Austin nhấn mạnh nóinăng là một hành động giống như các hành động khác của con người, có điềuđây là hành động được thực hiện bằng lời nói, nó gây ra biến đổi nào đó trongthực tế và ảnh h
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
HÀ THI ̣ HỒNG MAI
HÀNH ĐỘNG HỎI TRONG CA DAO
NGƯỜI VIỆT
LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGỮ VĂN
Trang 2NGHỆ AN - 2013
Trang 3TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
HÀ THI ̣ HỒNG MAI
HÀNH ĐỘNG HỎI TRONG CA DAO
NGƯỜI VIỆT
CHUYÊN NGÀNH: LÍ LUẬN NGÔN NGỮ
MÃ SỐ: 62 22 01 01
LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGỮ VĂN
Người hướng dẫn khoa học:
PGS TS PHẠM HÙNG VIỆT PGS TS PHAN MẬU CẢNH
Trang 4NGHỆ AN - 2013
Trang 5Trong quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận án này, chúng tôi đãnhận được sự hướng dẫn, giúp đỡ tận tình của PGS TS Pha ̣m Hùng Viê ̣t,PGS TS Phan Mâ ̣u Cảnh, các thầy giáo, cô giáo trường Đại học Vinh, cácthầy cô và bạn đồng nghiệp Viê ̣n Khoa ho ̣c Giáo du ̣c Viê ̣t Nam Chúng tôixin bày tỏ lòng biết ơn chân thành, sâu sắc đến quý thầy cô và các bạnđồng nghiệp.
Chúng tôi rất mong muốn được tiếp thu những ý kiến nhận xét, chỉ dẫncủa các thầy giáo, cô giáo, của hội đồng chuyên môn và các bạn đồng nghiệp
để khắc phục những thiếu sót, hạn chế để luận án được hoàn thiện hơn
Nghệ An, ngày 10 tháng 9 năm 2013
Người viết
Hà Thi ̣ Hồng Mai
Trang 6Tôi xin cam đoan công trình nghiên cứu này là của riêng tôi Các côngtrình nghiên cứu khác có liên quan và được trích dẫn trong Luận án có chúthích rõ ràng ở phần tài liệu tham khảo Mọi nhận định, kiến giải, kết luận làcủa bản thân, không sao chép từ bất kì một tài liệu nào Nếu có gì sai sót, tôixin chịu hoàn toàn trách nhiệm.
Nghệ An, ngày 10 tháng 9 năm 2013
Người viết
Hà Thi ̣ Hồng Mai
Trang 7
M ÂUỞ Đ ̀ 12
1 Lí do chọn đề tài 12
2 Mục đích nghiên cứu 12
3 Lịch sử nghiên cứu 13
4 Đối tượng, phạm vi, nhiệm vụ nghiên cứu 19
5 Phương pháp nghiên cứu 20
6 Ý nghĩa lí luâ ̣n và thực tiễn của luâ ̣n án 21
7 Bố cu ̣c của luận án 21
Chương 1 C S LÝ THUY TƠ Ở Ế 23
1.1 Hành động ngôn ngữ 23
1.2 Văn hóa giao tiếp và phép li ̣ch sự 35
1.3 Vài nét chung về ca dao người Việt 46
Tiểu kết chương 1 49
Chương 2 PHƯƠNG TIÊN ANH DÂU HINH TH C HÀNH ÔNG H I TRONG CA ̣ Đ ́ Ứ Đ ̣ Ỏ DAO NGƯỜI VI TỆ 51
2.1 Tiểu dẫn 51
2.2.1 Hỏi về người (ai, người nào) 53
2.3 Phụ từ nghi vấn 76
3.1.2 Hành đô ̣ng hỏi - thăm dò ở mảng đề tài tình cảm vợ chồng 98
3.2 Hỏi - Thử tài, giao duyên 100
3.3 Hỏi - Than trách 109
3.4 Hỏi - giãi bày, bày tỏ 116
3.5 Hỏi - chê, phê phán 120
3.6 Hỏi - khuyên 123
3.7 Hỏi - khẳng định 126
Trang 8Tiểu kết chương 3 129
Chương 4 PHÉP L CH S TH HI N QUA HÀNH ÔNG H IỊ Ự Ể Ệ Đ ̣ Ỏ TRONG CA DAO NGƯỜI VI TỆ 131
4.1 Lịch sự và nô ̣i dung giao tiếp 132
4.2 Lịch sự và cấu trúc biểu đạt của hành đô ̣ng hỏi trong ca dao 159
Tiểu kết chương 4 164
K T LU NẾ Ậ 167
TÀI LI U THAM KH OỆ Ả 170
CAC CÔNG TRINH KHOA H C Ã CÔNG BỌ Đ Ố 184
Trang 9HĐNN : Hành đô ̣ng ngôn ngữ
HĐNNGT : Hành đô ̣ng ngôn ngữ gián tiếp
HĐH : Hành đô ̣ng hỏi
HĐOL : Hành đô ̣ng ở lời
HĐOLH : Hành đô ̣ng ở lời hỏi
FTA : Hành đô ̣ng đe do ̣a thể diê ̣n
FFA : Hành đô ̣ng tôn vinh thể diê ̣n
Trang 10TrangBang 2.1 Các H NNGT ̉ Đ được th c hi n thông qua H H trong ca dao ngự ệ Đ ười
Vi tệ 51Bang 2.2 Thông kê s l n xu t hi n c a ph̉ ́ ố ầ ấ ệ ủ ương tiên ánh dâu hinh th c̣ đ ́ ứcua H H trong ca dao ng̉ Đ ười Vi tệ 52Bang 2.3 Thông kê s l n xu t hi n c a các ai t dung ê hoỉ ́ ố ầ ấ ệ ủ đ ̣ ừ đ ̉ ̉
trong ca dao người Viêṭ 53Bang 2.4 Thông kê s l n xu t hi n c a ai t hoi vê ng̉ ́ ố ầ ấ ệ ủ đ ̣ ừ ̉ ̀ ười
qua các H NNGT trong ca dao ngĐ ười Vi tệ 54Xét vai trò c a ủ đạ ừi t nghi v n dung ấ để ỏ ề h i v người trong ca dao tr tinh ữ
có so sánh v i ớ đạ ừi t nghi v n trong ti ng Vi t chúng tôi nh n th y:ấ ế ệ ậ ấ 54 + ai t dung ê hoi vê ngĐ ̣ ừ đ ̉ ̉ ̀ ười xuât hiên nhiêu nhât so v i nh ng dâu hiêu ́ ̣ ̀ ́ ớ ữ ́ ̣hinh th c khác, có m t trong tât ca các H NNGT ứ ặ ́ ̉ Đ được th c hiên thông qua ự ̣
H H Tuy nhiên, khi th c hi n các H NNGT khác nhau thi Đ ự ệ Đ đạ ừ ỉi t ch
ngườ ạ đứi l i ng nh ng v trí khác nhau trong câu v th c hi n nh ng vai ở ữ ị à ự ệ ữtrò khác nhau Ch ng h n:ẳ ạ 54Khi h i - than trách, h i - b y t , ca dao thỏ ỏ à ỏ ường s d ng ử ụ đạ ừi t ai theo mô
th c: Ai + (V1) + (l m) cho / ứ à để + Sp1 + V2 Trong ó, ai thđ ường mang tính phi m ch t i m t ế ỉ ớ ộ đố ượi t ng tr u từ ượng, có th l s ph n, duyên s , có ể à ố ậ ố
th l ông Tr i - ể à ờ đấng t i cao quy t nh s ph n con ngố ế đị ố ậ ười V1 l h nh à à
ng tr c ti p c a ai, h nh ng n y th ng l nh ng h nh ng tiêu c c,
gây h u qu , phi n l y m ậ ả ề ụ à đố ượi t ng Sp1 ph i gánh ch u B i v y, ả ị ở ậ đằng sau câu l c có c u trúc Ai + (V1) l h l y d nh cho ch th tr tinh câu ụ ấ à ệ ụ à ủ ể ữ ởbát (l m) cho / à để + Sp1 + V2 54Khi h i - th m dò, l m quen, ỏ ă à đạ ừi t ai v n ẫ đứng đầu câu v i mô th c: Ai + ớ ứ
V Trong ó, V l các (c m) danh t , (c m) đ à ụ ừ ụ động t , (c m) tính t , th ừ ụ ừ ể
hi n tr ng thái, ho t ệ ạ ạ động c a ai, vi th ai không còn tr u tủ ế ừ ượng v phi m à ế
ch nh h i - than trách hay h i - b y t n a m ã mang tính xác nh ỉ ư ở ỏ ỏ à ỏ ữ à đ đị
B i qua V, Sp2 có th quy chi u ở ể ế đượ đố ược i t ng m Sp1 ang nói t i, v à đ ớ à
vi để ă th m dò, l m quen nên ai ây chính l Sp2.à ở đ à 55+ Trong ti ng Vi t, ế ệ đạ ừi t ai dung để ỏ ề ộ h i v m t m t ngộ ườ à đi n o ó không
rõ, ví d : không bi t ai? nh có nh ng ai? Trong ca dao, ụ ế à ữ đạ ừi t ai, v a ừmang tính phi m ch v a mang tính c th ế ỉ ừ ụ ể 56Bang 2.5 Thông kê s l n xu t hi n c a ai t hoi vê vât, viêc̉ ́ ố ầ ấ ệ ủ đ ̣ ừ ̉ ̀ ̣ ̣
qua các H NNGT trong ca dao ngĐ ười Vi tệ 58Bang 2.6 Thông kê s l n xu t hi n c a ai t hoi vê nguyên nhân, tinh ̉ ́ ố ầ ấ ệ ủ đ ̣ ừ ̉ ̀hinh
qua các H HGT trong ca dao ngĐ ười Vi tệ 60
Trang 11Bang 2.7 Thông kê s l n xu t hi n c a ai t hoi vê sô l̉ ́ ố ầ ấ ệ ủ đ ̣ ừ ̉ ̀ ́ ượng
trong ca dao người Vi tệ 65Bang 2.8 Thông kê s l n xu t hi n c a ai t dung ê hoi vê th i gian̉ ́ ố ầ ấ ệ ủ đ ̣ ừ đ ̉ ̉ ̀ ờqua H H trong ca dao ngĐ ười Vi tệ 69Bang 2.9 Thông kê sô lân xuât hiên cua các ai t chi không gian̉ ́ ́ ̀ ́ ̣ ̉ đ ̣ ừ ̉
qua H H trong ca dao ngĐ ười Vi tệ 72Bang 2.10 Thông kê các c p phu t v ph t nghi vân̉ ́ ặ ̣ ừ à ụ ừ ́
qua H H trong ca dao ngĐ ười Vi tệ 76Bang 2.11 Thông kê s l n xu t hi n c a c p phu t có không;̉ ́ ố ầ ấ ệ ủ ặ ̣ ừ
có ch ng dung ă để ể ệ th hi n các H HGT qua H H trong ca dao ngĐ Đ ười Vi tệ 76Bang 2.12 Thông kê s l n xu t hi n c a các c p phu t ̉ ́ ố ầ ấ ệ ủ ặ ̣ ừ
có được không ho c có ặ đặng không qua H H trong ca dao ngĐ ười Vi tệ 78Bang 2.13 Thông kê s l n xu t hi n c a c p phu t ã ch ả ́ ố ầ ấ ệ ủ ặ ̣ ừ đ ư
qua H H trong ca dao ngĐ ười Vi tệ 79Bang 2.14 Thông kê s l n xu t hi n c a c p phu t còn không;̉ ́ ố ầ ấ ệ ủ ặ ̣ ừ
còn không; còn ch ng qua H H trong ca dao ngă Đ ười Vi tệ 80Bang 2.15 Thông kê s l n xu t hi n c a phu t không qua H H̉ ́ ố ầ ấ ệ ủ ̣ ừ Đ
trong ca dao người Vi tệ 81Bang 2.16 Thông kê s l n xu t hi n c a quan hê t l a chon haỷ ́ ố ầ ấ ệ ủ ̣ ừ ự ̣
qua H H trong ca dao ngĐ ười Vi tệ 83Bang 2.17 Thông kê tiêu t tinh thái ch ng qua hanh ̉ ́ ̉ ừ ă ̀ động hoỉ
trong ca dao người Vi tệ 85Bang 3.1 Thông kê sô l̉ ́ ́ ượng hanh ông hoi - th m dò, lam quen ̀ đ ̣ ̉ ă ̀ 90Bang 3.2 Thông kê nôi dung ô th tai, giao duyên qua H H̉ ́ ̣ đ ́ ử ̀ Đ
trong ca dao người Vi tệ 101Bang 3.3 Thông kê H H - giãi bay, bay to trong ca dao ng̉ ́ Đ ̀ ̀ ̉ ười Vi tệ 116
Trang 12MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
So với các chuyên ngành khác của ngôn ngữ học như từ vựng học, ngữ
âm học, ngữ pháp học thì ngữ dụng học là một chuyên ngành còn rất non trẻ.Hơn ba thập kỉ gần đây, ở nước ta, ngữ dụng học đã có những bước phát triểnnhanh chóng, mạnh mẽ Đó là một chuyên ngành nghiên cứu gắn ngôn ngữvào hoạt động giao tiếp của con người, trong đó hoạt động giao tiếp phổ biếnnhất, căn bản nhất là hội thoại
Trong ngữ dụng học, hành đô ̣ng ngôn ngữ chiếm một vị trí đặc biệt Nó làxương sống của bộ môn khoa học này Để thấy hết vai trò của nó đã có ý kiếncho rằng bản thân cuộc sống dường như phần lớn là do các hành đô ̣ng ngôn ngữtạo nên Chính vì vai trò quan trọng của hành đô ̣ng ngôn ngữ, nên kể từ khi xuấthiện, lí thuyết về hành đô ̣ng ngôn ngữ đã được ứng dụng vào nghiên cứu nhiềulĩnh vực của hoạt động giao tiếp và đã mang lại những kết quả đáng kể
Ca dao là một thể loại văn học dân gian rất có giá trị trong kho tàng vănhọc của dân tộc ta Từ lâu, ca dao Việt Nam đã được nhiều nhà nghiên cứuchú trọng đến Nhiều công trình nghiên cứu có giá trị đã giúp cho người đọc
có được cái nhìn đa diện đối với ca dao Mặc dù vậy, việc nghiên cứu ca daodưới góc độ ngôn ngữ học còn ít, trong đó, việc vận dụng lý thuyết về ngữdụng học vào nghiên cứu văn học dân gian, cu ̣ thể với thể loại ca dao vẫn làmột vấn đề còn khá mới mẻ Trước tình hình như vậy, việc vận dụng lí thuyết
về hành đô ̣ng ngôn ngữ, cụ thể là hành đô ̣ng hỏi, vào nghiên cứu ca dao sẽ cónhững đóng góp mới cho việc nghiên cứu về ca dao người Việt
Xuất phát từ những lý do trên, chúng tôi chọn: “Hành đô ̣ng hỏi trong ca
dao người Việt” làm đề tài nghiên cứu.
2 Mục đích nghiên cứu
Trang 13Trên cơ sở lí thuyết ngữ dụng học, tiến hành nghiên cứu đề tài này,luận án nhằm mục đích: làm rõ các đặc điểm của hành đô ̣ng hỏi trong ca daotrên các phương diện: hình thức, nội dung, văn hóa ứng xử, trong đó nổi bật làphép lịch sự
3 Lịch sử nghiên cứu
Theo Đỗ Hữu Châu thì trong lịch sử ngôn ngữ học, chưa từng có mộtchuyên ngành ngôn ngữ học miêu tả đồng đại nào lại lôi cuốn được nhiều nhàngôn ngữ học vào vòng xoáy của mình trong một thời gian ngắn như ngữdụng học
3.1 Trên thế giới, ngữ dụng học xuất hiện từ nửa đầu thế kỷ XX gắnvới hàng loạt công trình nghiên cứu có đề cập đến hành đô ̣ng ngôn ngữ của
các tác giả như: J.L Austin (1962, How to do thing with words), J.R Searle (1969, Speech Acts), Vender (1972), Katz (1977), Ballmer và Brenestuhl (1981), Weirzbicka (1987, English Act Verbs), George Yule (1996,
Pragmatics), v.v.
J.L Austin, nhà triết học thuộc trường phái triết học “theo nội hàm”(intentionlist) là người đầu tiên đưa ra quan niệm về “hành động ngôn từ”(speech act) Ông đã trình bày quan niệm này tại trường đại học Harvard vànhững quan niệm này đã được in thành sách “How to do thing with words”năm 1962 sau khi ông mất Ông đã phát triển một mệnh đề rất quan trọng “khitôi nói tức là tôi hành động” (when I say, ( ) I do) Austin nhấn mạnh nóinăng là một hành động giống như các hành động khác của con người, có điềuđây là hành động được thực hiện bằng lời nói, nó gây ra biến đổi nào đó trongthực tế và ảnh hưởng đến đối tượng tiếp nhận
Là ho ̣c trò của Austin, John Searle (1969) đã tiếp tục phát triển lí thuyếthành động ngôn từ của Austin Trong cuốn sách rất nổi tiếng của mình
(“Speech acts”), ông cho rằng cần phải xác lập cho được một hệ thống tiêu chí
trước khi đưa ra kết quả phân loại các hành động ngôn từ Searle đã đưa ra 12
Trang 14tiêu chí, trong đó 4 tiêu chí quan trọng nhất là: Đích tại lời (illocutionary point), Hướng khớp ghép lời - hiện thực (direction of fit), Trạng thái tâm lí
được biểu hiện, Nội dung mệnh đề.
Quan điểm của J L Austin và J R Searle sau đó đã được nhiều nhànghiên cứu tiếp tu ̣c phát triển và ứng du ̣ng vào thực tế nghiên cứu ngôn ngữ
Ở Việt Nam, lí thuyết về ngữ du ̣ng ho ̣c đã được Đỗ hữu Châu giới thiệu
trong cuốn Đại cương Ngôn ngữ học tập II - Nhà xuất bản Giáo dục, 1993 (Đỗ
Hữu Châu và Bùi Minh Toán biên soạn)
Công trình của Nguyễn Đức Dân: Ngữ dụng học tập I NXB Giáo dục
-1998 đã nêu những cơ sở lí thuyết cơ bản về ngữ du ̣ng ho ̣c, trong đó có các vấnđề liên quan đến hành đô ̣ng ngôn ngữ
Tác giả Diệp Quang Ban và nhóm cộng sự đã biên dịch cuốn Dụng học
của G.Yule (2003) Trong tác phẩm này, khi nghiên cứu về hành động ngôn ngữ
và sự kiện nói, G Yule cho rằng các hành động được thực hiện bằng các phátngôn được gọi chung là hành động ngôn ngữ (speech acts), trong bất kỳ trườnghợp nào, hành động được tạo ra bằng cách phát ra một phát ngôn cũng đều gồm
ba hành động liên quan nhau: hành động tạo ngôn (locutionary act), hành độngngôn trung (illocutionary act) và hành động dụng ngôn (perlocutionary act)
G Yule cũng đi sâu nghiên cứu các phương tiện chỉ ra lực ngôn trung, phân loạihành động ngôn ngữ trực tiếp và hành động ngôn ngữ gián tiếp
Nguyễn Thiện Giáp với tác phẩm Dụng học Việt ngữ (2000) đã góp phần
giải đáp nhiều vấn đề của lí thuyết ngữ du ̣ng ho ̣c khi ứng du ̣ng vào nghiên cứutiếng Việt
Nguyễn Văn Hiệp (2008) trong cuốn Cơ sở ngữ nghĩa phân tích cú
pháp khi trình bày về nghĩa mục đích phát ngôn (một trong bốn cơ sở ngữ
nghĩa của việc phân tích và miêu tả cú pháp câu tiếng Việt: nghĩa miêu tả,nghĩa tình thái, nghĩa chủ đề, nghĩa mục đích phát ngôn) đã trình bày những
Trang 15vấn đề cơ bản về lí thuyết hành động ngôn từ của Austin, phân loại hành độngngôn từ
3.2 Trên đây là mô ̣t số công trình lí thuyết về ngữ dụng học Các côngtrình nghiên cứu về các vấn đề cụ thể của ngữ dụng ho ̣c như các loại hành
đô ̣ng ngôn ngữ ở Việt Nam cho đến nay cũng đã có khá nhiều, chủ yếu là cácluận án tiến sĩ và luận văn thạc sĩ, tâ ̣p trung vào các hướng sau:
3.2.1 Nghiên cứu các hành đô ̣ng ngôn ngữ như một sự kiện lời nóitrong tương tác hội thoại Có thể kể đến một số công trình nghiên cứu sau:
● Cặp thoại điều khiển trong sự kiện lời nói điều khiển của Trịnh Thanh
Hà [44] Công trình đã xây dựng các biểu thức ngữ vi tương ứng với nhómhành vi điều khiển, đồng thời nghiên cứu các thành phần mở rộng trong cácphát ngôn điều khiển với tư cách là tham thoại dẫn nhập trong sự kiện lời nóiđiều khiển, đặc biệt đề cập đến các tham thoại hồi đáp cho tham thoại dẫnnhập trong các sự kiện lời nói điều khiển đồng thời nghiên cứu tham thoạitiền dẫn nhập và tham thoại kết thúc trong sự kiện lời nói này
● Cặp thoại thỉnh cầu (xin) trong sự kiện lời nói thỉnh cầu của Nguyễn
Thị Vân Anh Tác giả đã mô tả khái quát cấu trúc của biểu thức ngữ vi xintường minh, nguyên cấp và 4 dạng của biểu thức ngữ vi xin gián tiếp Đặthành vi xin trong cặp thoại xin, luận án đã chỉ ra 7 dạng tham thoại tiền dẫnnhập mở đầu cho SKLN xin, 4 dạng hồi đáp tích cực, 4 dạng hồi đáp tiêu cựckết thúc SKLN xin Hiệu quả của hành vi xin đối với thể diện của Sp1 và Sp2
cả về thể diện âm tính và thể diện dương tính, những biện pháp lịch sự màSp1 và Sp2 dùng để giảm bớt tính đe dọa thể diện của hành vi này cũng dãđược xem xét khá kĩ trong công trình
● Nghi thức lời nói tiếng Việt hiện đại qua các phát ngôn chào, cảm
ơn, xin lỗi của Phạm Thị Thành [127] Công trình đã miêu tả cụ thể, tỉ mỉ
các biểu thức ngôn ngữ thể hiện trong các hành vi chào, cảm ơn, xin lỗi củangười Việt
Trang 16● Sự kiện lời nói chê trong tiếng Việt (cấu trúc và ngữ nghĩa) của
Nguyễn Thị Hoàng Yến [160] Trong công trình này, tác giả đã khái quát môhình của các biểu thức ngữ vi chê tường minh, biểu thức ngữ vi chê nguyêncấp, biểu thức ngữ vi chê gián tiếp Tác giả đặt hành vi chê vào đơn vị hộithoại lớn hơn là một sự kiện lời nói chê để tìm ra một số dạng tham thoại dẫnnhập, tiền dẫn nhập, hồi đáp và tham thoại kết thúc tiêu biểu trong các sự kiệnlời nói chê Đồng thời quy sự kiện lời nói chê về một số dạng cơ bản dựa trênmột số đặc điểm về tính chất và kiểu kết cấu Kết quả khảo sát một nhóm tríthức và sinh viên giúp tác giả đi đến những nhận xét sơ bộ về quan điểm củamột bộ phận trí thức người Việt trong việc sử dụng hành vi chê, quan niệm vềnhững vấn đề nên chê và không nên chê của người Việt
● Hành vi cảm thán và sự kiện lời nói cảm thán trong tiếng Việt của Hà
Thị Hải Yến [159] Tác giả đã tâ ̣p trung nghiên cứu bản chất của hành vi cảmthán trong đơn vi ̣ hô ̣i thoa ̣i là sự kiê ̣n lời nói cảm thán và đi vào xem xét cáchsử du ̣ng hành vi này trong mô ̣t sự kiê ̣n lời noia cu ̣ thể là sự kiê ̣n lời nói cảmthán than khóc người đã mất
● Hành động cho tặng và sự kiện lời nói cho, tặng của Chử Thị Bích
[5] Tác giả đã chỉ ra cấu trúc đơn giản và cấu trúc phức tạp của sự kiện lời
nói cho tặng Tác giả cũng phát hiện cấu trúc cơ bản của tham thoại cho, tặng gồm một hành vi chủ hướng cho, tặng và một hoặc một số hành vi phụ thuộc
đi kèm trong đó hành vi phụ thuộc nêu lí do cho tặng xuất hiện với tần số rất cao Tham thoại hồi đáp cho tham thoại cho, tặng cũng được xem xét ở hai
dạng: hồi đáp tích cực và hồi đáp tiêu cực trong đó hồi đáp tích cực chiếm tỉ
lệ cao trong ngữ liệu Tác giả cũng đã vận dụng lí thuyết lịch sự để tìm hiểu
sự chi phối của nó đối việc việc thực hiện hành vi cho, tặng cũng như việc
tiếp nhận hành vi cho, tặng của người Việt.
● Hành vi nhờ và sự kiện lời nói nhờ trong tiếng Việt của Dương Tuyết
Hạnh [47] Trong công trình này, tác giả đã mô tả khái quát cấu trúc của các
Trang 17biểu thức ngữ vi nhờ và đặt hành vi nhờ trong sự kiện lời nói để phân tích cấu trúc của cặp thoại nhờ với các tham thoại tiền dẫn nhập, tham thoại dẫn nhập
và tham thoại hồi đáp Công trình cũng đã khái quát được một số đặc điểm
của phép lịch sự trong sự kiện lời nói nhờ trong giao tiếp
● Các hành động thuộc nhóm cầu khiến tiếng Việt của Nguyễn Thi ̣
Thanh Ngân [87 ] Tác giả đã xác lập được 11 hành động cầu khiến thiên lí trígồm: lệnh, yêu cầu, cấm, buộc, giao, phân công, cảnh cáo, sai, đe dọa, vòivĩnh, đề nghị, 7 hành động cầu khiến thiên tình cảm gồm: Van, xin, nhờ, nài(năn nỉ), cầu nguyện, dỗ, mời và 8 hành động cầu khiến trung hòa là: khuyên,can, khuyến cáo, hướng dẫn, gợi ý, dặn dò, nhắc nhở, giục Các phân tích cụthể về từng loại hành động trong công trình đã được triển khai theo nhữngtiêu chí về điều kiện thuận ngôn và dấu hiệu ngôn hành
Có thể thấy điểm chung của các công trình nói trên là: đi vào nghiêncứu các vấn đề của một hành vi ngôn ngữ cụ thể, xây dựng cấu trúc của biểuthức ngữ vi tường minh của hành vi ngôn ngữ đó, xác định cấu trúc đặc thùcủa từng sự kiện lời nói với các tham thoại dẫn nhập, tham thoại hồi đáp,bước đầu tìm hiểu sự ảnh hưởng của yếu tố văn hóa đến sự thể hiện hành vingôn ngữ nghiên cứu
3.2.2 Nghiên cứu so sánh đối chiếu hành vi ngôn ngữ giữa tiếng Việtvới một ngôn ngữ khác Một số công trình:
● Một số khác biệt giao tiếp lời nói Việt Mĩ trong cách thức khen và tiếp
nhận lời khen của Nguyễn Văn Quang [110] Tác giả đã đặt hành vi khen và
tiếp nhận lời khen trong sự khảo sát và so sánh để tìm ra sự khác biệt trong việc
sử dụng hành vi này giữa người Việt và người Mĩ Tác giả chủ yếu đi sâunghiên cứu cách sử dụng chứ không mô tả cụ thể cấu trúc của biểu thức ngữ vi
● Sự kiện lời nói cam kết trong hội thoại của Vũ Tố Nga [85] Trong
công trình này, tác giả đã đi sâu nghiên cứu cấu trúc lõi của sự kiện lời nóicam kết, miêu tả kĩ các thành phần tạo nên một tham thoại dẫn nhập cam kết
Trang 18và đặc biệt chú ý đến vai trò của cấu trúc “Nếu…thì” trong việc trì hoãn hiệulực ở lời cam kết của phát ngôn Tác giả bước đầu so sánh cách biểu thị hành
vi cam kết giữa tiếng Việt, tiếng Hàn và tiếng Trung để tìm thấy sự tươngđồng và khác biệt giữa người Việt với người Hàn Quốc và người Trung Quốctrong viê ̣c thể hiê ̣n sự kiê ̣n lời nói cam kết
3.2.3 Nghiên cứu Về hành đô ̣ng hỏi trong tiếng Việt
Có thể dẫn ra một sô công trình nghiên cứu sau:
• Công trình của Nguyễn Thị Thìn [87]: Câu nghi vấn tiếng Việt - Một
số câu nghi vấn thường không dùng để hỏi Công trình đã đưa ra phương pháp
miêu tả mô ̣t số kiểu câu nghi vấn không dùng để hỏi
• Công trình của Lê Đông [37] về Ngữ nghĩa - ngữ dụng câu hỏi
chính danh.
• Công trình của Nguyễn Thị Lương [75] về “Tiểu từ tình thái dứtcâu dùng để hỏi với việc biểu thị các hành vi ngôn ngữ” Tác giả đã dựavào bốn điều kiê ̣n thỏa mãn các hành vi ở lời của Searle để chỉ ra cơ sở xác
đi ̣nh các hành vi gián tiếp do tiểu từ tình thái dứt câu biểu thi ̣ liên quan đếnhành vi hỏi
3.2.4 Nghiên cứu về ca dao
Nghiên cứu về ca dao nói chung và ca dao trữ tình nói riêng cũng đãđược nhiều nhà nghiên cứu chú ý khai thác trên nhiều phương diện như vănhọc dân gian, thi pháp học, ngôn ngữ học, văn hóa học, trong đó không thểkhông kể đến sự đóng góp của các tác giả như:
+ Phan Đăng Nhật với “Tìm hiểu thi pháp học qua Thi pháp ca dao”,
Văn hóa nghệ thuật, Hà Nội, 2005, số 5
+ Hoàng Kim Ngọc (2009) với “So sánh ẩn dụ trong ca dao trữ tình”,NXB Đại học Quốc gia Hà Nội Tác giả đã tiếp cận ca dao trữ tình từ góc nhìncủa lý thuyết giao tiếp ngôn ngữ và phân tích diễn ngôn
Trang 19+ Trần Thị An (1990) với “Về một phương diện nghệ thuật của ca daotình yêu”, Văn hóa dân gian.
+ Phan Huy Dũng (1991) với “Hình thức lấp lửng của lời tỏ tình trongbài ca xin áo”, Văn hóa dân gian
+ Đỗ Thị Kim Liên (2003) với “Cách sử dụng từ xưng hô trong ca daotình yêu”, Ngôn ngữ
Như vâ ̣y, có thể thấy đã có khá nhiều các công trình nghiên cứu về mộthành động ngôn từ cụ thể trong tiếng Việt hoặc so sánh một hành động ngôn
từ trong tiếng Việt với loại hành động đó trong một ngôn ngữ khác Tuynhiên, hành đô ̣ng hỏi trong ca dao gắn với văn hóa giao tiếp người Việt vẫn làmột vấn đề còn khá mới mẻ Trên cơ sở tiếp nhận và kế thừa những thành quảnghiên cứu của các tác giả đi trước, với mong muốn góp phần làm rõ thêmmảng đề tài nghiên cứu một số hành đô ̣ng ngôn ngữ được thể hiện trong mộtthể loại của văn học dân gian là ca dao, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài
“Hành đô ̣ng hỏi trong ca dao người Việt”
4 Đối tượng, phạm vi, nhiệm vụ nghiên cứu
4.1 Đối tượng
Tiếp thu những lí thuyết về ngữ dụng học và văn học dân gian đặc biệt
là thể loại ca dao trữ tình, chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài này gắn với đốitượng cụ thể đó là các bài ca dao có chứa hành đô ̣ng hỏi trong ca dao trữ tìnhViê ̣t Nam (trong “Tổng tập ca dao người Việt” - 2 tâ ̣p, do tác giả Nguyễn XuânKính (Chủ biên)
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Các hành đô ̣ng ngôn ngữ thể hiện trong ca dao rất phong phú Trongphạm vi của một luận án tiến sĩ, chúng tôi tập trung vào một hành đô ̣ng đó làhành đô ̣ng hỏi Với các hành đô ̣ng gián tiếp, chúng tôi chỉ tâ ̣p trung nghiêncứu các hành đô ̣ng ngôn ngữ gián tiếp được thực hiê ̣n thông qua hành đô ̣ng
Trang 20hỏi trong ca dao Viê ̣t Nam và bước đầu tìm hiểu về phép li ̣ch sự qua cáchành đô ̣ng ngôn ngữ gián tiếp đó dưới góc đô ̣ văn hóa (mô ̣t khía ca ̣nh củavăn hóa) giao tiếp của người Viê ̣t.
Trong ca dao, hành đô ̣ng hỏi gắn với các mảng đề tài khác như: mảng
đề tài chống phong kiến, ca ngợi tình yêu quê hương đất nước, tình cảm giađình, tình yêu đôi lứa nhưng trong luâ ̣n án này chúng tôi chỉ tâ ̣p trung vàonhững bài ca dao thuô ̣c mảng đề tài tình yêu đôi lứa và tình cảm vợ chồng
Về nguồn ngữ liê ̣u: có rất nhiều công trình sưu tầm khác nhau về ca dao,trong số đó, chúng tôi dựa vào cuốn “Tổng tập ca dao người Việt” - 2 tâ ̣p, dotác giả Nguyễn Xuân Kính (Chủ biên) để lựa chọn ngữ liệu cho luận án
4.3 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích trên, luận án thực hiện những nhiệm vụ sau:
- Tìm hiểu những vấn đề về lí thuyết có liên quan tới đề tài: lí thuyết vềhành đô ̣ng ngôn ngữ, lí thuyết về hội thoại, về phép lịch sự;
- Thống kê, phân loại hành đô ̣ng hỏi trong ca dao;
- Phân tích, mô tả về nội dung, hình thức và các phương tiê ̣n biểu hiê ̣ncủa hành đô ̣ng hỏi trong ca dao;
- Phân tích, mô tả hành đô ̣ng ngôn ngữ gián tiếp được thực hiê ̣n thôngqua hành đô ̣ng hỏi
- Phân tích, mô tả những đặc điểm về phép lịch sự trong văn hóa ứng
xử của hành đô ̣ng hỏi trong ca dao trữ tình người Việt
5 Phương pháp nghiên cứu
5.1 Phương pháp thống kê phân loại
Chúng tôi dựa vào phương pháp này để thu thập ngữ liệu trong từngvấn đề cụ thể theo đi ̣nh hướng của luâ ̣n án Phương pháp này cũng được sử
du ̣ng để tập hợp định lượng những hiện tượng ngôn ngữ ẩn chứa trong ca dao
Trang 21trữ tình, từ đó có sự phân tích định tính và đưa ra những nhận xét, đánh giáhay những kiến giải phù hợp.
5.2 Phương pháp phân tích diễn ngôn
Phương pháp này lấy xuất phát điểm là hành động hỏi trong ca daongười Viê ̣t gắn liền với hoàn cảnh giao tiếp cu ̣ thể; do vâ ̣y cần phải dựa vàohoàn cảnh cu ̣ thể, vào vi ̣ thế của nhân vâ ̣t tham gia giao tiếp để xác đi ̣nh, miêutả và phân tích cấu trúc, chức năng của hành đô ̣ng hỏi
5.3 Phương pháp miêu tả
Phương pháp miêu tả được sử dụng để miêu tả, phân tích diễn ngôn vớinguồn tư liệu đã lựa chọn, từ đó có những nhận xét, kết luận phù hợp Phươngpháp này tạo nên tính logic, chặt chẽ trong lập luận
Bên ca ̣nh đó, luâ ̣n án còn sử du ̣ng thủ pháp so sánh để làm rõ những
điểm khác biê ̣t của hành đô ̣ng hỏi trong ca dao với hành đô ̣ng hỏi trong hô ̣ithoa ̣i hàng ngày
6 Ý nghĩa lí luâ ̣n và thực tiễn của luâ ̣n án
Việc nghiên cứu đề tài này sẽ giúp khẳng định các đặc điểm về mặthình thức và nô ̣i dung của hành đô ̣ng hỏi trong ca dao trữ tình người Viê ̣t.Nó là cơ sở để hiểu thêm về cách mà người Viê ̣t bày tỏ tâm tư, tình cảm củamình qua ca dao, đồng thời qua đó cũng để hiểu thêm phong tục, tập quán vàcon người của dân tô ̣c Viê ̣t Nam
Mặt khác, kết quả của đề tài sẽ góp thêm một cứ liệu trong lĩnh vựcnghiên cứu về ngôn ngữ và văn hoá, văn học dân gian và văn hoá dân gian;
là nguồn tư liệu tham khảo cần thiết cho việc nghiên cứu và giảng dạy ngữ
du ̣ng ho ̣c, văn học dân gian trong nhà trường góp phần giữ gìn và phát huybản sắc văn hoá dân tô ̣c
7 Bố cu ̣c của luận án
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận án gồm bốn chương:
Trang 22Chương 1: Cơ sở lí thuyết.
Chương 2: Đă ̣c điểm hành đô ̣ng hỏi trong ca dao người Viê ̣t
Chương 3: Hành đô ̣ng gián tiếp được thực hiê ̣n qua hành đô ̣ng hỏi
trong ca dao người Viê ̣t
Chương 4: Phép li ̣ch sự thể hiê ̣n qua hành đô ̣ng hỏi trong ca dao
người Viê ̣t
Trang 23Chương 1
CƠ SỞ LÝ THUYẾT
1.1 Hành động ngôn ngữ
1.1.1 Khái niệm
Giữa những năm 1950, J.L.Austin - nhà triết học người Anh đã trình bày
12 chuyên đề liên quan đến hành động ngôn ngữ (HĐNN) (cũng gọi là hành vingôn ngữ) Ông đã tiến hành phân biệt phát ngôn khảo nghiệm với phát ngônngữ vi và phát hiện ra được bản chất hành động của ngôn ngữ “Khi chúng tanói năng là chúng ta hành động, chúng ta thực hiện một loại hành động đặc biệt
mà phương tiện là ngôn ngữ Một HĐNN được thực hiện khi một người nói(hoặc viết) Sp1 nói ra một phát ngôn U cho người nghe (hoặc người đọc) Sp2trong một ngữ cảnh C” (dẫn theo Đỗ Hữu Châu [13, 446])
J.L.Austin cho rằng có ba loại HĐNN lớn là: hành động tạo lời(locutionary act), hành động mượn lời (perlocutionary act), hành động ở lời(I-llocutionary act)
Hành động tạo lời (HĐTL): “Là hành động sử dụng các yếu tố của
ngôn ngữ như ngữ âm, vốn từ, quy tắc kết hợp để tạo thành những phát ngôn(đúng về hình thức và cấu trúc) hay những văn bản có thể hiểu được” (dẫntheo Đỗ Thị Kim Liên [72, 70]
Hành động mượn lời (HĐML): Là những hành động mượn những
phương tiện ngôn ngữ, hay nói một cách khác, là mượn các phát ngôn đểgây ra một tác động hay hiệu quả ngoài ngôn ngữ đối với người nghe Hiệuquả này không đồng nhất ở những người khác nhau” (dẫn theo Đỗ Thị KimLiên [72, 71])
Ví dụ: Khi nghe thông báo: “Kí túc xá sẽ cắt điện hôm nay để sửa
đường điện”, phát ngôn này sẽ gây ra những phản ứng khác nhau như: một số
Trang 24người sẽ tỏ ra lo lắng nếu mất điện sẽ không có ánh sáng để học, một sốngười lười học thì sẽ tỏ ra vui vì đó là lí do chính đáng để họ đi chơi màkhông phải ngượng với bạn bè, một số người sẽ lo lắng vì việc mất điện sẽ điđôi với việc mất nước và như vậy sẽ không có nước sinh hoạt Đó chính làhiệu quả mượn lời ở phát ngôn trong ví dụ trên.
