4 Điều 295, mà ở BLDS 2005chưa quy định về điều này Đây là biện pháp loại bỏ trường hợp người yêu cầu giá trịtài sản đảm bảo cao hơn giá trị nghĩa vụ được đảm bảo

1.2 Đoạn nào của bản án số 208 cho thấy bên vay dùng giấy chứng nhận sạp

để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ trả tiền vay?

Đoạn “nhận thấy” của bản án số 208 cho thấy bên vay dùng giấy chứng nhận sạp

để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ trả tiền vay: “vào ngày 14/9/2007 bà Bùi Thị Khen và

ông Nguyễn Khắc Thảo có thế chấp cho ông một giấy sử dụng sạp D2-9 tại chợ Tân Hương để vay 60.000.000 đồng, thời hạn vay là 6 tháng, lãi suất thoả thuận là 3%tháng” và đoạn “bị đơn là bà Bùi Thị Khen và ông Nguyễn Khắc Thảo đã xác nhận có thế chấp một giấy tờ sạp D2-9 tại chợ Tân Hương để vat 60.000.000 đồng cho ông Phạm Bá Minh là chủ dịch vụ cầm đồ Bá Minh”.

1.3 Giấy chứng nhận sạp có là tài sản không? Vì sao?

Giấy chứng nhận sạp không phải là tài sản Vì:

Khoản 1 Điều 105 BLDS 2015 quy định: Tài sản là vật, tiền, giấy tờ có giá và

quyền tài sản.

Theo Khoản 8 Điều 6 Luật ngân hàng nhà nước Việt Nam 2010: “ Giấy tờ có

giá là bằng chứng xác nhận nghĩa vụ trả nợ giữa tổ chức phát hành giấy tờ có giá với người sở hữu giấy tờ có giá trong một thời hạn nhất định, điều kiện trả lãi và các điều kiện khác”

Các giấy tờ có giá bao gồm:

a) Hối phiếu đòi nợ, hối phiếu nhận nợ, séc, công cụ chuyển nhượng khác đượcquy định tại Điều 1 của Luật các công cụ chuyển nhượng năm 2005;

b) Trái phiếu Chính phủ, trái phiếu công ty, kỳ phiếu, cổ phiếu được quy định tạiđiểm c khoản 1 Điều 4 của Pháp lệnh ngoại hối năm 2005;

c) Tín phiếu, hối phiếu, trái phiếu, công trái và công cụ khác làm phát sinh nghĩavụ trả nợ được quy định tại điểm 16 Điều 3 của Luật quản lý nợ công năm 2009;d) Các loại chứng khoán (cổ phiếu, trái phiếu, chứng chỉ quỹ; quyền mua cổphần, chứng quyền, quyền chọn mua, quyền chọn bán, hợp đồng tương lai, nhómchứng khoán hoặc chỉ số chứng khoán; Hợp đồng góp vốn đầu tư; các loại chứngkhoán khác do Bộ Tài chính quy định) được quy định tại khoản 1 Điều 6 củaLuật chứng khoán năm 2006 (đã được sửa đổi, bổ sung một số điều năm 2010);đ) Trái phiếu doanh nghiệp được quy định tại Điều 2 của Nghị định số 52/2016/NĐ-CP ngày 19/5/2006 của Chính phủ về “Phát hành trái phiếu doanhnghiệp”…’’

Trang 7

Quyền tài sản theo Điều 115 BLDS 2015: Quyền tài sản là quyền trị giá đượcbằng tiền, bao gồm quyền tài sản đối với đối tượng quyền sở hữu trí tuệ, quyền sửdụng đất và các quyền tài sản khác.

Giấy chứng nhận sạp không thuộc loại giấy tờ có giá hay quyền tài sản nào nhưđã nêu trên, do đó giấy chứng nhận sạp không phải là tài sản

1.4 Việc dùng giấy chứng nhận sạp để bảo đảm nghĩa vụ dân sự có được Tòa

án chấp nhận không? Đoạn nào của bản án cho câu trả lời?

Việc dùng giấy chứng nhận sạp để đảm bảo nghĩa vụ dân sự không được Toà án

chấp nhận, trong đoạn: “Xét sạp thịt heo do bà Khen đứng tên và cầm cố, nhưng giấy

chứng nhận sạp D2-9 tại chợ Tân Hương là giấy đăng kí quyền sử dụng sạp, không phải là quyền sở hữu, nên giấy chứng nhận trên không đủ cơ sở pháp lý để bà Khen thi hành án trả tiền cho ông Minh”.

1.5 Suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết và cơ sở pháp lý của Tòa án đối với việc dùng giấy chứng nhận sạp để bảo đảm nghĩa vụ.

Trong bản án trên, giấy chứng nhận sạp được dùng để bảm đảm nghĩa vụ, nhưng

đó không phải là tài sản theo quy định của pháp luật, mà chỉ là giấy đăng kí sử dụngsạp Bà Khen cũng không lấy chính sạp D2-9 hay quyền sở hữu sạp để làm tài sảnđảm bảo Vì vậy, hướng giải quyết và cơ sở pháp lý của Toà án đối với sự việc này làhoàn toàn hợp lý và có cơ sở

1.6 Đoạn nào của Quyết định số 02 cho thấy các bên đã dùng quyền sử dụng đất để cầm cố?

Đoạn: “Ngày 30/8/1995” vợ chồng ông Võ Văn Ổn và Lê Thị Xanh cùng ông

Nguyễn Văn Rành thoả thuận việc thục đất Hai bên có lập “Giấy thục đất làm ruộng” với nội dung giống như việc cầm cố tài sản”, “Bản án sơ thẩm xác định quan

hệ tranh chấp là “tranh chấp hợp đồng cầm cố quyền sử dụng đất” là đúng”

1.7 Văn bản hiện hành có cho phép dùng quyền sử dụng đất để cầm cố không? Nêu cơ sở văn bản khi trả lời?

Khoản 1 Điều 167 Luật Đất đai năm 2013 quy định: “Người sử dụng đất được

thực hiện các quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho, thế chấp, góp vốn quyền sử dụng đất”.

Khoản 1 Điều 105 BLDS 2015: “Tài sản là vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài

sản” và Điều 115 BLDS 2015 “Quyền tài sản là quyền trị giá được bằng tiền, bao

Trang 8

gồm quyền tài sản đối với đối tượng quyền sở hữu trí tuệ, quyền sử dụng đất và các quyền tài sản khác”.

Vì quyền sử dụng đất được luật thừa nhận là quyền tài sản, là bất động sản nênquyền sử dụng đất là tài sản thuộc sở hữu của một chủ thể có quyền sử dụng đất đó.Luật đất đai không quy định về cấm cầm cố quyền sử dụng đất, người sử dụngđất “được” thực hiện các quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại,thừa kế, tặng cho, thế chấp, góp vốn quyền sử dụng đất theo quy định của Luật Đất đai(Khoản 1 Điều 167) mà không có quy định hạn chế quyền của người sử dụng BLDS

2015 cho phép cầm cố bất động sản

Dựa vào những cơ sở pháp lý và lập luận trên, tôi cho rằng quy định hiện naycủa BLDS 2015 và Luật Đất đai 2013 thì có thể cầm cố quyền sử dụng đất, nhưngkhông được vi phạm điều cấm của luật theo quy định của BLDS 2015

1.8 Trong Quyết định trên, Tòa án có chấp nhận cho phép dùng quyền sử dụng đất để cầm cố không? Đoạn nào của Quyết định cho câu trả lời?

Trong Quyết định trên, Tòa án có chấp nhận cho phép dùng quyền sử dụng đấtđể cầm cố

Đoạn của Quyết định: “Hội đồng xét xử giám đốc thẩm xét thấy kháng nghị củaViện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tiền Giang là có căn cứ chấp nhận.”

Kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tiền Giang: “… Vớigiao dịch trên cho thấy mặc dù pháp luật dân sự không qui định cụ thể cho người sửdụng đất có quyền cầm cố QSDĐ nhưng xét về bản chất của giao dịch này thấy rằnggiữa các bên đương sự đã thực hiện một giao dịch cầm cố tài sản cho nhau và giaodịch này không trái pháp luật, không trái đạo đức xã hội và tuân thủ đúng quy địnhcủa pháp luật về hình thức, nội dung của hợp đồng cầm cố tài sản được Bộ luật Dânsự quy định từ Điều 326 đến Điều 341.”

Qua đó, tôi thấy rằng mặc dù không nói rõ trong bản án nhưng với việc chấpnhận kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát tỉnh Tiền Giang đồng nghĩa với việcHội đồng xét xử giám đốc thẩm đã đồng ý với việc cho phép dùng quyền sư dụng đấtđể cầm cố

1.9 Suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết trên của Tòa án trong Quyết định số 02.

Theo suy nghĩ của tôi hướng giai quyết trên của Tòa án là hoàn toàn hợp lí, phùhợp với quy định của pháp luật khi công nhận giao dịch thục đất trên Vì theo nhưtrình bày ở trên thì quyền sử dụng đất là quyền tài sản, theo Điều 115: “Quyền tài sản

là quyền trị giá được bằng tiền, bao gồm quyền tài sản đối với đối tượng quyền sở hữutrí tuệ, quyền sử dụng đất và các quyền tài sản khác” Và trong quy định của Luật Đấtđai cũng không cấm việc cầm giấy chứng nhận đất để cầm cố Thêm vào đó, giấychứng nhận quyền sử dụng đất trên thuộc sở hữu của ông Ôn và bà Xanh, việc cầm cố

Trang 9

cũng được lập thành văn bản nên việc đem đi cầm cố là hoàn toàn phù hợp với quy

định của pháp luật dân sự về cầm cô tài sản tại Điều 309: “Cầm cố tài sản là việc một

bên (sau đây gọi là bên cầm cố) giao tài sản thuộc quyền sở hữu của mình cho bên kia (sau đây gọi là bên nhận cầm cố) để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ”.

1.10 Trong Quyết định số 27, thế chấp được sử dụng để bảo đảm cho nghĩa vụ nào? Vì sao?

Trong Quyết định số 27, thế chấp được sử dụng để đảm bảo cho nghĩa vụ trảnợ

Vì đối tượng kinh doanh là tiền và thu nhập chủ yếu của ngân hàng được tạo ra từ hoạtđộng tín dụng Trong khi đó bất kì một khoản cho vay nào cũng đều chứa đựng nhữngrủi ro nhất định Một khi có rủi ro xảy ra thì ngân hàng phải chịu tổn thất Để hạn chế rủi ro thì ngay từ đầu tất cả các khoản cho vay phải có ít nhất hai nguồn trả nợ tách biệt Do đó bảo đảm tín dụng là một tiêu chuẩn bổ sung những hạn chế của nhà quản trị ngân hàng cũng như phòng ngừa những diễn biến không thuận lợi

1.11 Đoạn nào trong Quyết định số 27 cho thấy Toà án xác định hợp đồng thế chấp đã chấm dứt?

Đoạn “Quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn Ngân hàng Việt Nga thừa nhậnCông ty PT đã tất toán các khoản vay từ Hợp đồng tín dụng số 60/2014/HĐTD ngày14/4/2014 lần lượt vào các ngày 15/10/2014; ngày 25/10/2014 và ngày 12/11/2014 Vìvậy, việc thế chấp tài sản của ông T, bà H đã chấm dứt theo quy định tại Khoản 1Điều 357 Bộ luật Dân sự năm 2005 và Khoản 1 Điều 327 Bộ luật Dân sự năm 2015.”

1.12 Vì sao Toà án xác định hợp đồng thế chấp nêu trên đã chấm dứt?

Vì theo sự xác nhận của phía Ngân hàng thì Công ty PT đã thanh toán tất cả cáckhoản nợ theo các hợp đồng tín dụng cụ thể và phía Ngân hàng cũng đã tất toán cáchợp đồng này vào ngày cuối cùng là 25/11/2014 Do vậy, căn cứ theo quy định tạikhoản 1 Điều 357 Bộ luật dân sự năm 2005 và theo Khoản 1 Điều 327 Bộ luật Dân sự

2015 về việc thế chấp tài sản chấm dứt khi nghĩa vụ được bảo đảm bằng thế chấpchấm dứt thì Hợp đồng thế chấp bất động sản số 63/2014/HĐTC ngày 06/6/2014 đãchấm dứt, hết hiệu lực từ ngày 25/11/2014

1.13 Việc Toà án xác định hợp đồng thế chấp nêu trên đã chấm dứt có thuyết phục không? Vì sao?

Việc Tòa án xác định hợp đồng thế chấp nêu trên đã chấm dứt hoàn toàn thuyết phục Vì:

+ Hợp đồng thế chấp bất động sản số 63/2014/HĐTC ngày 05/6/2014 được ký kếtvới ông Trần T, bà Trần Thị H với Ngân hàng V để đảm bảo nghĩa vụ trả nợ1.500.000.000 đồng Tại Khoản 2, Điều 1 của hợp đồng nêu trên, đã thỏa thuận

Trang 10

“Bên thế chấp đồng ý dùng toàn bộ tài sản thế chấp được mô tả tại Điều 2 Hợpđồng này để bảo đảm thực hiện toàn bộ nghĩa vụ đã, đang và sẽ phát sinh trongtương lai theo toàn bộ các Hợp đồng tín dụng đã và sẽ ký giữa Ngân hàng với Bênvay trong giới hạn số tiền tối đa bằng giá trị tài sản thế chấp” nhưng ngày17/6/2014, Ngân hàng và Công ty PT ký kết Phụ lục 01 sửa đổi, bổ sung hợp đồngtín dụng hạn mức số 60/2014/HĐTD ngày 14/4/2014, nâng hạn mức tín dụng từ1,5 tỷ đồng lên 5 tỷ đồng Ngày 23/09/2014, Ngân hàng và Công ty PT ký kết Phụlục 02 sửa đổi, bổ sung hợp đồng tín dụng hạn mức số 60/2014/HĐTD ngày14/4/2014, nâng hạn mức tín dụng từ 1,5 tỷ đồng lên 10 tỷ đồng Như vậy, Ngânhàng đã tự ý nâng hạn mức tín dụng mà không được sự đồng ý của ông Trần T, bàTrần Thị H

+ Đồng thời theo quyết định của Tòa án nhân dân tối cao: “nguyên đơn Ngân hàngViệt Nga thừa nhận Công ty PT đã tất toán các khoản vay từ Hợp đồng tín dụng

số 60/2014/HĐTD ngày 14/4/2014 lần lượt vào các ngày 15/10/2014; ngày25/10/2014 và ngày 12/11/2014 Vì vậy, việc thế chấp tài sản của ông T, bà H đãchấm dứt theo quy định tại Khoản 1 Điều 357 Bộ luật ân sự năm 2005 và Khoản 1Điều 327 Bộ luật Dân sự năm 2015

VẤN ĐỀ 2: ĐĂNG KÝ GIAO DỊCH BẢO ĐẢM

Đỗ Văn Đại, Giáo trình Pháp luật về hợp đồng và bồi thường thiệt

hại ngoài hợp đồng, Nxb Hồng Đức-Hội Luật gia Việt Nam 2017,

Chương 3;

Đỗ Văn Đại, Luật các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ Việt

Nam-Bản án và Bình luận bản án, Nxb Hồng Đức-Hội Luật gia Việt

Nam 2021 (xuất bản lần thứ tư), Bản án số 31 và tiếp theo;

Nguyễn Xuân Quang, Lê Nết và Nguyễn Hồ Bích Hằng, Luật dân sự

Việt Nam, Nxb Đại học quốc gia TP HCM 2007, tr 390;

 Và các tài liệu liên quan khác (nếu có)

Tóm tắt bản án: số: 09/2019/KDTM-PT ngày 16/08/2019 về v/v: " Tranh chấp hợp đồng tín dụng" của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội.

- Nguyên đơn: Ngân hàng N

- Bị đơn: Công ty TNHH xây dựng và thương mại V

Hai bên đã ký hợp đồng tín dụng như sau: Hợp đồng tín dụng số

1421-LAV-200900142/HĐTD ký ngày 29/9/2009 và số 1421-LAV-201000037/HMTD ký ngày 21/05/2010 và 21/5/2012, Ngân hàng N tiếp tục ký Hợp đồng hạn mức tín dụng số 1421-LAV-201000037, theo đó Ngân hàng N tiếp tục gia hạn cho công ty thêm 12

Trang 11

tháng với hạn mức tín dụng như cũ Quá trình thực hiện hợp đồng này, Ngân hàng N chưa giải ngân mà chỉ theo dõi phần dư nợ chuyển sang giữa Ngân hàng N với Công

ty V Ngân hàng yêu cầu Công ty V phải thanh toán trả nợ gốc, lãi và lãi chậm trả phátsinh từ hợp đồng tín dụng hạn mức Tài sản đảm bảo cho các khoản vay trên là:

Quyền sử dụng đất và tài sản mang tên chủ sở hữu là ông Đỗ Văn Q và bà Phạm Thị

V Động sản là Hệ thống khoan cọc nhồi KH125-3

Bản án sơ thẩm tuyên:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng N về việc yêu cầu Công ty V phải thanh toán trả nợ gốc, lãi và lãi chậm trả phát sinh từ Hợp đồng tín dụng hạn mức số 1421-LAV 200900142/HĐTD ký ngày 29/9/2009 và Hợp đồng tín dụng số 1421-LAV-201000037/HMTD ký ngày 21/05/2010 và ngày 21/5/2012 Buộc Công ty V phải thanh toán cho Ngân hàng N số tiền vay và lãi suất trong hạn, lãi suất quá hạn các khoản nợ

Tuyên bố Hợp đồng thế chấp tài sản số công chứng: 1013.2009/HĐTC, ngày 07/9/2009 được ký kết giữa bên thế chấp là ông Đỗ Văn Q và bà Phạm Thị V, bên nhận thế chấp là Ngân hàng và bên vay là Công ty V chưa phát sinh hiệu lực pháp luật.Ngân hàng N và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập là ông

Đỗ Văn Q và bà Phạm Thị V phải đi đăng ký lại giao dịch bảo đảm theo đúng quy định

Bác bỏ yêu cầu độc lập của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan (ông Q, bàV) về việc tuyên bố Hợp đồng thế chấp tài sản là vô hiệu, chưa phát sinh hiệu lựcpháp luật cũng như yêu cầu Ngân hàng N phải trả lại bản gốc Giấy chứng nhận quyềnsở hữu nhà và quyền sử dụng đất

Và cho biết:

2.1 Điểm mới của BLDS 2015 so với BLDS 2005 về đăng ký giao dịch bảo đảm.

Tại BLDS 2015 thì nội hàm về đăng ký giao dịch bảo đảm không có gì mới,vẫn trên tinh thần kế thừa BLDS 2005, chỉ thay đổi về thuật ngữ “giao dịch” và “biệnpháp” BLDS 2005 đề cập về vấn đề “đăng ký giao dịch bảo đảm”, còn BLDS 2015thì quy định về “đăng ký biện pháp bảo đảm” Giao dịch bảo đảm là giao dịch dân sự

do các bên thoả thuận hoặc pháp luật quy định về việc thực hiện biện pháp bảo đảm

Trang 12

Tại BLDS 2015 đã dùng “biện pháp” để giới hạn lại phạm vi cần bảo đảm được quyđịnh tại điều 292 BLDS 2015.

2.2 Hợp đồng thế chấp số 1013.2009/HĐTC ngày 07/9/2009 có thuộc trường hợp phải đăng ký không? Vì sao?

Hợp đồng thế chấp số 1013.2009/HĐTC ngày 07/9/2009 là trường hợp phải đăng ký vì: Theo quy định của pháp luật, Khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 163/2006/NĐ-

CP thì việc đăng ký giao dịch bảo đảm bắt buộc trong các trường hợp sau: thế chấp quyền sử dụng đất; thế chấp quyền sử dụng rừng, quyền sở hữu rừng sản xuất là rừng trồng; thế chấp tàu bay, tàu biển; thế chấp một tài sản để bảo đảm thực hiện nhiều nghĩa vụ; các trường hợp khác do pháp luật quy định

Như vậy, hợp đồng thế chấp số 1013.2009/HĐTC ngày 07/9/2009 là hợp đồng thế chấp tài sản cụ thể là nhà đất để đảm bảo nghĩa vụ trả nợ nên thuộc trường hợp phải đăng ký

2.3 Hợp đồng thế chấp số 07/9/2009 đã được đăng ký phù hợp với quy định không? Đoạn nào của bản án cho câu trả lời?

Hợp đồng thế chấp số 07/9/2009 chưa được đăng ký phù hợp với quy định Đoạn trong bản án cho câu trả lời: “Tuyên bố Hợp đồng thế chấp tài sản sốcông chứng: 1013.2009/HĐTC, ngày 07/9/2009 được ký kết giữa bên thế chấp là ông

Đỗ Văn Q và bà Phạm Thị V, bên nhận thế chấp là Ngân hàng và bên vay là Công ty

V chưa phát sinh hiệu lực pháp luật Ngân hàng và người có quyền lợi nghĩa vụ liênquan có yêu cầu độc lập là ông Đỗ Văn Q và bà Phạm Thị V phải đi đăng ký lại giaodịch bảo đảm theo đúng quy định”

