Việc Toà án “không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông P, về việc yêu cầu ông I phải trả số tiền phạt cọc là 450.000.000đ” có phù hợp với Án lệ

Một phần của tài liệu BUỔI THẢO LUẬN THỨ tư môn dsu 2 (Trang 21 - 31)

Theo nhóm, việc Toà án "không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông P về việc yêu cầu ông I phải trả số tiền phạt cọc là 450.000.000đ" là phù hợp với Án lệ số 25/2018/AL

Giải pháp pháp lý Án lệ đề ra là phải xác định việc bên nhận đặt cọc không thể thực hiện đúng cam kết là do khách quan và bên nhận đặt cọc không phải chịu phạt cọc.

Như vậy, đối với vụ án tranh chấp hợp đồng đặt cọc một khi đã hội tụ đủ các nội dung mà tình huống Án lệ số 25/2018/AL nêu ra, thì phải được giải quyết theo đúng giải pháp pháp lý của án lệ đã đưa ra. Tức là, trong quá trình xét xử Thẩm phán, Hội thẩm phải “bảo đảm những vụ việc có tình huống pháp lý tương tự thì phải được giải quyết như nhau” (Khoản 2 Điều 8 Nghị quyết số 04/2019/NQ-HĐTP).

Và trong bản án số 26/2019/DS-PT ngoại trừ việc hợp đồng vô hiệu, ta có thể thấy cả hai bản án đều là không thực hiện thoả thuận đúng hạn do nguyên nhân khách quan và không phỉa lỗi của người nhận cọc. Vì vụ việc tương tự, có tình tiết và sự kiện pháp lý tương đồng thì phải được giải quyết giống nhau.

22 VẤN ĐỀ 4: BẢO LÃNH

Nghiên cứu:

 Điều 335 BLDS 2015 (Điều 361 BLDS 2005) và các quy định liên quan khác (nếu có);

 Quyết định số 02/2013/KDTM-GĐT ngày 08/1/2013 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; Quyết định số 968/2011/DS-GĐT ngày 27/12/2011 của Tòa dân sự Tòa án nhân dân tối cao.

Đọc:

 Đỗ Văn Đại, Giáo trình Pháp luật về hợp đồng và bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, Nxb. Hồng Đức-Hội Luật gia Việt Nam 2017, Chương 3;

 Nguyễn Trương Tín, Sách tình huống Pháp luật hợp đồng và bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, Nxb. Hồng Đức-Hội Luật gia Việt Nam 2017, Vấn đề 18;

 Đỗ Văn Đại, Luật các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ Việt Nam-Bản án và Bình luận bản án, Nxb. Hồng Đức-Hội Luật gia Việt Nam 2021 (xuất bản lần thứ tư), Bản án số 186 và tiếp theo;

 Nguyễn Xuân Quang, Lê Nết và Nguyễn Hồ Bích Hằng, Luật dân sự Việt Nam, Nxb. Đại học quốc gia TP. HCM 2007, tr. 395 đến 396;

 Và các tài liệu liên quan khác (nếu có).

Và cho biết:

4.1. Những đặc trưng của bảo lãnh

Theo Khoản 1 Điều 355 BLDS 2015 quy định bảo lãnh như sau:

1. Bảo lãnh là việc người thứ ba (sau đây gọi là bên bảo lãnh) cam kết với bên có quyền (sau đây gọi là bên nhận bảo lãnh) sẽ thực hiện nghĩa vụ thay cho bên có nghĩa vụ (sau đây gọi là bên được bảo lãnh), nếu khi đến thời hạn thực hiện nghĩa vụ mà bên được bảo lãnh không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ.

2. Các bên có thể thỏa thuận về việc bên bảo lãnh chỉ phải thực hiện nghĩa vụ thay cho bên được bảo lãnh trong trường hợp bên được bảo lãnh không có khả năng thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh.

 Phạm vi của bảo lãnh được quy định tại Điều 336 BLDS 2015 như sau:

– Bên bảo lãnh có thể cam kết bảo lãnh một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ cho bên được bảo lãnh.

– Nghĩa vụ bảo lãnh bao gồm cả tiền lãi trên nợ gốc, tiền phạt, tiền bồi thường thiệt hại, lãi trên số tiền chậm trả, trừ trường hợp có thoả thuận khác.

