Trả lời: Căn cứ phát sinh trách nhiệm BTTH trong hợp đồng: Về nguyên tắc chung,chế tài bồi thường thiệt hại trong hợp đồng được áp dụngkhi có đủ các điều kiện sau đây: Có hành vi vi ph
Trang 1Vấn đề 1: Bồi thường thiệt hại do không thực hiện đúng hợp đồng gây ra.
Tình huống : ông Lại (bác sĩ chuyên khoa phẫu thuật thẩm mỹ) và bà Nguyễn
thỏa thuận phẫu thuật ngực với 4 yêu cầu: lấy túi ngực ra, thâu nhỏ ngực lại, bỏ túi nhỏ vào, không được đụng đến núm vú Ba ngày sau phẫu thuật, bà Nguyễn thấy núm vú bên phải sưng lên, đau nhức và đen như than Qua 10 ngày, vết mổ
hở hết phần vừa cắt chỉ, nhìn thấy cả túi nước bên trong và ông Lại tiến hành mổ may lại Được vài ngày thì vết mổ bên phải chữ T lại hở một lỗ bằng ngón tay nước dịch tuôn ra ướt đẫm cả người Sau đó, ông Lại mổ lấy túi nước ra và may lại lỗ hổng và thực tế bà Nguyễn đã mất núm vú phải.
Câu 1: Căn cứ phát sinh trách nhiệm thiệt hại trong hợp đồng theo pháp luật Việt Nam? Nêu rõ những thay đổi trong BLDS 2015 so với BLDS 2005 về căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong hợp đồng.
Trả lời:
Căn cứ phát sinh trách nhiệm BTTH trong hợp đồng:
Về nguyên tắc chung,chế tài bồi thường thiệt hại trong hợp đồng được áp dụngkhi có đủ các điều kiện sau đây: Có hành vi vi phạm hợp đồng; có thiệt hại thực tế;
có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi vi phạm hợp đồng và thiệt hại, có lỗi(thường không xét đến yếu tố lỗi do lỗi trong trách nhiệm dân sự do vi phạm hợpđồng được suy đoán: ai vi phạm hợp đồng bị xem là có lỗi, nghĩa vụ chứng minhkhông có lỗi thuộc về bên vi phạm)
Tuy nhiên, thông thường chỉ cần có hành vi vi phạm trong hợp đồng là đủ đểchịu trách nhiệm BTTH trong hợp đồng như Điều 360 BLDS 2015 quy định:
“Trường hợp có thiệt hại do vi phạm nghĩa vụ gây ra thì bên có nghĩa vụ phải bồithường toàn bộ thiệt hại, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc luật có quy địnhkhác”
Những thay đổi của BLDS 2015 so với BLDS 2005 về căn cứ phátsinh trách nhiệm BTTH trong hợp đồng:
Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm nghĩa vụ là một trong những nộidung được bổ sung một cách cơ bản so với quy định tại Bộ luật Dân sự 2005.Thay vì chỉ quy định chung trong một điều luật (Điều 307 Bộ luật Dân sự 2005),
Bộ luật Dân sự 2015 dành tới 04 (bốn) điều luật để quy định về nội dung này (từĐiều 360 đến Điều 363 Bộ luật Dân sự 2015) Từ quy định tại những điều này cóthể thấy một số nội dung mới phát triển, nổi bật như sau:
Trang 2- Thứ nhất, căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường được ghi nhận đầy đủ
và rõ ràng hơn Điều 360 Bộ luật Dân sự 2015 quy định: “Trường hợp có thiệt
hại do vi phạm nghĩa vụ gây ra thì bên có nghĩa vụ phải bồi thường toàn bộ thiệt hại, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc luật có quy định khác” – đây
là quy định mới được bổ sung tại Bộ luật Dân sự 2015 Quy định này chỉ rõtrách nhiệm bồi thường thiệt hại sẽ phát sinh khi có các yếu tố sau: (i) có thiệthại; (ii) có hành vi vi phạm nghĩa vụ; (iii) có mối quan hệ nhân quả giữa thiệthại và hành vi vi phạm nghĩa vụ; (iv) có lỗi Tuy “lỗi” không phải là một điềukiện được nhắc đến trực tiếp trong điều luật nhưng có thể hiểu, khi các bêntrong hợp đồng có hành vi vi phạm nghĩa vụ thì hành vi đó được coi là có lỗi.Bên cạnh đó, bên có hành vi vi phạm nghĩa vụ gây thiệt hại nhưng sẽ khôngphải bồi thường thiệt hại khi rơi vào trường hợp “luật có quy định khác” hoặc