2.4 Theo Toà án, nếu không được đăng ký, hợp đồng thế chấp số 07/9/2009 có vô hiệu không? Vì sao?

Theo Tòa án, nếu không được đăng ký, hợp đồng thế chấp số 07/9/2009 sẽ vôhiệu

Vì dựa trên những cơ sở pháp lý sau: Khoản 1 Điều 298 BLDS 2015 quy định:

“1 Biện pháp bảo đảm được đăng ký theo thỏa thuận hoặc theo quy địnhcủa luật

Việc đăng ký là điều kiện để giao dịch bảo đảm có hiệu lực chỉ trongtrường hợp luật có quy định”

 Do đó, việc đăng ký là điều kiện để hợp đồng này có hiệu lực

- Điểm b Khoản 1 Điều 4 Nghị định 102/2017/NĐ-CP:

Trang 13

“b) Thế chấp tài sản gắn liền với đất trong trường hợp tài sản đó đã đượcchứng nhận quyền sở hữu trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyềnsở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất”.

Hợp đồng thế chấp số 07/9/2009 thuộc trường hợp mà pháp luật quy định phải đăngký

- Khoản 1 Điều 5 Nghị định 102/2017/NĐ-CP quy định:

“1 Trường hợp đăng ký biện pháp bảo đảm bằng quyền sử dụng đất, tàisản gắn liền với đất, tàu bay, tàu biển, thì thời điểm có hiệu lực của đăngký biện pháp bảo đảm là thời điểm cơ quan đăng ký ghi nội dung đăng kývào sổ đăng ký Trường hợp đăng ký biện pháp bảo đảm bằng tài sản làđộng sản khác, thì thời điểm có hiệu lực của đăng ký biện pháp bảo đảm

là thời điểm nội dung đăng ký được cập nhật vào cơ sở dữ liệu về biệnpháp bảo đảm.”

Qua đó, về nguyên tắc, biện pháp bảo đảm thế chấp quyền sử dụng đất, quyềnsở hữu nhà ở có hiệu lực kể từ thời điểm đăng ký thế chấp nên nếu không được đăngký thì hợp đồng thế chấp sẽ vô hiệu

Từ những cơ sở nêu trên, việc hợp đồng thế chấp số 07/9/2009 nếu không đượcđăng ký sẽ trở nên vô hiệu và mất giá trị pháp lý

2.5 Hướng của Toà án như trong câu hỏi trên có thuyết phục không? Vì sao?

Hướng của Tòa án như trong câu hỏi trên là thuyết phục, vì:

Tòa đã áp dụng những QPPL mà pháp luật quy định nhằm đảm bảo tính côngbằng, về bản chất đăng ký giao dịch bảo đảm là hoạt động ghi vào sổ đăng ký các giaodịch, hoạt động của cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo một trình tự, thủ tục luậtđịnh nhằm đảm bảo hiệu lực của các giao dịch bảo đảm hoặc có hiệu lực đối vớingười thứ ba Do đó nếu không được đăng ký thì hợp đồng thế chấp số 07/9/2009 sẽkhông được ghi nhận khiến hợp đồng này trở nên vô hiệu và như vậy sẽ ảnh hưởnglớn đến quyền lợi của bên có quyền

Trang 14

Đỗ Văn Đại, Giáo trình Pháp luật về hợp đồng và bồi thường thiệt

hại ngoài hợp đồng, Nxb Hồng Đức-Hội Luật gia Việt Nam 2017,

Chương 3;

Hoàng Thế Cường, Sách tình huống Pháp luật hợp đồng và bồi

thường thiệt hại ngoài hợp đồng, Nxb Hồng Đức-Hội Luật gia Việt

Nam 2017, Vấn đề 19;

Đỗ Văn Đại, Luật các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ Việt

Nam-Bản án và Bình luận bản án, Nxb Hồng Đức-Hội Luật gia Việt

Nam 2021 (xuất bản lần thứ tư), Bản án số 149 và tiếp theo;

Nguyễn Xuân Quang, Lê Nết và Nguyễn Hồ Bích Hằng, Luật dân sự

Việt Nam, Nxb Đại học quốc gia TP HCM 2007, tr 393 và 394;

