1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Buổi thảo luật thứ nhất cụm 1 LHS

24 9 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 24
Dung lượng 148,18 KB
File đính kèm Buổi thảo luận thứ nhất LHS.rar (538 KB)

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH KHOA LUẬT HÌNH SỰ BÀI TẬP THẢO LUẬN MÔN LUẬT HÌNH SỰ PHẦN CHUNG GV TS Nguyễn Thị Ánh Hồng Học kỳ II, Năm học 2022 2023 MỤC LỤC BUỔI THẢO LUẬN THỨ NHẤT 4 I PHẦN NHẬN ĐỊNH 4 1 Đối tượng điều chỉnh của luật hình sự là những quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ 4 2 Đối tượng điều điều chỉnh của luật hình sự là tất cả các quan hệ xã hội phát sinh khi có một tội phạm được thực hiện 4 3 Việc thực hiện hành vi phạm tội là sự kiện pháp lý làm phát sinh quan hệ.

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Trang 3

MỤC LỤC

Trang 4

BUỔI THẢO LUẬN THỨ NHẤT

là một quan hệ xã hội cụ thể phát sinh khi có sự kiện pháp lý nhất định, giữa nhữngchủ thể nhất định và các chủ thể có quyền, nghĩa vụ nhất định Còn quan hệ xã hộiđược luật hình sự bảo vệ khi bị xâm phạm bởi các hành vi phạm tội sẽ trở thành kháchthể của tội phạm Đây là 2 phạm trù ngữ nghĩa khác nhau

2 Đối tượng điều điều chỉnh của luật hình sự là tất cả các quan hệ xã hội phát sinh khi có một tội phạm được thực hiện.

Sai Vì chỉ những quan hệ xã hội phát sinh khi có một tội phạm xảy ra giữa nhànước và người phạm tội hoặc pháp nhân thương mại phạm tội mới được xem là đốitượng điều chỉnh của luật hình sự Do đó, không phải tất cả các quan hệ xã hội phátsinh khi có một hành vi phạm tội được thực hiện đều thuộc đối tượng điều chỉnh củaluật hình sự

3 Việc thực hiện hành vi phạm tội là sự kiện pháp lý làm phát sinh quan hệ pháp luật hình sự.

Đúng Vì quan hệ pháp luật hình sự là quan hệ xã hội được cấu thành bởi bốn yếu tố

là chủ thể, nội dung, khách thể và sự kiện pháp lý Mà trong đó khi có một tội phạmthực hiện sẽ được xem là sự kiện pháp lý của quan hệ pháp luật hình sự

4 Người phạm tội và người bị hại có quyền thỏa thuận với nhau về mức độ trách nhiệm hình sự của người phạm tội.

Sai Vì căn cứ theo Điều 30 của BLHS năm 2015: “Hình phạt là biện pháp cưỡng

chế nghiêm khắc nhất của Nhà nước được quy định trong Bộ luật này, do Tòa án quyết định áp dụng đối với người hoặc pháp nhân thương mại phạm tội nhằm tước bỏ hoặc

Trang 5

hạn chế quyền, lợi ích của người, pháp nhân thương mại đó” Theo đó thì các mức độ

hình phạt sẽ do Tòa án quyết định áp dụng đối với người hoặc pháp nhân thương mạiphạm tội tùy vào tình tiết phạm tội mà Tòa án sẽ đưa ra mức độ trách nhiệm hình sựtương ứng với tội phạm đó Ngoài ra, luật hình sự chỉ điều chỉnh các quan hệ xã hộiphát sinh giữa Nhà nước với người phạm tội hoặc pháp nhân thương mại phạm tội chứkhông hề có sự xuất hiện của chủ thể là người bị hại Người bị hại sẽ được chuyểnquyền cho Nhà nước và Nhà nước đại diện cho người bị hại để xác định trách nhiệmhình sự của người phạm tội Do đó, người phạm tội không có quyền thoả thuận vớingười bị hại Và người phạm tội và người bị hại không có quyền thoả thuận với nhau

về mức độ trách nhiệm hình sự của người phạm tội Dẫn chứng quy định tại Khoản 3

Điều 29 BLHS 2015: “ Người thực hiện tội phạm nghiêm trọng do vô ý hoặc tội phạm

ít nghiêm trọng gây thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm hoặc tài sản của người khác, đã tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại hoặc khắc phục hậu quả

và được người bị hại hoặc người đại diện hợp pháp của người bị hại tự nguyện hòa giải và đề nghị miễn trách nhiệm hình sự, thì có thể được miễn trách nhiệm hình sự”.

