Nêu cơ sở pháp lý...5 1.2 Đoạn nào của các bản án cho thấy hợp đồng không được công chứng, chứng thực theo quy định?...6 1.3 Trong bản án 189, đoạn nào của Bản án cho thấy Tòa án công nh
Trang 1MỤC LỤC
Vấn đề 1: Hợp đồng vi phạm quy định về hình thức 4
1.1 Hợp đồng trong hai vụ việc trên có phải công chứng chứng thực không? Nêu cơ sở pháp lý 5 1.2 Đoạn nào của các bản án cho thấy hợp đồng không được công chứng, chứng thực theo quy định? 6 1.3 Trong bản án 189, đoạn nào của Bản án cho thấy Tòa án công nhận hợp đồng không được công chứng, chứng thực? 6 1.4 Trong bản án số 189, việc Tòa án công nhận hợp đồng không được công chứng, chứng thực có thuyết phục không Vì sao? 7 1.5 Việc Tòa án xác định hợp đồng chuyển nhượng vi phạm về hình thức và hết thời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng vô hiệu trong bản án số 41 có thuyết phục không? Vì sao?.8 1.6 Theo BLDS, hệ quả pháp lí của việc hết thời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng vô hiệu về hình thức 9 1.7 Việc Tòa án công nhận hợp đồng chuyện nhượng sau khi xác định có vi phạm quy định
về hình thức và hết thời hiệu là có thuyết phục không? Vì sao? 9
Vấn đề 2: Đơn phương chấm dứt, hủy bỏ do không thực hiện đúng hợp đồng 10
2.1 Điểm giống nhau và khác nhau giữa hợp đồng vô hiệu và hủy bỏ hợp đồng do có vi phạm? 10 2.2 Theo Tòa án nhân dân Tỉnh Vĩnh Long, hợp đồng vô hiệu hay bị hủy bỏ? 12 2.3 Suy nghĩ của anh (chị) về hướng giải quyết của Tòa án nhân dân Tỉnh Vĩnh Long (về hủy bỏ hay vô hiệu hợp đồng)? 12 2.4 Nếu hợp đồng vô hiệu thì có áp dụng phạt vi phạm hợp đồng không? Vì sao? 12 2.5 Điểm giống nhau và khác nhau giữa đơn phương chấm dứt hợp đồng và hủy bỏ hợp đồng do có vi phạm? 12 2.6 Ông Minh có được quyền hủy bỏ hợp đồng chuyển nhượng nêu trên không ?Vì sao? Nếu có, nêu rõ văn bản cho phép hủy bỏ 13
Vấn đề 3: Đứng tên giùm mua bất động sản 14
3.1 Việc TAND tối cao xác định nhà có tranh chấp do bà Tuệ bỏ tiền ra mua và nhờ ông Bình, bà Vân đứng tên hộ có thuyết phục không? Vì sao? 15 3.2 Ở thời điểm mua nhà trên, bà Tuệ có được đứng tên không? Vì sao? 15 3.3 Ở thời điểm hiện nay, bà Tuệ có được đứng tên mua nhà ở Việt Nam không? 15
Trang 23.4 Ngày nay, theo Tòa án nhân dân tối cao, bà Tuệ được công nhận quyền sở hữu nhà trên
không? Hướng giải quyết này của Tòa án nhân dân tối cao đã có tiền lệ chưa? 16
3.5 Theo Tòa án nhân dân tối cao, phần giá trị chênh lệch giữa số tiền bà Tuệ bỏ ra và giá trị hiện tại của nhà đất có tranh chấp được xử lý như thế nào? 17
3.6 Hướng giải quyết trên của Tòa án nhân dân tối cao đã có Án lệ chưa? Nếu có, nêu Án lệ đó 17 3.7 Suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết trên của Tòa án nhân dân tối cao? 18
Vấn đề 4: Tìm kiếm tài liệu 18
4.1 Liệt kê những bài viết liên quan đến pháp luật hợp đồng được công bố trên các Tạp chí chuyên ngành luật từ đầu năm 2016 đến nay Khi liệt kê, yêu cầu viết theo trật tự theo tên tác giả và việc liệt kê phải thỏa mãn những thông tin theo trật tự sau: 1) Họ và tên tác giả, 2) Tên bài viết in nghiêng, 3) Tên Tạp chí, 4) Số và năm của Tạp chí, 5) Số trang của bài viết (ví dụ: từ tr.41 đến 51) 18
4.2 Cho biết làm thế nào để biết được các bài viết trên 23
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 24
A VĂN BẢN PHÁP LUẬT 24
B TÀI LIỆU THAM KHẢO 24
Trang 3BUỔI THẢO LUẬN THỨ BA:
VẤN ĐỀ CHUNG CỦA HỢP ĐỒNG (TIẾP)
Vấn đề 1: Hợp đồng vi phạm quy định về hình thức.
