1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Triết lý nhân sinh trong ca dao, tục ngữ thừa thiên huế

95 2,5K 10
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Triết lý nhân sinh trong ca dao, tục ngữ Thừa Thiên - Huế
Trường học Trường Đại Học Huế
Chuyên ngành Triết học Văn hóa Dân gian
Thể loại Luận văn Thạc sĩ
Năm xuất bản 2024
Thành phố Huế
Định dạng
Số trang 95
Dung lượng 486 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài * Mục đích: Luận văn bước đầu làm sáng tỏ triết lý nhân sinh trong ca dao, tục ngữThừa Thiên - Huế, trên cơ sở đó rút ra ý nghĩa thực tiễn về

Trang 1

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Nghị quyết số 03 - NQ/TW ngày 16/7/1998 của Ban chấp hành Trungương Đảng ( khóa VIII) đã chỉ rõ: Bên cạnh việc phát triển kinh tế thị trườngtheo định hướng xã hội chủ nghĩa, chúng ta phải: “Xây dựng và phát triển nềnvăn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, hết sức coi trọng, bảo tồn, kế thừa

và phát huy những giá trị văn học truyền thống, văn hóa cách mạng, bao gồm

cả văn hóa vật thể và phi vật thể” [13, tr.24 -28] Tinh thần của nghị quyếttiếp tục được bổ sung và khẳng định trong kết luận của hội nghị lần thứ 10, số

03 - KL/TW ngày 20/7/2004 của Ban chấp hành trung ương Đảng khóa IX:

“Trong quá trình mở rộng hội nhập kinh tế quốc tế và giao lưu văn hóa, cùngvới việc tập trung xây dựng những giá trị mới của Việt Nam đương đại, cầnđẩy mạnh công tác bảo tồn, kế thừa, phát huy các giá trị truyền thống của dântộc” [13, tr.150] Như vậy, để thực hiện thành công công cuộc đổi mới toàndiện đất nước trong giai đoạn hiện nay, chúng ta phải tiến hành đồng thờinhiều phương pháp khác nhau Trong đó, cần xuất phát từ truyền thống vănhóa của dân tộc, một trong những nhân tố tạo nên truyền thống đó là kho tàngvăn học dân gian nói chung, ca dao, tục ngữ nói riêng đã được ông cha ta dàycông xây dựng và lưu giữ Mặt khác cần kết hợp hài hòa tinh hoa văn hóa củadân tộc với tinh hoa văn hóa nhân loại nhằm tạo nên những giá trị bền vững

về văn hóa cho nền văn minh của đất nước

Trong tình hình hiện nay, văn học dân gian là nguồn tư liệu ít được khaithác về mặt triết học vì nó được không ít người xem là loại văn phong khônguyên bác, có nhiều hạn chế, lạc hậu Song, thật ra, trong thứ văn chương bìnhdân ấy đã ẩn chứa những khái niệm trừu tượng mà ở đó, chúng ta có thể thấyđược năng lực tư duy, phán đoán, phân tích và nhận thức của con người về vũ

Trang 2

trụ và con người Chính vì thế, văn học dân gian là đối tượng nghiên cứu củanhiều ngành khoa học khác nhau Nói như tác giả cuốn “Triết lý trong vănhóa Phương Đông”, tại sao “ngày nay văn hóa dân gian đã trở thành một bộmôn khoa học thì hà cớ gì chúng ta - những người làm triết học - lại cứ khưkhư đóng cửa, không mở sang lĩnh vực triết lý dân gian”, từ việc nghiên cứutriết lý dân gian “rất có thể chúng ta lại tìm ra, phát hiện ra mạch ngầm sâuthẳm của dân tộc” [15, tr.404 - 405].

Mặt khác, Nghị quyết của Bộ chính trị Ban chấp hành Trung ương ĐảngCộng Sản Việt Nam Về chính sách khoa học và kỹ thuật cũng đã chỉ rõ:

“Nghiên cứu lịch sử tư tưởng triết học của dân tộc và sự thắng lợi của tưtưởng triết học Mác - Lênin ở Việt Nam” [1, tr.23] là một công việc hết sứccần thiết và có ý nghĩa trong giai đoạn hiện nay mà còn có ý nghĩa lâu dài

Vì những lẽ đó, chúng tôi đã chọn đề tài: “Triết lý nhân sinh trong ca dao, tục ngữ Thừa Thiên - Huế” làm đề tài luận văn thạc sĩ khoa học.

2 Tình hình nghiên cứu của đề tài

Đề tài mà chúng tôi nghiên cứu tiếp cận là vấn đề có tính chất đặc thù ởmột địa phương nên chưa được nghiên cứu nhiều, phần lớn các công trìnhnghiên cứu tập trung dưới góc độ văn hóa dân gian là chính

Một số công trình có nội dung chứa đựng nhiều ca dao, tục ngữ có liên quanđến đề tài Trước hết, là công trình sưu tập, nghiên cứu của Vũ Ngọc Phan

(1995), “Tục ngữ, ca dao Việt Nam”, Cao Huy Đỉnh (1974), “Tìm hiểu tiến trình văn hóa dân gian Việt Nam”, Đinh Gia Khánh (2000), “Văn học dân gian Việt Nam” Ba cuốn sách nói trên, các tác giả đã làm rõ khái niệm, nguồn gốc, sự

hình thành, phát triển, nội dung và các hình thức nghệ thuật của ca dao, tụcngữ Việt Nam nói chung Ngoài ra, tác giả còn làm rõ mối quan hệ giữa cadao, tục ngữ với các thể loại văn học dân gian khác

Trang 3

Công trình sưu tập ca dao, tục ngữ công phu nhất, có nội dung phong

phú là bộ sách “Tục ngữ phong dao” của Nguyễn Văn Ngọc, xuất bản lần đầu

vào năm 1928, tập 1 của bộ sách này giới thiệu khoảng 6500 câu tục ngữ củacác vùng miền Bắc, Trung, Nam cho đến nay vẫn được coi là một trong nhữngcông trình sưu tập tục ngữ Việt Nam có quy mô lớn

Đáng chú ý là công trình nghiên cứu của: Triều Nguyên (2005)“Ca dao Thừa Thiên - Huế”, Nhà xuất bản Hội liên hiệp văn học nghệ thuật Thừa

Thiên - Huế, Huế Tác giả đã trình bày những nội dung phản ánh của ca daoThừa Thiên - Huế về các vấn đề như: Ca dao về tình yêu quê hương đất nước,

ca dao về tình cảm đôi lứa, ca dao về quan hệ hôn nhân - gia đình, ca dao đốiđáp, trêu ghẹo và ca dao cổ động các phong trào cách mạng trong kháng chiếnchống Pháp và chống Mỹ

Triều Nguyên (2000), “Tục ngữ Thừa Thiên - Huế”, Nhà xuất bản Sở

văn hóa thông tin, Hà Nội Tác giả đã làm rõ nội dung phản ánh của tục ngữThừa Thiên - Huế như: Tục ngữ phản ánh mối quan hệ giữa con người với tựnhiên, tục ngữ phản ánh mối quan hệ giữa con người với gia đình và xã hội

Lê Văn Chưởng (2010), “Đặc khảo văn học dân gian Thừa Thiên Huế”,

Nhà xuất bản trẻ Tác giả đã trình bày những nội dung của ca dao, tục ngữThừa Thiên - Huế Đối với tục ngữ; đó là những câu tục ngữ nói thiên nhiên,

về lao động sản xuất, về gia đình - xã hội và về đạo đức Đối với ca dao; cadao nói đến quê hương non nước trữ tình, nói đến tình yêu đôi lứa qua hai giaiđoạn chào hỏi - làm quen và tỏ tình - kết duyên và ca dao nói về vấn đề hônnhân - gia đình

Luận văn đã nghiên cứu liên quan đến đề tài này là: Lương Thị Lan Huệ

(2004), “Một số vấn đề triết học qua ca dao, tục ngữ Việt Nam” Tác giả đã

trình bày một số tư tưởng triết học trong ca dao, tục ngữ người Việt như: Tưtưởng triết học biểu hiện qua mối quan hệ giữa con người với thế giới tựnhiên và mối quan hệ giữa con người đối với xã hội Tác giả cũng đã rút ra

Trang 4

một số nhận xét về ca dao, tục ngữ Việt Nam, nêu ý nghĩa triết học của cadao, tục ngữ trong công cuộc đổi mới ở nước ta hiện nay.

Những công trình nghiên cứu trên đã đi sâu và làm sáng tỏ những vấn đề

về ca dao, tục ngữ của Việt Nam nói chung cũng như của Thừa Thiên - Huếnói riêng Trên cơ sở tiếp thu có chọn lọc các nguồn tài liệu liên quan đến đềtài, chúng tôi đi sâu nghiên cứu một khía cạnh cụ thể trong ca dao, tục ngữ đó

là triết lý nhân sinh ở địa bàn là tỉnh Thừa Thiên - Huế Nội dung đề tài thểhiện sự đan xen giữa tư tưởng triết học và văn học, vì vậy đối với chúng tôiđây là đề tài khá mới và hấp dẫn

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài

* Mục đích:

Luận văn bước đầu làm sáng tỏ triết lý nhân sinh trong ca dao, tục ngữThừa Thiên - Huế, trên cơ sở đó rút ra ý nghĩa thực tiễn về quan niệm sống (nhânsinh quan, thế giới quan) của con người Việt Nam ở tỉnh Thừa Thiên - Huế, vậndụng nó ở góc độ kế thừa, giữ gìn và phát huy truyền thống văn hóa trong sựnghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

* Nhiệm vụ:

Để đạt được mục đích đã nêu trên, luận văn làm rõ:

- Sự hình thành của ca dao, tục ngữ

- Một số vấn đề về ca dao, tục ngữ của Thừa Thiên - Huế

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là tư tưởng triết lý nhân sinh trong cadao, tục ngữ Thừa Thiên - Huế qua các công trình đã được xuất bản

Phạm vi nghiên cứu chỉ tập trung trong nội dung những câu ca dao, tụcngữ của Thừa Thiên Huế

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý luận của luận văn là những quan điểm và phương pháp luận của

Trang 5

triết học Mác - Lênin Đó là sự kết hợp những nguyên lý của chủ nghĩa duyvật lịch sử biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử với nguyên tắc thống nhấtgiữa lôgic và lịch sử, phân tích và tổng hợp, quy nạp và diễn dịch, thống kê,

so sánh và đối chiếu, khách quan và biện chứng trong việc nghiên cứu tưtưởng triết học

6 Đóng góp của luận văn

Đây là công trình nghiên cứu tương đối mới về triết lý nhân sinh trong cadao, tục ngữ ở Thừa Thiên - Huế, trên cơ sơ đó góp phần làm rõ những vấn đề

và giá trị nhân sinh được thể hiên trong ca dao, tục ngữ tỉnh Thừa Thiên - Huế.Luận văn là tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu, giảng dạy, học tập

7 Kết cấu luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văngồm có hai chương, 5 tiết

Trang 6

CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ CA DAO TỤC NGỮ

1.1 Sự hình thành của ca dao, tục ngữ

Ca dao, tục ngữ là một trong những bộ phận quan trọng cấu thành vănhọc dân gian, là những viên ngọc quý, có giá trị về mặt trí tuệ, tình cảm vànghệ thuật biểu hiện Do đặc điểm nội dung và hình thức ngắn gọn, có vần, dễnhớ nên ca dao, tục ngữ luôn luôn được nhân dân vận dụng, truyền miệng quanhiều thế hệ Chính vì vậy ca dao, tục ngữ luôn được trau chuốt mà vẫn giữđược cái hồn, cái hình mặc dù có những thay đổi nhất định nào đó về ngôn từkhi đến “cư trú” ở các địa phương khác nhau Ca dao, tục ngữ vừa là một hiệntượng ngôn ngữ, vừa là một hiện tượng thuộc về ý thức xã hội, luôn giữ vaitrò trong việc hình thành và phát triển tiếng nói của dân tộc, phản ánh sinhhoạt, biểu hiện những nhận xét, những ý nghĩ của nhân dân trong cuộc đấutranh với các hiện tượng thiên nhiên bất lợi hoặc trong đấu tranh xã hội vàxây dựng đất nước

1.1.1 Khái niệm, nội dung và hình thức nghệ thuật của ca dao, tục ngữ

1.1.1.1 Ca dao

Theo định nghĩa của từ điển Tiếng Việt thì ca dao vốn là một thuật ngữHán Việt, là lời của các bài hát dân ca đã được tách những tiếng đệm, tiếng láyhoặc ngược lại, là những câu thơ có thể chuyển thành các làn điệu dân ca

Theo từ điển Bách Khoa Việt Nam, tập 1, trang 303, Hà Nội, 1995, thì

“ca dao thường là những câu thơ, bài hát dân gian có ý nghĩa khái quát, phảnánh đời sống, phong tục, đạo đức hoặc mang tính chất trữ tình, đặc biệt là tìnhyêu nam nữ”

Trong quá trình sáng tác của thơ ca dân gian, khái niệm ca dao được dùng

để chỉ bộ phận cốt lõi, tiêu biểu, đó là bộ phận những câu hát đã trở nên phổ

Trang 7

biến và được truyền tụng rộng rãi trong nhân dân Ca dao đã trở thành mộtthuật ngữ dùng để chỉ một thể thơ dân gian, do đó tất cả những sáng tác thơ canào mang phong cách của những câu hát cổ truyền, người ta gọi là ca dao

Về cơ bản thì ca dao là một thể loại trữ tình của văn học dân gian.Những tác phẩm trong thể loại này dù nói lên mối quan hệ giữa con ngườitrong lao động, trong sinh hoạt gia đình và xã hội, hoặc nói lên những kinhnghiệm sống và hành động thì bao giờ cũng bộc lộ thái độ chủ quan chứkhông phải miêu tả một cách khách quan những hiện tượng, những vấn đề.Cho nên trong ca dao, cái tôi trữ tình nổi lên một cách rõ nét Cũng như tụcngữ và các thể loại văn học dân gian khác, ca dao là tấm gương phản chiếutrung thực về cuộc sống muôn màu, muôn vẻ của nhân dân Đó là tinh thầnlạc quan trong khó khăn, là tinh thần tương ái giữa những con người lươngthiện, đó còn là nhận thức sắc bén về bạn, về thù, về chính nghĩa Tóm lại,qua ca dao có thể thấy rõ hiện thực, tức là “cái vốn có”

Nội dung của ca dao khá phong phú, đa dạng Ca dao phản ánh lịch sử,miêu tả khá chi tiết phong tục tập quán trong sinh hoạt vật chất và tinh thầncủa người dân lao động, bộc lộ tâm hồn dân tộc trong đời sống riêng tư, đờisống gia đình và đời sống xã hội, qua đó thấy được đức tính cần cù, chịuđựng gian khổ, khắc phục khó khăn, những phẩm chất tốt đẹp của người dântrong cuộc đấu tranh với thiên nhiên, trong đấu tranh xã hội để vươn lêngiành lấy hạnh phúc

Có những câu ca dao, do nội dung lịch sử của nó, thường gọi là ca daolịch sử, phản ánh những sự kiện của lịch sử dân tộc, liên quan đến đời sốngcủa nhân dân, qua đó nhân dân nói lên thái độ, quan điểm của mình Nhữngcâu ca dao sau đây nói lên sự phấn khởi, hăng hái, lòng yêu nước của nhândân trong khi bà Triệu khởi binh chống quân Ngô xâm lược:

Trang 8

Ru con, con ngủ cho lành Cho mẹ gánh nước, rửa bành con voi Muốn coi lên núi mà coi

Coi bà Triệu tướng, cưỡi voi đánh cồng Túi gấm cho lẫn túi hồng

Têm trầu cánh kiến cho chồng đi quân

Hay nói lên lòng hăng hái đua nhau giết giặc của binh sĩ ta ở trậnBạch Đằng:

Đánh giặc thì đánh giữa sông Chớ đánh trong cạn, phải chông mà chìm

Những bài ca dao mang nội dung đấu tranh chống áp bức của chế độphong kiến, chống quân xâm lược, đã vạch trần những cái xấu, những tội ác

mà chế độ phong kiến đế quốc gây ra cho nhân dân ta, thể hiện lòng căm thùsâu sắc của nhân dân, cùng những ý nghĩ, những lời nói oán hờn, căm giận, ấp

ủ lâu ngày đã biến thành hành động, những cuộc khởi nghĩa của nông dân đãdiễn ra

Con vua thì lại làm vua Con sãi ở chùa thì quyét lá đa Bao giờ dân nổi can qua Con vua thất thế lại ra quyét chùa

Cùng với những bài ca dao mang nội dung trên là những bài ca dao đấutranh chống lại các tệ nạn xã hội và các hiện tượng tiêu cực, cụ thể là đả kích,chế giễu thói mê tín dị đoan, chống lại những hủ tục hôn nhân cùng nhữngthói hư tật xấu như: cờ bạc, rượu chè, nhác làm siêng ăn, tham lam, ích kỷ Ởđây ca dao đã thể hiện tính chiến đấu rất cao:

Trang 9

- Con ơi nhớ lấy câu này Cướp đêm là giặc, cướp ngày là quan

- Của bụt mất một đền mười Bụt vẫn còn cười bụt chửa lấy cho

Ca dao là tiếng hát trữ tình của con người Đó là tiếng gọi của tình yêu,

là tiếng than thở của người phụ nữ đau khổ nhưng giàu tinh thần hi sinh vàđấu tranh dũng cảm trong quan hệ gia đình, của người lính và vợ của ngườilính trong cuộc sống lao động và đấu tranh Tình yêu của người lao độngđược biểu hiện trong ca dao về nhiều mặt, đó là tình yêu giữa đôi bên trai gái,yêu gia đình, yêu xóm làng, yêu đồng ruộng, yêu đất nước, yêu thiên nhiên.Nói về tình yêu nam nữ ca dao có câu:

Tình anh như nước dâng trào Tình em như dải lụa đào tẩm hương

Về tình yêu thiên nhiên:

Rủ nhau đi tắm hồ sen Nước trong bóng mát, hương chen cạnh mình

Cứ chi vườn ngọc, ao quỳnh

Thôn quê vẫn cứ hữu tình xưa nay

Và về tình yêu quê hương đất nước, mong muốn xây đắp cho cảnh vậtcủa tổ quốc được thêm hùng tráng:

Ta về ta dựng mây lên Trời xe mây lại một bên hòn Lèn

Phong phú nhất, đặc sắc nhất là mảng ca dao về tình yêu nam nữ Traigái gặp gỡ tìm hiểu nhau, thổ lộ tình cảm với nhau trong khi lao động, hội hè,đình đám, vui xuân:

Trang 10

- Đôi ta bắt gặp nhau đây Như con bò gầy gặp bãi cỏ hoang

- Em ơi chua ngọt đã từng Non xanh nước bạc, ta đừng quên nhau

- Đôi ta như thể con tằm Cùng ăn một lá cùng nằm một Đôi ta như thể con ong

Con quấn con quýt, con trong con ngoài

Nội dung của những câu ca dao trên phản ánh được mọi biểu hiện sắcthái, cung bậc của tình yêu, thể hiện quan niệm tự do trong yêu đương, tự dohôn nhân Những tình cảm thắm thiết trong hoàn cảnh may mắn hạnh phúcvới những niềm mơ ước, những nỗi nhớ nhung da diết hoặc cảm xúc nảy sinh

từ những rủi ro ngang trái, thất bại, khổ đau với những lời than thở oán trách,nói lên tinh thần đấu tranh để bảo vệ tình yêu chân chính của những ngườinông dân áo vải Việt Nam

Ca dao trữ tình về tình yêu nam nữ đã kết hợp chặt chẽ chủ đề tình yêuvới chủ đề lao động, những nét sinh hoạt, những cảnh vật quen thuộc trongđời sống hằng ngày của nhân dân Sự kết hợp giữa các chủ đề đó làm cho cadao không chỉ phản ánh quan hệ nam nữ trong khuôn khổ tình cảm cá nhân,

mà còn có nội dung xã hội phong phú và tính tư tưởng cao

Trong xã hội cũ, tình yêu của nhân dân lao động được thể hiện bằngnhững tình cảm tự nhiên, lành mạnh Giai cấp thống trị và lễ giáo phong kiếnmuốn bóp chết những tình cảm hồn nhiên và lành mạnh đó Vì vậy, trong cadao bên cạnh tiếng hát ước mơ về một cuộc sống hạnh phúc, là những tiếngkêu đau khổ, xót xa về những trắc trở trong tình yêu Tình yêu tan vỡ donhiều nguyên nhân, có phần chủ quan do trai gái không hợp tính nết nhauhoặc còn có sự ngập ngừng, e ngại, nhưng phần lớn là do những nguyên nhânkhách quan do xã hội phong kiến gây ra:

Trang 11

Trách ai tham phú tham bần Tham xa mà bỏ nghĩa gần thuở xưa

Một bộ phận quan trọng của ca dao là nhận định về con người và về việcđời như là sự tổng kết các kinh nghiệm, triết lý, quan niệm đạo đức, là cáchứng xử của nhân dân Ca dao thể hiện rất cô đọng cho nên có nhiều bài rấtngắn, thậm chí chỉ một cặp lục bát mà vẫn nói lên sâu sắc về mặt cách sống

từ lâu đã trở thành truyền thống và nhiều khi có tính chất mẫu mực về mặtnghệ thuật

Nói đến ca dao tức là nói đến thơ, về mặt hình thức, trước hết phải nóiđến nhịp điệu vì đó là một đặc điểm có tính chất thể loại, một động lực chủyếu của thơ Như vậy nhịp điệu giữ một vai trò hết sức quan trọng, nó luôn cótác dụng tạo cảm xúc, làm tăng thêm sức biểu đạt của thơ Ca dao ngắt nhịphai là phổ biến, nhưng nhiều trường hợp ca dao ngắt nhiều nhịp rất sáng tạonhư để làm bật lên cái quyết tâm vượt lên mọi khó khăn của những con ngườimuốn được xích lại gần nhau, được chung sống cùng nhau:

Trang 12

- Yêu nhau/ tam tứ núi/ cũng trèo/

Thất bát sông/ cũng lội/ tam thập lục đèo/ cũng qua/

- Phá Tam Giang/ anh cũng lội/ núi Mẫu Sơn/ anh cũng trèo/

Ca dao thường là những bài ngắn, âm điệu lưu loát Đặc điểm của ca dao

về phần hình thức là vần vừa sát lại vừa thanh thoát, không dò ép, lại giản dị

và tươi tắn, nghe có vẻ như lời nói nhưng lại rất nhẹ nhàng, gọn gàng chảichuốt, miêu tả được những tình cảm sâu sắc Dưới hình thức truyền khẩu, trảiqua nhiều thế hệ, nội dung có chỉnh sửa, nhưng nó vẫn giữ được chủ đề tưtưởng và tính chất mộc mạc, không cầu kỳ Ngoài hình thức nghệ thuật cụ thểhóa mà ca dao sử dụng, còn có hình thức nhân cách hóa Từ những vật vô tri,

vô giác đến chim muông, đều được ca dao gán cho những tâm tình, ý nghĩanhư con người:

Thuyền ơi có nhớ bến chăng Bến thì một dạ khăng khăng đợi thuyền 1.1.1.2 Tục ngữ

Cũng theo từ điển Bách Khoa Việt Nam, tập 4, trang 676, Hà Nội, 2005,thì tục ngữ là “một bộ phận của văn học dân gian, gồm những câu ngắn gọn, cóvần điệu, đúc kết tri thức, kinh nghiệm sống, đạo đức thực tiễn của người dân”.Tục ngữ là lời ăn tiếng nói của nhân dân, đúc kết kinh nghiệm của nhândân về các hiện tượng tự nhiên, về lao động sản xuất, về quan hệ gia đình, vềcon người và đời sống xã hội, được lưu truyền qua nhiều thế Bằng những câunói ngắn, gọn, súc tích, tục ngữ diễn đạt rất hoàn hảo toàn bộ kinh nghiệm đờisống, kinh nghiệm xã hội - lịch sử của nhân dân lao động Những kinhnghiệm ấy được rút ra trong quá trình đấu tranh thiên nhiên và đấu tranh xãhội, được thể hiện nhiều lần trong thực tiễn, đã trở thành những chân lý cótính chất phổ biến, được toàn thể nhân dân lao động công nhận và sử dụng.Tục ngữ cung cấp cho ngôn ngữ bình dân cũng như ngôn ngữ bác học một

Trang 13

hình thức biểu hiện giàu hình ảnh và do đó có tác dụng truyền cảm và thuyếtphục mạnh mẽ, để nói lên những tư tưởng thăng trầm, những khái quát rộngrãi Những câu tục ngữ ngắn gọn ấy sẽ thay thế một cách có kết quả những lờithuyết lý dài dòng và dễ quên Tục ngữ là tri thức thông thường của nhân dânlao động về tự nhiên và xã hội, biểu hiện trí tuệ của nhân dân trong việc nhậnthức thế giới, xã hội và con người, nên thường được ví von là “trí khôn dângian” Trí khôn đó rất phong phú và đa dạng, được nhân dân vận dụng trongđời sống sinh hoạt, giao tiếp cộng đồng và xã hội như lời ăn tiếng nói vàkhuyên răn, bộc lộ một cách sâu sắc kinh nghiệm sống, lối sống, tư tưởng đạođức, qua đó thể hiện thái độ ứng xử và tình cảm của nhân dân đối với nhữngvấn đề của cuộc sống: “Tục ngữ diễn đạt rất hoàn hảo toàn bộ kinh nghiệmsống, kinh nghiệm lịch sử xã hội của nhân dân lao động” [ 11, tr.229].

Về nội dung thì tục ngữ là những nhận định sau kinh nghiệm của conngười về cuộc sống trong gia đình, cuộc sống trong xã hội, phản ánh quá trìnhlao động sản xuất, nói về các kinh nghiệm và kỹ thuật trồng trọt, chăn nuôi,đánh bắt, làm ruộng Nội dung ấy vừa phong phú, vừa vững chắc và khá sâusắc vì nó được đúc kết qua nhiều thế hệ của con người

Chẳng hạn, trong lao động sản xuất có những câu tục ngữ nêu lên nhậnthức của nhân dân về những đặc tính của những loại lúa khác nhau như:

Chiêm cập cợi, mùa đợi nhau Những kinh nghiệm làm mạ:

Cơm quanh rá, mạ quanh bờ

Kinh nghiệm cày bừa:

- Nhai kĩ no lâu, cầy sâu lúa tốt

- Nhất cày ải, nhì rãi phân

Kinh nghiệm cấy lúa:

Chiêm to tẻ, mùa nhỏ con

Trang 14

Kinh nghiệm chăm bón:

Người đẹp vì lụa, lúa tốt vì phân

Một số câu tục ngữ nói về kinh nghiệm đi lưới:

Tôm đi chạng vạng, cá đi rạng đông

Kinh nghiệm chọn giống gia súc như chọn trâu:

Tóc tang, khoang nạng, vành trừng, có ba lời ấy xin đừng có mua

Gà đen chân trắng, mẹ mắng cũng mua

Gà trắng chân đen mua chi giống ấy

Hay khi nói về thời tiết khí hậu có những câu tục ngữ:

- Sương sa hoa nở

- Đông sao thì nắng, vắng sao thì mưa

- Vẩy mại thì mưa, bối bừa thì nắng

- Chớp đông nhay nháy, gà gáy thì mưa

- Cầu vồng mống cụt, không lụt thì bão

- Chuồn chuồn bay thấp thì mưa, bay cao thì nắng bay vừa thì râm

Phần quan trọng của tục ngữ là nói về lịch sử - xã hội, những quan niệmnhân sinh, tư tưởng chính trị và xã hội Thí dụ một số câu tục ngữ ghi lại mộtvài ký ức về thời kỳ lịch sử xa xưa của dân tộc ta:

Trang 15

- Hăm mốt Lê Lai, hăm hai Lê Lợi

- Thời vua Thái Tổ, Thái Tông, con dắt, con bồng, con bế, con mang

- Một nhà hai chủ không hòa, hai vua một nước ắt là không yên Tục ngữ phản ánh những tập tục sinh hoạt hằng ngày về mọi mặt như ăn,

ở, mặc, giao tế, cưới xin, ma chay, hội hè, sinh hoạt tôn giáo:

- Tương cà gia bản

- Lấy vợ đàn bà, làm nhà hướng nam

- Áo rách thay vai, quần rách đổi ống

- Miếng trầu là đầu câu chuyện

- Cưới vợ không cheo như néo không mấu

- Cha đưa mẹ đón

- Sợ ông thần phải nể cây đa

- Lệnh làng nào làng ấy đánh, thánh làng nào, làng ấy thờ

Tục ngữ ghi lại những đặc điểm trong tổ chức và tập tục của thôn xã:

Trang 16

- Thế gian một vợ một chồng, chẳng như vua bếp hai ông một bà

- Chết trẻ con hơn lấy già

- Sẩy cha còn chú, sẩy mẹ bú dì

Tục ngữ còn miêu tả đời sống của các giai cấp và các tầng lớp nhân dânkhác nhau, chủ yếu là của nông dân lao động, và tình hình đấu tranh giai cấp,đấu tranh chống áp bức bóc lột của nhân dân trong xã hội phong kiến:

- Lấy bát mồ hôi đổi bát cơm

- Tháng tám đói qua, tháng ba đói chết

- Con đóng khố, bố cởi trần

- Quan thấy kiện như kiến thấy mỡ

- Cá lớn nuốt cá bé

- Tức nước vỡ bờ

- Con giun xéo lắm cũng quằn

Nhiều câu tục ngữ thể hiện tư tưởng nhân đạo chủ nghĩa chân chính củanhân dân lao động, trước hết là tư tưởng quý trọng con người:

- Người ta là hoa của đất

- Còn nước còn tát

- Chớ thấy sóng cả mà ngả tay chèo

- Một con ngựa đau, cả tàu bỏ cỏ

- Tốt danh hơn lành áo

- Ăn quả nhớ kẻ trồng cây

- Cái nết đánh chết cái đẹp

Trang 17

Nhiều câu tục ngữ phản ánh những nhận thức có tính chất duy vật củanhân dân về sự tồn tại khách quan của thế giới:

Còn da lông mọc, còn chồi lên cây

Về những mặt đối lập trong các sự vật và hiện tượng tự nhiên và xã hội:

- Được mùa cau, đau mùa lúa

- Được lòng ta xót xa lòng người

Về mối quan hệ nhân quả giữa các sự vật, hiện tượng:

Rau nào, sâu ấy

Về quy luật phát triển biện chứng của thế giới khách quan:

Cái sẩy nẩy cái vung

Từ những nội dung phản ánh trên của tục ngữ, chúng ta có thể thấy rằngtục ngữ được hình thành từ cuộc sống thực tiễn Sự hình thành của tục ngữ cóthể quy vào ba nguồn chính: Một bộ phận được hình thành trong đời sống củanhân dân Một bộ phận khác rút ra, tách ra từ những sáng tác của các thể loạivăn học dân gian (ca dao, truyện cổ tích, câu đố) Và một bộ phận những câutục ngữ hình thành từ các tác phẩm văn học, các sáng tác của các nhà văn, nhàthơ, những lời phát biểu, phán đoán của các nhà triết gia

Trong ba nguồn hình thành nói trên, nguồn chủ yếu là từ thực tiễn đờisống của nhân dân, vì vậy tục ngữ là “tấm gương phản ánh đời sống xã hội và

tự nhiên”

Tục ngữ nói chung được đúc kết lại thành lời nói dễ nhớ, mang tính chấtbền vững Tính chất bền vững của tục ngữ biểu hiện ra cả về mặt nội dungcũng như về mặt hình thức Đa số tục ngữ đều có 1 vế, chứa 1 phán đoán,nhưng cũng có thể gồm nhiều vế, chứa nhiều phán đoán Mỗi câu tục ngữ đềudùng hình ảnh, sự việc, hiện tượng cụ thể để nói lên ý niệm trừu tượng, dùngcái cá biệt để nói lên cái phổ biến, vì vậy ở mỗi câu tục ngữ thường có hainghĩa: nghĩa đen và nghĩa bóng Cái cụ thể, cá biệt tạo nên nghĩa đen, còn cái

Trang 18

trừu tượng, phổ biến tạo nên nghĩa bóng Hình ảnh trong tục ngữ là nhữnghình ảnh từ cuộc sống phong phú nhiều màu, nhiều vẻ được nhân cách hóa rấtlinh hoạt và sinh động:

Đũa mốc chòi mâm son Hầu hết các câu tục ngữ đều có vần, nhiều nhất là vần lưng nên nhịp

điệu nhanh, mạnh, vững chắc:

- Được làm vua, thua làm giặc

- Gái một con trông mòn con mắt

- Chê thằng một chai, lấy thằng hai nậm

Những câu không vần thường giữ được tính chất nhịp nhàng theo cáchcấu tạo cân đối giữa các vế:

- Già néo đứt dây

- Vỏ quýt dày có móng tay nhọn

Cũng có những câu không vần, không đối nhưng vẫn giàu chất nhạc,chất hàm súc của thơ:

- Trâu bò húc nhau, ruồi muỗi chết

- Nằm trong chăn mới biết chăn có rận

Hai thể loại tục ngữ và ca dao có mối quan hệ với nhau, có những trườnghợp xâm nhập lẫn nhau Trong ca dao cũng có xen tục ngữ và cũng có nhữngcâu ca dao chỉ có hình thức là ca dao còn nội dung lại là tục ngữ, khi nhữngcâu tục ngữ có thêm yếu tố cảm xúc thì lúc đó tục ngữ sẽ tiếp cận với ca dao,thí dụ những câu như:

- Ai ơi chẳng chóng thì chày

Có công mài sắt có ngày nên kim

- Chim khôn chưa bắt đã bay Người khôn ít nói, ít hay trả lời

- Lời nói chẳng mất tiền mua, lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau

Trang 19

Thường được nhân dân sử dụng như những câu tục ngữ, đồng thời donội dung cô đọng, hàm súc, nhiều câu ca dao chủ yếu là những câu ca daonhận định về con người và việc đời lại được dùng như tục ngữ:

- Hơn nhau tấm áo, manh quần Đến khi cởi trần ai cũng như ai

- Đem cực mà đổ lên non Còng lưng mà chạy cực còn theo sau

Tuy nhiên, nếu nội dung tục ngữ là một phán đoán, thiên về lý trí, đúckết kinh nghiệm về cuộc sống thì nội dung ca dao lại là tâm tình là suy nghĩcủa con người trước mọi điều diễn ra xung quanh cuộc sống; trước mối quan

hệ giữa con người với tự nhiên, giữa con người với con người, thì ca daothiên về tình cảm Ca dao là một thể loại đã thể hiện được hết cái hay, cái đẹpcủa ngôn ngữ văn học dân gian Nếu tục ngữ thường dừng lại ở nhận thứchiện thực khách quan, nhận thức “cái vốn có” thì ca dao tiến thêm một bướcrất quan trọng là bộc lộ nguyện vọng của nhân dân đối với việc cải tạo hiệnthực, đề xuất ra “cái nên có”, giúp nhận thức cuộc sống và xây dựng lý tưởng

về cuộc sống, do đó tục ngữ mang tính khách quan nhiều hơn, còn ca daomang tính chủ quan

Như vậy, cả ca dao và tục ngữ đều có giá trị nhất định về mặt trí tuệ, tìnhcảm và nghệ thuật biểu hiện, và do có đặc điểm về nội dung và hình thức nhấtđịnh cho nên chúng luôn giữ được cái hồn, cái hình, được lưu truyền quanhiều thế hệ Thông qua việc sáng tác ca dao và tục ngữ, nhân dân đã gópphần đưa ngôn ngữ văn học đến trình độ nghệ thuật cao, vận dụng mọi khảnăng về ngôn ngữ của dân tộc để biểu hiện một cách chính xác, tinh tế cuộcsống và hơn nữa để biểu hiện một cách sinh động và đầy hình tượng nguyệnvọng của nhân dân về cuộc sống ấy Đối với các nhà văn, nhà thơ, ca dao, tụcngữ vừa là nguồn tài liệu quý báu, vừa là nguồn sống gián tiếp Vì vậy, việc

Trang 20

nắm vững kho tàng ca dao, tục ngữ sẽ giúp họ giàu thêm vốn sống cũng nhưngôn ngữ của dân tộc, và do đó các sáng tác của họ sẽ tăng thêm sức sống,đậm đà màu sắc dân tộc và gần gũi với tâm hồn của quần chúng.

1.2 Một số vấn đề về ca dao, tục ngữ Thừa Thiên - Huế

1.2.1 Điều kiện tự nhiên, lịch sử - xã hội của Thừa Thiên - Huế

Điều kiện tự nhiên, lịch sử - xã hội có ảnh hưởng lớn đến việc hình thànhtính cách và lối sống của con người xứ Huế, đến quá trình hình thành và pháttriển của văn học dân gian Thừa Thiên - Huế Trong quá trình sinh sống, đấutranh với thiên nhiên và đấu tranh xã hội, người dân xứ Huế đã đúc kết nhữngkinh nghiêm quý báu, dần dần trở thành những triết lý sống được lưu truyềnqua nhiều thế hệ, giúp họ vươn lên, sống hòa mình với tự nhiên, với cộngđồng xã hội

1.2.1.1 Điều kiện tự nhiên

* Vị trí địa lý: Tỉnh Thừa Thiên - Huế nằm ở tọa độ địa lý 160 - 16,800 vĩbắc và 107,80 - 108,200 kinh đông, phía bắc giáp tỉnh Quảng Trị, phía nam giáp

Đà Nẵng với ranh giới là đèo Hải Vân, phía tây giáp Lào, phía đông giáp biểnĐông Có diện tích là 5054km2, nằm trên trục đường giao thông quan trọngxuyên suốt Bắc - Nam trên quốc lộ 1, tuyến đường sắt xuyên Việt và trục hànhlang Đông - Tây nối Thái Lan - Lào - Việt theo đường 9 Bờ biển của tỉnh dài120km, có cảng Thuận An và Chân Mây với độ sâu 18 - 20m, đường không cósân bay Phú Bài nằm trên trục quốc lộ Hệ thống sông ngòi chằng chịt gồm cácsông như sông Hương, sông Bồ, sông Ô Lâu, sông Truồi

* Địa hình: Tỉnh Thừa Thiên - Huế nằm trên dải đất hẹp với chiều dài 127

km, chiều rộng trung bình 60 km với đầy đủ các dạng địa hình rừng núi, gò đồi,đồng bằng duyên hải, đầm phá và biển, địa hình thấp dần từ Tây sang Đông,phức tạp và bị chia cắt mạnh, phần phía Tây của tỉnh chủ yếu là núi đồi, chiếm70% diện tích đất tự nhiên, các đỉnh núi có độ cao từ 800 đến hơn 1.000m,

Trang 21

trong đó có núi Bạch Mã và Hải Vân là những địa danh du lịch nổi tiếng, địahình phần đồi chủ yếu phân bố ở vùng trung du, trong các thung lũng, chiếmkhoảng 1/4 diện tích tự nhiên, độ cao phần lớn dưới 500m, có đặc điểm chủyếu là đỉnh rộng, sườn thoải, các lưu vực sông tạo nên các bồn địa trũng, đồngbằng ven biển nhỏ hẹp và vùng đầm phá có diện tích 22.000 ha, vùng đồngbằng và trung du có 129.620 ha, chiếm 25,6% đất tự nhiên.

* Khí hậu: Tỉnh Thừa Thiên - Huế nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa,mang tính chất chuyển tiếp từ á xích đới lên nội chí tuyến gió mùa, chịu ảnhhưởng của khí hậu chuyển tiếp giữa miền Bắc và miền Nam nước ta

Thời tiết chia làm hai mùa rõ rệt, mùa mưa trùng với mùa bão, bắt đầu từtháng 8 đến tháng 11 có lượng mưa trung bình từ 2.500 - 2.700mm Mùa khôkéo dài từ tháng 3 đến tháng 7, mưa ít, lượng nước bốc hơi lớn, thường cómưa giông Nhiệt độ trung bình hằng năm là 240C, số giờ nắng trung bình là2.000 giờ/năm, độ ẩm trung bình 84%, số lượng bão khá nhiều, thường bắtđầu vào tháng 6, nhiều nhất vào tháng 9 đến tháng 11

* Môi trường thiên nhiên: Tỉnh Thừa Thiên - Huế là một vùng có môi

trường thiên nhiên phong phú, đa dạng, bên cạnh có nhiều núi cao như núiTruồi, Bạch Mã, Lăng Cô và nhiều núi đồi khác như Ngự Bình, Ngọc Trản,Thiên Thai, Long Thọ, Thiên Mụ, Thúy Vân, Linh Thái, còn có nhiều đèonhư đèo Phước Tượng, Phú Gia và tiêu biểu nhất là đèo Hải Vân Thừa ThiênHuế cũng là một vùng quê có môi trường nước khá phong phú trong đó nhữngcon sông lớn như Ô Lâu, sông Bồ, Hương Giang, Phú Bài, Nong, Truồi vàmột hệ thống phụ lưu ngang dọc chia cắt dải đồng bằng hẹp chạy dọc theo bờbiển Cùng với hệ thống sông ngòi, nơi đây có nhiều đầm phá như TamGiang, An Truyền, Hà Trung, Cầu Hai như là những túi đựng nước trước khi

đổ ra các cửa biển Thuận An, Tư Hiền, Lăng Cô Đặc biệt là sông Hươngkhông những dài mà nước trong quanh năm rất thơ mộng, trữ tình, soi bóngnúi Ngự Bình, tạo thành biểu tượng “Sông Hương - Núi Ngự” của Thừa

Trang 22

Thiên - Huế.

Bốn yếu tố núi, sông, đồng bằng, biển nơi đây đã sản sinh nhiều truyện dângian kỳ bí, nhiều thơ ca dân gian trữ tình, trong đó nổi bật là ca dao, tục ngữ

1.2.1.2 Điều kiện lịch sử - xã hội

Xứ sở Thừa Thiên - Huế trong thời kỳ đầu gắn liền với Quảng Trị, có xưngdanh là châu Thuận, châu Hóa Hai châu này chưa phân định rõ ràng và có quan

hệ với nhau về nhiều mặt nên thường được gọi chung là châu Thuận Hóa Vùngđất này là một phần lãnh thổ của vương quốc Chăm nên về mặt lịch sử ThuậnHóa có mối tiền thân của vùng đất này Thừa Thiên - Huế có tên gọi đầu tiên làHóa Châu trong châu Thuận Hóa, rồi Thừa Thiên dưới thời Minh Mạng (1822),đến năm 1989 cũng còn gọi là Huế Văn học dân gian Thừa Thiên - Huế, trong

đó có ca dao, tục ngữ chủ yếu được sinh ra từ xứ sở này

Từ năm 1306, vùng đất này thuộc lảnh thổ của nước Chăm, vốn có tên làChâu Ô, châu Lý, thuộc địa bàn của nước Việt Thường cổ đại khoảng trênmột thiên niên kỷ trước công nguyên (TCN) Năm 111 bị nhà Hán chiếm, đổilàm quận Nhật Nam, rồi cư dân vùng này đánh đuổi quan Hán lập ra nướcLâm Ấp Năm 1306, vua của nước này là Chế Mân đã dâng cho vua Trần AnhTông làm sính lễ cưới công chúa Huyền Trân, đến năm 1307 châu Ô được đổilàm châu Hóa, châu Lý làm châu Thuận gọi chung là châu Thuận Hóa

Trong khoảng thời gian kể từ khi châu Ô, châu Lý thuộc Đại Việt chođến năm Nguyễn Hoàng trấn thủ Thuận Hóa (1558), lịch sử vùng dất này cónhiều nét đặc thù Sau khi vua Chế Mân mất, người Chăm thường xuyên quấyrối Thuận Hóa, chủ yếu là Hóa Châu Đến năm 1983 trở đi thì Thuận Hóamới dần dần ổn định Dưới thời Hậu Trần (1413) Hóa Châu bị nhà Minhchiếm, nhân dân vùng này kiên quyêt chống giặc Minh Thời kỳ đầu nhà Lê,Chiêm Thành thường xuyên quấy phá Hóa Châu, đến khi Lê Thánh Tông đemquân đánh ChiêmThành, Thuận Hóa mới ổn định Trong địa bàn của ThuậnHóa có 3 huyện của Hóa Châu (Thừa Thiên - Huế) là Đan Điền (Quảng

Trang 23

Điền), Kim Trà (Hương Trà) và Tư Vinh (Phú Vang).