“các bên có thỏa thuận khác”
Như vậy, thay vì quy định trách nhiệm bồi thường thiệt hại một cách chungchung như quy định tại Bộ luật Dân sự 2005, việc quy định trách nhiệm bồithường thiệt hại do vi phạm nghĩa vụ thành một điều độc lập như Bộ luật Dân
sự 2015 đã tạo cơ sở pháp lý rõ ràng hơn trong việc xác định các căn cứ phátsinh trách nhiệm bồi thường Đồng thời, quy định này còn tạo hành lang pháp
lý cụ thể cho các chủ thể tham gia quan hệ hợp đồng trong việc thỏa thuận vềtrách nhiệm bồi thường thiệt hại khi một trong các bên có hành vi vi phạmnghĩa vụ
- Thứ hai, các loại thiệt hại được bồi thường do vi phạm nghĩa vụ trong hợp
đồng cũng được xác định cụ thể, đầy đủ và rõ ràng, hợp lý hơn so với trướcđây Trên cơ sở những quy định chung về thiệt hại do vi phạm nghĩa vụ, thiệthại được bồi thường do vi phạm nghĩa vụ hợp đồng được quy định tại Điều 419
Bộ luật Dân sự 2015, cụ thể như sau:
“1 Thiệt hại được bồi thường do vi phạm nghĩa vụ theo hợp đồng được xác định theo quy định tại khoản 2 Điều này, Điều 13 và Điều 360 của Bộ luật này.
2 Người có quyền có thể yêu cầu bồi thường thiệt hại cho lợi ích mà lẽ ra mình sẽ được hưởng do hợp đồng mang lại Người có quyền còn có thể yêu cầu người có nghĩa vụ chi trả chi phí phát sinh do không hoàn thành nghĩa vụ hợp đồng mà không trùng lặp với mức bồi thường thiệt hại cho lợi ích mà hợp đồng mang lại.
3 Theo yêu cầu của người có quyền, Tòa án có thể buộc người có nghĩa vụ bồi thường thiệt hại về tinh thần cho người có quyền Mức bồi thường do Tòa án quyết định căn cứ vào nội dung vụ việc”.
Đây là một quy định mới, có nội dung tiến bộ vượt bậc của Bộ luật Dân sự
2015 so với Bộ luật Dân sự 2005 Theo đó, Điều 419 đã thể hiện được cácđiểm mới quan trọng như sau:
+ Một là, các thiệt hại được bồi thường không chỉ là các thiệt hại thực tế, hiện
Trang 3hữu như trước đây Bộ luật Dân sự 2005 đã quy định mà còn cả các thu nhập bị
bỏ lỡ (khoản lợi mà đáng lẽ ra trong điều kiện bình thường thì bên bị thiệt hại
sẽ có được nhưng do hành vi vi phạm của bên kia mà mình đã không thuđược) Ví dụ: khoản lợi nhuận theo kế hoạch đề ra sẽ đạt được
+ Hai là, đoạn 2 của Khoản 2 Điều 419 quy định thêm một loại thiệt hại được
bồi thường, đó là các chi phí mà bên bị vi phạm đã phải gánh chịu trong quátrình thực hiện hợp đồng Ví dụ, chi phí thuê luật sư tham gia tố tụng Tòa ánhoặc Trọng tài Trong các tranh chấp dân sự, phí luật sư hầu như chưa bao giờđược bên thua kiện hoàn trả cho bên thắng kiện Nay, theo Khoản 2 Điều 419nêu trên thì Tòa án đã có cơ sở pháp lý để buộc bên thua kiện phải thực hiệnnghĩa vụ này Và đây cần phải được coi là một quy định tiến bộ của Bộ luậtDân sự liên quan đến chế độ trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm hợpđồng
+ Ba là, theo Khoản 3 Điều 419 thì người vi phạm có thể phải bồi thường thiệt
hại về tinh thần cho người bị hại trong đó có các pháp nhân thương mại (doanhnghiệp) Đây rõ ràng cũng là một điểm mới liên quan đến các loại thiệt hạiđược bồi thường mà trước đây được quy định còn mập mờ, không rõ ràng, gâytranh chấp không đáng có
- Thứ ba, về nghĩa vụ ngăn chặn, hạn chế thiệt hại.