dân Huyện Phú Tân Tỉnh An Giang.
Tóm tắt bản án:
- Ông Phan Văn Tuấn là chủ cửa hàng vật tư nông nghiệp tại ấp PhúTrung, xã Phú Thành, huyện Phú Tân, An Giang Ngày 10/4/2017, ôngTuấn có cho ông Trinh và bà Bé vay số tiền là 269.000.000đ không tínhlãi, ngoài ra trong mối quan hệ mua bán hàng hóa ông Trinh và bà Bécòn mua thiếu và nợ ông Tuấn số tiền là 67.030.000đ Ông Trinh và bà
Bé có làm giấy nhận nợ, cùng kí tên xác nhận nợ ông Tuấn336.030.000đ hẹn đến ngày 15/9/2017 sẽ trả Đến hạn, 2 người vẫn chưatrả nợ và có yêu cầu bán đất SXNN để trừ nợ nhưng ông Tuấn khôngđồng ý Ngày 05/01/2018, vợ chồng ông Trinh bà Bé lập hợp đồng số 14chuyển nhượng bán đất cho ông Kết bà Trang Ngày 09/01/2018 ôngTuấn biết được đã làm đơn khởi kiện, yêu cầu Tòa ban hành quyết địnhphong tỏa diện tích đất mà ông Kết nhận chuyển nhượng của ông Trinh
bà Bé, và tuyên bố hợp đồng số 14 vô hiệu, cho rằng hành vi trên củaông Trinh bà Bé là tẩu tán tài sản trốn tránh nghĩa vụ trả nợ, đồng thờiyêu cầu ông Trinh thanh toán số nợ cả vốn lẫn lãi là 459.493.000đ TạiTòa án, người có quyền và nghĩa vụ liên quan là ông Kết và bà Trangcho rằng việc mua đất hoàn toàn thực hiện theo đúng trình tự thủ tục,quy định nên yêu cầu Tòa án công nhận hợp đồng số 14 là có hiệu lựcpháp luật, hủy bỏ quyết định phong tỏa đất để tiếp tục thực hiện thủ tụctách bộ sang tên
- Căn cứ vào các điều luật, Tòa án đã quyết định chấp nhận 1 phần yêucầu khởi kiện của ông Tuấn là buộc ông Trinh bà Bé liên đời thanh toán
số nợ 459.493.000đ Không chấp nhận yêu cầu vô hiệu hợp đồng số 14,công nhận hợp đồng quyền chuyển nhượng đất số 14 là có hiệu lực phápluật
Trang 41.1 Hợp đồng trong hai vụ việc trín có phải công chứng chứng thực không? Níu cơ sở phâp lý.
- Hợp đồng trong hai vụ việc trín không cần phải chứng thực
- Cở sở phâp lý: căn cứ văo khoản 2 Điều 129 BLDS 2015:
“2 Giao dịch dđn sự đê được xâc lập bằng văn bản nhưng vi phạm quyđịnh bắt buộc về công chứng, chứng thực mă một bín hoặc câc bín đêthực hiện ít nhất hai phần ba nghĩa vụ trong giao dịch thì theo yíu cầucủa một bín hoặc câc bín, Tòa ân ra quyết định công nhận hiệu lực củagiao dịch đó Trong trường hợp năy, câc bín không phải thực hiện việccông chứng, chứng thực.”
+ Theo đó, bản hợp đồng số 14 trong bản ân số 189, bín ông Trinh bă
Bĩ vă ông Kết đê thực hiện trín 2/3 câc nghĩa vụ trong giao dịch Bă
Bĩ vă ông Trinh đê giao toăn bộ diện tích đất níu trín cho ông Kếtcanh tâc Đồng thời, ông Kết cũng đê thanh toân đầy đủ bằng câchtrước đó cùng ông Trinh tới Ngđn hăng thanh toân một phần, vă phầncòn lại thanh toân khi câc bín kí hợp đồng số 14 Vă ông Kết chorằng việc vợ chồng ông mua đất hoăn toăn thực hiện đúng vă đầy đủtheo trình tự thủ tục phâp luật quy định nín yíu cầu Tòa ân công nhận
hợp đồng số 14 lă có hiệu lực phâp luật Vậy nín căn cứ văo khoản 2
Điều 129 BLDS 2015 thì trường hợp trín câc bín không cần phải
thực hiện việc công chứng, chứng thực
+ Bản hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Diíu vẵng Ngọc trong bản ân số 41 đê được ông Diíu ký tín văo ngăy27/10/2007 Ông Ngọc đê thanh toân cho ông Diíu 50.000.000đ,phần còn lại cũng sẽ được thanh toân hết khi hoăn tất thủ tục chuyểnnhượng đất Đồng thời, trín thực tế ông Ngọc đê nhận đất vă đổ một
xe đâ 4x6cm để lăm nhă, ông cũng yíu cầu Tòa ân buộc ông Diíutiếp tục thực hiện theo “giấy chuyển nhượng” ngăy 21/07/2007 Saukhi khâng câo, Tòa ân đê tuyín bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sửdụng đất giữa ông Nguyễn Đức Diíu vă ông Bùi Quang Ngọc đề
ngăy 21/07/2007 lă có giâ trị phâp lý Vậy nín căn cứ văo khoản 2
điều 129 BLDS 2015 thì trường hợp trín câc bín không cần phải
thực hiện việc công chứng, chứng thực
Trang 51.2 Đoạn nào của các bản án cho thấy hợp đồng không được công chứng, chứng thực theo quy định?
- Bản án số 189: đoạn cho thấy hợp đồng số 14 không được công chứng,chứng thực theo quy định là: ngày 11/01/2018, ông Kết nhận được thôngbáo của UBND Huyện Phú Tân bị ngắn chặn 01 phần diện tích là5.097m2 bởi Quyết định ADBPKCTT số 01 theo đơn yêu cầu của ôngTuấn
- Bản án số 41: đoạn cho thấy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụngđất của ông Diêu và ông Ngọc không được công chứng, chứng thực theoquy định là: sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đượcthẩm tra tại phiên tòa, HĐXX nhận định về hình thức hợp đồng đãkhông đảm bảo do không được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền xácnhận
1.3 Trong bản án 189, đoạn nào của Bản án cho thấy Tòa án công nhận hợp đồng không được công chứng, chứng thực?
- Xét thấy, tại Điều 503 BLDS 2015 có quy định: “Việc chuyển quyền
sử dụng đất có hiệu lực kể từ thời điểm đăng ký theo quy định của Luật
đất đai” và khoản 3 Điều 188 Luật đất đai 2013 thì: “Việc chuyển đổi
chuyển nhượn, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho, thế chấp quyền
sử dụng đất, góp vốn bằng quyền sử dụng đất, phải đăng ký tại cơ quanđăng ký đất đai và có hiệu lực kể từ thời điểm đăng ký vào sổ địachính” Qua đó, cho thấy việc chuyển nhượng giữa các bên do chưađược đăng ký tại cơ quan đăng ký đất đai nên chưa có hiệu lực pháp luậtnhưng điều này hoàn toàn không đồng nghĩa với việc hợp đồng chuyểnnhượng giữa các bên là vô hiệu, vì vậy HĐXX vẫn phải xem xét yêu cầuhợp đồng của ông Kết bà Trang theo quy định
- Trong phần nhận định của Tòa án “Xét thấy, tại khoản 2 Điều 129
BLDS 2015 có quy định: “2 Giao dịch dân sự đã được xác lập bằng văn
bản nhưng vi phạm quy định bắt buộc về công chứng, chứng thực màmột bên hoặc các bên đã thực hiện ít nhất hai phần ba nghĩa vụ tronggiao dịch thì theo yêu cầu của một bên hoặc các bên, Tòa án ra quyếtđịnh công nhận hiệu lực của giao dịch đó Trong trường hợp này, các bênkhông phải thực hiện việc công chứng, chứng thực.” Đối chiếu quy định
Trang 6cho thấy chỉ cần các bên đã thực hiện 2/3 nghĩa vụ trong hợp đồng thìtheo yêu cầu của 1 hoặc các bên Tòa án ra quyết định công nhận hiệu lựccủa giao dịch đó mà không cần thực hiện tiếp công việc công chứng,chứng thực
1.4 Trong bản án số 189, việc Tòa án công nhận hợp đồng không được công chứng, chứng thực có thuyết phục không Vì sao?
- Việc công nhận hợp đồng không được công chứng chứng thực của Tòa
án trong bản án số 189 là thuyết phục Vì mặc dù hợp đồng đã đượccông chứng tại VPCC theo quy định của pháp luật, nhưng việc chuyểnnhượng giữa các bên chưa được đăng ký tại cơ quan đăng ký đất đai nênvẫn bị xem là không được công chứng chứng thực theo quy định
Tỉnh Khánh Hòa.
Tóm tắt bản án:
Nguyên đơn: Ông Nguyễn Đức Thành.
Bị đơn: Ông Bùi Quang Ngọc.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1 Ông Nguyễn Đức Diêu
2 Bà Nguyễn Thị Thủy
- Ông Nguyễn Đức Diêu và bà Nguyễn Thị Định sở hữu lô đất thuộcthửa đất số 450, tờ bản đồ số 11, tại tỉnh Khánh Hòa có diện tích7.155m2 Ông Diêu và bà Định có 07 người con gồm: Nguyễn ĐứcThành, Nguyễn Thị Diệu, Nguyễn Lợi, Nguyễn Đức Hiền, Nguyễn ThịBạch Tuyết, Nguyễn Thị Dung, Nguyễn Đức Lương Ngày 17/10/2007,
bà Định chết Ngày 27/10/2007, ông Diêu kí giấy chuyển nhượng quyền
sử dụng 480m2 đất thuộc tài sản của ông và bà Định cho ông Bùi QuangNgọc mà không có ý kiến của các con (là những người thuộc hàng thừa
kế thứ nhất của bà Định) nên ông Thành khởi kiện, yêu cầu Tòa tuyên bốhợp đồng chuyển nhượng giữa ông Diêu và ông Ngọc vô hiệu Tuynhiên, tại Tòa án cấp phúc thẩm, sau khi được Tòa yêu cầu cung cấpchứng cứ, ông Thành và ông Diêu đã nộp lên bản di chúc của bà Định
Trang 7Theo di chúc, phần đất mua bán giữa ông Diêu và ông Ngọc là phần đấtdưỡng già của hai vợ chồng ông Diêu và bà Định, nên việc mua bánhoàn toàn phụ thuộc vào quyết định của ông Diêu.
- Căn cứ vào những luận điểm trên, HĐXX tuyên không chấp nhận yêucầu của ông Thành, hợp đồng chuyển nhượng đất giữa ông Diêu và ôngNgọc không bị vô hiệu, hai bên tiếp tục hợp đồng
1.5 Việc Tòa án xác định hợp đồng chuyển nhượng vi phạm về hình thức và hết thời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng
vô hiệu trong bản án số 41 có thuyết phục không? Vì sao?
Việc xác định hợp đồng chuyển nhượng là vi phạm về hình thức
- Căn cứ theo Điều 119, BLDS 2015 2015, Điều 167 Luật đất đai 2013
và Luật công chứng 2014 thì hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng
đất là hợp đồng bắt buộc phải công chứng, chứng thực Cho nên hợpđồng chuyển nhượng đất của ông Diêu và ông Ngọc được Tòa xác định
là vi phạm về hình thức là thuyết phục, bởi vì giữa ông Diêu và ôngNgọc chỉ lập nên “giấy chuyển nhượng” và được kí giữa hai bên chứhợp đồng này chưa được sự công chứng, chứng thực của cơ quan cóthẩm quyền
Việc xác định hết thời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng vô hiệu
- Hợp đồng của ông Diêu và ông Ngọc vào ngày 27/10/2007 đã vi phạm
về hình thức Tuy nhiên, căn cứ theo Điều 129:
“2 Giao dịch dân sự đã được xác lập bằng văn bản nhưng vi phạm quyđịnh bắt buộc về công chứng, chứng thực mà một bên hoặc các bên đãthực hiện ít nhất hai phần ba nghĩa vụ trong giao dịch thì theo yêu cầucủa một bên hoặc các bên, Tòa án ra quyết định công nhận hiệu lực củagiao dịch đó Trong trường hợp này, các bên không phải thực hiện việccông chứng, chứng thực.”
Cụ thể ở đây là ông Diêu đã giao đất cho ông Ngọc, ông Ngọc đã đổ một
xe đá 4x6 để làm nhà Vì vậy cho nên hợp đồng của ông Diêu và ôngNgọc vẫn có hiệu lực dù vi phạm về mặt hình thức
Trang 8Căn cứ theo Điều 132 BLDS 2015 về thời hiệu yêu cầu Tòa tuyên bố
giao dịch dân sự thì đối với giao dịch dân sự giữa ông Diêu và ông Ngọc
có thời hạn là 2 năm kể từ ngày 27/10/2007 Vì vậy ngày hết thời hiệuyêu cầu vô hiệu của hợp đồng này là ngày 28/10/2009 nên ngày29/10/2009 ông Thành khởi kiện thì đã hết hiệu lực để yêu cầu tuyên vôhiệu hợp đồng
1.6 Theo BLDS, hệ quả pháp lí của việc hết thời hiệu yêu cầu Tòa
án tuyên bố hợp đồng vô hiệu về hình thức.
2 Giao dịch dân sự đã được xác lập bằng văn bản nhưng vi phạm quyđịnh bắt buộc về công chứng, chứng thực mà một bên hoặc các bên đãthực hiện ít nhất hai phần ba nghĩa vụ trong giao dịch thì theo yêu cầucủa một bên hoặc các bên, Tòa án ra quyết định công nhận hiệu lực củagiao dịch đó Trong trường hợp này, các bên không phải thực hiện việccông chứng, chứng thực.”
Khi một giao dịch dân sự vi phạm quy định điều kiện hiệu lực về hìnhthức thì vô hiệu Tuy nhiên theo điều 132 về thời hiệu yêu cầu Tòa ántuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu thì thời hiệu tuyên vô hiệu của Điều
129 là 2 năm Nếu hết thời hiệu 2 năm không có yêu cầu tuyên vô hiệuthì giao dịch được xem là có hiệu lực
1.7 Việc Tòa án công nhận hợp đồng chuyện nhượng sau khi xác định có vi phạm quy định về hình thức và hết thời hiệu là có thuyết phục không? Vì sao?
Trang 9- Việc Tòa án công nhận hợp đồng chuyển nhượng sau khi xác định có viphạm quy định và hết thời hiệu là thuyết phục Bởi vì trong hợp đồng, cóhình thức bắt buộc (HTBB) là điều kiện có hiệu lực (ĐKCHL) của hợpđồng, có HTBB không là ĐKCHL của hợp đồng, tức là không tuân thủ
HTBB thì hợp đồng vẫn có hiệu lực Ngoài ra, Điều 129 cũng loại trừ đi
những bất cập của việc vi phạm về HTBB, giúp cho việc xác lập hợpđồng dễ dàng hơn Bên cạnh đó, thời hiệu để yêu cầu tuyên bố giao dịchdân sự khi có vi phạm quy định về hình thức là 2 năm, 2 năm là mộtkhoảng thời gian tương đối đủ để các bên xem xét về hợp đồng, và yêucầu tuyên vô hiệu
Vấn đề 2: Đơn phương chấm dứt, hủy bỏ do không thực hiện đúng hợp đồng.
Tình huống:
Ông Minh ký hợp đồng chuyển nhượng cho ông Cường quyền sử dụngmột mảnh đất Hợp đồng được giao kết hợp pháp và ông Minh đã giaođất cho ông Cường nhưng ông Cường không trả tiền cho ông Minh mặc
dù ông Minh đã nhiều lần nhắc nhở Nay ông Minh yêu cầu Tòa án hủy
bỏ hợp đồng chuyển nhượng để nhận lại đất
2.1 Điểm giống nhau và khác nhau giữa hợp đồng vô hiệu và hủy
chấm dứt
hợp đồng
Hợp đồng dân sự vi phạmmột trong các điều kiện cóhiệu lực của hợp đồng
Quy định từ Điều 122 đếnĐiều 133 BLDS 2015
Một trong các bên tronghợp đồng vi phạm cácđiều khoản có trong hợpđồng hoặc một bên yêucầu hủy hợp đồng
Điều 423 BLDS 2015
Các Hợp đồng dân sự vô hiệu do: Một bên có quyền hủy bỏ
Trang 10-Nhầm lẫn-Bị lừa dối, đe dọa.
-Người xác lập không nhậnthức và làm chủ hành vi củamình
-Không tuân thủ quy định vềhình thức
-Có đối tượng không thể thựchiện được
hợp đồng và không phảibồi thường khi bên kia viphạm hợp đồng
2 Điều 427)
Bên có lỗi gây thiệt hại cótrách nhiệm bồi thường (cóthể là một trong số các bêntrong hợp đồng, có thể làngười thứ ba)
Bên có lỗi phải bồi thườngthiệt hại (một trong số cácbên trong hợp đồng)
Bên yêu cầu hủy hợp đồngnếu không có lỗi thì khôngphải bồi thường
Bên vi phạm hợp đồngphải bồi thường phần hợpđồng đã được thực hiện(nếu có thỏa thuận)
Trang 112.2 Theo Tòa án nhân dân Tỉnh Vĩnh Long, hợp đồng vô hiệu hay
bị hủy bỏ?
Theo Tòa án nhân dân Tỉnh Vĩnh Long thì hợp đồng vô hiệu (Đoạn:
“Xét hợp đồng mua bán xe ngày 26/5/2012 nêu trên là vô hiệu…”)
2.3 Suy nghĩ của anh (chị) về hướng giải quyết của Tòa án nhân dân Tỉnh Vĩnh Long (về hủy bỏ hay vô hiệu hợp đồng)?
Hướng giải quyết của Tòa án nhân dân Tỉnh Vĩnh Long là hoàn toàn hợp
lý Khi giao kết hợp đồng, cả hai bên đều vi phạm quy định của pháp
luật (vi phạm điểm b khoản 1 Điều 117 BLDS 2015) Cụ thể về chủ thể
hợp đồng ghi bên mua là “trang trí nội thất Thanh Thảo”, người đại diệnNguyễn Thị Dệt là không đúng vì thực chất người đạidiện cho Trang trínội thất Thanh Thảo là Công ty TNHH–SX–TM Thanh Thảo do TrươngHoàng Thành là Giám đốc đại diện Điều này cho thấy không có sự tựnguyện của chủ thể giao kết hợp đồng Mặt khác, hợp đồng ghi rõ đạidiện bên mua là bà Nguyễn Thị Dệt nhưng đứng ra giao dịch là ôngTrương Văn Liêm là không đúng với quy định của pháp luật Do đó đãxảy ra vấn đề kể từ lúc ký kết hợp đồng cho đến khi thực hiện hợp đồng
2.4 Nếu hợp đồng vô hiệu thì có áp dụng phạt vi phạm hợp đồng không? Vì sao?
Nếu hợp đồng vô hiệu thì không phạt vi phạm hợp đồng vì lúc này hợpđồng không có hiệu lực nên không phát sinh quyền và nghĩa vụ các bên.Các bên chỉ có nghĩa vụ hoàn trả cho nhau những gì đã nhận và thanh
toán các chi phí bảo quản sửa chữa tài sản đó Áp dụng Điều 151 và
khoản 1 Điều 418 BLDS 2016, không áp dụng phạt hợp đồng vô hiệu
do nhầm lẫn, lừa dối Do đó không phát sinh nghĩa vụ giữa các bên
2.5 Điểm giống nhau và khác nhau giữa đơn phương chấm dứt hợp đồng và hủy bỏ hợp đồng do có vi phạm?