Thời hậu Lê kéo dài hơn 250 năm (1527 - 1788) nhưng các vua Lêkhông nắm quyền hành, mà mọi việc tập trung trong tay chúa Nguyễn và chúaTrịnh Năm 1558, Nguyễn Hoàng vào trấn thủ Thuận Hóa và trấn QuảngNam, gọi chung là Thuận Quảng Ông dựng dinh ở Ái Tử (Quảng Trị) Đếnthời chúa Sãi Nguyễn Phúc Nguyên (1613 - 1635), dinh dời về làng PhướcYên (huyện Quảng Điền), chúa Nguyễn Phúc Lan lên nối ngôi (năm 1635),dinh dời đến xã Kim Long (huyện Hương Trà), chúa Nguyễn Phúc Tần (1648 -1687), chúa Nguyễn Phúc Thái (1687 - 1691), dinh dời về Phú Xuân, chúaNguyễn Phúc Khoát (1739 - 1765), đổi dinh làm đô thành và sang thời chúaNguyễn Phúc Thuần (1765 - 1777), họ Trịnh chiếm Thuận Hóa Năm 1786,Tây Sơn Nguyễn Huệ đánh đuổi họ Trịnh, chiếm lại Thuận Hóa, đến năm

1787, Nguyễn Huệ làm lễ đăng quang ở núi Bân (Hóa Châu), rồi hành quân raBắc đánh đuổi quân Thanh, sau đó trở về Phú Xuân Năm 1801, Nguyễn PhúcÁnh đánh đuổi quân Tây Sơn, chiếm giữ Phú Xuân Từ năm Nguyễn Hoàngvào trấn thủ, trải qua các đời chúa có công mở cõi về Phương Nam, đánh đuổithù trong giặc ngoài xây dựng phát triển Hóa Châu và Thuận Hóa nói chung

Từ năm 1802 Nguyễn Ánh lên ngôi hoàng đế, đóng đô ở Phú Xuân,trong giai đoạn này có sự biến đổi về địa giới, và có nhiều biến cố lịch sửtrọng đại xảy ra Từ Hóa Châu của xứ sở Thuận Hóa đã trở thành một tỉnhbiệt lập, từ một vùng đất hoang sơ núi rừng hiểm trở đã hình thành một quêhương non nước trữ tình, đồng thời từ một xứ sở Thừa Thiên gắn với vậnmệnh của đất nước và một trung tâm chính trị, văn hóa tiêu biểu ở xứ ĐôngDương đã biến thành thủ phủ miền Trung dưới thời Pháp thuộc, cho đến năm

1945 khi cách mạng thành công, với sự kiện vua Bảo Đại - vị vua cuối cùngcủa triều Nguyễn thoái vị, kinh đô Huế trở thành cố đô

Từ 1945 đến 1954, nhân dân Thừa Thiên - Huế cùng với cả nước tiến

Trang 24

hành cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, với chiến thắng Điện Biên Phủ,hiệp định Giơnevơ (1954) được ký kết, cả nước, trong đó có Thừa Thiên - Huế,thoát khỏi ách đô hộ của thực dân Pháp, đất nước tạm thời bị chia cắt làm haimiền, Thừa Thiên - Huế nằm ở vĩ tuyến 17.

Giai đoạn từ 1954 đến 1975, Thừa Thiên - Huế là cái nôi của phong tràohọc sinh, sinh viên, trong đó có cả tăng ni Phật tử đấu tranh chống đế quốc

Mỹ và tay sai Ngô Đình Diệm Trước biến cố năm 1968, Thừa Thiên - Huếchìm trong khói lửa, kinh thành bị tàn phá, nhân dân sống trong cảnh loạn lạc.Giai đoạn từ 1975 đến nay nhân dân Thừa Thiên - Huế sống trong cảnhhòa bình, hàn gắn vết thương chiến tranh, xây dựng và phát triển quê hương.Trong giai đoạn này, địa giới Thừa Thiên - Huế có sự thay đổi Năm 1976 ThừaThiên - Huế sáp nhập vào Quảng Trị, Quảng Bình lập thành tỉnh có tên gọiBình Trị Thiên, đến năm 1989 lại tách ra như cũ

Thừa Thiên - Huế là một địa phương đa tộc người, ngoài người Kinhchiếm đa số, đồng thời là chủ thể văn hóa của địa phương, còn có những tộcngười thiểu số, họ cư trú thành từng địa bàn hoặc xen lẫn với người Việt.Giai đoạn đầu của Thuận Hóa (1306 - 1558), bên cạnh đa số cư dân BắcTrung Bộ đến định cư, nơi đây còn một ít người Chăm cư trú Họ cộng cư vớinhau trên đất Hóa Châu ở 3 huyện Đan Điền (Quảng Điền), Kim Trà (HươngTrà), Tư Vinh (Phú Vang) phân bố trong 180 xã Đến giai đoạn sau (1558-1801), lưu dân địa phương này ngày mỗi gia tăng, Hóa Châu có thêm

222 xã, 32 thôn, 84 phường, 1 giáp Dưới triều Nguyễn, dân số ngày một pháttriển, bên cạnh người Việt, người Chăm, còn có người Hoa, ngoài 3 huyện cũ,Thừa Thiên - Huế có thêm 3 huyện mới là Phong Điền, Hương Thủy, PhúLộc Theo địa bạ triều Nguyễn, giai đoạn sau này Thừa Thiên - Huế có 6huyện, 31 tổng, 475 làng Sau năm 1975, Thừa Thiên - Huế có một thành phố

và 8 huyện, ngoài 6 huyện cũ còn có hai huyện miền núi là Nam Đông và ALưới Tại 2 huyện này, ngoài người Kinh còn có những tộc người thiếu số

Trang 25

như Bru-Vân Kiều, Tà-Ôi, Cờ-Tu thuộc ngữ hệ Môn-khmer.

Như vậy, trong quá trình hình thành và phát triển, Thừa Thiên - Huế cóbước thăng trầm của lịch sử Thừa Thiên - Huế là nơi đặt thủ phủ của đấtĐằng Trong, đến thời Gia Long (1802), là kinh đô của Việt Nam kéo dài chođến năm 1945 thì trở thành cố đô Sau 1975, tên gọi Thừa Thiên - Huế ra đời

Cư dân và các tổ chức cộng đồng tăng trưởng như góp phần vào sự phong phúcủa văn học dân gian Thừa Thiên - Huế Từ thời Nguyễn xây dựng kinh đôtrở đi, văn hóa Huế phát triển song song với hiện tượng đa dạng và phong phúcủa văn học dân gian Thừa Thiên - Huế, từng bước đi lên vững chắc, trởthành một địa phương có nhiều di sản văn hóa vật thể và phi vật thể tiêu biểu,trở thành biểu tượng hàm chứa trong văn hóa và văn học dân gian, trong đónổi bật là ca dao, tục ngữ Thừa Thiên - Huế

1.2.2 Ca dao, tục ngữ Thừa Thiên - Huế - tấm gương phản chiếu đời sống kinh tế - xã hội của Thừa Thiên - Huế

Ca dao, tục ngữ là một bộ phận hợp thành của hình thái ý thức xã hộivăn học nghệ thuật Theo quan điểm của triết học Mác, ý thức xã hội phảnánh tồn tại xã hội, vì ý thức xã hội có nguồn gốc từ tồn tại xã hội Ca dao, tụcngữ Thừa Thiên - Huế là tấm gương phản chiếu đời sống kinh tế - xã hội vàcác quan hệ xã hội của quần chúng nhân dân lao động Thừa Thiên - Huế trongnhững giai đoạn lịch sử khác nhau Có thể thấy các nội dung phản ánh chủyếu của ca dao, tục ngữ Thừa Thiên - Huế về các điểm chủ yếu sau đây:

1.2.2.1 Về quê hương đất nước

Quê hương đất nước là một đề tài phổ biến trong ca dao, tục ngữ ThừaThiên - Huế Nói đến quê hương đất nước, ca dao, tục ngữ Thừa Thiên - Huếkhông chỉ miêu tả, giới thiệu, mà còn gắn vào đó một tình cảm thiêng liêng,sâu nặng Cũng như mảng ca dao này ở các vùng quê khác, tên chợ, tên núi,tên sông đặc biệt có sức gợi cảm Phong phú, sâu lắng, trữ tình, hồn nhiên

Trang 26

nhất là mảng ca dao có nội dung liên quan đến địa danh, di tích lịch - văn hóa

và đặc sản địa phương Các yếu tố này thâm nhập vào đời sống vật chất vàtinh thần, đặc biệt là tình cảm của con người xứ Huế Biểu tượng của bứctranh thiên nhiên trữ tình của Huế là “sông Hương - núi Ngự”, nhất là nhữngđêm trăng làm cho ai nhìn ngắm cũng đắm say si tình, tiềm ẩn nhiều ý nghĩathiêng liêng

- Núi Ngự Bình mơ màng trăng gió Niềm tâm sự ai thấu rõ cho mình Đoái nhìn sông Hương nước chảy xinh xinh Sông bao nhiêu nước dạ em si tình bấy nhiêu

- Ai vô xứ Huế mà coi Sông Hương núi Ngự cảnh trời đẹp thay

Bên cạnh hai địa điểm nói trên, Thừa Thiên - Huế được biết đến vớinhiều cảnh sơn thủy hữu tình thơ mộng, dọc đôi bờ sông Hương là núi NgọcTrản và làng Kim Long phía Tây Hoàng Thành Ngọc Trản có nghĩa là núiChén Ngọc, được dân gian gọi là Hòn Chén, cũng có tên là núi Hương Uyểnnổi lên như đầu rồng bên cạnh bờ sông Hương về phía tây Hoàng Thànhchừng 7 cây số, thuộc địa phận làng Hải Cát, huyện Hương Trà Đỉnh núi tựanhư cái chén đựng nước màu xanh ngọc bao bọc bởi nhiều cây cổ thụ, rợpbóng xanh tươi huyền ảo Ngọc Trản không những nên thơ, quyến rũ về cảnhnon xanh nước biếc khi xuôi ngược trên dòng Hương Giang mà còn là nơi gửigắm tâm linh vào các ngày rằm, mồng một và hai mùa lễ hội đăng sơn - hạthủy, nơi gợi lại nguồn gốc mẫu hệ của người Huế và dân tứ phương Con đòxuôi theo dòng Hương Giang, qua khỏi Ngọc Trản thì san sát đò nốc, đượcgọi là vạn đò neo đậu bờ sông làng Kim Long Ngôi làng này ở sát phía TâyHoàng Thành, một vùng đất nhà vườn trù phú nhiều đặc sản hoa, quả, một địa

Trang 27

chỉ của nhiều cô gái Huế đài các, kiêu sa, mĩ miều:

Nước đầu cầu khúc sâu, khúc cạn Chèo qua Ngọc Trản đến vạn Kim Long Sương sa, gió thổi lạnh lùng

Sương xao trăng lặn gây lòng nhớ thương

Ngoài những địa danh thiên nhiên thuộc địa bàn kinh đô, dọc theo dãyTrường Sơn hùng vĩ và biển Đông bao la, có nhiều nhánh núi đâm ra biển tiếpcận với đầm cầu Hai và biển Đông hình thành nhiều bức tranh sơn thủy hữu tình

kỳ bí, bao la tác động vào tình cảm và yếu tố thẩm mỹ của con người Trong đó

có núi Truồi hùng vĩ, tiêu điểm của huyện Phú Lộc canh giữ biển Đông:

Núi Truồi ai đắp nên cao Dâu Truồi ai biếu ngọt ngào lòng anh

Đặc biệt là núi Bạch Mã như một cao nguyên thu nhỏ có khí hậu thiênnhiên ôn đới tạo thành một thảm thực vật với nhiều cây gỗ, hoa trái, cầm thú,đặc sản, một địa điểm du lịch và nghỉ dưỡng lý tưởng:

Núi Bạch Mã hai hàng sau trước Đất Lộc Trì khi ướt khi khô Đường về đá bạc lô nhô Cầu Hai đầm nước xô bờ ngày đêm

Nhánh núi Bạch Mã đổ ra hướng Đông, đến bờ biển bỗng nhô lên nhưđầu con Rùa, ở đó có dấu vết tháp Chăm canh giữ cửa Tư Hiền:

Trông lên hòn núi con rùa Ngó xem cái tháp ngày xưa hãy còn

Ngoài cái đẹp hữu tình, biển cả bao la, ở đây còn tiềm ẩn cái tháp của địa

danh Ô - Lý: “Từ thuở mang gươm đi mở nước” Trên con đường Thiên Lý

thuộc địa phận Phú Lộc, núi Phước Tượng có “con voi đá” khổng lồ, chứngnhân của sự cách trở của nghĩa vợ chồng:

Đèo mô cao bằng đèo Phước Tượng

Trang 28

Nghĩa mô trượng (trọng) bằng nghĩa phu thê

Cuối huyện Phú Lộc, sừng sững chọc trời là núi Hải Vân, quanh nămmây phủ và gió lộng từ muôn phương thổi về, đây cũng là đèo cao nhất(trên 1000m) duyên hải Miền Trung, làm ranh giới giữa Huế và Đà Nẵng.Địa danh này có cái đẹp sơn thủy hùng vĩ nên thơ, một thắng cảnh kỳ vĩ độcđáo mà mỗi lần dừng chân, ai cũng cảm thấy lòng mình bâng khuâng thíchthú, tâm hồn bay bổng giữa trời nước lồng lộng Trước thiên nhiên ấn tượng

ấy, Hải Vân cũng hiện thân cho sự ngăn cách tình cảm đôi lứa, cho nỗi buồnthân phận cô đơn:

Chiều chiều mây phủ Hải Vân Chim kêu ghềnh đá, gẫm thân lại buồn

Bên cạnh địa danh mà thiên nhiên là trọng tâm, quê hương Huế còn cónhiều địa danh gắn với di tích lịch sử văn hóa, cổ xưa nhất là chùa Thiên

Mụ, chùa dựng lập năm 1601 trên gò núi phía tả ngạn sông Hương thuộc xã

An Ninh, huyện Hương Trà Bên hữa ngạn sông Hương nổi lên gò Long Thọ,còn gọi là Thọ Xương ở xã Nguyệt Bầu, huyện Hương Thủy, 2 địa danh nàythường gắn liền với nhau trong nhiều bài ca dao Thừa Thiên - Huế Tiếngchùa Thiên Mụ đã lắng đọng vào tâm thức của người Huế và khách du lịchthập phương như dìu dắt họ vào cõi thanh bình, tĩnh lặng, đối lại với chuôngchùa là tiếng gà Thọ Xương như thúc giục con người vào cuộc sống hiện thựcvới nhiều lo âu, cay đắng:

Gió đưa cành trúc la đà Tiếng chuông Thiên Mụ canh gà Thọ Xương Thuyền về xuôi mái sông Hương

Có nghe tâm sự đôi đường đắng cay

Cùng với chùa Thiên Mụ xưa cổ khắc ghi vào bản thân nhiều tâm sự, Huếcòn có các chùa Quốc Bảo, Từ Hiếu, Từ Đàm, Trà Am, Chùa Ông, Diệu Đế:

Đông Ba, Gia Hội hai cầu

Trang 29

Giữa chùa Diệu Đế bồn lầu hai chuông

Bên cạnh hệ thống chùa, tiêu biểu và độc đáo nhất của kinh đô Huế làbiểu tượng Ngọ Môn đã trở thành di sản văn hóa thế giới, niềm tự hào chongười Huế và cho cả nước:

Ngọ Môn năm cửa chín lầu Một lầu vàng tám lầu xanh

Ba cửa thẳng, hai cửa quanh Sinh em phận gái, hỏi chốn kinh thành mần chi

Đề cập đến địa danh lịch sử văn hóa Thừa Thiên - Huế, không thể khôngnhắc đến cầu Trường Tiền, chiếc cầu nối liền đôi bờ sông Hương thơ mộngkhắc ghi vào lòng người những bước thăng trầm liên quan đến thiên nhiên vàlịch sử hơn một thế kỷ (1879 - 2006) Cũng trong thời gian ấy, cầu TrườngTiền vừa là niềm tự hào, vừa là gạch nối tình cảm của cư dân đôi bờ sôngHương, đặc biệt là tình yêu đôi lứa:

Cầu Trường Tiền mười hai vài, sáu nhịp Anh qua không kịp, tội lắm em ơi

Mấy lâu ni chịu tiếng mang lời Dẫu xa nhau đi nữa, dạ vẫn bồi hồi nhớ thương

Cũng là di tích lịch sử văn hóa, đi xa về phía Tây - Nam Hoàng Thành,hiện hữu một hệ thống lăng tẩm đồ sộ, hoành tráng, trong đó lăng Tự Đức vàKhải Định thường được chuyển tải vào ca dao Thừa Thiên - Huế Lăng Tự Đứccòn gọi là Vạn Niên Cỏ được xây dựng ở một thung lũng thuộc địa phận làngDương Xuân Thượng, huyện Hương Thủy Toàn cảnh như một kinh thành cónhiều kiến trúc mỹ thuật cổ kính, nhiều đồi thông, khe suối, hồ ao trữ tình Vẻđẹp độc đáo ấy cuốn hút tâm hồn người Huế, nhưng cũng hàm chứa lời ca thán

vì sự cực khổ hy sinh xương máu của nhân dân trong quá trình xây dựng:

Vạn Niên là Vạn Niên nào

Trang 30

Thành xây xương lính, hào đào máu dân

Khác với lăng Tự Đức, lăng Khải Định xây dựng ở sườn núi Chân Chữ,còn gọi là Châu Ê, bên cạnh lời ca tụng về cái đẹp sơn thủy hữu tình và sự đồ

sộ, hoa mỹ thì cũng để lại lời than thở, oán trách vì lao động khổ sai và sưu

cao thuế nặng trong thời gian xây dựng:

Châu Ê, ơi hỡi Châu Ê Khi đi trai tráng, khi về bũng beo

Quê hương Huế, qua ca dao, tục ngữ, chúng ta còn biết nhiều đặc sản rất

ấn tượng liên quan đến đời sống vật chất và tinh thần, do con người lao độngcần cù mang lại, hàm chứa sự sáng tạo, lòng tự hào và tính nhân văn củangười Huế:

- Than rằng Hà Đá trồng khoai

Hà Thanh trồng cói Cầu Hai trồng chè

- Cam đường Mỹ Lợi Vải trạng cung Diên Nhãn lồng PhụngTiên Đào tiên Thế Miếu Thanh trà Nguyệt Biều Dâu da rừng Truồi Hột sen hồ Tịnh

- Cơm Mỹ Xá, cá Hội Yên, vịt đàn Thủ Lễ, Thôn Niên heo gà

- Cơm Mỹ Xá, cá An Xuân

Và đó cũng là vùng quê nghèo khó, thường bị lụt lội, bão dông:

Ông tha mà bà chẳng tha Làm cho cái lụt hăm ba tháng trời

Nói chung, quê hương đất nước Thừa Thiên - Huế ngoài dải đồng bằng

Trang 31

hẹp, hầu hết là núi đồi, sông đầm, biển cả hình thành bức tranh sơn thủy hữutình Những địa danh đi vào ca dao, tục ngữ Thừa Thiên - Huế là đối tượng củađời sống tình cảm và tâm linh Bên cạnh đó hệ thống địa danh lịch sử - vănhóa, với kinh đô Huế hoành tráng, tú lệ, phản ánh trong ca dao như khắc ghitiếng nội tâm về những dấu ấn của thời kỳ xây dựng quê hương đất nước Cadao Thừa Thiên - Huế không chỉ miêu tả, giới thiệu, mà còn gắn vào đó mộttình cảm thiêng liêng, sâu lắng, mang lại sức gợi cảm mạnh, nó luôn ẩn hiệntrong tâm thức của người Huế không những ở quá khứ mà còn ở hiện tại vàtương lai

Thừa Thiên - Huế ngày nay được xem là một bảo tàng di sản văn hoá vậtchất về di tích cố đô, là di sản văn hoá của cung đình Việt Nam Những yếu tố

đó là nguồn cảm hứng cho con người sáng tác Bởi thế, ca dao, tục ngữ ThừaThiên - Huế không chỉ ngợi ca về thiên nhiên, nói về nhân tình thế thái, màcòn tìm thấy được hình ảnh của kiến trúc cố đô Huế nằm trong dòng chảy của

ca dao, tục ngữ Chính những điệu hò, những câu ca dao nặng tình yêu thươngquê hương đất nước, đã thấm đẫm vào con người Huế từ thuở ấu thơ Vì thế,mỗi lần giỗ, Tết, được trở về để tưởng nhớ Tổ Tiên, thăm lại bà con, bạn bè,bên chén trà, chum rượu, bao giờ cũng vẫn là điều mong ước của con người

xứ Huế, một tình cảm thiêng liêng không xóa nhòa được trong lòng ngườiHuế tha hương

Là di sản văn hoá của dân gian, ca dao, tục ngữ Thừa Thiên - Huế, mộtkho tàng trí tuệ độc đáo, một gia tài văn hoá cộng đồng, đã trải qua nhiều thửthách của năm tháng Người ta có thể tìm thấy được ca dao từ những câu hát

ru con, những câu hò trên sông nước, thường nghe được ở Huế và các vùngphụ cận Bao nhiêu tinh hoa của nhiều thế kỷ đã hội tụ về miền sông Hương,núi Ngự, để tạo nên một vùng đất văn hoá vô cùng đặc sắc Vì thế, qua cadao, tục ngữ chúng ta có thể thấy được ba yếu tố: Thiên Nhiên, Kiến Trúc và

Trang 32

Con Người Huế, đã hoà quyện với nhau, nuôi dưỡng nhau, để Huế trở nênmột vùng đất của Thơ, bầu trời của Nhạc và thế giới của Tâm Hồn.

1.2.2.2 Về tình cảm lứa đôi

Trong kho tàng ca dao, tục ngữ Thừa Thiên - Huế, chủ đề tình yêu đôilứa chiếm khối lượng lớn, rất phong phú và đa dạng; nó vừa hiện thực, vừa hưcấu, vừa lãng mạn, vừa sâu sắc Đó là thứ tình yêu lành mạnh, thắm thiết, hồnnhiên Kết quả của tình yêu nam nữ đã vượt ra khỏi bức tường thành của lễgiáo phong kiến Ca dao, tục ngữ Thừa Thiên - Huế phản ánh tình cảm lứa đôivới nhiều cung bậc, màu sắc; ghi lại tất cả các chặng đường, các khía cạnhcủa tình yêu, các trạng thái tình cảm của nam nữ thanh niên đôi khi gặp nhiềutrắc trở, khó khăn nhưng tinh tế, sâu sắc qua hai giai đoạn là chào hỏi - làmquen và tỏ tình - kết duyên

Ở Thừa Thiên - Huế do ảnh hưởng của nền văn hóa phong kiến nên nam

nữ xứ Huế chào hỏi - làm quen nhau một cách dè dặt, kín đáo, nhưng khôngkém phần thú vị và hấp dẫn Họ thể hiện lời chào hỏi như những người xa lạ

dù cho họ đã quen biết nhau rồi Thật ra trong lời chào nghe có vẻ xa lạ đó đãtiềm ẩn một cái hẹn Chính điều này đã tạo nên tính cách trang nhã, kiêu sa,đài các có tính nhân văn rất riêng của cô gái Huế:

Em thấy anh cũng muốn chào hỏi Hai bên bạn đứng như rào miệng em

Chào hỏi là một biểu hiện của văn hóa giao tiếp, cũng là cơ hội để nam

nữ làm quen nhau Lời chào che dấu một cách kín đáo tình cảm riêng tư củachủ thể đồng thời cũng là để thăm dò đối tượng một cách tế nhị, duyên dáng:

- Túi trời không biết bạn là ai Cho tui chào chung một tiếng sớm mai lại nhìn

- Gặp nhau đây, mắt liếc miệng chào Hỏi người bạn cũ có nơi nào hay chưa

Trang 33

Khi chào hỏi xong, nam nữ đã biết nhau, họ bắt đầu chuyển sang thăm

dò thái độ của nhau:

Hỏi em có thương thiệt anh không Hay là bán trâu vẽ bóng giữa đồng cho anh

Biết rõ lòng nhau rồi, nhưng chưa đủ, lại thử tài nhau để xem trí thôngminh, độ nhanh nhạy của đối tượng Họ thử tài bằng cách đặt ra những yêucầu cần được giải quyết về giới tự nhiên, về xã hội:

Quân sư phụ là đạo tam cang dã Cùng em qua chuyến đò đầy, đò ngã, anh cứu ai?

Để ướm lòng nhau, để biết tính khí của nhau, trai gái trêu ghẹo nhau,biểu hiện cái dí dỏm, tinh nghịch và tính hiếu động trong cư xử với ngườikhác giới nhằm chinh phục đối tượng và cũng để khẳng định mình:

Ngộ tình cờ mà gặp được O

Áo O thì O mặc, răng rận bỏ sang áo tui

Khi trai gái đã hiểu lòng nhau thì họ hẹn ước thủy chung:

Thầy mẹ sinh em ra phận gái, giữ đạo cương thường Anh lui về học lấy văn chương

Nghìn thu em vẫn đợi, không vấn vương nơi nào

Chào hỏi - làm quen là tiền đề dẫn đến tỏ tình - kết duyên: Trai gái ThừaThiên - Huế do sự ràng buộc bởi nếp nhà và tập tục xã hội nên họ bày tỏ tìnhcảm của mình theo phong cách phiếm chỉ Người con gái khi bày tỏ trực tiếptình yêu, họ dùng tiếng “ai” để chỉ đối tượng Tiếng “ai” xuất hiện trong cadao Thừa Thiên - Huế rất kín đáo và dễ thương, vừa thể hiện tình cảm của chủthể với đối tượng, vừa phản ánh tâm trạng bâng khuâng, khó nói:

Ai về cầu ngói Thanh Toàn Cho em về với một đoàn cho vui

Người con trai lại liên hệ hình ảnh “người áo trắng” - một hình tượng

Trang 34

tiêu biểu của cô gái Huế:

Áo em trắng quá nhìn không ra

Cùng bày tỏ tình cảm với đối tượng, thay vì phiếm chỉ, người con trailiên hệ nhân vật thứ ba “thầy mẹ”, người có quyền trong việc định vợ gảchồng cho con theo lối nói nghi vấn Đây là cách tỏ tình rất đáo để, vừa thểhiện nhân cách văn hóa - tôn trọng nền nếp gia phong, vừa làm cho người congái cảm phục và không bối rối:

Anh mong em lại bên nhà Không biết thầy với mẹ có thuận hòa hay không

Trai gái Thừa Thiên - Huế do bị ràng buộc trong “đạo tam tòng” củaNho giáo, đặc biệt là nữ giới, “tại gia tòng phu”, nên trong tỏ tình - kết duyênđôi lứa, “thầy mẹ” hiện thân khá nhiều trong ca dao:

Nơi không thương thì thầy mẹ ép Nơi đẹp tình thì thầy mẹ khiến đừng

Vì vậy, nếu người con trai nói theo phong cách nghi vấn thì người con

gái bày tỏ tình cảm của mình theo phong cách khẳng định về quyền của phụmẫu

Kết duyên vợ chồng là việc trọng đại đối với người con gái cho nên phảiđược sự đồng thuận của thân phụ đôi bên Ngoài “tòng phụ”, người con gái cókhi còn nặng chữ hiếu, dù cho tình yêu đã mở cánh cửa con tim:

Em ra lấy chồng bỏ mẹ cho ai Đầu hôm quạnh vắng sớm mai một mình

Trở ngại về chữ hiếu tuy có nhưng hiếm, trai gái tỏ tình cho nhau và khitình cảm hội ngộ thì thường được cha mẹ chấp thuận Cái hạnh phúc tuyệtvời, cái tính nhân văn của tình yêu đôi lứa là kết nghĩa vợ chồng nên ngườicon trai khẳng định dù cảnh ngộ nào “cũng theo nhau”, người con gái thì thềnguyện “hai chữ keo sơn”

Trang 35

Trai gái Thừa Thiên - Huế cùng sống trong môi trường thiên nhiên nonnước hữu tình và môi trường lịch sử - xã hội phong kiến nên hình thànhnhững đặc trưng riêng trong cách tỏ tình Tiếng nói nội tâm của họ vừa có cáilãng mạn mang hình ảnh của sông Hương núi Ngự, vừa bị ràng buộc của lễgiáo phong kiến, nên cách tỏ tình không bồng bột mà thầm kín nhưng nồngnàn, say đắm Cùng với những đặc trưng ấy, nam nữ Thừa Thiên - Huế, chủyếu là nữ giới trong tỏ tình - kết duyên thường có hình bóng cha mẹ Đây làtính cách đặc thù rất Huế của nữ giới trong tình yêu và hôn nhân, điều nàyvừa thể hiện nếp nhà, vừa hàm chứa sự bền vững của tình yêu.

1.2.2.3 Về hôn nhân, gia đình

Những câu ca dao, tục ngữ về chủ đề hôn nhân, gia đình biểu hiện cácmối quan hệ tốt đẹp giữa tình cảm vợ chồng, cha mẹ, con cái, anh em họhàng, bà con hàng xóm, chẳng hạn trong gia đình, khi nói đến mối quan hệgiữa anh chị em thì người anh, người chị luôn có vai trò quan trọng, thay mặtcha mẹ lo toan việc gia đình, giúp đỡ, dạy dỗ em:

- Làm anh, làm ả thì ngả mặt lên.

Tình cảm anh chị em gắn bó keo sơn

- Cắt dây bầu dây bí, ai cắt dây chị dây em

- Anh em như ruột như rà

Trong mối quan hệ giữa cha mẹ và con cái thì:

Cha mẹ nuôi con biển hồ lai láng Con nuôi cha mẹ kể tháng kể ngày

Trong quan hệ họ hàng có sự che chở, giúp đỡ của những người làmquan trong gia tộc:

Một người làm quan cả họ được cậy

Do chịu ảnh hưởng trực tiếp văn hóa phong kiến nên vấn đề hôn nhân gia đình trong ca dao, tục ngữ Thừa Thiên - Huế có tính đặc thù Điều này thể

Trang 36

-hiện ở ba khía cạnh tiêu biểu được phản ánh trong ca dao, tục ngữ là quanniệm về hôn nhân, đời sống hôn nhân và ngã rẽ của hôn nhân.

Trong ca dao, tục ngữ Thừa Thiên - Huế, có hai quan niệm về hôn nhân ,

hoặc đôi bên nam nữ tự do lựa chọn đối tượng thích hợp với mình, hoặc “cha

mẹ đặt đâu con ngồi đó” Điểm chung của hai quan niệm này là đều do cha

mẹ tiến hành hôn lễ, ít nhất là có buồng cau, khay trầu Trai gái tự do yêunhau, tự do định đoạt, hướng dến việc hôn nhân, nhưng không phải là việclàm tùy tiện, mà có sự đắn đo, suy nghĩ chín chắn:

Trai khôn tìm vợ chợ đông Gái khôn tìm chồng giữa chốn ba quân

Đối với người con gái, trước khi lập gia đình, họ thường lựa chọn nơi cócha mẹ tử tế, hiền lành, để được cậy nhờ cũng như dễ bề phụng sự về sau:

Chẳng tham nhà ngói ba tòa Tham vì một nỗi mẹ cha anh hiền

Trong kén chọn hôn nhân, ngoài sự xứng đôi vừa lứa, còn liên quan đếndòng giống:

Lấy vợ xem tông, lấy chồng xem giống

Liên quan đến gia cảnh đôi bên, gia cảnh chênh lệch, giàu - nghèo,sang - hèn thì cuộc sống hôn nhân khó có hạnh phúc, ít bền vững Hai ngườinếu cùng một tầng lớp, một cảnh đời thì dễ hòa hợp, dễ chia sẽ niềm vui, nỗibuồn trong cuộc sống:

Rủi mô rủi lại gặp may

Em con nhà ruộng gặp tay lực điền Cũng có quan niệm hôn nhân ngược lại, vì “phú dự quý thị nhơn chi sở nhục, bần dự tiện thị nhơn chi sở ố”, nhưng chỉ là hy hữu, còn phần lớn nam

nữ kén chọn hôn nhân tương đương về gia đình, đẳng cấp

Sau cùng, tiêu chí cốt lõi nhất là hôn nhân một vợ, một chồng, đặc biệt là

Trang 37

nữ giới Họ phủ nhận hôn nhân tay ba, lên án gay gắt các kiểu phụ tình, từchối cảnh làm lẽ, làm hầu, bởi theo họ, đó là điều đi ngược lại bản chất của áitình và vi phạm về nhân cách:

Ra đi mẹ đã dặn con Chính thê thì lấy, hầu non thì đừng

Ở các tầng lớp trên của xã hội, hôn nhân của con cái thường do cha mẹsắp đặt Do vậy, người con gái và con trai bày tỏ việc việc hôn nhân với đốitượng theo phong cách nghi vấn:

Em về thưa với thầy se sẽ Bẩm với mẹ cho thông

Để anh vô kết nghĩa vợ chồng được không?

Hai quan niệm trên hàm chứa trong ca dao, tục ngữ Thừa Thiên - Huếtuy đối nghịch nhau nhưng đều cùng hướng đến hạnh phúc của hôn nhân - giađình Tuy nhiên xét đến cùng, quan niệm nam nữ tự do quyết định hôn nhânmới thể hiện bản chất của tình yêu, một biểu hiện của tính nhân văn

Nam nữ trong đời sống hôn nhân gia đình hầu hết thương yêu nhau đậm

đà, thắm thiết và cùng chia sẻ niềm vui, nỗi buồn trong mọi hoàn cảnh Do chịuảnh hưởng của Nho Giáo, chủ yếu là tòng phu trong quan hệ vợ chồng nêntrọng tâm của ca dao, tục ngữ Thừa Thiên - Huế trong chủ đề hôn nhân - giađình chủ yếu nói lên tình cảm vợ chồng Trong cảnh nghèo đói, túng thiếu thìtình cảm vợ chồng càng âu yếm thiết tha dù bữa ăn chỉ có “mắm cà” nhưng vẫnngon cơm, bởi hạnh phúc hôn nhân chủ yếu là “yêu mến thuận hòa”

Vợ chồng yêu mến thuận hòa

Dù ăn cơm với mắm với cà cũng ngon Người vợ trong ca dao, tục ngữ Thừa Thiên - Huế dù cảnh ngộ như thế

nào, vẫn luôn theo chồng, luôn yêu đời sống hôn nhân - gia đình êm đềm nênchiều chuộng chồng, luôn có cái nhìn vị tha, xem hạnh phúc của chồng cũng

Trang 38

chính là của bản thân,“chàng ăn thiếp nhịn”, vì thương chồng nên ngoài việc

nội trợ người vợ còn chia sẻ nỗi cực nhọc với chồng trong lao động như cùngchồng thả lưới, buông câu, đốn củi đốt than:

Chồng chài vợ lại thả câu Lân la lạch hói, nuôi nhau tháng ngày

Ca dao, tục ngữ Thừa Thiên - Huế còn phản ánh tâm trạng và đạo nghĩa

vợ chồng rất sâu sắc Họ quan niệm, nỗi đau của vợ cũng là nỗi đau củachồng nên người chồng không những lo lắng mà còn săn sóc rất trìu mến vàchu đáo Khi chồng gặp bất hạnh, đau đớn thì lòng vợ cũng quặn thắt, xót xa.Người vợ không chỉ chăm lo thuốc thang, cơm cháo cho chồng mà còn, người

vợ còn “vái ông trời” phù hộ cho chồng sống già đời với mình Điều này phảnánh mong muốn sự chung thủy vợ chồng như đồng hành theo năm tháng Nỗisầu cô đơn vừa hiện thực vừa trừu tượng:

Nàng ơi, đêm năm canh anh chẳng thấy gối, thấy đầu Tội cho hiền thê xây đầu về núi để nỗi sầu anh mang

Ngoài các hình thái nói trên, ca dao, tục ngữ Thừa Thiên - Huế còn baochứa lòng chung thủy của vợ chồng trong hôn nhân mà phần nhiều thiên về

nữ giới Người phụ nữ ngoài “tam cương ngũ thường”còn phải tuân thủ “tam

tòng, tứ đức”, âm thầm chịu đựng cảnh chăn đơn gối chiếc, giữ trọn tiết hạnh,

thủy chung với chồng khi chồng vì việc nước ra đi, hay vì công chuyện làm

ăn mà phải xa cách, đặc biệt là cảnh đi lính của người chồng Do lòng chungthủy với chồng, trong hoàn cảnh vợ chồng xa cách nhau, người phụ nữ phải

dè dặt, khắt khe trong mối quan hệ với nam giới:

Em đã ăn miếng trầu người

Đi ra không dám vui cười với ai

Vợ chồng chung thủy với nhau khi còn sống đã đành, lúc biệt ly, kẻ mấtngười còn không ít trường hợp vẫn chung thủy với người đã khuất Do bản

Trang 39

tính nữ giới và do sự ràng buộc “phu tử tòng tử” của đạo tam tòng, tình cảm

và lòng chung thủy của vợ đối với người chồng đã khuất không những daydứt, thâm trầm mà còn lắng đọng trong lòng người vợ Điều đó phản ánh mộtthảm kịch, một số phận ngang trái, một nỗi đau và một lòng trung trinh như

đã hiện hữu trong đời thường của người dân xứ Huế:

Chồng em sớm thác suối vàng

Em ở ri cho trọn đạo nghĩa khói nhang với chồng

Cùng với hạnh phúc của hôn nhân trong cảnh đời nghèo khổ, ca dao, tụcngữ Thừa Thiên - Huế còn đề cập đến cảnh vợ chồng gắn bó với nhau tronggiàu sang Điều đó có nghĩa là dù có danh vọng hay nghèo hèn thì tình cảm

vợ chồng cũng không bao giờ phai nhạt:

Đạo vợ chồng chớ đổi đừng thay May thì làm quan làm trạng, rủi có ăn mày cũng theo

Nhìn chung, đời sống hôn nhân, gia đình trong ca dao, Thừa Thiên - Huếmang nhiều sắc thái, trong đó phổ biến là vợ chồng thương yêu nhau, thủychung với nhau trong mọi hoàn cảnh Đây là đạo lý nhân văn trong truyềnthống văn hóa Việt Nam nói chung nhưng cũng là một đặc trưng tiêu biểuđược thể hiện trong ca dao, tục ngữ Thừa Thiên - Huế

Đời sống hôn nhân, gia đình không phải lúc nào cũng trong êm ngoài

ấm mà còn có cả những thăng trầm, trăn trở, lo lắng, nhất là những lúc chồngđau, vợ ốm, dễ dẫn đến vợ chồng không hòa thuận Bên cạnh đời sống hônnhân, gia đình hạnh phúc, ca dao, tục ngữ Thừa Thiên - Huế còn phản ánh sự

đổ vỡ của gia đình Tình trạng này xảy ra do nhiều nguyên nhân, tiêu biểu là

sự tha hóa của người chồng, và lòng không chung thủy của người chồng hoặcngười vợ Trong đời sống hôn nhân, để xây dựng hạnh phúc gia đình, vợchồng phải lo làm lụng, nhưng có những người chồng không lo làm ăn, màsay mê cờ bạc, dẫn đến khuynh gia bại sản, hôn nhân đổ vỡ:

Trang 40

Đêm nằm nghĩ lại mà coi Lấy chồng đánh bạc như voi phá nhà

Sống trong cảnh gia đình, có người chồng “thay lòng đổi dạ” chạy theoduyên mới, quên sự thủy chung thì người vợ phải chịu cảnh số phận long đong Quan niệm hàm chứa trong ca dao, tục ngữ Thừa Thiên - Huế liên quanđến gia đình là quyền gia trưởng của chế độ phụ hệ trong quan hệ vợ chồng.Người chồng có vai trò chủ đạo về kinh tế và văn hóa cho nên dù vợ chồng cóyêu thương yêu nhau như thế nào thì người vợ luôn luôn phục tùng chồng:

Con dại cái mang, chồng hoang vợ chịu

Với gia đình, họ hàng thì:

- Vợ chồng sống gởi nạc, thác gởi xương

- Con gái là con người ta, con dâu mới thật mẹ cha mua về

- Rể ăn ba đọi là rể thiệt thà, rể dựa cột nhà là rể thiên tinh

Hôn nhân, gia đình trong cộng đồng xã hội Thừa Thiên - Huế được phảnánh trong ca dao, tục ngữ với nhiều cung bậc và nhiều sắc thái khác nhau,nhưng trọng tâm của nó là vợ chồng thương yêu nhau và chung thủy vớinhau Đó là đức cao đẹp nhất của sự bền vững hạnh phúc hôn nhân gia đình

1.2.2.4 Về lao động sản xuất và các vấn đề khác của cuộc sống

Văn học dân gian nói chung và ca dao, tục ngữ Thừa Thiên - Huế nóiriêng đều xuất phát trực tiếp từ lao động rồi trực tiếp phục vụ cho sản xuất vàngười lao động Trong điều kiện khoa học kỹ thuật chưa phát triển, việc xemxét ảnh hưởng của tự nhiên, để rút ra những kinh nghiệm quý báu là một vấn

đề cần thiết trong sản xuất nông nghiệp Những kinh nghiệm đó có tính thốngnhất và đa dạng là kết quả của tinh thần lao động sáng tạo, chứng minh nguồngốc dân gian của khoa học trong lao động sản xuất Đa số những kinh nghiệm

về lao động sản xuất được đúc kết từ ca dao, tục ngữ Thừa Thiên - Huế có

Ngày đăng: 06/01/2014, 15:03

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Nguyễn Trọng Chuẩn và Nguyễn Văn Huyên (2002), Giá trị truyền thống trước những thách thức của toàn cầu hóa, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giá trị truyền thốngtrước những thách thức của toàn cầu hóa
Tác giả: Nguyễn Trọng Chuẩn và Nguyễn Văn Huyên
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2002
3. Lê Văn Chưởng (2010), Đặc khảo văn học dân gian Thừa Thiên Huế , Nxb Trẻ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đặc khảo văn học dân gian Thừa Thiên Huế
Tác giả: Lê Văn Chưởng
Nhà XB: Nxb Trẻ
Năm: 2010
4. Việt Chương (2007), Từ điển thành ngữ tục ngữ Việt Nam, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển thành ngữ tục ngữ Việt Nam
Tác giả: Việt Chương
Nhà XB: Nxb Chính trịQuốc gia
Năm: 2007
5. Nguyễn Nghĩa Dân (2000), Đạo làm người trong ca dao, tục ngữ Việt Nam, Nxb Thanh Niên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đạo làm người trong ca dao, tục ngữ ViệtNam
Tác giả: Nguyễn Nghĩa Dân
Nhà XB: Nxb Thanh Niên
Năm: 2000
6. Nguyễn Nghĩa Dân (2001), Lòng yêu nước trong văn học dân gian Việt Nam, Nxb Hội nhà văn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lòng yêu nước trong văn học dân gian ViệtNam
Tác giả: Nguyễn Nghĩa Dân
Nhà XB: Nxb Hội nhà văn
Năm: 2001
7. Chu Xuân Diên (1998), Tục ngữ Việt Nam, Nxb Khoa học và xã hội Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tục ngữ Việt Nam
Tác giả: Chu Xuân Diên
Nhà XB: Nxb Khoa học và xã hội Hà Nội
Năm: 1998
8. Chu Xuân Diên (2000), Văn hóa dân gian - Mấy vấn đề phương pháp luận và thể loại nghiên cứu, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa dân gian - Mấy vấn đề phương pháp luậnvà thể loại nghiên cứu
Tác giả: Chu Xuân Diên
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2000
9. Đảng Cộng Sản Việt Nam (1998), Văn kiện Hội nghị lần thứ 5 - Ban chấp hành Trung ương khóa VIII, Nxb Chính tri Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghị lần thứ 5 - Ban chấphành Trung ương khóa VIII
Tác giả: Đảng Cộng Sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính tri Quốc gia
Năm: 1998
10. Giáo trình triết học Mác - Lênin (2008), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình triết học Mác - Lênin
Tác giả: Giáo trình triết học Mác - Lênin
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2008
11. M. Gorki (1970), Bàn về văn học, tập 1, Nxb văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bàn về văn học
Tác giả: M. Gorki
Nhà XB: Nxb văn học
Năm: 1970
12. Lương Viên Hải (2008), “Văn hóa - triết lý và triết học”, Tạp chí triết học, số 10, tr.17 - 23 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa - triết lý và triết học”, Tạp chí "triếthọc
Tác giả: Lương Viên Hải
Năm: 2008
13. Đào Thanh Hải (2004), Hệ thống các văn bản hướng dẫn và chỉ đạo về công tác tư tưởng - văn hóa trong tình hình mới, Nxb Văn hóa thông tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hệ thống các văn bản hướng dẫn và chỉ đạo vềcông tác tư tưởng - văn hóa trong tình hình mới
Tác giả: Đào Thanh Hải
Nhà XB: Nxb Văn hóa thông tin
Năm: 2004
14. Phạm Thị Thúy Hằng (2005), Những tư tưởng triết học trong truyện kể dân gian Việt Nam, luận văn cao học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những tư tưởng triết học trong truyện kểdân gian Việt Nam
Tác giả: Phạm Thị Thúy Hằng
Năm: 2005
15. Nguyễn Hùng Hậu (2004), Triết lý văn hóa Phương Đông, Nxb Đại học Sư Phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Triết lý văn hóa Phương Đông
Tác giả: Nguyễn Hùng Hậu
Nhà XB: Nxb Đại họcSư Phạm
Năm: 2004
16. Đỗ Lan Hiền (2005), “Những nét độc đáo trong tư duy người Việt qua văn học dân gian”, tạp chí Triết học, số 6 (169), tr.23 - 27 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những nét độc đáo trong tư duy người Việt quavăn học dân gian”, tạp chí "Triết học
Tác giả: Đỗ Lan Hiền
Năm: 2005
17. Trần Hoàng (1998), Ca dao, dân ca Bình Trị Thiên, Nxb Thuận Hóa, Huế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ca dao, dân ca Bình Trị Thiên
Tác giả: Trần Hoàng
Nhà XB: Nxb Thuận Hóa
Năm: 1998
18. Trần Hoàng (2005), Giáo trình văn học dân gian Việt Nam, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Giáo trình văn học dân gian Việt Nam
Tác giả: Trần Hoàng
Nhà XB: Nxb Giáodục
Năm: 2005
19. Lương Thị Lan Huệ (2004), Một số vấn đề Triết học qua ca dao, tục ngữ Việt Nam, luận văn cao học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề Triết học qua ca dao, tục ngữViệt Nam
Tác giả: Lương Thị Lan Huệ
Năm: 2004
20. Phúc Khánh (1961), Thử tìm hiểu những yếu tố tư tưởng triết học trong thần thoại Việt Nam. Luận văn cao học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thử tìm hiểu những yếu tố tư tưởng triết học trongthần thoại Việt Nam
Tác giả: Phúc Khánh
Năm: 1961
21. Đinh Gia Khánh, Chu Xuân Diên, Võ Quang Nhơn (2002), Văn học dân gian Việt Nam, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học dân gianViệt Nam
Tác giả: Đinh Gia Khánh, Chu Xuân Diên, Võ Quang Nhơn
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2002

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w