1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

Buổi thảo luận thứ hai Bộ luật Dân sự 2015

15 175 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 15
Dung lượng 38,54 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí MinhLớp CLC41BGiáo viên hướng dẫn: Hoàng Thế CườngNhóm 05 ngườiNgày đăng: 17092020, 5h47Buổi thảo luận thứ hai Bộ luật Dân sự 2015 gồm bốn vấn đề. Đã được chỉnh sửa hình thức và nội dung.

Trang 1

VẤN ĐỀ 1: IM LẶNG TRONG QUÁ TRÌNH GIAO KẾT HỢP ĐỒNG

Câu 1: Điểm mới của BLDS 2015 so với BLDS 2005 về vai trò của im lặng trong giao kết hợp đồng?

Khoản 2 Điều 401 BLDS 2005 quy định: “Hợp đồng dân sự cũng được xem là giao

kết khi hết hạn trả lời mà bên nhận đề nghị vẫn im lặng, nếu có thỏa thuận im lặng

là sự trả lời chấp nhận giao kết".

Khoản 2 Điều 393 BLDS 2015 quy định: “Sự im lặng của bên được đề nghị không

được coi là chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng, trừ trường hợp có thỏa thuận hoặc theo thói quen đã được xác lập giữa các bên”

BLDS 2005 đã ghi nhận vai trò của im lặng nhưng không nêu trong phần chấp nhận giao kết hợp đồng mà trong phần xác định thời điểm hợp đồng được giao kết.BLDS 2015 đã khắc phục được nhược điểm nói trên BLDS 2015 theo hướng thông im lặng không là chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng nhưng có ngoại lệ, khi thỏa thuận hay thói quen của các bên, im lặng vẫn là chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng.1

Câu 2: Đoạn nào của Quyết định cho thấy anh Đạt đã chuyển nhượng tài sản cho ông Nâu?

Đó là đoạn 1 phần xét thấy: “Căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, thì ngày 30/03/2004 anh Nguyễn Phát Đạt lập hợp đồng chuyển nhượng cho ông Nguyễn Văn Nâu (là chú của anh Đạt) 670m2 đất theo giấy chứng nhận quyền sử dụng số 02164/QSDĐ/B2 ngày 16-4-1995 do Ủy ban nhân dân huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp cấp đứng tên anh Đạt với giá 250.000.000 đồng (…) Anh Đạt đã giao đất để ông Nâu sử dụng tại thời điểm đó Tuy nhiên, không thể hiện việc ông Nâu trả tiền thay anh Đạt tại Ngân hàng như hai bên thỏa thuận”

Câu 3: Đoạn nào của Quyết định cho thấy tài sản anh Đạt chuyển nhượng là tài sản chung của anh Đạt và chị Linh (vợ anh Đạt)?

Đó là đoạn 6, phần xét thấy: “Tuy nhiên, khối tài sản anh Đạt thế chấp cho ngân

hàng là tài sản chung của anh Đạt và chị Linh (vợ của anh Đạt), nhưng các hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất nêu trên mới chỉ có chữ ký của anh Đạt nên cũng cần phải xem xét chị Linh có biết việc chuyển nhượng hay không?”.

1 Đỗ Văn Đại, Bình luận khoa học Những điểm mới của Bộ luật dân sự năm 2015, Nxb Hồng Đức – Hội Luật gia

Việt Nam 2016 (xuất bản lần thứ 2, có bổ sung), trang 370.

Trang 2

Câu 4: Việc chuyển nhượng trên có cần sự đồng ý của chị Linh không? Vì sao? Nêu

cơ sở pháp lý khi trả lời.

Tòa án đã xác định quyền sử dụng đất chuyển nhượng trên là tài sản chung của vợ chồng anh Đạt và chị Linh nên việc chuyển nhượng bất động sản là tài sản chung cần phải có sự đồng ý của chị Linh Cơ sở pháp lý cho nhận định này là khoản 2, khoản 3 Điều 219 BLDS 2005 (Điều 213 BLDS 2015) và Điều 33,35 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014

Cụ thể, Điều 35 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 có quy định:

“1 Việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung do vợ chồng thỏa thuận.

2 Việc định đoạt tài sản chung phải có sự thỏa thuận bằng văn bản của vợ chồng trong những trường hợp sau đây:

a) Bất động sản;

b) Động sản mà theo quy định của pháp luật phải đăng ký quyền sở hữu;

c) Tài sản đang là nguồn tạo ra thu nhập chủ yếu của gia đình.”

Câu 5: Theo BLDS và thực tiễn xét xử Việt Nam khi nào im lặng được coi là chấp nhận (đồng ý) hợp đồng?

Theo quy định của BLDS VN:

Khoản 2 Điều 404 BLDS 2005 quy định: “Hợp đồng dân sự cũng được xem như

giao kết khi hết thời hạn trả lời mà bên nhận được đề nghị vẫn im lặng, nếu có thỏa

thuận im lặng là sự trả lời chấp nhận giao kết”.

Như vậy theo BLDS 2005 thì im lặng được coi là chấp nhận hợp đồng nếu giữa hai bên

có sự thỏa thuận với nhau về việc im lặng là sự trả lời chấp nhận giao kết

Khoản 2 Điều 393 BLDS 2015 quy định: “Sự im lặng của bên được đề nghị không

được coi là chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng, trừ trường hợp có thỏa thuận hoặc theo thói quen đã được xác lập giữa các bên”.

Như vậy theo BLDS 2015 thì im lặng không được coi là chấp nhận hợp đồng trừ trường

hợp giữa hai bên có sự thỏa thuận với nhau về việc im lặng hoặc theo thói quen đã được xác lập giữa hai bên về việc im lặng khi giao kết hợp đồng

Theo thực tiễn xét xử tại Việt Nam, sự im lặng không đủ để suy luận sự đồng ý hay không đồng ý chấp nhận hợp đồng Tòa án các cấp không thể kết luận ngay hợp đồng không có giá trị pháp lý khi chưa xác định rõ ý chí của người giữ im lặng Tuy nhiên, sự

Trang 3

im lặng có thể là một biểu hiện của sự chấp nhận nếu tồn tại yếu tố khác Sau đây là các yếu tố cho phép suy luận đã có sự chấp nhận hợp đồng:

1) Việc bên giữ im lặng trong quá trình giao kết hợp đồng nhưng sau đó yêu cầu bên kia thực hiện hợp đồng.

VD: Theo Quyết định số 18/2003/HĐTP-DS ngày 30/05/2003 của HĐTP TANDTC, ông Lung là chủ sở hữu diện tích 120m2 nhà trên diện tích 1199m2 đất Vào ngày 24/09/1999, ông Lung thỏa thuận bán căn nhà trên cho vợ chồng ông Thọ Năm 2000, hai bên xảy ra tranh chấp Khi sự việc chưa được giải quyết thì ông Lung chết Trong hợp đồng không có chữ ký của bà Hiền vợ ông Lung Theo Viện kiểm sát, đây là việc bán nhà thuộc sở hữu của vợ chồng mà chưa có sự đồng ý của bà Hiền Nhưng theo HĐTP: “Mặc dù bà Hiền là vợ ông Lung không ký hợp đồng mua bán nhà với ông Thọ nhưng bà Hiền không những không có ý kiến phản đối và còn yêu cầu ông Thọ thực hiện hợp đồng đã ký với ông Lung, nên không có căn cứ cho rằng ông Lung đã bán nhà mà không được sự đồng ý của bà Hiền như lập luận trong kháng nghị của Viện Kiểm sát” Như vậy, trong quá trình giao kết hợp đồng, bà Hiền không ký vào hợp đồng và cũng không phản đối gì Điều đó có nghĩa là trong quá trình giao kết hợp đồng, bà Hiền đã im lặng Mặc dù vậy, theo HĐTP, bà Hiền đã đồng ý chấp nhận hợp đồng và điều đó được suy luận từ việc bà Hiền yêu cầu thực hiện hợp đồng

2) Bên giữ im lặng trong quá trình giao kết hợp đồng tiếp nhận việc thực hiện hợp đồng của bên kia và cũng tiến hành thực hiện hợp đồng từ phía mình.

VD: Theo Quyết định số 38/GĐT-DS ngày 29/03/2004 của Tòa dân sự TANDTC, vào ngày 03/01/2003, anh Nguyên ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất thuộc sở

hữu của hai vợ chồng anh cho vợ chồng anh chị Kỷ, Lộc Theo TANDTC, “Việc lập hợp đồng chuyển nhượng diện tích đất trên tuy không có mặt của chị Bá (vợ anh Nguyên) nhưng căn cứ vào biên bản giám định và lời khai của chị Bá thì trong quá trình thực hiện hợp đồng, chị Bá đã tham gia nhận tiền hai lần Mặt khác, tháng 06/2001, khi vợ chồng chị Bá, anh Nguyên chuyển về TP HCM đã bàn giao toàn bộ nhà, đất và tài sản khác cho

vợ chồng chị Kỷ, anh Lộc Như vậy có cơ sở khẳng định chị Bá biết và cũng đồng ý chuyển nhượng quyền sử dụng đất trên cho vợ chồng chị Kỷ, anh Lộc”.

3) Bên giữ im lặng trong quá trình giao kết biết rõ việc thực hiện hợp đồng nhưng không có phản đối gì.

VD: Theo Quyết định số 27/2003/HĐTP-DS ngày 26/08/2003 của HĐTP TANDTC: “Năm 1991 và 1993, ông Quang đã bán ao, đất vườn Ông Khánh, bà Vân,

Trang 4

ông Tuyến và cụ Lạc (đồng thừa kế) có biết và được nhận tiền bán đất từ ông Quang mà không có ý kiến gì Nay các ông, bà này yêu cầu được chia thừa kế lại, Tòa án cấp phúc thẩm chấp nhận yêu cầu của họ là chưa đủ căn cứ” Ở đây, theo TANDTC, người giữ im lặng trong quá trình giao kết hợp đồng biết hợp đồng và không có ý kiến gì thì có nhiều khả năng họ đồng ý chấp nhận hợp đồng

4) Dựa vào lời khai của bên giữ im lặng trong quá trình giao kết hợp đồng khi lời khai này cho thấy rằng người giữ im lặng đã đồng ý hợp đồng.

VD: Theo Bản án số 228/DSPT ngày 02/02/2005 của TAND TP HCM, ông Xáng ký giấy chuyển quyền sử dụng đất cho vợ chồng ông Đức, bà Hạnh nhưng không có chữ ký của

bà Muống – vợ ông Xáng Theo TAND TP HCM: “Mặc dù bà Muống không ký tên trên hợp đồng chuyển quyền sử dụng đất cho ông Đức, bà Hạnh nhưng tại tờ trình của ông Xáng, bà Muống lập ngày 15/01/2002 và tại các biên bản lời khai của Tòa án lập vào các ngày 20/11/2002, ngày 25/09/2003 đều thể hiện việc bà Muống cùng ông Xáng đồng ý chuyển quyền sử dụng đất cho ông Đức, bà Hạnh, sau đó lại đổi ý Do đó, việc Tòa án xác định bà Muống phải liên đới cùng ông Xáng chịu trách nhiệm về các giao dịch chuyển quyền sử dụng đất đối với ông Đức, bà Hạnh là phù hợp với quy định…”

Như vậy, dựa vào những lời khai sau khi hợp đồng được giao kết mà Tòa án xác định bên không ký vào hợp đồng đã chấp nhận hợp đồng

Tham khảo tham luận của Tòa DS TANDTC tại hội nghị tổng kết ngành tòa án năm 2008: “Trên thực tế có nhiều trường hợp người quản lý tài sản chung (một trong các đồng chủ sở hữu) chuyển nhượng tài sản thuộc sở hữu chung nhưng không có đủ các đồng chủ

sở hữu tham gia ký kết văn bản chuyển nhượng hoặc sự đồng ý bằng văn bản của các chủ

sở hữu chung khác Tuy nhiên, có căn cứ xác định là những chủ sở hữu chung này đồng ý việc chuyển nhượng đó, sau này do giá trị tài sản tăng lên hoặc vì một lý do nào đó, nên những chủ sở hữu chung này và cả người trực tiếp giao kết hợp đồng chuyển nhượng tài sản đã lợi dụng việc khi chuyển nhượng tài sản không được sự đồng ý bằng văn bản của các chủ sở hữu chung khác để yêu cầu tuyên bố giao dịch vô hiệu Trong trường hợp này, Tòa dân sự cho rằng cần phải xác định đã có sự thống nhất ý chí của các đồng chủ sở hữu

về việc chuyển nhượng nên hợp đồng không vô hiệu do vi phạm điều kiện về ý chí của các đồng chủ sở hữu.”2

2 Đỗ Văn Đại, Luật hợp đồng Việt Nam – Bản án và Bình luận bản án, Nxb Chính trị Quốc Gia 2013, bản án số 15-17

Trang 5

5) Nếu đề nghị giao kết hợp đồng được đưa ra hoàn toàn vi lợi ích của bên được đề nghị thì sự im lặng cũng được suy luận là chấp nhận

VD: Theo Bản án số 1171/2006/DS-PT ngày 16-11-2006 của TAND TP.HCM, tại phần xét thấy, HĐXX đã nêu: “khi ông Tuấn đưa bản cam kết ngày 10/12/2005 cho bà Bách thì phía bà Bách, ông Truyền chấp nhận và không có phản hồi vì quyền và nghĩa vụ dân

sự của vợ chồng bà Bách, ông Truyền đối với ông Tuấn trong việc xây dựng căn nhà 142A, tổ 195, đường Tân Sơn của bà Bách, ông Truyền đã chấm dứt”; “hợp đồng tặng cho giữa ông Tuấn với vợ chồng bà Bách, ông Truyền đã hoàn tất” Tòa phúc thẩm đã theo hướng công nhận sự tồn tại của hợp đồng (tặng cho) giữa ông Tuấn và bà Bách, ông Truyền Tuy nhiên, các lập luận của Tòa rất khó hiểu Ở đây, Tòa án đã theo hướng im lặng chính là sự trả lời chấp nhận, nhưng không có văn bản nào hiện nay ghi nhận im lặng trong giao kết hợp đồng khi các bên không có thỏa thuận về vấn đề này và các bên cũng chưa có thói quen về nội dung này

Câu 6: Chị Linh có biết, có phản đối việc chuyển nhượng trên không?

Trong bản án vẫn chưa xác định được chị Linh có biết về chuyển nhượng hay không Bởi trong các hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất nêu trên mới chỉ có chữ kí của anh Đạt

Câu 7: Theo Tòa dân sự Tòa án nhân dân tối cao trong vụ việc được bình luận, nếu chị Linh biết và không phản đối việc chuyển nhượng thì có được coi là chị Linh đồng ý không? Đoạn nào của Quyết định cho câu trả lời?

Trong phần Xét thấy, theo Tòa dân sự Tòa án nhân dân tối cao, nếu chị Linh biết

và không phản đối việc thế chấp thì phải coi chị Linh cũng đồng ý việc chuyển nhượng, điều này được thể hiện ở đoạn: “…Tuy nhiên, khối tài sản anh Đạt thế chấp cho Ngân hàng là tài sản chung của anh Đạt và chị Linh (vợ của anh Đạt), nhưng các hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất nêu trên mới chỉ có chữ ký của anh Đạt nên cũng cần phải xem xét chị Linh có biết việc chuyển nhượng hay không? Nếu chị Linh biết mà không phản đối thì phải coi chị Linh cũng đồng ý việc chuyển nhượng Nếu chị Linh không biết và không đồng ý chuyển nhượng thì cần phải căn cứ vào quy định của pháp luật để giải quyết…

Câu 8: Hướng giải quyết trên của Tòa dân sự đã có tiền lệ chưa? Cho biết tiền lệ mà anh/chị biết.

Trang 6

Hướng giải quyết của Tòa dân sự đã có tiền lệ.Theo Quyết định số 27/2003/HĐTP-DS ngày 26/08/2003 của HĐTP TANDTC: “Năm 1991 và 1993, ông Quang đã bán ao, đất vườn Ông Khánh, bà Vân, ông Tuyến và cụ Lạc (đồng thừa kế) có biết và được nhận tiền bán đất từ ông Quang mà không có ý kiến gì Nay các ông, bà này yêu cầu được chia thừa kế lại, Tòa án cấp phúc thẩm chấp nhận yêu cầu của họ là chưa đủ căn cứ” Ở đây, theo TANDTC, người giữ im lặng trong quá trình giao kết hợp đồng biết hợp đồng và không có ý kiến gì thì có nhiều khả năng họ đồng ý chấp nhận hợp đồng

Câu 9: Suy nghĩ của anh/chị về vai trò của im lặng trong giao kết hợp đồng ở Việt Nam.

Quan điểm 1:

 Vai trò của im lặng trong giao kết hợp đồng ở Việt Nam không đủ để suy luận đồng

ý hay không đồng ý chấp nhận hợp đồng

 Theo quy định tại khoản 2 Điều 393 BLDS 2015, chỉ thừa nhận một trường hợp im lặng nghĩa là đồng ý giao kết hợp đồng khi đáp ứng được điều kiện là có sự thỏa thuận giữa người đề nghị và người được đề nghị “im lặng là sự trả lời chấp nhận giao kết” hợp đồng hoặc một thói quen đã hình thành từ rất lâu giữa 2 bên Đây là quy định duy nhất của Bộ luật Dân sự về giá trị của im lặng trong quá trình giao kết hợp đồng Trong thực tế không phải lúc nào các bên cũng thoả thuận im lặng có giá trị như chấp nhận hợp đồng mà phần lớn giao dịch đều không có thoả thuận như vậy

và các cơ quan tư pháp cũng không định nghĩa rõ thế nào là “thói quen” được xác hình thành giữa 2 bên Nên trong thực tiễn pháp lý Việt Nam, sự im lặng không đủ

để khẳng định việc chấp nhận hợp đồng

Quan điểm 2:

 Im lặng trên mặt lý thuyết tuy là không thể hiện bất cứ điều gì (trừ khi có thỏa thuận), nhưng trên mặt thực tiễn, sự im lặng là sự trả lời chấp nhận giao kết hợp

đồng trong một thời hạn do các bên thỏa thuận Theo quan điểm cá nhân, em cho rằng im lặng không thể hiện sự chấp thuận hay từ chối thỏa thuận dưới bất cứ trường hợp nào Việc chấp thuận hay từ chối giao kết hợp đồng sẽ thể hiện đầy đủ

ý chí của bên nhận được lời đề nghị khi và chỉ khi bên nhận được thể hiện ý chí của mình thông qua một hành vi biểu hiện cụ thể Hơn nữa việc suy đoán im lặng là trả lời giao kết hợp đồng sẽ gây sự rủi ro pháp lí cho bê đề nghị cũng như bên được đề nghị Với những trường hợp không trả lời được do trở ngại khách quan hay do năng lực của chủ thể khiến việc trả lời không thực hiện được thì việc bên còn lại suy đoán

Trang 7

im lặng của bên kia là sự chấp thuận và thực hiện hợp đồng sẽ gặp nhiều rủi ro pháp

lí Hơn thế nữa, bên đề nghị được quy định trong đề nghị xem xét việc bên kia im lặng khi hết thời hạn xác đồng ý là vi phạm đến quyền tự do hợp đồng Các chủ thể

có quyền tự do giao kết hợp đồng và có quyền tự do không giao kết Hơn nữa, bên nhận lời đề nghị không có nghĩa vụ phải đáp trả lại lời đề nghị giao kết hợp đồng của bên đề nghị Việc quy định sự im lặng là sự trả lời chấp nhận giao kết hợp đồng trong một thời hạn do các bên thỏa thuận vô hình trung khiến quyền tự do hợp đồng không được thực hiện một cách trọn vẹn

Trang 8

Vấn đề 2: Đối tượng của hợp đồng không thể thực hiện được

Câu 1: Những thay đổi và suy nghĩ của anh về những thay đổi giữa BLDS 2015 và BDLDS 2005 về vấn đề đang được nghiên cứu.

Điểm khác biệt giữa Điều 411 BLDS 2005 và Điều 408 BLDS 2015: Thay cụm từ “ngay

từ khi kí kết” bằng “ngay từ khi giao kết” và bỏ cụm từ “vì lý do khách quan”

 BLDS 2005 sử dụng cụm từ “kể từ khi ký kết” nên phạm vi điều chỉnh hẹp vì ký kết chỉ phù hợp với hợp đồng được xác lập bằng văn bản Quy định này được áp dụng cho hợp đồng lập bằng văn bản hay hình thức khác nên cụm từ trên đã được thay đổi bằng “kể từ khi giao kết” trong BLDS 2005

 BLDS 2015 đã khắc phục được sự cứng nhắc của BLDS 2005 khi chỉ quan tâm đến nguyên nhân khách quan gây ra việc trong hợp đồng có đối tượng không thể thực hiện được mà bỏ qua nguyên nhân chủ quan.Từ đó, tạo điều kiện cho hợp đồng có thể diễn ra suôn sẻ, nhanh chóng, thuận lợi hơn.Trong thực tiễn đã xuất hiện nhiều

vụ việc xuất hiện đối tượng trong hợp đồng không thể thực hiện ngay từ đầu xuất phát từ nguyên nhân chủ quan

Ví dụ: Theo Bản án số 04/2007/KDTM-ST của TAND thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai “các bên thừa nhận rằng, thực tế thị trường có rất nhiều loại máy đào mang nhãn hiệu Hitachi Thế nhưng, tại văn bản của hợp đồng nêu trên, các bên không thể hiện một cách rõ rảng về đối tượng của hợp đồng là tài sản phải giao Cụ thể, tại văn bản của hợp đồng, các bên không thể hiện về việc bên bán phải giao cho bên mua chiếc máy đào nhãn hiệu Hitachi được sản xuất năm nào; không thể hiện về quy cách, chất lượng (…) Thấy rằng, các bên không chứng minh được là đã có thỏa thuận rõ ràng, chi tiết với nhau về đối tượng của hợp đồng là tài sản phải giao, giữa các bên lại không có thói quen được thiết lập Chính vì vậy, HĐXX xác định, đây là một hợp đồng có đối tượng không thể thực hiện được (…)”.3

 BLDS 2015 vẫn chưa khắc phục những điểm còn hạn chế của BLDS 2005 là:

 Việc cho phép áp dụng Khoản 1 vào trường hợp được nêu vào Khoản 3 là một sự sửa đổi có thể gây tranh cãi Việc Toà tuyên bố một hợp đồng bị vô hiệu vì có một đối tượng không thể thực hiện được mặc dù trong hợp đồng vẫn còn những đối tượng có thực thực hiện được, vẫn có hiệu lực thì có thể gây thiệt hại đến lợi ích của

1 trong 2 bên Nên xem xét hợp đồng vô hiệu từng phần theo Điều 130 BLDS 2015

3 Đỗ Văn Đại, Luật hợp đồng Việt Nam – Bản án và Bình luận Bản án, Nxb Hồng Đức – Hội Luật gia Việt Nam

2017 (xuất bản lần thứ sáu, có sửa chữa, bổ sung), trang 776.

Trang 9

Việc hợp đồng vô hiệu toàn phần chỉ nên được đưa ra xem xét khi đối tượng không thể thực hiện trong hợp đồng là yếu tố cơ bản và quan trọng của hợp đồng, cân bằng quyền và lợi ích của cả 2 bên

 Trong những hợp đồng mà Toà xét thấy có (những) đối tượng không thể thực hiện được thường có đặt cọc Vấn đề đặt ra là cần xử lý số tiền cọc này như thế nào

 Hiện nay chưa qui định nào về thời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng vô hiệu Theo ý kiến của PGS.TS Đỗ Văn Đại – Trưởng khoa Luật Dân sự ĐH Luật TP.HCM: “Do lý do hợp đồng trong trường hợp này rất đặc biệt là “ đối tượng không thể thực hiện” nên sẽ thuyết phục hơn khi chúng ta theo hướng thời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng vô hiệu là không bị giới hạn”4 Tuy nhiên, ở chiều ngược lại, một số chuyên gia lại có ý kiến cho rằng: “ngoài những trường hợp đã quy định trên thì còn những loại hợp đồng vô hiệu khác không có quy định thời hiệu

cụ thể, cần áp dụng quy định về thời hiệu khởi kiện chung của Bộ luật tố tụng dân sự” 5

Câu 2: Một bên có thể yêu cầu tuyên bố hợp đồng trên vô hiệu trên cơ sở Điều 408 BLDS 2015 không?

 Dưới góc độ văn bản:

 Trong hợp đồng này, việc hai bên không nêu rõ số hiệu máy cũng như tình trạng của máy dẫn đến việc không thể thống nhất về máy phải giao là do lỗi “chủ quan” của cả hai bên Trong khi trên thị trường có rất nhiều loại máy đào hiệu Hitachi, bên bán phải cung cấp rõ năm sản xuất, quy cách, chất lượng, công suất, số khung, số máy cho bên mua

 Đây là việc mà bên bán “phải biết” theo quy đinh tại Điều 34 Luật thương mại 2005:

“(1) Bên bán phải giao hàng, chứng từ theo thỏa thuận trong hợp đồng về số lượng, chất lượng, cách thức đóng gói, bảo quản và các quy định khác trong hợp đồng; (2) Trường hợp không có thỏa thuận cụ thể, bên bán có nghĩa vụ giao hàng và chứng từ liên quan theo quy định của Luật này”

Như vậy, nhìn từ góc độ văn bản thì có thể yêu cầu tuyên bố hợp đồng trên vô hiệu trên

cơ sở Điều 408 BLDS

4 Đỗ Văn Đại, Luật hợp đồng Việt Nam – Bản án và Bình luận Bản án, Nxb Hồng Đức – Hội Luật gia Việt Nam

2017 (xuất bản lần thứ sáu, có sửa chữa, bổ sung), trang 778.

5 Chu Xuân Minh, Tài liệu tập huấn về thi hành Bộ luật dân sự và Bộ luật tố tụng dân sự, Nxb Chính trị quốc gia,

Hà Nội, 2008, tr.155

Trang 10

Dưới góc độ thực tiễn xét xử: Hiện nay, “hợp đồng có đối tượng không thể thực hiện được” là một khái niệm rất khó hiểu Bởi vì thông thường chúng ta nói “hợp đồng không thể thực hiện được” hay “thực hiện hợp đồng” chứ không nói đến “thực hiện đối tượng của hợp đồng” Và thực tiễn cũng cho thấy, vì không có bất kỳ văn bản nào làm rõ khái niệm trên, Tòa án đã áp dụng khá thoáng khái niệm “hợp đồng có đối tượng không thể thực hiện được”6 Tuy nhiên, trong một số vụ việc, Tòa dân sự đã theo hướng nếu các bên không đạt được thỏa thuận về đối tượng của hợp đồng thì hợp đồng vô hiệu.7

Vấn đề 3: Xác lập hợp đồng giả tạo và nhằm tẩu tán tài sản

Đối với vụ việc thứ nhất

Câu 1: Thế nào là giả tạo trong xác lập giao dịch?

Điều 124 BLDS 2015 quy định:” 1 Khi các bên xác lập giao dịch dân sự một cách giả

tạo nhằm che giấu một giao dịch dân sự khác thì giao dịch dân sự giả tạo vô hiệu, còn giao dịch dân sự bị che giấu vẫn có hiệu lực, trừ trường hợp giao dịch đó cũng vô hiệu theo quy định của Bộ luật này hoặc luật khác có liên quan;2 Trường hợp xác lập giao dịch dân sự giả tạo nhằm trốn tránh nghĩa vụ với người thứ ba thì giao dịch dân sự đó vô hiệu.

 Như vậy, có thể hiểu một cách ngắn gọn, giả tạo trong xác lập giao dịch là việc thực hiện giao dịch mà trong đó việc thể hiện ý chí ra bên ngoài khác với ý chí nội tâm

và kết quả thực hiện của các bên tham gia giao dịch

 Có hai loại giao dịch dân sự giả tạo:

o Thứ nhất, giao dịch được xác lập để che giấu một giao dịch dân sự khác Ví dụ: A bán cho B một căn nhà, các bên thỏa thuận giá trị của ngôi nhà là 1.750.000.000 đồng Nhưng hai bên đã lập một hợp đồng trong đó chỉ ghi giá trị của ngôi nhà là 750.000.000 đồng để gian lận việc nộp phí trước bạ sang tên Như vậy, hợp đồng ghi giá trị ngôi nhà là 750.000.000 đồng bị coi là hợp đồng giả tạo

6 Ví dụ, theo Bản án số 672/2007/DSPT ngày 25-6-2007 của TAND TP.HCM, Tòa án đã giải quyết theo hướng

“(…) Như vậy ông Hai, bà Nga không còn quyền tái định cư để chuyển nhượng cho bà Trinh Qua đó, xét thấy, vào thời điểm hai bên ký kết hợp đồng sang nhượng quyền tái định cư, có đối tượng không thể thực hiện được Vì vậy, hợp đồng đã bị vô hiệu”

7 Theo Bản án Tòa dân sự đã theo hướng “Nếu bên nhận chuyển nhượng yêu cầu bên chuyển nhượng phải giao thửa đất chuyển nhượng đúng như thỏa thuận trong hợp đồng và theo trích lục bản đồ thửa đất ghi trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; hoặc các bên không thỏa thuận được việc giao nhận thửa đất đúng như hiện trạng trên thực địa

và có tranh chấp, thì phải xác định hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất vô hiệu do có đối tượng không thể thực hiện được theo quy định tại Điều 411 BLDS”

Ngày đăng: 17/09/2020, 17:35

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w