Người bị hại chỉ có thể đề nghị miễn trách nhiệm hình sự cho người phạm tội chứkhông có quyền thỏa thuận với nhau về trách nhiệm hình sự của người phạm tội

5 Bãi nại của người bị hại là căn cứ pháp lý có giá trị bắt buộc làm chấm dứt quan

hệ pháp luật hình sự.

Sai Vì theo định nghĩa thì bãi nại được hiểu là bãi bỏ yêu cầu khiếu nại hoặc khởi

tố Thông thường, người bị hại (hoặc nạn nhân) trong vụ án nào đó mà họ có đơn bãinại nghĩa là họ không yêu cầu khởi tố hoặc rút đơn khởi tố Tuy nhiên không phảitrường hợp nào có đơn bãi nại thì cũng trở thành căn cứ pháp lý làm chấm dứt quan hệ

pháp luật hình sự Theo Điều 155 BLTTHS năm 2015 quy định: “Trường hợp người

đã yêu cầu khởi tố rút yêu cầu thì vụ án phải được đình chỉ, trừ trường hợp có căn cứ xác định người đã yêu cầu rút yêu cầu khởi tố trái với ý muốn của họ do bị ép buộc, cưỡng bức thì tuy người đã yêu cầu khởi tố rút yêu cầu, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án vẫn tiếp tục tiến hành tố tụng đối với vụ án” Cụ thể, thì chỉ những vụ án

hình sự về các tội trong Điều luật này mới được đình chỉ khi có đơn bãi nại của người

bị hại như: tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác(Điều 134 BLHS 2015), tội làm nhục người khác (Điều 155 BLHS 2015),… Tuynhiên, không phải trường hợp nào có đơn bãi nại cũng được miễn trách nhiệm hình sự Nếu xác định đó là trường hợp rút yêu cầu khởi kiện không thuộc ý chí người bị hại

mà họ bị ép buộc, cưỡng bức thì vụ án vẫn tiếp tục tiến hành tố tụng khi đó sẽ khônglàm chấm dứt quan hệ pháp luật hình sự Ngoài ra thì tại Khoản 1 Điều 155 BLTTHS

2015 thì đơn bãi nại chỉ được xem như tình tiết giảm nhẹ tội chứ không có giá trị pháp

lý bắt buộc làm chấm dứt quan hệ pháp luật hình sự

Trang 6

6 Quan hệ pháp luật hình sự chỉ là quan hệ xã hội giữa nhà nước và người phạm tội khi có một tội phạm được thực hiện.

Sai Vì quan hệ pháp luật hình sự là quan hệ xã hội giữa nhà nước và người phạmtội hoặc pháp nhân thương mại phạm tội Căn cứ theo Điều 2 BLHS năm 2015 thì đây

là hai đối tượng mà luật hình sự hướng tới điều chỉnh khi có tội phạm xảy ra

7 Trong Phần thứ hai (Các tội phạm) của BLHS 2015, mỗi điều luật chỉ quy định một quy phạm pháp luật hình sự.

Sai, vì quy phạm pháp luật hình sự được thể hiện qua các quy định của luật hình sựhay nói cách khác là qua các điều luật Giữa quy phạm pháp luật hình sự và điều luậtcủa luật hình sự có sự khác nhau Một điều luật quy định về tội phạm cụ thể mới chỉthể hiện nội dung cơ bản của một quy phạm pháp luật hình sự mà chưa phải là một quyphạm pháp luật hình sự hoàn chỉnh Một quy phạm pháp luật hình sự hoàn chỉnh luônbao gồm nội dung của điều luật về một tội phạm cụ thể và nội dung các điều luật quyđịnh về những vấn đề chung của tội phạm Ví dụ: Điều 141 BLHS năm 2015 có nộidung:

“Người nào dùng vũ lực, đe doạ dùng vũ lực hoặc lợi dụng tình trạng không thể tự vệ được của nạn nhân hoặc bằng thủ đoạn khác giao cẩu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác trái với ý muốn của nạn nhân, thì bị phạt tù từ

02 năm đến 07 năm”.

Nội dung này mới chỉ là phần cơ bản của quy phạm pháp luật hình sự vì trong nộidung này chưa có nội dung giải thích dấu hiệu “người nào” Dấu hiệu này được giảithích qua các điều luật về tuổi chịu TNHS (Điều 12 BLHS) và về tình trạng không cónăng lực TNHS (Điều 21 BLHS)

8 Phần quy định trong quy phạm pháp luật tại Khoản 1 Điều 259 BLHS là loại quy định viện dẫn.

Đúng Vì, quy định viện dẫn là loại quy định không trực tiếp chỉ ra những dấu hiệucủa hành vi phạm tội mà viện dẫn đến những văn bản quy phạm pháp luật luật khác

Tại Khoản 1 Điều 259 BLHS không trực tiếp chỉ ra những dấu hiệu của hành viphạm tội mà viện dẫn đến điều luật khác Cụ thể: Tại Khoản 1 Điều 259 BLHS

2015 quy định: “1 Người nào có trách nhiệm trong quản lý chất ma túy, tiền

chất, thuốc gây nghiện, thuốc hướng thần mà thực hiện một trong các hành vi

Trang 7

sau đây, đã bị xử lý kỷ luật hoặc xử phạt vi phạm hành chính về một trong các hành vi quy định tại Điều này hoặc đã bị kết án về một trong các tội quy định tại Chương XX của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

a) Vi phạm quy định về xuất khẩu, nhập khẩu, tạm nhập, tái xuất, quá cảnh chất ma túy, tiền chất, thuốc gây nghiện hoặc thuốc hướng thần;

b) Vi phạm quy định về nghiên cứu, giám định, sản xuất, bảo quản chất ma túy, tiền chất, thuốc gây nghiện hoặc thuốc hướng thần;

c) Vi phạm quy định về giao nhận, vận chuyển chất ma túy, tiền chất, thuốc gây nghiện hoặc thuốc hướng thần;

d) Vi phạm quy định về phân phối, mua bán, trao đổi chất ma túy, tiền chất, thuốc gây nghiện hoặc thuốc hướng thần;

đ) Vi phạm quy định về quản lý, kiểm soát, lưu giữ chất ma túy, tiền chất, thuốc gây nghiện hoặc thuốc hướng thần tại khu vực cửa khẩu, khu vực biên giới, trên biển;

e) Vi phạm quy định về cấp phát, cho phép sử dụng chất ma túy, thuốc gây nghiện hoặc thuốc hướng thần.

Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến

10 năm: a) Có tổ chức; b) Phạm tội 02 lần trở lên; c) Tái phạm nguy hiểm Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ

Tổ Quốc quy định: “ Công dân Việt Nam nào câu kết với nước ngoài nhằm gây nguy

hại cho độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, chế độ xã hội chủ nghĩa và Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, tiềm lực quốc phòng, an ninh, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm, tù chung thân hoặc tử hình.”

=> Từ điều luật trên cho thấy, quy định trên đang đưa ra một số dẫn chứng, viện dẫn,liệt kê những đối tượng nằm trong tội phản bội Tổ quốc thì sẽ bị phạt tù từ 12 đến 20

Trang 8

tù, chứ không hề mô tả cụ thể chi tiết đặc trưng và nêu ra tội phạm đó Nên Khoản 1Điều 108 BLHS không phải loại quy định mô tả

10 Chế tài được quy định tại Khoản 1 Điều 171 BLHS là loại chế tài tương đối dứt khoát.

Đúng, vì tại Khoản 1 Điều 171 BLHS 2015 quy định về tội cướp giật tài sản : “1.

Người nào cướp giật tài sản của người khác, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.”

Theo định nghĩa, chế tài tương đối dứt khoát được hiểu là chế tài mà luật quy địnhmức phạt tối đa và mức phạt tối thiểu hoặc chỉ quy định mức phạt tối đa của mộtkhung hình phạt Qua đó, Khoản 1 Điều 171 BLHS có quy định mức phạt dành chocác tội phạm là phạt tù từ 01 đến 05 năm => Nên đây được coi là loại chế tài tươngđối dứt khoát

