BLDS 2015 xem sự im lặng của bên được đề nghị không được coi là chấp nhận đề nghị giao kết, trừ trường hợp có thỏa thuận hoặc theo thói quen đã được xác lập giữa các bên.. Trong khi đó
Trang 1BUỔI THẢO LUẬN THÚ 2
VẤN ĐỀ 1: SỰ ƯNG THUẬN TRONG QUẤ TRÌNH GIAO KẾT HỢP ĐỒNG
Câu 1: Điểm mới của BLDS 2015 so với BLDS 2005 về vai trò của sự im lặng trong giao kết hợp đồng?
Trả lời: BLDS 2015 đã bổ sung chế định về im lặng trong quá trình giao kết hợp đồng tại quy định về chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng (Khoản 2, Điều 393, BLDS 2015)
BLDS 2015 xem sự im lặng của bên được đề nghị không được coi là chấp nhận đề nghị
giao kết, trừ trường hợp có thỏa thuận hoặc theo thói quen đã được xác lập giữa các bên Trong khi đó BLDS 2005 có quy định tại khoản 2 Điều 404 trong phần xác định thời điểm hợp đồng được giao kết với nội dung “hợp đồng dân sự xem như được giao kết khi hết trả lời mà bên nhạn được đề nghị vẫn được im lặng, nếu có thảo thuận im lặng là sự trả lời chấp nhận giao kết” chứ không nêu trong chấp nhận giao kết hợp đồng như trong BLDS 2015
BLDS 2015 theo hướng thông thường sự im lặng không là chấp nhận trong giao kết hợp đồng nhưng vẫn có trường hợp ngoại lệ nếu như sự im lặng đó có thỏa thuận hoặc do thói quen của các bên thì im lặng lại là chấp nhận trong giao kết hợp đồng
Ngoài 2 ngoại lệ này, im lặng được coi là không chấp nhận giao kết trong hợp đồng nhưng nếu bên cạnh sự im lặng ( biết nhưng không nói gì) mà có yếu tố khác (như giao hàng, trả tiền, lời đề nghị hoàn toàn vì lợi ích của người được đề nghị) thì vẫn chấp nhận được đề nghị giao kết hợp đồng (thực tiễn xét xử của Việt Nam cũng đã theo hướng vừa nêu trên) (1)
Câu 2: Việc Tòa áp dụng Án lệ 04/2016/AL để công nhận hợp đồng chuyển nhượng trong tình huống trên có thuyết phục không? Vì sao?
Trả lời: Việc Tòa áp dụng Án lệ 04/2016/AL để công nhận hợp đồng chuyển nhượng trong tình huống trên là thuyết phục Bởi lẽ trong án lệ 04/2016/AL việc ký kết hợp đồng mua bán nhà của ông Tiến bà Tý và ông Ngự bà Phấn chỉ có chữ kí của ông Tiến mà không có chữ ký của bà Tý trong khi diện tích đất chuyển nhượng là tài sản của gia đình ông Ngự bà Phấn dẫn tới câu hỏi bà Phấn trước đó đã đồng ý cho việc chuyển nhượng hay không? Bên cạnh đó trong tình huống trên, ông Chu và bà Bùi chuyển nhượng đất của hộ gia đình mà không biết đã có sự đồng ý của các con của 2 ông bà hay chưa
Trang 2Và trong cả hai sự việc trên, Án lệ 04/2016/AL cho biết có cơ sở xác định bà phấn biết chuyện chuyển nhượng nhà đất cho ông Ngự và bà Phấn, việc bà Tý khiếu nại là không
có căn cứ Trong tình huống trên lại cho biết “ông Văn đã xây dựng chuồng trại trên đất chuyển nhượng để ông Văn được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và gia đình ông Chu, ông Bùi không ai có ý kiến gì
Như vậy ta thấy Án lệ 04/2016/AL và tình huống trên là hai vụ việc tương tự nhau Mà theo Nghị quyết 03/2015/NQ-HĐTP của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về Lựa chọn, công bố và Áp dụng án lệ, “Khi xét xử, Thẩm phán, Hội thẩm phải nghiên cứu , áp dụng án lệ để giải quyết những vụ việc tương tự, bảo đảm những vụ việc có tình tiết, sự kiện pháp lý giống nhau phải được giải quyết như nhau” ( khoản 2 Điều 8)
Theo tác giả Đỗ Văn Đại : “Chúng ta thấy án lệ 04/2016/AL có hướng xử lý khá thuyết phục nhưng việc vận dụng án lệ trong lĩnh vực hợp đồng hay lĩnh vực khá không hề đơn giản do việc đánh giá tương tự rất khó…Cụ thể theo Tòa dân sự: “Trên thực tế có nhiều trường hợp người quản lý tài sản chung (một trong các đồng chủ sở hữu) chuyển nhượng tài sản thuộc sở hữu chung nhưng không có đủ các đồng chủ sở hữu tham gia ký kết văn bản chuyển nhượng hoặc sự đồng ý bằng văn bản của các chủ sở hữu chung khác Tuy nhiên, có căn cứ xác định là những chủ sở hữu chung này đồng ý việc chuyển nhượng đó, sau này do giá trị tài sản tang lên hoặc vì lý do nào đó, những chue sở hữu cung này và cả người trực tiếp giao kết hợp đồng chuyển nhượng tài sản, đã lợi dụng việc khi chuyển nhượng tài sản không có sự đồng ý bằng văn bản của các chủ sở hữu chung khácđể yêu cầu tuên bố giao dịch vô hiệu.Trong trường hợp này, Tòa dân sự cho rằng cần phải xác định đã có sự thống nhất ý chí của các đồng chủ sở hữu về việc chuyển nhượng không vô hiệu do vi phạm điều kiện về ý chí của các đồng chủ sở hữu Qua thực tế xét xử, Tòa dân
sự thấy cần chấp nhận những căn cứ xác định của đồng chủ sở hữu là: - Những chư sở hữu chung biết chuyện và không phản đối; - Những sở hữu chung này có tham gia một giai đoạn nào đócủa việc chuyển nhượng như tham gia nhận tiền…; - Tuy khi chuyển nhượng nhượng chủ sở hữu chung này không biết nhưng sau khi biết có biết việc chuyển nhượng đã sử dụng chung tiền chung tiền chuyển nhượng hoặc người chuyển nhượng chia tiền chuyển nhượng tài sản…”
Theo nguyên tắc chung của án lệ thông luật Anh: “Khi xem xét vụ việc, Tòa án phải làm sáng tỏ có vụ việc tương tự như vậy đã trở thành đối tượng của việc xét xử trước đây hay chưa và trong trường hợp đã có vụ việc như vậy thì cần phải tuân thủ quyết định đã có Nói cách khác, quyết định đã được đưa ra một lần trước đó trở thành quy phạm bắt buộc chung đối với các vụ việc tương tự tiếp theo đó Quy tắc chung đó cần phải được cụ thể hóa, bởi mức độ của tính bắt buộc các án lệ tùy thuộc vào vị trí trong cấp xét xử của Tòa
Trang 3án xem xét vụ việc đó và của Tòa án mà quyết định của nó có thể trở thành án lệ trong trường hợp đó”
Án lệ là khuôn mẫu cho các vụ việc có tính chất tương tự và được sử dụng nhiều lần Án
lệ có tính bắt buộc đối với các vụ án tương tự Mà như phân tích ở trên, vụ việc bà Chu ông Bùi và vụ việc án lệ 04/2016/AL có tính chất tương tự cho nên việc áp dụngán lệ 04/2016/AL là hợp lý