1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Một số môtip thời gian trong ca dao người việt

54 602 7
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Một số môtip thời gian trong ca dao người Việt
Tác giả Lê Thị Thuý Hiền
Người hướng dẫn Thạc sỹ Hoàng Minh Đạo
Trường học Universidad Quốc Gia Hà Nội
Chuyên ngành Ngữ Văn
Thể loại Khoá luận tốt nghiệp đại học
Năm xuất bản 2005
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 54
Dung lượng 184 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong công trình "Những thế giới nghệ thuật ca dao", ở phần "Đặc điểm và hình thức kết cấu của thơ ca truyền thống dân gian Việt Nam"[22;tr29-32], Phạm Thu Yến nhận xét rằng sử dụng đậm

Trang 1

Lời cảm ơn

Xin chân thành cảm ơn thầy giáo - thạc sỹ Hoàng Minh Đạo và các thầy cô giáo trong tổ Văn học Việt Nam 1 đã hớng dẫn, chỉ bảo tận tình giúp chúng tôi thực hiện khoá luận này.

Để hoàn thành tốt khoá luận, ngời viết đã nỗ lực, cố gắng rất nhiều Nhng, do sự hạn chế về trình độ, sự hạn hẹp về thời gian, sự khó khăn về tài liệu nên khoá luận này không tránh khỏi thiếu sót Vì vậy, tác giả khoá luận rất mong nhận đợc sự quan tâm góp ý của quý thầy cô và các bạn.

Vinh, ngày 28 tháng 4 năm 2005 Sinh viên: Lê Thị Thuý Hiền

Mục LụC

Mởđầu 1

Chơng1 :Một số vấn đề chung 9

1.1.Giớithuyết về các khái niệm 9

1.1.1 Khái niệm "Môtip" và "Môtip thời gian"

1.1.2 Khái niệm "Thời gian nghệ thuật"

Trang 2

1.2 Một số môtip thời gian trong ca dao ngời Việt

Chơng 2: Môtip "Chiều chiều" và môtip "Ra về" trong

ca dao ngời Việt 19

2.1 Môtip thời gian "Chiều chiều"

3.1.1 Đặt trong tơng quan với thời gian diễn xớng, thời gian quá khứ

44 trong môtip "Đêm qua" là thời gian quá khứ gần

3.1.2 Môtip thời gian "Đêm qua" với sự biểu đạt tâm trạng nhân vật trữ tình

Trang 3

có xao xuyến băn khoăn, có yêu đơng tha thiết, có nhớ nhung mong ớc, có luluyến bâng khuâng lẫn oán trách, giận hờn, mỉa mai, căm phẫn và cả nỗi thơngthân tủi phận, than thở buồn rầu, lo âu phiền não , tất cả đều rất gần gũi với

đời sống tình cảm của mỗi chúng ta Chúng ta yêu quý, gìn giữ ca dao bởi đó

là di sản tinh thần, là kho báu của quần chúng, là tấm gơng soi rọi tâm hồnquần chúng và hơn thế, ca dao là dòng sữa ngọt ngào nuôi dỡng tâm hồn mỗicon ngời

Đã là ngời Việt Nam, ai cũng có thể dễ dàng hát lên những lời ca daomột cách tự nhiên nh thể chúng đợc phát ra từ chính trái tim mình.Với chúngtôi, ca dao không chỉ là một phơng tiện bộc lộ tình cảm, một nguồn suối trongtắm mát tâm hồn mà còn là một đối tợng, một thế giới nghệ thuật cần đợc

Trang 4

khám phá Đây là một trong những lý do thôi thúc chúng tôi tìm hiểu "Một số

môtip thời gian trong ca dao ngời Việt".

1.2 Nhà thơ Chế Lan Viên đã khẳng định:"Ca dao cũng là thơ, một loại

thơ riêng biệt" Chúng tôi hoàn toàn đồng ý với kết luận này."Ca dao cũng là thơ", có nghĩa là nó mang đầy đủ các đặc điểm của thơ, nhng đây là "một loại thơ riêng biệt" vì ca dao có những đặc trng riêng Ca dao đợc sáng tác không

phải để đọc mà là để hát Phơng thức sáng tác và lu truyền bằng miệng cùngvới hình thức tồn tại gắn với sinh hoạt tập thể thông qua diễn xớng đã làm nảysinh tính lặp lại trong ca dao Hệ quả trực tiếp của tính lặp lại này là việc xuất

hiện các môtip nghệ thuật, trong đó có môtip thời gian.Tìm hiểu "Một số

môtip thời gian trong ca dao ngời Việt" là một cách để chúng tôi làm rõ hơn

đặc trng bản chất của ca dao Đây là cơ sở lý luận để chúng tôi lựa chọn đề tàinày

1.3 Hiện nay, các thành tựu nghiên cứu về văn học dân gian nói chung,

về ca dao nói riêng đã đạt đợc những kết quả to lớn Đặc biệt, khi ngành thipháp học phát triển và đợc vận dụng vào nghiên cứu văn học dân gian thì hầuhết các vấn đề, các phơng diện trong đó đều ít nhiều đợc đề cập đến Riêng với

ca dao, các nhà nghiên cứu trong rất nhiều công trình lớn nhỏ đã khám phá vàphát hiện vẻ đẹp muôn màu muôn vẻ của nó, giúp chúng ta có cái nhìn khátoàn diện về thế giới nghệ thuật này Các khía cạnh, các vấn đề chung nhất của

ca dao đợc nghiên cứu kỹ lỡng chính là cơ sở định hớng để ta đi sâu tìm hiểunhững lĩnh vực cụ thể mà do nhiều nguyên nhân khác nhau, chúng cha đợcquan tâm đúng mức hoặc đã đợc nhắc đến nhng cha có điều kiện phân tích, lýgiải Môtip thời gian trong ca dao là một vấn đề nh thế và những ngời tâmhuyết với ca dao có thể lu tâm khám phá Khi lựa chọn đề tài này, chúng tôimong muốn sẽ góp một phần nhỏ bé vào thành quả nghiên cứu chung về cadao

1.4 Một lý do nữa khiến chúng tôi lựa chọn đề tài "Một số môtip thời

gian trong ca dao ngời Việt" là quy mô của đề tài này vừa phải, phù hợp với

khuôn khổ một khoá luận tốt nghiệp.Tất nhiên, nói nh thế không có nghĩachúng tôi coi nhẹ vai trò, ý nghĩa khoa học của nó

Nh vậy, việc lựa chọn đề tài "Một số môtip thời gian trong ca dao ngời

Việt" hoàn toàn phù hợp với cơ sở lý luận và cơ sở thực tế do đó, chúng tôi

quyết định tìm hiểu về vấn đề này

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Trang 5

2.1 Mục đích.

Nội dung đề tài là nghiên cứu một số môtip thời gian cụ thể trong ca daongời Việt Mục đích của chúng tôi là qua việc phân tích, lý giải những vấn đềliên quan đến các môtip thời gian này sẽ chứng minh đợc quan điểm về thờigian nghệ thuật trong ca dao; sẽ góp phần làm rõ thêm đặc trng, tính chất củakhái niệm môtip, khái niệm thời gian nghệ thuật

Trong thế giới nghệ thuật ca dao, hiện tợng trùng lặp rất phổ biến và là

một đặc điểm dễ nhận thấy Các môtip nghệ thuật là "sản phẩm" của hiện tợng

này Điều đó đến nay đã đợc các nhà nghiên cứu ca dao thừa nhận và khẳng

định trong các công trình lớn nhỏ ở bài viết "Những yếu tố trùng lặp trong

ca dao trữ tình", Đặng Văn Lung nhận xét "trong văn học dân gian, những

yếu tố trùng lặp chiếm một tỉ lệ lớn và có vai trò quan trọng"[11;tr66], và theo

ông,"có thể bắt đầu từ những yếu tố trùng lặp ở trong ca dao mà tìm hiểu đợc

phần nào cái mà chúng ta gọi là "chất ca dao", tức là ông đã nhận thấy vai trò

đặc biệt của các yếu tố trùng lặp trong việc tìm hiểu đặc trng ca dao Đặng

Văn Lung cũng lý giải "thuật ngữ trùng lặp ở đây hoàn toàn không có nghĩa

xấu của chữ "lặp lại"(lặp lại một cách đơn giản, máy móc) mà trái lại để chỉ những nét đã định hình, đã là truyền thống của ca dao" [11;tr67] Không

những thế, ông còn liệt kê một số hiện tợng trùng lặp trên các cấp độ: hình

ảnh, kết cấu, ngôn ngữ, từ đó lý giải nguyên nhân dẫn đến hiện tợng này Đâytuy cha phải là một công trình quy mô nhng có ý nghĩa quan trọng Nó là mộtbài viết mang tính phát hiện và có tính gợi mở cao Sau này, trong công trình

"Ca dao trữ tình chọn lọc" viết chung với Lữ Huy Nguyên, Trần Thị An, ở lời

mở đầu, Đặng Văn Lung một lần nữa nhắc lại có bổ sung về những điều đãkhẳng định trong bài viết trên Nhà nghiên cứu ca dao Phan Đăng Nhật ở bài

