Sau ngày giải phóng hoàn toàn miền Nam, đặc biệt là trong nhữngnăm gần đây khi công cuộc đổi mới toàn diện của đất nước do Đảngkhởi xướng và lãnh đạo đã và đang thu được những thành tựu
Trang 1ĐẠI HỌC HUẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
-
-VẬN DỤNG QUAN ĐIỂM MÁC - XÍT VỀ TÔN GIÁO VÀ
"CHÍNH SÁCH TÔN TRỌNG TỰ DO TÍN NGƯỠNG, TÔN GIÁO CỦA VIỆT NAM" CHỐNG CÁC ÂM MƯU, HÀNH ĐỘNG LỢI DỤNG TÔN GIÁO CHỐNG CHÍNH
QUYỀN TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH QUẢNG TRỊ
TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Giáo viên hướng dẫn:
Th.S Hoàng Ngọc Vĩnh
Sinh viên thực hiện:
Võ Thị Thu Hồng
HUẾ, 05/2010
Trang 2Để hoàn thành khóa luận Tốt nghiệp, em xin bày tỏ lòng cảm
ơn sâu sắc đối với các thầy, cô trong khoa Lý luận Chính trị, bạn bè
và người thân đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ em giải quyết những khó khăn, vướng mắc trong thời gian nghiên cứu. Đặc biệt là thầy Hoàng Ngọc Vĩnh, giáo viên hướng dẫn.
Em xin chân thành cảm ơn Ban Tôn giáo tỉnh Quảng Trị, Thư viện trường Đại học Khoa học Huế; Trung tâm Học liệu Đại học Huế; phòng Tư liệu khoa đã tạo điều kiện cho em hoàn thành Khóa luận Tốt nghiệp này.
Mặc dù đã có nhiều cố gắng, song do kiến thức còn hạn chế, thời gian không nhiều và những lý do khách quan khác, nên không tránh khỏi những thiếu sót Em kính mong các thầy, cô giáo góp ý để Khóa luận của em được hoàn thiện hơn.
Em xin cảm ơn!
Người thực hiện:
Võ Thị Thu Hồng
Trang 3MỤC LỤC
A PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của khóa luận 1
2 Tình hình nghiên cứu của khóa luận 4
3 Mục đích và nhiệm vụ của khóa luận 6
4 Giới hạn đề tài và phạm vi nghiên cứu của khóa luận 6
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của khóa luận 6
6 Kết cấu của khóa luận 6
B PHẦN NỘI DUNG 7
Chương 1 QUAN ĐIỂM CƠ BẢN CỦA C.MÁC, PH.ĂNGGHEN, TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VÀ CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN, NHÀ NƯỚC VIỆT NAM VỀ TÔN GIÁO 7
1.1 Một số quan điểm cơ bản của Mác, Ăngghen về tôn giáo 7
1.1.1 Quan niệm của C.Mác, Ph.Ăngghen về sự hình thành và phát triển của tôn giáo 7
1.1.2 Quan niệm của Mác, Ăng- ghen về bản chất, chức năng xã hội của tôn giáo 8
1.1.3 Quan niệm của Mác, Ăngghen về phê phán tôn giáo 10
1.1.4 Quan niệm của Mác, Ăngghen về những điều kiện để tôn giáo tự mất đi 11
1.2 Một số quan điểm của V.I.Lê Nin về tôn giáo 13
1.2.1 Quan điểm của V.I.Lênin về nguồn gốc nhận thức và nguồn gốc xã hội của tôn giáo 13
1.2.2 Quan điểm của V.I.Lênin về vai trò của tôn giáo trong xã hội 15
1.2.3 Quan điểm của V.I.Lênin về thái độ của nhà Nước đối với tôn giáo 17
Trang 41.2.4 Quan điểm của V.I.Lênin về thái độ của Đảng cộng sản đối với
tôn giáo 18
1.3 Tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh và của Đảng Cộng sản, Nhà nước Việt Nam về tôn giáo 22
Chương 2 MỘT SỐ GIẢI PHÁP ĐẤU TRANH CHỐNG “AMDBHB- BLLĐ” LỢI DỤNG TÔN GIÁO CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH QUẢNG TRỊ 34
2.1 Vài nét khái quát về tỉnh Quảng Trị 34
2.1.1 Lịch sử 34
2.1.2 Hành chính 37
2.1.3 Điều kiện tự nhiên 38
2.1.4 Khí hậu 39
2.1.5 Tiềm năng phát triển du lịch 41
2.1.6 Giao thông 41
2.2 Thực trạng tình hình các tôn giáo trên địa bàn tỉnh Quảng Trị 41
2.2.1 Công giáo 43
2.2.2 Đạo Tin Lành 48
2.2.3 Phật giáo 50
2.3 Một số giải pháp đấu tranh chống “AMDBHB- BLLĐ” lợi dụng tôn giáo của các thế lực thù địch trên địa bàn tỉnh Quảng Trị 55
2.3.1 Những thành công trong công tác đấu tranh chống hoạt động lợi dụng các tôn giáo (Phật giáo và Thiên chúa giáo) 55
2.3.2 Một số bài học kinh nghiệm rút ra trong công tác đấu tranh chống địch lợi dụng Tôn giáo 59
2.3.3 Những kiến nghị, giải pháp để nâng cao hiệu quả công tác đấu tranh chống mọi lợi dụng hoạt động các tôn giáo 60
C KẾT LUẬN 65
D DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 5A PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của khóa luận
Tôn giáo là một trong các hình thái ý thức xã hội, từ khi ra đờicho đến nay đã có rất nhiều đánh giá khác nhau Có ý kiến cho rằng:
Tôn giáo là tiêu cực, lạc hậu, là công cụ của chủ nghĩa đế quốc và các
thế lực thù địch chống lại phong trào cách mạng thế giới, phá hoại sựnghiệp cách mạng thế giới và Việt Nam Tuy nhiên, cũng có ý kiến chorằng: hoạt tôn giáo là vấn đề văn hóa đạo đức, con người tạo ra tôn giáo,trước hết để hỗ trợ cho con người trong nhận thức về mình cũng nhưnhận thức và ứng phó với các lực lượng tự nhiên và xã hội quanh mình
Từ sự nhận thức không đồng nhất, nên thái độ đối với tôn giáocũng rất khác nhau
Vậy cần nhận thức, đánh giá vấn đề tôn giáo như thế nào chođúng?
Như chúng ta biết, đã có một thời kỳ rất dài, con người tồn tại vàphát triển mà chưa biết đến tôn giáo Tôn giáo chỉ xuất hiện, tồn tại vàphát triển khi con người bất lực chưa giải thích được các hiện tượng tựnhiên và xã hội quanh mình Các hình thức tôn giáo ban đầu hết sức đơngiản, gắn liền với các quan hệ cơ bản và nhằm giải quyết các quan hệ cơbản của con người: Quan hệ với “ta” (thị tộc, bộ tộc, làng bản mình )sinh ra Tôtem giáo; Quan hệ với cái khác “ta” (thị tộc, bộ tộc khác, cộngđồng làng bản khác ) sinh ra ma thuật làm hại; Quan hệ giữa nam và nữsinh ra ma thuật tính giáo; Quan hệ với bệnh tật sinh ra ma thuật chữabệnh; Quan hệ với tự nhiên của người nguyên thủy sinh ra bái vật giáo
Trong quá trình tồn tại và phát triển, các tôn giáo có sự đan xen,tiếp nhận, hòa đồng hoặc phủ nhận nhau Sự ra đời của tôn giáo theonghĩa đầy đủ của nó cùng với thời kỳ xã hội có giai cấp được thiết lập,các quốc gia, dân tộc hình thành, những yếu tố cấu thành của một số tôngiáo đầy đủ là:
- Có giáo lý phản ánh thế giới quan rõ rệt
Trang 6- Có người sáng lập, có đấng tối cao với một diện thành (sự hiệndiện là niềm tin siêu nhiên: Tự nguyện và có tính mù quáng không thểgiải thích)
- Có nghi lễ, nghi thức từ đơn giản tới phức tạp
- Có nơi thực hiện nghi lễ với các tôn giáo đồ
Trong thời đại ngày nay bao gồm tất cả các hình thức tôn giáocùng tồn tại, biến đổi và thích nghi Do vậy, khi nói tôn giáo, thườngđược dùng với nghĩa hẹp, là các tôn giáo có đủ các yếu tố cấu thành củanó nói trên, như Phật giáo, Kitô giáo, Hồi giáo Còn các loại tôn giáo
sơ khai, nguyên thủy đang thích nghi tồn tại, được coi là tín ngưỡng dângian, như cúng ông bà, tổ tiên, thờ Thần hoàng, đức Thánh mẫu
Từ đó có thể khẳng định: Tôn giáo là một thực thể xã hội, gắnliền với đời sống xã hội loài người, nó ra đời, tồn tại nhằm thỏa mãn vàđáp ứng nhu cầu cấp thiết của con người về tâm linh Con người tạo ratôn giáo để hỗ trợ cho mình nhận thức chính mình, cũng như nhận thức
và ứng phó với các lực lượng tự nhiên, xã hội xung quanh Vì vậy, sự rađời của tôn giáo được xem là tất yếu, cần thiết cho cuộc sống của conngười trong những điều kiện nhất định của lịch sử, giống như sự ra đờicủa các câu chuyện thần thoại, nghệ thuật, đạo đức
Tôn giáo còn là một hiện tượng xã hội, nên dân tộc nào, quốc gianào cũng có một hoặc nhiều tôn giáo Mỗi dân tộc đều có một tôn giáohay tín ngưỡng được thừa nhận rộng rãi, chi phối tâm linh, làm nền tảngtinh thần và góp phần tạo ra bản sắc cộng đồng Trong trường hợp này,tôn giáo trở thành thiêng liêng đối với cả dân tộc, ảnh hưởng đến nếpnghĩ, tập quán, văn hóa, lối sống đạo đức của dân tộc
Mặt khác, mặt tiêu cực của tôn giáo là không thể phủ nhận, tậptrung nhất là ở thế giới quan duy tâm như Mác nói: Tôn giáo là thế giớilộn ngược, thế giới quan đó coi tôn giáo đã tạo ra con người, quyết định
số phận của con người chứ không phải con người tạo ra tôn giáo
Do vậy, từ khi xã hội loài người phân chia giai cấp và đấu tranhgiai cấp, tôn giáo không chỉ là việc đạo mà còn là việc đời, không đơn
Trang 7giản là vấn đề tư tưởng mà còn là vấn đề chính trị Nó phản ánh cuộcđấu tranh giai cấp, đấu tranh chính trị trong xã hội thể hiện: các tôn giáolớn đều chứa đựng mục tiêu chính trị, nhằm thay đổi xã hội hiện hành,mặc dù các nhà sáng lập ra các tôn giáo đó không đặt ra vấn đề này Vídụ: Phật giáo ra đời là sự phản kháng, bài xích chế độ đẳng cấp của đạoBà-la-môn; Kitô giáo ra đời là sự chống đối chế độ nô lệ La Mã thốngtrị xã hội
Do các tôn giáo phản ánh cuộc đấu tranh giai cấp trong xã hội,nên trong mỗi tôn giáo đều chứa đựng nhiều khuynh hướng chính trịkhác nhau Có bộ phận gắn với giai cấp thống trị hoặc ngoại bang; có bộphận gắn với quần chúng lao động hoặc gắn với dân tộc và lợi ích dântộc; có bộ phận đứng trung gian giữa hai lực lượng trên, chỉ muốn đơnthuần lo việc đạo Vì vậy có tôn giáo ở thời điểm này, ở quốc gia nàyđóng vai trò chính trị tiến bộ, ở thời điểm khác, nơi khác lại có thể thayđổi theo chiều hướng ngược lại
Dưới chế độ xã hội chủ nghĩa, tính chính trị của tôn giáo có sựthay đổi Khuynh hướng chính trị tiến bộ đi với quần chúng lao động, đivới dân tộc, phục tùng sự quản lý của Nhà nước có điều kiện phát triển.Tuy nhiên, một bộ phận chức sắc trong các tôn giáo do quyền lợi gắn bóvới giai cấp thống trị trước đây, thậm chí do thù hằn với cách mạng nêncòn có những hoạt động ngấm ngầm hoặc công khai chống phá chủnghĩa xã hội, chống lại sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Bên cạnh đó,chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch phản động bên ngoài đã tiếptay cho bọn phản động trong nước, chúng luôn sử dụng chiêu bài tôngiáo, nhân quyền, dân chủ để vu cáo, gây sức ép đối với Nhà nước xãhội chủ nghĩa
Kinh nghiệm thực tiễn cho thấy, chừng nào còn chủ nghĩa đếquốc, còn đấu tranh giai cấp để giải quyết vấn đề “ai thắng ai” giữa chủnghĩa xã hội và chủ nghĩa tư bản thì chừng đó vẫn còn phải đấu tranhchống lại các hoạt động lợi dụng tôn giáo chống chủ nghĩa xã hội vàthành quả của cách mạng tiến bộ
Trang 8Sau ngày giải phóng hoàn toàn miền Nam, đặc biệt là trong nhữngnăm gần đây khi công cuộc đổi mới toàn diện của đất nước do Đảngkhởi xướng và lãnh đạo đã và đang thu được những thành tựu hết sứcquan trọng, tạo thời cơ thuận lợi để phát triển đất nước, đế quốc Mỹ vàcác thế lực tay sai đã và đang dùng nhiều âm mưu thủ đoạn để chốngphá ta, đặc biệt là âm mưu “Diễn biến hòa bình” “Bạo loạn lật đổ”.Chúng đã và đang lợi dụng tôn giáo để tiến hành các hoạt động chốngphá Nhà nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam.
Quảng Trị là một tỉnh nhỏ nằm ở dãi đất miền Trung, vấn đề tôngiáo ở đây cũng hết sức phức tạp
Tình hình đó càng cho thấy sự cần thiết phải tiến hành nghiên cứuvấn đề tôn giáo trên lập trường khoa học mác-xit, để nâng cao nhận thứccho cán bộ Đảng viên và nhân dân trên địa bàn tỉnh, đấu tranh làm thất
bại âm mưu của kẻ địch Đó là lý do mà tác giả chọn đề tài: “Vận dụng quan điểm mác-xit về tôn giáo và “Chính sách tôn trọng tự do tín ngưỡng, tôn giáo của Việt Nam” chống các âm mưu, hành động lợi dụng tôn giáo chống chính quyền trên địa bàn tỉnh Quảng Trị trong giai đoạn hiện nay”.
2 Tình hình nghiên cứu của khóa luận
Tôn giáo là một đề tài không mới, nhưng cũng chưa bao giờ cũ.Nó luôn được quan tâm, nghiên cứu từ nhiều lập trường, nhiều góc độ
và phương diện khác nhau, tùy theo chủ thể nghiên cứu
Trong thời kỳ đổi mới này, nó cũng là một đề tài được nhiềungười chú ý Đã có nhiều công trình lớn, nhỏ ra đời trong thời gian gầnđây Trong đó có một số công trình lớn, trở thành cơ sở để Đảng và Nhànước lấy đó làm tiền đề soạn thảo đường lối, sách lược của công tác tôngiáo của mình Có thể đề cập một số công trình lớn, một số cuốn sách cógiá trị sau:
“Lý luận về tôn giáo và tình hình tôn giáo ở Việt Nam” của ĐặngNghiêm Vạn, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, năm 2001 Đây
là sự kế thừa của đề tài cấp Nhà nước KHXH-04-08 Những vấn đề lý
Trang 9luận và thực tiễn liên quan đến tôn giáo ở Việt Nam; Chính sách củaĐảng và Nhà nước do Đặng Nghiêm Vạn chủ nhiệm.
“Trích tác phẩm của Mác, Ăngghen, Lênin và Hồ Chí Minh vềtôn giáo” của Trung tâm khoa học về tín ngưỡng và tôn giáo, Ban Tôngiáo Chính phủ, xuất bản năm 1998
“Tôn giáo và mấy vấn đề tôn giáo Nam Bộ”, Nhà xuất bản Khoahọc xã hội, Hà Nội, năm 2001 của Đỗ Quang Hưng
“Về tôn giáo và tôn giáo ở Việt Nam” của Viện Khoa học xã hộiViệt Nam, nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, năm 2004
“Hồ Chí Minh về tôn giáo và công tác tôn giáo” do Lê Hữu Nghĩa
và Nguyễn Đức Lữ (đồng chủ biên), Nhà xuất bản tôn giáo, Hà Nội,năm 2003
“Vấn đề tôn giáo trong cách mạng Việt Nam, lý luận và thực tiễn”của Đỗ Quang Hưng, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, năm2005
“Giáo trình tôn giáo học đại cương” của Hoàng Ngọc Vĩnh, Nhàxuất bản Đại học Huế, Huế năm 2009
“Hồ Chí Minh với một số tôn giáo ở Việt Nam” của Hoàng NgọcVĩnh, Nhà xuất bản Đại học Huế, Huế năm 2009
Những công trình trên đã đề cập khá toàn diện quan điểm chủnghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, cũng như quan điểm chínhsách của Đảng và Nhà nước ta về vấn đề tôn giáo, đáp ứng được phầnnào trong việc giải quyết vấn đề lý luận và thực tiễn cuả công tác tôngiáo ở Việt Nam
Đề tài này, một lần nữa muốn nói lên được những nội dung cơbản cuả chủ nghĩa Mác-Lênin về vấn đề tôn giáo, mặt khác quan trọnghơn là nói lên những quan điểm đúng đắn và sáng tạo của Hồ Chí Minh,cũng như sự vận dụng có sự bổ sung “cơ sở lịch sử” của Đảng và Nhànước ta trong điều kiện cụ thể Việt Nam nói chung và của tỉnh QuảngTrị nói riêng
Trang 103 Mục đích và nhiệm vụ của khóa luận
- Mục đích: Làm rõ tình hình hoạt động của tôn giáo nói chung,
những âm mưu hoạt động lợi dụng các tôn giáo nói riêng trên địa bànQuảng Trị, để từ đó đề xuất những biện pháp nhằm nâng cao hiệu quảcông tác tôn giáo ở Quảng Trị hiện nay
- Nhiệm vụ:
+ Một là, làm rõ quan điểm của Mác, Ăngghen, Lênin, tư tưởng
Hồ Chí Minh và của Đảng Cộng sản Việt Nam về vấn đề tôn giáo
+ Hai là, làm rõ thực trạng của các tôn giáo trên địa bàn tỉnhQuảng Trị
+ Ba là, nêu lên một số giải pháp đấu tranh chống “ÂMDBHB BLLĐ” lợi dụng tôn giáo của các thế lực thù địch trên địa bàn tỉnhQuảng Trị trong giai đoạn hiện nay
-4 Giới hạn đề tài và phạm vi nghiên cứu của khóa luận
Từ thành tựu các công trình của các tác giả đi trước và kết quả
điền giả, khóa luận nêu khái quát việc “Vận dụng quan điểm mác-xit về tôn giáo và “Chính sách tôn trọng tự do tín ngưỡng, tôn giáo của Việt Nam” chống các âm mưu, hành động lợi dụng tôn giáo chống chính quyền trên địa bàn tỉnh Quảng Trị trong giai đoạn hiện nay” Tuy
nhiên, do giới hạn về thời gian và nguồn tư liệu do Ban tôn giáo tỉnhQuảng Trị cung cấp, khóa luận chỉ mới đề cập những nội dung liên quanđến chống “ÂMDBHB-BLLĐ” lợi dụng tôn giáo do đế quốc Mỹ đứngđầu mà thôi
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của khóa luận
- Cơ sở lý luận
Biện chứng duy vật về lịch sử, tư tưởng Hồ Chí Minh và quanđiểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về vấn đề tôn giáo
- Phương pháp nghiên cứu
+ Đề tài sử dụng các phương pháp chủ yếu: phân tích và tổnghợp, so sánh và đối chiếu, thống kê điền giả
Trang 11+ Đồng thời sử dụng một số phương pháp cụ thể riêng biệt củatâm lý học, xã hội học, đạo đức học
6 Kết cấu của khóa luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, khóaluận gồm 2 chương, 6 tiết
B PHẦN NỘI DUNG
Chương 1 QUAN ĐIỂM CƠ BẢN CỦA C.MÁC, PH.ĂNGGHEN, LÊNIN, TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VÀ CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN, NHÀ
NƯỚC VIỆT NAM VỀ TÔN GIÁO 1.1 Một số quan điểm cơ bản của Mác, Ăngghen về tôn giáo
1.1.1 Quan niệm của C.Mác, Ph.Ăngghen về sự hình thành và phát triển của tôn giáo.
Những chiến sỹ vô thần trước kia thường cho tôn giáo là kết quảcủa sự lừa bịp Nhưng Mác và Ăngghen chỉ rõ, nguồn gốc của tôn giáochính là xã hội, là tồn tại xã hội, là cuộc sống của con người bị phản ánhmột cách hoang đường, kỳ dị Đứng trên quan điểm đó, Mác vàĂngghen cũng phê phán Phơ-bách cho tôn giáo là sự phản ánh hoangđường về bản thân con người và các biểu tượng tôn giáo cũng phát sinh
từ con người Mác và Ăngghen cho rằng, con người là sự tổng hòa cácquan hệ xã hội của một chặng đường lịch sử nhất định, của một trình độnhất định trong sự phát triển của lực lượng sản xuất, của nền văn hóa vậtchất và tinh thần, của tính chất quan hệ sản xuất, của chế độ chính trị
Các ông đã chứng minh rằng, tôn giáo không có một lịch sử độclập tách rời những nguồn gốc trần thế của sự phát triển Cần phải tìmnguồn gốc của tôn giáo ở dưới đất chứ không phải ở trên trời “Conngười sáng tạo ra tôn giáo chứ tôn giáo không sáng tạo ra con người Tôn giáo là sự tự ý thức và sự tự cảm giác của con người chưa tìm đượcbản thân mình hoặc đã lại để mất bản thân mình một lần nữa”[Dẫn theo24; 7]
Trang 12Mác và Ăngghen xem tôn giáo như là một hiện tượng xã hội phứctạp, đa dạng gắn liền với những lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội.Khi quan niệm tôn giáo là sự phản ánh hoang đường vào đầu óc conngười những lực lượng bên ngoài thống trị họ trong cuộc sống hằngngày, hai ông cũng ngăn ngừa sự giản đơn và hẹp hòi trong việc nhậnthức về vấn đề tôn giáo.
Học thuyết của Mác và Ăngghen về sự phản ánh hoang đườnghiện thực với tính cách là nguồn sản sinh và nội dung lòng tin của tôngiáo đã giáng một đòn quyết định vào các quan niệm thần học, vào cácquan niệm tầm thường, nông cạn của chủ nghĩa siêu hình trong vấn đềnguồn gốc tôn giáo
Những phân tích của Mác, Ăngghen về nguồn gốc nhận thức vànguồn gốc xã hội của tôn giáo là những luận điểm cơ bản hết sức quantrọng làm thay đổi cách nhìn nhận và con đường khắc phục tôn giáo.Các ông đã gắn cuộc đấu tranh chống tôn giáo với những biến đổi thếgiới có tính cách mạng Chỉ có xây dựng lại triệt để một xã hội thì mớitạo ra những điều kiện cho việc khắc phục tôn giáo Tôn giáo có thể mất
đi, khi mà những quan hệ của đời sống hiện thực hàng ngày của conngười sẽ được thể hiện trong những mối quan hệ trong sáng và đúng đắngiữa con người với nhau và con người với tự nhiên Hai ông là nhữngngười đấu tranh triệt để cho sự giải phóng ý thức quần chúng khỏi nọcđộc tôn giáo, kiên quyết đấu tranh chống lại mọi hình thức thỏa hiệp cơhội với tôn giáo
Tóm lại, tôn giáo được phản ánh hoang đường không phải là bảnchất con người nói chung mà là xã hội hiện thực với nội dung xã hội dolịch sử quyết định Như vậy, nói theo cách của Mác, tôn giáo là một
“sản phẩm xã hội ”, nó được quy định và quyết định bởi lịch sử
1.1.2 Quan niệm của Mác, Ăngghen về bản chất, chức năng xã hội của tôn giáo
• Bản chất
Trang 13Tôn giáo cũng như những hiện tượng xã hội khác, chỉ có thể đượcgiải thích trên cơ sở khoa học của chủ nghĩa duy vật biện chứng Trongtác phẩm “Chống Đuyrinh” Ăngghen đã nêu lên định nghĩa khoa học cótính chất kinh điển về tôn giáo, vạch ra bản chất của hiện tượng xã hộiđó Ông viết “ bất cứ tôn giáo nào cũng đều là sự phản ánh hư ảo vàotrong đầu óc người ta những sức mạnh bên ngoài chi phối cuộc sốnghàng ngày của họ, chỉ là sự phản ánh mà trong đó sức mạnh ở thế gian
đã mang sức mạnh siêu thế gian”[1; 537]
Ăngghen còn nói tôn giáo đứng tách rất xa đời sống vật chất vàdường như xa lạ với đời sống vật chất Tính bảo thủ của tôn giáo chỉ thểhiện rõ nét trong thực tế là có những biểu tượng nào đó vẫn tồn tại rấtlâu sau khi các điều kiện vật chất sinh ra chúng từ lâu không còn nữa
Để hiểu thêm về bản chất của tôn giáo, cần chú ý phần cuối trongđịnh nghĩa tôn giáo của Ăngghen: “Sự phản ánh hoang đường là sựphản ánh trong đó các lực lượng trần tục mang hình thức các lực lượngsiêu phàm” Nét đặc trưng của quan niệm hoang đường tôn giáo so vớiquan niệm hoang đường trong truyện cổ tích, ngụ ngôn là cùng với quanniệm hoang đường, tôn giáo còn có lòng tin vào sự hiện hữu của nhữngcái hoang đường đó, như tin rằng thế giới siêu tự nhiên là tồn tại songsong với thế giới tự nhiên Từ việc tin vào các lực lượng siêu tự nhiên,con người đi đến chỗ sùng bái chúng Trong sự sùng bái đó, đức tin là
cơ sở của sự sùng bái
Luận điểm trên của Ăngghen có ý nghĩa rất quan trọng về mặt lýluận Nó giúp ta phân biệt tôn giáo với các hình thái ý thức xã hội khác,làm rõ nguyên nhân xuất hiện của tôn giáo cũng như sự tồn tại và sự tiêuvong của nó trong tương lai Tôn giáo có đặc thù khác với các hình thái
ý thức xã hội khác ở chỗ nó phản ánh các sức mạnh “thống trị cuộc sốnghàng ngày của con người” có nghĩa là phản ánh sự bất lực của con ngườitrước sức mạnh bên ngoài Thế giới khách quan được phản ánh trongtôn giáo dưới hình thức sai lầm hư ảo, xuyên tạc
Trang 14Vì không thấy đặc trưng của tôn giáo là việc tin và sùng bái cáisiêu tự nhiên, nên nhiều nhà tư tưởng tư sản cùng thời với Mác,Ăngghen và nhiều nhà tư tưởng tư sản hiện nay coi chủ nghĩa vô thầncủa Mác và Ăngghen, chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản khoa học lànhững hình thức tôn giáo.
• Chức năng
- Chức năng xã hội:
Tôn giáo là sản phẩm của xã hội và văn hóa Ở từng quốc giakhác nhau, các khu vực khác nhau, trong cộng đồng người khác nhau vàtrong từng nền văn minh khác nhau, thì tôn giáo biểu hiện cũng rất khácnhau
Tính hai mặt của tôn giáo là tôn giáo vừa phản ánh xã hội đươngthời đã sinh ra nó (phản ánh xuyên tạc), vừa chống lại chính hiện thựcđó (tồn tại xã hội đó)
Tác dụng của tôn giáo là làm giảm đau, thư giãn, cân bằng cuộcsống thế gian, nơi mà ở đó còn những cảnh khổ bất công
Tôn giáo luôn biến đổi và thích nghi với từng giai đoạn phát triểncủa tính chính trị
- Chức năng (xã hội ) giáo dục:
Tôn giáo là ý thức, hệ tư tưởng biểu hiện qua hệ thống giáo lýbằng kinh sách với một tổ chức những người truyền giáo
Gạt bỏ tính duy tâm về thế giới quan thì các tôn giáo đều là nhữnghọc thuyết đạo đức, đều hướng thiện Về mặt này, có ý kiến cho rằng,chủ nghĩa Mác không là chủ nghĩa vô thần mà là chủ nghĩa nhân đạo, làniềm tin vào con người Quan niệm này chỉ có lý, chứ không hoàn toànchính xác Điều này cần phải được hiểu rằng, tôn giáo là một nhu cầu vềđời sống tâm linh của nhân dân Chừng nào tôn giáo còn là một nhu cầucủa nhân dân, thì việc tuyên chiến với tôn giáo là việc làm ngu xuẩn vàcàng làm tăng thêm sự tồn tại lâu dài và mãnh liệt của tôn giáo
1.1.3 Quan niệm của Mác, Ăngghen về phê phán tôn giáo
Trang 15Quan điểm của Mác và Ăngghen về tôn giáo khác về nguyên tắcvới các nhà duy vật trước đây Nếu những nhà vô thần trước Mác gắnnguyên nhân xuất hiện của tôn giáo là sự sợ hãi trước lực lượng tựnhiên, thì chủ nghĩa Mác lần đầu tiên đã vạch ra những nguồn gốc xãhội của sự sợ hãi đó Từ quan niệm, con người sáng tạo ra tôn giáo chứkhông phải tôn giáo sáng tạo ra con người, Mác đã nhận xét: “ Phơ-bách không thấy rằng, bản thân linh cảm tôn giáo cũng là một sản phẩm
xã hội và cá nhân trừu tượng mà ông phân tích, là thuộc một hình thức
xã hội nhất định”[13; 257] Đồng thời, Mác, Ăngghen khẳng định: “Tôngiáo là sự tự ý thức và sự tự tri giác của con người chưa tìm thấy bảnthân mình (đánh mất mình một lần nữa), là thế giới quan lộn ngược vìtôn giáo phản ánh chính thế giới hiện thực lộn ngược con người Tôngiáo biến bản chất con người thành tính hiện thực ảo tưởng
Các ông chỉ rõ: Xóa bỏ tôn giáo là đòi hỏi hạnh phúc thật sự củanhân dân Vì thế, phê phán tôn giáo là hình thức manh nha của sự phêphán cái biển khổ ấy Cái biển khổ mà tôn giáo là vòng hào quang thầnthánh
Phê phán tôn giáo làm cho con người thoát khỏi ảo tưởng để conngười tư duy, hành động xây dựng tính hiện thực của mình
Phê phán thượng giới biến thành phê phán cõi trần, phê phán tôngiáo biến thành phê phán pháp quyền; phê phán thần học biến thành phêphán chính trị”[Dẫn theo 24;10]
1.1.4 Quan niệm của Mác, Ăngghen về những điều kiện để tôn giáo tự mất đi.
Từ quan niệm về nguồn gốc và bản chất của tôn giáo là: Sự nghèonàn của tôn giáo, một mặt là biểu hiện của sự nghèo nàn hiện thực, vàmặt khác là sự phản kháng chống sự nghèo nàn hiện thực ấy “Tôn giáo
là tiếng thở dài của chúng sinh bị áp bức, là trái tim của thế giới khôngcó trái tim, cũng như nó là tinh thần của những điều kiện xã hội khôngcó tinh thần Tôn giáo là thuốc phiện của nhân dân”[13; 14] Các ôngchỉ ra những điều kiện để tôn giáo mất đi là:
Trang 16“- Tôn giáo là hạnh phúc ảo tưởng của nhân dân Vậy khi nhân dâncó hạnh phúc thực sự sẽ là một trong các điều kiện để tôn giáo tự nó mấtđi.
- Khi con người là sự tự ý thức và sự tự tri giác của con ngườichưa tìm thấy bản thân mình, hoặc đã đánh mất mình một lần nữa, thìcon người để cho tôn giáo (là cái mặt trời ảo tưởng) vận động xungquanh mình Vậy khi con người thoát khỏi những ảo tưởng, có lý trí để
tư duy, hành động và xây dựng tính hiện thực của mình, tự vận độngxung quanh bản thân mình sẽ là một trong các điều kiện để tôn giáo tựmất đi
- Tôn giáo chỉ mất đi khi nào trong xã hội xóa bỏ được hết nhữngquan hệ “biến con người thành một sinh vật bị làm nhục, bị nô dịch, bị
bỏ rơi, bị khinh rẻ” Tức chỉ khi nào mọi người trong xã hội đều coi conngười là tồn tại tối cao đối với con người thì tôn giáo mới tự mất đi[Dẫntheo 24; 11]
Trong “Chống Đuy Rinh”, khi phân tích tính cách của người laođộng trong xã hội tư bản chủ nghĩa, Ăngghen chỉ rõ, chừng nào “conngười còn bị thống trị bởi những quan hệ kinh tế do chính họ tạo ra, bởinhững tư liệu sản xuất do họ sản xuất ra” như là “một sức mạnh xa lạ”đối với họ, chừng đó sự phản ánh có tính chất tôn giáo của hiện thựcvẫn tồn tại
Từ đó, Ăngghen khẳng định: “khi nào thông qua việc nắm bắttoàn bộ tư liệu sản xuất và sử dụng được những tư liệu ấy một cách có
kế hoạch-xã hội, tự giải phóng mình và giải phóng tất cả mọi thành viêntrong xã hội khỏi tình trạng nô dịch, trong đó hiện nay họ đang bị giamcầm bởi những tư liệu sản xuất do chính tay họ làm ra nhưng đối lập với
họ như một sức mạnh xa lạ không sao khắc phục nổi; do đó khi nào conngười không chỉ mưu sự mà còn làm ra thành sự nữa - thì khi đó, cái sứcmạnh xa lạ cuối cùng hiện nay vẫn còn đang phản ánh vào tôn giáo mới
sẽ mất đi, và cùng với nó bản thân sự phản ánh có tính tôn giáo cũng sẽmất đi, vì khi đó sẽ không có gì để phản ánh nữa”[Dẫn theo 21; 11]
Trang 17Cũng trong “Chống Đuy Rinh”, Ăngghen khẳng định một trongnhững điều kiện để tôn giáo mất đi là trong hôn nhân gia đình, tình yêu
tự nguyện chân chính của trai gái quyết định hôn nhân của họ Họ yêunhau thì họ lấy nhau chứ không phải bất kì một lí do nào khác Cũngnhư thế, một trong những điều kiện để tôn giáo mất đi, có việc thực hiệnbình đẳng tôn trọng lẫn nhau giữa đàn ông với đàn bà, giữa nam vànữ[Dẫn theo 24; 11]
1.2 Một số quan điểm của V.I Lê Nin về tôn giáo
1.2.1 Quan điểm của V.I Lênin về nguồn gốc nhận thức và nguồn gốc xã hội của tôn giáo
1.2.1.1 Nguồn gốc nhận thức
Trong “CNXH và tôn giáo”, Lênin chỉ ra sự bất lực của nhữngngười dã man trong cuộc đấu tranh chống thiên nhiên đẻ ra lòng tin vàothần thánh, ma quỷ, vào những phép màu nhiệm[Dẫn theo 24; 12]
Trong chương II mục 4 của “Lý luận nhận thức ”, Lênin chỉ ra,chính quan điểm sai tận gốc của chủ nghĩa duy tâm cho rằng “xét đếncùng tính khách quan của những vật thể vật lý, mà chúng ta gặp trongkinh nghiệm của chúng ta, là dựa vào sự kiểm tra lẫn nhau và sự xétđoán ăn khớp với nhau của những người khác nhau Nói chung, thế giớivật lý tức cái kinh nghiệm ăn khớp về mặt xã hội, hài hòa về mặt xã hội.Tóm lại, là cái kinh nghiệm được tổ chức về mặt xã hội” dẫn họ đến chủnghĩa tín ngưỡng ( phê phán chủ nghĩa Ma Khơ) - dù họ có phủ địnhchủ nghĩa tín ngưỡng Đây là nguồn gốc nảy sinh các giáo lý tôngiáo[ Dẫn theo 24; 12]
Trong chương III mục 3 của “Lý luận nhận thức ”, trong khi phêphán chủ nghĩa Ma Khơ ở Nga, Lênin chỉ ra, chính chủ nghĩa bất khả tricủa Cant, Hium trong vấn đề tính nhân quả mà những người theo chủnghĩa Ma Khơ lập lại, là một trong những nguồn gốc nhận thức của tôngiáo[Dẫn theo 24; 12]
Trong chương III mục 5 của “Lý luận nhận thức ”, Lênin viết:
“Cũng như tất cả những người theo phái Ma Khơ, Bôdarốp đã lạc đường
Trang 18khi lẫn lộn tính khả biến của những khái niệm của con người về khônggian và thời gian, tính chất hoàn toàn tương đối của những khái niệm ấyvới tính bất biến của cái sự thật này là: Con người và giới tự nhiên chỉtồn tại trong không gian và thời gian, còn những vật ở ngoài thời gian vàkhông gian được bọn thầy tu tạo ra và được duy trì bởi óc tưởng tượngcủa quần chúng dốt nát và bị áp bức thì chỉ là sản phẩm của một ảotưởng ốm yếu, những mánh khóe lừa bịp của chủ nghĩa duy tâm triếthọc, sản phẩm vô dụng của một chế độ xã hội xấu xa” Vậy phủ địnhtính thực tại khách quan của thế giới và không gian, thời gian là mộtnguồn gốc nhận thức của tôn giáo[Dẫn theo 24; 13] Bởi lẽ, không gian,thời gian là hình thức tồn tại của vật chất.
Trong mục 8 “Cuộc cách mạng mới nhất trong khoa học tự nhiên”Lênin chỉ rõ, chính tình trạng không hiểu phép biện chứng, mà phươngpháp siêu hình trong các khoa học tự nhiên đã dẫn các nhà khoa học nàyđến với chủ nghĩa duy tâm, đến với tôn giáo[Dẫn theo 24; 13]
1.2.1.2 Về nguồn gốc xã hội
Trong tác phẩm “CNXH và tôn giáo” Lênin chỉ rõ, chừng nào vàbất cứ đâu, quần chúng nhân dân còn bị áp bức về mặt tinh thần và cònphải khốn khổ, bần cùng, cô độc và phải lao động cho người khác hưởngđều làm cho tôn giáo nảy sinh[Dẫn theo 24; 13]
Sự bất lực của giai cấp bị bóc lột trong cuộc đấu tranh chống giaicấp bóc lột đẻ ra lòng tin vào một cuộc đời tốt đẹp ở thế giới bên kia, tinvào thần thánh, vào ma quỷ và những phép màu[Dẫn theo 24; 13]
Tình trạng nô lệ về mặt kinh tế là nguồn gốc thực sự của sự mêhoặc nhân loại bằng tôn giáo[Dẫn theo 24; 13]
Trong “ Bút ký triết học ” Lênin chỉ ra “cảm giác về sự phụ thuộc
là cơ sở của tôn giáo”, cái chết làm nảy sinh sự sợ hãi, lòng tin vàothượng đế- nguồn gốc tâm lý xã hội[Dẫn theo 24; 13]
Tính ích kỷ theo nghĩa triết học, là gốc rễ của tôn giáo[Dẫn theo24; 13]
Trang 19Gia cốp Bômơ là “người hữu thân duy vật”, không những ôngthần thánh hóa tinh thần, mà ông còn thần thánh hóa cả vật chất nữa Ởông, thượng đế có tính vật chất - chủ nghĩa thần bí của ông là ở chỗ đó
“Ở chỗ nào con mắt nhìn đến và bàn tay mò đến thì chỗ đó cácthần thánh không tồn tại nữa”[Dẫn theo 24; 14] Như vậy, nếu thầnthánh hóa vật chất và thực sự chỉ lệ thuộc vào vật chất là nguồn gốc xãhội của tôn giáo
Khi lý tưởng của con người không hướng tới sự phù hợp với giới
tự nhiên, mà hướng tới thế giới siêu tự nhiên, khi đó tôn giáo nảysinh[Dẫn theo 24; 14] Sự phiến diện, cứng nhắc, thấy cây mà khôngthấy rừng, chủ nghĩa chủ quan và mù quáng chủ quan sẽ dẫn đến chủnghĩa duy tâm và là nguồn gốc của tôn giáo”[ Dẫn theo 24; 14]
Trong tôn giáo cũng như trong nền dân chủ, chúng ta đều thấy cónguyện vọng chung là giải phóng Nhưng chúng ta thấy rằng, về mặtnày, dân chủ đi xa hơn và tìm sự giải phóng không chỉ trong tinh thần
mà chính trong xác thịt, trong hiện thực vật chất, thực tế, nhờ tinh thầncủa con người [Dẫn theo 24; 14]
Nếu chỉ hướng sự giải phóng con người đến sự giải phóng tinhthần, thì đó là nguồn gốc xã hội cho tôn giáo nảy sinh Chính trị phi kinh
Trong xã hội tư bản, sự áp bức chủ nghĩa về mặt kinh tế, gây nên
và đẻ ra mọi hình thức áp bức chính trị đối với quần chúng, làm cho địa
vị xã hội của quần chúng thấp kém đi, đới sống tinh thần và đạo đức củaquần chúng bị mê muội và tối tăm thì tôn giáo là một trong những hìnhthức áp bức về mặt tinh thần[Dẫn theo 24; 14]
Với người lao khổ, tôn giáo dạy họ phải cam chịu, phải nhẫn nhục
ở trần gian để khi nhắm mắt xuôi tay sẽ được đền đáp ở thiên đường
Trang 20Với kẻ thống trị, tôn giáo dạy họ làm việc thiện ở thế gian để biện
hộ một cách rẻ tiền cho toàn bộ cuộc đời bóc lột của họ, tôn giáo bán rẻcho họ những tấm thẻ để lên thiên đường của người hạnh phúc
Tôn giáo làm cho người nô lệ mất phẩm cách con người và quênhết những điều đòi hỏi để được sống một cuộc đời đôi chút xứng đángvới con người
Tôn giáo là sự mê hoặc nhân loại đối với quần chúng bị nô lệ vềmặt kinh tế
Đạo công giáo cũng là một kinh nghiệm được tổ chức một cách
xã hội; chỉ có điều là đạo ấy không phản ánh chân lý khách quan màphản ánh việc một số giai cấp xã hội nhất định lợi dụng sự ngu dốt củanhân dân[Dẫn theo 24; 15]
Trong “Vỡ Bê ta” Lênin nói về tính hai mặt của tôn giáo: Có khảnăng có một phong trào Đạo Hồi vĩ đại” ở Châu Phi, phong trào này vừacách mạng vừa phản động[Dẫn theo 24; 15]
Đối với chủ nghĩa đế quốc tôn giáo có vai trò làm lóa mắt lên vìnhững hào quang thật hay giả của lòng dũng cảm chiến đấu mà chủnghĩa sô-vanh cho đó là “lòng yêu nước kiểu đặc biệt” Họ dùng tôngiáo để đẩy người ta lên thành một sự điên cuồng hoặc là một tội ác bất
kỳ nào đó[Dẫn theo 24; 15] - Tử vì đạo bởi chính dục vọng bàng quancủa chủ nghĩa sô-vanh hiếu chiến (Vở Cáp Pa)
Trong chủ nghĩa đế quốc, dục vọng bàng quan của chủ nghĩa vanh hiếu chiến của tư bản tài chính đối với nhà thờ, chính là sự củng cố
sô-uy tín của nhà thờ và sự thiết lập sự kiểm soát tinh thần của nhà thờ đốivới quảng đại quần chúng các bộ lạc hạ đẳng[Dẫn theo 24; 15]
- Ở Anh, các giáo phái Anh thường dựa vào các giai cấp trunggian và một phần công nhân lớp trên để thần thánh hóa sự cướp bóc[Dẫntheo 24; 15]
- Lợi dụng truyền giáo để cướp bóc thuộc địa[Dẫn theo 24; 15]
- Sự phát triển mạnh của Đạo Hồi ở vùng Tác ta vừa có tác dụngphát triển văn hóa ở vùng này, đồng thời sự liên kết của họ với người
Trang 21theo Đạo Hồi ở Tuốc kê xtan, Trung Quốc, Ấn Độ trong chủ nghĩa LiênHồi là một sự nổi loạn, là mối lo ngại của chính phủ Nga[Dẫn theo 24;16].
- Lê nin cũng chỉ ra tính hai mặt của tôn giáo khi trích dẫn “Cáccha cố đạo Cơ Đốc nói về chiến tranh rằng, các cha cố Pháp lo lắng vìchiến tranh xảy ra sẽ dẫn đến châu Âu kiệt quệ, các ông khêu gợi lòngyêu nước của mỗi người và vì sự nhân từ của Chúa (cha của mọi conchiên), và vì Chúa ở trong lòng mọi người, mà không tiến hành chiếntranh, nhưng các cha cố người Đức cũng vận dụng lý do đó mà tánthành chiến tranh do Đức khởi xướng[Dẫn theo 24; 16]
1.2.3 Quan điểm của V.I Lênin về thái độ của nhà Nước đối với tôn giáo
“Phải tách Giáo hội ra khỏi Nhà nước.
Tôn giáo phải được tuyên bố là một việc của tư nhân đối với Nhànước, Nhà nước không dính đến tôn giáo, các đoàn thể tôn giáo khôngđược dính đến chính quyền Nhà nước
Bất cứ ai cũng được quyền tự do theo hoặc không theo bất cứ mộttôn giáo nào đó Không phân biệt quyền lợi giữa công dân có tín ngưỡngtôn giáo với các công dân khác
Trong các văn kiện chính thức của Nhà nước phải vứt bỏ thậm chímọi sự nhắc đến tôn giáo nào đó của công dân Nhà nước không chi bất
cứ một khoản phụ cấp nào cho quốc giáo cũng như các đoàn thể tôngiáo, giáo hội Các đoàn thể tôn giáo hoàn toàn độc lập với chínhquyền Phải triệt để thực hiện điều này để tránh và chấm dứt sự nhụcnhã khi giáo hội phụ thuộc vào Nhà nước, và tồn tại tòa án của giáo hội
đã truy tố công dân về tội vô thần hay tín ngưỡng, cưỡng bức lương tâmcon người; nhằm đập tan mọi sự liên kết giữa giáo hội và Nhà nước tướcmất quyền tự do của con người”[Dẫn theo 24; 16]
Xóa bỏ tôn giáo không phải bằng cách tuyên chiến với tôn giáo,
mà bằng phát triển kinh tế, tuyên truyền thế giới quan khoa học, xóa bỏ
Trang 22tình trạng nô lệ về kinh tế Lênin không cấm những tín đồ tôn giáo vànhững người tin ở tôn giáo gia nhập Đảng[Dẫn theo 24; 17].
Một khi tín ngưỡng tôn giáo trở thành tôn giáo Nhà nước thìngười ta sẽ quên ngay “những điều ngây thơ” của tôn giáo lúc sơ khaivới tinh thần dân chủ cách mạng của nó[Dẫn theo 24; 17]
Đối với Nhà nước, tôn giáo chỉ là việc tư nhân Điều đó không cónghĩa đối với Đảng thì tôn giáo là việc tư nhân Làm như thế là hạ thấpĐảng của giai cấp công nhân xuống trình độ của người thị dân “có tưtưởng tự do tầm thường nhất” - Hạng này sẵn sàng không theo bất cứtôn giáo nào, nhưng lại cự tuyệt không chấp hành nhiệm vụ đấu tranhtheo lập trường của Đảng để chống thứ thuốc phiện tôn giáo mê hoặcnhân dân[Dẫn theo 24; 17]
Cho đến nay, hôn nhân có tính chất tôn giáo vẫn thịnh hành màphụ nữ là người gánh chịu hậu quả của tệ nạn đó Đấu tranh chống tệnạn này còn khó hơn đấu tranh chống lại pháp chế cũ Đấu tranh chốngcác thành kiến tôn giáo phải cực kỳ thận trọng Trong cuộc đấu tranhnày, ai làm tổn thương đến tình cảm tôn giáo, người đó sẽ gây thiệt hạilớn Phải đấu tranh bằng tuyên truyền giáo dục, nếu hành động thô bạo
sẽ làm cho quần chúng tức giận, sẽ gây thêm chia rẽ trong quần chúng
về vấn đề tôn giáo Nguồn gốc sâu xa nhất của thành kiến tôn giáo làcùng khổ và dốt nát Chính điều đó mà chúng ta cần phải đoàn kết vàđấu tranh[Dẫn theo 24; 17]
1.2.4 Quan điểm của V.I Lênin về thái độ của Đảng cộng sản đối với tôn giáo
“Lênin tuyên bố: Người cộng sản đấu tranh đòi cho mỗi người cótoàn quyền tự do theo tôn giáo nào mà mình thích, không những thế màmỗi người đều có quyền truyền bá bất kỳ tôn giáo nào hoặc thay đổi tôngiáo Vấn đề tín ngưỡng không một ai được can thiệp Không một tôngiáo nào hay giáo đường nào có địa vị thống trị cả Mọi tôn giáo, mọigiáo hội đều bình đẳng trước pháp luật Tăng lữ của tôn giáo nào thì dongười theo tôn giáo đó nuôi, Nhà nước không dùng công quỹ để giúp đỡ
Trang 23bất kỳ tôn giáo nào, nuôi bất kỳ tăng lữ nào thuộc bất kỳ tôn giáo nào.Tất cả những điều đó phải được thực hiện một cách vô điều kiện vàthẳng thắn.
Với những công nhân theo tín đồ Cơ Đốc, và những trí thức theochủ nghĩa thần bí, những người cộng sản không gạt họ ra khỏi xô viết vàcũng không gạt họ ra khỏi Đảng Chúng ta tin rằng, cuộc đấu tranh thực
tế và công việc cùng nhau làm trong một hàng ngũ, trong một đội ngũnhất định có thể làm cho tất cả những phần tử có sức sống tin vào chân
lý chủ nghĩa Mác và vứt bỏ những gì không còn có sức sống”[Dẫn theo24; 18]
Nhiệm vụ chung của tạp chí “dưới ngọn cờ chủ nghĩa Mác” là
“Cơ quan ngôn luận của chủ nghĩa duy vật chiến đấu, phải tiến hànhkhông biết mệt mỏi cho việc tuyên truyền vô thần và đấu tranh cho vôthần”[Dẫn theo 24; 18] “Cần dành nhiều chỗ để tuyên truyền chủ nghĩa
vô thần, để giới thiệu những sách báo nói về vấn đề ấy và để uốn nắnnhững sai lầm nghiêm trọng trong công tác về mặt này ở nước ta Đặcbiệt cần sử dụng các loại sách lớn, nhỏ mà nội dung có nhiều sự việc cụthể và những mối so sánh chứng minh mối liên hệ gắn chặt những lợiích giai cấp và các tổ chức giai cấp của giai cấp tư sản hiện nay với các
tổ chức tôn giáo và các cơ quan tuyên truyền tôn giáo”[Dẫn theo 24;18]
Phải nâng cao trình độ của giáo viên, mở rộng giáo dục, bằngnhiều hình thức tác động và thức tỉnh giới giáo cũ, lôi cuốn họ vàonhững nhiệm vụ mới, làm cho họ quan tâm đặt vấn đề sư phạm mộtcách mới mẻ, quan tâm đến với các vấn đề tôn giáo[Dẫn theo 24; 18]
Thái độ rõ ràng của Lênin là: Thủ tiêu hoàn toàn mọi mối liên hệgiữa giai cấp bóc lột với các tổ chức tôn giáo, truyền bá khoa học chốngtôn giáo nhưng không xúc phạm tình cảm tôn giáo[Dẫn theo 24; 18]
Từ sự phân tích sâu sắc, khoa học về nguồn gốc và bản chất củatôn giáo, những người Mácxit chân chính đã khẳng định tôn giáo còntồn tại lâu dài Nếu như tôn giáo không mất đi bằng con đường “tự tiêu
Trang 24vong” thì cũng không thể xóa bỏ tôn giáo bằng các sắc lệnh hay bằngbiện pháp bạo lực Tuy vậy, dù tôn giáo là một hình thái ý thức xã hộicòn tồn tại lâu dài với loài người, thì điều đó không có nghĩa là phạm trùvĩnh cửu Khoa học khảo cổ và lịch sử chứng minh rằng: Tôn giáokhông hình thành một lúc với con người, nó chỉ ra đời khi nhận thức củacon người phát triển đến một trình độ nhất định
Tuy nhiên, sự tồn tại của tôn giáo còn hết sức lâu dài và hiện nay
sự tồn tại đó có những lí do sau đây:
Một là: Sinh hoạt tôn giáo hiện vẫn còn có khả năng đáp ứng ởmức độ nào đó nhu cầu tinh thần đối với một số bộ phận quần chúng.Ngày nay trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội, xây dựng xã hộimới, mặt tiêu cực, lạc hậu của tôn giáo cần được khắc phục, đồng thờivẫn còn có những yếu tố tư tưởng nhân đạo của tôn giáo, nhất là nhữngyếu tố nhân bản trong đạo đức của tôn giáo cũng cần được sử dụng
Hai là: Trong thời kỳ quá độ vẫn còn tồn tại nhiều thành phầnkinh tế khác nhau với lợi ích khác nhau của các giai cấp và các nhóm xãhội; những yếu tố ngẫu nhiên, tự phát nảy sinh từ nền kinh tế thị trườnglàm cho con người sống thụ động, trông chờ vào “những lực lượngngoài trần thế” Cuộc đấu tranh giai cấp vẫn đang tiếp diễn với nhiềuhình thức vô cùng phức tạp, các lực lượng phản động trong và ngoàinước vẫn chưa từ bỏ âm mưu lợi dụng tôn giáo để chống phá cách mạngcũng là chỗ dựa cho tôn giáo tồn tại
Ba là: Vào những thập kỷ cuối thế kỷ XX, hàng loạt sự kiện xảy
ra trên thế giới gây tác động mạnh mẽ đến trạng thái tinh thần và tưtưởng của con người Chủ nghĩa xã hội tan rã và sụp đổ ở nhiều nướcĐông Âu và Liên Xô tạo nên sự đảo lộn nghiêm trọng trong đời sốngvật chất, tinh thần và làm giảm niềm tin của một bộ phận đông đảo nhândân vào lý tưởng xây dựng cuộc sống tốt đẹp trên trần thế Chủ nghĩa tưbản ở nhiều nước khủng hoảng bởi sự tăng trưởng kinh tế tỏ ra khôngcứu vãn được sự suy thoái về mặt đạo đức và xã hội, điều đó làm sâu sắc
Trang 25thêm tâm lý bất mãn của những người lao động đang mong tìm lối thoátkhỏi nỗi “khổ cực trần gian”
Nhân loại mặc dù đã bước vào giai đoạn văn minh mới, nhưngđang đứng trước hàng loạt nguy cơ và bị ám ảnh bởi nhiều nỗi lo sợ: Sự
đe dọa của chiến tranh hạt nhân hủy diệt bởi kho thuốc nổ hiện đangđược tích trữ đủ sức công phá mấy chục lần trái đất và điều đó dườngnhư thường xuyên nhắc nhỡ con người lời phán đoán của Chúa về “ngàytận thế”
Nạn ô nhiễm môi trường sinh thái trong khi tàn phá “ngôi nhàchung” mà con người đang sống thì đồng thời cũng khắc sâu thêm hoàiniệm của họ về “thế giới bên kia”
Những căn bệnh thế kỷ, hiểm nghèo đang hoành hành còn chưagiải thích được căn nguyên và do đó con người còn tạm thời bó tay vềphương pháp chữa trị Thực tế đó luôn nhắc nhỡ họ về quan niệm “sinh,lão, bệnh, tử” và làm cho họ cho họ cam lòng gửi số phận vào những
“phép màu” của “đấng linh thiêng”
Tất cả những điều trên làm cho mãnh đất nảy sinh, tồn tại của tôngiáo không bị thu hẹp mà ngược lại, xét trên nhiều khía cạnh, có chiềuhướng mở rộng Trên mảnh đất đó, hiện tượng hồi sinh tôn giáo đượcthúc đẩy bởi xu hướng khác nhau: Hoặc do con người bị đẩy vào tìnhtrạng tha hóa, đánh mất vai trò chủ thể của mình, phải đầu hàng trướcsức mạnh của tự nhiên và xã hội; hoặc do sự thôi thúc nội tâm, conngười muốn khôi phục các giá trị nhân bản vốn có trong tôn giáo và sửdụng chúng như “lá bùa” để chế ngự hiện tượng phi nhân bản diễn rangày càng nhiều trong cuộc sống hiện thực
Những luận điểm trên dẫn đến thái độ nhất quán của chủ nghĩaMác-Lênin đối với tôn giáo, khắc phục mặt tiêu cực trong tôn giáo làyêu cầu khách quan của sự nghiệp giải phóng con người, đấu tranhchống các thế lực xuyên tạc lợi dụng tôn giáo là yêu cầu bức thiết củacuộc đấu tranh chính trị, đấu tranh giai cấp, nhằm thủ tiêu chế độ ápbức, bóc lột, xây dựng xã hội mới
Trang 26Nhưng điều đó không có nghĩa là gạt bỏ hoàn toàn tôn giáo,không biết kế thừa những gì có ý nghĩa nhân bản tốt đẹp trong nó
Phương pháp giải quyết vấn đề tôn giáo được Mác-Ăng-ghen,Lênin suy nghĩ kỹ lưỡng trên nền tảng triết học duy vật biện chứng vàtrên cơ sở tổng kết thực tiễn Theo các ông, muốn thay đổi ý thức xã hội,phải thay đổi tồn tại xã hội, muốn xóa bỏ ảo tưởng của con người phảixóa bỏ nguồn gốc làm nảy sinh nhu cầu có ảo tưởng; muốn đẩy lùi ước
mơ về “thiên đường”, ở thế giới bên kia phải kiến tạo được ở thiênđường thế giới hiện hữu
Vì vậy, đấu tranh với tôn giáo là gián tiếp đấu tranh với cái thếgiới mà niềm vui tinh thần là tôn giáo chứ không trực tiếp “tấn công”vào thần thánh, “truy kích” Thượng đế Do đó “phê phán thượng giớibiến thành phê phán cõi trần, phê phán tôn giáo biến thành phê phánpháp quyền; phê phán thần học biến thành phê phán chính trị”[13; 15]
Lênin đã từng phê phán hai khuynh hướng giải quyết vấn đề tôngiáo: khuynh hướng dùng ấn phẩm tuyên truyền thuần túy đấu tranh vớitôn giáo là khuynh hướng tả khuynh vô chính phủ muốn đưa cuộc đấutranh chống tôn giáo lên trên cuộc đấu tranh chính trị, đấu tranh giaicấp Ông cho rằng, đấu tranh với tôn giáo phải cực kỳ thận trọng Trongcuộc đấu tranh này ai làm tổn thương đến tình cảm tôn giáo thì phảigánh chịu những hậu quả tai hại của sự thất bại
1.3 Tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh và của Đảng Cộng sản, Nhà nước Việt Nam về tôn giáo
Tư tưởng về tôn giáo là một trong những nội dung quan trọngtrong tư tưởng Hồ Chí Minh và của Đảng ta Đảng Cộng sản Việt Nam
và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã lĩnh hội đầy đủ, sâu sắc quan điểm của chủnghĩa Mác-Lênin về tôn giáo, vận dụng sáng tạo các quan điểm đó vàothực tiễn của cách mạng Việt Nam và đã góp phần trí tuệ vào kho tàng
lý luận của chủ nghĩa Mác-Lênin nhiều nội dung mới
Trang 27Trong đó, tư tưởng xuyên suốt, nhất quán là: Tôn trọng tự do tínngưỡng, tôn giáo của nhân dân, đoàn kết tôn giáo và chống những hoạtđộng lợi dụng tôn giáo.
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhìn nhận tôn giáo không chỉ ở sự tồntại tất yếu lâu dài trong lịch sử xã hội mà còn là một di sản văn hóa củaloài người Người đã chắt lọc ở giáo lý các tôn giáo những nội dung hợp
lý, tích cực để hướng cả cộng đồng dân tộc “chung sống với nhau hoàn
mỹ như những người bạn thân thiết”[4; 31] vì mục tiêu “mưu cầu hạnhphúc cho xã hội”[16; 302]
Từ những tư tưởng xuyên suốt đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh luônluôn quan tâm giáo dục mọi người tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng.Chính sách của Đảng và Nhà nước do Người đứng đầu trước sau nhưmột khẳng định và bảo vệ quyền tự do tín ngưỡng và tự do không tínngưỡng của nhân dân Ngay sau khi tuyên bố độc lập, tại phiên họp đầutiên của Chính phủ (3/9/1945) Người đã nói “Tôi đề nghị chính phủ tatuyên bố tín ngưỡng tự do, lương giáo đoàn kết” Cuối năm 1946, Người
đã chỉ định soạn thảo Hiến pháp, trong đó khẳng định: “Mọi công dânViệt Nam có các quyền trong đó có quyền tự do tín ngưỡng” Ngày3/3/1951, trong lời phát biểu ra mắt Đảng Lao động Việt Nam, Ngườinên rõ quan điểm của Đảng: Chúng tôi xin nói rõ hai điểm, nói rõ đểtránh sự hiểu lầm; một là vấn đề tôn giáo thì Đảng Lao động Việt Namhoàn toàn tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng của mọi người
Những quan điểm rõ ràng thể hiện trong bối cảnh đất nước còngặp nhiều khó khăn, nhận rõ tính nhạy cảm của vấn đề tôn giáo cũngnhư những âm mưu thủ đoạn của các thế lực thù địch triệt để lợi dụngvấn đề tôn giáo để chống phá cách mạng Chủ tịch Hồ Chí Minh luôncoi trọng đoàn kết tất cả những người có tôn giáo, tín ngưỡng khácnhau, không phân biệt người có đạo với người không có đạo, người theođạo này, người theo đạo khác
Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, với những người có đạo, muốn đoànkết được, trước hết phải thực sự tôn trọng tự do tín ngưỡng và nhu cầu
Trang 28sinh hoạt tôn giáo cầu sinh hoạt tôn giáo của họ Nói đến tôn trọng tự dotín ngưỡng chính là tôn trọng tự do tư tưởng cũng như sự thỏa mãn nhucầu về đời sống tâm linh, tôn trọng khát vọng sống hạnh phúc của tín đồđược biểu hiện dưới hình thức tín ngưỡng tôn giáo Ở Chủ tịch Hồ ChíMinh, sự tôn trọng ở chỗ Người tìm cách hạn chế mức thấp nhất sự khácbiệt, mặt mâu thuẫn, đồng thời phát hiện, khai phá phát triển những mặtthống nhất để hòa đồng Đánh giá về sự tôn trọng tự do tín ngưỡng, thái
độ chân thành đối với tôn giáo của Bác, một học giả và là một nhà hoạtđộng chính trị người Pháp, ông Sanh-tơ-ny đã nói: Về phần tôi, phải nóirằng, chưa bao giờ tôi có cớ để nhận nơi tấm lòng của cụ Hồ Chí Minhcó một vết nào, dầu rất nhỏ, của sự công kích đa nghi hoặc chế diễu đốivới một tôn giáo bất kỳ
Trong thực tế, sinh hoạt tôn giáo là một mảng sinh hoạt xã hội rất
dễ bị xâm phạm, dễ bị lợi dụng Vì vậy, để đoàn kết được những ngườicó đạo và cùng hướng tới mục tiêu chung, theo Chủ tịch Hồ Chí Minh,những người cộng sản chỉ tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng không thôithì vẫn chưa đủ mà phải có trách nhiệm bảo vệ cho đồng bào các tôngiáo thực hành quyền đó và cao hơn nữa là tạo điều kiện thuận lợi cho
họ để thực hiện nhu cầu sinh hoạt tôn giáo của mình Quan điểm đóđược Người thể chế hóa bằng các văn bản pháp luật, các mệnh lệnh củaChính phủ ngay sau khi Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời.Năm 1952, Người đã soạn thảo: “Tám điều mệnh lệnh của Chínhphủ ”, trong đó Điều 4 ghi: “Bảo vệ đền, chùa, nhà thờ, trường học,nhà thương và các cơ quan văn hóa xã hội khác” Ngày 14 tháng 6 năm
1955, Người ký Sắc lệnh 234/SL, trong đó Điều 16 chương IV khẳngđịnh: “Việc tự do tín ngưỡng, tự do thờ cúng là quyền của nhân dân”.Ngay cả các vị chức sắc trong tôn giáo cũng cảm nhận một cách sâu sắctinh thần tôn trọng tự do tín ngưỡng của Chủ tịch Hồ Chí Minh Linhmục Trần Tam Tĩnh đã viết: “Việc nhắc tới tạo hóa trong bản tuyênngôn độc lập ngày 2/9/1945, việc liên tưởng tới Chúa cho thấy rõNgười tôn trọng niềm tin của những người khác”
Trang 29Cũng vì cuộc sống bình yên của đồng bào có đạo, Chủ tịch HồChí Minh đã từng kịch liệt lên án và tố cáo: “Giặc Pháp ở nhiều nơi đãphá hoại nhà thờ, chùa chiền, hành hạ cha cố, hãm hiếp bà phước, giếthại cướp bóc đồng bào giáo cũng như lương”[16; 302] Người đãnghiêm khắc phê phán và kịp thời đề ra các biện pháp sửa chữa nhữngsai phạm của một số cán bộ và chính quyền các cấp trong việc thực hiệnchính sách tôn giáo, cũng như chống lại định kiến, phân biệt đối xử vì lí
do tôn giáo
Chủ tịch Hồ Chí Minh còn là người nêu tấm gương về sự tôntrọng tâm lý tình cảm tôn giáo của những người có đạo Qua những bàiviết, bài nói, bằng những ngôn ngữ hay thái độ khi tiếp xúc, Bác đã tạocho đồng bào có đạo những ấn tượng tốt đẹp Một linh mục đã nhận xét:
“Cụ Hồ Chí Minh không phải là người mác-xít giáo điều, cũng khôngphải là một người chống lại Công giáo kiểu rẻ tiền việc liên tưởnghoài tới Chúa trong thư gửi cho giám mục Lê Hữu Từ và Sanh-tơ-ni(chúng ta cầu cho Chúa chúng ta thành công) cho thấy Người tôn trọngniềm tin của người khác“[20; 70]
Vinh dự tự hào chúng ta có một vị lãnh tụ đại diện đầy đủ, sâu sắcquyền lợi vật chất, tinh thần và cả nguyện vọng chính đáng về mặt tâmlinh của tuyệt đại đa số nhân dân như Chủ tịch Hồ Chí Minh Điều đó đãđược linh mục Vũ Xuân Kỳ xác nhận: “Đạo công giáo dạy mọi ngườikính Chúa yêu nước, yêu người Chủ tịch Hồ Chí Minh với độ lượngtrời bể của Cụ, không những làm cho chúng tôi kính Chúa, yêu nước,yêu người mà còn dạy cho chúng tôi biết tha thứ, khoan hồng đối vớinhững người lầm đường lạc lối ”[2; 5]
Tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc thể hiện rõ néttrên nguyên tắc chỉ đạo rộng rãi nhưng không phải là đoàn kết với tất cả,với bất kỳ ai, bất kỳ giá nào, bất kỳ điều kiện nào Trên lĩnh vực tôngiáo, nguyên tắc này được Người phân biệt rõ ràng rằng giữa tôn giáovới tư cách là một hình thái ý thức xã hội, tồn tại tất yếu, lâu dài theolịch sử xã hội loài người có giai cấp, với tôn giáo với tư cách là một tổ
Trang 30chức, một cộng đoàn tín đồ bị lợi dụng để chống lại lợi ích của dân tộc,giữa những người có niềm tin tôn giáo mong muốn được thỏa mãn nhucầu sinh hoạt tôn giáo, với những tín đồ - công dân có quyền và nghĩa
vụ công dân
Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng: Kính Chúa yêu nước là nghĩa vụkhông thể phân chia ở tín đồ Người giáo sĩ, giáo dân tốt phải là ngườicông dân tốt, có hết lòng phục vụ Tổ quốc mới sáng danh tôn giáo củamình Logic của vấn đề là: “Chúng ta phải tạo ra được lực lượng tiến bộtrong các tôn giáo, đồng thời chống lại hoạt động bị lợi dụng tôn giáo,
cô lập phản động, làm thất bại mọi hoạt động của bọn tay sai đế quốc.Chúng ta phải làm cho Giáo hội Việt Nam ngày càng tiến bộ hơn, cótinh thần dân tộc, yêu nước, yêu hòa bình và đoàn kết dân tộc hơn”[9;134]
Đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh, đoàn kết tôn giáo, không phânbiệt tín ngưỡng tôn giáo là tư tưởng xuyên suốt, nhất quán và trở thànhchính sách lớn của Người Độc lập, tự do là “mẫu số chung”, là “điểmthống nhất” mọi nguyện vọng tha thiết của tất cả những người có đạo vàkhông có đạo ở nước ta, bởi vì gần 100 năm mất nước, tất cả là nô lệ.Song giành được độc lập chưa phải là đi tới mục tiêu cuối cùng, bởi vì:
“Chúng ta giành được độc lập, tự do rồi mà dân cứ chết đói, chết rét thìđộc lập, tự do cũng không làm gì”[15; 87]
Do đó, xây dựng cuộc sống mới là nhiệm vụ bức thiết, lâu dài và
cơ bản của toàn dân Trên nền tảng đó, đại đoàn kết toàn dân là chiếnlược có ý nghĩa bao quát và lâu dài của Chủ tịch Hồ Chí Minh
Để giáo dục ý thức và sự thống nhất lợi ích chung giữa nhữngngười có tôn giáo và không tôn giáo, giữa những người theo các tôngiáo khác nhau, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sử dụng cả nội dung có giá trịtrong giáo lý tôn giáo để khơi dậy trong đồng bào tinh thần đoàn kết:Kinh thánh có câu, ý dân là ý Chúa, con đường yêu nước mà đồng bàođang đi là hoàn toàn đúng Tôi mong các cụ phụ lão, các vị giám mục vàlinh mục hãy hăng hái khuyến khích tín đồ trong mọi công việc ích
Trang 31nước, lợi dân, lương giáo đoàn kết, cả nước một lòng Người còn viết:
“Trong Công giáo có câu: “Tam vị nhất thể”, nhà Phật có câu: “Vạnchúng nhất linh” nên chúng ta phải hi sinh cho nhân loại và chúngsinh”[2; 11]
Chủ tịch Hồ Chí Minh tiêu biểu cho tư tưởng cộng sản, vẫn trântrọng tiếp thu những giá trị tốt đẹp của các tôn giáo và rất nhạy cảm, sâusắc phát hiện ra khả năng dung hợp giữa tư tưởng cách mạng, cộng sảnvới các giá trị nhân bản, đích thực của các tôn giáo Từ những năm 40của thế kỉ XX, Người đã viết: “Học thuyết Khổng Tử có ưu điểm của nó
là sự tu dưỡng đạo đức cá nhân Tôn giáo Giê su có ưu điểm của nó làlòng nhân ái cao cả Chủ nghĩa Mác có ưu điểm của nó là phương pháplàm việc biện chứng, chủ nghĩa Tôn Dật Tiên có ưu điểm của nó làchính sách của nó phù hợp với điều kiện nước ta
Khổng Tử, Giê su, Mác, Tôn Dật Tiên chẳng có những ưu điểmchung đó sao? Họ đều mưu cầu hạnh phúc cho loài người, cho xã hội.Nếu nay họ còn sống trên đời này, nếu họ hợp lại một chỗ, tin rằng họnhất định chung sống với nhau hoàn mỹ như những người bạn thânthiết Tôi cố gắng làm người học trò nhỏ của các vị ấy”[Dẫn theo 24;21]
Nét nổi bật trong tư tưởng và hành động của Hồ Chí Minh là tìmđược sự dung hợp mọi giá trị tư tưởng nhân văn trong kho tàng tư tưởngnhân loại trên nền tảng của chủ nghĩa yêu nước, chủ nghĩa cộng sảnnhằm mục tiêu cao cả là giải phóng dân tộc, giải phóng con người.Trong sự dung hòa đó, các giá trị nhân bản đích thực của tôn giáo đượcChủ tịch Hồ Chí Minh kế thừa, nhưng nâng cao trên cơ sở bổ sung nộidung mới, hợp thời đại theo tiêu chuẩn người cách mạng, hướng tớihành động tu dưỡng bản thân để phục vụ tốt hơn cho sự nghiệp đấutranh giải phóng dân tộc, mang lại hạnh phúc cho nhân dân Đó là nhữngphẩm chất: trung với nước, hiếu với dân, cần, kiệm, liêm, chính, chícông, vô tư ; giàu sang không thể quyến rũ, khó khăn không thể laychuyển, uy lực không thể khuất phục
Trang 32Những tư tưởng nêu trên của Chủ tịch Hồ Chí Minh về tôn giáo
đã được Đảng, Nhà nước Việt Nam quán triệt sâu sắc và đã có nhữngchủ trương, chính sách thích hợp đối với tôn giáo trong từng thời kỳ.Điều đó thể hiện trong những văn kiện quan trọng sau:
Sau khi nhà nước ta được hoàn toàn thống nhất, cùng với việc giảiquyết nhiều vấn đề bức bách của xã hội, ngày 11/11/1977 Hội đồngChính phủ đã ra Nghị quyết số 297/CP “Về một số chính sách đối vớitôn giáo” nhằm ổn định và tạo điều kiện cho các hoạt động tôn giáo đãgóp phần xây dựng cuộc sống “tốt đời đẹp đạo” của đồng bào các tôngiáo, ổn định tình hình chính trị của đất nước
Sau hơn 10 năm thực hiện Nghị quyết 297/CP, tình hình đất nướccó những thay đổi, đặc biệt là quá trình đổi mới, để xử lý những vấn đềmới nảy sinh trong hoàn cảnh điều kiện lịch sử cụ thể, ngày 16/10/1990,
Bộ Chính trị BCH Trung ương Đảng khóa VI đã ra Nghị quyết
24/NQ-TW “Về tăng cường công tác tôn giáo trong tình hình mới” Phần đầucác quan điểm đã khẳng định: “Tôn giáo là một vấn đề còn tồn tại lâudài, tín ngưỡng tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân.Đạo đức tôn giáo có nhiều điều phù hợp với công cuộc xây dựng xã hộimới Chính sách nhất quán của Đảng và Nhà nước là tôn trọng quyền tự
do tín ngưỡng của nhân dân, thực hiện đoàn kết lương giáo, đoàn kếttoàn dân xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Cần khắc phục nhận thức thiểncận và thái độ hẹp hòi thành kiến đối với người có đạo Mặt khác, tôngiáo là lĩnh vực mà kẻ địch đặc biệt chú trọng lợi dụng để phá hoại sựnghiệp cách mạng của nhân dân ta Điều đó đòi hỏi chúng ta khôngđược lơ là cảnh giác, buông lỏng công tác tôn giáo”
Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ được thôngqua tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII năm 1991 khẳng định:
“Tín ngưỡng, tôn giáo là nhu cầu của một bộ phận nhân dân Thực hiệnnhất quán chính sách tôn trọng bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng Chốngmọi hành động vi phạm tự do tín ngưỡng đồng thời chống việc lợi dụngtín ngưỡng làm tổn hại đến lợi ích của Tổ quốc và nhân dân”
Trang 33Báo cáo chính trị tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII cũngkhẳng định: “Tín ngưỡng, tôn giáo là nhu cầu tinh thần cuả một bộ phậnnhân dân Đảng và nhà nước ta tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng vàkhông tín ngưỡng của nhân dân, thực hiện bình đẳng và đoàn kết lương
- giáo và giữa các tôn giáo Khắc phục thái độ hẹp hòi, thành kiến phânbiệt đối xử với người có đạo, chống những hành động vi phạm tự do tínngưỡng; đồng thời nghiêm cấm và ngăn chặn mọi hành vi lợi dụng tôngiáo phá hoại độc lập và đoàn kết dân tộc, chống phá chủ nghĩa xã hội,ngăn cấm tín đồ làm nghĩa vụ công dân”
Hiến pháp nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam năm 1992Điều 70 viết: “Công dân Việt Nam có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo,theo hoặc không theo một tôn giáo nào Các tôn giáo đều bình đẳngtrước pháp luật Những nơi thờ tự của các tín ngưỡng tôn giáo đượcpháp luật bảo hộ không ai được xâm phạm tự do tín ngưỡng, tôn giáohoặc lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để làm trái pháp luật và chính sáchcủa Nhà nước”
Đồng thời với những văn kiện quan trọng trên, ngày 21/03/1991Hội đồng Bộ trưởng (nay là chính phủ) đã ra nghị định 69/HĐBT quyđịnh về các hoạt động tôn giáo để cụ thể hóa việc triển khai NQ-24 củaĐảng về mặt quản lý nhà nước Ngày 23/7/1993, Thủ tướng Chính phủlại ra Chỉ thị số 379/TTg “về các hoạt động tôn giáo”
Tiếp theo Nghị quyết số 24-NQ/TW, ngày 2-7-1998, Bộ Chính trịkhóa VIII đã ban hành Nghị quyết số 37-NQ/TW “Về công tác tôn giáotrong tình hình mới”, và nhất là ngày 12-3-2003, Hội nghị lần thứ bảyBan Chấp hành Trung ương khóa IX đã ra Nghị quyết số 25-NQ/TW Vềcông tác tôn giáo Có thể nói cho đến nay, về lĩnh vực tôn giáo, đây lànghị quyết quan trọng nhất, có ý nghĩa nhất Quan trọng và ý nghĩa nhấtbởi, lần đầu tiên, có nghị quyết của Ban Chấp hành Trung ương về tôngiáo và Nghị quyết số 25-NQ/TW đã thể hiện khá đầy đủ nhận thức mớicủa Đảng kể từ ngày đổi mới về lĩnh vực rất phức tạp và nhạy cảm này.Ngoài việc tiếp tục tái khẳng định những nội dung cơ bản của Nghị
Trang 34quyết số 24-NQ/TW của Bộ Chính trị khóa VI, Nghị quyết số37-NQ/TW của Bộ Chính trị khóa VIII, Nghị quyết Hội nghị lần thứnăm Ban Chấp hành Trung ương khóa VIII và một số văn kiện khác,Nghị quyết số 25-NQ/TW có một số điểm phát triển mới.
- Nghị quyết khẳng định cụ thể và rõ ràng hơn về sự tồn tại cótính khách quan của tôn giáo trong đời sống xã hội Nếu các nghị quyếttrước đây chỉ khẳng định tôn giáo là hiện tượng còn tồn tại lâu dài, thìNghị quyết số 25-NQ/TW cho rằng: "Tín ngưỡng, tôn giáo là nhu cầutinh thần của một bộ phận nhân dân, đang và sẽ tồn tại cùng dân tộctrong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta”[7; 48]
Trong các văn kiện trước đây, quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáocủa nhân dân được nhất quán thừa nhận và Nhà nước cam kết tôn trọngquyền tự do đó, song ở mức độ nhất định, vẫn còn chưa thật cụ thể Tuynhiên, đến Nghị quyết số 25-NQ/TW, Đảng ta khẳng định: "Thực hiệnnhất quán chính sách tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, theohoặc không theo một tôn giáo nào, quyền được sinh hoạt tôn giáo bìnhthường theo đúng pháp luật”[7; 48]
Rõ ràng, đây là một bước tiến trong nhận thức nhằm đáp ứng nhucầu tín ngưỡng, tôn giáo chân chính của một bộ phận nhân dân, làm chonhu cầu đó không chỉ được thừa nhận, được thỏa mãn về mặt tư tưởng
mà còn có thể được thể hiện qua hành vi trong sinh hoạt tôn giáo củangười dân Điều này cũng phù hợp với các công ước của Liên hợp quốcrằng, công dân không chỉ có quyền được tự do lựa chọn đức tin, thay đổiđức tin mà còn được tự do "bày tỏ đức tin thầm kín hay công khai"
Lần đầu tiên, trong Văn kiện Hội nghị Trung ương, việc giữ gìn
và phát huy những giá trị tích cực của truyền thống thờ cúng tổ tiên, tônvinh những người có công với Tổ quốc và nhân dân được chính thứcthừa nhận Đây có thể xem là một bước tiến mới trong nhận thức củaĐảng về vấn đề tín ngưỡng, tôn giáo Điều này cho thấy, cùng với vấn
đề tôn giáo, vấn đề thờ cúng tổ tiên và những người có công với Tổquốc được đặt trong phạm trù văn hóa và vì là một phạm trù thuộc lĩnh
Trang 35vực văn hóa nên nó là đối tượng tác động chủ yếu của công tác vậnđộng nhân dân.
Như vậy, qua các văn bản đã nêu trên, sự đổi mới của Đảng vàNhà nước ta về quan điểm, chính sách đối với tôn giáo được thể hiệnđầy đủ và xuyên suốt với các nội dung chủ yếu sau đây:
Một là: Công tác đối với tôn giáo vừa phải quan tâm giải quyếthợp lý nhu cầu tín ngưỡng của quần chúng, vừa kịp thời đấu tranh chốngđịch lợi dụng tôn giáo để chống phá cách mạng
Hai là: Tôn giáo tín ngưỡng là hiện tượng tồn tại lâu dài và là nhucầu về tinh thần của một bộ phận nhân dân Đạo đức tôn giáo có nhữngđiểm phù hợp với công cuộc xây dựng xã hội mới
Ba là: Nội dung của chính sách tôn giáo là công tác quần chúng,công tác đối với con người Đồng bào có đạo hay không có đạo đều làcông dân Việt Nam Sự lãnh đạo của Đảng và quản lý của Nhà nước lànhằm thực hiện và phát huy quyền làm chủ của nhân dân, chăm lo giảiquyết những lợi ích thiết thân, trong đó có quyền tự do tín ngưỡng, đồngthời giúp đỡ đồng bào nâng cao trình độ về mọi mặt để đóng góp tíchcực và to lớn hơn vào sự nghiệp cách mạng của nước ta
Bốn là: Làm tốt công tác tôn giáo là trách nhiệm của toàn bộ hệthống chính trị do Đảng lãnh đạo Tôn giáo là một hình thái ý thức xãhội, đồng thời cũng là một thực thể xã hội có quan hệ phức tạp và tế nhịđến nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội Các bộ phận của hệ thông chínhtrị cần phối hợp chặt chẽ, đồng bộ trong đó Đảng ra chủ trương, đườnglối đúng, Nhà nước ban hành chính sách pháp luật để thực hiện sự quản
lý đối với tôn giáo, các đoàn thể và Mặt trận có nhiệm vụ vận động quầnchúng tín đồ và chức sắc các tôn giáo thực hiện các phong trào “tốt đời,đẹp đạo” cùng nhau góp phần xây dựng và bảo vệ Tổ quốc vì sự nghiệp
“dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh”
Quan điểm, chính sách trên đây được thể hiện thành các nhiệm vụchủ yếu của công tác tôn giáo là:
Trang 36a, Làm cho cán bộ, đảng viên, nhân dân và tín đồ, chức sắc trongcác tôn giáo quán triệt quan điểm, tư tưởng chính sách của Đảng và Nhànước đối với tôn giáo nhằm xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân, làmcho các tôn giáo gắn bó với dân tộc, đạo gắn với đời, tuân thủ pháp luật,giữ gìn độc lập, chủ quyền dân tộc.
b, Chăm lo đời sống vật chất, tinh thần, nâng cao trình độ mọi mặtcho đồng bào có đạo Đảm bảo đầy đủ quyền tự do tín ngưỡng và quyền
tự do không tín ngưỡng; tích cực vận động đồng bào các tôn giáo gópphần to lớn hơn vào công cuộc phát triển kinh tế-xã hội, giữ vững ổnđịnh chính trị, bảo đảm an ninh, quốc phòng
c, Tăng cường quản lý nhà nước bằng pháp luật đối với tôn giáo.Hoàn chỉnh các văn bản luật và dưới luật về tôn giáo, đào tạo đội ngũcán bộ làm công tác tôn giáo am hiểu pháp luật và công tác quản lý nhànước đối với các tôn giáo
d, Hướng dẫn các chức sắc hoạt động tôn giáo phù hợp với chínhsách và pháp luật hiện hành Ủng hộ xu hướng tiến bộ trong các tôngiáo, làm cho các giáo hội ngày càng gắn bó với dân tộc, đồng thời thểhiện trách nhiệm của giáo hội trong một nước độc lập, có chủ quyền,bình đẳng và hữu nghị với các nước khác trên thế giới
e, Cảnh giác và kiên quyết làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn của
kẻ địch lợi dụng tôn giáo chống phá Tổ quốc và nhân dân, đi ngược lạilợi ích chính đáng của giáo dân
Những nhiệm vụ trên được đề ra trên cơ sở các nguyên tắc sau:Một là: Nhà nước đảm bảo quyền tự do tín ngưỡng và tự do khôngtín ngưỡng của nhân dân, nghiêm cấm sự phân biệt đối xử vì lý do tôngiáo hoặc tín ngưỡng
Hai là: Mọi công dân theo hoặc không theo tôn giáo đều bình đẳngtrước pháp luật, được hưởng mọi quyền lợi của công dân và thực hiệnnghĩa vụ công dân
Ba là: Các hoạt động tôn giáo phải tuân theo Hiến Pháp và phápluật của nhà nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam