nước; thể hiện tình cảm đôi lứa, thể hiện về quan hệ hôn nhân - gia đình,…Ngoài ra, tác giả còn làm rõ mối quan hệ giữa ca dao, tục ngữ với các thể loạivăn học dân gian khác.- Một số luậ
Trang 1MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Nghị quyết Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản ViệtNam lần thứ V (khóa VIII) đã chỉ rõ: “Bên cạnh việc phát triển nền kinh tế thịtrường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, chúng ta phải xây dựng một nềnvăn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, hết sức coi trọng, bảotồn, kế thừa và phát huy những giá trị văn học truyền thống, văn hóa cáchmạng, bao gồm cả văn hóa vật thể và phi vật thể” Tinh thần đó tiếp tục được
bổ sung và khẳng định trong kết luận của Hội nghị lần thứ 10 Ban Chấp hànhTrung ương Đảng khóa IX: “Trong quá trình mở rộng hội nhập kinh tế quốc
tế và giao lưu văn hóa, cùng với việc tập trung xây dựng những giá trị mớicủa Việt Nam đương đại, cần đẩy mạnh công tác bảo tồn, kế thừa, phát huycác giá trị truyền thống của dân tộc”
Để đạt được những mục tiêu trên chúng ta phải tiến hành đồng thờinhiều biện pháp khác nhau Một trong những biện pháp có vai trò hết sức quantrọng đó là cần xuất phát từ những giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc, mànhân tố góp phần tạo nên sức mạnh của truyền thống đó là kho tàng văn họcdân gian nói chung, ca dao, tục ngữ nói riêng Ca dao, tục ngữ là di sản tinhthần quý báu, là kho tri thức về kinh nghiệm cuộc sống và đạo lý làm người, là
“túi khôn” mà ông cha ta đã dày công xây dựng và lưu giữ Những triết lý giáodục sâu sắc, đậm chất nhân văn về thế giới, về con người của nhân dân ta đãđược khái quát và đúc kết qua ca dao, tục ngữ sẽ có tác dụng quan trọng trongviệc xây dựng một nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc Là
cơ sở định hướng cho hoạt động thực tiễn giáo dục và xây dựng con người.Vận dụng ca dao, tục ngữ nhằm khơi dậy niềm say mê học tập của học sinh,sinh viên trong việc giảng dạy môn Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa
Trang 2Mác – Lênin và môn Giáo dục công dân trong các trường trung học phổ thông
Trong kho tàng văn học dân gian Việt Nam, nếu huyền thoại và truyềnthuyết tạo nên tâm điểm căn bản văn hóa dân tộc và hồn con người Việt Namthì ca dao, tục ngữ là cẩm nang bí quyết, là một cuốn từ điển mà tiền nhân đãtích lũy theo thời gian và để lại cho con cháu Trong đó hàm chứa triết lý dântộc, phản ánh tâm thức Việt Nam và được lưu truyền từ đời này sang đờikhác Nó là một thành tố quan trọng, góp phần tạo nên hệ giá trị tinh thần, bảnsắc văn hóa độc đáo của dân tộc ta Thế nhưng, hiện nay văn học dân gian lànguồn tư liệu ít được khai thác, tiếp cận về mặt triết học vì có ý kiến cho rằngđây là loại văn phong không uyên bác, lạc hậu và có nhiều hạn chế Tuynhiên, nếu chúng ta dày công sưu tập và nghiên cứu thì từ kho tàng văn họcdân gian ấy có thể khám phá ra khí phách con người Việt Nam, khám phá ranhững đặc điểm về tâm – sinh lý, tình cảm, cũng như quan niệm về thế giới,
về con người của người Việt Nam Đồng thời nó còn thể hiện năng lực tư duy,phán đoán, phân tích và nhận thức của cha ông ta về vũ trụ và con người Vậynên, muốn tìm hiểu hồn dân tộc Việt Nam, chúng ta không thể bỏ qua khotàng này, qua đó chứng tỏ cha ông ta đã có một khối hiểu biết, kinh nghiệm
và luân lý sâu sắc Nhờ vậy mà đất nước và dân tộc ta sống còn và sống mạnhcho đến hôm nay sau những chiến tranh, xâm lược từ bên ngoài và phântranh, chia rẽ ngay trong nội bộ
Mặt khác, Nghị quyết của Bộ Chính trị - Ban Chấp hành Trung ươngĐảng Cộng Sản Việt Nam Về chính sách khoa học và kỹ thuật cũng đã chỉ rõ:
“Nghiên cứu lịch sử tư tưởng triết học của dân tộc và sự thắng lợi của tư tưởngtriết học Mác - Lênin ở Việt Nam” là một việc làm hết sức cần thiết không chỉ
có ý nghĩa trọng đại trong giai đoạn hiện nay mà còn có ý nghĩa lâu dài
Hiện nay, nền kinh tế thị trường và sự mở cửa, giao lưu đã đưa nước tahội nhập mạnh mẽ vào nền văn minh nhân loại, làm thay đổi nhanh chóng
Trang 3diện mạo và đời sống đất nước Thực tiễn đó cũng đặt ra nhiều vấn đề liênquan đến đạo đức trong ngành giáo dục khi mà gần đây, tình trạng vi phạmđạo đức nhà giáo và bạo lực học đường ngày càng gia tăng và trở nên nghiêmtrọng, vấn đề giáo dục đạo đức, giáo dục nhân cách hơn bao giờ hết trở thànhmối quan tâm trước hết của toàn xã hội Để phát huy hơn nữa sức mạnh củadân tộc, đồng thời khắc phục mặt trái của cơ chế thị trường nhằm thực hiệnthắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, hơn bao giờ hếtlại càng đòi hỏi phải quan tâm hơn nữa đến những giá trị tinh thần, đó làtruyền thống văn hóa của dân tộc, là nền văn học dân gian nói chung – khotàng ca dao, tục ngữ nói riêng; đồng thời kết hợp hài hòa với tinh hoa văn hóacủa nhân loại để tạo nên sự phát triển bền vững cho nền văn hóa nước nhà
Lịch sử là một dòng chảy liên tục, tiếp nối không ngừng Xưa - nay và
cả ngày mai, vốn có quan hệ chặt chẽ theo dòng thời gian Lý luận và kinhnghiệm giáo dục có tính kế thừa và phát triển Giữa sự phát triển xã hội vàgiáo dục cũng như giữa lý luận và thực tiễn của hoạt động giáo dục có mốiquan hệ khăng khít với nhau Nhìn lại quá khứ để mạnh tiến đến tương lai –
đó là những lý do để tôi chọn đề tài: “Triết lý giáo dục trong ca dao, tục ngữ Việt Nam” làm đề tài luận văn thạc sĩ khoa học triết học.
2 Tình hình nghiên cứu của đề tài
Hiện nay ở nước ta có rất nhiều công trình nghiên cứu về ca dao, tụcngữ Tuy nhiên, hầu hết các công trình nghiên cứu đều tập trung dưới góc độvăn học dân gian là chính, chưa có công trình nào chuyên đi sâu nghiên cứu
về vấn đề triết lý giáo dục trong ca dao, tục ngữ Việt Nam Cụ thể:
- Trung tâm khoa học xã hội và nhân văn quốc gia, Viện văn học 1 (2001),
Tuyển tập văn học dân gian Việt Nam, 5 tập, Nhà xuất bản giáo dục.
- Vũ Ngọc Phan (1995), “Tục ngữ, ca dao, dân ca Việt Nam”, Nhà xuất
bản Văn học
Trang 4- Cao Huy Đỉnh (1974), “Tìm hiểu tiến trình văn học dân gian Việt Nam”,
Nhà xuất bản Khoa học xã hội
- Phúc Khánh (1961), Thử tìm hiểu những yếu tố tư tưởng triết học trong thần thoại Việt Nam, Nhà xuất bản Sự thật.
- Đinh Gia Khánh, Chu Xuân Diên, Võ Quang Nhơn (2000), Văn học dân gian Việt Nam, Nxb Giáo dục.
- Nguyễn Nghĩa Dân (2011), Đạo làm người trong tục ngữ ca dao Việt nam, Nhà xuất bản Thanh niên.
- Nguyễn Nghĩa Dân (2001), Lòng yêu nước trong văn học dân gian Việt Nam, Nxb Hội nhà văn.
- Phương Thu (2004), Ca dao, tục ngữ Việt Nam, Nxb Thanh Niên, Hà Nội.
- Triều Nguyên (2005)“Ca dao Thừa Thiên - Huế”, Nhà xuất bản Hội
liên hiệp văn học nghệ thuật Thừa Thiên - Huế, Huế
- Triều Nguyên (2010), “Khảo luận về tục ngữ Người Việt”, Nxb Khoa
học xã hội
- Phạm Việt Long (2010), “Tục ngữ, ca dao về quan hệ gia đình”, Nxb
Đại học Quốc gia, Hà Nội
- Nguyễn Tài Thư (1993), Lịch sử tư tưởng Việt Nam, Nxb Khoa học xã
về giáo dục, về đạo đức Ca dao, tục ngữ thể hiện tình yêu quê hương đất
Trang 5nước; thể hiện tình cảm đôi lứa, thể hiện về quan hệ hôn nhân - gia đình,…Ngoài ra, tác giả còn làm rõ mối quan hệ giữa ca dao, tục ngữ với các thể loạivăn học dân gian khác.
- Một số luận văn đã nghiên cứu liên quan đến đề tài này là: Lương Thị
Lan Huệ (2004), “Một số vấn đề triết học qua ca dao, tục ngữ Việt Nam”.
Tác giả đã trình bày một số tư tưởng triết học trong ca dao, tục ngữ ngườiViệt như: Tư tưởng triết học biểu hiện qua mối quan hệ giữa con người vớithế giới tự nhiên và mối quan hệ giữa con người đối với xã hội Tác giả cũng
đã rút ra một số nhận xét về ca dao, tục ngữ Việt Nam, nêu ý nghĩa triết họccủa ca dao, tục ngữ trong công cuộc đổi mới ở nước ta hiện nay
Phạm Thị Thúy Hằng (2006), “Những tư tưởng triết học trong truyện
kể dân gian Việt Nam” Tác giả cũng đã trình bày một số tư tưởng triết học về
thế giới quan, nhân sinh quan của con người Việt Nam Đề cập đến nhữngảnh hưởng của truyện kể dân gian đối với việc xây dựng nền văn hóa của dântộc
Cao Thị Hoa (2011), “Triết lý nhân sinh trong ca dao, tục ngữ Thừa Thiên - Huế” Tác giả đã đi sâu phân tích và làm sáng tỏ triết lý nhân sinh
trong ca dao, tục ngữ Thừa Thiên - Huế, trên cơ sở đó rút ra ý nghĩa thực tiễn vềquan niệm sống (nhân sinh quan, thế giới quan) của con người Việt Nam ở tỉnhThừa Thiên - Huế, vận dụng nó ở góc độ kế thừa, giữ gìn và phát huy truyềnthống văn hóa trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
- Một số bài viết đăng trên các tạp chí triết học như: Lê Huy Thực(2004 - 2005), “Triết lý dân gian về hạnh phúc trong tục ngữ, thơ ca dân gianViệt Nam”, Tạp chí triết học số 2 (153); “Tiêu chí kiểm định đạo đức conngười qua tục ngữ thơ ca dân gian”, Tạp chí triết học số 9 (172) Đỗ Lan Hiền(2005), “Những nét độc đáo trong tư duy người Việt qua văn học dân gian”,Tạp chí triết học số 6 (169)
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Trang 6* Mục đích: Mục đích của đề tài là làm sáng tỏ triết lý giáo dục trong
ca dao, tục ngữ Việt Nam Trên cơ sở đó vận dụng vào việc giáo dục đạo đức,nhân cách cho con người Việt Nam Kế thừa và phát huy truyền thống vănhóa của dân tộc trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
* Nhiệm vụ: Để đạt được mục đích đã nêu trên, đề tài làm rõ:
- Quá trình hình thành của ca dao, tục ngữ Việt Nam
- Những nội dung triết lý giáo dục thể hiện trong ca dao, tục ngữ Việt Nam
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài là ca dao, tục ngữ ViệtNam qua các công trình đã được xuất bản
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý luận của đề tài là những quan điểm, phương pháp luận củatriết học Mác - Lênin Đó là sự kết hợp những nguyên lý của chủ nghĩa duyvật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử với nguyên tắc thống nhất giữalôgic và lịch sử, phân tích và tổng hợp, quy nạp và diễn dịch, thống kê, sosánh và đối chiếu, khách quan và biện chứng trong việc nghiên cứu tư tưởngtriết học
6 Đóng góp của luận văn
Luận văn đã trình bày một cách có hệ thống về vấn đề triết lý giáo dụctrong ca dao, tục ngữ Việt Nam Làm rõ những vấn đề về giá trị giáo dục, giátrị nhân sinh được thể hiện trong ca dao, tục ngữ của dân tộc
Luận văn hoàn thành sẽ là tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu,giảng dạy, học tập môn Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin
và môn giáo dục công dân ở các trường trung học phổ thông
7 Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văngồm có 2 chương, 5 tiết
Trang 7CHƯƠNG 1 VẤN ĐỀ CHUNG VỀ CA DAO TỤC NGỮ VÀ TRIẾT LÝ GIÁO
DỤC TRONG CA DAO TỤC NGỮ VIỆT NAM
1.1 Vấn đề chung về ca dao, tục ngữ Việt Nam
1.1.1 Khái niệm ca dao, tục ngữ
Trong kho tàng văn học dân gian Việt Nam, tục ngữ, ca dao luôn giữmột vị trí hết sức quan trọng, được coi là nền văn học khởi nguồn Đó lànhững viên ngọc quý, những kinh nghiệm, những điều hay, lẽ phải mà ôngcha ta để lại Là tâm hồn, trí tuệ, tình cảm và đời sống tinh thần của nhân dân
ở từng chặng đường lịch sử Là kết quả lao động sáng tạo, thể hiện những triết
lý sâu sắc được đúc rút từ thực tiễn cuộc sống của người dân lao động Do đặcđiểm nội dung và hình thức ngắn gọn, tinh tế, có vần và dễ nhớ nên ca dao,tục ngữ luôn luôn được nhân dân vận dụng, giữ gìn và lưu truyền qua nhiềuthế hệ Mặc dù luôn được trau chuốt, có những thay đổi nhất định nào đó vềngôn từ khi đến “cư trú” ở các địa phương khác nhau nhưng ca dao, tục ngữ
vẫn luôn giữ được cái hồn, cái hình của mình Ca dao, tục ngữ vừa là một
hiện tượng ngôn ngữ, vừa là một hiện tượng thuộc về ý thức xã hội, phản ánhcuộc sống sinh hoạt muôn hình muôn vẻ của nhân dân, biểu hiện những nhậnxét, những ý nghĩ của nhân dân trong cuộc đấu tranh với các hiện tượng thiênnhiên bất lợi hoặc trong đấu tranh xã hội và xây dựng đất nước, từ đó kết tinhthành truyền thống tốt đẹp của dân tộc Việt Nam
1.1.1.1 Ca dao
Theo định nghĩa của từ điển Tiếng Việt thì ca dao là một thuật ngữ HánViệt Theo từ nguyên, ca là bài hát có chương khúc, giai điệu; giao là bài hátngắn, không có giai điệu, chương khúc Cho nên, ca dao là lời của các bài hát
Trang 8dân ca đã được tách những tiếng đệm, tiếng láy… hoặc ngược lại, là những câuthơ có thể “bẻ” thành những làn điệu dân ca
Theo từ điển Bách Khoa Việt Nam, tập 1, thì “ca dao thường là nhữngcâu thơ, bài hát dân gian có ý nghĩa khái quát, phản ánh đời sống, phong tục,
đạo đức hoặc mang tính chất trữ tình, đặc biệt là tình yêu nam nữ” [43, tr.303]
Ca dao là những bài hát ngắn, thường là 3, 4 câu Cũng có một số ít bài
ca dao dài Những bài ca dao xưa thường có nguồn gốc dân ca Dân ca, tước bỏlàn điệu đi, lời ca ở lại, đi vào kho tàng ca dao Trong quá trình sáng tác củathơ ca dân gian, khái niệm ca dao được dùng để chỉ bộ phận cốt lõi, tiêu biểu,
đó là bộ phận những câu hát đã trở nên phổ biến và được truyền tụng rộng rãitrong nhân dân Ca dao đã trở thành một thuật ngữ dùng để chỉ một thể thơ dângian, do đó tất cả những sáng tác thơ ca nào mang phong cách của những câuhát cổ truyền, người ta gọi là ca dao
Như vậy, ca dao là một thể loại trữ tình của văn học dân gian Nhữngtác phẩm trong thể loại này dù nói lên mối quan hệ giữa con người trong laođộng, trong sinh hoạt gia đình và xã hội, hoặc nói lên những kinh nghiệmsống và hành động thì bao giờ cũng bộc lộ thái độ chủ quan chứ không phảimiêu tả một cách khách quan những hiện tượng, những vấn đề Cho nên trong
ca dao, cái tôi trữ tình nổi lên một cách rõ nét Cũng như các thể loại văn họcdân gian khác, ca dao phản ánh mọi mặt cuộc sống của người dân Việt Namqua quá trình lịch sử Đó là một bức tranh sinh động, phong phú, đầy màu sắcViệt Nam Thể hiện một cách sâu sắc, rực rỡ thế giới quan, nhân sinh quancủa con người Việt Nam Đó là những quan niệm về trời, đất, về nguồn gốccon người Đó là tinh thần lạc quan trong khó khăn, tinh thần tương thân tương
ái giữa những con người lương thiện, đó còn là nhận thức sâu sắc về bạn, vềthù, về chính nghĩa Tóm lại, qua ca dao có thể thấy rõ hiện thực cuộc sống của
Trang 9nhân dân, cái hiện thực vốn có được hiện lên một cách chân thực nhất
Nội dung của ca dao rất phong phú, đa dạng Phản ánh những quanniệm về trời, đất, về thời thế, nguồn gốc con người; phản ánh lịch sử, côngcuộc đấu tranh chống thiên nhiên, chống áp bức bóc lột và xâm lược Miêu
tả khá chi tiết phong tục tập quán, những kinh nghiệm trong sinh hoạt vậtchất và tinh thần của người dân lao động, những kinh nghiệm trong sản xuất,chăn nuôi, gieo trồng mùa vụ, trong đời sống riêng tư, đời sống gia đình vàđời sống xã hội Qua đó thấy được đức tính cần cù, chịu đựng gian khổ, khókhăn và những phẩm chất tốt đẹp của người dân trong cuộc đấu tranh vớithiên nhiên, với xã hội để sinh tồn và vươn lên giành lấy hạnh phúc
Nét nổi bật trong bộ phận ca dao lịch sử là nội dung của nó đã thể hiệnmột cách mạnh mẽ, sâu sắc tình cảm của nhân dân đối với quê hương, đất
nước, với nòi giống, tổ tiên: “Thương chi đồng nỗi thương con/ Nhớ chi đồng nhớ nước non quê nhà”; “Con người có tổ có tông/ Như cây có cội, như sông
Ca dao còn là tiếng nói của trái tim, bày tỏ sự uất ức, phẫn nộ của nhândân, là tiếng hát đấu tranh chống áp bức của chế độ phong kiến, cường quyền,chống quân xâm lược, vạch trần những cái xấu, những tội ác mà chế độ phongkiến đế quốc gây ra cho nhân dân ta
Hình ảnh nổi bật trong những câu ca dao nói về đất nước, quê hương,dân tộc,…là những hình ảnh về con người Việt Nam cần cù trong lao động,
Trang 10dũng cảm trong đấu tranh, nhân ái, vị tha, giàu đức hy sinh trong quan hệgiữa người với người và luôn luôn lạc quan, yêu đời Ca dao thể hiện nhữngphẩm chất tốt đẹp đó của người Việt Nam và hướng con người vươn tới cái
chân, thiện, mỹ trong cuộc sống: “Nhiễu điều phủ lấy giá gương/ Người trong một nước phải thương nhau cùng”; “Bầu ơi thương lấy bí cùng/ Tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn”.
Tình yêu quê hương, đất nước, cảm hứng về một non sông tươi đẹp,
về một nòi giống vẻ vang, về một dân tộc anh hùng,… là một cảm hứng vừanồng nàn, vừa đằm thắm, lắng sâu Nhiều tên núi, tên sông, tên các làng quê,các di tích lịch sử - văn hóa, các sản vật, các cảnh sinh hoạt cùng phong tụctập quán ở các địa phương được thể hiện rất phong phú trong ca dao
Ca dao còn là tiếng hát nghĩa tình, tiếng hát yêu thương của con người.Phong phú và đặc sắc nhất, giàu cung bậc nhất trong tình cảm của con người
là mảng ca dao giành cho tình yêu đôi lứa Những tâm tình, những khía cạnhcủa tình yêu và trạng thái tâm lý của trai gái lúc yêu nhau, được ca dao diễnđạt bằng một ngôn ngữ vừa giản dị, vừa bay bổng, vừa ý nhị, vừa đậm đà, chứkhông mang màu sắc ủy mị, sướt mướt, trái lại nó rất rắn rỏi, bền chặt, trongsáng mặc dù trong cuộc sống, trong hôn nhân có không ít trắc trở, khổ đau:
“Thuyền về có nhớ bến chăng?/ Bến thì một dạ khăng khăng đợi thuyền!”.
Nội dung của ca dao đã phản ánh được mọi biểu hiện sắc thái, cung bậccủa tình yêu, thể hiện quan niệm tự do trong yêu đương, tự do hôn nhân.Những tình cảm thắm thiết trong hoàn cảnh may mắn hạnh phúc với nhữngniềm mơ ước, những nỗi nhớ nhung da diết hoặc cảm xúc nảy sinh từ nhữngrủi ro ngang trái, thất bại, khổ đau với những lời than thở oán trách, tình yêucho con người thêm mạnh mẽ trong cuộc sống, trong lao động, trong đấutranh để bảo vệ tình yêu, hạnh phúc của mình
Ca dao trữ tình về tình yêu nam nữ đã kết hợp chặt chẽ chủ đề tình yêu
Trang 11với chủ đề lao động, những nét sinh hoạt, những cảnh vật quen thuộc trongđời sống hằng ngày của nhân dân Sự kết hợp giữa các chủ đề đó làm cho cadao không chỉ phản ánh quan hệ nam nữ trong khuôn khổ tình cảm cá nhân,
mà còn có nội dung xã hội phong phú và tính tư tưởng cao
Trong xã hội cũ giai cấp phong kiến Việt Nam dùng triết lý KhổngMạnh, lấy luân lý Khổng Mạnh làm những sợi dây tinh thần để trói con người
ta về tình cảm, tình yêu, với người phụ nữ luân lý đó lại càng nghiệt ngã Họkhông có quyền tự do yêu đương, họ bị khuôn vào “tam tòng, tứ đức”, số
phận của họ thật giống với số phận của hạt mưa sa: “Thân em như hạt mưa sa/ Hạt vào đài các, hạt ra ruộng cày”; “Thân em như giếng giữa đàng/ Người khôn rửa mặt, người phàm rửa chân”.
Vì vậy, trong ca dao bên cạnh tiếng hát ước mơ về một cuộc sống hạnhphúc, là những tiếng kêu đau khổ, xót xa về những trắc trở, ngang trái trongtình yêu Chính xã hội phong kiến cùng với những lễ giáo hà khắc là nguyên
nhân chính làm cho tình yêu tan vỡ: “Hai ta là bạn thong dong/ Như đôi đũa ngọc nằm trong mâm vàng/ Bởi chưng thầy mẹ nói ngang/ Cho nên đũa ngọc, mâm vàng xa nhau”.
Một trong những bộ phận quan trọng của ca dao là những nhận định vềcon người và về việc đời như là sự tổng kết các kinh nghiệm, triết lý, quanniệm đạo đức, nhân cách, là cách ứng xử, giao tiếp giữa người với người:
“Vàng thời thử lửa, thử than/ Chuông kêu thử tiếng, người ngoan thử lời”;
“Nói lời thì giữ lấy lời/ Đừng như con bướm đậu rồi lại bay”.
Như vậy, với tính cách là thơ theo ý nghĩa đầy đủ của nó, ca dao đã vậndụng mọi khả năng về ngôn ngữ của dân tộc để biểu hiện một cách chính xác,trung thực, tinh tế hiện thực cuộc sống Nói lên mong ước và nguyện vọngcủa nhân dân về một cuộc sống tươi đẹp Ở ca dao, tư tưởng và tình cảm mộtmặt được cô đúc dưới hình thức ngôn ngữ vững chắc, mặt khác lại được diễnđạt trong sự vận động rất phong phú và đa dạng của ngôn ngữ văn học
Trang 12Về mặt hình thức, ca dao gồm nhiều loại, phản ánh nhiều mặt khácnhau của đời sống nhân dân Tuy nhiên, nói đến ca dao tức là nói đến thơ Thểthơ được dùng nhiều nhất trong ca dao truyền thống là lục bát và song thất lụcbát Bên cạnh đó phải nói đến nhịp điệu, vì đó là một đặc điểm nổi bật củathơ, thể hiện tính chất thể loại Nhịp điệu giữ một vai trò hết sức quan trọng,
nó luôn có tác dụng tạo cảm xúc, làm tăng thêm sức biểu đạt của thơ Ca daongắt nhịp hai là phổ biến, nhưng nhiều trường hợp ca dao ngắt nhiều nhịp rấtsáng tạo nhằm làm nỗi bật quyết tâm vượt lên mọi khó khăn của những conngười muốn được xích lại gần nhau, được chung sống cùng nhau:
- Yêu mình/ chẳng lấy được mình/
Tựa mai/ mai ngã/ tựa đình/ đình xiêu/
- Thương nhau/ chẳng quản gì hơn/
Phá Tam Giang/ anh cũng lội/ núi Mẫu Sơn/ anh cũng trèo/
Ca dao thường là những bài ngắn, âm điệu lưu loát Đặc điểm của cadao về phần hình thức là vần vừa sát lại vừa thanh thoát, không gò ép, lại giản
dị và tươi tắn, nghe có vẻ như lời nói nhưng lại rất nhẹ nhàng, gọn gàng, chảichuốt, miêu tả được những tình cảm sâu sắc Dưới hình thức truyền khẩu, trảiqua nhiều thế hệ, nội dung có chỉnh sửa, nhưng nó vẫn giữ được chủ đề tưtưởng và tính chất mộc mạc, không cầu kỳ
Phương pháp ẩn dụ là một biểu hiện cao hơn, tế nhị hơn của lối so sánh
ví von Với phương pháp này, chủ thể nhập làm một với những sự vật, hiệntượng được dùng để so sánh Nhiều sự vật, hiện tượng thiên nhiên quen thuộcđối với người nông dân lao dộng đã trở thành những hình tượng so sánh cổ
truyền trong ca dao: “Gặp đây mận mới hỏi đào/ Vườn hồng đã có ai vào hay chưa?/ Mận hỏi thì đào xin thưa/ Vườn hồng có lối nhưng chưa ai vào”.
Ngoài ra còn có hình thức nhân cách hóa, cũng là một biểu hiện tế nhịcủa lối so sánh ví von Từ những vật vô tri, vô giác đến chim muông, đều
Trang 13được ca dao gán cho những tâm tư, tính cách, tâm hồn, ý nghĩa như conngười Trong nhiều trường hợp phương pháp nhân cách hóa còn thể hiện sự
thông cảm hài hòa của con người với vạn vật: “Đêm qua ra đứng bờ ao/ Trông cá cá lặn trông sao sao mờ/ Buồn trông con nhện chăng tơ/ Nhện ơi nhện hỡi nhện chờ mối ai”.
1.1.1.2 Tục ngữ
Trong kho tàng văn học dân gian Việt Nam, tục ngữ, là những dấu vếtcòn lại của ngôn ngữ thường ngày của con người Việt Nam Là loại hình cómối quan hệ hữu cơ hơn cả với lời ăn tiếng nói của nhân dân Khối lượng tụcngữ do nhân dân lao động sáng tạo và lưu truyền, tích lũy từ lâu đời rất phongphú Tục ngữ cung cấp cho lời ăn tiếng nói hàng ngày của nhân dân, cho ngônngữ văn chương một hình thức biểu hiện súc tích, có tính khái quát cao
Theo định nghĩa của Từ điển Bách Khoa Việt Nam, tập 4: tục ngữ là
“một bộ phận của văn học dân gian, gồm những câu ngắn gọn, có vần điệu, đúckết tri thức, kinh nghiệm sống, đạo đức thực tiễn của người dân” [44, tr.676]
Theo M Gorki, nghệ thuật ngôn ngữ sinh ra do quá trình lao động củacon người từ thời xưa, là xu hướng con người muốn đúc kết kinh nghiệm laođộng vào một hình thức ngôn ngữ dễ nhớ và bám chặt vào ký ức – những hìnhthức thơ hai chữ, tục ngữ, truyền ngôn là những khẩu hiệu lao động thời cổ.Cho nên, tục ngữ được ước đoán đã có từ thời cổ Đó là lời ăn tiếng nói củanhân dân, nhằm đúc kết những kinh nghiệm, những điều quan sát được, nhữngchân lý thông thường trong quá trình lao động của nhân dân về các hiện tượng
tự nhiên, về lao động sản xuất, về quan hệ gia đình, về con người và đời sống
xã hội được lưu truyền qua nhiều thế kỉ Nhân dân lao động dùng tục ngữ đểthể hiện thế giới quan và nhân sinh quan của mình Tục ngữ được sáng tạo ratrước hết nhằm đáp ứng nhu cầu tổng kết và phổ biến kinh nghiệm đời sống,kinh nghiệm lịch sử - xã hội của mỗi cộng đồng Những kinh nghiệm ấy được
Trang 14rút ra trong quá trình đấu tranh thiên nhiên và đấu tranh xã hội, được thểnghiệm nhiều lần trong thực tiễn, đã trở thành những chân lý có tính chất phổbiến, được toàn thể nhân dân lao động công nhận và sử dụng Tục ngữ vừatổng kết những kinh nghiệm sống, vừa thể hiện lí tưởng sống của nhân dân,biểu hiện trí tuệ của nhân dân trong việc nhận thức thế giới, xã hội và conngười Tóm lại, theo các nhà biên khảo thì các câu tục ngữ là một “quyểnsách khôn, một kho tàng kinh nghiệm và hiểu biết về vũ trụ và về nhân sinh”giúp cho dân gian ta “có được một tri thức thông thường để làm ăn và cư xử ởđời” Trí khôn đó rất phong phú và đa dạng, được nhân dân vận dụng trongđời sống sinh hoạt, giao tiếp cộng đồng và xã hội như lời ăn tiếng nói vàkhuyên răn, bộc lộ một cách sâu sắc kinh nghiệm sống, lối sống, tư tưởng đạođức, qua đó thể hiện thái độ ứng xử và tình cảm của nhân dân đối với nhữngvấn đề của cuộc sống: “Tục ngữ diễn đạt rất hoàn hảo toàn bộ kinh nghiệmsống, kinh nghiệm lịch sử xã hội của nhân dân lao động” [17, tr.229].
Sự hình thành của tục ngữ có thể quy vào ba nguồn chính: Một bộ phậnđược hình thành trong đời sống sản xuất và đấu tranh của nhân dân Một bộphận khác được rút ra, tách ra từ những sáng tác dân gian khác (ca dao, truyện
cổ tích, câu đố) Và một bộ phận những câu tục ngữ hình thành do con đườngdân gian hóa những lời hay ý đẹp rút ra từ các tác phẩm văn học Trong đó, cóthể nói, nguồn chủ yếu hình thành tục ngữ là từ thực tiễn đời sống của nhândân, vì vậy tục ngữ là “tấm gương phản ánh đời sống xã hội và tự nhiên”
Nội dung tục ngữ là những nhận định, quan niệm, những nhận xét phánđoán, những kinh nghiệm, kết luận của nhân dân về lao động, về tự nhiên,lịch sử - xã hội và con người,… có khi được tổng kết lại dưới dạng các tưtưởng triết lý dân gian Những kinh nghiệm ấy thông qua tập thể, được đúckết bằng những câu xuôi tai hoặc vần vè và được phổ biến trong dân gian
Tục ngữ phản ánh những kinh nghiệm về lao động sản xuất Tục ngữ về
Trang 15lao động sản xuất phản ánh một số nét chính điều kiện và phương thức laođộng của nhân dân, phản ánh đặc điểm đời sống dân tộc Những kinh nghiệmđược nảy sinh trong quá trình đấu tranh, cải tạo và chinh phục thiên nhiên đượcđúc kết trong tục ngữ được phổ biến rộng rãi, trở thành tri thức khoa học kỹthuật dân gian Biểu đạt những kinh nghiệm, những tập quán làm ăn lâu đời củanhân dân Việt Nam trong hoàn cảnh một nước nông nghiệp với kĩ thuật sảnxuất thô sơ Khi nhận xét về thời tiết và các hiện tượng tự nhiên, người laođộng đã đúc rút ra được những kinh nghiệm hết sức có giá trị về đặc điểm và
sự biến dịch của thời tiết ở từng vùng, từng mùa: “Nắng chóng trưa, mưa chóng tối”; “Kiến cánh vỡ tổ bay ra, bão táp mưa sa gần tới”; “Cầu vồng mống cụt, không lụt thì bão”; “Dày sao thì nắng, vắng sao thì mưa”.
Tục ngữ về lao động sản xuất thể hiện tinh thần sáng tạo của nhân dântrong lao động, song chủ yếu là kinh nghiệm thực tiễn Nhiều kinh nghiệm chỉphản ánh những biểu hiện cụ thể của những quy luật tự nhiên ở địa phương, ởtừng thời điểm nhất định
Bộ phận chủ yếu của tục ngữ là nói về các hiện tượng lịch sử - xã hội,những quan niệm nhân sinh, tư tưởng chính trị và xã hội, phản ánh những tậpquán, thị hiếu, cuộc đấu tranh của nhân dân Một số câu tục ngữ ghi lại một vài
ký ức về thời kỳ bình minh của lịch sử dân tộc, với những nét phác họa về một
cuộc sống hoang dã: “Ăn lông ở lỗ”; “Con dại cái mang”; “Năm cha ba mẹ”.
Tục ngữ Việt Nam chủ yếu phản ánh những tập tục sinh hoạt của gia
đình và xã hội, sinh hoạt vật chất và tinh thần của nhân dân trong thời phongkiến về mọi mặt như ăn, ở, mặc, giao tế, cưới xin, ma chay, hội hè, sinh hoạttôn giáo Không những thế, nó còn thể hiện triết lý dân gian của dân tộc Phảnánh những kinh nghiệm sống và lối sống của nhân dân, phản ánh truyền thống
tư tưởng và đạo đức của nhân dân lao động, trong đó bao hàm những tư tưởngchính trị xã hội và tư tưởng triết học
Trang 16Tục ngữ thể hiện chủ nghĩa nhân đạo chân chính của nhân dân laođộng, trước hết là tư tưởng đề cao con người và giá trị cao quý của con người,
xem con người là tinh hoa của trời đất: “Người ta là hoa của đất”; “Người làm ra của, của không làm ra người”; “Người như hoa ở đâu thơm đó”.
Biểu hiện ở thái độ đánh giá về lao động, cách xét đoán con người qua lao động: “Tay làm hàm nhai, tay quai miệng trễ”; “Của một đồng, công một nén” Phản ánh khá phong phú những đức tính tốt đẹp của nhân dân lao động,
thể hiện truyền thống tư tưởng, đạo đức của nhân dân thông qua những nhậnxét, suy ngẫm rất sâu sắc về hiện thực Tục ngữ là tấm gương phản ánh, qualời nói hàng ngày, mọi biểu hiện của đời sống dân tộc, quan niệm của nhândân về lao động, về các hiện tượng lịch sử - xã hội, về đạo đức, tôn giáo,…đều được phản ánh một cách chân thực
Về hình thức nghệ thuật, tục ngữ, xét cho nghiêm ngặt, chưa phải lànhững tác phẩm văn học hoàn chỉnh về tất cả các mặt Nhưng trên nhiềuphương diện của nghệ thuật biểu đạt, nó đã vươn tới những tiêu chuẩn củamột sáng tác nghệ thuật dân gian với những nét độc đáo, đặc sắc riêng củamình Là một loại sáng tác dân gian nảy sinh và gắn liền với lời ăn, tiếng nóitrong cuộc sống hàng ngày của nhân dân, tục ngữ có phần gần với nhận thứckhoa học, nhận thức lý luận và được xem như một loại triết lý dân gian mangtính chất bền vững Tính chất bền vững của tục ngữ biểu hiện ra cả về mặt nộidung cũng như về mặt hình thức
Đa số tục ngữ đều có 1 vế, chứa 1 phán đoán, mang tính độc lập tương
đối: “Nắng tháng tám rám trái bưởi”; “Gái một con trông mòn con mắt”.
Nhưng cũng có thể gồm nhiều vế, chứa nhiều phán đoán, thường cân xứng về
số chữ, về ý và lời: “Ăn vóc, học hay”; “Đói cho sạch, rách cho thơm”.
Mỗi câu tục ngữ đều dùng hình ảnh, sự việc, hiện tượng cụ thể để nóilên ý niệm trừu tượng, dùng cái cá biệt để nói lên cái phổ biến, vì vậy ở mỗicâu tục ngữ thường có hai nghĩa: nghĩa đen và nghĩa bóng Cái cụ thể, cá biệt
Trang 17tạo nên nghĩa đen, còn cái trừu tượng, phổ biến tạo nên nghĩa bóng.
Hai thể loại tục ngữ, ca dao có mối quan hệ với nhau, có những trườnghợp xâm nhập lẫn nhau Trong ca dao cũng có xen tục ngữ và cũng có nhữngcâu ca dao chỉ có hình thức là ca dao còn nội dung lại là tục ngữ, khi nhữngcâu tục ngữ có thêm yếu tố cảm xúc thì lúc đó tục ngữ sẽ tiếp cận với ca dao,
thí dụ những câu như: “Ai ơi chẳng chóng thì chày/ Có công mài sắt có ngày nên kim”; “Lời nói chẳng mất tiền mua/ Lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau”.
Thường được nhân dân sử dụng như những câu tục ngữ, đồng thời donội dung cô đọng, hàm súc, nhiều câu ca dao chủ yếu là những câu ca dao
nhận định về con người và việc đời lại được dùng như tục ngữ: “Hơn nhau tấm áo, manh quần/ Đến khi cởi trần ai cũng như ai”; “Đem cực mà đổ lên non/ Còng lưng mà chạy cực còn theo sau”.
Tuy nhiên, nếu nội dung tục ngữ là một phán đoán, thiên về lý trí, đúckết kinh nghiệm về cuộc sống một cách khách quan thì nội dung ca dao lạithiên về tình cảm, phô diễn tâm tình một cách chủ quan Hay nói cách khác,nếu tục ngữ thường dừng lại ở nhận thức hiện thực khách quan, nhận thức
“cái vốn có” thì ca dao tiến thêm một bước rất quan trọng là bộc lộ nguyệnvọng của nhân dân đối với việc cải tạo hiện thực, đề xuất ra “cái nên có”, giúpnhận thức cuộc sống và xây dựng lý tưởng về cuộc sống, do đó nhận thức ở
ca dao mang tính chủ quan
Như vậy, cả ca dao và tục ngữ đều có giá trị nhất định về mặt trí tuệ,tình cảm và nghệ thuật biểu hiện Thông qua việc sáng tác ca dao và tục ngữ,nhân dân đã góp phần đưa ngôn ngữ văn học đến trình độ nghệ thuật cao, vậndụng mọi khả năng về ngôn ngữ của dân tộc để biểu hiện một cách chính xác,tinh tế cuộc sống và hơn nữa để biểu hiện một cách sinh động, đầy hình tượngnguyện vọng của nhân dân về cuộc sống ấy Đối với các nhà văn, nhà thơ, cadao, tục ngữ vừa là nguồn tài liệu quý báu, vừa là nguồn sống gián tiếp Vì
Trang 18vậy, việc nắm vững kho tàng ca dao, tục ngữ sẽ giúp họ giàu thêm vốn sốngcũng như ngôn ngữ của dân tộc, và do đó các sáng tác của họ sẽ tăng thêmsức sống, đậm đà màu sắc dân tộc và gần gũi với tâm hồn của quần chúng.
1.1.2 Ca dao, tục ngữ - một trong những hình thái ý thức đặc biệt phản ánh tồn tại xã hội
Ca dao, tục ngữ Việt Nam là một bộ phận cấu thành quan trọng của vănhọc dân gian Việt Nam, một thành tố của ý thức thẩm mỹ phản ánh tồn tại xãhội Bởi thế, ca dao, tục ngữ Việt Nam cũng chính là một khía cạnh của hìnhthái ý thức xã hội
Cũng như mọi hình thái ý thức xã hội khác, ca dao, tục ngữ phát sinhtrong quá trình hoạt động sản xuất có ý thức của tập thể những con ngườisống thành xã hội, trình độ tư duy đã phát triển ở một mức độ nhất định vànhững cảm xúc thẩm mỹ đã bước đầu nảy sinh Ca dao, tục ngữ, xét thực chất
và chức năng của nó, chính là tấm gương phản chiếu cuộc sống xã hội Chính
sự phong phú của cuộc sống sản xuất chiến đấu, dựng nước và giữ nước đãtạo nên sức sống mãnh liệt cho tục ngữ, ca dao Việt Nam Và cũng vì sứcsống ấy tượng trưng cho khả năng tồn tại không bao giờ bị đứt đoạn của nhândân Việt Nam, khí phách anh hùng của dân tộc Việt Nam Nói cách khác, cadao, tục ngữ Việt Nam đã phản ánh mọi mặt của đời sống, mọi khía cạnh vănhóa tinh thần của dân tộc, đã thể hiện bản lĩnh của dân tộc kết tinh ở chủnghĩa yêu nước, chủ nghĩa anh hùng và chủ nghĩa nhân đạo sâu sắc
Chủ nghĩa duy vật lịch sử đã chứng minh rằng, đời sống tinh thần của
xã hội hình thành và phát triển trên cơ sở của đời sống vật chất, rằng khôngthể tìm nguồn gốc của tư tưởng, tâm lý xã hội trong bản thân nó, nghĩa làkhông thể tìm trong đầu óc con người mà phải tìm trong hiện thực vật chất.Với lịch sử lâu đời và bản lĩnh của mình, dân tộc ta đã hình thành và phát triểntrong một quá trình đấu tranh gian khổ và vinh quang Từ bốn nghìn năm trước,
Trang 19các bộ lạc người Việt và các bộ lạc khác ở trên đất nước ta vốn cùng chungnguồn gốc Nam Á, đã cùng nhau phấn đấu xây dựng và bảo vệ quê hươngchung, đã giao phối huyết thống, giao phối văn hóa để rồi đi tới chỗ coi nhau làđồng bào, là anh em cùng chung một mẹ, xây dựng nên một nền văn hóa độcđáo Gắn với sự nghiệp dựng nước và giữ nước ấy, văn học dân gian mà đặcbiệt là ca dao, tục ngữ đã được hình thành và phản ánh mọi mặt đời sống vậtchất và tinh thần của nhân dân ta Chính Mác và Ăngghen đã nhiều lần nhậnxét, các sáng tác dân gian gắn liền chặt chẽ với lịch sử và sinh hoạt của nhândân Nhờ đó mà chúng ta có thể tìm thấy trong ca dao, tục ngữ những tiếngvang của quá khứ, những dấu vết do bao thế hệ để lại
Theo quan điểm của triết học Mác, ý thức xã hội là sự phản ánh tồn tại
xã hội, vì ý thức xã hội có nguồn gốc từ tồn tại xã hội Ca dao, tục ngữ ViệtNam là tấm gương phản chiếu đời sống kinh tế - xã hội và các quan hệ xã hộicủa quần chúng nhân dân lao động Việt Nam trong những giai đoạn lịch sửkhác nhau Tuy nhiên, khi khẳng định vai trò quyết định của tồn tại xã hội đốivới ý thức xã hội, chủ nghĩa duy vật lịch sử không xem ý thức xã hội như mộtyếu tố thụ động, trái lại còn nhấn mạnh tác dụng tích cực của ý thức xã hộiđối với đời sống kinh tế - xã hội, nhấn mạnh tính độc lập tương đối của ý thức
xã hội trong mối quan hệ với tồn tại xã hội Cho nên, cũng như mọi khía cạnhcủa hình thái ý thức xã hội khác, khi phản ánh sự tồn tại của đời sống hiệnthực đã không chỉ có tác động một chiều, tức là bị tác động bởi tồn tại xã hội
mà nó còn có sự tác động trở lại đối với tồn tại xã hội ấy Nói cách khác, cadao, tục ngữ có vai trò quan trọng trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước củanhân dân ta từ xưa đến nay Bằng sự truyền đạt những giá trị tinh thần củamình tục ngữ, ca dao đã giúp cho bao thế hệ người Việt Nam củng cố lòng tựhào dân tộc, tiếp nối hoài bão nối gót các thế hệ cha ông để khai thác và làmgiàu thêm di sản truyền thống của dân tộc Có thể nói, ca dao, tục ngữ đã góp
Trang 20phần nâng cao phẩm giá của mỗi cá nhân trong xã hội, từ đó góp phần nângcao phẩm giá của cả dân tộc Nó chính là thước đo để đo lường mức độ cuộcsống tinh thần của một dân tộc, trình độ trưởng thành của họ về tình cảm, tưduy và thẩm mỹ Do đó, nó được xem là thứ chất liệu quý có giá trị cao đểxây dựng con người mới xã hội chủ nghĩa.
Khi nói ca dao, tục ngữ Việt Nam gắn bó chặt chẽ với đời sống sinhhoạt của người lao động Việt Nam, chúng ta khẳng định rằng ca dao, tục ngữ
ra đời từ trong lao động Là bức tranh toàn diện về cuộc sống lao động và đờisống tinh thần của người bình dân Đồng thời nó gắn liền với đời sống lễ hộitruyền thống của người lao động Việt Nam
Đi cùng chiều dài của quá trình lịch sử, ta thấy có những câu ca dao,tục ngữ ra đời từ rất sớm, ngay từ buổi bình minh của nhân loại Tuy nhiênkhông phải ngay từ thời kỳ mông muội mà khi trình độ tư duy của con ngườiphát triển ở một mức độ nhất định, đồng thời là sự nảy sinh và phát triển củanhững cảm xúc thẩm mỹ của con người Mác đã vạch rõ nghệ thuật chỉ xuấthiện trong quá trình hoạt động thực tiễn của con người khi nào cảm xúc thẩm
mỹ không bị “lệ thuộc vào những nhu cầu thực tiễn thô thiển” [31, tr.77]
Như vậy, tìm trong tục ngữ, ca dao chúng ta sẽ thấy được môi trườngsinh hoạt của ca dao tục ngữ suy đến cùng là do những điều kiện lịch sử - xãhội của đời sống nhân dân, do những hình thức sinh hoạt vật chất và tinh thầncủa đời sống nhân dân quy định Những bức tranh này hòa quyện vào nhau,xâm nhập và bổ sung cho nhau một cách chặt chẽ
Khi tìm hiểu bức tranh sinh hoạt vật chất và tinh thần của đời sống xãhội, ta thấy trong bất kỳ một hình thái xã hội nào, sản xuất để dựng nước vàchiến đấu để giữ nước là hai bánh xe của lịch sử, không hề đi chệch ra ngoàiquỹ đạo của độc lập, tự chủ, bảo đảm cho cuộc sống trường tồn, bền vững củamỗi dân tộc Đó là hai nhân tố không tách rời nhau của sự tồn tại và phát triển
Trang 21của xã hội Và bất kỳ ở nơi nào, trong thời đại lịch sử nào quần chúng nhândân cũng chính là người làm ra lịch sử Chính cuộc sống sản xuất, chiến đấugắn chặt với quá trình dựng nước và giữ nước của cha ông ta đã vẽ nên bứctranh sinh hoạt vật chất, tinh thần sinh động của người Việt qua bao thế hệ.Văn học dân gian nói chung, ca dao và tục ngữ nói riêng đều xuất phát trựctiếp từ lao động rồi lại trực tiếp phục vụ cho sản xuất và lao động của nhândân Nói cách khác, ca dao tục ngữ nảy sinh và tồn tại như một bộ phận hợpthành của sinh hoạt nhân dân Nó gắn liền với sinh hoạt mọi mặt của ngườidân và tham gia vào những sinh hoạt đó với tư cách là một thành phần, mộtnhân tố cấu thành Cho nên sinh hoạt nhân dân chính là môi trường sống của
ca dao, tục ngữ
Việt Nam là một nước nông nghiệp, cho nên từ xa xưa, đất đai, ruộngvườn đối với người nông dân được xem là tài sản vô giá Nền văn hóa nôngnghiệp, sản xuất lúa nước truyền thống của dân tộc ta đã để lại dấu ấn sâuđậm trong đời sống văn hóa, sinh hoạt, lao động của nhân dân Mặt khác, dođịa bàn cư trú của tổ tiên xa xưa của chúng ta vốn là dải đất trù phú, rất đadạng về địa lý, được ưu đãi về đất đai: phì nhiêu, màu mỡ; nhưng lại vô cùngkhắc nghiệt về thời tiết: vừa có mưa thuận gió hòa lại vừa ẩm ướt, hạn hán, lũlụt, bão tố,… Trải qua bao thế hệ người Việt xưa đã tích lũy được nhiều kinhnghiệm trong sản xuất và dự báo những hiện tượng tự nhiên như nắng, mưa,gió rét, bão lụt có ảnh hưởng đến mùa màng, thời vụ Những kinh nghiệmmáu xương của bao đời được tích tụ trong những câu tục ngữ, ca dao về trồnglúa, trồng cây, chăn nuôi,… Đây chính là bài học quý giá mà người nông dânViệt Nam xưa kia truyền lại cho các thế hệ cháu con
Nền nông nghiệp còn phôi thai nên trông cậy nhiều vào thời tiết, ngườilao động hiểu rằng, mưa thuận gió hòa thì được mùa, người người no ấm, nhànhà vui tươi Mưa giông, bão dữ hay lụt lội, mùa màng thất bát thì sẽ đói khổ
Trang 22Vì vậy thời tiết là câu cửa miệng mọi người trao đổi khi gặp nhau Việc tìmhiểu về thời tiết, khí hậu để rút ra những kinh nghiệm, những quy luật hoạtđộng của nó là một việc làm hết sức cần thiết trong sản xuất nông nghiệp khiđiều kiện khoa học kỹ thuật chưa phát triển Khi chưa có khoa học khí tượng,người xưa đã biết dựa vào quá trình quan sát thời tiết, sự vật và rút ra đượcnhững quy luật ngắn gọn, cụ thể về những biến động mưa, nắng của thời tiết:
“Mây xanh thì nắng, mây trắng thì mưa”; “Mống dài trời lụt, mống cụt trời mưa”; “Én bay thấp mưa ngập cầu ao/ Én bay cao mưa rào lại tạnh” Những
nét đặc biệt của các tháng trong năm cũng được đúc rút thành những kinh
nghiệm: “Tháng giêng rét đài/ Tháng hai rét lộc/ Tháng ba rét nàng Bân”;
“Đêm tháng năm chưa nằm đã sáng/ Ngày tháng mười chưa cười đã tối”.
Bên cạnh đó, cha ông ta cũng đã tổng kết một cách chính xác, sinh động sự
luân chuyển của thời gian: “Qua giêng hết năm, qua rằm hết tháng”;“Nắng chóng trưa, mưa chóng tối”; “Gió nam đưa xuân sang hè”.
Để có được những kinh nghiệm hết sức quý báu đó phải là một quátrình quan sát các hiện tượng thời tiết được lặp đi lặp lại trong thực tế gần nhưtrở thành quy luật của chúng Mặc dù do hạn chế về mặt lịch sử, lúc bấy giờtrình độ nhận thức của người dân còn hạn chế, nhưng họ đã có khả năng nhậnbiết các hiện tượng thời tiết, khí hậu bằng trí tuệ tinh khôn, bằng sự cảm nhậnhết sức tinh tế để có thể khái quát hóa các hiện tượng riêng lẻ thành cáichung, cái phổ biến Từ đó nắm bắt được những thuộc tính chung nhất cácquy luật vốn có của tự nhiên nhằm hạn chế những thiệt hại do sự thay đổi thờitiết, khí hậu gây ra Đó chính là quá trình lao động của nhân dân tác động vàogiới tự nhiên làm cho giới tự nhiên bộc lộ những thuộc tính, những quy luậtvốn có của mình Từ đó người dân thấy được các sự vật hiện tượng đều nằmtrong mối liên hệ phổ biến, ảnh hưởng qua lại lẫn nhau Càng ngày người dâncàng nhận thấy mối liên hệ giữa các hiện tượng càng đa dạng hơn Trên cơ sở
Trang 23đó người lao động đã đúc kết thành những kinh nghiệm quý báu về dự báothời tiết, khí hậu nhằm phục vụ cho lao động sản xuất Những kinh nghiệm ấydần dần phổ biến rộng rãi và trở thành những tri thức khoa học về tự nhiên,qua đó cho thấy mối quan hệ gắn bó chặt chẽ giữa con người với tự nhiên.
Để gieo cấy thành công, đúng thời vụ và bội thu người dân phải quansát tỉ mỉ các hiện tượng tự nhiên trong một quá trình nhất định chứ không phảichỉ một sớm, một chiều, ghi nhớ các kỹ thuật canh tác để đúc rút thành cẩmnang kinh nghiệm sản xuất cho bao thế hệ đi sau Muốn gieo trồng, cày bừahiệu quả không phải cứ tùy tiện thích trồng cây gì và vào lúc nào là trồng màphải dựa vào các điều kiện thuận lợi của tự nhiên, nếu làm trái thời tiết sẽ rất
dễ thất bại: “Mồng chín tháng chín có mưa/ Thì con sắm sửa cày bừa làm ăn,
…”; “Gió đông là chồng lúa chiêm/ Gió bấc là duyên lúa mùa”.
Muốn cho lúa tốt, thu hoạch khá, việc cấy lúa cũng phải chú ý, nếu cấydày quá cây lúa chen chúc nhau không đủ đất ăn sẽ không cho thóc, người
xưa đã dạy: “Cấy thưa thừa thóc, cấy dày cóc được ăn”; “Cấy thưa hơn bừa kĩ” Đồng thời từ thực tiễn của việc chăm bón, vun trồng người lao động đã
rút ra được kinh nghiệm không thể thiếu của quy trình sản xuất nông nghiệp
mà cho đến ngày nay vẫn là những cẩm nang quý của người nông dân: “Làm ruộng thì phải đắp đìa/ Vừa để giữ nước, khi về dễ đi”; “Nhai kỹ no lâu, cày sâu tốt lúa”; “Thứ nhất cày nỏ, thứ nhì bỏ phân”.
Làm nghề nông ở xứ ta dựa vào thời tiết rất nhiều, nếu không đoánđược thời tiết nhiều khi hư hỏng cả vụ lúa ngay cả khi sắp được thu hoạch Từ
đó, người lao động cho rằng thà gặt non một chút đưa về nhà còn hơn để ởngoài đồng lỡ mưa gió, giông bão đến bất ngờ, lúc đó không kịp gặt sẽ coinhư bị mất trắng Lúa gặt về sân rồi, phải qua nhiều công đoạn mới cho rađược những thúng thóc Ngày mùa, mưa gió là đại họa cho nông dân Chính
vì thế, việc sắp xếp thời khóa biểu một cách khoa học là hết sức cần thiết:
Trang 24“Cơn mưa đằng đông vừa trông vừa chạy/ Cơn mưa đằng tây mưa dây bão giật/ Cơn mưa đằng nam vừa làm vừa chơi/ Cơn mưa đằng bắc đổ thóc ra phơi”; “Nắng sớm trồng cà/ Mưa sớm ở nhà phơi thóc”.
Dựa vào tự nhiên, tuân thủ theo nguyên tắc mùa nào thức nấy đã ăn sâutrong suy nghĩ, kinh nghiệm của người dân lao động Không những cây lúa
mà các loại hoa màu khác cũng được người nông dân hết sức chú ý: “Trồng sắn buổi mai, trồng khoai buổi chiều”; “Tháng giêng là tháng ăn chơi/ Tháng hai trồng đậu, trồng khoai, trồng cà…”; “Đom đóm bay ra, trồng cà tra đỗ”; “Tháng giêng trồng trúc, tháng lục trồng tiêu”.
Ca dao, tục ngữ Việt Nam phản ánh nhiều sắc thái trong lao động sảnxuất và mối quan hệ giữa con người với tự nhiên; phản ánh tập quán làm ănlâu đời trong hoàn cảnh sản xuất nông nghiệp của người nông dân với những
kỹ thuật sản xuất thô sơ Bên cạnh đó những kiến thức về chăn nuôi, đánh bắtcũng được lưu ý để từ đó đúc kết được nhiều kinh nghiệm quý báu cho concháu mai sau
Việc tậu trâu, bò có ảnh hưởng lớn đến kinh tế gia đình của họ: “Con trâu là đầu cơ nghiệp” Muốn tậu trâu, bò phải học những kinh nghiệm của
tiền nhân Từ thực tiễn cuộc sống sản xuất và lao đông của mình, người nôngdân biết rằng việc chọn trâu, bò tốt có ý nghĩa hết sức quan trọng trong laođộng Từ đó họ đã đúc kết được những kinh nghiệm chung để tậu trâu bò:
“Trâu hoa tai, bò gai sừng”; “Trâu tóc chóp, bò mũ mấn”; “Trâu đen ăn kỹ cày hay/ Trâu bạc ăn nhón, lại day đường cày” Ngoài trâu bò, nhà nông cũng nuôi gà, vịt để ăn thịt Gà đẻ sai trứng rất được ưa chuộng: “Nuôi gà phải chọn giống gà/ Gà ri bé giống nhưng mà đẻ mau”; “Gà nâu chân thấp mình to/ Đẻ nhiều trứng lớn con vừa khéo nuôi”.
Hình ảnh những con vật thân quen như chó, mèo cũng rất gần gũi vớingười dân Người xưa đã biết nuôi chó để giữ nhà, phòng trộm đạo Chó
Trang 25giống phải có tiêu chuẩn sau đây: “Chó khôn tứ túc huyền đề/ Tai thì hơi cụp, đuôi thì hơi cong/ Giống nào mõm nhọn đít vòng/ Ăn càn, cắn bậy ấy không
ra gì”; “Nhất chó bốn đeo, nhì mèo tam thể”.
Cư dân ở vùng đồng bằng nước ta làm nông nghiệp nhưng những vùngven biển, người dân đa số làm nghề đánh cá, chài lưới Qua quá trình lao độngsản xuất, ngư phủ đã đúc kết được những kinh nghiệm đi lưới có hiệu quả:
“Trời sương mù, nhiều cá thu cá nục”; “Tôm đi chạng vạng, cá đi rạng đông” Không những thế họ còn đúc kết được những kinh nghiệm nhận biết
những biến đổi của thời tiết để ứng phó kịp thời trong lao động; những kinhnghiệm về nước lên, nước ròng để trù liệu chính xác những chuyến ra khơi,
vào lộng mà không bị trở ngại vì thời tiết: “Đông Nam có chớp chéo nhau/ Thấp sát mặt biển hôm sau bão về”; “Những người đi biển làm nghề/ Thấy dòng nước nóng thì về đừng đi”.
Như vậy tục ngữ, ca dao ra đời từ lao động, từ thực tiễn cuộc sống sinhđộng của nhân dân Đó là những kinh nghiệm lâu đời và có tính chất tập thểđược hình thành trên cơ sở quan sát, suy ngẫm về những sự việc, sự kiện thực
tế được lặp đi lặp lại nhiều lần Sẽ rất khó tìm được tiếng vang kinh nghiệmchỉ từ một sự việc, một sự kiện thực tế đơn độc, mà phải từ nhiều người, phải
cả đời, nhiều đời, mồ hôi nước mắt trên đồng ruộng Vì thế cả lịch sử hàngngàn năm chống ngoại xâm của dân tộc ta chỉ để lại cho kho tàng tục ngữ của
dân tộc một số câu giản dị như: “Nước mất, nhà tan”; “Giặc đến nhà đàn bà cũng đánh” Nhưng đó chính là những kinh nghiệm, những bài học xương
máu của bao thế hệ, là những chân lý lớn của lịch sử giữ nước của dân tộc
Tóm lại, qua những câu ca dao, tục ngữ có vần có điệu, duyên dáng,sinh động, dễ nhớ ta thấy đời sống hiện thực với muôn màu sắc phong phú đãhiện lên rõ nét trong tục ngữ, ca dao Việt Nam Từ nội dung hiện thực xã hội
đó, người xưa đã gửi gắm những tình cảm gắn bó, những kinh nghiệm, triết lý
Trang 26sống cao đẹp của mình, thể hiện sự hòa mình với thiên nhiên, đồng thời ấp ủkhát vọng chinh phục, cải tạo thiên nhiên của con người.
Với tục ngữ đó chính là những kinh nghiệm làm ăn truyền từ đời nàysang đời khác; là sự phản ánh những thói quen, những tập quán trong laođộng sản xuất của cư dân ở một nước tiểu nông Còn ca dao, như phần đầu đãphân tích, là những câu đã thành khúc điệu và chưa thành khúc điệu, tức làvừa để hát vừa để đọc, mà chủ yếu là để hát Cũng chính vì nguồn gốc ra đờinhư thế cho nên trong nhiều trường hợp của lao động hay của sinh hoạt ca daobiến thành dân ca Có một số ca dao được người dân sáng tác theo nhu cầucủa đời sống lao động, nhằm làm giảm nhẹ lao động và tăng năng suất laođộng Trước khi lao động, trong khi lao động và sau khi lao động, ca dao haydân ca đều được sử dụng với mục đích đó Đó là những bài ca tế thần, bài hátđám cưới, hát đối đáp nam nữ trong những lễ hội truyền thống của người laođộng, hát ru em,… trong sinh hoạt hàng ngày của gia đình và sinh hoạt xã hội.Hay ca dao, dân ca lao động được nảy sinh trực tiếp từ trong quá trình laođộng, được hát lên khi người ta kéo thuyền, kéo gỗ, có tác dụng làm giảm nhẹ
sự mệt nhọc, bằng cách tăng cường cảm giác nhịp điệu trong công việc, gópphần tổ chức, phối hợp động tác khi lao động tập thể, nhằm gây sự phấn khíchtrong lao động bằng sự nhận thức thẩm mỹ về quá trình lao động đó, làm chocon người yêu mến hơn nghề nghiệp của mình, yêu mến ruộng đồng, núirừng, quê hương đất nước và không ngại những việc nặng nhọc, không ngạilên thác, xuống ghềnh Cũng như các thể loại văn học dân gian khác, tục ngữ
ca dao không thể tồn tại và phát triển ngoài sinh hoạt của nhân dân
Như vậy, sự gắn bó chặt chẽ với cuộc sống người lao động Việt Nam lànhững đặc trưng cơ bản, chi phối, xuyên suốt quá trình sáng tạo và lưu truyềntục ngữ, ca dao Việt Nam, thể hiện sự gắn bó mật thiết của ca dao, tục ngữvới các sinh hoạt khác nhau trong đời sống cộng đồng
Trang 27Trong lịch sử văn học của các dân tộc, trước khi tiến tới giai đoạn cóchữ viết với những sáng tác được ghi chép thành văn, trong dân gian đã cónhững câu nói ngắn, gọn có ý nghĩa; những câu hát theo giọng điệu tự nhiên
để biểu lộ, gửi gắm tình cảm; những mẩu chuyện để cắt nghĩa các hiện tượngthiên nhiên hay các tập tục, tín ngưỡng Văn học dân gian truyền khẩu (vớinhững tục ngữ, ca dao, truyện cổ tích,…) đã xuất hiện trong rất nhiều xã hộitrước khi con người tìm ra chữ viết Cho nên, tục ngữ, ca dao,… là nguồn tàiliệu văn học quan trọng của nhiều dân tộc trên thế giới, không riêng gì dân tộcViệt Nam
Đối với dân tộc ta, dòng văn học dân gian có một địa vị đáng kể hơnthế nữa Suốt trên 1000 năm Bắc thuộc, văn tự chính thức được công nhận làchữ Hán, thứ chữ không diễn đạt được tiếng nói của dân tộc Việt Sau khi lấylại được chủ quyền, tuy tiền nhân ta có thêm chữ nôm, nhưng vì khó học, khónhớ, cho nên trong xã hội lúc bấy giờ số người biết đọc, biết viết để có thểdiễn đạt ý tưởng, tình cảm bằng chữ rất ít Đại đa số dân chúng đã sáng tác vàlưu giữ các tác phẩm dưới dạng truyền khẩu hay còn gọi là truyền miệng.Chính vì thế, dòng văn học dân gian truyền khẩu rất phong phú và có vị trí hếtsức quan trọng trong kho tàng văn học Việt Nam
Trong giai đoạn phát triển đầu tiên của lịch sử loài người, cũng nhưmọi hoạt động tinh thần khác, nghệ thuật không tồn tại dưới dạng độc lập, màgắn bó và hầu như hòa làm một với hoạt động thực tiễn của con người Từ lúchình thành cho đến nay, ca dao tục ngữ bao giờ cũng gắn liền mật thiết vớimọi sinh hoạt đời sống của nhân dân Thiên nhiên, công việc lao động, sinhhoạt hội hè, đình đám, các cuộc gặp gỡ giữa thanh niên nam nữ, những buổi
tụ họp vui chơi của trẻ em… là môi trường để nảy sinh các sáng tác văn họcdân gian mà điển hình là sự xuất hiện của ca dao, tục ngữ
Ca dao, tục ngữ là một thể loại văn học dân gian truyền miệng, sản
Trang 28phẩm của quá trình sáng tác tập thể, là tiếng nói chung của cả một cộng đồngchứ không phải là của riêng một cá nhân cụ thể, nhằm mục đích phục vụ trựctiếp các sinh hoạt khác nhau trong đời sống cộng đồng Bằng lời văn mộc mạc
mà sâu sắc hóm hỉnh, nội dung của những câu ca dao, tục ngữ chất chứa cảmnghĩ trung thực của con người đứng trước cuộc sống phức tạp, nhiều ngangtrái Có thể nói, ca dao, tục ngữ là tiếng nói của con tim, khối óc, nên tronggiao tiếp, ai ai cũng thích truyền đạt cho nhau, do đó trở thành phổ biến Tất
cả ca dao và tục ngữ đều qua sự chọn lọc của người đương cuộc và thời gian,lại có vần điệu dể thuộc, dể nhớ nên trở thành lời ca của đại chúng, không cònbiết ai là tác giả và cũng không biết được nó ra đời từ bao giờ Bởi vì tục ngữ,
ca dao đã được truyền miệng và gọt dũa từ đời nọ qua đời kia, nên câu văn rất
tự nhiên, trong sáng và đã biểu lộ tính tình, phong tục của dân tộc ta một cáchchất phác và chân thực Do đó, tục ngữ, ca dao còn được gọi là một thể loại vănchương bình dân hay văn chương truyền khẩu Tính truyền miệng được nhiềutác giả xem là một trong những đặc trưng cơ bản nhất của dòng văn học dângian nói chung và của ca dao, tục ngữ nói riêng Nói đến truyền miệng là nóiđến quá trình diễn xướng dân gian hào hứng và sinh động Nhân dân lao độngbằng các phương thức như nói, hát, kể, đối đáp… đã tạo nên các tác phẩm nghệthuật ngôn từ để giải bày, trao đổi, giao lưu tình cảm, tư tưởng với nhau Tínhtruyền miệng làm nảy sinh một hệ quả đó là tính dị bản của tác phẩm văn họcdân gian Ngôn từ truyền miệng đóng vai trò quan trọng trong việc tạo nên nộidung, ý nghĩa và thế giới nghệ thuật của ca dao tục ngữ nhằm phản ánh sinhđộng hiện thực cuộc sống Chính vì thế, ca dao tục ngữ có đời sống của một tácphẩm biểu diễn Cũng chính nhờ đó, ca dao tục ngữ mới phát huy đầy đủ vẻđẹp sống động, hồn nhiên và thực sự hấp dẫn của nó
Sống đời sống của một tác phẩm biểu diễn, cho nên truyền miệng làphương thức chủ yếu để sáng tác, lưu truyền và biểu diễn các sáng tác ngôn từ
Trang 29dân gian, và trong những giai đoạn lịch sử nhất định, là phương thức duy nhấtcủa văn học dân gian nói chung và của ca dao tục ngữ nói riêng Ca dao, tụcngữ tồn tại dưới hình thức truyền miệng thông qua diễn xướng.Qua đó ca daotục ngữ được được lưu truyền từ đời này sang đời khác, từ người nọ sangngười kia không phải bằng chữ viết mà bằng lời qua sự nhập tâm, ghi nhớ.Chính vì thế nội dung của ca dao tục ngữ rất phong phú, đa dạng và nhiều vẻ,phản ánh một cách sinh động hiện thực cuộc sống trong những điều kiện lịch
sử xã hội mà nó tồn tại, nói lên được những gì thiết thân nhất trong tư tưởng
và tình cảm của quần chúng nhân dân
Việt Nam dưới thời phong kiến, có tới 90% nhân dân lao động bị mùchữ, cho nên truyền miệng chính là con đường, phương thức hữu hiệu nhấtđáp ứng tốt đòi hỏi được sáng tạo và hưởng thụ nghệ thuật của họ Trong quátrình lưu truyền, ca dao tục ngữ không ngừng được tập thể sáng tạo và hoànthiện, được bổ sung, chỉnh sửa, thêm bớt cho hoàn chỉnh, phù hợp với từngđịa phương mà nó cư trú Trong quá trình sáng tác tập thể, lúc đầu do cá nhânkhởi xướng, tác phẩm được hình thành và được tập thể hưởng ứng tham gia.Sau đó những người khác (có thể ở những địa phương khác nhau, hoặc ởnhững thời đại khác nhau) tiếp tục lưu truyền và sáng tác lại làm cho tácphẩm biến đổi dần phong phú hơn, hoàn thiện hơn cả về nội dung lẫn hìnhthức Ca dao tục ngữ cũng như những thể loại văn học dân gian khác dần dầntrở thành tài sản chung của tập thể Mỗi người đều có thể tiếp nhận, sử dụng,
bổ sung, sửa chữa và hoàn thiện ca dao tục ngữ theo quan niệm và khả năng
nghệ thuật của mình Ngôn ngữ truyền miệng đóng vai trò quan trọng trong
việc tạo nên nội dung, ý nghĩa và thế giới nghệ thuật của một tác phẩm vănhọc dân gian nhằm phản ánh sinh động hiện thực cuộc sống Mặt khác, khichưa có chữ viết, truyền miệng là phương thức duy nhất để nhân dân tạo nêntác phẩm văn học dân gian Song khi chữ viết đã hình thành thì nhân dân vẫn
Trang 30sử dụng phương thức truyền miệng là chủ yếu trong sáng tác, diễn xướng vàlưu truyền ca dao tục ngữ Cho nên phương thức truyền miệng, con đườngứng khẩu, con đường ứng tác phục vụ đắc lực và làm thỏa mãn nhu cầu giaolưu tình cảm trực tiếp bằng phương tiện nghệ thuật và nhu cầu được sáng tác,ứng đối tại chỗ của nhân dân Như vậy, ứng tác là một hình thức đặc biệt của
sự sáng tạo trong nghệ thuật Tác phẩm hình thành bằng con đường ứng tác làmột tác phẩm được xây dựng một cách chớp nhoáng và không có sự chuẩn bị
từ trước, về một đề tài cho sẵn hoặc về một sự kiện vừa mới xuất hiện trongđời sống Người có tài ứng tác dễ dàng là người có một cái vốn tích lũy dồidào những điều quan sát về cuộc sống, nắm vững và sử dụng thành thạo kĩthuật sáng tác và sắc sảo trong việc nắm bắt thực tại
Tóm lại, ca dao, tục ngữ là một thể loại văn học dân gian truyền miệngđược hình thành từ khi con người chưa có chữ viết Thường là những kinhnghiệm dân gian về các sự kiện chinh phục tự nhiên, chống giặc ngoại xâm,hoặc các hình thức sinh hoạt văn hóa của người xưa,… có gắn với một sựkiện nào đó trong lịch sử Tất cả những tác phẩm truyền miệng đều do nhândân lao động sáng tạo nên với một lối lôgic nhất định hợp với điều kiện tựnhiên của một vùng, một địa phương mà ở đó chúng ta bắt gặp những hìnhảnh, những địa danh rất đỗi thân quen và gần gũi,… tất cả đều qua sức tưởngtượng của nhân dân với một lối lôgic vừa có vẻ hợp lý vừa có vẻ hoangđường Bởi thế sự tồn tại của truyền miệng trong dân gian được bền lâu vàđược đông đảo nhân dân hưởng ứng Ca dao, tục ngữ được lưu truyền từ thế
hệ này sang thể hệ khác, người này kể cho người kia nghe nên qua mỗi lầntrao truyền như vậy nó lại mất đi tính nguyên bản của nó Chính vì thế, chođến nay nó đã được sáng tác lại rất nhiều, nó có thể được gọt đẽo một cáchcẩn thận và tỷ mỷ hơn khi sang cư trú ở những miền, những vùng khác nhau.Như nhà biên khảo Minh Hương trong cuộc hành trình “Trở về cội nguồn” đã
Trang 31nhận định rằng: “Với một tinh thần dẽo dai, bền bĩ phi thường, đại đa số dânquê dốt nát đã âm thầm và gián tiếp chống lại thế lực văn hóa Nho học khổng
lồ từ phương Bắc, bằng cái lợi khí của dân tộc: ca dao, tục ngữ” Cho nên tụcngữ, ca dao có một vị trí hết sức quan trọng trong lịch sử phát triển văn hóadân tộc Nó đã và sẽ là nguồn sữa ngọt, là ngọn nguồn không bao giờ vơi cạncủa thơ ca Việt Nam Đồng thời là những con suối nhỏ của nhiều ngành vănhóa Việt Nam
1.2 Giáo dục và một số vấn đề về triết lý giáo dục của Việt Nam
Từ khi xuất hiện xã hội loài người, để tồn tại và phát triển con ngườiphải lao động kiếm sống và đấu tranh chống chọi với thiên nhiên khắc nghiệt.Trong lao động và trong cuộc sống hằng ngày con người không ngừng tìm tòi
và khám phá thế giới, trước hết là để thích nghi với môi trường sống, sau đó
là để khai thác và cải tạo môi trường phục vụ cho cuộc sống của mình, đồngthời tích luỹ kinh nghiệm lịch sử, xã hội Nhờ đó loài người đã dần dần nắmvững ngày càng nhiều quy luật của các sự vật, hiện tượng khách quan, tíchluỹ, hệ thống hoá ngày càng nhiều kinh nghiệm phong phú, đa dạng trên mọilĩnh vực hoạt động
Để duy trì sự tồn tại và phát triển của xã hội, con người có nhu cầutruyền lại cho nhau những kinh nghiệm đã tích luỹ được Thế hệ trước truyềncho thế hệ sau vốn tri thức, kỹ năng, kỹ xảo, thái độ, các chuẩn mực, cácphương thức, phương pháp,… của các hoạt động và giao lưu, đến lượt mìnhthế hệ sau kế thừa và phát triển, tiếp thu có chọn lọc, sáng tạo nhằm đáp ứngyêu cầu xã hội, thúc đẩy sự phát triển của xã hội Chính nhu cầu này là nguồngốc phát sinh của hiện tượng giáo dục
Theo nghĩa rộng, khái niệm giáo dục hàm nghĩa là sự hình thành cómục đích và có tổ chức những sức mạnh vật chất và tinh thần của con người,hình thành thế giới quan, bộ mặt đạo đức và thị hiếu thẩm mỹ cho con người;
Trang 32với hàm nghĩa rộng nhất, khái niệm giáo dục bao hàm giáo dưỡng, dạy học vàtất cả những yếu tố tạo nên những nét tính cách và phẩm hạnh của con người,đáp ứng các nhu cầu kinh tế - xã hội.
Theo nghĩa hẹp, giáo dục Là một bộ phận của giáo dục theo nghĩa rộng,
là quá trình hình thành thế giới quan khoa học, niềm tin, lý tưởng, động cơ,tình cảm, thái độ của người học và được thực hiện trong tất cả các mặt của đời
sống xã hội
Dù định nghĩa thế nào cũng không được quên đặc trưng của hoạt độnggiáo dục là hoạt động song song giữa nhà giáo dục và người được giáo dục.Thông qua giáo dục thế hệ trước truyền lại cho thế hệ sau kho tàng văn hóacủa dân tộc và nhân loại, thế hệ sau có nhiệm vụ tiếp thu, cải tạo và phát triểnnền văn hóa đó Ban đầu giáo dục diễn ra một cách tự phát, đơn giản theo lốiquan sát, bắt chước giữa các cá thể ngay trong cuộc sống hàng ngày Về sauvới sự tiến bộ trong nhận thức, trong sản xuất và đời sống kinh tế, xã hội, giáodục được diễn ra một cách tự giác và mang tính cộng đồng ngày càng cao, có
kế hoạch, có ý thức, có nội dung, có phương pháp Như vậy giáo dục là nhucầu tất yếu của xã hội Đó là một hiện tượng nảy sinh, tồn tại và phát triểnvĩnh hằng cùng với sự nảy sinh, tồn tại và phát triển của xã hội loài người.Việc truyền thụ và lĩnh hội những kinh nghiệm là nét đặc trưng cơ bản củahoạt động giáo dục với tư cách là một thiết chế xã hội, là một hiện tượng xãhội đặc biệt, là nhu cầu quan trọng của xã hội loài người Tuy nhiên giáo dụcmang tính lịch sử cụ thể Tính chất, mục đích, nhiệm vụ, nội dung, phươngpháp và tổ chức giáo dục biến đổi theo các giai đoạn phát triển của xã hội,theo các chế độ chính trị - kinh tế của xã hội
Trong lịch sử phát triển của nhân loại đã có nhiều kiểu giáo dục liên tụcphát triển Mỗi kiểu giáo dục đều phù hợp với điều kiện kinh tế- xã hội vàhoàn cảnh lịch sử xã hội đã sản sinh ra nó Lịch sử giáo dục đã chứng minh
Trang 33giáo dục là một hiện tượng xã hội đặc biệt, là thành phần trong cơ cấu, thiếtchế xã hội, gắn liền với sự thoả mãn nhu cầu phát triển và tiến bộ xã hội Giáodục với các chức năng vốn có luôn luôn vận động và phát triển không ngừng.
Ở mỗi trình độ phát triển của một xã hội nhất định, trong một giai đoạn lịch
sử cụ thể bao giờ cũng có một nền giáo dục tương ứng, trong đó mục đích,nhiệm vụ, nội dung, phương pháp và hình thức tổ chức giáo dục đều thể hiện,phản ánh tính quy định của các điều kiện lịch sử - xã hội cụ thể đối với giáodục Vì vậy, một mặt giáo dục luôn luôn mang tính phổ quát, tính nhân văn,phản ánh những giá trị văn hóa, nhân văn, đạo đức, thẩm mỹ chung nhất củanhân loại, nhưng mặt khác nếu xem xét một cách sâu sắc, cụ thể thì giáo dục
ở mỗi nước, mỗi dân tộc, luôn luôn chứa đựng những yếu tố truyền thống,mang bản sắc riêng của dân tộc mình, đất nước mình Do đó, khó có thể tìmthấy sự phù hợp tuyệt đối giữa hai nền giáo dục ở hai quốc gia khác nhau
Trong bất kỳ một xã hội nào, mục đích của giáo dục đều là chăm sócbồi dưỡng con người ở lứa tuổi đi học, là truyền thụ một cách có ý thức chothế hệ trẻ những kinh nghiệm xã hội, những giá trị văn hóa – tinh thần củadân tộc và của nhân loại, nhằm làm cho thế hệ trẻ có khẳ năng tham gia mọimặt của cuộc sống góp phần phát triển xã hội Vì vậy, muốn cho xã hội không
bị đình trệ, không thể bỏ qua và không thể không quan tâm đến việc giáo dụcthế hệ trẻ, đặc biệt là giáo dục những truyền thống tốt đẹp của dân tộc Nhưvậy, giáo dục là quá trình đào tạo con người một cách có mục đích, nhằmchuẩn bị cho con người tham gia vào đời sống xã hội, tham gia lao động sảnxuất, bằng cách tổ chức việc truyền thụ và lĩnh hội những kinh nghiệm lịch sử
- xã hội của loài người
Về bản chất, giáo dục là hiện tượng truyền đạt và lĩnh hội kinh nghiệmlịch sử - xã hội của các thế hệ con người Về mục đích, giáo dục là sự địnhhướng của thế hệ đi trước đối với sự phát triển của thế hệ tiếp theo Về
Trang 34phương thức, đối với mỗi cá nhân, giáo dục là cơ hội để học hỏi, tiếp thu vàthành đạt, tránh được những mò mẫm, vấp váp; đối với nhân loại giáo dục làphương thức bảo tồn và phát triển kho tàng tri thức văn hóa xã hội.
Khi nghiên cứu giáo dục với tư cách là một hiện tượng xã hội, chúng tađang nói tới những chức năng quan trọng của giáo dục Đó là chức năng vănhóa - xã hội và chức năng kinh tế Với chức năng văn hóa – xã hội, trước hếtgiáo dục góp phần nâng cao dân trí Giáo dục là một hiện tượng xã hội luôngắn bó cùng với loài người và giữ vai trò định hướng cho sự phát triển củacác thế hệ con người Giáo dục thực hiện sứ mệnh chuyển giao kinh nghiệmlịch sử xã hội giữa các thế hệ, đó là phương thức bảo tồn và phát triển nền vănhóa nhân loại và là cơ hội để phát triển mỗi cá nhân Mặt khác, giáo dục pháthiện và bồi dưỡng nhân tài Bởi nền giáo dục của bất cứ quốc gia nào, thời đạinào cũng không chỉ hướng vào việc nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực mà cònhướng vào phát hiện và bồi dưỡng, trọng dụng nhân tài, phát triển tiềm năngtrí tuệ của con người, bởi đó là tiềm năng của mọi tiềm năng, là tài sản vô giácủa mọi dân tộc và mọi thời đại Bên cạnh đó, giáo dục còn định hướng pháttriển nhân cách Con người từ lúc sinh ra là một thực thể tự nhiên, đến khitrưởng thành trở thành một nhân cách có bản chất xã hội chịu tác động bởinhiều yếu tố chủ quan, khách quan, trong đó giáo dục là yếu tố ảnh hưởngquan trọng nhất Với chức năng kinh tế, giáo dục tham gia thúc đẩy nền kinh
tế phát triển, điều này thể hiện rõ nét và đầy đủ nhất trong việc đào tạo nguồnnhân lực cho xã hội Đó chính là quá trình tái sản xuất sức lao động xã hộinhằm đáp ứng những yêu cầu phát triển kinh tế xã hội trong thời đại mới Mọithành quả phát triển kinh tế xã hội không thể tách rời thành quả của hệ thốnggiáo dục quốc dân
Từ những chức năng quan trọng đó, ngày nay phát triển giáo dục đượcnhận thức như là con đường quan trọng nhất để phát triển kinh tế, văn hóa, xã
Trang 35hội Đầu tư phát triển giáo dục chính là đầu tư cho phát triển bền vững, mộtloại đầu tư thông minh nhất trong các loại đầu tư của thế giới hiện đại Tươnglai của một dân tộc phụ thuộc rất nhiều vào chính sách đầu tư phát triển giáodục Chiến lược phát triển giáo dục chính là chiến lược định hướng đi vàotương lai của mỗi dân tộc, hơn bao giờ hết giáo dục càng trở nên quan trọng
và đã được thừa nhận là nhân tố quyết định chủ yếu đến sự phát triển kinh tế
-xã hội của mỗi đất nước
Việt Nam trong quá trình hội nhập với nền kinh tế thế giới đã đặt ra chongành Giáo dục và Đào tạo một vai trò to lớn trong việc trực tiếp tham gia bồidưỡng nguồn lực con người Bởi con người phát triển cao về trí tuệ, cườngtráng về thể lực, phong phú về tinh thần, trong sáng về đạo đức là động lực vàmục tiêu của công cuộc xây dựng xã hội chủ nghĩa ở nước ta Trong nhữngnăm qua để nâng cao chất lượng giáo dục, ngành Giáo dục và Đào tạo đã đưa
ra nhiều biện pháp tích cực một cách đồng bộ như đổi mới phương pháp dạyhọc theo hướng phát huy tính tích cực chủ động sáng tạo cho người học; rènluyện và phát triển khả năng độc lập, tự chủ,… Bên cạnh đó Quốc hội, ngànhGiáo dục và Đào tạo, các nhà quản lý giáo dục, các nhà nghiên cứu hay nóinhiều, bàn nhiều về triết lý giáo dục cho nền giáo dục nước nhà thời hội nhập.Trong đó vấn đề Việt Nam có triết lý giáo dục hay không là một câu hỏi lớnluôn được đặt ra và kiến giải với nhiều ý kiến khác nhau
Khác với những ý kiến cho rằng Việt Nam không có triết học, không cótriết lý giáo dục, tác giả đồng ý với ý kiến Việt Nam có triết học riêng củamình và do đó Việt Nam có triết lý giáo dục của mình Vậy nên cần phảikhẳng định rằng, không phải từ xưa đến nay, chúng ta không có triết lý giáodục, mà ở mỗi thời đại, đã có một “triết lý giáo dục” phù hợp Bởi nếu mộtdân tộc không xác định được “triết lý giáo dục” phù hợp với từng giai đoạnphát triển của lịch sử dân tộc thì dân tộc đó không thể tiến lên được
Trang 36Theo nhà giáo Đặng Đức An của Trường Đại học Sư phạm Hà Nội
“Triết lý giáo dục” hiểu theo nghĩa hẹp là lý luận triết học về giáo dục, mộtmôn học nghiên cứu những quy luật chung nhất của giáo dục, hay nói cáchkhác là một môn học nêu ra chủ trương tổng quát và có hệ thống về lý luậntriết học giáo dục”
Theo ông, khái niệm “triết lý giáo dục” cần phải hiểu theo nghĩa rộng, đó
là quan điểm, chủ trương, phương hướng giáo dục phù hợp với thực tế tình trạngkinh tế, chế độ chính trị, đời sống xã hội và trình độ văn hóa của thời đại đó
Chính vì thế, ngay từ thời cộng sản nguyên thủy, mặc dù người nguyênthủy không có nhận thức gì về triết lý giáo dục cả, nhưng những hoạt độnggiáo dục của họ đã mang ý nghĩa của triết lý giáo dục hiểu theo nghĩa rộng.Người nguyên thủy đã dạy cho con cháu của họ cách chế tạo những công cụ
và vũ khí, cách làm ra lửa, cách đi săn,… Những người phụ nữ nguyên thủy
đã dạy cho con gái họ đi hái lượm hoa quả, đào bới rễ củ, nấu thức ăn, may váquần áo, chăm sóc con cái,… Như vậy chúng ta có thể khẳng định rằngphương thức giáo dục của họ phù hợp với thực tế thời đại lúc bấy giờ
Với tinh thần “ôn cố tri tân”, tức học cũ để biết mới chúng ta hãy quaylại triết lý giáo dục kinh điển trong lịch sử chẳng hạn như triết lý giáo dục củaNho gia với đại biểu tiêu biểu như Khổng Tử Trong lịch sử cổ đại TrungQuốc, Khổng Tử là người đề cao việc học tập, tu dưỡng sớm nhất và cũng lànhà giáo dục đầu tiên lớn nhất Ông là người đầu tiên trong lịch sử giáo dụcthế giới “Chuyển nền văn hóa từ trên xuống dưới và nâng trình độ dân trí từdưới lên” Nói cách khác, Khổng Tử đã Bình dân hóa giáo dục Ông luôn mởrộng cửa trường đón nhận mọi người với quan điểm hết sức tiến bộ: “Hữugiáo vô loại” – quyền được giáo dục là quyền của mọi người, không phân biệtđẳng cấp, thành phần xã hội Nhà trường Nho học ngay từ lớp Ấu học, Sơ học
đã cung cấp cho học sinh những câu như “Ngọc bất trác bất thành khí, nhân
Trang 37bất học bất tri lý” (Ngọc không dũa không thành đồ, người mà không học thìkhông biết lý lẽ để sống); “Ấu bất học lão hà vi” (Nhỏ mà không học thì lớn
biết làm gì) ở trong Tam tự kinh Đức Thánh Khổng Tử đã từng phát biểu
“Học nhi bất yếm, hối nhân bất quyện” (Học không biết chán, dạy không biếtmỏi), chính điều đó đã truyền thụ cho người dạy lẫn người học cái tinh thần, ýthức và niềm đam mê trong giáo dục Khổng Tử còn nói “Học nhi thời tậpchi, bất diệc duyệt hồ” , nghĩa là học phải thường xuyên luyện tập, há chẳng
vui thích lắm sao? (Luận ngữ, Học nhi,1), hay châm ngôn “Tiên học lễ, hậu
học văn” mà các bậc tiền nhân của chúng ta thường hay nhắc nhở Đức ThánhKhổng Tử cũng nói: “Người đời xưa vì mình mà học đạo; người đời nay vì
người mà học đạo” (Luận ngữ, Hiến vấn, 25) Vì thế, việc quan trọng nhất
trong cuộc đời con người là phải học để hiểu biết đạo lý làm người và nângcao tri thức cho mình, mang tài trí của mình ra giúp đời, cứu người Dù xưanay ít ai nghĩ đó là triết lý giáo dục của Nho giáo, nhưng công bằng và kháchquan mà nói thì những câu trên rất xứng đáng được coi như là triết lý giáo dụcvới ý nghĩa rất bình dị mà cũng rất hàm súc và cao siêu
Xét đến cùng, giáo dục trước hết là sự tự giác của bản thân mỗi cánhân Vấn đề này các hệ tư tưởng ở phương Đông cũng đã nói đến rất nhiều,
ở đó các hệ tư tưởng này rất đề cao vai trò của cá nhân Chẳng hạn, nhà Nhothì coi “tu thân” là yếu tố đầu tiên, mà cá nhân nào đạt được thì mới có thể “tềgia, trị quốc, bình thiên hạ” Nhà Phật thì đề cao vai trò “tu tâm”, “tự giácgiác tha”,… những câu nói cô đúc đó đáng được xem là triết lý giáo dục Nói
về giáo dục thì xưa nay trong tâm thức của phương Đông đã tôn vinh Khổng
Tử là “Vạn thế sư biểu” (Người thầy của muôn đời) Triết lý, tư tưởng và
phương pháp giáo dục của ông được nêu lên có hệ thống trong Luận ngữ Ở
đó, yêu cầu đầu tiên là giáo dục con người cách làm người, mà trước hết làgiáo dục “đức Nhân” Về mục đích giáo dục, theo Khổng Tử là nhằm làm cho
Trang 38con người hoàn thiện nhân cách đạo đức lý tưởng, là đào tạo nhân lực tinh
hoa cho xã hội Về phương pháp, Khổng Tử coi trọng kinh nghiệm thực tế,
nhấn mạnh vai trò của việc suy nghĩ tìm tòi, cố gắng của bản thân người học,kết hợp học và hành, thấy được mối quan hệ khăng khít giữa người dạy vàngười học: “Người nào chẳng ra công tìm tòi, như làm việc chi, chẳng tự hỏi:tôi phải làm cách nào? tôi phải làm sao? Người như vậy, ta cũng chẳng có
cách gì mà chỉ bảo cho được” (Luận ngữ, Vệ Linh Công,15) Khổng Tử luôn
khuyến khích học trò phải biết suy nghĩ sâu sắc, tìm tòi cho sáng tỏ, tự tin,dám làm những việc mình có thể làm Ông đặc biệt chú ý gợi mở trí phánđoán độc lập của học trò, không nhồi nhét, áp đặt Theo Khổng Tử “ Kẻ nàokhông cố công tìm kiếm thì ta chẳng chỉ vẽ, kẻ nào không bộc lộ được tưtưởng của mình, ta chẳng khai sáng cho, kẻ nào đã biết rõ một góc, nhưng
chẳng căn cứ vào đó để biết luôn ba góc kia, thì ta chẳng dạy” (Luận ngữ, Thuật nhi 8) Ông luôn khuyên mọi người học phải nghe nhiều rồi chọn điều
hay mà theo, thấy nhiều để xét rõ cái hay cái dở mà nhớ lấy, đó là điều quantrọng để trở thành trí giả Ông còn chủ trương dạy học sát đối tượng, lấyngười học làm trung tâm và tùy theo người học mà có phương pháp, cáchthức dẫn dắt khác nhau nhằm làm cho người học sáng tỏ vấn đề, tiếp cận đượcchân lý Bên cạnh đó, đối với chủ thể giáo dục, Khổng Tử rất tôn trọng, biếtngợi khen và phê bình đúng lúc giúp cho người học tâm phục mà tuân theo
Ở Việt Nam, mỗi thời kỳ, mỗi hình thái xã hội cũng có triết lý giáo dụcriêng phù hợp với từng thời kỳ, xã hội đó Trong xã hội phong kiến, do ảnhhưởng của Nho giáo, việc giáo dục từ trong gia đình ra ngoài xã hội đều lấy lễgiáo phong kiến Nho giáo làm khuôn vàng thước ngọc Tuy không có văn bảnchính thức mô tả, nhưng triết lý giáo dục thời phong kiến vẫn biểu hiện đây
đó ở những văn kiện và tác phẩm còn để lại, ở ca dao, tục ngữ lưu hành rộngrãi và trường tồn Trong nền giáo dục phong kiến, bên cạnh giáo dục chính
Trang 39thống (chính quy) còn có giáo dục dân gian (không chính quy) qua giáo dụcgia đình, các lớp học của các thầy đồ, cũng có triết lý giáo dục được ghi lạitrong vốn văn học dân gian (ca dao, tục ngữ).
Trong lịch sử giáo dục Việt Nam hàng ngàn năm đã có hai mốc sonchói lọi là nền giáo dục ở thời đại vua Lê Thánh Tông (1460 - 1497) và hiệntượng Đông Kinh nghĩa thục 1907 Với thời vua Lê Thánh Tông, lần đầu tiêntrong lịch sử Việt Nam có Chiếu khuyến học, cùng với nhiều chính sách,nhiều biện pháp tích cực để phát triển giáo dục một cách rực rỡ Nhà vua thấy
sự cần thiết phải dựng thêm bia đá đề tên tiến sĩ nhằm nêu lên vai trò của hiềntài là việc đem lại hưng thịnh cho đất nước Vâng mệnh nhà vua, Thân NhânTrung thảo bài văn bia năm 1484 và bài văn bia 1487, qua đó ông nêu nhữngđiều cơ bản trong chính sách hiền tài của Nhà nước, chính sách quyết định sựhưng thịnh của quốc gia: “Hiền tài là nguyên khí quốc gia, nguyên khí thịnhthì thế nước mạnh rồi lên cao; nguyên khí suy thì thế nước yếu rồi xuốngthấp Vì vậy các đấng thánh đế minh vương không ai không lấy việc bồidưỡng nhân tài, kén chọn kẻ sĩ, vun trồng nguyên khí làm việc đầu tiên Kẻ
sĩ quan hệ với quốc gia trọng đại như thế, cho nên quý chuộng kẻ sĩ khôngbiết thế nào là cùng” Câu nói của Thân Nhân Trung không chỉ dừng lạitrong xã hội thời Lê mà câu nói ấy đối với chúng ta vẫn còn nguyên giá trị,khi giáo dục đang trở thành quốc sách hàng đầu, khi văn hoá, khoa học và độingũ trí thức đang giữ một vai trò cực kỳ quan trọng trong sự nghiệp kiến quốcđất nước hôm nay
Ở một trạng thái khác ở thời hiện đại, đầu thế kỷ XX, phong trào DuyTân và trường Đông Kinh nghĩa thục (1907) với mô hình đào tạo thực dụng,khoa học hợp thực tiễn Mục đích của việc mở trường là nhằm khai trí cho dân,
tư tưởng giáo dục bao trùm của Trường Đông Kinh nghĩa thục nhằm xoaychuyển nền giáo dục cổ truyền của dân tộc vốn nặng về sách vở, nhẹ về thực tế
Trang 40sang một nền giáo dục thực nghiệp gắn với sự sống, vì sự sống Về thực chất,Đông Kinh nghĩa thục chính là một cuộc vận động và thực hành cải cách giáodục rộng lớn, sâu sắc và cơ bản Đó chính là triết lý giáo dục yêu nước Nhưvậy, hợp lưu những gì tinh túy, tích cực của hai dòng giáo dục chính thống vàgiáo dục dân gian đã tạo lập nên triết lý giáo dục Việt Nam, có thể tóm lượcvào những điểm sau: Ý thức dân tộc; Tinh thần hiếu học; Triết lý nhân sinhtình nghĩa; Giá trị gia đình; Kết cấu xã hội bền vững: nhà – làng – nước.
Từ sau năm 1954, chính chủ tịch Hồ Chí Minh cũng đã nêu ra phươngchâm cho giáo dục như gắn nhà trường với cuộc sống; Học đi đôi với hành;Giáo dục kết hợp với thực tiễn; Dạy tốt và học tốt Phương châm ấy có thểxem là triết lý giáo dục Việt Nam thời hiện đại
Chúng ta có thể khẳng định từ trước đến nay Việt Nam đã có triết lýgiáo dục Triết lý giáo dục có ở nhiều tầng bậc: từng con người, gia đình;trường lớp; quốc gia Ở phạm vi quốc gia, đó là chủ trương, đường lối, chínhsách, chiến lược, kế hoạch phát triển giáo dục Thiết nghĩ rằng, giáo dục ViệtNam ngày nay để đi tìm triết lý giáo dục thì bên cạnh việc tiếp thu nhữngthành tựu giáo dục của các nước trong khu vực và trên thế giới, điều quantrọng là chúng ta phải biết kế thừa, tiếp thu ngay chính những thành quả tinhhoa giáo dục của cha ông ta trong quá khứ Một trong những thành quả tinhhoa giáo dục quan trọng đó chính là kho tục ngữ, ca dao của dân tộc với
những triết lý rất sâu sắc như: “Tiên học lễ, hậu học văn”; “Muốn sang thì bắc cầu kiều/ Muốn con hay chữ thì yêu lấy thầy”; “Không thầy đố mày làm nên”; “Nhân bất học bất tri lý”; “Một kho vàng không bằng một nang chữ”;
“Văn ôn, võ luyện”.
Tuân thủ theo nguyên lý của chủ nghĩa Mác – Lênin là tồn tại xã hộiquyết định ý thức xã hội, mà cụ thể ca dao, tục ngữ Việt Nam được rút ra từchính cuộc sống lao động của người dân Việt Nam Trong điều kiện một nền