+ Hành động ngôn ngữ trong các bài cao dao tỏ tình có lời hồi đáp.. Phương pháp phân tích diễn ngôn Phương pháp này lấy xuất phát điểm là lời tỏ tình và lời hồi đáp trong cadao người Việ
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
NGUYỄN THỊ THÙY DƯƠNG
LỜI TỎ TÌNH VÀ LỜI HỒI ĐÁP TRONG CA DAO NGƯỜI VIỆT
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ, VĂN HỌC
VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM
THÁI NGUYÊN - 2018
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
NGUYỄN THỊ THÙY DƯƠNG
LỜI TỎ TÌNH VÀ LỜI HỒI ĐÁP TRONG CA DAO NGƯỜI VIỆT
Ngành: Ngôn ngữ Việt Nam
Mã số: 8.22.01.02
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ, VĂN HỌC
VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM
Cán bộ hướng dẫn khoa học: PGS.TS Hà Quang Năng
THÁI NGUYÊN - 2018
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan công trình nghiên cứu: “Lời tỏ tình và lời hồi đáp trong ca dao người Việt” dưới sự hướng dẫn của PGS.TS Hà Quang Năng làkết quả nghiên cứu của cá nhân tôi, kết quả nghiên cứu trong luận văn là trungthực và chưa được công bố
Thái Nguyên, tháng 11 năm 2018
Người thực hiện
Nguyễn Thị Thùy Dương
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn, ngoài sự cố gắng nỗ lực của bản thân, tôi cònnhận được sự quan tâm giúp đỡ của các thầy cô, đồng nghiệp, bạn bè và gia
đình… Trước tiên, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành, sâu sắc nhất đến PGS.TS.
Hà Quang Năng, người đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ, tạo mọi điều kiện cho
tôi trong quá trình thực hiện đề tài
Tôi xin gửi lời cảm ơn các thầy cô giáo khoa Ngữ văn, tổ Ngôn ngữ học,Trường Đại học Sư phạm - Đại học Thái Nguyên đã nhiệt tình giảng dạy và tạomọi điều kiện thuận lợi trong thời gian học tập và nghiên cứu tại khoa
Xin cảm ơn Ban Giám hiệu Nhà trường, Phòng sau Đại học đã tạo điềukiện cho tôi trong việc hoàn thành thủ tục để bảo vệ luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, ngày 12 tháng 11 năm 2018
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Thùy Dương
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC .iii
DANH MỤC TỪ, CỤM TỪ VIẾT TẮT iv
DANH MỤC CÁC BẢNG v
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
2 3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu, phạm vi khảo sát 3
4 Phương pháp nghiên cứu 3
5 Đóng góp của luận văn 3
6 Cấu trúc luận văn 4
Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÍ THUYẾT 5
1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu 5
1.1.1 Những nghiên cứu chung về tục ngữ, ca dao, dân ca Việt Nam
5 1.1.2 Những nghiên cứu về lời tỏ tình và lời hồi đáp trong ca dao người Việt 6
1.2 Cơ sở lí thuyết 7
1.2.1 Lí thuyết hội thoại 7
1.2.2 Lí thuyết hành động ngôn ngữ 14
1.2.3 Giới thiệu khái quát về lời tỏ tình và lời hồi đáp trong ca dao của người Việt 19
Tiểu kết chương 1 23
Chương 2 LỜI TỎ TÌNH VÀ LỜI HỒI ĐÁP TRONG CA DAO NGƯỜI VIỆT - DẠNG ĐẦY ĐỦ
24
Trang 62.1.1 Các dạng lượt lời của bài ca dao tỏ tình có lời hồi đáp 24
2.1.2 Kiểu câu được sử dụng trong ca dao tỏ tình có lời hồi đáp 27
iii
Trang 72.1.3 Các mô típ thường gặp 29
2.2 Cách thức thể hiện của các bài ca dao tỏ tình có lời hồi đáp - dạng đầy đủ 31
2.2.1 Thể hiện bằng các hình ảnh, biểu tượng 31
2.2.2 Thể hiện trong bối cảnh giao tiếp 34
2.2.3 Thể hiện qua các nhân vật giao tiếp 38
2.3 Nội dung của các bài ca dao tỏ tình có lời hồi đáp - dạng đầy đủ 43
2.3.1 Lời tỏ tình và lời hồi đáp thuận tình 43
2.3.2 Lời tỏ tình và lời hồi đáp không thuận tình 51
Tiểu kết chương 2 53
Chương 3 LỜI TỎ TÌNH VÀ LỜI HỒI ĐÁP TRONG CA DAO NGƯỜI VIỆT - DẠNG KHÔNG ĐẦY ĐỦ 55
3.1 Kết cấu của các bài ca dao tỏ tình có lời hồi đáp - dạng không đầy đủ 55
3.1.1 Các dạng lượt lời của bài ca dao tỏ tình có lời hồi đáp - dạng không đầy đủ 55
3.1.2 Kiểu câu được sử dụng trong ca dao tỏ tình có lời hồi đáp - dạng không đầy đủ 57
3.1.3 Các mô típ thường gặp 58
3.2 Cách thức thể hiện của các bài ca dao tỏ tình có lời hồi đáp - dạng không đầy đủ 60
3.2.1 Thể hiện bằng các hình ảnh, biểu tượng 60
3.2.2 Thể hiện trong bối cảnh giao tiếp 63
3.2.3 Thể hiện qua các nhân vật giao tiếp 65
3.3 Nội dung của các bài ca dao tỏ tình có lời hồi đáp - dạng không đầy đủ
69 3.3.1 Nội dung của các bài ca dao tỏ tình khuyết lời hồi đáp 70
3.3.2 Nội dung của những bài ca dao là lời hồi đáp khuyết lời tỏ tình 79
Tiểu kết chương 3 84
KẾT LUẬN 86
TÀI LIỆU THAM KHẢO 90
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1 Về sự luân phiên lượt lời trong bài ca dao tỏ tình có lời hồi
đáp 24
Bảng 2.2 Các kiểu câu được sử dụng trong ca dao lời tỏ tình có lời hồi đáp 27
Bảng 2.3 Kiểu câu hỏi trong các bài ca dao tỏ tình có lời hồi đáp 27
Bảng 2.4 Từ chỉ không gian trong các bài ca dao tỏ tình có lời hồi đáp 34
Bảng 2.5 Từ ngữ chỉ thời gian trong các bài ca dao tỏ tình có lời hồi đáp
36 Bảng 2.6 Thống kê về chủ thể trong ca dao tỏ tình có lời hồi đáp 39
Bảng 2.7 Các từ xưng hô trong bài ca dao tỏ tình có lời hồi đáp 41
Bảng 2.8 Các từ để hỏi trong các bài ca dao tỏ tình có hồi đáp thuận tình
43 Bảng 3.1 Các kiểu câu được sử dụng trong ca dao lời tỏ tình có lời hồi đáp - dạng không đầy đủ 57
Bảng 3.2 Từ ngữ chỉ không gian trong các bài ca dao tỏ tình có lời hồi đáp - dạng không đầy đủ 63
Bảng 3.3 Chủ thể trong ca dao tỏ tình có lời hồi đáp - dạng không đầy đủ
65 Bảng 3.4 Từ xưng hô trong bài ca dao là lời tỏ tình khuyết lời hồi đáp 66
Bảng 3.5 Các nhóm nội dung cơ bản trong ca dao tỏ tình khuyết lời hồi đáp 70
Bảng 3.6 Lời hồi đáp thuận tình và lời hồi đáp không thuận tình trong các bài ca dao là lời hồi đáp khuyết lời tỏ tình 79
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
1.1 Từ xưa đến nay, ca dao Việt Nam được ví như cây đàn muôn điệu,dòng sữa mát lành nuôi dưỡng tâm hồn nhân dân trải qua nhiều thế hệ Ca daocòn là viên ngọc quý sáng lấp lánh trong kho tàng vô giá của văn học dân gian.Trải qua sự sàng lọc khắc nghiệt nhưng công bằng của thời gian, ca dao dân ca
vẫn luôn được khẳng định là: “kho báu trí tuệ của nhân dân” Như một thanh
nam châm chứa trong mình trí tuệ, nếp sống, tâm lí, tình cảm, kinh nghiệm củangười đi trước, ca dao luôn thu hút sự tìm tòi, khám phá, mang đến niềm say
mê cho bao thế hệ đến sau
1.2 Ở bài viết “Lời nói đầu” trong Kho tàng ca dao người Việt, nhóm
biên soạn đã khẳng định: “Ca dao của người Việt hết sức phong phú và có giá
trị, đã có nhiều cuốn sách phản ánh được khối lượng thơ ca dân gian này”.
Thực ra, việc sưu tầm, nghiên cứu ca dao, dân ca từ lâu đã nhận được sự quantâm của các học giả, các nhà nghiên cứu Tuy nhiên, giống như một kho báucòn rất nhiều điều quí giá chưa được khai phá, ca dao vẫn là mảnh đất màu mỡ
để những cây trí tuệ gieo mầm Bài học từ ca dao, câu chuyện của ca dao, tìnhyêu cuộc sống, con người trong ca dao…sẽ mang đến cho chúng ta bao điềuquí giá, thiết thực, bồi đắp trong ta tình yêu tiếng Việt, tình yêu quê hương đấtnước, niềm tự hào về những giá trị văn hóa tinh thần của dân tộc Đặc biệt là,trong hoàn cảnh ngày nay, sự bùng nổ của khoa học công nghệ khiến cuộc sốnghiện đại có nhiều thay đổi Nhiều người, nhất là giới trẻ mải mê với những tròchơi giải trí, mạng xã hội và đang dần dần quên lãng những giá trị tinh tế, sâusắc của các loại hình văn hóa dân gian, trong đó có ca dao, dân ca Là mộtngười thầy, nhiều năm gắn bó với sự nghiệp trồng người, chúng tôi thấy cần cótrách nhiệm giúp cho học trò của mình hiểu, yêu mến, có thái độ hợp lý, biếttrân trọng những giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc Nhất là hình thànhcho học sinh thói quen sử dụng tục ngữ, ca dao, dân ca trong cuộc sống hàngngày để lời nói được hay hơn, đẹp hơn, tinh tế và sâu sắc hơn
Trang 11Chúng tôi tin chắc rằng, rất nhiều người Việt Nam ngay từ khi cất tiếngkhóc chào đời đã được đắm mình trong thế giới bay bổng của những câuchuyện cổ tích, trong lời ca dao, dân ca trữ tình ngọt ngào, tha thiết từ lời ru ầu
ơ của bà, của mẹ và cả những câu nói bình dị, dân dã mà nặng nghĩa, sâu tìnhcủa những người sống xung quanh ta Đó là lý do khiến mỗi người Việt Nam ítnhiều đã mang trong mình một niềm yêu mến, tự hào với những câu tục ngữ, cadao, dân ca mượt mà, hàm súc Vậy làm thế nào để sự am hiểu của mọi người
về ca dao được sâu sắc hơn, tình yêu mến, tự hào với ca dao được lan tỏa hơn
là điều chúng tôi luôn trăn trở Trong quá trình tìm hiểu, chúng tôi thấy thíchthú và muốn tìm hiểu nhiều hơn về những câu ca dao là lời tỏ tình và lời hồiđáp của người Việt
Xuất phát từ những lí do trên, qua thực tế đã khảo sát, chúng tôi nhận thấyrằng chưa có đề tài, công trình nghiên cứu nào trùng với vấn đề mà chúng tôi
quan tâm Vì vậy chúng tôi quyết định lựa chọn đề tài: “Lời tỏ tình và lời hồi
đáp trong ca dao người Việt”.
2 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
2.2 Nhiệm vụ
Nhiệm vụ nghiên cứu của chúng tôi là:
- Xác lập một khung lý thuyết liên quan đến đề tài nghiên cứu
- Thống kê, phân loại lời tỏ tình và lời hồi đáp trong kho tàng ca daongười Việt
- Miêu tả, phân tích đặc điểm của lời tỏ tình và lời hồi đáp trong ca daongười Việt
Trang 123 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu, phạm vi khảo sát
3.1 Đối tượng
Đối tượng nghiên cứu là lời tỏ tình và lời hồi đáp trong ca dao người Việt
3.2 Phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng khảo sát: nghiên cứu lời tỏ tình và hồi đáp trong kho tàng ca
dao người Việt trong cuốn Kho tàng ca dao Người Việt, Nguyễn Xuân Kính
(Chủ biên) Nxb văn hóa
- Nội dung nghiên cứu: Phạm vi nghiên cứu của luận văn được giới hạn là:+ Cấu tạo hình thức của các bài ca dao tỏ tình có lời hồi đáp
+ Hành động ngôn ngữ trong các bài cao dao tỏ tình có lời hồi đáp
4 Phương pháp nghiên cứu
4.1 Phương pháp thống kê phân loại
Chúng tôi dựa vào phương pháp này để thu thập ngữ liệu trong từng vấn
đề cụ thể theo định hướng của luận văn Phương pháp này cũng được sử dụng
để tập hợp định lượng những hiện tượng ngôn ngữ ẩn chứa trong ca dao trữtình, từ đó có sự phân tích định tính và đưa ra những nhận xét, đánh giá haynhững kiến giải phù hợp
4.2 Phương pháp phân tích diễn ngôn
Phương pháp này lấy xuất phát điểm là lời tỏ tình và lời hồi đáp trong cadao người Việt gắn liền với hoàn cảnh giao tiếp cụ thể; do vậy cần phải dựavào hoàn cảnh cụ thể, vào chủ thể tham gia giao tiếp để xác định, miêu tả vàphân tích hình thức, nội dung, từ đó hiểu sâu sắc các ý nghĩa của lời tỏ tình vàlời hồi đáp trong ca dao của người Việt
4.3 Phương pháp miêu tả
Phương pháp miêu tả được sử dụng để miêu tả, phân tích diễn ngôn vớinguồn tư liệu đã lựa chọn, từ đó có những nhận xét, kết luận phù hợp Phươngpháp này tạo nên tính logic, chặt chẽ trong lập luận
5 Đóng góp của luận văn
5.1 Về lý luận
Đến với một vấn đề nghiên cứu còn nhiều mới mẻ mà năng lực và trình độcòn hạn chế nên những điều chúng tôi trình bày trong khóa luận chỉ là kết quả
Trang 13của một bước khởi đầu Chúng tôi mong muốn góp một phần nhỏ bé vào việcnghiên cứu tục ngữ ca dao dân ca Qua đó giúp người học hiểu và tiếp cận tụcngữ ca dao dân ca một cách trọn vẹn hơn Vì thế, có thể xem luận văn này làmột tư liệu tham khảo nhỏ bé về ca dao Việt Nam cho những ai quan tâm vàyêu thích đề tài này.
5.2 Về thực tiễn
Cùng với sự cuốn hút thú vị của vốn ca dao dân tộc, việc nghiên cứu đềtài này sẽ giúp khẳng định các đặc điểm về cấu trúc, chủ thể, bối cảnh, hìnhthức và nội dung của lời tỏ tình và lời hồi đáp trong ca dao trữ tình ngườiViệt Nó là cơ sở để hiểu thêm về cách mà người Việt bày tỏ tâm tư, tình cảmcủa mình qua ca dao; đồng thời qua đó cũng để hiểu thêm phong tục, tập quán
và con người của dân tộc Việt Nam
Khóa luận còn có ý nghĩa sư phạm, kết quả của đề tài sẽ góp thêm một cứliệu trong lĩnh vực nghiên cứu về ngôn ngữ và văn hoá, văn học dân gian vàvăn hoá dân gian; là nguồn tư liệu tham khảo cần thiết cho việc nghiê n cứu vàgiảng dạy ngữ dụng học, văn học dân gian trong nhà trường Từ đó, góp phầngiữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc
6 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, luận văn
gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận
Chương 2: Lời tỏ tình và lời hồi đáp - dạng đầy đủ
Chương 3: Lời tỏ tình và lời hồi đáp - dạng không đầy đủ
Trang 14Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÍ THUYẾT 1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu
1.1.1 Những nghiên cứu chung về tục ngữ, ca dao, dân ca Việt Nam
Từ xưa đến nay, vấn đề nghiên cứu tục ngữ, ca dao, dân ca Việt Nam ítnhiều đã thu hút được sự quan tâm của các nhà nghiên cứu và tiếp nhận Tuynhiên, phần lớn những công trình nghiên cứu về tục ngữ, ca dao, dân ca chỉdừng lại ở việc sưu tầm giới thiệu sơ lược Được đánh giá cao là công trình sưu
tầm nghiên cứu: Tục ngữ, ca dao, dân ca Việt Nam của Vu Ngọc Phan, Tục
ngữ Việt Nam của tập thể tác giả, Chu Xuân Diên, Lương Văn Đang, Phương
Trù, Kho tàng ca dao Người Việt, 3 tập của tập thể tác giả Nguyễn Xuân Kính,
Phan Đăng Nhật, Phan Đăng Tài, Nguyễn Thúy Loan, Đặng Diệu Trang
Chu Xuân Diên trong “Văn học dân gian Việt Nam” đã nghiên cứu một
cách khá toàn diện về cả nội dung và hình thức nghệ thuật của ca dao Theo tác
giả “Ca dao phản ánh quan điểm tự do yêu đương, tự do hôn nhân của nhân
dân lao động” Mã Giang Lân trong “Tục ngữ, ca dao Việt Nam” đã có những
nghiên cứu tổng quan về ca dao nhưng chưa có những diễn giải cụ thể Còn VuNgọc Phan cũng đã nghiên cứu về ca dao một cách hệ thống Tuy nhiên, cácnghiên cứu còn tập trung nhiều đến phương diện biểu hiện tình cảm của ngườibình dân ở các góc độ đấu tranh giai cấp
Bên cạnh đó, một số nhà nghiên cứu còn chú ý khai thác ca dao nóichung và ca dao trữ tình nói riêng trên nhiều phương diện như văn học dângian, thi pháp học, ngôn ngữ học, văn hóa học Có thể kể đến sự đóng góp củacác tác giả như:
+ Trần Thị An (1990) với “Về một phương diện nghệ thuật của ca dao
tình yêu”, Văn hóa dân gian.
+ Phan Huy Dũng (1991) với “Hình thức lấp lửng của lời tỏ tình trong
bài ca xin áo”, Văn hóa dân gian).
+ Hoàng Tiến Tựu (1998) với “Bình giảng ca dao”, Nhà xuất bản Giáo
dục
Trang 15+ Đỗ Thị Kim Liên (2003) với “Cách sử dụng từ xưng hô trong ca dao
tình yêu”, Ngôn ngữ.
+ Nguyễn Xuân Kính (2006) với “Thi pháp ca dao”, Nhà xuất bản khoa
học Hà Nội
+ Hoàng Kim Ngọc (2009) với “So sánh ẩn dụ trong ca dao trữ tình”,
nxb Đại học Quốc gia Hà Nội Tác giả đã tiếp cận ca dao trữ tình từ góc nhìncủa lý thuyết giao tiếp ngôn ngữ và phân tích diễn ngôn
+ Hà Thị Hồng Mai (2013) với luận án “Hành động hỏi trong ca dao”.
Tác giả đã tập trung làm rõ các đặc điểm của hành động hỏi trong ca dao trêncác phương diện: hình thức, nội dung, văn hóa ứng xử, trong đó nổi bật là phéplịch sự
+ Nguyễn Bích Hảo (2014) với “ Lời khen trong ca dao Việt Nam
dưới góc nhìn ngôn ngữ văn hóa”.
1.1.2 Những nghiên cứu về lời tỏ tình và lời hồi đáp trong ca dao người Việt
Đến nay, trong số các tài liệu mà chúng tôi tham khảo và sưu tầm được,chưa phát hiện đề tài nào trùng tên với đề tài của luận văn này Có thể trên thực
tế, tùy theo khuôn khổ của từng bài viết, và tùy theo mục đích yêu cầu nghiêncứu cụ thể mà một vài khía cạnh của vấn đề đã được đề cập đến, nhưng chưa có
nghiên cứu nào về “Lời tỏ tình và lời hồi đáp trong ca dao người Việt” Trên
cơ sở tiếp nhận và kế thừa những thành quả nghiên cứu của các tác giả đi trước,với mong muốn góp phần làm rõ thêm mảng đề tài nghiên cứu một số hànhđộng ngôn ngữ được thể hiện trong một thể loại của văn học dân gian là ca dao,
chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “Lời tỏ tình và lời hồi đáp trong ca dao
người Việt”.
Qua đề tài nghiên cứu của mình, chúng tôi mong muốn mang đến mộtcách nhìn, cách cảm mới về lời tỏ tình và lời hồi đáp trong ca dao của ngườiViệt; góp một phần công sức nhỏ bé vào gìn giữ và phát huy những giá trị caođẹp của ca dao, dân ca Chúng tôi cho rằng đó cũng là cách thiết thực để bảotồn, phát huy những nét đẹp văn hóa truyền thống của dân tộc
Trang 161.2 Cơ sở lí thuyết
1.2.1 Lí thuyết hội thoại
1.2.1.1 Khái niệm hội thoại
Hội thoại là một vấn đề đã được nghiên cứu từ lâu trên thế giới và hiệnnay ngôn ngữ học của hầu hết các quốc gia đều bàn đến hội thoại Ở nước ta, kếthừa những thành quả của ngôn ngữ học thế giới, hội thoại đã trở thành mảngnghiên cứu hấp dẫn của ngôn ngữ học ứng dụng Xoay quanh khái niệm “hộithoại”, chúng ta phải kể đến một số khái niệm sau:
Theo Hồ Lê thì “Hội thoại là hành vi thể hiện ngôn giao hai chiều, cụ
thể và xác định, làm chuyển hóa vị thế của người thụ ngôn thành vị thế của người phát ngôn và ngược lại, đồng thời tạo ra sự liên kết hành vi phát ngôn với hành thụ ngôn tạo thành một thể thống nhất” (dẫn theo [29, tr.13]).
Còn Nguyễn Thiện Giáp thì khẳng định: “Giao tiếp hội thoại là hành
chức cơ bản của ngôn ngữ Giao tiếp hội thoại luôn luôn có sự hài hòa giữa người nói và người nghe, chẳng những người nói và người nghe tác động lẫn nhau mà lời nói của từng người cũng tác động lẫn nhau” [19, tr.63].
Nhìn chung, khái niệm “hội thoại” được các nhà nghiên cứu nhắc đếnđều bao gồm yếu tố chỉ nhân vật tham gia hội thoại và quy tắc luân phiên lượtlời giữa các vai giao tiếp thúc đẩy hội thoại phát triển
Riêng Đỗ Hữu Châu lại đưa ra khái niệm “hội thoại” một cách bao quát
rộng hơn, có thể áp dụng cho nhiều loại hình ngôn ngữ: “Hội thoại là hình thức
giao tiếp thường xuyên, phổ biến của ngôn ngữ, nó cũng là hình thức cơ sở của mọi hoạt động ngôn ngữ khác Hội thoại là khái niệm dành cho mọi hình thức hội thoại khác nhau” [8, tr.201].
Cũng theo Đỗ Hữu Châu thì hội thoại có một số đặc điểm sau:
- Thoại trường khác nhau sẽ có cuộc hội thoại khác nhau Tức là với mộtkhông gian - thời gian cụ thể sẽ tương ứng với hình thức hội thoại phù hợp với nó
Trang 17- Số lượng tham gia hội thoại cũng khiến hội thoại mang những tính chấtvới những tên gọi khác nhau Chẳng hạn, với hai người tham gia, chúng ta đặttên
Trang 18hình thức hội thoại là song thoại, ba người tham gia - tương ứng với nó là hình thức tam thoại, nhiều người tham gia hội thoại hơn nữa thì có hình thức đa
thoại.
- Cương vị và tư cách của những người tham gia hội thoại cũng sẽ ảnhhưởng lớn đến cuộc thoại Theo đó, vị thế giao tiếp sẽ trở thành nhân tố nhằmduy trì, thúc đẩy hoặc kết thúc cuộc thoại
- Các cuộc hội thoại đều có những “đích” cụ thể của mình Để bắt đầucuộc thoại, các đối tác đối thoại đã phải xác định mục tiêu giao tiếp mà mìnhcần đạt được từ đó xây dựng chiến lược phù hợp Tuy nhiên, đối với nhữngcuộc tán gẫu thì “đích” này thường không cụ thể và mang tính tự phát
- Các cuộc hội thoại khác nhau về tính có hình thức hay không có hìnhthức Căn cứ vào từng cuộc thoại mà hình thức thể hiện, quy trình tổ chức, dẫndắt, cũng khác nhau có khi không cần hình thức tổ chức hỗ trợ nào cả
- Với những hình thức hội thoại khác nhau thì ngữ vực để thể hiện nócũng khác nhau [8, tr.201]
1.2.1.2 Cấu trúc hội thoại
Theo Đỗ Hữu Châu [8,tr.90] cho đến thời điểm hiện tại, trên thế giới có batrường phái với những quan điểm khác nhau về cấu trúc hội thoại Thứ nhất làtrường phái phân tích hội thoại ở Mĩ (Conversation analysis) - Trường phái nàycho rằng hội thoại có hai tổ chức cơ bản là lượt lời và cặp thoại Thứ hai làtrường phái phân tích diễn ngôn (discourse analysis) - Trường phái này dựatrên mô hình cấu trúc bậc (rank) chia hội thoại thành năm bậc Trong cấu trúctầng bậc này, hành động (act) là đơn vị nhỏ nhất của cuộc thoại tức cuộc tươngtác Các hành động tạo nên bước thoại, các bước thoại tạo nên cặp thoại và đơn
vị lớn nhất, bao trùm là cuộc thoại Trong đó, ba đơn vị cuộc thoại, đoạn thoại,cặp thoại có tính chất lưỡng thoại (dialogal) có nghĩa là hình thành do vận độngtrao đáp của các nhân vật hội thoại Hai đơn vị có tính chất đơn thoại, có nghĩa
là do một người nói ra là tham thoại và hành động ngôn ngữ Thứ ba là trườngphái lý thuyết hội thoại ở Thụy Sĩ và Pháp - Trường phái này đã phân định các
Trang 19đơn vị cấu trúc hội thoại thành các đơn vị cơ bản: cuộc thoại, đoạn thoại, cặptrao đáp, hành động ngôn ngữ và tham thoại Do điều kiện và mục đích của đềtài, chúng tôi không thể đi sâu tìm hiểu các đơn vị cấu trúc của các trường pháikhác mà chỉ xin trình bày một số đơn vị hội thoại theo trường phái lý thuyết hộithoại nhằm làm cơ sở lý thuyết cho đề tài.
a Cuộc thoại
Cuộc thoại hay còn gọi là cuộc tương tác (interaction) là đơn vị hội thoạibao trùm, lớn nhất tính từ khi các nhân vật tham gia cuộc thoại gặp nhau, khởiđầu nói cho đến lúc chấm dứt [8, tr.312] Một cuộc thoại được xác định bởi cácnhân tố sau:
- Nhân vật hội thoại: Một cuộc hội thoại được xác lập bởi sự đương diệnliên tục của hai hay nhiều người tham gia
- Tính thống nhất về thời gian và vị trí diễn ra hội thoại: Thời gian có thểban ngày, ban đêm, chiều tối, hôm qua Không gian có thể là một khu vườn,bên bờ ruộng, trên đường đi, trên thuyền, Tiêu chí này chỉ có tính chất tươngđối bởi vì trong quá trình hội thoại thời gian và không gian có thể thay đổi
- Tính thống nhất về đề tài diễn ngôn: “Đề tài là cái phạm vi hiện thực mà
người nói đề cập đến” [24, tr.189] “Chủ đề là cái chủ đích mà người nói, người nghe cùng đề cập đến trong toàn bộ cuộc thoại” Một cuộc thoại có độ
dài ngắn khác nhau song đòi hỏi phải có sự thống nhất về đề tài - tức các nhânvật tham gia cuộc thoại phải cùng hướng đến một vấn đề, một cái đích chung.Theo Grice một cuộc thoại phải theo một hướng nhất định từ đầu cho đến khikết thúc (dẫn theo [8, tr.312]) Tuy nhiên, trên thực tế lại tồn tại rất nhiều cuộcthoại mà đề tài liên tục được thay đổi Do tính chất không chặt chẽ của các tiêuchí trên, C.K Orecchioni đã đưa ra một định nghĩa mềm dẻo hơn về cuộc thoại:
“Để có một và chỉ một cuộc thoại, điều kiện cần và đủ là có một nhóm nhân vật
có thể thay đổi nhưng không đứt quãng trong một khung thời gian - không gian
có thể thay đổi nhưng không đứt quãng nói về một vấn đề có thể thay đổi nhưng không đứt quãng” (dẫn theo [8, tr.313]).
Trang 20Như vậy, để nhận diện một cuộc thoại điều kiện cần và đủ là có một nhómnhân vật, nhóm nhân vật này cùng nói về một vấn đề - đề tài trong một phạm vithời gian, không gian nhất định.
b Đoạn thoại
Đoạn thoại là một mảng diễn ngôn do một cặp trao đáp liên kết chặt chẽvới nhau về ngữ nghĩa hoặc về ngữ dụng Về ngữ nghĩa đó là sự liên kết chủđề: một chủ đề duy nhất và về ngữ dụng đó là tính duy nhất về đích [8, tr.313].Cấu trúc tổng quát trong một cặp thoại là:
- Đoạn thoại mở thoại: Mang tính chất “đưa đẩy”, có chức năng mở racuộc thoại và nêu đề tài diễn ngôn
- Đoạn thân thoại: Là đoạn thoại phản ánh nội dung chính của cuộc thoại
- Đoạn kết thoại: Là đoạn thoại có chức năng tổng kết, kết luận về chủ đềhội thoại Để kết thúc chúng ta có thể đưa ra những lời hứa hẹn, cảm ơn, chúcmừng, xin lỗi, từ biệt
c Cặp thoại
Cặp thoại là đơn vị lưỡng thoại nhỏ nhất của cuộc thoại do các tham thoại
tạo nên “Tham thoại là đơn vị đơn thoại do một cá nhân nói ra cùng với tham
thoại khác lập thành một cặp thoại” [8, tr.315] Về nguyên tắc, một cặp thoại ít
nhất phải do hai tham thoại tạo nên Tham thoại thứ nhất ở lượt lời người trao
là tham thoại dẫn nhập Tham thoại thứ hai ở lượt lời người đáp là tham thoạihồi đáp
Trong giao tiếp, như đã biết, mỗi cặp thoại bình thường gồm ít nhất haitham thoại Tuy nhiên, trong giao tiếp vẫn có những cặp thoại chỉ có mộttham thoại còn phổ biến là trường hợp cặp thoại có từ hai tham thoại trở lên.Gọi là cặp thoại một tham thoại là căn cứ vào hình thức biểu hiện của nó trên
bề mặt diễn ngôn, còn thực tế quan hệ trao đáp trong cặp thoại luôn giả định
sự thực tồn của tham thoại thứ hai Quả thực những cặp thoại một tham thoại
là cặp thoại đơn giản nhưng lại không bình thường về cấu tạo Nó tạo ra cấu
Trang 21trúc hẫng của cặp thoại (theo cách gọi của Đỗ Hữu Châu) (gọi là cặp thoạihẫng) nhưng là một hiện tượng khá phổ biến Hơn nữa, trong nhiều tìnhhuống hội thoại, việc có những “tham thoại” không có lời lại mới là bìnhthường của sự trao đáp.Thông thường một cặp thoại ít khi kéo dài đến 5, 6tham thoại Tuy nhiên, sự có mặt các tham thoại tiêu cực làm cho cấu trúc vàchức năng của các cặp thoại trở nên phức tạp, khó miêu tả [8, tr.328].
d Tham thoại
Theo tác giả Nguyễn Đức Dân, đơn vị cơ bản của hội thoại là lượt lời vàtrong một cặp thoại, lượt lời thứ nhất có chức năng định hướng cho lượt lời thứhai Vì thế, ông đã gộp hai khái niệm tham thoại và lượt lời làm một Đỗ HữuChâu lại phân biệt rạch ròi hai khái niệm tham thoại và lượt lời Tác giả chorằng, lượt lời khác tham thoại: “Chuỗi đơn vị ngôn ngữ được một nhân vật nói
ra, kể từ lúc bắt đầu đến lúc chấm dứt để cho nhân vật hội thoại kia nói chuỗicủa mình là một lượt lời” [8, tr.205] và một lượt lời có thể có nhiều tham thoại,
mà cũng có thể nhỏ hơn tham thoại (một tham thoại gồm nhiều lượt lời)
Trong các tham thoại, lời dẫn nhập và lời hồi đáp có những chức năngkhác nhau:
Chức năng ở lời dẫn nhập, là chức năng ở lời quy định quyền lực vàtrách nhiệm đối với nhân vật hội thoại Chức năng ở lời dẫn nhập thường thuộccác tham thoại chủ hướng
Chức năng ở lời hồi đáp là chức năng ở lời của các tham thoại hồi đáp lạichức năng ở lời dẫn nhập Chức năng này thuộc các tham thoại hồi đáp nóichung (đáp không chỉ có nghĩa là trả lời) và chỉ rõ mức độ thỏa mãn các tráchnhiệm mà tham thoại ở lời dẫn nhập đặt ra Theo tiêu chí này, các chức năng ởlời hồi đáp có thể chia thành ba nhóm: chức năng hồi đáp tích cực (khẳngđịnh), chức năng hồi đáp tiêu cực (phủ định) và chức năng hồi đáp trung gian(không thể hiện rõ phủ định hay khẳng định) Các chức năng hồi đáp tiêu cựclại có chức năng hồi đáp tiêu cực đối với phát ngôn (tức đối với nội dung củaphát ngôn) và hồi đáp tiêu cực đối với chính sự phát ngôn
Trang 22Một tham thoại hồi đáp không chỉ đáp lại nội dung của tham thoại ở lờidẫn nhập, nó không chỉ thực hiện vế thứ hai của hiệu lực ở lời tức thực hiệntrách nhiệm đối với tham thoại dẫn nhập Tự nó khi thực hiện trách nhiệm thìcũng đồng thời đưa ra một quyền lực: quyền lực buộc người đối thoại (ngườiđưa ra tham thoại dẫn nhập) phải tin vào, phải đáp lại điều mà tham thoại hồiđáp đưa ra (do trách nhiệm phải hồi đáp) Chính vì vậy khi một tham thoại hồiđáp cho tham thoại dẫn nhập thứ nhất thì nó tự khắc trở thành một tham thoạiđòi hỏi sự hồi đáp của người đối thoại Như vậy trong một cặp thoại có cáctham thoại sau:
- Tham thoại có chức năng dẫn nhập (tham thoại chủ hướng)
- Tham thoại hồi đáp - dẫn nhập trong lòng cặp thoại
- Tham thoại hồi đáp
b Sự trao đáp
Sau khi tiếp nhận phát ngôn của Sp1, Sp2 đưa ra phát ngôn để thể hiệnquan điểm, ý kiến, tình cảm của mình để đáp lại lời trao từ Sp1, và cuộc thoạichính thức được bắt đầu Đây gọi là vận động trao đáp
c Sự tương tác hội thoại
Trong quá trình hội thoại, các đối ngôn sẽ có ảnh hưởng lẫn nhau, tácđộng tác động đến cách ứng xử của nhau Đây được xem là vận động tương tácxảy ra trong hội thoại Trước khi hội thoại giữa các đối ngôn tồn tại mộtkhoảng cách nhất định về sự hiểu biết lẫn nhau, về tâm lí, tình cảm… Sau khihội thoại, nếu những khoảng cách ấy được thu hẹp lại, rút ngắn lại, khi ấy có
Trang 23thể nói đã có một cuộc hội thoại tích cực Ngược lại, khoảng cách ấy vẫn giữnguyên hoặc mở rộng ra, khi ấy cuộc thoại có thể bị xem là tiêu cực Tương tác
là một kiểu quan hệ xã hội giữa người với người Có một hoạt động xã hội thìtất nhiên sẽ có sự tương tác Tương tác bằng lời là một kiểu tương tác, mà hìnhthức giao tiếp bằng ngôn ngữ
1.2.1.4 Các quy tắc hội thoại
Để một cuộc hội thoại có thể diễn tiến bình thường, các đối ngôn trongcuộc thoại phải tuân thủ những quy tắc nhất định khi tham gia hội thoại Quanghiên cứu thực tế, chuyên gia ngữ dụng học C K Orecchioni người Pháp đã
đề ra một số quy tắc cụ thể như sau: quy tắc điều hành luân phiên lượt lời, quytắc quan hệ cá nhân trong hội thoại Khi tham gia hội thoại, các đối ngôn phải
có ý thức rõ ràng về các vai trò nói và nghe của nhau A đóng vai trò nói thì B
sẽ đóng vai trò nghe, và sau khi nhận ra dấu hiệu thể hiện hết vai của A, B sẽtiếp nhận vai trò của A để tiến trình hội thoại không bị gián đoạn Các lượt lờinói có thể được một người điều chỉnh hoặc do các đối ngôn tự thương lượngngầm với nhau Đó chính là quy tắc được gọi là quy tắc điều hành luân phiênlượt lời
Trong hội thoại, còn có quy tắc điều hành nội dung của hội thoại, chủ yếuquy định về quan hệ nội dung giữa các phát ngôn được đưa ra trong quá trìnhhội thoại Theo quy tắc này, một cuộc hội thoại không phải là sự lắp ghép ngẫunhiên, tùy tiện các phát ngôn, các hành vi ngôn ngữ Nguyên tắc liên kết khôngchỉ chi phối các diễn ngôn đơn thoại mà chi phối cả những lời tạo thành mộtcuộc thoại Tính liên kết hội thoại thể hiện bên trong một phát ngôn, giữa cácphát ngôn, giữa các hành động ở lời, giữa các đơn vị hội thoại…
Trước đó, Grice cũng đã từng xuất phát từ quy luật trong hội thoại mà đề
ra nguyên tắc cộng tác hội thoại và các phương châm hội thoại Nội dung chủyếu của nguyên tắc cộng tác hội thoại được P Grice đề xuất là: Hãy làm chophần đóng góp của anh đúng như nó được đòi hỏi ở giai đoạn mà nó xuất hiệnphù hợp với mục đích hay phương hướng của cuộc hội thoại mà anh đã chấpnhạn tham gia vào (Grice 1967)
Trang 24Trong hội thoại, ngoài quan hệ trao đổi thông tin (miêu tả, trần thuật những thông tin được đánh giá theo tiêu chí đúng sai lôgic) còn có quan hệđược gọi là liên cá nhân (quan hệ giữa các vai trong gia tiếp) Liên quan trựctiếp đến quan hệ liên cá nhân là vấn đề lịch sự trong giao tiếp.
-1.2.2 Lí thuyết hành động ngôn ngữ
1.2.2.1 Khái quát hành động ngôn ngữ
Giữa những năm 1950, J.L.Austin - nhà triết học người Anh đã trình bày
12 chuyên đề liên quan đến hành động ngôn ngữ (HĐNN) (cũng gọi là hành vingôn ngữ) Ông đã tiến hành phân biệt phát ngôn khảo nghiệm với phát ngôn
ngữ vi và phát hiện ra được bản chất hành động của ngôn ngữ “Khi chúng ta
nói năng là chúng ta hành động, chúng ta thực hiện một loại hành động đặc biệt mà phương tiện là ngôn ngữ Một HĐNN được thực hiện khi một người nói (hoặc viết) Sp1 nói ra một phát ngôn U cho người nghe (hoặc người đọc) Sp2 trong một ngữ cảnh C” (dẫn theo [7, tr.446]).
1.2.2.2 Các hành động ngôn ngữ
J.L.Austin cho rằng có ba loại HĐNN lớn là: hành động tạo lời(locutionary act), hành động mượn lời (perlocutionary act), hành động ở lời (I-llocutionary act)
a Hành động tạo lời (HĐTL)
"Là hành động sử dụng các yếu tố của ngôn ngữ như ngữ âm, vốn từ, quy tắc kết hợp để tạo thành những phát ngôn (đúng về hình thức và cấu trúc) hay những văn bản có thể hiểu được" (dẫn theo [25, tr.70]).
b Hành động mượn lời (HĐML)
"Là những hành động mượn những phương tiện ngôn ngữ, hay nói một cách khác, là mượn các phát ngôn để gây ra một tác động hay hiệu quả ngoài ngôn ngữ đối với người nghe Hiệu quả này không đồng nhất ở những người khác nhau" (dẫn theo [25, tr.71]).
Ví dụ: Khi nghe thông báo: “Kí túc xá sẽ cắt điện hôm nay để sửa đường
điện”, phát ngôn này sẽ gây ra những phản ứng khác nhau như: một số người sẽ
tỏ ra lo lắng thiếu ánh sáng sẽ không học được, một số người lười học thì sẽ tỏ
Trang 25ra vui vì đó là lí do chính đáng để họ đi chơi, một số người sẽ lo lắng vì việcmất điện sẽ đi đôi với việc mất nước và như vậy sẽ không có nước sinh hoạt.
Đó chính là hiệu quả mượn lời ở phát ngôn trong ví dụ trên
Như vậy có thể nói HĐML là hành động nhằm gây ra những biến đổitrong nhận thức, trong tâm lí, trong hành động vật lí có thể quan sát được, gây
ra một tác động nào đó đối với ngữ cảnh Hiệu quả mượn lời là những hiệu quảngoài ngôn ngữ (ngoài diễn ngôn), phân tán, không có tính qui ước và khó tìm
ra cơ chế
c Hành động ở lời (HĐOL)
"Là những hành động người nói thực hiện ngay khi nói năng Hiệu quả của chúng gây những sự tác động trực tiếp thuộc về ngôn ngữ, gây phản ứng với người nghe Sở dĩ ta gọi là hành động ở lời là vì khi nói thì ta đồng thời thực hiện luôn một hành động ở trong lời (còn gọi là hành động ở lời, hành động trong lời)” (dẫn theo [25, tr.72]).
1.2.2.3 Điều kiện sử dụng các hành động ở lời
Theo tác giả Đỗ Hữu Châu để một hành động nói chung, một HĐNNnói riêng đạt được hiệu quả đúng với đích của nó thì phải thoả mãn các điều
kiện sử dụng “Điều kiện sử dụng các hành vi ở lời là những điều kiện mà một
hành vi ở lời phải đáp ứng để nó có thể diễn ra thích hợp với ngữ cảnh của sự phát ngôn ra nó” [7, tr.111].
Tác giả Đỗ Thị Kim Liên lại chỉ ra rằng: “Điều kiện sử dụng HĐOL
(hành vi ở lời) là những nhân tố cần thiết cho phép thực hiện một HĐOL nhất định trong một ngữ cảnh giao tiếp cụ thể” [25, tr.82].
Điều kiện sử dụng các HĐOL theo J.L.Austin là các điều kiện “may mắn”(felicic conditions) vì nếu chúng được bảo đảm thì hành động mới thành công
- Phải có thủ tục có tính quy ước và thủ tục này cũng phải có hiệu quả cótính quy ước; Hoàn cảnh và con người phải thích hợp với những điều kiện quyđịnh trong thủ tục
Trang 26- Thủ tục phải được thực hiện một cách đúng đắn và đầy đủ.
- Thông thường thì những người thực hiện hành động ở lời phải có ý nghĩtình cảm, ý định giống như đã được đề ra trong thủ tục, và khi hành động diễn rathì ý nghĩ tình cảm, ý định đúng như nó đã có (dẫn theo [7, tr.112])
J.R.Searle gọi HĐOL là điều kiện thoả mãn, bao gồm bốn loại sau:
- Điều kiện nội dung mệnh đề: chỉ ra bản chất nội dung của hành động
- Điều kiện chuẩn bị: bao gồm những hiểu biết của người phát ngôn vềnăng lực, lợi ích, ý định của người nghe và về các quan hệ giữa người nói vàngười nghe
- Điều kiện chân thành: chỉ ra các trạng thái tâm lí tương ứng của ngườiphát ngôn về năng lực, lợi ích, ý định của người nghe và về các quan hệ giữangười nói và người nghe, như xác tín đòi hỏi niềm tin, mệnh lệnh đòi hỏi mongmuốn, hứa hẹn đòi hỏi ý định người nói
- Điều kiện căn bản: là điều kiện đưa ra kiểu trách nhiệm mà người nói,người nghe bị ràng buộc khi HĐOL đó được phát ra
Sở dĩ chúng tôi quan tâm nhiều hơn tới HĐOL và điều kiện sử dụngHĐOL bởi chính các điều kiện sử dụng đó sẽ giúp cho việc nhận diện và phânbiệt các hành động ở lời trực tiếp (HĐOLTT) và hành động ở lời gián tiếp(HĐOLGT)
1.2.2.4 Hành động ở lời trực tiếp - gián tiếp
Ví dụ:
Sp1: Cô sinh được mấy cháu?
Sp2: Em có tất cả ba cháu bác ạ!
Trang 27Trong phát ngôn trên, Sp1 đã thực hiện HĐOLH, được đánh dấu bằng
phương tiện hình thức là dùng đại từ nghi vấn mấy để hỏi về số lượng (số ít,
đếm
Trang 28được, dưới 10) Xét về các điều kiện sử dụng HĐOL cho thấy phát ngôn không
vi phạm điều kiện nào Với đích ở lời là hỏi, phát ngôn đã mang tới hiệu lực củaHĐOLH bằng sự phản ứng của Sp2 trả lời và cung cấp cho Sp1 thông tin về sốlượng mà Sp1 muốn biết Như vậy, phát ngôn chúng tôi vừa phân tích trênđây đã thực hiện HĐOLH trực tiếp
Ví dụ: Gặp đây anh nắm cổ tay,
Anh hỏi câu này có lấy anh không?
Trong bài ca dao trên, Sp1 đã thực hiện HĐOLH bằng phương tiện đánh
dấu về hình thức là cặp phụ từ nghi vấn có hay không để hỏi về việc có đồng
ý lấy anh không Tuy nhiên, khi xét các điều kiện sử dụng HĐOL cho thấy phátngôn không thỏa mãn đầy đủ 4 điều kiện Sp1 không biết rõ câu trả lời, nhưngSp1 thực hiện hành động hỏi không hoàn toàn nhằm mục đích để Sp2 cung cấpcho mình thông tin chưa rõ, Sp1 cũng không cố gắng nhận thông tin đồng ý haykhông đồng ý từ Sp2 Sp1 thực hiện HĐOLH nhưng là để làm quen, để bôngđùa Như vậy, phát ngôn đã vi phạm điều kiện 3 và 4 trong các điều kiện sửdụng HĐOL mà Searle đưa ra Từ đó có thể thấy phát ngôn trên thực hiệnHĐOLH nhưng nhằm mục đích thực hiện hành động gián tiếp là làm quen, làbông đùa
b Hành động ở lời gián tiếp
Có một nguyên lí đặc biệt của ngôn ngữ đó là: trong nói năng, chúng tatruyền báo nhiều hơn là điều chúng ta nói ra Trong thực tế giao tiếp, một phátngôn thường không phải chỉ có một đích ở lời, mà đại bộ phận phát ngôn đượcxem như là thực hiện đồng thời một số hành động ở lời
Hiện tượng người giao tiếp sử dụng trên bề mặt HĐOL này nhưng lạinhằm hiệu quả của một HĐOL khác được gọi là hiện tượng sử dụng hành độngngôn ngữ theo lối gián tiếp
Tác giả Đỗ Hữu Châu cũng cho rằng: “Một hành vi được sử dụng gián
tiếp là một hành vi trong đó người nói thực hiện một hành vi ở lời này nhưng lại nhằm làm cho người nghe dựa vào những hiểu biết ngôn ngữ và ngoài ngôn
Trang 29ngữ chung cho cả hai người, suy ra hiệu lực ở lời của một hành vi khác” (dẫn
theo [7, tr.492])
Chẳng hạn một câu hỏi: “Mấy giờ rồi mà con vẫn chưa đứng lên nấu
cơm?” bề ngoài là câu hỏi nhưng thực chất lại là hành động nhắc nhở của
người mẹ đối với con về sự việc con nấu cơm muộn
HĐOLGT lệ thuộc rất nhiều vào ngữ cảnh, vào quan hệ ngữ nghĩa giữacác thành phần của nội dung mệnh đề trong biểu thức ngữ vi trực tiếp với ngữcảnh, vào ý nghĩa trực tiếp của biểu thức ngữ vi trực tiếp Ngoài ra, trong thực
tế, nó còn bị quy định bởi lý thuyết lập luận, các phương châm hội thoại, phéplịch sự, các quy tắc liên kết hội thoại, lẽ thường, Vì vậy, để nhận biếtHĐOLGT, nhất thiết phải vận dụng đến những yếu tố trên
Ngữ nghĩa của các thành phần tạo nên nội dung mệnh đề trực tiếp cànggắn với các nhân tố của ngữ cảnh bao nhiêu, đặc biệt là gắn với phông hiểu biếtchung của người nói và người nghe thì càng có khả năng thực hiện cácHĐOLGT bấy nhiêu
HĐOL có thể được dùng theo hai cách: trực tiếp và gián tiếp như trên Ởcách dùng trực tiếp, HĐOL được sử dụng với mong muốn có được thông tin
mà người nói thực sự chưa biết bằng cấu trúc của câu hỏi đích thực Ở cáchdùng gián tiếp, hành động hỏi có thể được dùng để hướng đến hiệu lực ở lờicủa những hành động khác
Sử dụng HĐNN theo lối gián tiếp là biện pháp rất có hiệu lực để truyềnbáo các ý nghĩa hàm ẩn, đặc biệt là các ý nghĩa hàm ẩn không tự nhiên dụnghọc Trên thực tế sử dụng, vì nhiều lí do, người nói có thể sử dụng HĐNN nàynhưng lại nhằm đạt đến hiệu lực ở lời của một HĐNN khác Có rất nhiều kiểuHĐNN được dùng theo lối gián tiếp tùy theo hoàn cảnh giao tiếp mà đến naychưa thể tổng kết thành quy tắc sử dụng
Trong quá trình tiến hành khảo sát, ngữ liệu cho đề tài, chúng tôi vậndụng lý thuyết về HĐNN nói chung để tìm hiểu về những nét đặc trưng nhấtcủa lời tỏ tình và lời hồi đáp trong ca dao người Việt
Trang 301.2.3 Giới thiệu khái quát về lời tỏ tình và lời hồi đáp trong ca dao của người Việt
1.2.3.1 Khái niệm ca dao
Ở các mục trên, các vấn đề lí thuyết ngôn ngữ học có liên quan đến đề tài
đã được đề cập đến và xem như cơ sở lí luận Nghiên cứu Lời tỏ tình và lời hồi
đáp trong ca dao người Việt, việc xác định nội hàm của khái niệm ca dao cũng
cần được làm rõ
a Khái niệm về ca dao
Ca dao là một thuật ngữ Hán - Việt Ca dao dùng để chỉ những bài hát cónhạc đệm thì gọi là ca còn hát trơn thì gọi là dao Tương ứng với cách gọi đóthì những bài hát nghi lễ là ca, những bài hát giao duyên là dao Theo các nhànghiên cứu thì thuật ngữ ca dao lúc đầu không có trong hệ thống các tên gọi chỉcác thể loại văn nghệ dân gian người Việt Chỉ có tên gọi cho các câu hát, câu
ví, câu hò, cho các làn điệu ca hát dân gian “Ở nước ta, thuật ngữ ca dao vốn làmột từ Hán - Việt được dùng rất muộn, có thể muộn hơn hàng ngàn năm so vớithời gian đã có những câu ví, câu hát”
Tên gọi ca dao xuất hiện trong các công trình biên soạn của các nhà nhonước ta cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX như “Nam phong giải trào” của tác giảTrần Danh Án và Ngô Hạo Phu, “Thanh Hóa quan phong” (1903) của VươngDuy Trinh Đặc biệt tên gọi ca dao được dùng một cách khá rõ ràng trong
“Nam giao cổ kim lý hạng ca dao chú giải” và “lý hạng ca dao” (chưa rõ tác giả
và thời gian biên soạn)
Các tác giả Chu Xuân Diên và Đinh Gia Khánh đã lí giải: “Ca dao lànhững bài hát thường ngắn, hoặc hai, bốn, sáu hay tám câu, âm điệu lưu loát vàphong phú” và các tác giả này cũng cho rằng: “theo cách hiểu thông thường thì
ca dao là lời các bài dân ca đã tước đi những tiếng đệm, tiếng láy (…) hoặcngược lại là những câu thơ có thể “bẻ” thành làn điệu dân ca"
Trong Từ điển tiếng Việt do tác giả Hoàng Phê chủ biên thì mục từ “ca
dao” được ghi là:
(1) Thơ ca dân gian truyền miệng dưới hình thức những câu hát, khôngtheo những điệu nhất định
Trang 31(2) Thể loại văn vần, thường làm theo thể lục bát, có hình thức giống như
ca dao cổ truyền
Ở đề tài này, chúng tôi dùng thuật ngữ ca dao để chỉ những sáng tác
được lưu truyền trong dân gian bằng những lời ca có vần điệu và mang phong cách bình dân.
b Ca dao trữ tình
Ca dao trữ tình chỉ bộ phận lời ca mang tính chất trữ tình để phân biệtvới lời ca mang tính chất tự sự Khái niệm trữ tình được hiểu là có nội dungphản ánh hiện thực bằng cách biểu hiện những ý nghĩ, cảm xúc, tâm trạng riêngcủa con người Theo các nhà nghiên cứu văn học dân gian thì ngôn bản ca daotrữ tình phần lớn là sản phẩm của hát giao duyên, một hình thái đặc biệt củagiao tiếp ngôn ngữ
Thơ là cảm xúc trữ tình của cá nhân nhà thơ, còn ca dao là cảm xúc trữtình ban đầu của một cá nhân hoặc một nhóm cá nhân nhưng mang tâm trạngcủa cộng đồng giới tính nam hoặc nữ, cộng đồng dân cư, cộng đồng giai cấp rồihòa vào quá trình sáng tác của tập thể nhân dân Với cách lý giải về ca dao trữtình thì những bài ca dao phản ánh lịch sử và đồng dao chủ yếu mang tính thời
sự nên không thuộc phạm vi ca dao trữ tình Theo Hà Thị Hồng Mai thì trongmảng ca dao trữ tình, các bài ca dao về tình cảm vợ chồng và tình yêu đôi lứa
có nội dung và số lượng phong phú nhất (2011) Xuất phát từ giới hạn của đềtài, trong luận văn này, chúng tôi chỉ tập trung vào khảo sát, phân tích, tìm hiểunhững bài ca dao trữ tình của người Việt là lời tỏ tình và lời hồi đáp
1.2.3.2 Khái niệm ca dao tỏ tình
Từ điển Tiếng Việt (Hoàng phê chủ biên) nêu khái niệm “tỏ tình” là “bộc
lộ, giãi bày cho người khác biết rõ” (về tình yêu của mình) Ca dao tỏ tình (lời
tỏ tình trong ca dao) là những bài ca dao có nội dung nhằm bày tỏ, bộc lộ tìnhyêu của chủ thể trữ tình đến đối tượng Nhiều bài diễn tả tâm trạng khi yêu củanhân vật trữ tình ở mọi hoàn cảnh, trang lứa, vùng miền, không phân biệt độtuổi già trẻ hay giai cấp, giàu nghèo Nhưng được nhắc đến nhiều nhất có lẽ làlời tỏ tình của các chàng trai, cô gái, những cặp đôi có tình cảm mặn nồng thắm
Trang 32thiết Lời tỏ tình có thể phản ánh hình ảnh thiên nhiên, môi trường lao động vàkhung cảnh ca hát cũng như phản ánh xã hội, đời sống vật chất và văn hóa củangười bình dân Lời tỏ tình còn thể hiện quan niệm tình yêu của người họ Tùytheo từng thời đại, hoàn cảnh, đặc điểm văn hóa của chủ thể mà cách thức tỏtình cũng khác nhau Lời tỏ tình trong ca dao thường thể hiện sự chân thành,nồng nhiệt trong tình yêu nhưng có sự khác nhau ở cách nói, cách bày tỏ Bêncạnh những bài chọn cách thể hiện tình cảm vòng vo, bóng gió, ưa triết lý vớingôn ngữ chau chuốt còn có những bài vừa bộc trực, thẳng thắn, vừa hóm hỉnh,độc đáo với ngôn từ chân thực, sinh động Các chàng trai, cô gái thường mượnviệc lao động, mượn việc chăm sóc mẹ già, mượn những đồ vật xung quanhnhư áo, khăn, yếm… để nói chuyện tình yêu Trong xã hội phong kiến, có thể
do quan niệm xã hội, do con người Việt xưa còn thẹn thùng, ngượng nghịu nênnhững đôi trai gái yêu nhau không dễ dàng thổ lộ tình cảm của mình một cáchtrực tiếp mà mượn những hình ảnh, biểu tượng để bộc lộ tâm tư
1.2.3.3 Đặc trưng cơ bản của ca dao trữ tình người Việt
Bản chất của ca dao là cuộc thoại trong đó có lời trao, lời đáp thể hiện tìnhcảm, tình yêu đôi lứa của các nhân vật giao tiếp, thể hiện thái độ tình cảm, tâmhồn của người tham gia giao tiếp
Về thể thơ, ca dao người Việt được sáng tác bằng thể thơ lục bát, song thấtlục bát, vãn ba (câu thơ ba tiếng), vãn bốn (câu thơ bốn tiếng), vãn năm (câuthơ năm tiếng) Tuy nhiên, thể thơ lục bát là thể thơ dân tộc, dễ thuộc, dễ hiểu,gần gũi với lời ăn tiếng nói của người dân, diễn đạt tâm trạng nhiều chiều củanhân vật trữ tình nên đây là thể thơ được sử dụng phổ biến của ca dao
Tính tập thể là một đặc điểm nổi bật của ca dao nên cái tôi trữ tình trong
ca dao không có dấu vết của cá nhân Ca dao là loại thơ trữ tình dân gian, làtiếng nói của tư tưởng, tình cảm và mơ ước, khát vọng của người bình dân Vì
lẽ đó, khi những câu ca dao ra đời và truyền đi trong cộng đồng, nó bị phai dầncái tôi trữ tình cá nhân, trở thành tiếng nói của cả cộng đồng Nhân vật trữ tình,thi sĩ, người diễn xướng cũng vì thế thống nhất mà với nhau
Trang 33Chủ thể trữ tình trong ca dao được đặt trong mối quan hệ hữu cơ với đốitượng trữ tình Có hai loại nhân vật: nhân vật hiển ngôn (hình tượng con ngườiđược trực tiếp thể hiện tình cảm, bộc lộ tâm tư, suy nghĩ, cảm xúc), nhân vậtbiểu tượng (thông qua biểu tượng con người bộc lộ tình cảm, đó là những biểutượng gần gũi với đời sống của con người như: con cò, cây đa, bến nước…).Nhân vật trữ tình trong ca dao còn được đặt trong nhiều mối quan hệ: vợchồng, cha mẹ - con cái, bạn bè…
Cảm xúc, tâm tư của nhân vật trữ tình được bộc lộ bằng nhiều giọng điệu:tâm tình, sâu lắng, trách móc, hờn giận, đau buồn, xót xa, nói bóng gió, hồnnhiên vui tươi…
Về thời gian và không gian Đây là những mặt hiện thực khách quan đượcphản ánh trong tác phẩm, tạo thành thế giới nghệ thuật của tác phẩm Thời giancủa tác giả và thời gian của người diễn xướng hòa làm một Nếu có thời giantrong quá khứ hay tương lai thì đó là thời gian trong quá khứ và tương lai gần.Thời gian trong ca dao nhiều khi còn mang tính ước lệ: chiều chiều, trăm năm,ngàn năm… Cũng có khi thời gian trong ca dao lại mang tính đối lập: khi xưa -bây giờ Không gian nghệ thuật gần gũi, bình dị, gắn với làng quê Có thể thấy,thời gian và không gian nghệ thuật trong ca dao có mối quan hệ chặt chẽ vớinhau, tạo nên nét đặc sắc của thể loại này
Ngôn từ được sử dụng trong ca dao gắn với hình ảnh của các biểu tượngnghệ thuật, với quy ước của cộng đồng về một ý niệm tượng trưng Biểu tượngkhông chỉ đơn thuần thay thế cái được biểu hiện mà còn chủ yếu tượng trưngcho những suy nghĩ, quan niệm, tư tưởng của con người Có thể tìm thấy nhiều
biểu tượng quen thuộc như: con cò, thuyền - bến, hoa sen, hoa cúc, trúc - mai
Tóm lại, chúng tôi chỉ khái quát một số đặc trưng cơ bản của ca dao trữtình người Việt Trong quá trình tìm hiểu lời tỏ tình và lời hồi đáp trong ca daongười Việt, chúng tôi sẽ đi sâu vào tìm hiểu từng vấn đề cụ thể
Trang 34Tiểu kết chương 1
Trong chương này, chúng tôi trình bày những vấn đề sau:
Một là, từ việc xác định đối tượng nghiên cứu của luận văn là: “Lời tỏ
tình và lời hồi đáp trong ca dao người Việt” chúng tôi đã vận dụng các cơ sở
lí thuyết sau để nghiên cứu:
- Lí thuyết hội thoại: Trong đó, chúng tôi trình bày khái niệm hội thoại,
cấu trúc hội thoại (cuộc thoại, đoạn thoại, cặp thoại, tham thoại); vận động hội
thoại (sự trao lời, sự trao đáp, sự tương tác hội thoại); các quy tắc hội thoại
- Lí thuyết hành động ngôn ngữ: Khái quát hành động ngôn ngữ, các hànhđộng ngôn ngữ (hành động tạo lời, hành động mượn lời, hành động ở lời), cách
sử dụng hành vi ở lời
- Khái quát về ca dao, lời tỏ tình và lời hồi đáp trong ca dao của người Việt
Cơ sở lí thuyết này được xây dựng dựa trên những tài liệu của tác giả ĐỗHữu Châu, Nguyễn Thiện Giáp, những giáo trình dùng cho sinh viên và họcviên sau đại học, cùng với những kiến thức mà chúng tôi đã tổng hợp qua một
số công trình nghiên cứu của các tác giả như Đặng Tâm Hảo, Nguyễn ThịLương, Lưu Văn Lăng, Đỗ Thị Kim Liên Những cơ sở lí thuyết ấy sẽ lànhững căn cứ để chúng tôi nhận diện và miêu tả các hành động tỏ tình và hồiđáp trong ca dao của người Việt
Hai là, trên cơ sở lí thuyết ấy, chúng tôi sẽ tiến hành thống kê, phân loại,phân tích và mô tả lời tỏ tình và lời hồi đáp theo hai nội dung tương ứng với haichương như sau:
- Lời tỏ tình và lời hồi đáp (dạng đầy đủ)
- Lời tỏ tình và lời hồi đáp (dạng không đầy đủ)
Trang 35Chương 2 LỜI TỎ TÌNH VÀ LỜI HỒI ĐÁP TRONG CA DAO
NGƯỜI VIỆT - DẠNG ĐẦY ĐỦ 2.1 Kết cấu của các bài ca dao tỏ tình có lời hồi đáp - dạng đầy đủ
Khi khảo sát “Kho tàng ca dao Người Việt” để tìm những bài ca dao là
lời tỏ tình và lời hồi đáp chúng tôi thấy tồn tại hai dạng: Dạng thứ nhất lànhững bài ca dao là lời tỏ tình có lời hồi đáp; dạng thứ hai là những bài ca dao
là lời tỏ tình nhưng không có lời hồi đáp hoặc những bài ca dao là lời hồi đápnhưng không có lời tỏ tình Vì vậy, chúng tôi coi những bài ca dao tỏ tình cólời hồi đáp là dạng đầy đủ Còn những bài ca dao tỏ tình khuyết lời hồi đáphoặc bài ca dao là lời hồi đáp khuyết lời tỏ tình là dạng không đầy đủ
Sau khi khảo sát 11387 bài ca dao trong cuốn “Kho tàng ca dao Người
Việt”, chúng tôi xác định có 108 bài ca dao là lời tỏ tình có lời hồi đáp - dạng
đầy đủ Trong chương 2, chúng tôi tập trung khảo sát, phân tích đặc điểm vềhình thức và nội dung của lời tỏ tình và lời hồi đáp - dạng không đầy đủ
2.1.1 Các dạng lượt lời của bài ca dao tỏ tình có lời hồi đáp
Bảng 2.1 Về sự luân phiên lượt lời trong bài ca dao tỏ tình có lời hồi đáp STT Các dạng lượt lời Số lần xuất hiện Tỉ lệ (%)
Trang 36số lượng lớn hơn cả Đi đôi với tính ngắn gọn ấy của ca dao là tính đơn điệu vềhình thức kết cấu của nó Một trong những hình thức kết cấu cơ bản ấy là lốiđối đáp.
Những bài ca dao có kết cấu đối đáp là những lời trò chuyện trực tiếpbằng thơ ca Phần lớn những bài ca dao này được này sinh, sử dụng và lưutruyền trong sinh hoạt ca hát đối đáp nam nữ Người đọc dễ dàng nhận ra sự tồntại theo vế của các bài ca: mỗi bài thường có một vế đối và một vế đáp Sốlượng bài ca dao tỏ tình có lời hồi đáp gồm hai lượt lời chiếm đa số (95,3%)
Có thể chia thành hai loại:
2.1.1.1 Kết cấu hai vế tương hợp
Nhiều lời tỏ tình và lời hồi đáp xuất hiện trong hình thức hát đối đáp Nộidung gồm hai ý lớn ở thế tương hợp:
Bây giờ mận mới hỏi đào Vườn hồng đã có ai vào hay chưa?
- Mận hỏi thời đào xin thưa Vườn hồng có lối nhưng chưa ai vào [Ví dụ 1]
Trang 37Hoặc
Đêm trăng thanh anh mới hỏi nàng:
“Tre non đủ lá đan sàng nên chăng?”
- Đan sàng thiếp cũng xin vâng Tre vừa đủ lá, non chăng hỡi chàng? [Ví dụ 2]
Mình về có nhớ ta chăng?
Ta như lạt buộc khăng khăng nhớ mình
- Ta về ta cũng nhớ mình Nhớ yếm mình mặc, nhớ tình mình trao [Ví dụ 3]
Ở ví dụ thứ nhất và thứ hai, người con trai ướm hỏi và người con gái
“phát tín hiệu” thuận tình Trong ví dụ thứ ba, cô gái bộc lộ nỗi nhớ nhung khiphải chia tay và chàng trai cũng bày tỏ tình cảm thắm thiết của anh ta
Trang 382.1.1.2 Kết cấu hai vế đối lập
Anh đến tìm hoa Thì hoa đã nở Anh đến tìm đò
Trang 39Thì đò đã sang sông Anh đến tìm em thì em đã lấy chồng
Em yêu anh như rứa có mặn nồng chi mô?
- Hoa đến kì thì hoa phải nở
Đò đã đầy thì đò phải sang sông Đến duyên em thì em phải lấy chồng
Em yêu anh rứa đó, còn mặn nồng thì tùy anh [Ví dụ 4 ]
Gặp đây anh hỏi thực nàng Tre non đủ lá đan sàng được chưa?
- Chàng hỏi thì thiếp xin thưa:
Tre non đủ là đan chưa được sàng Ngoài chợ còn thiếu gì dang
Mà chàng lại nỡ đan sàng tre non?
Đan sàng có gốc tre già Tre non đủ lá được là bao nhiêu [Ví dụ 5]
Trong hai ví dụ trên chúng ta thấy, lời tỏ tình và lời hồi đáp có ý nghĩađối lập nhau
Như vậy, có thể thấy, dù lời tỏ tình và lời hồi đáp có kết cấu tương hợphay đối lập thì đều thuộc kết cấu mở
Ngoài kết cấu hai lượt lời rất phổ biến, một số trường hợp có nhiều hơnhai lượt lời:
Trang 40Xuống sông ôm đá trầm mình Sao em lại ở bạc tình bỏ anh?
- Em nào dám cãi mẹ cha Theo anh sợ nỗi người ta chê cười
- Sống sao cho đặng với người Miễn loan gần phụng ai cười mặc ai [Ví dụ 6]
2.1.2 Kiểu câu được sử dụng trong ca dao tỏ tình có lời hồi đáp
Bảng 2.2 Các kiểu câu được sử dụng trong ca dao lời tỏ tình có lời hồi đáp
Bảng 2.3 Kiểu câu hỏi trong các bài ca dao tỏ tình có lời hồi đáp
1 Câu hỏi trực tiếp bằng các từ để hỏi 63 79,7
2 Câu hỏi gián tiếp qua câu đố 12 15,3
3 Câu hỏi gián tiếp qua hình thức chơi chữ 04 5,0