"Phơng pháp hệ thống và việc nghiên cứu giảng dạy ca dao" xem môtip là

một hiện tợng tiêu biểu của ca dao [14;tr145] Ông đề ra phơng thức nghiên

Trang 6

cứu các môtip trong tổng thể kho tàng ca dao dân tộc, lấy môtip "Chiều chiều"

và môtip "Con thuyền" làm ví dụ Bài viết này cũng đem lại một hớng tiếp cận

mới trong việc nghiên cứu ca dao Năm 1991, trong bài viết "Tính lặp lại

trong văn học dân gian và vấn đề tập cổ trong văn học viết", tác giả Lã

Nhâm Thìn khi đề cập đến tính lặp lại đã khẳng định "Tính lặp lại tạo nên

những môtip nghệ thuật trong văn học dân gian"[19;tr39] Theo ông, "môtip hoá mọi phơng diện của chỉnh thể nghệ thuật là con đờng tồn tại và phát triển của văn học dân gian"[19;tr39] Thuật ngữ "Môtip" cũng đợc nhắc đến trong

mục "Ca dao" thuộc "Từ điển văn học Việt Nam": "Trong vốn ca dao cổ

truyền đã hình thành những môtip thơ ca đặc trng trên cơ sở những kinh nghiệm sống, quan niệm sống đặc trng của dân tộc"[1;tr47] Bùi Mạnh Nhị

trong bài viết "Công thức truyền thống và đặc trng cấu trúc của ca dao-dân

ca trữ tình" có ý kiến tơng tự :"Công thức folklore là sự chọn lọc, kết tinh và

điển hình hoá kinh nghiệm văn hoá, nghệ thuật truyền thống, thể hiện quan

điểm mĩ học của nhân dân"[13;tr23] Ông coi công thức truyền thống là "chìa khoá mở bí mật đặc trng cấu trúc của bai ca trữ tình dân gian"[1;tr22] Trong

công trình "Những thế giới nghệ thuật ca dao", ở phần "Đặc điểm và hình

thức kết cấu của thơ ca truyền thống dân gian Việt Nam"[22;tr29-32], Phạm

Thu Yến nhận xét rằng sử dụng đậm đặc các công thức truyền thống là một

trong những đặc điểm kết cấu của ca dao.Tác giả định nghĩa:"Công thức

truyền thống là các mẫu đề có tính chất ổn định, đợc sử dụng lặp đi lặp lại tạo nên cách nói quen thuộc, thành một "kho" môtip phong phú, đọng sâu trong lối diễn tả dân gian tạo nên sự giàu có về số lợng và vẻ đẹp thẩm mĩ riêng biệt

ở thơ ca trữ tình dân gian"; đặc điểm này "tạo ra sự nảy sinh không giới hạn các dị bản văn học dân gian và điều quan trọng hơn là chúng thể hiện lối nói, lối nghĩ, lối cảm của quần chúng nhân dân, bảo lu trong thơ ca trữ tình dân gian hệ thống quan niệm thẩm mĩ dân gian sâu sắc"[22;tr30] Hoàng Tiến Tựu

khi nghiên cứu về kết cấu của ca dao cũng viết:"do điều kiện truyền miệng và

nhu cầu ứng tác, nhân dân thờng sử dụng những khuôn, dạng có sẵn tạo nên những đơn vị tác phẩm"[20;tr225] thừa nhận sự có mặt của các môtip nghệ

thuật trong ca dao

Tuy diễn đạt không giống nhau nhng các tác giả đều nắm chắc và nêubật đợc những đặc điểm cơ bản của môtip nghệ thuật cũng nh vai trò của nó

trong kết cấu lời ca dao Các tên gọi: "công thức truyền thống", "yếu tố trùng

Trang 7

lặp", "môtip", "mẫu đề", "khuôn", "dạng" tuy khác nhau về hình thức ngôn

ngữ nhng cùng chỉ một đối tợng.Và chúng tôi gọi đó là môtip

Trên đây là một số công trình, bài viết tiêu biểu đề cập đến khái niệmmôtip nghệ thuật trong ca dao.Tuy nhiên, đó mới chỉ là những kết luận chungmang tính khái quát cho tất cả các loại môtip Còn việc đi sâu tìm hiểu nhữngmôtip cụ thể thì hầu nh cha đợc thực hiện Môtip thời gian là một loại môtip đ-

ợc sử dụng phổ biến trong các sáng tác trữ tình của nhân dân lao động.Vềthuật ngữ này, có một vài công trình đã nhắc đến Nguyễn Xuân Kính trong

cuốn "Thi pháp ca dao", ở phần "Thời gian và không gian nghệ thuật" đã đa

ra mục "Các công thức miêu tả thời gian" và khẳng định:"tính chất công

thức, ớc lệ là đặc điểm nổi bật trong việc tác giả dân gian miêu tả thời gian"[9;tr171].Sau đó, ông liệt kê một loạt các công thức miêu tả thời gian nh

"đêm khuya", "chiều chiều","đêm qua","bây giờ","ngày ngày" Đặc biệt,

Nguyễn Xuân Kính chỉ ra rằng các công thức miêu tả thời gian "luôn luôn làm

trạng ngữ, thờng đứng ở vị trí mở đầu tác phẩm"[9;tr172] Đó là những định

h-ớng đúng đắn để chúng tôi tìm hiểu một số môtip thời gian trong ca dao Phạm

Thu Yến trong "Những thế giới nghệ thuật ca dao "cũng chú ý tới "Một số

công thức miêu tả thời gian" và phân chia chúng thành nhiều loại: công thức

chỉ thời điểm (chiều chiều, đêm qua ); công thức thời gian chỉ các trạng tháitình cảm thay đổi (khi xa - bây giờ ); thời gian là phơng tiện biểu hiện lời thềnguyền, hẹn ớc hoặc lời đùa vui đố hỏi (bao giờ, khi nào ) Bùi Mạnh Nhị

trong bài "Công thức truyền thống và đặc trng cấu trúc của ca dao-dân ca

trữ tình" viết:"công thức folklore đa dạng về hình thái dung lợng, nội dung ý

nghĩa Công thức có thể là một từ, nhóm từ, dòng thơ hoặc nhóm dòng thơ Có công thức thời gian,không gian "[13;tr23] Các tác giả trên đều công nhận sự

tồn tại của môtip thời gian trong ca dao nhng họ mới đa ra một số nhận xétkhái quát chứ cha đi sâu nghiên cứu về loại môtip này.Vì thế, việc tìm hiểu

"Một số môtip thời gian trong ca dao ngời Việt" của chúng tôi không nằm

ngoài mục đích góp phần khám phá sâu hơn về thụât ngữ "môtip thời gian"

trên cơ sở những định hớng của các nhà nghiên cứu đi trớc

4 Đối tợng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tợng nghiên cứu.

Trong kho tàng ca dao Việt Nam, các môtip thời gian xuất hiện với tần

số lớn Do khuôn khổ khoá luận, chúng tôi chỉ đề cập đến một số môtip tiêubiểu.Thêm nữa, để có thể có cái nhìn tổng quát về thời gian nghệ thuật trong

Trang 8

ca dao, chúng tôi sẽ lựa chọn những môtip biểu hiện các chiều thời gian khácnhau: hiện tại, quá khứ, tơng lai Sau khi xem xét, chúng tôi quyết định chọn

bốn môtip thời gian làm đối tợng nghiên cứu, đó là: "chiều chiều", "ra về",

"đêm qua" và "bao giờ", là nhữmg môtip thời gian phù hợp với ý đồ nghiên

cứu của khoá luận

4.2 Phạm vi nghiên cứu.

Có rất nhiều công trình su tầm, biên soạn về ca dao Việt Nam của cácnhà nghiên cứu văn học dân gian có uy tín nh Đinh Gia Khánh,Vũ Ngọc Phan,Ninh Viết Giao, Nguyễn Văn Ngọc, Nguyễn Xuân Kính Chúng tôi chọn

công trình "Kho tàng ca dao ngời Việt"(2 tập) do Nguyễn Xuân Kính, Phan

Đăng Nhật chủ biên (tái bản có bổ sung sửa chữa, Nxb Văn hoá thông tin,

H,2001) làm t liệu chính để khảo sát, thống kê Đây là một công trình lớn đợcthực hiện trong 20 năm (từ 1974 đến cuối1994) Dung lợng của nó tơng đơngvới số liệu về ca dao của tất cả 40 cuốn sách (gồm 49 tập) đợc biên soạn từcuối thế kỷ XVIII đến năm 1975 Công trình này đã tập hợp đợc 12.487 đơn vị

ca dao Có thể nói, đây là công trình bao quát tơng đối đầy đủ và toàn diện vềkho tàng ca dao ngời Việt

Về hình thức trình bày, Nguyễn Xuân Kính, Phan Đăng Nhật sắp xếpcác đơn vị ca dao theo trật tự chữ cái của tiếng đầu và đánh số thứ tự trớc mỗi

đơn vị, sau đó lập bảng tra cứu ca dao theo chủ đề dựa vào chữ cái đầu và sốthứ tự đó.Vì thế, việc khảo sát, thống kê các môtip thời gian của chúng tôikhông gặp khó khăn và đảm bảo đợc sự chính xác, đầy đủ về số liệu

5 Phơng pháp nghiên cứu.

Để tiến hành nghiên cứu đề tài, chúng tôi sử dụng kết hợp nhiều phơngpháp, đặc biệt chú trọng các phơng pháp nghiên cứu theo hớng tiếp cận thipháp học Có thể kể ra một số phơng pháp nh sau:

5.1 Phơng pháp khảo sát, thống kê: khảo sát những lời ca dao chứa

các môtip thời gian đã chọn trong số 12.487 lời ca dao thuộc "Kho tàng ca daongời Việt", từ đó thống kê làm căn cứ để rút ra nhận xét chung

5.2 Phơng pháp hệ thống: xem xét đối tợng trong hệ thống.

5.3 Phơng pháp so sánh - đối chiếu: so sánh các môtip với nhau, so

sánh các môtip thời gian với các môtip khác để thấy đợc sự biểu hiện thờigian nghệ thuật cũng nh sự biểu đạt nội dung trữ tình riêng biệt của từngmôtip

Trang 9

5.4 Ph¬ng ph¸p lo¹i h×nh häc: ph¬ng ph¸p nhËn thøc c¸c m«tip thêi

gian th«ng qua viÖc kh¸m ph¸ c¸c yÕu tè cÊu thµnh còng nh nh÷ng mèi liªn hÖbiÖn chøng gi÷a chóng trong chØnh thÓ

6 CÊu tróc kho¸ luËn

Ngoµi phÇn "Më ®Çu" vµ "KÕt luËn", kho¸ luËn cña chóng t«i gåm cã

Trang 10

Chơng 1 : Một số vấn đề chung.