 Và các tài liệu liên quan khác (nếu có)

bên (sau đây gọi là bên

cầm cố) giao tài sản thuộc

quyền sở hữu của mình

cho bên kia (sau đây gọi là

bên nhận cầm cố) để bảo

đảm thực hiện nghĩa vụ

(điều 309)

Đặt cọc là việc một bên (sau đây gọi là bên đặt cọc) giao cho bên kia (sau đây gọi là bên nhận đặt cọc) một khoản tiền hoặc kim khí quý, đá quý hoặc vật có giá trị khác (sau đây gọi chung là tài sản đặt cọc) trong một thời hạn đểbảo đảm giao kết hoặc thực hiện hợp đồng (điều 328)

Thế chấp tài sản là việc một bên (sau đây gọi là bên thế chấp) dùng tài sản thuộc sở hữu của mình để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ vàkhông giao tài sản cho bên kia (sau đây gọi là bên nhận thế chấp)

Tài sản thế chấp do bên thế chấp giữ Cácbên có thể thỏa thuận giao cho ngườithứ ba giữ tài sản thếchấp

Phương Bên cầm cố giao tài sản Một bên giao cho bên kia Tài sản thế chấp do

Trang 15

1 Nghĩa vụ được bảo

đảm bằng thế chấp chấm dứt

2 Việc thế chấp tài

sản được hủy bỏ hoặc được thay thế bằng biện pháp bảo đảm khác

Tài sản cầm cố được trả lại

cho bên cầm cố Hoa lợi,

lợi tức thu được từ tài sản

cầm cố cũng được trả lại

cho bên cầm cố

Tài sản đặt cọc được trả lạicho bên đặt cọc hoặc đượctrừ để thực hiện nghĩa vụ trả tiền

Nhận lại tài sản thế chấp do người thứ bagiữ và giấy tờ liên quan đến tài sản thế chấp do bên nhận thế chấp giữ

Mục đích

Bảo đảm thực hiện nghĩa

vụ dân sự Bảo đảm việc giao kết

hoặc thực hiện hợp đồng

Bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự

Xử lý tài

sản bảo

đảm

Được bán, thay thế, trao

đổi, tặng cho tài sản cầm

cố nếu được bên nhận

cầm cố đồng ý hoặc theo

quy định của pháp luật

Được bán, thay thế, trao đổi, tặng cho tài sản cầm

cố nếu được bên nhận cầm cố đồng ý hoặc theo quy định của pháp luậtTrường hợp hợp đồng được giao kết, thực hiện thì tài sản đặt cọc được trảlại cho bên đặt cọc hoặc được trừ để thực hiện nghĩa vụ trả tiền; nếu bên đặt cọc từ chối việc giao

Không có quy định về

xử lý tài sản bảo đảm

Trang 16

kết, thực hiện hợp đồng thì tài sản đặt cọc thuộc vềbên nhận đặt cọc; nếu bênnhận đặt cọc từ chối việc giao kết, thực hiện hợp đồng thì phải trả cho bên đặt cọc tài sản đặt cọc và một khoản tiền tương đương giá trị tài sản đặt cọc, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.

3.2 Thay đổi giữa BLDS 2015 và BLDS 2005 về đặt cọc

Đặt cọc là việc một bên (sau đây gọi là bên đặt cọc) giao cho bên kia(sau đây gọi là bên nhận đặt cọc) một khoản tiền hoặc kim khí quý,

đá quý hoặc vật có giá trị khác (sau đây gọi chung là tài sản đặt cọc) trong một thời hạn để bảo đảm giao kết hoặc thực hiện hợp đồng

Mục đích

của đặt cọc

- Thỏa thuận đặt cọc phải được lập thành văn bản Thỏa thuận đặt cọc có thể được thể hiện bằng văn bản riêng nhưng cũng có thể được thể hiện bằng một điều khoản trong hợp đồng chính thức

- Đối với đặt cọc nhằm giao kết hợp

- Các bên trong đặt cọc có thể thỏathuận về mục đích của đặt cọc theo một trong ba trường hợp sau:

“Chỉ bảo đảm cho việc giao kết hợp đồng, thực hiện hiện hợp đồng hoặc vừa bảo đảm cho việc giao kết hoặc vừa bảo đảm cho việc

Ngày đăng: 04/12/2021, 23:22

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w