23

– Các bên có thể thỏa thuận sử dụng biện pháp bảo đảm bằng tài sản để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh.

– Trường hợp nghĩa vụ được bảo lãnh là nghĩa vụ phát sinh trong tương lai thì phạm vi bảo lãnh không bao gồm nghĩa vụ phát sinh sau khi người bảo lãnh chết hoặc pháp nhân bảo lãnh chấm dứt tồn tại.

 Bảo lãnh sẽ chấm dứt trong trường hợp sau đây:

– Nghĩa vụ được bảo lãnh chấm dứt

– Việc bảo lãnh được hủy bỏ hoặc được thay thế bằng biện pháp bảo đảm khác – Bên bảo lãnh đã thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh

– Theo thỏa thuận của các bên

 Chế định bảo lãnh làm phát sinh hai mối quan hệ:

+ Quan hệ giữa bên bảo lãnh và bên được bảo lãnh (Điều 337 BLDS 2015).

+ Quan hệ giữa bên bảo lãnh và bên nhận bảo lãnh (Điều 339 BLDS 2015).

Nghĩa vụ giữa những người cùng bảo lãnh với bên nhận bảo lãnh là nghĩa vụ liên đới, trừ khi có thỏa thuận khác (Điều 338 BLDS 2015).

4.2. Những thay đổi giữa BLDS 2015 và BLDS 2005 về bảo lãnh

Thứ nhất, về hình thức bảo lãnh. BLDS 2015 không quy định về hình thức bảo lãnh. Trong khi đó, tại Điều 362 BLDS 2005 qui định bắt buộc việc bảo lãnh phải được lập thành văn bản, có thể lập thành văn bản riêng hoặc ghi trong hợp đồng chính. Trong trường hợp pháp luật có quy định thì văn bản bảo lãnh phải được công chứng hoặc chứng thực.

Đây là điểm mới tích cực của BLDS 2015 so với BLDS 2005. Bởi lẽ, việc không quy định về hình thức bảo lãnh sẽ giúp các bên linh hoạt hơn, chủ động hơn trong việc thiết lập quan hệ bảo lãnh.

Thứ hai, một số điểm mới về phạm vi bảo lãnh. BLDS 2005 quy định bên bảo lãnh có thể cam kết bảo lãnh một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ cho bên được bảo lãnh.

Tuy nhiên, BLDS 2015 có mở rộng thêm nghĩa vụ bảo lãnh gồm cả “lãi trên số tiền chậm trả” so với quy định chỉ có “tiền lãi trên nợ gốc, tiền phạt, tiền bồi thường thiệt hại, trừ trường hợp có thoả thuận khác” ở BLDS 2005.

Khoản 4 Điều 336 BLDS 2015 quy định trường hợp nghĩa vụ được bảo lãnh là nghĩa vụ phát sinh trong tương lai thì phạm vi bảo lãnh không bao gồm nghĩa vụ phát sinh sau khi người bảo lãnh chết hoặc pháp nhân bảo lãnh chấm dứt tồn tại.

Thứ ba, về quyền yêu cầu của bên bảo lãnh. Quyền yêu cầu của bên bảo lãnh quy định là bên bảo lãnh chỉ được yêu cầu bên được bảo lãnh thực hiện nghĩa vụ đối

24

với mình trong phạm vi bảo lãnh, khi bên bảo lãnh đã hoàn thành nghĩa vụ quy định tại Điều 367 BLDS 2005. So với Điều 340 BLDS 2015 quy định rằng, trừ trường hợp có thỏa thuận khác, bên bảo lãnh có quyền yêu cầu bên được bảo lãnh thực hiện nghĩa vụ đối với mình trong phạm vi nghĩa vụ bảo lãnh đã thực hiện.

Với quy định này, bên bảo lãnh có thể yêu cầu bên được bảo lãnh thực hiện nghĩa vụ đối với mình ngay cả khi bên bảo lãnh chưa hoàn thành nghĩa vụ đối với bên nhận bảo lãnh trong phạm vi nghĩa vụ mà bên bảo lãnh đã thực hiện. Hay nói cách khác, bên bảo lãnh, họ thực hiện nghĩa vụ thay cho bên được bảo lãnh đến đâu (trong phạm vi bảo lãnh) thì họ có quyền yêu cầu bên được bảo lãnh phải hoàn trả lại cho họ đến đó.