1.1 Giới thuyết về các khái niệm

1.1.1 Khái niệm "Môtip" và "Môtip thời gian".

Môtip là một thuật ngữ vay mợn từ tiếng Pháp ( motif), nó tơng đơng với

từ "mẫu đề" trong tiếng Hán hay những từ nh :"kiểu, dạng, khuôn" trong tiếng

Việt Về thuật ngữ này, có khá nhiều tài liệu, nhất là tài liệu nghiên cứu thi

pháp học và văn học dân gian đã đề cập đến."Từ điển thuật ngữ văn học"

định nghĩa:"Môtip nhằm chỉ những thành tố, những bộ phận lớn hoặc nhỏ đã

đợc hình thành ổn định bền vững và đợc sử dụng nhiều lần trong các sáng tác

văn học nghệ thuật"[6;tr168] Trong "Thi pháp học lịch sử " của

A.N.Vêxêlôpxki (Dẫn theo:"Dẫn luận thi pháp học"), khái niệm "Môtip" đợc

hiểu "là những công thức trả lời cho các vấn đề mà giới tự nhiên đặt cho con

ngời từ những thuở nguyên sơ, khắp mọi nơi hoặc là những ấn tợng về hiện thực đợc đúc kết nổi bật, hoặc tỏ ra quan trọng và đợc lặp đi lặp lại"[17;

định trong tác phẩm Chúng đợc hình thành trong quá trình sáng tác, khi mộtyếu tố nào đó đợc các nhà văn khác nhau, các thời đại khác nhau, các cộng

đồng khác nhau cùng sử dụng trong tác phẩm của mình Mà khi đã trở thànhkiểu dạng cố định thì dĩ nhiên nó mang tính bền vững.Tính bền vững củamôtip không chỉ thể hiện trên bề mặt hình thức mà còn thể hiện ở ý nghĩa mà

nó biểu đạt.Ví dụ: môtip "chàng trai, cô gái mồ côi nghèo nhng tốt bụng" gợi ý nghĩa "ở hiền gặp lành"; môtip "Bụt, Tiên xuất hiện" mang ý nghĩa "cứu khốn

phò nguy"; môtip "vầng trăng" mang ý nghĩa "chứng nhân" Đặc trng thứ hai

của môtip là tính lặp lại Một yếu tố, một bộ phận nào đó của tác phẩm chỉ đợcgọi là môtip khi nó xuất hiện trở đi trở lại trong sáng tác văn học Nói nh vậykhông có nghĩa là bất cứ yếu tố nào lặp lại nhiều lần trong các tác phẩm cũngtrở thành môtip Một ngời đàn ông bình thờng yêu một phụ nữ không phải là

môtip nhng một ngời đàn ông dị dạng nh Quadimôđô (Nhà thờ Đức Bà Pari Vichto Huygô) hay biến dạng nh Chí Phèo (Chí Phèo - Nam Cao) yêu thì đó

-chính là môtip Những yếu tố, những bộ phận trùng lặp muốn trở thành môtip

Trang 11

thì chúng phải có một cái gì đó làm cho ngời ta nhớ, chúng khác với cái chungchung, khác với cái thông thờng, tức là phải có giá trị nghệ thuật, có hiệu quảthẩm mĩ nhất định trong việc chuyển tải nội dung t tởng Có nh vậy, chúng mớitạo đợc cho ngời tiếp nhận những ấn tợng thích thú, mới in sâu trong trí nhớcủa họ và đợc sử dụng để sáng tác văn chơng.

Tính bền vững, ổn định và tính lặp lại của môtip thực chất là hệ quả củanhau Một thành tố nào đó của tác phẩm phải đợc sử dụng lặp đi lặp lại mới cóthể trở thành khuôn mẫu, công thức và ngợc lại, khi nó đã định hình nh một

"cái khuôn" chung thì sẽ đợc dùng nhiều trong sáng tác Chính nhờ những đặc

trng đó của môtip mà khi nghiên cứu về khái niệm này ta có thể thấy đợc sợidây liên hệ giữa nền văn học này với nền văn học khác, thời đại văn học nàyvới thời đại văn học khác và giữa nhà văn này với nhà văn khác, từ đó, ta thấy

đợc nét chung về văn hoá, về t duy, về tình cảm của các cộng đồng ngời khácnhau, các thời đại khác nhau

Môtip là một khái niệm thuộc về phơng diện hình thức của tác phẩmnghệ thuật, nghĩa là ta có thể dễ dàng nhận thấy chúng trên bề mặt kết cấu tácphẩm Lẽ dĩ nhiên, môtip cũng nh các dấu hiệu làm nên mặt hình thức tácphẩm đều có vai trò chuyển tải nội dung t tởng Hình thức bao giờ cũng có haimặt : mặt cụ thể cảm tính và mặt quan niệm Mặt cụ thể cảm tính thể hiện ởnhững hình ảnh, chi tiết cụ thể sinh động gắn liền với nội dung phản ánh củatác phẩm Còn mặt quan niệm lại đợc bộc lộ rõ trong hệ thống mà trớc hết làbiểu hiện rõ ở tính lặp lại của các yếu tố trong đó Xét về mặt tác phẩm vănhọc nh một giá trị nghệ thuật độc đáo thì nó là sáng tạo không lặp lại, nhng xét

về mặt các quy luật hình thức làm cơ sở cho sáng tạo đó thì lặp lại là một điều

tất yếu, bởi có nh vậy hình thức nghệ thuật mới trở thành "cầu nối" giữa các

thời đại, các thế hệ độc giả Môtip nghệ thuật chính là một trong những biểuhiện cụ thể của tính lặp lại đó Khi nghiên cứu văn học, đặc biệt văn học dângian, chúng ta không thể không chú ý đến khái niệm này

Trong văn học nghệ thuật, bộ phận văn học dân gian với những đặc trng

về phơng thức sáng tác và phơng thức lu truyền chính là "mảnh đất" tốt để các

môtip sản sinh và tồn tại lâu bền nhất Lĩnh vực mà môtip đợc nghiên cứu khá

kĩ lỡng là các truyện kể dân gian nh thần thoại, truyền thuyết, cổ tích Ngời ta

đã lập ra một hệ thống môtip trong truyện kể dân gian Những môtip nh:"Dũng

sĩ - ngời đẹp - ác quỷ", "mụ dì ghẻ độc ác","ngời đội lốt","con vật biết nói" đã

trở nên quen thuộc trong truyện kể dân gian của dân tộc

Trang 12

ở thể loại ca dao, tuy khái niệm môtip cha đợc chú ý nhiều nhng sự thực

nó vẫn tồn tại với t cách là bộ phận, yếu tố cấu thành các đơn vị ca dao, gắnvới các đặc điểm của ca dao Hầu hết các tài liệu nghiên cứu về ca dao đềuthống nhất ca dao chính là phần lời của dân ca, nó đợc sinh ra, tồn tại, lutruyền và biến đổi thông qua hình thức sinh hoạt dân ca, nói cách khác, nó gắn

liền với môi trờng diễn xớng.Trong môi trờng đó, hoạt động "sáng tác" và

"biểu diễn" ca dao đợc thực hiện đồng thời, đòi hỏi tác giả dân gian phải có

khả năng cảm hứng và ứng khẩu nhanh Để làm đợc nh vậy, ngời hát cần trang

bị sẵn một vốn văn liệu truyền thống để khi cần thiết có thể "lắp ghép" kịp thời

thành những lời ca Mặt khác, ca dao đợc lu truyền bằng miệng, muốn thuộc,muốn sáng tạo trong điều kiện không có văn bản viết thì cách tốt nhất là dùngcác môtip có sẵn.Với cách sáng tác và lu truyền nh vậy, trong ca dao xuất hiệndày đặc các yếu tố trùng lặp Các yếu tố này không phải lặp lại một cách ngẫunhiên, máy móc, giản đơn mà thực sự là những tín hiệu nghệ thuật có giá trịthẩm mĩ, có hiệu quả biểu đạt riêng Chúng lập thành hệ thống với những quyluật nhất định.Vì thế mà ta nói môtip là một hiện tợng có quy luật Nguyên dosâu xa và quan trọng hơn của việc hình thành môtip nghệ thuật trong ca daochính là nhu cầu bộc lộ tình cảm của nhân dân lao động Sống gần gũi nhau,

cùng lao động, cùng sinh hoạt gần nh "khép kín" sau luỹ tre làng, tâm t tình

cảm của ngời dân dễ có những nét tơng đồng.Thêm vào đó, những hình ảnhquen thuộc của thiên nhiên, của làng quê, của cuộc sống lao động , sinh hoạthàng ngàyđã khắc sâu vào tâm hồn họ Chính vì vậy, khi dùng những lời cadao để bộc lộ tâm t, ớc nguyện của mình, họ thờng mợn những hình ảnh gầngũi nhất của cuộc sống để gửi gắm Điều này khiến cho hình thức của ca dao

có những yếu tố lặp đi lặp lại Có thể nói, việc hình thành các môtip nghệ thuật

là một đặc điểm quan trọng, một sắc thái thẩm mĩ của ca dao

Các loại môtip trong văn chơng nói chung rất phong phú, đa dạng Cómôtip cốt truyện, tình huống, nhân vật, hành động; có môtip không gian, thờigian ở đây, chúng tôi quan tâm đến loại môtip thời gian Hiểu một cách kháiquát, đó là những yếu tố chỉ thời gian đợc lặp đi lặp lại trở thành khuôn mẫu cố

định trong các tác phẩm nghệ thuật Chúng cũng là yếu tố hình thức góp phầncấu trúc tác phẩm thành một chỉnh thể nghệ thuật nhằm chuyển tải nội dung ttởng, tình cảm mà tác giả gửi gắm.Trong ca dao, việc miêu tả thời gian mangtính công thức và lặp đi lặp lại là một đặc điểm nổi bật Các từ ngữ

Trang 13

chỉ thời gian nh : "chiều chiều", "hôm nay", "bao giờ", "đêm qua" đợc sử

dụng thờng xuyên và phổ biến trong các đơn vị ca dao tạo thành những môtipquen thuộc Ngoài ra, có những từ ngữ vốn không phải là từ chỉ thời gian nh

"ra về" cũng đợc sử dụng nh những môtip thời gian Các môtip thời gian thờng

đứng ở vị trí mở đầu lời ca dao, luôn luôn đảm nhận vai trò trạng ngữ Chúng

trở thành những cái "khuôn" có sẵn để tác giả dân gian ứng tác ca dao.

Môtip thời gian là một phơng diện của thời gian nghệ thuật Do đó, khi

tìm hiểu về thuật ngữ này, ta phải gắn nó với khái niệm "thời gian nghệ thuật".

1.1.2 Khái niệm "Thời gian nghệ thuật".

Triết học xem thời gian (cùng với không gian) là hình thức tồn tại củavật chất Không một vật chất nào có thể tồn tại ngoài thời gian Cuộc sốngvàmọi hoạt động của con ngời đều gắn với thời gian Nghệ thuật là một dạng tồntại đặc thù, nó cũng có thời gian riêng.Tác phẩm nghệ thuật từ khâu sáng tác,xuất bản đến khâu lu hành không thể tách rời thời gian Thời gian ta đang nói

đến đó là thời gian vật chất, thời gian khách quan, nó cha phải là thời giannghệ thuật Còn thời gian nghệ thuật là thời gian gắn liền với tác phẩm nghệ

thuật, tồn tại trong tác phẩm nghệ thuật, là "hình thức nội tại của hình tợng

nghệ thuật"[6; tr264].Thời gian nghệ thuật có một "khoảng cách" với thời gian

vật chất, có thể gọi đó là khoảng cách nghệ thuật.Tức là, nghệ thuật phản ánh

đời sống theo một phơng thức riêng đặc thù, cuộc sống đi vào sáng tác đã đợckhúc xạ bởi cái nhìn, bởi quan niệm của nhà văn về nó.Thời gian khách quankhi vào tác phẩm nghệ thuật cũng đã đợc khúc xạ.Vì thế, thời gian nghệ thuật

mang những đặc điểm riêng Đó là thời gian mang tính quan niệm,"là thời

gian mà ta có thể thể nghiệm đợc trong tác phẩm nghệ thuật với độ dài của nó, với nhịp độ nhanh hay chậm, với chiều thời gian là hiện tại, quá khứ hay tơng lai"[17; tr62] Mà đã "thể nghiệm" đợc thì "thời gian nghệ thuật có thể đảo ng-

ợc, quay về quá khứ, có thể bay vợt tới tơng lai, có thể dồn nén một khoảng thời gian trong phút chốc, lại có thể kéo dài cái chốc lát thành vô tận"[6;tr265] theo quan niệm, theo trạng thái cảm xúc của tác giả Nhờ thế mà

ta lý giải đợc những câu nh: "Đời ngời nh bóng câu qua cửa sổ","Ba thu

dọn lại một ngày dài ghê"

Thời gian nghệ thuật trong văn học không chỉ là thời gian mang tínhquan niệm mà còn là một hình tợng nghệ thuật, là sản phẩm sáng tạo của tácgiả bằng các phơng tiện nghệ thuật Nó thờng không hiện diện trực tiếp trên bềmặt câu chữ mà thông qua các hiện tợng đời sống lặp đi lặp lại một cách có ý

Trang 14

thức nh: sự sống, cái chết, sự gặp gỡ, chia li, sự chuyển mùa Tất cả tạo nênnhịp điệu thời gian trong tác phẩm, đòi hỏi ngời tiếp nhận phải cảm thụ, liên t-ởng thì mới thấy đợc.Sự miêu tả thời gian trong văn học thờng gắn với nhữngtrạng thái tình cảm của con ngời nh sự hồi hộp đợi chờ, sự thanh thản vô t, sựngỡ ngàng hụt hẫng, sự nhớ nhung sầu tủi Vì thế mà thời gian nghệ thuậtkhông giản đơn là cái dung chứa các quá trình đời sống mà là một yếu tố nội

dung tích cực, "một kẻ tham gia độc lập vào hành động nghệ thuật", "là những

phơng tiện hữu hiệu nhất để tổ chức nội dung của nghệ thuật"[17;tr63]

Văn học dân gian với t cách là một bộ phận của nền văn học dân tộckhông thể tách rời hoạt động chung của văn học nghệ thuật trong việc chiếmlĩnh và phản ánh thời gian Có nghĩa là, thời gian trong các sáng tác dân giancũng mang tính quan niệm, cũng là một phơng tiện nghệ thuật chuyển tải nộidung Nhng văn học dân gian lại có phơng thức sáng tác và lu truyền đặc thùnên thời gian nghệ thuật trong đó mang những đặc trng riêng.Ví dụ: thời giantrong thần thoại là thời gian quá khứ khởi nguyên (Xa kia, khi trời đất còn làmột cõi hỗn mang ); trong truyền thuyết là thời gian quá khứ xác định (ThờiHùng Vơng thứ 18 ); trong cổ tích là thời gian quá khứ vô định (Ngày xửa

ngày xa ); trong sử thi là thời gian "quá khứ tuyệt đối" Do khuôn khổ khoá

luận, chúng tôi không có điều kiện khám phá thời gian nghệ thuật ở tất cả cácthể loại văn học dân gian mà chỉ dừng lại ở việc tìm hiểu thời gian nghệ thuậttrong ca dao thông qua một số môtip thời gian

Khi nghiên cứu về đặc trng nghệ thuật của ca dao, các nhà nghiên cứu

đều chú ý đến thời gian nghệ thuật, coi nó vừa là đối tợng phản ánh vừa là yếu

tố góp phần tổ chức tác phẩm Hầu hết các tác giả đều cho rằng thời gian trong

ca dao là thời gian hiện tại bởi nó gắn liền với hoạt động diễn xớng vốn là môi

trờng để ca dao sinh trởng và tồn tại Theo D.X.Likhatrôp (Dẫn theo: "Thi

pháp ca dao"), trong thơ ca dân gian, thời gian của tác giả và thời gian của

ng-ời thởng thức hoà lẫn với thng-ời gian của ngng-ời diễn xớng, cho nên, thng-ời gian ở

đây là thời gian hiện tại [9;tr165-166] Hoàng Tiến Tựu thì cho rằng "các nhân

vật trữ tình luôn sống trong hiện tại" nên dù nói "hôm qua","đêm qua" thì "ai cũng hiểu là ngời nói đang ở thời hiện tại"[20;tr226] Lê Chí Quế khẳng định

"thời gian nghệ thuật trong tác phẩm ca dao bao giờ cũng là thời gian hiện tại

hoặc thời gian quá khứ không xa xôi lắm"[16;tr242] Còn Nguyễn Xuân Kính

đồng ý "thời gian nghệ thuật trong ca dao là thời gian hiện tại, thời gian diễn

xớng" nhng đồng thời ông cũng chỉ ra những môtip thời gian diễn tả quá trình

Trang 15

của sự việc kéo dài từ quá khứ đến gần hiện tại nh "chiều chiều", "đêm

đêm" hay những trờng hợp cho thấy thời gian quá khứ sát gần hiện tại nh

và tính nguyên hợp là hai đặc trng nổi bật của ca dao dân ca Mỗi lần biểu diễn

là một lần tác giả dân gian (đồng thời là nhân vật trữ tình ) bộc lộ tâm trạngcủa mình Mà hoạt động diễn xớng luôn đợc thực hiện ở hiện tại nên thời giannghệ thuật trong ca dao là thời gian hiện tại

Chúng tôi đồng ý rằng khi nghiên cứu ca dao cần phải gắn nó với môitrờng diễn xớng Chỉ trong diễn xớng, ca dao mới bộc lộ hết vẻ đẹp cũng nhkhả năng biểu cảm của nó.Thế nhng, nếu ta quá coi trọng hoạt động diễn x-ớng, khẳng định thời gian nghệ thuật trong ca dao luôn là hiện tại thì vô hìnhtrung chúng ta đã đồng nhất khái niệm ca dao với khái niệm dân ca mà quênmất rằng ca dao đợc hiểu là phần lời của dân ca, nó gắn liền với sinh hoạt dân

ca nhng cũng có "đời sống" riêng Nếu xem xét ca dao từ góc độ văn bản ngôn

từ (bằng miệng), ta sẽ thấy thời gian đợc phản ánh trong đó (hay là thời gian

mà sự việc, hành động diễn ra) không chỉ là thời gian hiện tại mà có cả quákhứ và tơng lai Thời gian quá khứ đợc biểu thị bằng các yếu tố ngôn từ nh:hôm qua, đêm qua, khi xa ; thời gian tơng lai đợc biểu thị bằng các từ ngữ

nh : bao giờ, sáng mai ; thời gian hiện tại đợc biểu thị bằng các từ ngữ nh:bây giờ, hôm nay, ra về Vậy nên, theo quan điểm của chúng tôi, thời giannghệ thuật trong ca dao tồn tại ở hai dạng: thời gian diễn xớng và thời gian sựviệc Thời gian diễn xớng luôn là thời hiện tại, còn thời gian sự việc gồm đầy

đủ ba bình diện: quá khứ, hiện tại, tơng lai Ba bình diện thời gian này đợc xác

định trong mối tơng quan với thời gian diễn xớng Vấn đề này chúng tôi sẽ đisâu lí giải ở các chơng sau bằng việc phân tích một số môtip thời gian tiêu biểu

trong "Kho tàng ca dao ngời Việt".

1.2 Một số môtip thời gian trong ca dao ngời Việt

1.2.1 Khảo sát, thống kê, phân loại

Thật khó có thể liệt kê hết tất cả các môtip nghệ thuật xuất hiện trong

"Kho tàng ca dao ngời Việt" bởi riêng môtip thời gian cũng đã rất nhiều Trong

Trang 16

phạm vi khoá luận, chúng tôi chỉ khảo sát, thống kê những lời ca dao chứa các

môtip thời gian: "chiều chiều", "ra về", "đêm qua" và "bao giờ".

+ Môtip thời gian "Chiều chiều": 85 đơn vị (Xếp vào mục chữ cái C, số

thứ tự từ 755 đến 839 , từ trang 502 đến 517)

+ Môtip thời gian "Ra về": 99 đơn vị (R 49 - 147 , tr 1934 - 1948).

+ Môtip thời gian "Đêm qua": 50 đơn vị (Đ 440 - 489 , tr 868 - 885) + Môtip thời gian "Bao giờ": 73 đơn vị (B 153 - 225 , tr 239 - 253).

Số liệu khảo sát, thống kê cho thấy số lần xuất hiện của bốn môtip thời

gian này khá lớn so với các môtip khác.Ví dụ: môtip "Bây giờ" xuất hiện 43 lần (B 338 - 380); môtip "Bấy lâu" xuất hiện 27 lần (B 382 - 418); môtip

"Hôm nay" xuất hiện 10 lần (H 260 - 269); môtip "Sáng ngày" chỉ xuất hiện 7 lần (S 27- 33); môtip "Đêm đêm" chỉ xuất hiện 5 lần (Đ 288 -292)

Dựa vào sự biểu hiện thời gian nghệ thuật, chúng tôi phân loại các môtip

thời gian trên nh sau: môtip "Đêm qua" biểu thị thời gian quá khứ ; môtip thời gian "Ra về" biểu thị thời gian hiện tại ; môtip thời gian "Bao giờ" biểu thị thời gian tơng lai ;và môtip thời gian "Chiều chiều" biểu thị cả ba bình diện thời

gian quá khứ, hiện tại, tơng lai

Có thể khẳng định đây là bốn môtip thời gian tiêu biểu trong kho tàng

ca dao Việt Nam Ngoài cuốn "Kho tàng ca dao ngời Việt", chúng tôi đã khảo sát thêm hai tài liệu có qui mô nhỏ hơn rất nhiều là cuốn "Kho tàng ca dao xứ

Nghệ" (Ninh Viết Giao chủ biên) và cuốn "Tục ngữ ca dao Việt Nam" (Mã

Giang Lân tuyển chọn và giới thiệu) Kết quả:

+ Trong "Kho tàng ca dao xứ Nghệ", phần "Ca dao ngời Việt": Môtip

"Bao giờ" có 14 đơn vị ; môtip "Chiều chiều" có 16 đơn vị ; môtip "Đêm qua"

có 3 đơn vị ; môtip "Ra về" có 89 đơn vị ; môtip "Đêm nay" có 1 đơn vị ; môtip

"Hôm qua" có 3 đơn vị

+ Trong "Tục ngữ ca dao Việt Nam": môtip "Bao giờ": 5 đơn vị ; môtip

" Chiều chiều":10 đơn vị ; môtip "Đêm qua":5 đơn vị ; môtip "Ra về":3 đơn vi; môtip "bây giờ":1 đơn vị ; môtip "Rạng ngày":2 đơn vị

Nhìn vào kết quả ta thấy rõ sự nổi bật của bốn môtip thời gian: "chiều

chiều", "ra về", "đêm qua" và "bao giờ".Kết quả này làm cho chúng tôi hoàn

toàn tin tởng vào sự lựa chọn của mình

1.2.2 Nhận xét chung.

Sự xuất hiện lặp đi lặp lại với mật độ tơng đối lớn của các môtip thờigian không thể coi là một sự ngẫu nhiên mà nó mang ý nghĩa thẩm mỹ nhất

Trang 17

định, nó gắn liền với việc biểu hiện tâm t, tình cảm của tác giả dân gian khisáng tác ca dao Thời gian (bao giờ cũng gắn với không gian) thờng là yếu tố

góp phần tạo ra hoàn cảnh , tạo ra cái "nền" để con ngời bộc lộ tâm trạng.

Nhiều khi chính nó là nhân tố trực tiếp khơi gợi tâm t, tình cảm trong lòng

ng-ời Nhất là những thời điểm đặc biệt nh chiều, đêm, lúc chia tay hay thời giantơng lai rất dễ thôi thúc ngời ta bộc lộ, giãi bày tâm sự, nỗi niềm Có lẽ vì thế

mà các môtip thời gian "Chiều chiều","Bao giờ","Ra về","Đêm qua" đợc sử

dụng nhiều trong quá trình sáng tác ca dao của nhân dân lao động

Trang 18

Chơng 2 : Môtip "Chiều chiều" và môtip "Ra về"

trong ca dao ngời Việt

2.1 Môtip "Chiều chiều ".

Đời sống tình cảm của quần chúng nhân dân lao động Việt Nam rấtphong phú, đa dạng và giãi bày, bộc bạch là một nhu cầu thiết yếu của họ.Thơ

ca trữ tình dân gian (ca dao) vì vậy trở thành "cây đàn muôn điệu của tâm hồn

quần chúng", giúp họ tỏ bày những tâm t thầm kín nhất của mình Nhng, ngời

Việt vốn a sống kín đáo, bình lặng, ngại bộc lộ nội tâm một cách ồn ào nên

tiếng lòng của họ thờng chỉ cất lên khi bắt gặp "môi trờng","hoàn cảnh" thích

hợp Do đó, ở những lời ca dao họ sáng tác để gửi gắm nỗi niềm, yếu tố thời

gian - một trong những yếu tố chính góp phần tạo nên "môi trờng" , "hoàn

cảnh" hợp tâm trạng - có vai trò đặc biệt quan trọng.

Thời gian nghệ thuật trong ca dao đợc thể hiện bằng nhiều cách, phổ

biến là cách "môtip hoá" các đơn vị thời gian, tức là sử dụng lặp đi lặp lại một

số đơn vị thời gian nào đó khiến cho chúng trở thành những khuôn mẫu cố

định.Trong số những môtip thời gian thờng gặp, môtip "Chiều chiều" rất đáng

đợc chú ý không chỉ bởi số lần xuất hiện mà còn bởi sự biểu hiện thời gian độc

đáo và khả năng biểu đạt nội dung cảm xúc của nó

2.1.1 Môtip "Chiều chiều" và sự giao nối các bình diện thời gian.

Về mặt cấu tạo, "Chiều chiều" là một từ láy hoàn toàn có tiếng gốc là một danh từ Sự lặp lại tiếng "chiều" tạo nên hiệu quả nghệ thuật đặc biệt trong việc biểu hiện thời gian.Trớc hết, "Chiều chiều" gợi cho ta cảm giác về buổi chiều muộn mà văn chơng vẫn gọi là buổi "hoàng hôn","xế tà" chứ không phải

là buổi chiều chung chung Đây là thời điểm đất trời chuẩn bị cho cuộc chuyểngiao từ ngày sang đêm, từ ánh sáng sang bóng tối, cũng là lúc tâm hồn con ng-

ời chất chứa nhiều cảm xúc cần đợc tỏ bày và muốn đợc sẻ chia Do tính chất

đặc trng nh vậy mà "Chiều chiều" trở thành một yếu tố thời gian nghệ thuật

th-ờng xuyên đợc sử dụng trong ca dao nói riêng, trong thơ ca trữ tình Việt Nam

nói chung Thứ hai, sự láy lại tiếng "chiều" trong "Chiều chiều" tạo nên nhịp

điệu thời gian lặp đi lặp lại một cách liên tục, xuyên nối từ quá khứ đến hiệntại và cả tơng lai.Tơng ứng với nhịp điệu thời gian đó là những hoạt động,những trạng thái cảm xúc của nhân vật trữ tình cũng trở đi trở lại

Trong tác phẩm văn học nói chung, thời gian hiện tại đóng vai trò chủ

đạo bởi đó là "thời gian cảm nhận" Hồi tởng là quay về quá khứ nhng cũng là

"sống" lại cái "hiện tại" của quá khứ, mơ ớc tới tơng lai nhng cũng là "sống"

Trang 19

với cái "hiện tại "của tơng lai Mặt khác, dù trở về quá khứ hay hớng tới tơng

lai thì con ngời vẫn phải có điểm đứng ở hiện tại, nói cách khác, quá khứ haytơng lai chỉ đợc xác định trong điểm qui chiếu với hiện tại.Vì thế, sự phân biệt

ba bình diện thời gian này là tơng đối và chỉ xảy ra trong phạm vi "thời gian

nhân vật, thời gian sự kiện", hay còn gọi là thời gian tồn tại trong tác phẩm

nghệ thuật Có một dòng thời gian "hiện tại cảm nhận"(gắn với thời gian hiện

tại của phát ngôn và của tiếp nhận) xuyên suốt các bình diện đó [17;tr70].Thời

gian "hiện tại cảm nhận" trong ca dao chính là thời gian diễn xớng, là lúc tác giả dân gian vừa "sáng tác" vừa "xuất bản" Còn "thời gian nhân vật, thời gian

sự kiện" chính là thời gian đợc nói đến trong lời ca.Ví dụ, khi tác giả dân gian

đồng thời là nhân vật trữ tình hát :"Hôm qua anh đến chơi nhà " thì có nghĩa

"anh" đang ở thời hiện tại - thời điểm diễn xớng lời ca dao - nói về hành động

của chính mình ở thời quá khứ hôm qua Hai dạng thời gian này làm nên thờigian nghệ thuật trong ca dao

Xét về khía cạnh thời gian đợc biểu hiện trong lời ca dao,"Chiều chiều"

là môtip thời gian biểu hiện cả ba chiều quá khứ - hiện tại - tơng lai.Ví dụ,trong lời ca dao sau đây:

Chiều chiều ra đứng ngõ sau

Ngó về quê mẹ ruột đau chín chiều (C 821)

Nếu ta thay "Chiều chiều" bằng "Chiều hôm" hay "Chiều nay" chẳng

hạn thì thời gian ở đây chỉ là một buổi chiều cụ thể, hoàn toàn có thể xác định

nó thuộc bình diện thời gian nào.Tơng ứng, hành động "ra đứng ngõ sau - ngó

về quê mẹ" và nỗi lòng "đau chín chiều" của ngời con chỉ là một hành động

bất chợt, đột xuất, cá biệt.Thế nhng, thời gian trong lời ca dao này lại là

"Chiều chiều", tức là nhiều buổi chiều kế tiếp nhau và chiều nào cũng vậy, chiều hôm qua, chiều nay hay chiều mai, hành động "ra đứng ngõ sau" để

"nhớ về quê mẹ" mà "ruột dau chín chiều" cứ diễn ra liên tục đều đặn, không

ngắt quãng, tạo thành một thói quen thờng nhật, cho thấy cảnh ngộ đáng thơngcũng nh tình cảm sâu nặng của ngời con đối với mẹ.Ta không thể xác địnhchuỗi thời gian này thuộc quá khứ, hiện tại hay tơng lai mà nó xuyên suốt cả

ba chiều thời gian ấy Chính vì thế nên ta nói sự biểu hiện thời gian trong

môtip "Chiều chiều" là sự giao nối các bình diện thời gian.

Tìm hiểu về môtip "Chiều chiều" nói riêng, các môtip thời gian nói

chung, ta không thể tách rời nó khỏi cấu trúc của đơn vị ca dao chứa nó Có

nh vậy ta mới thấy đợc khả năng biểu đạt nội dung trữ tình của môtip thời gian

Trang 20

này Nhìn vào cấu trúc lời ca dao, ta thấy môtip "Chiều chiều" có vị trí mở

đầu, đảm nhận vai trò của thành phần trạng ngữ, là yếu tố góp phần tạo nên

"hoàn cảnh" để nhân vật trữ tình bộc lộ tình cảm Trên cơ sở xác định chủ thể

của các hành động (tâm trạng) trong lời ca dao, chúng ta sẽ thấy mối quan hệ

giữa môtip thời gian "Chiều chiều" với nội dung trữ tình đợc biểu đạt Nếu các

hành động (tâm trạng) trong lời ca dao đều do nhân vật trữ tình thực hiện thì

tức là thời gian "Chiều chiều" có tác động trực tiếp tới việc thể hiện cảm xúc, nói cách khác, thời gian "Chiều chiều" trở thành yếu tố khơi gợi nỗi niềm, trở thành "cái nền" để nhân vật trữ tình giãi bày tâm sự Ví dụ:

Chiều chiều vãn cảnh vờn đào

Hỏi thăm hoa lý rơi vào tay ai ? (C 831)

Trong lời ca dao này, hai hành động "vãn cảnh" và "hỏi thăm" đều đợc thực hiện bởi nhân vật trữ tình - ở đây là một chàng trai Chàng ta "vãn cảnh v-

ờn đào" là để "hỏi thăm hoa lý rơi vào tay ai?" Nhng tại sao "vãn cảnh vờn

đào" mà lại "hỏi thăm hoa lý"? Có gì mâu thuẫn chăng? Thì ra, mục đích

chính của chàng không phải là đi ngắm cảnh mà là đi tìm bạn, vì vậy, dù vào

"vờn đào" hay bất cứ đâu cũng chẳng quan trọng, quan trọng là "hoa lý " -

ng-ời con gái chàng đang để ý - đã thuộc về ai cha? Câu hỏi đặt ra thể hiện sự bănkhoăn cũng nh niềm hi vọng tràn trề của chàng trai đang kiếm tìm hạnh phúc

Nhận ra "tâm ý" của nhân vật trữ tình, ta sẽ dễ dàng lý giải cái điều tởng nh mâu thuẫn ở trên và hiểu đợc vì sao chàng lại chọn thời điểm "Chiều chiều" để

đi "vãn cảnh"mà không chọn thời điểm khác Đơn giản "Chiều chiều" là lúc gợi cho ngời ta khát vọng tụ họp, mong đợc có đôi Cứ "Chiều chiều" chàng trai lại đi "vãn cảnh" cho thấy việc tìm bạn đã trở thành nhu cầu cấp bách, thành mong muốn cháy bỏng Với ý nghĩa đó, thời gian "Chiều chiều" trong

lời ca dao chính là tác nhân dẫn đến hành động và tâm trạng của nhân vật trữtình Cũng có thể gọi đây là thời gian đã đợc tâm trạng hoá hay thời giannhuốm màu tâm trạng Đó là trờng hợp thứ nhất

Trờng hợp thứ hai là: Hành động 1 và các hành động (tâm trạng) sau đótrong lời ca dao không đợc thực hiện bởi cùng một chủ thể Điều này đồngnghĩa với việc giữa yếu tố thời gian và yếu tố cảm xúc có một khoảng cách,

tức là thờigian "Chiều chiều" không còn là nhân tố trực tiếp tác động đến nội

dung tình cảm thể hiện trong đó Ví dụ:

Chiều chiều mây phủ Sơn Trà

Lòng ta thơng bạn nớc mắt và lộn cơm (C796)

Trang 21

Trong lời ca dao này cũng có hai hành động nhng do hai chủ thể thực

hiện "mây phủ " và "lòng ta thơng bạn", hành động 1 chính là "cái cớ" để hành

động 2 xuất hiện Có nghĩa là, nỗi lòng nhớ bạn da diết của nhân vật trữ tình

x-ng "ta" ở đây đợc khơi gợi trực tiếp từ x-ngoại cảnh "mây phủ Sơn Trà", một khung cảnh xa xôi, mù mịt Khung cảnh đó lại hiện hữu vào buổi "Chiều

chiều" càng gợi lên sự lạnh lẽo, thê lơng, làm cho nỗi nhớ niềm thơng thêm

thiết tha, khắc khoải Nh vậy, yếu tố thời gian "Chiều chiều" trong trờng hợp

này chỉ gián tiếp góp phần khắc sâu, tô đậm tâm trạng của nhân vật trữ tình

Tóm lại, khi tìm hiểu về hai kiểu cấu trúc của lời ca dao chứa môtip

"Chiều chiều", ta nhận diện đợc hai dạng thời gian khác nhau của môtip này Nếu ở trờng hợp thứ nhất,"Chiều chiều" là thời gian - tâm trạng thì ở trờng hợp

thứ hai, nó nghiêng về thời gian thực tại khách quan, là thời gian sự kiện.Sự đadạng về cách biểu hiện thời gian đó làm cho việc biểu đạt nội dung trữ tình củamôtip thời gian này thêm phong phú

2.1.2 Môtip "Chiều chiều" và nội dung trữ tình của lời ca dao chứa nó.

Mục đích đầu tiên và quan trọng nhất của các tác giả dân gian khi sángtác ca dao là giãi bày tâm t, bộc lộ suy nghĩ của mình.Và cái cốt lõi làm nênsức sống, sức hấp dẫn cho các lời ca dao chính là nội dung tình cảm đợc diễntả một cách phong phú, sâu sắc, chân thực trong đó Nội dung này chi phối tấtcả các yếu tố hình thức thuộc chỉnh thể đơn vị ca dao Các môtip thời giankhông nằm ngoài sự chi phối đó

"Chiều chiều" là một trong những môtip thời gian đợc sử dụng phổ biến

với t cách một yếu tố hình thức nghệ thuật cấu thành các lời ca dao, góp phầnthể hiện nội dung cảm xúc chứa trong đó Khảo sát 85 đơn vị ca dao mở đầu

bằng "Chiều chiều", ta thấy: có 22 đơn vị ca dao (chiếm 25,9) không xác

định rõ chủ đề hoặc có xác định đợc chủ đề nhng không biểu hiện rõ sắc tháitình cảm mà chỉ đơn thuần thuật lại một hành động, một sự việc vẫn diễn ra th-ờng xuyên vào các buổi chiều của nhân vật xuất hiện trong đó Ví dụ:

+ Chiều chiều con quạ lợp nhà

Con cu chẻ lạt, con gà đa tranh ( C 765)

+ Chiều chiều én liệng trên trời

Rùa bò dới đất, khỉ ngồi trên cây ( C 776)

+ Chiều chiều ra dạo vờn cà

Trái ngon làm mắm, trái già làm da (C 807)

Trang 22

63 lời ca dao còn lại (chiếm 74,1) biểu hiện những nội dung trữ tìnhkhác nhau, có thể phân chia một cách tơng đối thành năm trạng thái chính, đólà: niềm mong nhớ (12 lời ca dao, chiếm 19,1); nỗi buồn thơng (9 lời ca dao,chiếm 14,3) niềm ớc ao hạnh phúc (20 lời ca dao, chiếm31,7); nỗi lo âu (5lời ca dao, chiếm7,9); và nỗi xót xa, sầu tủi (17 lời ca dao, chiếm 27 ).

Đây là những trạng thái cảm xúc phổ biến trong đời sống tâm lý con ngời đợcthơ ca trữ tình dân gian phản ánh

2 1.2.1 "Chiều chiều" nhớ mong.

Buổi chiều thờng gợi nhớ, gợi thơng Nhờ nhịp điệu thời gian đặc biệt

thể hiện trong môtip "Chiều chiều" mà ta nhận ra nỗi nhớ đợc biểu đạt ở

những lời ca dao chứa nó là nỗi nhớ của những ngời đã xa cách nhau lâu ngày

Đó là tâm trạng của ngời con xa mẹ:

Chiều chiều ngó ngợc ngó xuôi

Ngó không thấy mẹ ngùi ngùi nhớ thơng (C 799)

Ngời con vì một điều kiện nào đó không thể ở gần mẹ nên cứ "chiều

chiều" lại hớng về mẹ với nỗi nhớ thơng da diết "Ngó ngợc ngó xuôi" là hành

động chỉ sự cố gắng, sự nôn nóng nhng kết quả vẫn là "ngó không thấy mẹ", vì thế,"ngùi ngùi nhớ thơng" ở đây là nỗi nhớ xen lẫn nỗi buồn, nỗi lo của ngời

con đối với mẹ

Đó là nỗi nhớ của đôi bạn tâm tình hớng về nhau Trong tình yêu, cảnhững lúc gần nhau nhất, ngời ta vẫn thấy nhớ, huống hồ lúc xa nhau Nỗi nhớ

đợc bộc lộ với thật nhiều sắc thái: có khi là nỗi nhớ trào tuôn dạt dào:

Chiều chiều én liệng ải Vân

Con nhạn kêu ải bắc muôn phần nhớ thơng.(C 770)

có khi là nỗi nhớ héo hắt ruột gan:

Chiều chiều chim vịt kêu chiều

Bâng khuâng nhớ bạn chín chiều ruột đau (C 764)

có khi nỗi nhớ đan xen nỗi băn khoăn khiến nhân vật trữ tình bật lên câu hỏi:

Chiều chiều én liệng cò bay

Khoan khoan nhớ bạn, bạn rày nhớ ai? (C 773)

cũng có khi, nỗi nhớ khiến nhân vật trữ tình nghĩ tới những câu nói, nhữnghình ảnh rất cụ thể của ngời yêu:

+ Chiều chiều mang giỏ hái dâu

Hái dâu không hái nhớ câu ân tình (C 790)

+ Chiều chiều lại nhớ chiều chiều

Trang 23

Nhớ ngời đãy gấm khăn điều vắt vai (C 786)

Nỗi nhớ luôn gắn với niềm mong, mong đợc ở bên nhau Đó là ớc muốnchính đáng của những ngời đang yêu.Vì thế mà nhân vật trữ tình khi bộc lộ nỗinhớ thờng giãi bày cả niềm mong của mình:

Chiều chiều lại nhớ chiều chiều

Nhớ nồi cơm nguội, nhớ niêu nớc chè

Nhớ ngời quần lĩnh áo the

Phải duyên phải kiếp thì nghe anh về (C 784)

Quan niệm của ngời phơng Đông về việc lấy vợ lấy chồng là do

có"duyên" định sẵn.Vì thế, khi hai ngời yêu nhau kết thành vợ chồng thì tức là

họ có "duyên", còn nếu tình yêu tan vỡ, họ dùng hai tiếng "vô duyên" để lý

giải, để an ủi ở đây, chàng trai khi nhớ đến ngời yêu cũng đồng thời thể hiện

mong muốn kết duyên của mình, và chàng đa ra "lời cầu hôn" đầy sức thuyết phục "phải duyên phải kiếp thì nghe anh về" Hai ta đã "phải duyên phải kiếp",

có nghĩa là mối tình của anh và em không chỉ hợp lòng ngời mà còn thuận lẽ

trời, vậy thì "hãy nghe anh về" để thoả nỗi nhớ mong Đằng sau lời tỏ tình rất

có lý của chàng trai là tấm chân tình sâu nặng mà chàng dành cho ngời yêu

2 1.2.2 "Chiều chiều" buồn thơng.

"Chiều chiều" là thời điểm mà tâm hồn con ngời cảm thấy buồn nhiều

hơn vui Có khi đó chỉ là nỗi buồn vô cớ, nỗi buồn tự đáy lòng bắt gặp ngoạicảnh phù hợp thì bật thành tiếng than:

Chiều chiều én liệng nhạn bay

Mù sa diên diến, buồn thay hỡi buồn (C775)

Trong tâm lý thông thờng, khi có một cảm xúc nào đó dâng ngập lòng

mà không giãi bày đợc thì ngời ta rất bứt rứt, khó chịu Nhiều lúc chỉ cần một

lời tự thán nh "buồn thay hỡi buồn" cũng đủ để làm vơi nhẹ nỗi lòng.

Nỗi buồn trong ca dao thờng gắn với niềm thơng Buồn vì thơng chocảnh ngộ của ngời anh hùng sa cơ, thể hiện lòng trắc ẩn cũng có:

Chiều chiều én liệng truông Mây

Cảm thơng chú Lía bị vây trong thành.(C 777)

nhng chủ yếu là buồn thơng cho cảnh ngộ của chính mình:

+ Chiều chiều ra đứng bờ biền

Nhện giăng tơ đóng cảm phiền thơng em (C 810)

+ Chiều chiều vịt lội bờ bàng

Thơng ngời áo trắng vá quàng nửa vai (C 834)

Trang 24

Nhân vật trữ tình hớng tới ngời yêu với tình thơng vô hạn, nhng càng

"thơng em" thì lại càng buồn, bởi thơng mà chẳng biết làm sao, thơng mà chỉ

Thậm chí, khi đôi ngả đã lìa xa, em không còn là của anh nữa, tình

th-ơng vẫn da diết không nguôi, nó tuôn trào trong dòng nớc mắt "lai láng":

Chiều chiều ra đứng gốc xoài

Nớc mắt lai láng chùi hoài không ngớt

Trời hỡi trời sao không bớt tình thơng

Sợi chỉ điều sao nỡ vấn vơng

Gặp em một bữa sao thơng những ngày

Kim châm bâu áo lụa dày

Ba bốn năm còn đợi sao một ngày lại xa (C 818)

Nhân vật trữ tình chàng trai dờng nh không thể tin và không thể chấpnhận sự thật là tình yêu đã tan vỡ vì điều đó xảy ra quá đột ngột Hàng loạt câuhỏi đặt ra mà không có câu trả lời.Sự hụt hẫng, buồn đau và cả sự trách móc

bật lên thành tiếng kêu trời ai oán "trời hỡi trời", khiến cho lời ca dao nh tiếng nấc nghẹn ngào.Tất cả cũng chỉ vì trong lòng chàng trai không thể "bớt tình th-

ơng" đối với ngời yêu đã chia xa.

2.1.2.3."Chiều chiều" mong ớc.

Mong ớc lớn nhất của con ngời suy cho cùng là đợc hạnh phúc, đợc

th-ơng yêu và sẻ chia Đó là trạng thái tình cảm thờng trực và là động lực để conngời không ngừng vơn tới những điều tốt đẹp Nỗi niềm này thờng đợc bộc lộtrong những lời ca dao về tình yêu đôi lứa, vì tình yêu chính là gốc rễ của hạnhphúc

Chiều chiều, lúc "gió giục cơn buồn", "lúc "mù sa diên diến" gợi cho

con ngời những tâm sự cần đợc san sẻ cũng là lúc họ mong muốn và sẵn sàng

mở lòng mình đón nhận những tiếng lòng đồng điệu.Vì thế, họ đi tìm nhau:

Chiều chiều khăn bận áo ôm

Đi tìm ngời bạn từ đầu hôm đến giừ (C 783)

Với các chàng trai, cách "tìm bạn " của họ thật muôn hình muôn vẻ Đó

có thể là một lời đề nghị "làm quen":

Trang 25

Chiều chiều vịt lội bàu sen

Để anh lên xuống làm quen ít ngày (C 833)

hay là lời thăm dò tế nhị:

Chiều chiều vãn cảnh vờn đào

Hỏi thăm hoa lý rơi vào tay ai? (C 831)

cũng có thể chỉ là lời nói bâng quơ:

Chiều chiều ra chợ Đông Ba

Ngó về hàng bột, trông ra hàng đờng

Nhìn mai, ngắm liễu, xem hờng

Cô nào đẹp nhất xin nhờng cho tôi (C 806)

hay là lời băn khoăn ớm hỏi:

Chiều chiều én liệng cò bay

Khoan khoan hỏi bạn, bạn rày nhớ ai? (C 772)

Đó còn là lời tỏ tình rất có duyên:

Chiều chiều bóng ngả về Tây

Hỡi cô hái củi bên đầy bên vơi

Cô còn hái nữa hay thôi

Cho tôi hái đỡ làm đôi vợ chồng (C 762)

Cách tỏ bày thì khác nhau nhng mục đích chỉ có một, đó là mong muốn

đợc đồng cảm, đợc "có đôi" để "bõ công ao ớc, bõ ngày ớc ao".

Theo lẽ thờng, việc "tỏ tình" vẫn đợc xem là "đặc quyền" của nam giới.

Thế nhng, có nhiều khi phái nữ cũng rất chủ động trong việc tìm kiếm hạnh

phúc cho mình và cách "tỏ ý" của họ rất riêng Có khi đó là lời nói bóng gió

đáp lại sự ớm hỏi của đối phơng:

Chiều chiều bớm đậu vờn hoa

Có cho bớm đậu hay lùa bớm đi?

- Bớm đậu ai dám lùa đi

Vờn hoa thêm đẹp, ngời thì có đôi (C 763)

Chẳng ai thật thà đến mức nghĩ rằng lời ca dao chỉ nói đến chuyện của

"bớm" và "hoa" Đằng sau đó là hình ảnh đôi trai gái đang hỏi đáp bày tỏ tâm

tình của mình.Và ý tứ của cô gái đợc thể hiện rất rõ ràng

Có khi đó là lời quan tâm hỏi han có vẻ rất "vô t":

Chiều chiều ra đứng vạt gò

Nón che tay ngoắt:"ớ trò áo đen!"

áo đen năm nút viền tà

Trang 26

Ai may cho bậu hay là bậu may? (C 824)

ẩn sau những lời thăm hỏi thông thờng này chính là nỗi lòng của nhânvật trữ tình muốn đợc chăm lo, săn sóc cho ngời thơng

Đặc biệt, tình cảm của họ có lúc đợc bộc lộ rất mãnh liệt:

Chiều chiều ra đứng bờ ao

Nớc kia không khát, khát khao duyên chàng (C 808)

Lời ca dao khiến ta ngạc nhiên bởi sự bày tỏ trực tiếp và mạnh bạo củanhân vật trữ tình về ớc mong cháy bỏng trong lòng - một điều tởng nh trái ng-

ợc với sự e lệ, kín đáo vốn có của những ngời con gái Việt Nam truyền thống.Ngạc nhiên nhng không khó hiểu, bởi ớc muốn hạnh phúc là nỗi niềm khôngcủa riêng ai và bộc lộ, giãi bày nỗi niềm đó là nhu cầu của chung mọi ngời,

nhất là khi ngời ta phải đối diện với thời điểm "nhạy cảm" nhất của ngày buổi "chiều chiều".

-2 1.3.4 "Chiều chiều" lo âu, mong đợi.

Tâm hồn ngời phụ nữ thờng mẫn cảm Trớc bất cứ một sự việc bất thờngnào trong cuộc sống dù nhỏ nhặt nhất, họ cũng lo lắng không yên Đặc biệt đốivới những ngời thân yêu, nỗi lo của họ không bao giờ ngớt và nó có thể bộc lộbất kỳ lúc nào Nhiều khi đó chỉ là nỗi lo âu vu vơ, không có duyên cớ:

Chiều chiều âu lại lo âu

Kén ơm thành nhiễu, đá lâu thành vàng (C 755)

Chiều chiều thờng đem đến cho con ngời cảm giác bất an nh vậy Chiềuchiều là lúc gia đình sum họp, đôi lúa vui vầy Nếu ngời thân không ở bêncạnh, ngời phụ nữ sẽ đứng ngồi không yên Nỗi lo âu đi liền với niềm mong

đợi:

Chiều chiều bìm bịp giao canh

Trống chùa đã đánh, sao anh cha về? (C 758)

Nó sẽ tăng theo thời gian và niềm mong đợi nhiều khi là vô vọng:

Chiều chiều ra đứng bờ sông

Hỏi thăm chú lái: nào chồng em đâu?

- Chồng em đang ở Khuê Cầu

Đánh thua quay đất từ đầu tháng giêng

Cầm khăn, bán áo, cố kiềng

Bán nón quai lụa, bán chiêng, cố nồi

Bây giờ túng lắm em ơi!

Có tiền riêng giấu mẹ mà nuôi lấy chồng (C 811)

Trang 27

Lời ca dao đã diễn tả một cách sâu sắc nỗi khổ của ngời vợ có chồng làlính thú Càng biết tin tức về chồng càng lo lắng, nhng càng lo lắng lại càng

muốn biết tin chồng.Vì thế, cứ "chiều chiều", ngời chinh phụ lại ra bờ sông để

"hỏi thăm chú lái" dù điều đó chỉ làm cho nỗi lo thêm chất chứa mà thôi.

Lo âu dờng nh trở thành một thuộc tính của ngời phụ nữ Nó là biểu hiệncủa tình thơng yêu, sự thuỷ chung và đức hi sinh vốn là những phẩm chất đángquý của họ

2 1.3.5 "Chiều chiều" xót xa, sầu tủi.

Chiều chiều cũng là lúc những cảnh ngộ éo le, ngang trái, những sốphận bất hạnh phơi bày rõ nhất.Tâm sự của họ chỉ có thể gửi gắm vào nhữnglời ca dao đầy xót xa, sầu tủi Xót xa, hụt hẫng vì sự mất mát:

+ Chiều chiều ra đứng ngõ trông

Ngõ thì thấy ngõ, ngời không thấy ngời (C 822)

+ Chiều chiều vác cuốc kiếm lơn

Nớc trơn lơn trợt, ngời thơng mất rồi ( C 830)

Đó là sự mất mát về mặt tinh thần, tình cảm khó có gì bù đắp nổi!

Xót xa, sầu thảm vì tình yêu tan vỡ:

Chiều chiều mây kéo về kinh

ếch kêu giếng lạnh thảm tình đôi ta (C 791)

Xót xa, khổ sở vì cảnh ngộ bị chối từ:

Chiều chiều vịt lội bờ mơng

Anh chê em cũng phải, vì chng em nghèo (C 835)

Lời ca dao thể hiện sự tủi phận và cũng là lời trách móc của nhân vật trữtình đối với ngời con trai vô tình

Và xót xa, đau đớn trớc sự phụ bạc của ngời yêu:

Chiều chiều ra đứng ngõ sau

Hai tay ruỗi xuống nh tàu chuối te

Tiếc công vun bón cây mè

Mè không có trái chim mè đậu lên

Tiếc công rày xuống mai lên

Mòn đàng đứt cỏ, không nên tự trời

Tởng rằng kèo cột ở đời

Ai ngờ kèo rã, cột rời tứ phơng

Ngày nào em nói em thơng

Nh trầm mà để trong rơng chắc rồi

Ngày đăng: 20/12/2013, 22:24

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Lại Nguyên Ân (Chủ biên), Bùi Văn Trọng Cờng, Từ điển văn học Việt Nam (Từ nguồn gốc đến hết thế kỉ  ), Nxb Giáo dục, H,1997 (Tái bản lần thứ nhất, có bổ sung) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển văn họcViệt Nam (Từ nguồn gốc đến hết thế kỉ " ), Nxb "Giáo dục
Nhà XB: Nxb "Giáo dục"
2. Chu Xuân Diên, Mấy vấn đề văn hoá và văn học dân gian Việt Nam, Nxb Văn nghệ TP HCM, 2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mấy vấn đề văn hoá và văn học dân gian Việt Nam",Nxb "Văn nghệ TP HCM
Nhà XB: Nxb "Văn nghệ TP HCM"
3. Cao Huy Đỉnh, Lối đối đáp trong ca dao trữ tình, Tạp chí Văn học, H,1996, sè 9, tr 10 - 14 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lối đối đáp trong ca dao trữ tình", Tạp chí "Văn học
4. Cao Huy Đỉnh, Phơng thức sáng tác dân gian và văn học dân gian, Tạp chí Văn học, H,1972, số 2, tr 17 - 20 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phơng thức sáng tác dân gian và văn học dân gian",Tạp chí "Văn học
5. Ninh Viết Giao (Chủ biên), Nguyễn Đổng Chi, Võ Văn Trực, Kho tàng ca dao xứ Nghệ, Nxb Nghệ An, N,1996 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khotàng ca dao xứ Nghệ", Nxb "Nghệ An
Nhà XB: Nxb "Nghệ An"
6. Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi (Chủ biên), Từ điển thuật ngữ văn học (in lần thứ 2), Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, H,1997 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tõ ®iÓnthuật ngữ văn học "(in lần thứ 2), Nxb "Đại học Quốc gia Hà Nội
Nhà XB: Nxb "Đại học Quốc gia Hà Nội"
7. Đinh Gia Khánh (Chủ biên), Chu Xuân Diên, Võ Quang Nhơn ,Văn học dân gian Việt Nam (Tái bản lần thứ 5), Nxb Giáo dục, H,2000.53 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vănhọc dân gian Việt Nam "(Tái bản lần thứ 5), Nxb "Giáo dục
Nhà XB: Nxb "Giáo dục"
8. Nguyễn Xuân Kính, Phan Đăng Nhật (Chủ biên), Kho tàng ca dao ngời Việt, 2 tập (Tái bản có bổ sung, sửa chữa), Nxb Văn hoá thông tin, H,2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kho tàng ca daongời Việt," 2 tập (Tái bản có bổ sung, sửa chữa), Nxb "Văn hoá thông tin
Nhà XB: Nxb "Văn hoá thông tin"
9. Nguyễn Xuân Kính, Thi pháp ca dao, Nxb Khoa học xã hội, H,1992 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thi pháp ca dao", Nxb "Khoa học xã hội
Nhà XB: Nxb "Khoa học xã hội"
10. Mã Giang Lân (Tuyển chọn và giới thiệu), Tục ngữ ca dao Việt Nam, Nxb Giáo dục, H,1995 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tục ngữ ca dao ViệtNam", Nxb "Giáo dục
Nhà XB: Nxb "Giáo dục"
11. Đặng Văn Lung, Những yếu tố trùng lặp trong ca dao trữ tình, Tạp chí Văn học, H,1968, số 10, tr 66 - 77 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những yếu tố trùng lặp trong ca dao trữ tình", Tạpchí "Văn học
12. Lữ Huy Nguyên, Đặng Văn Lung, Trần Thị An, Ca dao trữ tình chọn lọc, Nxb Giáo dục, H,1997 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ca dao trữ tìnhchọn lọc", Nxb "Giáo dục
Nhà XB: Nxb "Giáo dục"
13. Bùi Mạnh Nhị, Công thức truyền thống và đặc trng cấu trúc của ca dao, dân ca trữ tình, Tạp chí Văn học, H,1997, số1, tr 21 - 25 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công thức truyền thống và đặc trng cấu trúc của cadao, dân ca trữ tình", Tạp chí "Văn học
14. Nhiều tác giả, Văn hoá dân gian, những phơng pháp nghiên cứu, Nxb Khoa học xã hội, H,1990 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hoá dân gian, những phơng pháp nghiên cứu",Nxb "Khoa học xã hội
Nhà XB: Nxb "Khoa học xã hội"
15. Vũ Ngọc Phan, Tục ngữ, ca dao, dân ca Việt Nam (In lần thứ 11, có bổ sung), Nxb Khoa học xã hội, H,1998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tục ngữ, ca dao, dân ca Việt Nam" (In lần thứ 11, cóbổ sung), Nxb "Khoa học xã hội
Nhà XB: Nxb "Khoa học xã hội"
16. Lê Chí Quế, Võ Quang Nhơn, Nguyễn Hùng Vĩ, Văn học dân gian Việt Nam (In lần thứ 3), Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, H,1998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học dân gianViệt Nam" (In lần thứ 3), Nxb "Đại học Quốc gia Hà Nội
Nhà XB: Nxb "Đại học Quốc gia Hà Nội"
17. Trần Đình Sử, Dẫn luận thi pháp học, Nxb Giáo dục, H,1998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dẫn luận thi pháp học", Nxb "Giáo dục
Nhà XB: Nxb "Giáo dục"
18. Trần Đình Sử, Thi pháp thơ Tố Hữu (Chuyên luận), Nxb Tác phẩm míi, H,1987 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thi pháp thơ Tố Hữu" (Chuyên luận), Nxb "Tác phẩmmíi
Nhà XB: Nxb "Tác phẩmmíi"
19. Lã Nhâm Thìn, Tính lặp lại trong văn học dân gian và vấn đề tập cổ trong văn học viết, Tạp chí Văn học, H,1991, số 6, tr 38 - 43 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tính lặp lại trong văn học dân gian và vấn đề tập cổtrong văn học viết," Tạp chí "Văn học
20. Hoàng Tiến Tựu, Văn học dân gian Việt Nam (Tái bản lần 3), Nxb Giáo dục, H,2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học dân gian Việt Nam" (Tái bản lần 3), Nxb"Giáo dục
Nhà XB: Nxb"Giáo dục

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w