BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH BUỔI THẢO LUẬN THỨ NĂM TRÁCH NHIỆM DÂN SỰ, VI PHẠM HỢP ĐỒNG Bộ môn Hợp đồng và bồi thường ngoài hợp đồng Giảng viên PGS Tiến sĩ Lê Minh Hùng Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 23 tháng 11 năm 2021 MỤC LỤC MỤC LỤC BIÊN BẢN LÀM VIỆC NHÓM 3 VẤN ĐỀ 1 BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI DO KHÔNG THỰC HIỆN ĐÚNG HỢP ĐỒNG GÂY RA 4 VẤN ĐỀ 2 PHẠT VI PHẠM HỢP ĐỒNG 10 VẤN ĐỀ 3 SỰ KIỆN BẤT KHẢ KHÁNG 14 VẤN ĐỀ 4 THỰC HIỆN HỢP ĐỒNG KHI HOÀN CẢNH THAY ĐỔI 20 DANH MỤC TÀ.
Trang 1BỘ GIÁO DỤC & ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
BUỔI THẢO LUẬN THỨ NĂM
TRÁCH NHIỆM DÂN SỰ, VI PHẠM HỢP
ĐỒNG
Bộ môn: Hợp đồng và bồi thường ngoài hợp đồng
Giảng viên: PGS Tiến sĩ Lê Minh Hùng
Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 23 tháng 11 năm 2021
Trang 2MỤC LỤC
BIÊN BẢN LÀM VIỆC NHÓM ……… 3 VẤN ĐỀ 1: BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI DO KHÔNG THỰC HIỆN
ĐÚNG HỢP ĐỒNG GÂY RA ……… … 4
VẤN ĐỀ 2: PHẠT VI PHẠM HỢP ĐỒNG ……… …10 VẤN ĐỀ 3: SỰ KIỆN BẤT KHẢ KHÁNG ……… ……… 14 VẤN ĐỀ 4: THỰC HIỆN HỢP ĐỒNG KHI HOÀN CẢNH THAY
ĐỔI………20 DANH MỤC TÀI LIỆU KHAM KHẢO……….26
Trang 3BIÊN BẢN LÀM VIỆC NHÓM Nhận xét: Các bạn nộp bài đúng thời hạn, hoàn thành đúng yêu cầu được phân công,
sôi nổi đóng góp ý kiến trong quá trình thảo luận hoàn thành bài thảo luận
Trang 4VẤN ĐỀ 1: BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI DO KHÔNG THỰC HIỆN
ĐÚNG HỢP ĐỒNG GÂY RA
Nghiên cứu:
Điều 360 và tiếp theo, Điều 419 BLDS 2015 (Điều 302 và tiếp theoBLDS 2005) và các quy định liên quan khác (nếu có);
Tình huống: Ông Lại (bác sỹ chuyên khoa phẫu thuật thẩm mỹ) và
bà Nguyễn thỏa thuận phẫu thuật ngực với 4 yêu cầu: Lấy túi ngực
ra, Thâu nhỏ ngực lại, Bỏ túi nhỏ vào, Không được đụng đến núm
vú Ba ngày sau phẫu thuật, bà Nguyễn phát hiện thấy núm vú bênphải sưng lên, đau nhức và đen như than Qua 10 ngày, vết mổ hởhết phần vừa cắt chỉ, nhìn thấy cả túi nước đặt bên trong và ông Lạitiến hành mổ may lại Được vài ngày thì vết mổ bên tay phải chữ Tlại hở một lỗ bằng ngón tay, nước dịch tuôn ướt đẫm cả người Sau
đó ông Lại mổ lấy túi nước ra và may lại lỗ hổng và thực tế bàNguyễn mất núm vú phải
Đọc:
Lê Thị Diễm Phương, Giáo trình Pháp luật về hợp đồng và bồi
thường thiệt hại ngoài hợp đồng, Nxb Hồng Đức-Hội Luật gia Việt
Nam 2017, Chương 4;
Đỗ Văn Đại, Luật hợp đồng Việt Nam-Bản án và Bình luận bản án,
Nxb Đại học quốc gia Tp Hồ Chí Minh 2020 (xuất bản lần thứtám), Bản án số 192 và tiếp theo;
Nguyễn Xuân Quang, Lê Nết và Nguyễn Hồ Bích Hằng, Luật dân sự
Việt Nam, Nxb Đại học quốc gia TP HCM 2007, tr 408 đến 416;
Và các tài liệu liên quan khác (nếu có)
Và cho biết:
1.1 Căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong hợp đồng theo pháp luật Việt Nam? Nêu rõ những thay đổi trong BLDS 2015 so với BLDS 2005 về Căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong hợp đồng.
Căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong hợp đồng theo phápluật Việt Nam:
“Trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong hợp đồng là trách nhiệm dân sự phátsinh do hành vi vi phạm hợp đồng của một bên, do đó bên có hành vi vi phạm nghĩa
vụ trong hợp đồng mà gây thiệt hại thì phải bồi thường thiệt hại mà mình đã gây racho phía bên kia tương ứng với mức độ lỗi của mình” Từ đó, ta có thể hiểu căn cứphát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong hợp đồng là do hành vi vi phạm hợp
Trang 5đồng của một bên Vậy, các căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại tronghợp đồng là:
Có thiệt hại xảy ra trên thực tế: thiệt hại là toàn bộ những tổn thất gây ra cho mộtbên, do việc vi phạm hợp đồng của bên kia
Có hành vi vi phạm hợp đồng là trái pháp luật : việc xác định hành vi nào đượcxem là vi phạm hợp đồng phụ thuộc vào việc giải thích hợp đồng và các quyđịnh pháp luật có liên quan
Có quan hệ nhân - quả giữa hành vi vi phạm hợp đồng với thiệt hại thực tế: hành
vi vi phạm hợp đồng phải là nguyên nhân dẫn đến thiệt hại thực tế xảy ra
Phải có lỗi của bên vi phạm: Lỗi là trạng thái tâm lí của một bên trong hợp đồng
về nhận thức của họ đối với hành vi trái pháp luật và thiệt hại xảy ra Lỗi trongtrách nhiệm bồi thường thiệt hại trong hợp đồng là lỗi suy đoán
Trong phần “nghĩa vụ dân sự”, Bộ luật dân sự có những quy định về tráchnhiệm dân sự do không thực hiện đúng nghĩa vụ dân sự Hợp đồng chính là một căn
cứ làm phát sinh nghĩa vụ dân sự, “không thực hiện đúng hợp đồng” cũng là khôngthực hiện đúng nghĩa vụ dân sự Vì vậy, các quy định về trách nhiệm dân sự do khôngthực hiện đúng nghĩa vụ dân sự (trong đó có trách nhiệm bồi thường thiệt hại) được ápdụng đối với việc không thực hiện đúng nghĩa vụ hợp đồng
Những thay đổi trong BLDS 2015 so với BLDS 2005 về căn cứ phát sinh tráchnhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng:
Về bồi thường thiệt hại do tài sản gây ra
Bổ sung nguyên tắc chung về bồi thường thiệt hại do tài sản gây ra: Quy địnhcủa BLDS năm 2005 không bao quát hết các trường hợp tài sản gây ra thiệt hại, dẫntới rất nhiều vụ việc tranh chấp xảy ra liên quan đến tài sản gây ra thiệt hại trên thực tế
mà không có cơ sở pháp lý để giải quyết thỏa đáng (ví dụ như trường hợp gia súc, giacầm phá hoại lúa, hoa màu…)
Để khắc phục, BLDS năm 2015 đã ghi nhận nguyên tắc chung để giải quyếtviệc bồi thường thiệt hại do tài sản gây ra tại Khoản 3 Điều 584: “Trường hợp tài sảngây thiệt hại thì chủ sở hữu, người chiếm hữu tài sản phải chịu trách nhiệm bồi thườngthiệt hại, trừ trường hợp thiệt hại phát sinh theo quy định tại Khoản 2 Điều này” Quy
Trang 6định này đã bao quát được toàn bộ các trường hợp tài sản gây thiệt hại, theo đó, việcgiải quyết các vụ việc về bồi thường thiệt hại do tài sản gây ra sẽ áp dụng theo nguyêntắc sau đây:
Một là, nếu thiệt hại do tài sản gây ra thuộc các trường hợp quy định riêng như
nguồn nguy hiểm cao độ, súc vật, cây cối, công trình xây dựng thì áp dụng những quyđịnh cụ thể tại Điều 601, Điều 603, Điều 604 và Điều 605 BLDS năm 2015
Hai là, đối với những tài sản khác gây thiệt hại mà không được quy định cụ thể
thì áp dụng Khoản 3 Điều 584 để giải quyết
Về bồi thường thiệt hại do tài sản gây ra trong từng trường hợp cụ thể
Bộ luật Dân sự năm 2015 tiếp tục ghi nhận 04 trường hợp về bồi thường thiệthại do tài sản gây ra, cụ thể:
Về bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra (Điều 601)
Phạm vi chủ thể được quy định theo BLDS năm 2015 rộng hơn so với phạm vichủ thể theo quy định của BLDS năm 2005, Điều 623 BLDS năm 2005 quy địnhnhững người có trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ragồm: Chủ sở hữu; người được chủ sở hữu giao chiếm hữu, sử dụng nguồn nguy hiểmcao độ; người đang chiếm hữu, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ trái pháp luật
Đối với những chủ thể chiếm hữu có căn cứ pháp luật nhưng không phải theo
sự chuyển giao của chủ sở hữu tài sản Điều luật này chưa đề cập đến
Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định chủ thể bồi thường tại Khoản 3, Khoản 4Điều 601 là người chiếm hữu, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ, mở rộng phạm vi chủthể so với quy định tại Điều 623 BLDS năm 2005 Những chủ thể chiếm hữu, sử dụngnguồn nguy hiểm cao độ có thể theo sự chuyển giao của chủ sở hữu hoặc của một chủthể khác hoặc do họ tự chiếm hữu, sử dụng thông qua một sự kiện nhất định
Về bồi thường thiệt hại do súc vật gây ra (Điều 603)
Khoản 1 Điều 603 BLDS năm 2015 bổ sung quy định về chủ thể là “ngườichiếm hữu, sử dụng súc vật” phải bồi thường thiệt hại trong thời gian chiếm hữu, sửdụng động vật, trừ trường hợp có thỏa thuận khác Bổ sung này tương đồng với sửađổi về chủ thể bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra Người chiếm
Trang 7hữu, sử dụng động vật được hiểu là người đang trực tiếp cầm giữ, quản lý hoặc đangkhai thác công dụng, thu hoa lợi, lợi tức từ động vật Việc chiếm hữu, sử dụng có thểtheo sự chuyển giao của chủ sở hữu hoặc không; việc chiếm hữu, sử dụng có thể nằmtrong trường hợp có căn cứ pháp luật hoặc không có căn cứ pháp luật.
Có thể thấy, việc bổ sung thêm trách nhiệm của người chiếm hữu, người sửdụng súc vật là hoàn toàn phù hợp, bao quát được mọi trường hợp xảy ra trên thực tế
Về bồi thường thiệt hại do cây cối gây ra (Điều 604)
Điều 626 BLDS năm 2005 quy định: “Chủ sở hữu phải bồi thường thiệt hại docây cối đổ, gẫy gây ra, trừ trường hợp thiệt hại xảy ra hoàn toàn do lỗi của người bịthiệt hại hoặc do sự kiện bất khả kháng”
Điều 604 BLDS năm 2015 bổ sung thêm trách nhiệm của người chiếm hữu,người được giao quản lý phải bồi thường bên cạnh chủ sở hữu cây cối Như vậy,người đang chiếm hữu, quản lý là người trực tiếp chăm sóc cây cối và buộc phải biếttình trạng của cây cối để kịp thời chặt bỏ, phát, tỉa cảnh hay chặt cây mục ruỗng nhằmtránh nguy cơ cây cối đổ, gẫy gây ra thiệt hại nên họ phải chịu trách nhiệm bồi thườngnếu để cây cối gây ra thiệt hại
Một điểm hạn chế của Điều 626 BLDS năm 2005 là việc liệt kê cụ thể trườnghợp cây cối “đổ, gẫy” gây ra thiệt hại, vậy đối với các trường hợp khác như rễ câyđâm sang tường nhà bất động sản liền kề làm hỏng tường thì xử lý như thế nào? nênkhông bao quát hết các trường hợp cây cối gây thiệt hại Điều 603 BLDS năm 2015không liệt kê các trường hợp cây cối gây thiệt hại mà chỉ quy định mang tính chất kháiquát “cây cối gây thiệt hại” Việc quy định khái quát này đã bao quát được các trườnghợp cây cối gây ra thiệt hại trên thực tế
Về bồi thường thiệt hại do nhà cửa, công trình xây dựng khác gây ra (Điều 605)
Vấn đề bồi thường thiệt hại do nhà cửa, công trình xây dựng khác gây ra đượcquy định trong BLDS năm 2015 có nhiều nét tương đồng với trường hợp bồi thườngthiệt hại do cây cối gây ra
Trang 8Về chủ thể: Điều 607 BLDS năm 2015 quy định chủ thể chịu trách nhiệm bồithường là “chủ sở hữu, người chiếm hữu, người được giao quản lý, sử dụng nhà cửa,công trình xây dựng khác”, đã khắc phục được điểm thiếu sót của BLDS năm 2005không quy định một số chủ thể chịu trách nhiệm như: Người chiếm hữu ngay tình,liên tục, công khai đối với bất động sản,
Về các trường hợp bồi thường thiệt hại: Điều 605 BLDS năm 2015 quy địnhbao quát chủ sở hữu, người chiếm hữu, người được giao quản lý, sử dụng nhà cửa,công trình xây dựng khác phải bồi thường thiệt hại do nhà cửa, công trình xây dựngkhác đó gây thiệt hại cho người khác (BLDS năm 2005 quy định không đầy đủ)
Như vậy, so với các quy định về bồi thường thiệt hại do tài sản gây ra trongBLDS năm 2005 thì các quy định trong BLDS năm 2015 đã có nhiều điểm sửa đổi, bổsung phù hợp, tích cực Sự sửa đổi, bổ sung này tập trung chủ yếu vào các chủ thể cótrách nhiệm bồi thường và quy định khái quát, mở rộng thêm các trường hợp bồithường Nếu thực tế phát sinh các tranh chấp xảy ra do tài sản gây thiệt hại thì hoàntoàn có đầy đủ các cơ sở pháp lý để giải quyết việc bồi thường theo quy định củaBLDS năm 2015
1.2 Trong tình huống trên, có việc xâm phạm tới yếu tố nhân thân của bà Nguyễn không? Căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho
bà Nguyễn đã hội đủ chưa? Vì sao?
- Trong tình huống trên, có việc xâm phạm tới yếu tố nhân thân của bà Nguyễn
- Căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại do bà Nguyễn đã hội đủ.Vì:
Thứ nhất, việc làm của ông Lại đã gây ra thiệt hại cho bà Nguyễn về vật chất
và tinh thần theo Khoản 2 Điều 361và Khoản 3 Điều 361 BLDS 2015, khi ông Lạiphẫu thuật không thành công dẫn đến việc bà Nguyễn tiền mất tật mang và làm mấtnúm vú phải của bà làm ảnh hưởng đến sức khỏe của bà
Thứ hai, bà Nguyễn thỏa thuận phẫu thuật ngực với 4 yêu cầu: lấy túi ngực ra,
thâu nhỏ ngực lại, bỏ túi nhỏ vào, không được đụng đến núm vú nhưng chỉ mới saumột thời gian ngắn thì bà lại gặp các biến chứng xấu dẫn đến hậu quả làm mất núm vú
Trang 9phải của bà chứng tỏ trong quá trình phẫu thuật ông Lại đã thực hiện không đúng quytrình dẫn đến hậu quả trên.
Thứ ba, trong quá trình phẫu thuật có thể ông Lại đã làm sai quy tình dẫn đến
việc bà Nguyễn bị mất núm vú phải làm ảnh hưởng xấu đến sức khỏe của bà
Thứ tư, Ông Lại (bác sỹ chuyên khoa phẫu thuật thẩm mỹ) do lỗi vô ý cẩu thảcủa mình đã dẫn đến những hậu quả không nhìn trước đối với bệnh nhân của mình
1.3 Theo quy định hiện hành, những thiệt hại vật chất nào do vi phạm hợp đồng gây ra được bồi thường? Nêu rõ cơ sở pháp lý khi trả lời.
Theo Khoản 1 Điều 419 về thiệt hại được bồi thường do vi phạm hợp đồng:
“1 Thiệt hại được bồi thường do vi phạm nghĩa vụ theo hợp đồng được
xác định theo quy định tại Khoản 2 Điều này, Điều 13 và Điều 360 của
Bộ luật này”.
1.4 BLDS có cho phép yêu cầu bồi thường tổn thất về tinh thần phát sinh do
vi phạm hợp đồng không? Nêu rõ cơ sở pháp lý khi trả lời.
- BLDS có cho phép yêu cầu bồi thường tổn thất về tinh thần phát sinh do
vi phạm hợp đồng
- Theo Khoản 3 Điều 419 về thiệt hại được bồi thường do vi phạm hợpđồng:
“3 Theo yêu cầu của người có quyền, Tòa án có thể buộc người có
nghĩa vụ bồi thường thiệt hại về tinh thần cho người có quyền Mức bồi thường do Tòa án quyết định căn cứ vào nội dung vụ việc”.
1.5 Theo quy định hiện hành, bà Nguyễn có được bồi thường tổn thất về tinh thần không? Vì sao? Nêu rõ cơ sở pháp lý khi trả lời.
- Theo quy định hiện hành, bà Nguyễn được bồi thường tổn thất về tinhthần Vì sau khi ông Lại phẫu thuật cho bà Nguyễn thì liên tiếp dẫn đến các biếnchứng xấu và dẫn đến bà đã mất núm vú phải điều này làm ảnh hưởng nghiêm
Trang 10trọng đến sức khỏe của bà và nếu bà có yêu cầu bồi thường thì Tòa án có thểbuộc ông Lại bồi thường cho bà.
- Theo quy định tại Khoản 3 Điều 419 về thiệt hại được bồi thường do viphạm hợp đồng:
“3 Theo yêu cầu của người có quyền, Tòa án có thể buộc người có
nghĩa vụ bồi thường thiệt hại về tinh thần cho người có quyền Mức bồi thường do Tòa án quyết định căn cứ vào nội dung vụ việc”.
VẤN ĐỀ 2: PHẠT VI PHẠM HỢP ĐỒNG
Nghiên cứu:
Bản án số 121/2011/KDTM-PT ngày 26/12/2011 của Tòa án nhândân TP Hồ Chí Minh;
Điều 418 BLDS 2015 (Điều 402, 422 BLDS 2005); Điều 292, 301 và
307 Luật thương mại sửa đổi và các quy định khác liên quan (nếu có)
Quyết định số 10/2020/KDTM-GĐT ngày 14/8/2020 của Hội đồngthẩm phán Toà án nhân dân tối cao
Đọc:
Lê Thị Diễm Phương, Giáo trình Pháp luật về hợp đồng và bồithường thiệt hại ngoài hợp đồng, Nxb Hồng Đức-Hội Luật gia ViệtNam 2017, Chương 4;
Lê Thị Diễm Phương, Sách tình huống Pháp luật hợp đồng và bồithường thiệt hại ngoài hợp đồng, Nxb Hồng Đức-Hội Luật gia ViệtNam 2017, Vấn đề 23;
Đỗ Văn Đại, Luật hợp đồng Việt Nam-Bản án và Bình luận bản án,Nxb Đại học quốc gia Tp Hồ Chí Minh (xuất bản lần thứ tám), Bản
án số 206 và tiếp theo;
Dương Anh Sơn và Lê Thị Bích Thọ, Một số ý kiến về phạt vi phạm
do vi phạm hợp đồng theo quy định của pháp luật Việt Nam, Tạp chíKhoa học pháp lý, số 1(26)/2005;
Và các tài liệu liên quan khác (nếu có)
Trang 11thương mại có quy định về mức phạt tối đa (các bên không được hoàn toàn tự do thoảthuận)
- BLDS 2015 (Khoản 3 Điều 418) đã bỏ đi quy định “nếu không có thoả thuậntrước về mức bồi thường thiệt hại thì phải bồi thường toàn bộ thiệt hại” của BLDS
2005 (Khoản 3 Điều 422), quy định này được bỏ đi vì đây là vấn đề bồi thường thiệthại và đã có quy định khác điều chỉnh (Điều 13 và Điều 360, BLDS 2015)
* ĐỐI VỚI VỤ VIỆC THỨ NHẤT
2.2 Điểm giống nhau giữa đặt cọc và phạt vi phạm hợp đồng.
Theo quy định tại Khoản 1 Điều 418 về phạt vi phạm hợp đồng và tại Khoản 1 Điều 328 về đặt cọc thì ta có thể thấy có điểm chung: đều là việc một bên buộc phải giao cho bên kia một khoản tiền để bảo đảm cho việc “thực hiện” hợp đồng
2.3 Khoản tiền trả trước 30% được Tòa án xác định là tiền đặt cọc hay là nội dung của phạt vi phạm hợp đồng?
Khoản tiền trả trước 30% được Toà án xác định là tiền đặt cọc
Đoạn trong bản án cho thấy: “Xét thấy, theo Khoản 3 Điều 4 Hợp đồng kinh tế
số 01-10/TL-TV ngày 01/10/2010 các bên đã thoả thuận: Ngay sau khi ký hợp đồng,bên mua (Công ty Tân Việt) phải thanh toán trước cho bên bán (công ty Tường Long)30% giá trị đơn hàng gọi là tiền đặt cọc, 40% giá trị đơn hàng thanh toán ngay sau khibên Công ty Tường Long giao hàng hoàn tất, 30% còn lại sẽ thanh toán trong vòng 30ngày kể từ ngày thanh toán cuối cùng Do vậy số tiền thanh toán đợt 1 là 30% giá trịđơn hàng (406.920.000 đồng) được xác định là tiền đặt cọc”
2.4 Suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết của Tòa án liên quan đến
khoản tiền trả trước 30%.
Cách giải quyết của Tòa án là chưa hợp lí và thiếu thống nhất trong cách giảiquyết Về khoản tiền trả trước 30%, Tòa án đã xác định đây là tiền đặt cọc dựa trênKhoản 7 Điều 292 Luật Thương mại và Điều 358 BLDS 2005 Khoản tiền này dùng
để đảm bảo cho việc thực hiện hợp đồng
Trang 12Tuy nhiên, sau đó Tòa án lại nhận định rằng phía bị đơn đã không từ chối thựchiện hợp đồng mà hai bên đã đi vào thực hiện hợp đồng cho nên khoản tiền 30% đượcxác định là khoản tiền dùng để thanh toán đợt giao hàng lần thứ nhất Theo hai bênthoả thuận thì sau khi ký hợp đồng, Công ty Tân Việt (bên mua) phải thanh toán trướccho Công ty Tường Long (bên bán) 30% giá trị đơn hàng gọi là tiền đặt cọc, do đótheo quy định tại Khoản 2 Điều 358 BLDS 2005 số tiền 30% trên thuộc về bên bánkhi bên mua từ chối thực hiện hợp đồng nhưng trên thực tế thì hai bên đã đi vào thựchiện hợp đồng nên khoản tiền trên phải được trả lại cho bên mua (Công ty Tân Việt)chứ không được dùng vào việc thanh toán cho giá trị đơn hàng thứ nhất Cách giảiquyết gây nhiều mâu thuẫn như trên của Tòa án đã khiến quyền và lợi ích hợp phápcủa nguyên đơn không được đảm bảo.
* ĐỐI VỚI VỤ VIỆC THỨ HAI
2.5 Cho biết điểm giống và khác nhau giữa thoả thuận phạt vi phạm hợp đồng và thoả thuận về mức bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng.
- Không cần có sự thỏa thuận
- Biện pháp này sẽ được áp dụng khi có hành vi vi phạm
Trang 13hợp đồng.
- Không cần có thiệt hại do hành vi vi phạm cũng có thể áp dụng
gây ra thiệt hại do chủ thể bị
vi phạm trên thực tế
Mục đích yêu
cầu Ngăn ngừa vi phạm.
Khắc phục hậu quả thiệt hại
do vi phạm
Mức độ thiệt hại
về vật chất của
người bị áp dụng
Do thỏa thuận của các bên Tối
đa không quá 5%-8% giá trị phần hợp đồng bị vi phạm
Tùy theo mức độ thiệt hại Thiệt hại được tính bao gồm
cả thiệt hại thực tế và trực tiếp do hành vi vi phạm hợp đồng gây ra, những khoản lợi
mà người vi phạm đáng lẽ được hưởng nếu không có hành vi vi phạm
2.6 Theo Toà án cấp phúc thẩm, thoả thuận được nêu tại mục 4 phần Nhận định của Toà án trong Quyết định số 10 là thoả thuận phạt vi phạm hợp đồng hay thoả thuận về mức bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng?
Vì sao?
Theo Toà án cấp phúc thẩm, thoả thuận được nêu tại mục 4 phần Nhận địnhcủa Toà án trong Quyết định số 10 là thỏa thuận về mức bồi thường thiệt hại do viphạm hợp đồng Vì công ty Yến Việt mở các chi nhánh và cửa hàng ở khu vực phíaBắc mà không trao đổi với công ty Yến Sào gây thiệt hại nghiêm trọng đến hoạt độngsản xuất kinh doanh của công ty Yến Sào
2.7 Theo Toà giám đốc thẩm (Hội đồng thẩm phán), thoả thuận được nêu tại mục 4 phần Nhận định của Toà án trong Quyết định số 10 là thoả thuận phạt vi phạm hợp đồng hay thoả thuận về mức bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng? Vì sao?
Theo Toà giám đốc thẩm (Hội đồng thẩm phán), thoả thuận được nêu tại mục 4