Thứ tư, về việc miễn trách nhiệm dân sự của bên bảo lãnh. Tại Điều 342 BLDS 2015 có quy định:

1. Trường hợp bên được bảo lãnh không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ thì bên bảo lãnh phải thực hiện nghĩa vụ đó.

2. Trường hợp bên bảo lãnh không thực hiện đúng nghĩa vụ bảo lãnh thì bên nhận bảo lãnh có quyền yêu cầu bên bảo lãnh thanh toán giá trị nghĩa vụ vi phạm và bồi thường thiệt hại.

Đây là một điểm mới đáng chú ý của BLDS 2015 so với quy định của BLDS 2005.

Cụ thể rằng, trong BLDS 2005, tại Điều 369 có nói đến việc bên bảo lãnh phải đưa tài sản của thuộc sở hữu của mình để thanh toán cho bên nhận bảo lãnh khi đã đến hạn thực hiện nghĩa vụ thay cho bên được bảo lãnh mà bên bảo lãnh không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ.

Với điểm này, pháp luật Việt Nam đã quy định cụ thể, khái quát hơn nhằm đảm bảo quyền và lợi ích của bên nhận bảo lãnh khi bên bảo lãnh không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ bảo lãnh được quy định, thông qua việc trao cho họ quyền được yêu cầu bên bảo lãnh thanh toán giá trị nghĩa vụ và buộc bên bảo lãnh phải bồi thường thiệt hại (nếu có) do hành vi vi phạm nghĩa vụ đó gây ra.

Thứ năm, về việc thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh. Điều 368 BLDS 2005 quy định rằng, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác thì mặc dù bên nhận bảo lãnh đã miễn việc thực hiện nghĩa vụ cho bên bảo lãnh, nhưng bên được bảo lãnh vẫn phải thực hiện nghĩa vụ đó.

Điểm khác của BLDS 2015 so với BLDS 2005 được quy định tại Điều 341 nhà làm luật, nghiên cứu luật đã có một góc nhìn rất mới khi quy định rằng, trừ trường hợp có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định khác, nếu bên nhận bảo lãnh đã miễn việc thực hiện nghĩa vụ cho bên bảo lãnh thì bên được bảo lãnh cũng không còn phải thực hiện nghĩa vụ đối với bên nhận bảo lãnh nữa.

Với quy định mới này, có thể thấy rằng, nhà làm luật đã hướng đến việc coi nghĩa vụ của bên bảo lãnh và bên được bảo lãnh là một. Hay nói cách khác, nghĩa vụ mà bên

25

bảo lãnh đáng ra phải thực hiện và nghĩa vụ đương nhiên của bên được bảo lãnh là một.

Từ đó, nếu bên nhận bảo lãnh miễn việc thực hiện nghĩa vụ cho bên bảo lãnh, cũng đồng thời với việc họ miễn luôn nghĩa vụ cho bên được bảo lãnh.

Thứ sáu, về việc hủy bỏ bảo lãnh. Về việc hủy bỏ bảo lãnh không có điều khoản quy định về việc này trong BLDS 2015. Tuy nhiên trước đó ở BLDS 2005, việc hủy bỏ bảo lãnh được quy định cụ thể tại Điều 370: “Việc bảo lãnh có thể được hủy bỏ nếu được bên nhận bảo lãnh đồng ý, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác”.

Việc BLDS 2015 không quy định trường hợp, cũng như điều kiện hủy bỏ việc bảo lãnh là để quy định ràng buộc trách nhiệm, nghĩa vụ của bên bảo lãnh đối với nghĩa vụ bảo lãnh, tuy nhiên việc bảo lãnh có thể được hủy bỏ nếu bên nhận bảo lãnh đồng ý, điều này thể hiện sự tôn trọng thỏa thuận của các bên.

Đối với Quyết định số 02:

Tóm tắt Quyết định số 02/2013/KDTM-GĐT ngày 08/1/2013 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao:

Quỹ tín dụng nhân dân Trung ương – Chi nhánh Đồng Nai ký hợp đồng cho Doanh nghiệp tư nhân Đại Lộc vay tiền. Tài sản được dùng để đảm bảo cho khoản vay là quyền sử dụng mãnh đất của ông Miễn và bà Cà. Hợp đồng này thông qua bà Trang để thực hiện và ông Miễn bà Cà đều nói rằng mình không quen biết với bà Tỉnh cũng như Doanh nghiệp tư nhân Đại Lộc Tân. Quỹ tín dụng không đòi được nợ từ bà Tỉnh cũng như Doanh nghiệp tư nhân Đại Lộc Tân nên buộc người bảo lãnh phải có trách nhiệm với khoản nợ đó. Cả ông Miễn và bà Cà đều không đồng ý với quyết định này.

Tòa án tuyên bố chỉ khi chủ Doanh nghiệp tư nhân không trả được nợ hoặc không đủ thì ông Miễn và bà Cà mới phải trả thay, nếu cả hai đêu không trả thì mới xử lý tài sản thế chấp để thu hồi khoản nợ.

4.3. Đoạn nào cho thấy Tòa án xác định quan hệ giữa ông Miễn, bà Cà với Quỹ tín dụng là quan hệ bảo lãnh?

Trong trường hợp xác định Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất của người thứ 3 số 01534 ngày 22/9/2006 giữa Quỹ tín dụng (bên nhận thế chấp) với ông Miễn và bà Cà (bên thế chấp) và bà Tỉnh – Chủ Doanh nghiệp tư nhân Đại Lộc Tân (bên vay vốn) phải tuân theo đúng quy định tại Khoản 1 Điều 5 và Khoản 1 Điều 7 của Hợp đồng thế chấp, Điều 361 của Bộ luật Dân sự là khi chủ doanh nghiệp tư nhân Đại Lộc Tân không trả nợ hoặc trả không đủ thì ông Miễn và bà Cà phải trả thay, nếu ông Miễn, bà Cà không trả nợ hoặc trả không đủ thì mới xử lý tài sản thế chấp để thu hồi nợ.

4.4. Suy nghĩ của anh/chị về việc xác định trên của Hội đồng thẩm phán.

26

Việc xác định hội đồng thẩm phán hợp lí với quy định pháp luật ông Miễn bà Cà lấy tài sản để bảo đảm cho khoản vay chủ doanh nghiệp tư nhân Đại Lộc Tân hợp đồng chấp quyền sử dụng đất người thứ ba số 01534 ngày 22/9/2006 Quỹ tín dụng (bên nhận chấp) với ông Miễn bà Cà (bên chấp) và bà Tỉnh – Chủ doanh nghiệp tư nhân Đại Lộc Tân (bên vay vốn). Hợp đồng chấp chứng thực đăng kí giao dịch bảo đảm nên doanh nghiệp tư nhân không trả trả không đủ ông Miễn, bà Cà trả thay ông Miễn bà Cà không trả trả không đủ xử lí chấp để thu hồi nợ.

4.5. Theo Tòa án, quyền sử dụng đất của ông Miễn, bà Cà được sử dụng để bảo đảm cho nghĩa vụ nào? Vì sao?

Theo Toà án, quyền sử dụng đất của ông Miễn, bà Cà sử dụng để đảm bảo cho nghĩa vụ trả nợ chủ Doanh nghiệp tư nhân Đại Lộc Tân là bà Đỗ Thị Tỉnh. Vì ngày 26/9/2006, Quỹ tín dụng nhân dân Trung ương - Chi nhánh Đồng Nai ký Hợp đồng tín dụng số TC066/02/HĐTD cho Doanh nghiệp tư nhân Đại Lộc Tân vay 900.000.000 đồng. Tài sản bảo đảm cho khoản vay quyền sử dụng 20.408 m2 đất vợ chồng ông Miễn bà Cà đem chấp cho Quỹ tín dụng để đảm bảo nghĩa vụ trả nợ cho Chủ Doanh nghiệp tư nhân Đại Lộc Tân. Như vậy có nghĩa là vợ chồng ông Miễn bà Cà đứng bảo lãnh cho bà Tỉnh. Vì vậy ông Miễn bà Cà phải có trách nhiệm nghĩa vụ.

Đối với Quyết định số 968:

Tóm tắt bản án: Quyết định số 968/2011/DS-GĐT ngày 27/12/2011 của Tòa dân sự Tòa án nhân dân tối cao

Bà Nhung cho bà Mát vay 500.000.000 đồng, với lãi suất 1,2% tháng và bà Mát được ông Ân và bà Thắng bảo lãnh. Sau khi vay, bà Mát trả được 8 tháng tiền lãi sau đó bà Mát không trả tiền cả gốc lẫn lãi nên bà Nhung khởi kiện yêu cầu bà Mát phải trả tiền cho bà. Tại Tòa sơ thẩm quyết định bà Mát và bà Thắng cùng liên đới chịu trách nhiệm trả tiền cho bà Nhung. Bà Thắng kháng cáo không đồng ý với bản sơ thẩm. Tại bản án dân sự phúc thẩm thì hủy bản án sơ thẩm và nhận xét rằng quan hệ vay tiền và quan hệ bảo lãnh là hai quan hệ độc lập nên bà Nhung có quyền khởi kiện bà Mát trả tiền hoặc bà Thắng thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh trả nợ thay cho bà Mát. Sau đó bà Nhung khởi kiện lại yêu cầu bà Thắng phải trả tiền thay cho bà Mát. Tại quyết định giám đốc thẩm quyết định hủy cả bản án sơ thẩm và phúc thẩm, cho rằng trước hết cần xác định bà Mát là người thực hiện nghĩa vụ dân sự của mình với bà Nhung, nếu bà Mát không có khả năng thực hiện nghĩa vụ dân sự hoặc chỉ thực hiện được một phần thì phần không thực hiện được bà Thắng và ông Ân mới có trách nhiệm thực hiện thay.

27

4.6. Đoạn nào cho thấy Tòa án địa phương đã theo hướng người bảo lãnh và người được bảo lãnh liên đới thực hiện nghĩa vụ cho người có quyền?

Đoạn cho thấy Tòa án địa phương đã theo hướng người bảo lãnh và người được bảo lãnh liên đới thực hiện nghĩa vụ cho người có quyền ở đoạn nhận thấy của Tòa án:

“…Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 376/2009/DS-ST ngày 28-09-2009, Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai quyết định:

Chấp nhận đơn khởi kiện của bà Vũ Thị Hồng Nhung:

Bà Nguyễn Thị Thắng phải thực hiện nghĩa vụ thay cho bà Nguyễn Thị Mát, ông Nguyễn Văn Tam trả cho bà Vũ Thị Hồng Nhung số tiền 607.106.000 đồng (trong đó, nợ gốc 500.000.000 đồng, lãi suất 107.106.000 đồng).

….

Tại Bản án dân sự phúc thẩm số 24/2010/DS-PT ngày 29-01-2010, Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai quyết định:

Bác kháng cáo của nguyên đơn bà Vũ Thị Hồng Nhung và bị đơn bà Nguyễn Thị Thắng. Giữ nguyên bản án sơ thẩm”.

4.7. Hướng liên đới trên có được Tòa giám đốc thẩm chấp nhận không?

Hướng liên đới trên không được Tòa giám đốc thẩm chấp nhận.

Đoạn của phần xét thấy của Tòa án cho thấy:

“…Tòa án các cấp chưa thu thập, xác định rõ khả năng thực hiện nghĩa vụ dân sự của bà Mát, nhưng Tòa án cấp sơ thẩm (Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom) đã buộc bà Thắng cùng liên đới thực hiện nghĩa vụ dân sự cùng bà Mát là chưa chính xác. Tòa án cấp phúc thẩm hủy bản án sơ thẩm hướng dẫn đương sự lựa chọn có thể khởi kiện bà Mát hoặc bà Thắng là không đúng quy định của pháp luật”.

4.8. Suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết trên của Tòa giám đốc thẩm liên quan đến vấn đề liên đới nêu trên.

Căn cứ theo Khoản 1 Điều 335 Bộ luật dân sự 2015 về khái niệm của Bảo lãnh:

“1. Bảo lãnh là việc người thứ ba (sau đây gọi là bên bảo lãnh) cam kết với bên có quyền (sau đây gọi là bên nhận bảo lãnh) sẽ thực hiện nghĩa vụ thay cho bên có nghĩa vụ (sau đây gọi là bên được bảo lãnh), nếu khi đến thời hạn thực hiện nghĩa vụ mà bên được bảo lãnh không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ.”

Một phần của tài liệu BUỔI THẢO LUẬN THỨ tư môn dsu 2 (Trang 21 - 31)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(32 trang)