Bộ luật Dân sự 2005 đã có những quy định về nghĩa vụ ngăn chặn, hạn chếthiệt hại trong một số hợp đồng nhất định, nhưng sự quy định này chỉ mangtính chất rời rạc, chưa trở thành một nội dung mang tính nguyên tắc Ví dụ, liênquan đến nghĩa vụ của bên mua bảo hiểm, bên được bảo hiểm và của bên bảohiểm khi xảy ra sự kiện bảo hiểm, Bộ luật Dân sự 2005 có quy định riêng vềtrường hợp này tại Điều 575, cụ thể:
“1 Khi xảy ra sự kiện bảo hiểm, bên mua bảo hiểm hoặc bên được bảo hiểm
phải báo ngay cho bên bảo hiểm và phải thực hiện mọi biện pháp cần thiết mà khả năng cho phép để ngăn chặn, hạn chế thiệt hại.
2 Bên bảo hiểm phải thanh toán chi phí cần thiết và hợp lý mà người thứ ba
đã bỏ ra để ngăn chặn, hạn chế thiệt hại…”.
Hay liên quan đến vấn đề bồi thường thiệt hại trong thời hạn bảo hành, Khoản
2 Điều 448 Bộ luật Dân sự 2005 quy định “… Bên bán không phải bồi thường
thiệt hại nếu chứng minh được thiệt hại xảy ra do lỗi của bên mua Bên bán được giảm mức bồi thường thiệt hại nếu bên mua không áp dụng các biện pháp cần thiết mà khả năng cho phép nhằm ngăn chặn, hạn chế thiệt hại”.
Vì vậy, để khắc phục hạn chế nêu trên, Bộ luật Dân sự 2015 quy định việcngăn chặn, hạn chế thiệt hại trở thành một xử sự bắt buộc của bên có quyền, cụ
thể, Điều 362 quy định: "Bên có quyền phải áp dụng các biện pháp cần thiết,
hợp lý để thiệt hại không xảy ra hoặc hạn chế thiệt hại cho mình.”
Việc quy định nghĩa vụ của bên có quyền ngăn chặn, hạn chế thiệt hại xảy ra
Trang 4là có căn nguyên, đạo lý của nó Bản chất của vấn đề này nằm ở chỗ, mọi vấn
đề liên quan đến quá trình ký kết cũng như thực hiện hợp đồng đều phải dựatrên nguyên tắc thiện chí và hợp tác Sẽ thật lãng phí và không hợp lý, nếu nhưbuộc bên vi phạm nghĩa vụ phải gánh chịu toàn bộ thiệt hại, trong khi khôngbuộc bên có quyền phải hạn chế thiệt hại khi họ hoàn toàn có thể làm việc đó.Quy định này rõ ràng thúc đẩy sự hợp tác, thiện chí của các bên trong hợpđồng, đảm bảo sự cân bằng lợi ích và hướng tới việc tất cả các bên trong hợpđồng cùng phát triển
- Thứ tư, về việc bồi thường thiệt hại trong trường hợp bên vi phạm có lỗi.
Đây cũng được xem là một quy định có nhiều điểm mới của Bộ luật Dân sự
2015 và thể hiện sự tiến bộ về tư duy lập pháp của các nhà làm luật Việt Nam.Trước đây, những quy định của Bộ luật Dân sự 2005 chỉ thể hiện được nộidụng: bên có nghĩa vụ không phải chịu trách nhiệm dân sự nếu chứng minhđược nghĩa vụ không thực hiện được là hoàn toàn do lỗi của bên có quyền Tuynhiên, trên thực tế đã gặp phải trường hợp khi một bên vi phạm nghĩa vụ làmphát sinh thiệt hại là do lỗi một phần của bên có quyền Thực tiễn xét xử tạiTòa án cho thấy, Tòa án đã giải quyết theo hướng bên vi phạm đương nhiên sẽkhông phải chịu trách nhiệm bồi thường toàn bộ thiệt hại cho bên bị vi phạm
mà chỉ chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại một phần Để đi đến cách giảiquyết này, rõ ràng Tòa án chỉ có thể áp dụng tương tự những quy định của Bộluật Dân sự 2005 về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng
Để giải quyết tồn tại nêu trên, Bộ luật Dân sự 2015 đã bổ sung Điều 363 quyđịnh trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong trường hợp thiệt hại xảy ra do một
phần lỗi của bên vi phạm như sau: "Trường hợp vi phạm nghĩa vụ và có thiệt
hại là do một phần lỗi của bên bị vi phạm thì bên vi phạm chỉ phải bồi thường thiệt hại tương ứng với mức độ lỗi của mình" Quy định này là hệ quả tất yếu
của việc không thực hiện nghĩa vụ ngăn chặn, hạn chế thiệt hại theo quy địnhtại Điều 362 Bộ luật Dân sự 2015 của bên có quyền Đồng thời, quy định nàyphù hợp với thực tiễn và nguyên tắc tự chịu trách nhiệm theo quy định tạiKhoản 5 Điều 3 Bộ luật Dân sự 2015 Ngoài ra, quy định mới này cũng bảođảm sự phù hợp của quy định pháp luật với lẽ công bằng
Như vậy, so với Bộ luật Dân sự 2005, các quy định về chế tài bồi thường thiệthại do vi phạm hợp đồng tại Bộ luật Dân sự 2015 đã có tiến bộ hơn rất nhiều Điềunày thể hiện ở những điểm cụ thể sau đây:
Thứ nhất, Xác định đầy đủ và rõ ràng hơn về các điều kiện (căn cứ) làm phát
sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng
Thứ hai, xác định rõ ràng, đầy đủ, cụ thể và hợp lý hơn các loại thiệt hại được
bồi thường, góp phần chấm dứt sự trách nhiệm không đáng có về các loại thiệt hạiđược bồi thường nói chung và trong hoạt động sản xuất, kinh doanh của các doanh
Trang 5nghiệp nói riêng.
Thứ ba, quy định thêm nhiều vấn đề mới nhằm tăng cường tinh thần, thái độ
hợp tác, giúp đỡ lẫn nhau giữa các bên ký kết hợp đồng, nhất là quy định về tráchnhiệm của bên bị vi phạm trong việc ngăn chặn, hạn chế các thiệt hại có thể xảy racho mình
Câu 2: Trong tình huống trên, có việc xâm phạm tới yếu tố nhân thân của
bà Nguyễn không? Căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho bà Nguyễn đã có hội đủ chưa? Vì sao?
Trả lời:
Theo khoản 3 điều 33 BLDS 2015 thì trong tình huống trên, không có yếu tốxâm phạm tới nhân thân của bà Nguyễn, vì khi ông Lại phẫu thuật cho bà, đã có sựđồng ý của bà và làm theo ý muốn của bà Cho nên nếu muốn xét về xâm phạmyếu tố nhân thân trong tình huống trên là không có căn cứ
Căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho bà Nguyễn đã hội đủ,ông Lại đã có hành vi vi phạm nghĩa vụ trong hợp đồng, trong thỏa thuận 2 ngườithì bà Nguyễn yêu cầu không được đụng đến núm vú, sau nhiều lần tiến phẫu thuậtlại thì ông Lại đã làm mất núm vú của bà Nguyễn, theo đó luật quy định tại Điều
360 của Bộ luật Dân sự 2015 quy định: “Trường hợp có thiệt hại do vi phạm
nghĩa vụ gây ra thì bên có nghĩa vụ phải bồi thường toàn bộ thiệt hại, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc luật có quy định khác”, như vậy đã đủ căn cứ để ông
Lại phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho bà Nguyễn
Câu 3: Theo quy định hiện hành, những thiệt hại vật chất nào do vi phạm hợp đồng gây ra được bồi thường? Nêu rõ cơ sở pháp lý khi trả lời.
Trả lời:
Dựa vào khoản 2 Điều 361 BLDS 2015 quy định : “Thiệt hại về vật chất là tổn
thất vật chất thực tế xác định được, bao gồm tổn thất về tài sản, chi phí hợp lý để ngăn chặn, hạn chế, khắc phục thiệt hại, thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút”
Như vậy để xác định những thiệt hại vật chất nào do vi phạm hợp đồng gây rađược bồi thường thì cần phải xác định các căn cứ sau:
- Có hành vi vi phạm hợp đồng là một loại trách nhiệm pháp lý nêntrách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng chỉ được phát sinhkhi có sự vi phạm nghĩa vụ trong hợp đồng và áp dụng đối với chủ thể cóhành vi vi phạm đó Hành vi vi phạm hợp đồng có thể là hành động hoặckhông hành động ( mục 4 trách nhiệm dân sự BLDS 2015)
Trang 6- Có thiệt hại thực tế xảy ra :Thiệt hại được coi là yếu tố bắt buộc vàtiền đề để quyết định có phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại haykhông Thiệt hại trong vi phạm hợp đồng được hiểu là thiệt hại về vật chất.
Có thể là thiệt hại trực tiếp hoặc gián tiếp và việc xác định thiệt hại là điều
vô cùng quan trọng
- Có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi vi phạm hợp đồng và thiệt hạixảy ra: giữa hai yếu tố này phải có mối liên hệ nội tại, tất yếu, trong đóhành vi vi phạm trên thực tế phải là nguyên nhân gây ra hậu quả Nếu hành
vi vi phạm hợp đồng của một bên gây ra mà do nguyên nhân khác thì sẽkhông phải chị TNBTTH
Câu 4:BLDS có cho phép yêu cầu bồi thường tổn thất về tinh thần phát sinh do vi phạm hợp đồng không? Nêu rõ cơ sở pháp lý khi trả lời.
Trả lời:
BLDS 2015 cho phép yêu cầu bồi thường tổn thất về tinh thần phát sinh do vi
phạm hợp đồng vì theo Điều 361Thiệt hại do vi phạm nghĩa vụ tại khoản 1 “Thiệt
hại do vi phạm nghĩa vụ bao gồm thiệt hại về vật chất và thiệt hại về tinh thần” và
theo Điều 419Thiệt hại được bồi thường do vi phạm hợp đồng tại khoản 3 “Theo
yêu cầu của người có quyền, Tòa án có thể buộc người có nghĩa vụ bồi thường thiệt hại về tinh thần cho người có quyền Mức bồi thường do Tòa án quyết định căn cứ vào nội dung vụ việc”.
Câu 5: Theo quy định hiện hành, bà Nguyễn có được bồi thường tổn thất
về tinh thần không? Vì sao? Nêu rõ cơ sở pháp lý khi trả lời.
Trả lời:
Theo BLDS 2015 tại khoản 3 Điều 361 “Thiệt hại về tinh thần là tổn thất về
tinh thần do bị xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín và các lợi ích nhân thân khác của một chủ thể” và theo khoản 3 Điều 419 “Theo yêu cầu của người có quyền, Tòa án có thể buộc người có nghĩa vụ bồi thường thiệt hại về tinh thần cho người có quyền Mức bồi thường do Tòa án quyết định căn cứ vào nội dung vụ việc”; mà trong tình huống trên rõ ràng ông Lại đã vi phạm yêu
cầu của bà Nguyễn được ghi trong hợp đồng phẫu thuật thẩm mỹ, làm mất núm vúphải của bà Nguyễn, bị hở vết mổ bằng ngón tay thấy cả túi nước bên trong, phảitiến hành mổ lại may lại, ảnh hưởng đến sức khỏe, thân thể của bà Nguyễn Vì thế
bà Nguyễn sẽ được bồi thường tổn thất về tinh thần nếu có yêu cầu
Tóm tắt:
Trang 7ty Tường Long chịu tiền phạt cọc và phạt vi phạm hợp đồng Tòa án chỉ chấp nhận yêu cầu phạt tiền do vi phạm nghĩa vụ.
-Phán quyết của Trọng tài quốc tế Việt Nam:
Công ty TNHH Thương mại Hà Việt và Công ty TNHH Thương mại Shanghai CJS International, kí hợp đồng mua bán hảng hóa.Theo hợp đồng thì Công ty TNHH Thương mại Shanghai CJS International phải có nghĩa vụ xếp hàng trước ngày 20/10/2006.Nhưng công ty đã không thực hiện đúng hợp đồng mà ngay sau đó gửi email yêu càu tăng giá nhưng Công ty Hà Việt không chấp nhận.27/10/2006 công
ty Hà Việt nhận được email hủy hợp đồng Công ty Hà Việt khởi kiện ra Trung tâm trọng tài Quốc tế việt Nam yêu cầu bồi thường thiệt hại và phạt vi phạm hợp đồng Trọng tài quốc tế chấp nhận yêu cầu khởi kiện và buộc Công ty TNHH Thương mại Shanghai CJS International đóng tiền phạt do vi phạm hợp đồng và bồi thường thiệt hại cho Công ty Hà Việt.
Câu 1: Điểm mới của BLDS 2015 với BLDS 2005 về phạt vi phạm hợp đồng ? Trả lời:
-Cơ sở pháp lí: Điều 418 BLDS 2015 và Điều 422 BLDS 2015
-Về mức phạt: BLDS 2005 thì cho các bên tự thỏa thuận còn BLDS 2005 cũng cho các bên tự thỏa thuận nhưng thêm quy định mới là “trừ trường hợp pháp luật liên quan có quy định khác” Đoạn mới được bổ sung phù hợp với tình hình thực tiễn pháp luật Việt Nam hiện nay vì có một số luật quy định về mức phạt vi phạm như Luật xây dựng, Luật thương mại
-BLDS 2015 bỏ đi đoạn “nếu không có thỏa thuận trước về mức bồi thường thiệt hại thì phải bồi thường thiệt hại”, vì vấn đề quy định bồi thường thiệt hại này đã cóquy định tại Điều 13 và 360 của bộ luật này
*Đối với vụ việc thứ nhất.
Câu 2: Điểm giống nhau giữa đặt cọc và phạt vi phạm hợp đồng?
Trang 8Trả lời:
- Về đối tượng thực hiện: Là khoản tiền buộc phải nộp cho một bên
- Về hình thức: Đều được lập thành văn bản
- Về hậu quả pháp lý: Bên vi phạm bị mất một khoản tiền (mức phạt vi phạm hoặc phạt cọc), và không căn cứ vào thiệt hại thực tế
Câu 3: Khoản trả trước 30% là được Tòa án xác định là tiền đặt cọc hay nội dung của phạt vi phạm hợp đồng ?
Trả lời:
Khoản trả trước 30% là được Tòa án xác định là tiền đặt cọc Bản án có đoạn “Xét
thấy, theo khoản 3 điều 4 Hợp đồng kinh tế số 01-10/TL-TV ngáy 01/10/2010 các bên đã thỏa thuận: Ngay sau khi ký hợp đồng, bên mua (Công ty Tân Việt) phải thanh toán trước cho bên bán (công ty Tường Long) 30% giá trị đơn hàng gọi là tiền đặt cọc, 40% giá trị đơn hàng thanh toán ngay sau khi bên công ty Tường Long giao hàng hoàn tất, 30% còn lại sẽ thanh toán trong vòng 30 ngày kể từ ngày thanh toán cuối cùng Do đó số tiền thanh toán đợt 1 là 30% giá trị đơn hàng được xác định là tiền đặt cọc.”
Câu 4: Suy nghĩ của anh chị vể hướng giải quyết của Tòa án liên quan đến khoản tiền trả trước 30%?
Trả lời:
-Theo nhóm thảo luận, việc Tòa án xác định khoản trả trước 30% là tiền cọc là hoàn toàn phù hợp theo thỏa thuận của các bên trong hợp đồng và quy định của BLDS 2015 vì tại khoản 2 điều 328, theo đó khi hợp đồng được thực hiện thì tài sản đặt cọc được trừ để thực hiện nghĩa vụ trả tiền
-Đồng thời chỉ chấp nhận yêu cầu phạt tiền do hủy bỏ hợp đồng không chấp nhận yêu cầu phạt cọc của công ty Tân Tiến là hợp lí vì việc phạt cọc chỉ áp dụng khi bên nhận đặt cọc là công ty Tường Long từ chối việc thực hiện hợp đồng phạt,
khoản 2 Điều 328 BLDS 2015 “Trường hợp hợp đồng được giao kết, thực hiện thì
tài sản đặt cọc được trả lại cho bên đặt cọc hoặc được trừ để thực hiện nghĩa vụ trả tiền; nếu bên đặt cọc từ chối việc giao kết, thực hiện hợp đồng thì tài sản đặt cọc thuộc về bên nhận đặt cọc; nếu bên nhận đặt cọc từ chối việc giao kết, thực hiện hợp đồng thì phải trả cho bên đặt cọc tài sản đặt cọc và một khoản tiền tương đương giá trị tài sản đặt cọc, trừ trường hợp có thỏa thuận khác”.
-Còn trong trường hợp này công ty Tường Long đã thực hiện hợp đồng theo đúng
thỏa thuận và chỉ vi phạm khi tự ý chấm dứt hợp đồng không được sự đồng ý của
Trang 9công ty Tân Tiến hay nói cách khác là không có căn cứ thì khi đó công ty Tường
Long trở thành bên vi phạm nghĩa vụ, khoản 2 Điều 428 BLDS 2015: “Trường
hợp việc đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng không có căn cứ quy định tại khoản 1 Điều này thì bên đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng được xác định là bên vi phạm nghĩa vụ và phải thực hiện trách nhiệm dân sự theo quy định của Bộ luật này, luật khác có liên quan do không thực hiện đúng nghĩa vụ trong hợp đồng.Và phải chịu phạt 8% giá trị phần nghĩa vụ hợp đồng bị vi phạm, theo
Điều 301- Luật Thương mại 2005
*Đối với vụ việc thứ 2:
Câu 5: Trong Quyết định của Trọng tài, mức phạt vi phạm hợp đồng được giới hạn như thế nào ?
Trả lời:
Trong Quyết định trên Trọng tài căn cứ vào Luật Thương mại xác định mức phạt hợp đồng là không quá 8% giá trị hợp đồng bị vi phạm, cụ thể Trọng tài xác định mức phạt là 8% giá trị hợp đồng bị vi phạm
Câu 6: So với văn bản, mức giới hạn phạt vi phạm trong Quyết định có
thuyết phục không ? Vì sao ?
Luật thương mại 2005, Điều 301 “Mức phạt đối với vi phạm nghĩa vụ hợp đồng
hoặc tổng mức phạt đối với nhiều vi phạm do các bên thoả thuận trong hợp đồng, nhưng không quá 8% giá trị phần nghĩa vụ hợp đồng bị vi phạm, trừ trường hợp quy định tại Điều 266 của Luật này.”
Câu 7: Trong pháp luật dân sự và pháp luật thương mại phạt vi phạm hợp đồng có được áp dụng đồng thời với bồi thường thiệt hại không, nếu các bên không có thỏa thuận về vấn đề này ? Cơ sở pháp lí ?
Trả lời:
-Trong BLDS 2015 nếu các bên không có thỏa thuận về vệc kết hợp giữa phạt vi phạm và bồi thường thiệt hại thì sẽ chỉ áp dụng phạt vi phạm, cơ sở pháp lí khoản
2 Điều 418 “Các bên có thể thỏa thuận về việc bên vi phạm nghĩa vụ chỉ phải chịu
phạt vi phạm mà không phải bồi thường thiệt hại hoặc vừa phải chịu phạt vi phạm
và vừa phải bồi thường thiệt hại
Trang 10Trường hợp các bên có thỏa thuận về phạt vi phạm nhưng không thỏa thuận về việc vừa phải chịu phạt vi phạm và vừa phải bồi thường thiệt hại thì bên vi phạm nghĩa vụ chỉ phải chịu phạt vi phạm”.
-Trong Luật Thương mại 2005 thì khi hai bên không có thỏa thuận về việc kết hợpnày thì vẫn có thể kết hợp được, đó là trường hợp có thỏa thuận phạt vi phạm thỉ bên bị vi phạm vẫn có quyền áp dụng cả bồi thường thiệt hại, cơ sở pháp lí Điều 307:
“1 Trường hợp các bên không có thỏa thuận phạt vi phạm thì bên bị vi phạm chỉ
có quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại, trừ trường hợp Luật này có quy định khác.2 Trường hợp các bên có thỏa thuận phạt vi phạm thì bên bị vi phạm có quyền áp dụng cả chế tài phạt vi phạm và buộc bồi thường thiệt hại, trừ trường hợp Luật này có quy định khác.”
Câu 8: Trong quyết định của Trọng tài phạt vi phạm hợp đồng có được áp dụng đồng thời với bồi thường thiệt hại không? Đoạn nào của bản án có câu trả lời ?
Trả lời:
Trong quyết định của Trọng tài phạt vi phạm hợp đồng được áp dụng đồng thời
với bồi thường thiệt hại, thể hiện ở đoạn: “Tuy nhiên, Điều 301 Luật Thương mại
cũng quy định ngoài mức phạt như trên, bên bị thiệt hại có quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại thực tế Do các bên đã có thỏa thuận về mức bồi thường thiệt hại tối đa là 30% tổng giá trị hợp đồng nên việc cho phép bồi thường mức cao hơn sẽ tạo bất ngờ cho bị đơn HĐTT cho rằng có thể xét bồi thường thiệt hại thực tế cho nguyên đơn, song bồi thường thiệt hại và khoản phạt vi phạm không được cao quá 30% giá trị hợp đồng.”
Câu 9: Điểm giống và khác nhau giữa phạt vi phạm hợp đồng và bồi thường thiệt hại ?
Trả lời:
* Giống:
- Mục đích: Ngăn chặn sự vi phạm khi thực hiện hợp đồng
- Đều là chế tài của Bộ luật dân áp dụng khi có vi phạm
* Khác:
Tiêu chí Phạt vi phạm Bồi thường thiệt hại