Như vậy có thể nói HĐML là hành động nhằm gây ra những biến đổitrong nhận thức, trong tâm lí, trong hành động vật lí có thể quan sát được, gây
ra một tác động nào đó đối với ngữ cảnh Hiệu quả mượn lời là những hiệuquả ngoài ngôn ngữ (ngoài diễn ngôn), phân tán, không có tính qui ước vàkhó tìm ra cơ chế Bởi với mỗi một HĐNN, tùy ngữ điệu, tùy hoàn cảnh phátngôn và tùy vào tâm lý của người tiếp nhận lúc đó mà hiệu quả mượn lời cóthể khác nhau
Hành động ở lời (HĐOL): là những hành động người nói thực hiện
ngay khi nói năng Hiệu quả của chúng gây những sự tác động trực tiếpthuộc về ngôn ngữ, gây phản ứng với người nghe Sở dĩ ta gọi là hành động
ở lời là vì khi nói thì ta đồng thời thực hiện luôn một hành động ở trong lời(còn gọi là hành động ở lời, hành động trong lời)” (dẫn theo Đỗ Thị KimLiên [72, 72])
Hiệu quả phát ngôn của Sp1 chính là sự phản ứng của Sp2 bằng câu
“Vâng!”, chấp nhận lời mời, lời đề nghị của Sp2
Ví dụ:
Hỡi người bạn cũ lâu năm, Tình tơ có nhớ nghĩa tằm hay không?
Trang 25Lâu năm thì mặc lâu năm, Tình tơ vẫn nhớ nghĩa tằm không quên.
Trong bài ca dao trên, Sp1 thực hiện hành động hỏi bằng phương tiện
đánh dấu về hình thức là sử dụng cặp phụ từ nghi vấn có hay không để hỏi
Sp2 về việc có nhớ đến tình nghĩa bấy lâu nay hay không Hiệu lực ở lời của
phát ngôn đã được Sp2 đáp lại bằng câu trả lời là vẫn nhớ, không quên
Như vậy, HĐOL có ý định quy ước và có thể chế rõ ràng nhưng quyước và thể chế đó không hiển ngôn mà mọi người trong cộng đồng ngôn ngữđều vẫn ngầm hiểu được quy tắc vận hành của chúng một cách không tự giác.Điều đó cũng có nghĩa là nắm được ngôn ngữ không phải chỉ dừng lại ở việcbiết phát âm, dùng từ, đặt câu mà phải biết sử dụng ngôn ngữ đó theo đúngnhững qui định ở lời mà phát ngôn đó đòi hỏi và tác động gần như buộc vainghe phải hồi đáp lại đối với hành động ở lời trong câu nói ra được gọi là hiệulực ở lời (kí hiệu là F) F là đối tượng quan tâm chính của ngữ dụng học
Theo quan điểm của J.L.Austin thì khái niệm HĐNN được hiểu theonghĩa rộng, bao gồm ba loại hành động - hành động tạo lời, hành động mượnlời và hành động ở lời Nhưng trong một số trường hợp thì HĐNN được hiểutheo nghĩa hẹp hơn, trùng với khái niệm HĐOL Trong luận án này, chúng tôicũng dùng thuật ngữ HĐNN theo nghĩa hẹp
Ba loại hành động: hành động tạo lời, hành động mượn lời, hành động
ở lời được thực hiện một cách thống nhất khi tạo ra một diễn ngôn Tuynhiên, ở phạm vi đề tài này, chúng tôi chỉ khảo sát các bài ca dao người Việttrên văn bản viết (không có môi trường diễn xướng) nên chúng tôi chỉ xemxét, tìm hiểu, nghiên cứu HĐH dưới hình thức hành động ở lời hỏi (HĐOLH)
1.1.2 Điều kiện sử dụng hành động ở lời
Theo tác giả Đỗ Hữu Châu để một hành động nói chung, một HĐNNnói riêng đạt được hiệu quả đúng với đích của nó thì phải thoả mãn các điều
Trang 26kiện sử dụng “Điều kiện sử dụng các hành vi ở lời là những điều kiện màmột hành vi ở lời phải đáp ứng để nó có thể diễn ra thích hợp với ngữ cảnhcủa sự phát ngôn ra nó” [13, 111].
Tác giả Đỗ Thị Kim Liên cho rằng: “Điều kiện sử dụng HĐOL (hành
vi ở lời) là những nhân tố cần thiết cho phép thực hiện một HĐOL nhất địnhtrong một ngữ cảnh giao tiếp cụ thể” [72, 82]
Điều kiện sử dụng các HĐOL theo J.L.Austin là các điều kiện “maymắn” (felicic conditions) vì nếu chúng được bảo đảm thì hành động mớithành công
- Phải có thủ tục có tính quy ước và thủ tục này cũng phải có hiệu quả
có tính quy ước; Hoàn cảnh và con người phải thích hợp với những điều kiệnquy định trong thủ tục
- Thủ tục phải được thực hiện một cách đúng đắn và đầy đủ
- Thông thường thì những người thực hiện hành động ở lời phải có ýnghĩ tình cảm, ý định giống như đã được đề ra trong thủ tục, và khi hànhđộng diễn ra thì ý nghĩ tình cảm, ý định đúng như nó đã có (dẫn theo ĐỗHữu Châu [13, 112])
J.R.Searle gọi HĐOL là điều kiện thoả mãn, bao gồm bốn loại sau:
- Điều kiện nội dung mệnh đề: chỉ ra bản chất nội dung của hành động
- Điều kiện chuẩn bị: bao gồm những hiểu biết của người phát ngôn vềnăng lực, lợi ích, ý định của người nghe và về các quan hệ giữa người nói vàngười nghe
- Điều kiện chân thành: chỉ ra các trạng thái tâm lí tương ứng củangười phát ngôn về năng lực, lợi ích, ý định của người nghe và về các quan hệgiữa người nói và người nghe, như xác tín đòi hỏi niềm tin, mệnh lệnh đòi hỏimong muốn, hứa hẹn đòi hỏi ý định người nói
- Điều kiện căn bản: là điều kiện đưa ra kiểu trách nhiệm mà ngườinói, người nghe bị ràng buộc khi HĐOL đó được phát ra
Trang 27Sở dĩ chúng tôi quan tâm nhiều hơn tới HĐOL và điều kiện sử dụngHĐOL bởi chính các điều kiện sử dụng đó sẽ giúp cho việc nhận diện và phânbiệt các hành động ở lời trực tiếp (HĐOLTT) và hành động ở lời gián tiếp(HĐOLGT)
1.1.3 Hành động ở lời trực tiếp - gián tiếp
Ví dụ:
Sp1: Bác sinh được mấy cháu?
Sp2: Tôi có tất cả ba cháu bác ạ!
Trong phát ngôn trên, Sp1 đã thực hiện HĐOLH, được đánh dấu bằng
phương tiện hình thức là dùng đại từ nghi vấn mấy để hỏi về số lượng (số ít,
đếm được, dưới 10) Xét về các điều kiện sử dụng HĐOL cho thấy phát ngônkhông vi phạm điều kiện nào Với đích ở lời là hỏi, phát ngôn đã mang tới hiệulực của HĐOLH bằng sự phản ứng của Sp2 trả lời và cung cấp cho Sp1 thôngtin về số lượng mà Sp1 muốn biết Như vậy, phát ngôn chúng tôi vừa phân tíchtrên đây đã thực hiện HĐOLH trực tiếp
Ví dụ: Gặp đây anh nắm cổ tay,
Anh hỏi câu này có lấy anh không?
Trong bài ca dao trên, Sp1 đã thực hiện HĐOLH bằng phương tiện
đánh dấu về hình thức là cặp phụ từ nghi vấn có hay không để hỏi về việc có
đồng ý lấy anh không Tuy nhiên, khi xét các điều kiện sử dụng HĐOL chothấy phát ngôn không thỏa mãn đầy đủ 4 điều kiện Sp1 không biết rõ câu trả
Trang 28lời, nhưng Sp1 thực hiện hành động hỏi không hoàn toàn nhằm mục đích đểSp2 cung cấp cho mình thông tin chưa rõ, Sp1 cũng không cố gắng nhậnthông tin đồng ý hay không đồng ý từ Sp2 Sp1 thực hiê ̣n HĐOLH nhưng làđể làm quen, để bông đùa Như vậy, phát ngôn đã vi phạm điều kiện 3 và 4trong các điều kiện sử dụng HĐOL mà Searle đưa ra Từ đó có thể thấy phátngôn trên thực hiện HĐOLH nhưng nhằm mục đích thực hiện hành động giántiếp là làm quen, là bông đùa.