11 Chế tài được quy định tại Khoản 1 Điều 168 BLHS là loại chế tài lựa chọn.

Sai Vì chế tài tài lựa chọn là loại chế tài trong đó Nhà làm luật nêu nhiều loại hìnhphạt để Toà án lựa chọn Loại chế tài này thường gặp trong các quy định của phầnriêng Bộ luật Hình sự Khi quy định chế tài lựa chọn, thẩm quyền và khả năng của Toà

án được mở rộng, có điều kiện thực hiện nguyên tắc phân hoá trách nhiệm hình sự và

hình phạt Trong trường hợp này, Khoản 1 Điều 168 BLHS quy định về tội cướp tài sản, cụ thể: “1 Người nào dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc hoặc có

hành vi khác làm cho người bị tấn công lâm vào tình trạng không thể chống cự được nhằm chiếm đoạt tài sản, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 10 năm.” Từ điều luật trên, chế

tài chỉ quy định mức phạt tối đa và tối thiểu của 01 loại hình phạt là phạt tù có thời hạnnên đây không được coi là chế tài lựa chọn

=> Đây là chế tài tương đối dứt khoát vì quy định mức phạt tối đa là 10 năm và mứcphạt tối thiểu là 03 năm tù có thời hạn

12 BLHS VN chỉ có hiệu lực áp dụng đối với hành vi phạm tội thực hiện trên lãnh thổ VN.

Sai, dựa theo khoản 1 Điều 5 BLHS 2015 có quy định về “Hiệu lực của Bộ luật hình

sự đối với những hành vi phạm tội trên lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt

Nam” quy định:

1 Bộ luật hình sự được áp dụng đối với mọi hành vi phạm tội thực hiện trên lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Trang 9

Quy định này cũng được áp dụng đối với hành vi phạm tội hoặc hậu quả của hành vi phạm tội xảy ra trên tàu bay, tàu biển mang quốc tịch Việt Nam hoặc tại vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa của Việt Nam.

Về nguyên tắc, mọi hành vi phạm tội được thực hiện trên lãnh thổ Việt Nam thì đều

áp dụng BLHS Việt Nam Lãnh thổ Việt Nam ở đây phải được hiểu bao gồm: Vùngđất, vùng biển và vùng trời được xác định theo quy định của pháp luật Việt Nam vàluật pháp quốc tế Riêng đối với phần lãnh thổ di động (tàu bay, tàu biển) thì phạm vi

áp dụng của BLHS còn được mở rộng hơn ở chỗ không chỉ hành vi phạm tội đượcthực hiện trên các phương tiện đó mà nếu hậu quả của hành vi phạm tội xảy ra trênphương tiện đó thì vẫn áp dụng quy định của BLHS Việt Nam mặc dù hành vi phạmtội có thể xảy ra ngoài tàu bay, tàu biển

Tuy nhiên, nguyên tắc trên có một ngoại lệ duy nhất là đối với những người phạmtội được hưởng quyền miễn trừ ngoại giao hoặc lãnh sự Những đối tượng này đượcxác định căn cứ vào quy định của pháp luật Việt Nam, Điều ước quốc tế mà Việt Nam

là thành viên hoặc tập quán quốc tế Trường hợp này sẽ không áp dụng quy định củaBLHS mà trách nhiệm hình sự của họ sẽ được giải quyết theo quy định tại các Điềuước quốc tế, tập quán quốc tế hoặc bằng con đường ngoại giao

Ngoài ra, theo Điều 6 BLHS năm 2015 quy định về hiệu lực của Bộ luật Hình sự đối với những hành vi phạm tội ở ngoài lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam

“1 Công dân Việt Nam hoặc pháp nhân thương mại Việt Nam có hành vi phạm tội

ở ngoài lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam mà Bộ luật này quy định

là tội phạm, thì có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự tại Việt Nam theo quy định của

13 Một tội phạm chỉ được coi là thực hiện tại VN nếu tội phạm đó bắt đầu và kết thúc trên lãnh thổ VN.

Sai, vì tội phạm được gọi là thực hiện trên lãnh thổ Việt Nam nếu hành vi phạm tội hoặc hậu quả của hành vi phạm tội xảy ra trên lãnh thổ Việt Nam Nghĩa là tội phạm

Trang 10

đó có thể được thực hiện trọn vẹn trên lãnh thổ Việt Nam, hoặc bắt đầu hoặc diễn ra hoặc kết thúc trên lãnh thổ Việt Nam Bao gồm các trường hợp: Hành vi phạm tội bắt đầu ở Việt Nam và kết thúc ở Việt Nam; Hành vi phạm tội được thực hiện tại nước ngoài nhưng hậu quả của tội phạm lại xảy ra trên lãnh thổ Việt Nam; Hành vi phạm tộiđược thực hiện tại Việt Nam nhưng hậu quả của hành vi phạm tội lại xảy ra ở nước ngoài cũng được coi là tội phạm thực hiện tại Việt Nam.

14 Một số điều luật của BLHS năm 2015 được áp dụng đối với hành vi phạm tội đã thực hiện trước khi điều luật đó có hiệu lực thi hành.

Đúng, vì Theo quy định tại Điều 7 Bộ luật Hình sự số 100/2015/QH13 đã được sửađổi, bổ sung một số điều theo Luật số 12/2017/QH14 (sau đây gọi chung là Bộ luậtHình sự năm 2015); Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội vềviệc thi hành Bộ luật Hình sự số 100/2015/QH13 đã được sửa đổi, bổ sung một số điềutheo Luật số 12/2017/QH14 và về hiệu lực thi hành của Bộ luật Tố tụng Hình sự số101/2015/QH13, Luật Tổ chức Cơ quan điều tra hình sự số 99/2015/QH13, Luật Thihành tạm giữ, tạm giam số 94/2015/QH13 Kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2018, Bộ luậtHình sự năm 2015 được áp dụng như sau (hiệu lực về thời gian của Bộ luật Hình sự):

1 Tất cả các điều khoản của Bộ luật Hình sự năm 2015 được áp dụng để khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án đối với người thực hiện hành vi phạm tội từ 0 giờ 00 phút ngày 01/01/2018.

2 Các điều khoản của Bộ luật Hình sự năm 2015 được áp dụng đối với cả những hành vi phạm tội xảy ra trước 0 giờ 00 phút ngày 01/01/2018 mà sau thời điểm đó mới

bị phát hiện, đang bị điều tra, truy tố, xét xử hoặc đối với người đang được xét giảm thời hạn chấp hành hình phạt, xóa án tích nếu việc áp dụng có lợi hơn cho người phạm tội, cụ thể bao gồm các trường hợp sau:

- Xóa bỏ một tội phạm, một hình phạt, một tình tiết tăng nặng;

- Quy định hình phạt nhẹ hơn, tình tiết giảm nhẹ mới;

- Mở rộng phạm vi áp dụng án treo;

- Miễn trách nhiệm hình sự, loại trừ trách nhiệm hình sự, miễn hình phạt, giảm hình phạt, tha tù trước thời hạn có điều kiện, xóa án tích;

- Các quy định khác có lợi cho người phạm tội.

Ngược lại, các điều khoản của Bộ Luật Hình sự năm 2015 không áp dụng đối với các trường hợp sau:

Trang 11

- Quy định một tội phạm mới, một hình phạt nặng hơn, một tình tiết tăng nặng mới;

- Hạn chế phạm vi áp dụng án treo, miễn trách nhiệm hình sự, loại trừ trách nhiệm hình sự, miễn hình phạt, giảm hình phạt, xóa án tích;

- Quy định khác không có lợi cho người phạm tội.

Vì việc áp dụng sẽ bất lợi cho người phạm tội nên nó không được áp dụng để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với những hành vi Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định là tội phạm nhưng xảy ra trước 0 giờ 00 phút ngày 01 tháng 01 năm 2018.

3 Đối với những hành vi phạm tội đã có bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật trước 0 giờ 00 phút ngày 01 tháng 01 năm 2018 thì không được căn cứ vào những quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015 có nội dung khác so với các điều luật đã được áp dụng khi tuyên án để kháng nghị giám đốc thẩm; trường hợp kháng nghị dựa vào căn cứ khác hoặc đã kháng nghị trước ngày 01 tháng 01 năm 2018 thì việc xét xử giám đốc thẩm phải tuân theo quy định tại điểm b và điểm c khoản 1 Điều

2 Nghị quyết số 41/2017/QH14.

4 Các quy định về trách nhiệm hình sự đối với pháp nhân thương mại tại Bộ luật Hình sự năm 2015 không áp dụng đối với những hành vi phạm tội của pháp nhân thương mại xảy ra trước 0 giờ 00 phút ngày 01 tháng 01 năm 2018.

Ngoài ra thì tại Khoản 3 Điều 7 có quy định về hiệu lực của BLHS về thời gian: “

Điều luật xóa bỏ một tội phạm, một hình phạt, một tình tiết tăng nặng, quy định một hình phạt nhẹ hơn, một tình tiết giảm nhẹ mới hoặc mở rộng phạm vi áp dụng án treo, miễn trách nhiệm hình sự, loại trừ trách nhiệm hình sự, miễn hình phạt, giảm hình phạt, tha tù trước thời hạn có điều kiện, xóa án tích và quy định khác có lợi cho người phạm tội, thì được áp dụng đối với hành vi phạm tội đã thực hiện trước khi điều luật

đó có hiệu lực thi hành.” Đây được coi là một số điều luật ngoại lệ của BLHS năm

2015 được áp dụng đối với hành vi phạm tội đã thực hiện trước khi điều luật đó cóhiệu lực thi hành

15 BLHS 2015 không được áp dụng đối với hành vi phạm tội do người nước ngoài, pháp nhân thương mại nước ngoài phạm tội ở ngoài lãnh thổ VN.

Sai, vì: theo Khoản 2 Điều 6 BLHS 2015 quy định: “Người nước ngoài, pháp nhân

thương mại nước ngoài phạm tội ở ngoài lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của Bộ luật này trong trường hợp hành vi phạm tội xâm hại quyền, lợi ích hợp pháp của công dân Việt Nam hoặc xâm hại lợi ích của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam hoặc theo quy định của điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên”.

Như vậy, trong trường hợp hành vi phạm tội của người nước ngoài xâm hại quyền, lợi

Trang 12

ích hợp pháp của công dân Việt Nam hoặc xâm hại lợi ích của nước Cộng hòa xã hộichủ nghĩa Việt Nam hoặc theo quy định của điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủnghĩa Việt Nam là thành viên thì người nước ngoài dù ở ngoài lãnh thổ nước Việt Namthì vẫn có thể bị truy cứu TNHS theo quy định tại BLHS của Việt Nam.

16 BLHS năm 2015 có thể được áp dụng đối với hành vi phạm tội xảy ra trên tàu bay, tàu biển không mang quốc tịch VN đang ở tại biển hoặc giới hạn vùng trời nằm ngoài lãnh thổ VN.

Đúng, theo khoản 3 Điều 6 BLHS năm 2015 quy định:

“Đối với hành vi phạm tội hoặc hậu quả của hành vi phạm tội xảy ra trên tàu bay, tàu biển không mang quốc tịch Việt Nam đang ở tại biển cả hoặc tại giới hạn vùng trời nằm ngoài lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thì người phạm tội có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của Bộ luật này trong trường hợp điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có quy định.”.

II PHẦN BÀI TẬP

Bài 1: A là học viên của 1 trường dạy nghề Vì có xích mích cá nhân với B là bạn

cùng lớp nên đã đánh B bị thương tích với tỷ lệ thương tật 30% Vì thế, B phải điều trịtại bệnh viện 15 ngày và chi phí điều trị tại bệnh viện là 15.300.000 đồng Việc A cố ýgây thương tích cho B đã làm phát sinh các quan hệ pháp luật như sau

− A bị Toà án tuyên phạt 1 năm tù về việc gây thương tích cho B (Theo quy định tại Đ 134 BLHS)

− A phải bồi thường cho B toàn bộ số tiền chi phí điều trị tại bệnh viện

− A bị trường dạy nghề buộc thôi học vì có vi phạm nghiêm trọng quy chế của nhà trường

Anh (chị) hãy xác định:

1 Quan hệ nào là quan hệ pháp luật hình sự? Tại sao?

Quan hệ của A bị Toà án tuyên phạt 1 năm tù về việc gây thương tích cho B đượccoi là quan hệ pháp luật hình sự

Vì: Quan hệ pháp luật hình sự với tư cách là một đối tượng điều chỉnh của LuậtHình sự, có hai bên chủ thể tham gia: một bên là Nhà nước và một bên là người phạm

Ngày đăng: 10/07/2022, 12:58

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

KHOA LUẬT HÌNH SỰ - Buổi thảo luật thứ nhất cụm 1 LHS
KHOA LUẬT HÌNH SỰ (Trang 1)
w