1.1.3.2 Hành động ở lời gián tiếp
Có một nguyên lí đặc biệt của ngôn ngữ đó là: trong nói năng, chúng tatruyền báo nhiều hơn là điều chúng ta nói ra Trong thực tế giao tiếp, một phátngôn thường không phải chỉ có một đích ở lời, mà đại bộ phận phát ngônđược xem như là thực hiện đồng thời một số hành động ở lời
Hiện tượng người giao tiếp sử dụng trên bề mặt HĐOL này nhưng lạinhằm hiệu quả của một HĐOL khác được gọi là hiện tượng sử dụng hànhđộng ngôn ngữ theo lối gián tiếp
Tác giả Đỗ Hữu Châu cũng cho rằng: “Một hành vi được sử dụng giántiếp là một hành vi trong đó người nói thực hiện một hành vi ở lời nàynhưng lại nhằm làm cho người nghe dựa vào những hiểu biết ngôn ngữ vàngoài ngôn ngữ chung cho cả hai người, suy ra hiệu lực ở lời của một hành
vi khác” (dẫn theo Đỗ Hữu Châu [13, 492])
Chẳng hạn một câu hỏi: “Mấy giờ rồi mà con vẫn chưa đứng lên nấu
cơm?” bề ngoài là câu hỏi nhưng thực chất lại là hành động nhắc nhở, đe dọa
của người mẹ đối với con về sự việc con nấu cơm muộn
HĐOLGT lệ thuộc rất nhiều vào ngữ cảnh, vào quan hệ ngữ nghĩa giữacác thành phần của nội dung mệnh đề trong biểu thức ngữ vi trực tiếp với ngữcảnh, vào ý nghĩa trực tiếp của biểu thức ngữ vi trực tiếp Ngoài ra, trong thực
tế, nó còn bị quy định bởi lý thuyết lập luận, các phương châm hội thoại, phép
Trang 29lịch sự, các quy tắc liên kết hội thoại, lẽ thường, Vì vậy, để nhận biếtHĐOLGT, nhất thiết phải vận dụng đến những yếu tố trên.
Ví dụ: - Bé Khánh Linh (phụng phịu): Mẹ ơi! Lớp con các bạn được đi chơi
đi chơi cùng với lớp thì phát ngôn trên lại không chỉ thực hiện HĐOL trầnthuật mà gián tiếp thực hiện HDDOLGT là trách móc: tại mẹ không đăng kícho con đi chơi nên các bạn được đi chơi hết, mỗi mình con không được đi.Chính vì nhận được đích ở lời này của bé nên mẹ bé đã trả lời:
Ôi! Thế à? Mẹ xin lỗi con gái mẹ nhé! Lần sau mẹ sẽ đăng kí cho con đi chơi, được không?
Ngữ nghĩa của các thành phần tạo nên nội dung mệnh đề trực tiếpcàng gắn với các nhân tố của ngữ cảnh bao nhiêu, đặc biệt là gắn với phônghiểu biết chung của người nói và người nghe thì càng có khả năng thực hiệncác HĐOLGT bấy nhiêu
Ví dụ: Lá này gọi lá xoan đào,
Tương tư gọi nó thế nào hở em?
Trong phát ngôn trên Sp1 là nhân vật chàng trai đã thực hiện HĐOLH
bằng phương tiện đánh dấu về hình thức là sử dụng đại từ nghi vấn thế nào, tiểu từ tình thái hở (hả) Dường như lời dẫn dắt “Lá này gọi lá xoan đào” không có gì ăn nhập với câu hỏi phía sau của Sp1 Nhưng nếu đặt trong hoàn
cảnh chàng trai lúc gặp và hỏi cô gái, hai tay chàng vân vê lá xoan đào vì ngạingùng, ngập ngừng khó thốt nên lời thì “lá xoan đào” kia lại trở nên có lí
Trang 30Nhờ cái “lá xoan đào” trong tay mà chàng trai như vô tình được tiếp thêm sứcmạnh để mạnh dạn hỏi người con gái bấy lâu nay mình thầm yêu trộm nhớ:
“Tương tư gọi nó thế nào hở em?” Hỏi chỉ là cái cớ để chàng trai nhắc tới
trạng thái tâm lí của mình với cô gái rằng chàng đang “tương tư” Như vậy, cóthể thấy chàng trai đã đồng thời thực hiện HĐOLGT là bày tỏ, khẳng định
HĐOLH có thể được dùng theo hai cách: trực tiếp và gián tiếp như trên
Ở cách dùng trực tiếp, HĐOLH được sử dụng với mong muốn có được thôngtin mà người nói thực sự chưa biết bằng cấu trúc của câu hỏi đích thực Ởcách dùng gián tiếp, hành động hỏi có thể được dùng để hướng đến hiệu lực ởlời của những hành động khác Theo tác giả Nguyễn Thị Lương trong cuốn
Câu tiếng Việt, hành động hỏi có thể được dùng để ra lệnh, đề nghị, khuyên,
mời, nhắc nhở, từ chối, đề nghị, chê trách, yêu cầu, khẳng định, bác bỏ người đối thoại Tác giả Nguyễn Thị Lương cũng đã đưa ra một số cấu trúchỏi được dùng theo lối gián tiếp như: cấu trúc chào - hỏi; cấu trúc hỏi - dọa,
hỏi - cảnh cáo (Muốn + động từ/ cụm động từ + à/phỏng/không?); cấu trúc hỏi
- phủ định / phản bác (Dễ thường C-V đấy chắc?, A gì mà A?, A đâu mà A?,
Thế mà A à?); cấu trúc hỏi - ra lệnh / dọa / ép (Có A không thì bảo?); cấu trúc
hỏi - thách thức / bất cần (A thì đã sao?).
Tác giả Đặng Thị Hảo Tâm xem xét hành động hỏi trong mối quan hệ vớimột số hành động ngôn từ gián tiếp được thực hiện bằng HĐH Tác giả đã chiaHĐH mang nghĩa hàm ẩn thành hai lớp lớn: (1) HĐH có nghĩa hàm ẩn trongtham thoại dẫn nhập của cặp thoại trung tâm và (2) HĐH có nghĩa hàm ẩn hồiđáp cho tham thoại hồi đáp thuộc cặp thoại trung tâm Ở lớp (1), tác giả cho rằngHĐH có thể được dùng để thực hiện gián tiếp các hành động: thỉnh cầu, phêphán, chê (mỉa, giễu), kết tội Ở lớp (2) HĐH có thể được dùng để thực hiện giántiếp các hành động: từ chối trả lời hồi đáp cho hành động có hiệu lực yêu cầu
Trang 31cung cấp thông tin, từ chối thực hiện hành động hồi đáp cho hành dộng yêucầu thực hiện hành động C và bác bỏ hồi đáp cho hành động trần thuật.
Như vậy, HĐH trong thực tế sử dụng ngôn ngữ có thể được dùng vớinghĩa trực tiếp, cũng có khi được dùng với rất nhiều mục đích gián tiếp khácnhau: trách, phản bác, thách thức, từ chối,… Bằng cách đó, ngôn ngữ pháthuy tối đa được chức năng ngữ nghĩa của các cấu trúc câu, làm nên sự đadạng về ý nghĩa tình thái của chúng
Sử dụng HĐNN theo lối gián tiếp là biện pháp rất có hiệu lực để truyềnbáo các ý nghĩa hàm ẩn, đặc biệt là các ý nghĩa hàm ẩn không tự nhiên dụnghọc Trong thực tế sử dụng, vì nhiều lí do, người nói có thể sử dụng HĐNNnày nhưng lại nhằm đạt đến hiệu lực ở lời của một HĐNN khác Có rất nhiềukiểu HĐNN được dùng theo lối gián tiếp tùy theo hoàn cảnh giao tiếp mà đếnnay chưa thể tổng kết thành quy tắc sử dụng
Trong quá trình tiến hành khảo sát, ngữ liệu cho đề tài, chúng tôi vậndụng lý thuyết về HĐNN nói chung, gắn với văn hóa giao tiếp, ứng xử để tìmhiểu về những nét đặc trưng nhất qua HDDOLGT của HĐH trong ca dao trữtình người Việt
1.1.4 Hành động hỏi
Việc xác định khái niệm câu hỏi và HĐH nhằm mục đích tìm kiếm mốiquan hệ giữa hành động đặt ra một câu hỏi với việc sử dụng một phát ngôn cóhình thức nghi vấn HĐH là hành động mà người nói thực hiện nhằm thuđược thông tin về điều chưa biết, cần biết Còn câu hỏi là một cấu trúcngôn ngữ, một trong những công cụ để thực hiện hành động đó Tuy nhiên,trên thực tế, câu hỏi với tư cách là một công cụ ngôn ngữ chủ yếu để thựchiện HĐH, còn được thực hiện để thực hiện một số HĐOL khác Bên cạnh
đó, để thực hiện HĐH, người nói có thể sử dụng một cấu trúc ngôn ngữkhác ngoài câu hỏi
Trang 32Hướng tiếp cận của luận án này chúng tôi chỉ giới hạn ở HĐH đượcthực hiện bằng cấu trúc câu hỏi Vì vậy, việc tìm hiểu lý thuyết về câu hỏi
và HĐH; điều kiện sử dụng HĐH; các phương tiện hình thức sử dụng trong
HĐH làm cở sở để tìm hiểu về HĐH trong ca dao
1.1.4.1 Khái niệm câu hỏi và hành động hỏi
a Khái niệm câu hỏi
Qua khảo sát các công trình nghiên cứu về câu hỏi trong tiếng Việt, tiêu
biểu là Nguyễn Kim Thản trong Nghiên cứu về NPTV (1964), Hồ Lê trong bài viết Tìm hiểu nội dung câu hỏi và cách thức thể hiện hỏi trong tiếng Việt
hiện đại (1976), Hoàng Trọng Phiến trong Ngữ pháp tiếng Việt - câu (1978),
Cao Xuân Hạo trong Câu trong tiếng Việt (1999), có thể tổng hợp về đặc
điểm câu hỏi trong tiếng Việt như sau:
(1) Người nói có “sự hoài nghi”, “cái chưa rõ”, “cái chưa biết”; (2) Người nói “mong muốn” được người nghe làm sáng tỏ điều chưa biết;
(3) Người nói sử dụng hoặc từ hỏi hoặc ngữ điệu hỏi;
(4) Ngoài ra, câu hỏi cũng được dùng để chuyển tải những giá trị ngôn trung khác ngoài yêu cầu thông báo, cung cấp thông tin.
Như vậy, mục đích của câu hỏi là hướng tới (1) yêu cầu thông báo, cungcấp thông tin và (2) chuyển tải những giá trị ngôn trung khác Với mục đíchthứ nhất, xuất hiện những câu/ phát ngôn mang hình thức câu hỏi để thựchiệnHĐH Mục đích thứ hai là dùng câu có hình thức hỏi để hướng tới mụcđích thực hiện những HĐNNGT không phải HĐH
b Khái niệm hành động hỏi
Qua khảo sát các công trình nghiên cứu Việt ngữ liên quan đến câu hỏi vàHĐH, có thể thấy các nhà Việt ngữ quan niệm về HĐH theo hai cách như sau: Một là, HĐH là HĐNN sử dụng câu hỏi để thực hiện các mục đích giaotiếp khác nhau Ví dụ như, người nói dùng HĐH (tức dùng phát ngôn hỏi) để
Trang 33hỏi - yêu cầu cung cấp thông tin mà người nghe cần biết chưa biết; thực hiệnHĐH để phê phán, để sai khiến, để khẳng định, để phủ định, để trách móc,
để tỏ ý nghi ngờ, để ra lệnh…
Hai là, HĐH là đích giao tiếp mà người nói hướng tới - yêu cầu cungcấp thông tin cần biết chưa biết Người hỏi có thể sử dụng câu hỏi/ phát ngônhỏi hay một hình thức phát ngôn nào khác, ví như câu trần thuật, câu cảmthán v.v…
Trong luận án này, chúng tôi xem xét HĐH ở cách hiểu thứ nhất, đó là:HĐH là HĐNN sử dụng câu hỏi để thực hiện các mục đích giao tiếp khác
nhau HĐH phải thỏa mãn những điều kiện sử dụng và các phương tiện đánh
dấu về hình thức của HĐH nhất định
1.1.4.2 Điều kiện sử dụng hành động hỏi (theo J.R Searle)
Ở mục 1.1.2, chúng tôi đã trình bày về điều kiện sử dụng các HĐOLtheo quan điểm cuả J.R.Searle với bốn điều kiện thỏa mãn: nội dung mệnh đề,điều kiện chuẩn bị, điều kiện chân thành và điều kiện căn bản
Với HĐOLH, 4 điều kiện thỏa mãn sẽ là:
+ Nội dung mệnh đề: Bao gồm tất cả các mệnh đề và hàm mệnh đề.+ Điều kiện chuẩn bị: S không biết lời giải đáp; S, H không chắc rằng
H cung cấp thông tin ngay lúc trò chuyện nếu S không hỏi
+ Điều kiện chân thành: S mong muốn có được thông tin đó
+ Điều kiện căn bản: S nhằm cố gắng nhận được thông tin từ H
Trong phát ngôn, khi thỏa mãn đầy đủ bốn điều kiện trên thì người nói
đã thực hiện HĐHTT, khi một trong số bốn điều kiện trên không được thỏamãn thì có nghĩa là người nói đang thực hiện một HĐNNGT thông qua HĐH
1.1.4.3 Các phương tiện hình thức sử dụng trong hành động hỏi
HĐH được nhận diện bởi một số dấu hiệu hình thức như sau:
a Đại từ nghi vấn
Trang 34Trong câu hỏi tiếng Việt, thường sử dụng các đại từ nghi vấn sau: ai(hỏi về người), gì (hỏi về vật và tính chất của con vật, của người, của sự vật),nào (hỏi về tính chất, có hàm ý lựa chọn), sao (hỏi về cách thức), bao nhiêu(hỏi về số lượng nhiều ít), bao giờ (hỏi về thời gian), đâu (hỏi về nơi chốn),
Ví dụ: - Ai làm đổ nước ra nhà thế?
- Chị đi chuyến tàu lúc mấy giờ?
- Ai làm trúc võ mai sầu,/ Đào tơ liễu yếu bên cầu vì ai?
b Phụ từ nghi vấn
Các cặp phụ từ nghi vấn ở dạng đầy đủ: Có (hay) không; có phải
(hay) không, đã (hay) chưa, có không hoặc có sự tỉnh lược một vế trong
cặp phụ từ
Ví dụ: - Hôm nay em lại bỏ học để đi chơi phải không?
Ví dụ : - Thương thương, nhớ nhớ, sầu sầu,
Biết là bấc có bén dầu cho không?
c Quan hệ từ lựa chọn
Quan hệ từ lựa chọn hay được dùng để hỏi mang hàm ý lựa chọn.
Ví dụ: - Ở nhà hay đi chơi với mẹ nào?
Ví dụ: - Con hay ai làm đổ xe đây?
Ví dụ: - Viết thư lên hỏi thăm chàng,
Còn không hay đã đá vàng cùng ai?
d Tiểu từ tình thái
Các tiểu từ tình thái thường gặp trong tiếng Việt: à, ư, nhỉ, nhé, hả, hở,
chứ Trong số này, hai từ à, ư là những tiểu từ nghi vấn trung hòa tính chất,
còn các từ khác, dù dùng một mình trong câu nghi vấn hay dùng cùng cácphương tiện nghi vấn khác đều thường có kèm sắc thái tình cảm rất tế nhị Vịtrí của các tiểu từ này thường đứng cuối câu
Ví dụ: - Mẹ mới về ạ? (kính trọng)
Trang 35- Lan đấy à? (trung hòa)
- Hay là cậu đi chơi cùng mình nhé? (thân mật)
Trong luâ ̣n án này, chúng tôi vận dụng lý thuyết về câu hỏi, HĐH nóichung vào nghiên cứu HĐH trong ca dao để tìm ra những nét riêng, đặc trưngcủa HĐH trong ca dao
1.2 Văn hóa giao tiếp và phép li ̣ch sự
1.2.1 Văn hóa
1.2.1.1 Khái niê ̣m về văn hóa
Trong khoa ho ̣c xã hô ̣i, văn hóa là mô ̣t thuâ ̣t ngữ có nhiều cách đi ̣nhnghĩa Theo Phan Ngo ̣c: “Cho đến nay đã có ngót bốn trăm đi ̣nh nghĩakhác nhau về văn hóa”, và “vì dân tô ̣c nào cũng có văn hóa, bất kỳ cái gì
ta hình dung ra cũng có mă ̣t văn hóa”, cho nên “không thể tìm mô ̣t đi ̣nhnghĩa thao tác luâ ̣n cho văn hóa nếu dựa vào xã hô ̣i ho ̣c, kinh tế, chínhtri ̣ ” [89, 114]
UNESCO xác đi ̣nh: “Văn hóa hôm nay có thể coi là mô ̣t tổng thểnhững nét riêng biê ̣t tinh thần và vâ ̣t chất, trí tuê ̣ và cảm xúc quyết đi ̣nh tínhcách của mô ̣t xã hô ̣i hay của mô ̣t nhóm người trong xã hô ̣i Văn hóa baogồm nghê ̣ thuâ ̣t và văn chương, những lối sống, những quyền cơ bản củacon người, những hê ̣ thống các giá tri ̣ những tâ ̣p tu ̣c và tín ngưỡng Văn hóađem hóa đem la ̣i cho con người khả năng suy xét về bản thân Chính vănhóa làm cho chúng ta trở thành những sinh vâ ̣t đă ̣c biê ̣t nhân bản, có lí tính,có óc phê phán và dấn thân mô ̣t cách đa ̣o lí Chính nhờ văn hóa mà conngười tự thể hiê ̣n, tự ý thức được bản thân, tự biết mình là mô ̣t phương ánchưa hoàn thành đă ̣t ra để xem xét những thành tựu của bản thân, tìm tòikhông biết mê ̣t mỏi những ý nghĩ mới mẻ và ta ̣o nên những công trình vượttrô ̣i lên bản thân” [dẫn theo 3, 48]
1.2.2.2 Sơ lược về đặc trưng văn hóa giao tiếp của người Viê ̣t
Trang 36Viê ̣t Nam là mô ̣t đất nước có nền “văn hóa lúa nước”, nằm trong khu vựcĐông Nam Á, khu vực có mô ̣t chỉnh thể riêng biê ̣t về văn hóa, li ̣ch sử, cư dân.Cho nên, từ suy nghĩ, cách làm, giao tiếp, lễ hô ̣i, kiến trúc… đều pha màu sắc đó.Quan hê ̣ của người Viê ̣t chủ yếu là quan hê ̣ dòng tô ̣c, láng giềng, làng xóm Đốivới người Viê ̣t, làng không chỉ là đơn vi ̣ hành chính mà còn là nơi lưu truyềnngôn ngữ và văn hóa, đă ̣c biê ̣t là văn hóa dân gian Những đă ̣c trưng văn hóagiao tiếp của người Viê ̣t được thể hiê ̣n qua những nét cơ bản sau:
Người Viê ̣t vừa thích giao tiếp la ̣i vừa ru ̣t rè Người Việt Nam, nôngnghiệp là nghề chính nên mo ̣i người sống phụ thuộc vào nhau và rất coi trọngmối quan hệ giữa các thành viên trong cộng đồng Đó là lí do khiến ngườiViệt trọng giao tiếp thích giao tiếp thăm viếng nhau không phải vì nhu cầucông việc mà là để thắt chặt thêm mối quan hệ; với khách thì rất tôn trọng,hiếu khách, luôn dành cho khách những thứ tốt nhất Bên ca ̣nh đó, khi giaotiếp bên ngoài, với những người xa la ̣, thì người Việt lại trở nên rụt rè Haitính cách trái ngược nhau tồn tại trong một bản chất nhưng không hề mâuthuẫn nhau
Người Viê ̣t lấy tình cảm làm nguyên tắc ứng xử Nguồn gốc văn hoánông nghiệp với đặc điểm trọng tình đã khiến người Việt lấy tình cảm, lấy sựyêu ghét làm nguyên tắc ứng xử, cư xử có lý có tình nhưng vẫn thiên về tìnhhơn Khi cần cân nhắc giữa cái lý cái tình thì tình vẫn được đặt cao hơn lí.Người Việt Nam thích tìm hiểu về tuổi tác, gia đình, nghề nghiệp, trình độhọc vấn…của đối tượng giao tiếp Đặc tính này cũng là một sản phẩm nữa củatính cộng đồng làng xã Do tính cộng đồng người Việt thấy mình tự có tráchnhiệm quan tâm tới người khác, nhưng muốn quan tâm hay thể hiện sự quantâm đúng mực thì phải biết rõ hoàn cảnh Ngoài ra do các mối quan hệ xã hội,người ta cần tìm hiểu để có cách xưng hô cho thoả đáng Biết tính cách, biếtngười để lựa chọn đối tượng giao tiếp cho phù hợp
Trang 37Người Viê ̣t rất tro ̣ng danh dự Danh dự được gắn với năng lực giaotiếp: lời nói nói ra để lại dấu vết, tạo thành tiếng tăm, được lưu truyền đến tainhiều người, tạo nên tai tiếng Chính vì coi trọng danh dự nên người Viê ̣t rấtcẩn thâ ̣n trong lời ăn tiếng nói, ưa sự tế nhị, ý tứ và trọng sự hoà thuận Lốigiao tiếp tế nhị khiến người Việt có lối nói vòng vo, không đi trực tiếp vàovấn đề như người phương Tây
Hệ thống từ ngữ xưng hô và cách nói lịch sự rất phong phú Người Việt
xưng hô theo nguyên tắc xưng khiêm hô tôn Thậm chí, cách nói lịch sự củangười Việt cũng rất phong phú, mỗi trường hợp khác nhau lại có một cácxưng hô cho phù hợp
Tóm la ̣i, viê ̣c xác đi ̣nh nô ̣i hàm khái niê ̣m văn hóa và những đă ̣c trưng cơbản của văn hóa giao tiếp người Viê ̣t vô cùng phức ta ̣p và trừu tượng Trongđiều kiê ̣n ha ̣n chế, luâ ̣n án chỉ đề câ ̣p tới yếu tố văn hóa từ mô ̣t góc đô ̣ cu ̣ thể:xem xét mô ̣t số yếu tố văn hóa trong mối quan hê ̣ với HĐH trong ca dao trữtình người Viê ̣t
1.2.2 Lịch sự
1.2.2.1 Khái niê ̣m về li ̣ch sự
Lịch sự là một thuộc tính thuộc phạm trù văn hóa ứng xử của con ngườitrong giao tiếp, đó là một nhân tố quan trọng có tính chất điều hòa các quan
hệ liên nhân, nó chi phối không những đối với quá trình vận động hội thoại
mà cả đối với hiệu quả giao tiếp
Có thể định nghĩa lịch sự: “như là một phương thức để giảm thiểu sựxung đột trong diễn ngôn (…); Những chiến lược lịch sự có nhiệm vụ đặcbiệt là làm cho cuộc tương tác được thuận lợi” (Lakoff, dẫn theo Đỗ HữuChâu [13, 582]
Nhưng định nghĩa trên chỉ đề cập đến mặt tích cực của phép lịch sự.Cũng như mọi phạm trù khác của ngôn ngữ, lịch sự bao gồm cả không lịch
sự, như G.M.Green viết: “Những người tham gia hội thoại có thể chọn cách
Trang 38cư xử lịch sự, tránh cục cằn, thô lỗ Họ còn có thể vâ ̣n du ̣ng hiểu biết củamình về các quy tắc lịch sự để tỏ ra cục cằn, thô lỗ một cách cố ý” (dẫn theo
Đỗ Hữu Châu [13, 582]
Trong luâ ̣n án này, chúng tôi xin đề cập đến một số lí thuyết về lịch sựcủa các tác giả R.Lakoff, G Leech, P Brown và S.Levinson
1.2.2.2 Lý thuyết lịch sự
Lí thuyết của R.Lakoff
R.Lakoff đưa ra ba quy tắc:
- Quy tắc 1: là quy tắc lịch sự có tính quy thức nhất (quy tắc không ápđặt) Không áp đặt có nghĩa là không đưa ra, hoặc không dò tìm những quanđiểm cá nhân, tránh động chạm tới cá nhân về vấn đề phương tiện Theo quytắc này, người nói sẽ tránh hoặc giảm nhẹ khi yêu cầu người nghe làm việc gì
đó mà người nghe không muốn làm
- Quy tắc 2: là quy tắc lịch sự phi quy ước Đó là quy tắc dành chongười đối thoại sự lựa chọn Có nghĩa là người nói nói làm sao cho quan điểmhay yêu cầu của mình có thể không được biết đến mà không bị chống lại hay
từ chối Quy tắc này hoạt động khi người hội thoại gần bình đẳng với nhau
- Quy tắc 3: là quy tắc lịch sự giữa bạn bè thân tình Đó là quy tắckhuyến khích tình cảm bạn bè Trong phép lịch sự bạn bè, hầu như nhữngvấn đề cấm kỵ, những nỗi niềm riêng tư được đưa ra để nói Quy tắc nàythích hợp với những người có quan hệ thật gần gũi nhau: bạn thân, ngườiyêu, vợ chồng Quy tắc này hướng tới sự thu hẹp tối đa khoảng cách giữanhững người đối thoại
Lí thuyết của G.N.Leech
G.N Leech thì lại dựa trên khái niệm tổn thất và lợi ích, bao gồm một
số phương châm:
Trang 39- Phương châm khéo léo: Giảm thiểu tổn thất và tăng tối đa lợi íchngười khác.
- Phương châm rộng rãi: Giảm thiểu lợi ích cho ta; tăng tối đa tổn thấtcho ta
- Phương châm tán thưởng: Giảm thiểu sự chê bai người; tăng tối đa sựkhen ngợi đối với người
- Phương châm khiêm tốn: Giảm thiểu tối đa sự khen mình; tăng tối đa
ba quy tắc của Lakoff Tuy nhiên, ba quy tắc của Lakoff chủ yếu chỉ hướng
về phía người nghe, nhưng có tính đến bối cảnh giao tiếp Sáu phương châmcủa Leech hướng cả về người nói và người nghe
Lí thuyết của P.Brown và S.Levinson
P.Brown và S.Levinson cũng có nhiều đóng góp trong lĩnh vực nghiêncứu về lịch sự Hai ông đã phát triển mở rộng nguyên tắc tôn trọng thể diện
mà E.Goffman đề xướng
Theo P.Browm và S.Levinson, mỗi người có hai thể diện: tiêu cực vàtích cực Trong diễn tiến của hội thoại các HĐNN tiềm ẩn sự đe dọa thể hiệncủa cả người nói và người nghe gọi là hành động đe dọa thể diện(FaceThreatening Acts - FTA) Các HĐNN được chia làm bốn phạm trù
- Hành động đe dọa thể diện tiêu cực của người nói: tặng, hứa
- Hành động đe đọa thể diện tích cực của người nói: thú nhận, xin lỗi,
tự phê bình, thanh minh
Trang 40- Hành động đe dọa thể diện tiêu cực của người nghe: ra lệnh, khuyên bảo.
- Hành động đe dọa thể diện tích cực của người nghe: phê phán, từchối, trách móc, chửi, chế giễu
Các FTA mà P.Browm và S.Levinson nêu ra được coi là bi quan, xemcon người trong xã hội như là những sinh thể bị bao vây thường xuyên bởicác FTA, luôn đối phó với chúng Bởi vậy, cần điều chỉnh bằng cách đưa vào
mô hình những FFA có tính tích cực Như vậy tập hợp các HĐNN được chiathành hai nhóm lớn: những nhóm có hiệu quả căn bản tiêu cực và nhóm cóhiệu quả tích cực Tương ứng với hai nhóm này sẽ có phép lịch sự tích cực vàtiêu cực
* Phép lịch sự tiêu cực:
Phép lịch sự tiêu cực về căn bản có tính chất né tránh hay bù đắp Đó là
sự né tránh các FTA hoặc giảm nhẹ chúng bằng một số biến pháp thực hiệnkhi các FTA có tác động đến thể diện tiêu cực Các biện pháp đó là:
- Đặc biệt chú ý cách xưng hô lịch sự như chúng tôi (thay cho tôi), có
người (thay cho ngôi thứ hai trực tiếp).
- Các biện pháp tu từ: nói giảm, nói vòng
Ví dụ: - Cái áo này bạn mặc không đẹp lắm!
(Khi chê, người ta thường dùng cách nói giảm như trên, nhưng thựcchất là để nói: cái áo đó mặc trông rất xấu)
Ví dụ: Hỏi anh đứng ở bên ngoài,
Có sang em vít cành sòi cho sang?
Trong phát ngôn trên, Sp1 thực hiện HĐH đối với Sp2, nhưng nhằmmục đích là mời, rủ, làm quen Bằng hình thức hỏi, phát ngôn trên đã né tránhnói thẳng vào vấn đề khiến cho việc làm quen được tự nhiên, tế nhị hơn
- Sử dụng các phương tiện đi kèm để giảm xóc FTA gồm:
+ Dùng một hành động tiền dẫn nhập như: