1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đặc điểm ngữ pháp và ngữ nghĩa của con số trong thành ngữ, tục ngữ, ca dao việt nam

149 3,8K 22

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đặc Điểm Ngữ Pháp Và Ngữ Nghĩa Của Con Số Trong Thành Ngữ, Tục Ngữ, Ca Dao Việt Nam
Tác giả Trần Thị Lam Thủy
Người hướng dẫn PGS. TS. Phan Mậu Cảnh
Trường học Trường Đại Học Vinh
Chuyên ngành Ngữ Văn
Thể loại Luận Án Tiến Sĩ
Năm xuất bản 2013
Thành phố Nghệ An
Định dạng
Số trang 149
Dung lượng 863,34 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH TRẦN THỊ LAM THỦY ĐẶC ĐIỂM NGỮ PHÁP VÀ NGỮ NGHĨA CỦA CON SỐ TRONG THÀNH NGỮ, TỤC NGỮ, CA DAO VIỆT NAM Chuyên ngành: Lý luận ngôn ngữ Mã số

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

TRẦN THỊ LAM THỦY

ĐẶC ĐIỂM NGỮ PHÁP VÀ NGỮ NGHĨA

CỦA CON SỐ TRONG THÀNH NGỮ, TỤC NGỮ,

CA DAO VIỆT NAM

LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGỮ VĂN

NGHỆ AN - 2013

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

TRẦN THỊ LAM THỦY

ĐẶC ĐIỂM NGỮ PHÁP VÀ NGỮ NGHĨA CỦA CON SỐ TRONG THÀNH NGỮ, TỤC NGỮ,

CA DAO VIỆT NAM

Chuyên ngành: Lý luận ngôn ngữ

Mã số: 62.22.01.01 LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGỮ VĂN

Người hướng dẫn khoa học:

PGS TS PHAN MẬU CẢNH

NGHỆ AN - 2013

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan công trình nghiên cứu này là của riêng tôi Các công trình nghiên cứu khác có liên quan, được trích dẫn trong công trình đều được chú thích rõ ràng ở phần Tài liệu tham khảo Mọi kiến giải, kết luận là kết quả nghiên cứu của bản thân tôi, không sao chép bất kỳ tài liệu nào Nếu có gì sai sót, tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm

Vinh, ngày 01 tháng 7 năm 2013

NGƯỜI VIẾT

Trần Thị Lam Thủy

Trang 4

MỤC LỤC Trang

Trang bìa phụ 1

LỜI CAM ĐOAN 2

QUY ĐỊNH VIẾT TẮT TRONG LUẬN ÁN 5

CÁC BẢNG THỐNG KÊ TRONG LUẬN ÁN 6

MỞ ĐẦU 7

1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI 7

2 LỊCH SỬ VẤN ĐỀ 8

3 ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI VÀ NGUỒN TƯ LIỆU NGHIÊN CỨU 16

4 MỤC ĐÍCH, NHIỆM VỤ CỦA ĐỀ TÀI 17

5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 17

6 ĐÓNG GÓP CỦA ĐỀ TÀI 18

7 BỐ CỤC CỦA LUẬN ÁN ………19

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ THUYẾT LIÊN QUAN ĐẾN CON SỐ 20

1.1 Khái niệm con số 20

1.1.1 Số từ trong phạm trù ý nghĩa chỉ lượng 20

1.1.2 Định nghĩa về số từ 20

1.1.3 Đặc điểm của số từ 21

1.1.4 Về thuật ngữ “con số” 23

1.1.5 Xác định khái niệm “con số” được áp dụng trong Luận án 23

1.2 Thành ngữ, tục ngữ và ca dao và vấn đề con số 24

1.2.1 Khái niệm thành ngữ, tục ngữ, ca dao 24

1.2.2 So sánh thành ngữ, tục ngữ và ca dao 26

1.2.3 Cơ sở tìm hiểu đặc điểm con số trong thành ngữ, tục ngữ, ca dao người Việt 28

1.3 Lý thuyết về nghĩa 29

1.3.1 Khái quát về nghĩa 29

1.3.2 Nghĩa gốc và nghĩa biểu trưng 31

1.4 Vấn đề con số trong thành ngữ, tục ngữ, ca dao từ góc độ ngôn ngữ - văn hóa 33

1.4.1 Mối quan hệ giữa ngôn ngữ, tư duy và văn hoá 33

1.4.2 Mối quan hệ giữa ngôn ngữ, tư duy, văn hoá trong thành ngữ, tục ngữ, ca dao 35

1.4.3 Một số quan niệm về con số trong văn hóa Việt Nam 37

1.5 Tiểu kết 44

Chương 2 ĐẶC ĐIỂM NGỮ PHÁP CỦA CON SỐ TRONG THÀNH NGỮ, TỤC NGỮ, CA DAO 45

2.1 Đặc điểm từ loại của con số trong thành ngữ tục ngữ, ca dao 45

2.1.1 Về thuật ngữ Từ loại 45

2.1.2 Từ loại của con số trong thành ngữ, tục ngữ và ca dao 46

2.2 Đặc điểm khả năng kết hợp của con số trong thành ngữ, tục ngữ, ca dao 50

2.2.1 Cơ sở xác định đặc điểm khả năng kết hợp của con số 50

2.2.2 Đặc điểm khả năng kết hợp của con số với các từ loại trong thành ngữ, tục ngữ, ca dao 51

2.2.3 Khả năng kết hợp của con số với con số trong thành ngữ, tục ngữ, ca dao 58

Trang 5

2.3 Đặc điểm chức năng ngữ pháp của con số trong thành ngữ, tục ngữ, ca dao 67

2.3.1 Cơ sở xác định chức năng ngữ pháp của con số 67

2.3.2 Đặc điểm chức năng ngữ pháp của con số trong cụm từ 67

2.3.3 Chức vụ ngữ pháp của con số trong câu 71

2.4 Tiểu kết 74

Chương 3 NGỮ NGHĨA CỦA CON SỐ TRONG THÀNH NGỮ, TỤC NGỮ, CA DAO 75

3.1 Bước đầu khảo sát ý nghĩa của con số trong thành ngữ, tục ngữ, ca dao 78

3.2 Nghĩa gốc của con số trong thành ngữ, tục ngữ, ca dao 76

3.2.1 Con số chỉ thời gian là những ngày, tháng trong năm 76

3.2.2 Con số chỉ tuổi tác 76

3.2.3 Con số chỉ lượng trong kinh nghiệm lao động, sinh hoạt 77

3.2.4 Con số chỉ đơn vị trong việc đo đếm, tính toán 77

3.3 Nghĩa biểu trưng của con số trong thành ngữ, tục ngữ, ca dao 78

3.3.1 Nghĩa biểu trưng của những con số lẻ 78

3.3.2 Nghĩa biểu trưng của những con số chẵn 91

3.3.3 Ý nghĩa biểu trưng của những con số lớn 100

3.3.4 Ý nghĩa biểu trưng của số thứ tự trong thành ngữ, tục ngữ, ca dao 102

3.3.5 Nhận xét về ý nghĩa biểu trưng của các con số 103

3.4 Tiểu kết 107

Chương 4 VAI TRÒ VÀ ĐẶC TRƯNG VĂN HÓA CỦA CON SỐ TRONG THÀNH NGỮ, TỤC NGỮ VÀ CA DAO NGƯỜI VIỆT 108

4.1 Vai trò của con số trong thành ngữ, tục ngữ và ca dao 108

4.1.1 Con số góp phần tạo cấu trúc nhịp điệu trong thành ngữ, tục ngữ, ca dao 108

4.1.2 Con số góp phần tạo các biện pháp tu từ trong thành ngữ, tục ngữ, ca dao 114

4.1.3 Con số góp phần biểu hiện thái độ trong thành ngữ, tục ngữ, ca dao 123

4.2 Biểu hiện văn hóa của con số trong thành ngữ, tục ngữ, ca dao 126

4.2.1 Con số thể hiện nhận thức về tự nhiên 126

4.2.2 Con số thể hiện nhận thức về xã hội 127

4.2.3 Con số thể hiện cách tính toán, đo lường của người Việt 128

4.3 Một số quan niệm về con số thịnh hành hiện nay 131

4.4 Bước đầu lý giải cơ sở của những quan niệm về con số 132

4.4.1 Ảnh hưởng của triết lý âm dương 132

4.4.2 Tri nhận của người Việt từ mối liên quan giữa con số với thế giới tự nhiên 133

4.4.3 Ảnh hưởng của ngôn ngữ 134

4.5 Tiểu kết 136

KẾT LUẬN 137

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ 140

TÀI LIỆU THAM KHẢO 141

Trang 6

QUY ĐỊNH VIẾT TẮT TRONG LUẬN ÁN

Trang 7

CÁC BẢNG THỐNG KÊ TRONG LUẬN ÁN

Trang Bảng 1.1 Hệ thống điểm khác biệt giữa thành ngữ, tục ngữ, ca dao 28 Bảng 2.1 Hệ thống từ loại của con số trong thành ngữ, tục ngữ, ca dao 49 Bảng 2.2 Thống kê khả năng kết hợp của con số trong thành ngữ, tục ngữ,

ca dao 57 Bảng 2.3 Tần số sử dụng số độc lập / kết hợp trong thành ngữ, tục ngữ,

ca dao 58 Bảng 2.4 Thống kê tần số sử dụng số/đơn vị-câu-bài trong thành ngữ, tục

ngữ, ca dao 59 Bảng 2.5 Hệ thống các kết hợp con số với con số trong thành ngữ, tục

ngữ và ca dao 65 Bảng 2.6 Hệ thống chức năng ngữ pháp của con số trong thành ngữ, tục

ngữ, ca dao 73 Bảng 3.1 Thống kê tần số sử dụng con số trong thành ngữ, tục ngữ, ca dao 75 Bảng 3.2 Thống kê ý nghĩa biểu trưng của các con số trong thành ngữ, tục

ngữ, ca dao 104 Bảng 3.3 Thống kê sự khác biệt qua so sánh con số trong thành ngữ, tục

ngữ và ca dao 106 Bảng 4.1 Hệ thống các hình thức cấu tạo nhịp điệu của con số trong thành

ngữ, tục ngữ, ca dao 113 Bảng 4.2 Hệ thống các biện pháp tu từ của con số trong thành ngữ, tục

ngữ và ca dao 123

Trang 8

b Việc nghiên cứu con số từ góc độ ngôn ngữ học đã được đề cập ở nhiều công trình Tuy nhiên, cho đến nay, các kết quả nghiên cứu về con số mới chỉ dừng lại ở một số nhận xét khái quát, thiên về ngữ pháp (khả năng kết hợp, từ loại, ) Nhiều phương diện về ngữ nghĩa, ngữ dụng, văn hóa của con số chưa được các công trình nghiên cứu bàn luận một cách hệ thống và chuyên sâu Đây là vấn đề cần được quan tâm tìm hiểu, qua đó góp phần làm sáng tỏ về đặc điểm ngữ pháp - ngữ nghĩa và văn hóa của con số trong tổ chức giao tiếp ngôn từ của xã hội

1.2 Về thực tiễn

a Con số là một hiện tượng mang tính phổ dụng trong mọi lĩnh vực của đời sống hàng ngày Hầu như lĩnh vực giao tiếp nào, đơn vị giao tiếp nào cũng có mặt ở những mức độ khác nhau các từ ngữ chỉ lượng, trong đó có con số Cuộc sống là phải tính đếm, đo lường, phân chia, xếp loại, các hành động này xuất phát từ con

số, liên quan đến con số

Trang 9

b Thành ngữ, tục ngữ và ca dao người Việt là sự kết tinh của trí tuệ, tình cảm, phản ánh muôn mặt đời sống xã hội từ lâu đời; những hoạt động tính toán, đo đếm thông qua các con số cũng xuất hiện với tần số cao trong thành ngữ, tục ngữ và

ca dao Hiện tượng này cần được khảo sát, phân tích, đánh giá

Trên đây là những căn cứ lý luận, thực tiễn đồng thời là đòi hỏi cần thiết của việc nghiên cứu con số Đây chính là lý do để chúng tôi thực hiện đề tài này

2 LỊCH SỬ VẤN ĐỀ

2.1 Lịch sử ra đời của con số

Trong chiều dài lịch sử của nhân loại, các phát minh khoa học vĩ đại lần lượt

ra đời Trong đó có sự hình thành của những con số

Từ năm nghìn năm về trước, con số đã ra đời Ban đầu nó đơn thuần chỉ là những khắc vạch, những nút thắt trên dây với mục đích ghi nhớ, định lượng các đồ vật, các sản phẩm săn bắn, trồng trọt hoặc để trao đổi, phân chia sản phẩm.v.v Đến đời Ân Thương (Trung Quốc) thì con số đã hoàn chỉnh từ 0 đến 9 và dần dần tạo nên hình hài vóc dáng ổn định như ngày nay Mặc dù chúng ta vẫn quen gọi các con số 1, 2, 3, , 9 là chữ số Ả Rập nhưng kì thực là do người Ấn Độ sáng tạo và sử dụng đầu tiên trên thế giới Vào thế kỉ thứ VII (TCN) những người Hồi giáo Ả Rập

đã chinh phục Ấn Độ và đặt nền thống trị tại nước này Sau năm 750 (TCN) người

Ả Rập đã tiếp thu và truyền bá rộng rãi cách viết các chữ số của người Ấn Độ sang các nước châu Âu Chính vì thế mà người ta gọi là chữ số Ả Rập

Bên cạnh đó, còn có hệ thống chữ số La Mã do người La Mã sáng tạo Nó gồm bảy chữ số: I = 1, V = 5, X = 10, L = 50, C = 100, D = 500, M = 1000 Từ bảy con số này, người ta tạo nên những con số khác nhau Chữ số La Mã không có số 0 Đến thế kỉ thứ V (TCN) con số 0 mới từ phương Đông du nhập vào

Dù ra đời ở phương Đông hay phương Tây, các con số không chỉ độc lập thực hiện các chức năng đơn giản là cân, đo, đong, đếm sự vật, hiện tượng mà nó gắn liền với đời sống văn hoá của từng dân tộc Theo thời gian, bên cạnh việc sùng bái linh vật ở ngôn ngữ người ta cũng đã sùng bái những con số và gắn cho nó cách nhìn may rủi của cuộc sống Qua đó, nó biểu thị được chiều sâu văn hoá trong tâm thức nhân loại Lẽ đương nhiên, con số trở thành đối tượng được sự quan tâm của

Trang 10

nhiều ngành khoa học khác nhau, trên nhiều lĩnh vực khác nhau như toán học, thiên văn học, công nghệ thông tin, văn hóa học, văn học dân gian, thi pháp học, ngôn ngữ học.v.v…

Với việc xem xét con số trong ba thể loại thành ngữ, tục ngữ, ca dao, chúng tôi nhận thấy có các hướng nghiên cứu sau:

2.2 Nghiên cứu con số trong Ngôn ngữ học

a Nghiên cứu con số từ phương diện từ vựng, ngữ pháp

Từ phương diện từ vựng, ngữ pháp, hầu hết các công trình nghiên cứu đều đề

cập đến con số ở những mức độ khác nhau về các mặt: khái niệm con số, xem xét con số về từ loại, thực từ hay hư từ, khả năng kết hợp và chức vụ ngữ pháp, ý nghĩa

và vai trò của con số v.v

Về tên gọi, con số được xác định bằng những tên gọi khác nhau, và kèm theo

đó là cách nhìn nhận xếp loại con số cũng không giống nhau Nguyễn Lân gọi con

số là tính từ: “Những tính từ này dùng với danh từ để chỉ số lượng và thứ tự những

người hoặc sự vật mà danh từ biểu thị” [105; tr 252]

Xu hướng thứ hai, gọi con số là lượng số: “Lượng số chỉ định tự gồm có:

những số đếm, những tiếng chỉ lượng nhiều hay ít, những tiếng chỉ phân số hay bội số” [94; tr 53] “Lượng số chỉ định tự nói về các số đếm, có thứ là tiếng đơn, có thứ

là tiếng ghép” [52; tr 53] “Lượng số chỉ định tự là tiếng người ta đặt ở trước tiếng

danh - tự để chỉ số nhiều hay số đếm nhất định 1 Lượng số chỉ định tự nói về số đếm là những tiếng đếm từ số một trở lên 2 Lượng số chỉ định tự nói về số nhiều

hay ít” [75; tr 59]

Xu hướng thứ ba, coi con số là một tiểu loại của danh từ - gọi là danh từ số

lượng: “Danh từ chỉ số lượng sự vật (nói gọn là “danh từ số lượng”) Khái niệm sự

vật thường đi với khái niệm số lượng, cho nên trong thực tiễn sử dụng ngôn ngữ, dùng danh từ đơn thể hay tổng thể là thường có bao hàm nghĩa số lượng Nghĩa là

được biểu thị bằng những từ như: một, hai, ba, mười, một trăm những, các, vài, mấy, tất cả, v.v Những từ này cũng có thể coi là danh từ, đó là danh từ số lượng

… Đáng chú ý là danh từ số lượng, trừ trường hợp đặc biệt, không dùng làm chính

tố trong ngữ mà chỉ làm thành tố phụ” [97; tr 38]

Trang 11

Xu hướng thứ tư, cũng là xu hướng chiếm đa số ý kiến của các nhà ngôn ngữ học (Nguyễn Kim Thản (1963), Đỗ Hữu Châu (1962), Nguyễn Anh Quế (1976), Hữu Quỳnh (1980), Lê Biên (1998), Nguyễn Tài Cẩn (1999), Diệp Quang Ban - Hoàng Văn Thung (1999), Đỗ Thị Kim Liên (1999).v.v…) gọi tập hợp các con số trong tiếng Việt là số từ

Về khái niệm số từ, Nguyễn Tài Cẩn viết: “Số từ có ý nghĩa số lượng, chúng

có ý nghĩa chân thực” [19; tr 336]; Nguyễn Kim Thản: “Số từ là từ loại biểu thị số lượng và thứ tự Số từ chia thành hai tiểu loại: số từ chỉ lượng và số từ chỉ thứ tự”

[86; tr 218]; Đỗ Hữu Châu cho rằng: số từ “là những thực từ biểu thị các ý nghĩa phạm trù được thể hiện bằng số, số lượng, đơn vị đo lường và các phạm trù của tư

duy có liên quan đến số lượng trình tự khi đếm.” [20; tr 20]; Lê Biên cho rằng: “Số

từ biểu thị ý nghĩa số lượng, đó là số đếm như một, hai, bảy, chín hoặc có thể là số

chỉ thứ tự như nhất, nhì” [8; tr 138]; Diệp Quang Ban - Hoàng Văn Thung: “Số từ

gồm những từ biểu thị ý nghĩa số” [4; tr 107]; Đỗ Thị Kim Liên: số từ có ý nghĩa

“thường chỉ số lượng: hai, ba, bốn, sáu, bảy ”[57; tr 56], “Đối với số từ, ý nghĩa gốc, ý nghĩa phạm trù của chúng là ý nghĩa số lượng Loại ý nghĩa này được tư duy

nhận thức như những giá trị thực” [60; tr 119] v.v…

Về các tiểu loại trong số từ: cho đến nay còn có nhiều ý kiến, nhiều cách

chia khác nhau Dưới đây là một số cách phân loại của một số tác giả tiêu biểu:

Tác giả Diệp Quang Ban và Hoàng Văn Thung, Lê Biên chia số từ thành hai

tiểu loại, đó là: “Số từ xác định gồm những từ chỉ ý nghĩa số lượng chính xác: hai,

sáu, mười lăm, ba sáu Những từ chỉ số lượng là phân số: hai phần ba, bốn phần năm Số từ không xác định gồm những từ biểu thị ý nghĩa không chính xác với ý nghĩa phiếm định hay phỏng định: vài, dăm, mươi, mấy, vài ba, dăm ba, một vài, ba bảy, năm bảy.v.v…” [4; tr.108], [8]

Theo tác giả Lê Biên, khác với ngôn ngữ Ấn Âu, tiếng Việt không có riêng thành hệ thống một tiểu loại số thứ tự mà sử dụng phương thức trật tự từ:

Ví dụ: Hai giờ, ba lớp

Và:

Số từ + danh từ = số đếm

Thực từ (danh từ, đại từ) + số từ chính xác = thứ tự

Trang 12

Ví dụ: Phòng 12, Lớp bốn [8]

Nguyễn Anh Quế, Nguyễn Hữu Quỳnh chia số từ trong tiếng Việt thành ba

tiểu loại, gồm: số từ chính xác (một, ba, năm, chẳng hạn: ba con gà, hai cô gái );

s ố từ thứ tự (Phòng số sáu, gác thứ ba ); số từ ước lượng (là loại số từ chỉ có một

số lượng ước chừng chứ không chính xác Những số từ ước lượng thường thấy là: vài, vài ba, dăm ba, dăm bảy, đôi ba, mươi lăm, mươi mười lăm, vài bốn, mươi hai ) [81; tr 87], [82; tr 75]

Đỗ Thị Kim Liên phân chia số từ thành bốn tiểu loại gồm: số từ chỉ số lượng

chính xác (một, hai, ba,…); số từ ước chừng (vài, dăm, dăm ba, ba bảy, mươi, đôi

mươi, mươi hai, mươi ba, mươi lăm, mươi bảy,…); số từ chỉ thứ tự: dùng để chỉ một đại lượng được xếp theo một trình tự của tư duy (Chúng gồm các số từ tự

nhiên: thứ hai, thứ ba hoặc các danh từ gốc Hán như nhất, nhì (nhị), tam, tứ); số

từ dùng với ý nghĩa biểu trưng: ngàn, vạn, trăm, một, ba, năm, bảy, chín, mười,

loại số từ này mang nghĩa không hoàn toàn tương ứng với vỏ vật chất của chúng Ví

dụ: Một duyên hai nợ âu đành phận / Năm nắng mười mưa dám quản công (Trần Tế

Xương) [57; tr 75]

Về việc xác định con số là thực từ hay hư từ, đến nay còn tồn tại hai xu

hướng trong các công trình nghiên cứu của các nhà Việt ngữ học:

Xu hướng thứ nhất xem số từ là thực từ, gồm các tác giả: Đỗ Hữu Châu [20], Lê Biên [8], Nguyễn Hữu Quỳnh [82, 83], Đỗ Thị Kim Liên [57, 60].v.v… Chẳng hạn, tác giả Đỗ Thị Kim Liên phân tích:

“Số từ là những từ dùng để chỉ số lượng: hai, ba, bốn

Đặc điểm về khả năng kết hợp: - Số từ có khả năng làm thành tố trung tâm

của cụm số từ nhưng hạn chế: Hai với hai là bốn; - Có khả năng làm thành tố phụ trong cụm danh từ để hạn định cho danh từ ý nghĩa số lượng: Ba gian nhà sạch sẽ

(Nam Cao, Đôi mắt); - Có khả năng làm thành phần chính của câu, như chủ ngữ,

khi làm vị ngữ thì phía trước phải có từ là

Như vậy, xét về đặc điểm ý nghĩa khái quát và khả năng kết hợp thì số từ hoàn toàn có đầy đủ những đặc điểm của thực từ” [60; tr.178]

Trang 13

Xu hướng thứ hai cho rằng số từ vừa có tính chất thực từ vừa có tính chất hư từ: “Xét theo đối tượng phản ánh trong nhận thức và tư duy, ý nghĩa số vừa có tính chất thực (khái niệm số thường gắn với khái niệm thực thể), vừa có tính chất hư (không tồn tại như những thực thể hay quá trình) đặc điểm về khả năng kết hợp cũng phản ánh tính chất trung gian (vừa gần gũi với hư từ vừa gần gũi với thực từ)

của số từ” (Diệp Quang Ban, Hoàng Văn Thung) [4; tr 107]

Tuy nhiên dù là tên gọi nào, lượng số, tính từ, danh từ số lượng hay số từ; dù

ý nghĩa từ vựng - thực từ - hay ý nghĩa quan hệ - hư từ - thì các tác giả đều thống nhất tại một điểm xác định đó là những từ biểu thị ý nghĩa số lượng và thứ tự, đồng thời ngoài nghĩa cụ thể đó những con số còn được dùng với nghĩa biểu trưng - nói cách khác nhiều con số xuất hiện trong những ngữ cảnh mà nghĩa nó biểu thị không hoàn toàn tương ứng với vỏ vật chất của chúng - đó là nghĩa biểu trưng

b Nghiên cứu con số từ phương diện ngôn ngữ - văn hóa

Đây là hướng nghiên cứu mới, vừa xem xét ngôn ngữ với khả năng hành chức của nó vừa nghiên cứu những ảnh hưởng của nó trong văn hóa, với văn hóa Hướng nghiên cứu này đã thu hút nhiều tác giả, nhiều nhà nghiên cứu quan tâm tìm

hiểu Chẳng hạn: tác giả Trần Gia Anh [1; 2] ngoài việc tìm hiểu con số trong thành

ngữ, tục ngữ, ca dao còn quan tâm tới giá trị biểu trưng của con số trong truyện dân gian, trong đời sống văn hoá của người Việt Các nhà ngôn ngữ - văn hoá học như Trần Ngọc Thêm [89; 90], Trần Quốc Vượng [103; 104], Phan Ngọc [70; 71], Nguyễn Đăng Duy [29], Nguyễn Đức Tồn [96],… bên cạnh những vấn đề của văn hoá cũng đã đề cập đến vị trí của con số trong văn bản nghệ thuật văn học dân gian, tính biểu trưng của con số trong nghệ thuật ngôn từ của người Việt Đặc biệt các tác giả đã hệ thống các quan niệm về con số trong đời sống văn hóa của các dân tộc trên thế giới và của người Việt Chỉ ra những điểm tương đồng và khác biệt giữa các nền văn hóa qua những quan niệm về con số Theo các tác giả, dù là dân tộc nào thì ấn tượng số vẫn tồn tại ba dạng cơ bản Đó là: hình thành những ấn tượng số kiêng kị, may mắn; dùng ấn tượng số để diễn đạt trong các loại hình tục ngữ, thành ngữ, ca dao và văn học; dùng con số để giải thích số phận, duyên phận v.v

Trang 14

Điều đó cho thấy ý nghĩa của con số có một ảnh hưởng rõ rệt tới văn hoá, văn học nói chung và các tác phẩm nghệ thuật nói riêng của người Việt

c Nghiên cứu con số từ phương diện ngữ dụng học

Các tác giả Đỗ Thị Kim Liên, Nguyễn Văn Khang là những người đi đầu trong việc nghiên cứu ngữ nghĩa của con số trong lời nói trên phương diện ngữ dụng học Đặc biệt, tác giả Đỗ Thị Kim Liên đã có những công trình tìm hiểu về

ngữ nghĩa của con số trong những văn bản cụ thể như Ngữ nghĩa của kết hợp có số

từ chỉ lượng “một” trong tục ngữ Việt Nam, (Tạp chí Ngôn ngữ, số 15, 2002), Ngữ nghĩa của những con số trong thơ Nguyễn Bính, (Tạp chí Ngôn ngữ và đời sống, số

7, 2005) Tác giả Nguyễn Văn Khang có Ngôn ngữ - Văn hóa Trung Hoa qua cách

sử dụng các con số, (Ngôn ngữ và đời sống, số 1 + 2, 2001); Trần Thị Minh Hòa

(Tư duy con số trong thơ Nguyễn Bính, Ngữ học trẻ 2011) v.v Một số công trình

đã quan tâm đến việc sử dụng con số trong khi nói, viết, cung cấp cho độc giả tri

thức về con số, như: Từ vựng chữ số và số lượng của Bùi Hạnh Cẩn [15], Từ điển công cụ của tác giả Đỗ Thanh [87].v.v

d Nghiên cứu con số từ phương diện ngôn ngữ học tri nhận

Ngôn ngữ học tri nhận đã mở ra một hướng mới trong quá trình nghiên cứu ngôn ngữ, trong đó có con số Ở Việt Nam, một số tác giả đã nghiên cứu ngôn ngữ học theo hướng tri nhận, tiêu biểu là: Lý Toàn Thắng [88], Trần Văn Cơ [24], Nguyễn Xuân Vinh - Nguyễn Phú Thứ [102] Trong đó, tác giả Trần Văn Cơ khi giới thiệu một

số bức tranh ngôn ngữ về thế giới đã đề cập đến con số với ý niệm về “số phận”; lần

lượt điểm qua ý nghĩa của các con số từ một đến mười trong quan niệm của nhiều nước trên thế giới; giới thiệu bài viết của Trường Xuân với tiêu đề “Số 7: một con số kỳ

diệu” [24; tr 243-246] Tác giả Nguyễn Xuân Vinh, Nguyễn Phú Thứ cũng đề cập đến con số năm trong nhiều lĩnh vực của đời sống Đặc biệt, trên các Website, nhiều bài viết, ý kiến trao đổi cũng đề cập đến những quan niệm về số, số kiêng kỵ, số may

mắn.v.v Chẳng hạn, ngày 5/4/2011, trang vanhoanghean.vn có đăng bài của Trần Quang Chiểu “Con số ba và những ẩn chứa văn hóa”; trang anninhthudo.vn ngày

6/3/2012 đăng bài “Diệu kỳ và thú vị con số ba trong văn hóa Việt Nam” của tác giả

Tô Vũ Thành (Giảng viên Khoa Ngoại ngữ - Đại học Thái Nguyên) Nhiều website

Trang 15

như www.blogphongthuy.com; www.facts.baomoi.com; www.vi.wikipedia.org; www.baomoi.com; www.facebook.com; đều có những trao đổi về quan niệm số, cách nghĩ và sử dụng số của người Việt nói riêng và một số dân tộc trên thế giới nói chung; ảnh hưởng của việc kiêng kỵ số trong đời sống.v.v

2.3 Nghiên cứu con số từ phương diện văn học, văn hóa dân gian

Từ trước tới nay, đã có nhiều công trình nghiên cứu thành ngữ, tục ngữ, ca dao và các loại hình sáng tác dân gian (như truyện thần thoại, truyền thuyết, cổ tích;

sử thi các dân tộc miền núi, ) từ nhiều góc độ với hàng trăm công trình sưu tầm, nghiên cứu khác nhau

Ở phạm vi quốc tế, có thể kể đến E.B Tylor (1871) nghiên cứu về văn hóa nguyên thủy, V.Ia Prôp bàn về Folklore và thực tại, V.M Rôdin (1998) tìm hiểu các trường phái văn hóa học thế giới, R Lado (1957) tìm hiểu ngôn ngữ học qua các nền văn hóa v.v Nhiều công trình đã làm rõ bản sắc văn hóa của các đối tượng nghiên cứu, góp phần bảo vệ và duy trì những nét đẹp của truyền thống, xây dựng

xã hội ngày càng văn minh

Ở Việt Nam, có thể kể tên một số công trình tiêu biểu: Văn hóa và ngôn ngữ Việt Nam thời tiền sử (Hà Văn Tấn, 1993), Việt Nam văn hóa sử cương (Đào Duy

Anh, 2000), Cơ sở văn hóa Việt Nam (Trần Quốc Vượng - chủ biên, 2005), Văn hóa Việt Nam trong bối cảnh Đông Nam Á (Phạm Đức Dương, 2000) v.v

Một số công trình tìm hiểu sâu về bản sắc văn hóa dân tộc, như: Tìm về bản sắc dân tộc của văn hóa (Hồ Sĩ Vịnh, 1993), Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam (Trần Ngọc Thêm, 2001), Bản sắc văn hóa Việt Nam (Phan Ngọc, 2006), Bàn về văn hóa ứng xử của người Việt Nam (Nguyễn Tất Thịnh, 2006), Văn hóa ứng xử truyền thống của người Việt (Lê Văn Quán, 2007), Người Việt, phẩm chất và thói

hư tật xấu (Nhiều tác giả, 2008) v.v Các công trình nghiên cứu nhìn chung đã

xem xét trên nhiều phương diện: Văn hóa dân tộc Việt thể hiện qua các công trình vật thể được lưu giữ từ trong quá khứ hay mới được xây dựng; thể hiện trong sinh hoạt hàng ngày, thể hiện qua các lễ hội, phong tục tập quán, ngôn ngữ v.v Khi bàn đến sự thể hiện của văn hóa trong các sáng tác dân gian như thành ngữ, tục ngữ

và ca dao, các công trình khoa học đã nghiên cứu trên một số hướng cơ bản gồm:

Trang 16

- Nghiên cứu tục ngữ, ca dao từ góc độ thi pháp học: Thi pháp ca dao (Nguyễn Xuân Kính, 2004); Tìm hiểu thi pháp tục ngữ Việt Nam (Phan Thị Đào,

2001); Tiếp cận ca dao bằng phương pháp xâu chuỗi (Triều Nguyên, 2003).v.v…

- Từ góc độ ngôn ngữ - văn hóa: Nghệ thuật chơi chữ trong ca dao người Việt (Triều Nguyên, 1999), Đặc trưng cấu trúc - ngữ nghĩa của thành ngữ, tục ngữ trong ca dao người Việt (Nguyễn Nhã Bản, 2005) Nhiều công trình nghiên cứu văn hóa từ góc độ ngôn ngữ: Một số chứng tích về ngôn ngữ, văn tự và văn hóa (Nguyễn Tài Cẩn, 2005), Giao tiếp phi ngôn qua các nền văn hóa (Nguyễn Quang, 2008), Tìm hiểu đặc trưng văn hóa - dân tộc qua ngôn ngữ và tư duy người Việt

(Nguyễn Đức Tồn, 2002).v.v

Khi đề cập đến con số trong thành ngữ, tục ngữ, ca dao, hầu như các tác giả mới chỉ dừng lại phân tích ý nghĩa của việc sử dụng con số đối với bản thân tác phẩm Chẳng hạn, tác giả Tạ Đức Hiền, khi đi vào tìm hiểu các bài ca dao, đã nói

đến tác dụng, ý nghĩa của con số trong ca dao Ví dụ với bài ca dao: Chiều chiều ra đứng ngõ sau / Trông về quê mẹ ruột đau chín chiều, tác giả đã viết: “Nhà thơ dân

gian không sử dụng một bổ ngữ, một trạng ngữ mà lại dùng số từ “chín chiều” để

bộc lộ tâm trạng thật là độc đáo” [45] Hoặc Nguyễn Thị Thương nhấn mạnh đến

việc hàng loạt các số từ xuất hiện trong một bài ca dao: “Một loạt số từ sắp xếp theo thứ tự tăng dần từ thấp đến cao, kết nối thật tự nhiên và hài hoà với các tính từ diễn

tả các cung bậc tình cảm tăng tiến dần từ mức độ nhẹ đến mức độ sâu đậm hơn”

[93] Tác giả Triều Nguyên khi khảo sát một số bài ca dao có cấu trúc một, hai, mười thương đã viết: “Các số từ “một”, “hai”, “mười” ở vị trí đầu của mười dòng

thơ, thể hiện sự chặt chẽ khuôn thước, tương đương với cách nói: một là, hai là ; điều thứ nhất là, điều thứ hai là chúng nhằm báo trước, nhấn mạnh điều sắp nói ra

là dứt khoát, quan trọng và cũng chủ đích với điều đã nói ” [73] Nhìn chung các tác giả còn đang xem xét con số với tư cách là một biện pháp tu từ, một thủ pháp nghệ thuật được sử dụng trong tác phẩm cụ thể

Càng về sau, con số càng ngày càng được sự quan tâm của các nhà phê bình, nghiên cứu Không dừng lại ở những vấn đề đơn giản, cục bộ trong từng văn bản

mà các tác giả đã bắt đầu chú ý đến vấn đề thi pháp, vấn đề ngôn ngữ - văn hoá của

Trang 17

con số Mặc dù các con số chưa được khai thác một cách đầy đủ và toàn diện song

đã vạch ra hướng nghiên cứu mới cho những người đi sau

Tuy nhiên, những tìm hiểu, nghiên cứu đó - nói riêng ở đối tượng nghiên cứu

là con số, theo những tư liệu mà chúng tôi có được, mới chỉ là những ý kiến bàn luận, nói thêm nhân bàn đến những vấn đề khác của thành ngữ, tục ngữ, ca dao (như khi nói về nội dung của ca dao, thi pháp ca dao, cấu trúc của thành ngữ, tục ngữ, ca dao ) mà chưa có một chuyên luận bàn sâu và kỹ dành riêng cho việc tìm hiểu đặc trưng văn hóa dân tộc từ những quan niệm về con số trong thành ngữ, tục ngữ, ca dao người Việt như thế nào

Nhìn chung, con số đã được giới nghiên cứu quan tâm ở những mức độ khác nhau trong nhiều công trình nghiên cứu trên nhiều phương diện Nhiều tác giả cho rằng đây là một vấn đề có giá trị lý luận và thực tiễn Tuy vậy, cho đến nay, chưa công trình nào nghiên cứu một cách toàn diện và hệ thống về con số Nhất là con số xuất hiện trong cả ba thể loại thành ngữ, tục ngữ và ca dao Tuy nhiên, những kết quả đã có được, có ý nghĩa gợi mở, cung cấp cơ sở lý luận cần thiết cho chúng tôi

trong việc nghiên cứu đặc điểm và ý nghĩa của con số trong đề tài này

3 ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI VÀ NGUỒN TƯ LIỆU NGHIÊN CỨU 3.1 Đối tượng

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là khảo sát, tìm hiểu hoạt động các con số

mà người Việt sử dụng từ góc độ ngôn ngữ học trong thành ngữ, tục ngữ, ca dao

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Với đối tượng trên, luận án xác định phạm vi nghiên cứu của đề tài là thống

kê, phân loại, mô tả và phân tích lí giải con số ở các phương diện: ngữ pháp, ngữ nghĩa Tư liệu để khảo sát, tìm hiểu con số giới hạn trong ba thể loại: thành ngữ, tục ngữ và ca dao người Việt Đồng thời, để làm rõ sự hoạt động của con số trong ngữ cảnh cũng như vai trò của con số trong nhận thức tư duy của dân gian, luận án còn xem xét con số từ góc độ ngôn ngữ - văn hóa

3.3 Nguồn tư liệu

Nguồn tư liệu dùng để thống kê số liệu, phân tích các đặc điểm và dẫn chứng minh họa về con số của Luận án này là các công trình:

Trang 18

- Từ điển thành ngữ Việt Nam, Nguyễn Như Ý, Nguyễn Văn Khang, Phan

Xuân Thành, Nxb Văn hóa, 1993 (679 trang)

- Kho tàng ca dao người Việt (2 tập), Nguyễn Xuân Kính - Phan Đăng Nhật,

Nxb Văn hóa Thông tin, Hà Nội, 2002 (2.779 trang)

- Kho tàng tục ngữ người Việt (2 tập), Nguyễn Xuân Kính (chủ biên) Nxb

Văn hóa Thông tin, Hà Nội, 2002 (3 236 trang)

- Từ vựng chữ số và số lượng, Bùi Hạnh Cẩn Nxb Văn hóa Thông tin, Hà

4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để thực hiện mục đích trên, các nhiệm vụ chính của luận án là:

a Tổng quan lịch sử về con số, các quan niệm về con số và những vấn đề có liên quan đến khái niệm này

b Thống kê, phân loại các con số được dùng trong thành ngữ, tục ngữ và ca dao Nêu các đặc điểm về hoạt động ngữ pháp và ngữ nghĩa của các con số

c Phân tích làm rõ vai trò của con số trong thành ngữ, tục ngữ, ca dao người Việt và giải mã con số từ góc độ văn hóa

5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

5.1 Phương pháp thống kê, phân loại

Phương pháp này dùng để thống kê các con số và tần số xuất hiện của từng

con số trong thành ngữ, tục ngữ, ca dao trong nguồn tư liệu sưu tầm đã xác định Từ

đó Luận án phân loại các con số đã thống kê theo từng tiêu chí: khả năng kết hợp

Trang 19

của con số với các từ loại khác; chức vụ ngữ pháp của con số trong cụm từ, trong câu; nghĩa thực và nghĩa biểu trưng của con số; các kết hợp số Với kết quả thống

kê mang tính định lượng cụ thể, phương pháp này giúp miêu tả, phân tích con số ở những chương tiếp

5.2 Phương pháp miêu tả ngôn ngữ học

Phương pháp này dùng để miêu tả các ngữ cảnh, các đặc điểm ngữ pháp ngữ nghĩa của con số được sử dụng kết hợp với phương pháp thống kê để miêu tả đặc điểm của từng con số trong khả năng kết hợp và biểu đạt ngữ nghĩa Phương pháp này cũng được dùng để nêu rõ các biểu hiện của con số về mặt văn hóa, về mặt nhận thức của người Việt trong thành ngữ, tục ngữ và ca dao

5.3 Phương pháp phân tích ngữ nghĩa

Đây là phương pháp được áp dụng để phân tích cấu trúc nghĩa của từ, là một trong những phương pháp hàng đầu để phân tích ngữ nghĩa của các con số Với các thủ pháp phân loại, phân tích ngữ cảnh, phân tích nghĩa, nhằm cụ thể hóa và xác định chính xác nghĩa của các con số trong thành ngữ, tục ngữ, ca dao

5.4 Phương pháp so sánh

Phương pháp này được sử dụng trong hầu hết quá trình nghiên cứu, từ hoạt động ngữ pháp, ngữ nghĩa đến vai trò tổ chức văn bản của con số nhằm tìm ra nét tương đồng và khác biệt giữa các con số trong ba thể loại thành ngữ, tục ngữ, ca dao; đồng thời Luận án trong chừng mực nhất định so sánh con số trong thành ngữ, tục ngữ, ca dao với một số thể loại khác cũng có con số xuất hiện

5.5 Phương pháp phân tích - tổng hợp

Phương pháp này phân tích ngữ nghĩa của các con số trong các ngữ cảnh, từ

đó cố gắng khái quát những đặc điểm hoạt động chính của con số trong tiếng Việt; khái quát những quan niệm của người Việt về con số; vai trò của con số trong quan niệm của người Việt; những đặc trưng về mặt văn hóa của con số trong các ngữ

cảnh: thành ngữ, tục ngữ, ca dao

6 ĐÓNG GÓP CỦA ĐỀ TÀI

Kết quả của Luận án góp phần sáng tỏ thêm một số vấn đề lý luận của chuyên ngành Việt ngữ học về phương diện đặc điểm ngôn ngữ nói chung, số từ nói

Trang 20

riêng trong bộ phận văn học truyền miệng là thành ngữ, tục ngữ, ca dao; đồng thời giúp ích cho việc tìm hiểu đặc trưng văn hóa dân tộc của ngôn ngữ và tư duy được thể hiện trong di sản văn hóa tinh thần của dân tộc, phục vụ cho việc biên soạn các giáo trình từ vựng học và cũng giúp cho sự cảm thụ, phân tích và giảng dạy các tác phẩm văn học dân gian trong nhà trường

7 BỐ CỤC CỦA ĐỀ TÀI

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và danh mục Tài liệu tham khảo, luận án gồm

có 4 chương:

Chương 1: Những vấn đề lý thuyết liên quan đến con số

Chương 2: Đặc điểm ngữ pháp của con số trong thành ngữ, tục ngữ và ca

dao Việt Nam

Chương 3: Đặc điểm ngữ nghĩa của con số trong thành ngữ, tục ngữ và ca

dao Việt Nam

Chương 4: Vai trò và đặc trưng văn hóa của con số trong thành ngữ, tục

ngữ và ca dao Việt Nam

Trang 21

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ THUYẾT LIÊN QUAN ĐẾN CON SỐ

1.1 Khái niệm con số

1.1.1 Số từ trong phạm trù ý nghĩa chỉ lượng

Phạm trù số, và rộng hơn phạm trù chỉ lượng, là một phạm trù thuộc ý nghĩa ngữ pháp mang tính phổ quát của mọi ngôn ngữ Trong tiếng Việt, có một hệ thống các từ thuộc nhiều từ loại khác nhau cùng biểu đạt ý nghĩa chỉ lượng hay có liên

quan đến ý nghĩa chỉ lượng Có nhóm thuộc thực từ, có nhóm thuộc hư từ Đó là số

từ (1 - một, 2 - hai, 3 - ba ), phụ từ (những, các, mọi ); ngoài ra còn có cả những

từ loại khác, mặc dù ý nghĩa chỉ lượng không rõ bằng các từ loại trên, nhưng vẫn

bao hàm yếu tố chỉ lượng, đó là đại từ chỉ lượng (toàn thể, tất cả, tất thảy ), đại

từ chỉ thời gian (bao giờ, khi nào ), đại từ chỉ số (bao nhiêu, bấy nhiêu ), tính

từ chỉ đặc điểm (nhiều, ít, đông, đầy ), phụ từ chỉ mức độ (lắm, quá, hơi,

rất ).v.v…

Hệ thống từ gồm các từ loại tham gia diễn đạt ý nghĩa chỉ lượng nói trên có đặc điểm ngữ pháp và vai trò khác nhau khi tham gia vào trong tổ chức của lời nói,

tức là khi xuất hiện trong những ngữ cảnh cụ thể Chẳng hạn, các phụ từ chỉ lượng

là những từ có khả năng kết hợp với danh từ, là thành tố phụ trong cụm danh từ (những con đường, các bạn cùng lớp); các đại từ chỉ lượng có thể kết hợp như phụ

từ chỉ lượng (Tất cả mọi người đã sẵn sàng), có thể hoạt động như danh từ (Tất cả

đã sẵn sàng); các phụ từ chỉ mức độ kết hợp với các động từ hay tính từ, ở phía

trước hay sau cụm động từ hay tính từ (yêu thương lắm, đẹp quá) Trong số đó, số

từ là loại chuyên dụng, điển hình về biểu thị số lượng

1.1.2 Định nghĩa về số từ

Trên cơ sở các ý kiến bàn luận, đánh giá, và kết quả khảo cứu về số từ của

các công trình đi trước, để định hướng nghiên cứu rõ hơn, phù hợp với mục đích và

phạm vi của đề tài, chúng tôi xác định: Số từ là những từ chỉ số lượng (số lượng

xác định hoặc biểu trưng) và thứ tự của sự vật Khi biểu thị số lượng sự vật, số từ

thường đứng trước danh từ Khi biểu thị thứ tự, số từ đứng sau danh từ Như vậy số

từ ở đây được chia làm hai tiểu loại: số từ chỉ số lượng và số từ chỉ thứ tự Ví dụ:

Trang 22

- Số từ biểu thị ý nghĩa số lượng: ba ký, hai con, năm cái; Dù ai nói ngả, nói nghiêng / Lòng ta vẫn vững như kiềng ba chân (cd)

a Số từ biểu thị nghĩa về số lượng, gồm:

- Số từ chỉ lượng chính xác (các số trong dãy số đếm tự nhiên: một, hai, ba, bốn );

- Số từ chỉ số lượng không chính xác: vài, dăm, mấy, mươi

- Số từ chỉ lượng có nghĩa biểu trưng: Lòng ta vẫn vững như kiềng ba chân;

Ba chân bốn cẳng; Mồm năm miệng mười, v.v

b Số từ chỉ số thứ tự: thứ 7, phòng 5, người thứ 41 v.v…

1.1.3.2 Đặc điểm về ngữ pháp

a Khả năng kết hợp của số từ

a.1 Khả năng kết hợp của số từ với danh từ:

- Số từ kết hợp trước danh từ để biểu thị ý nghĩa số lượng sự vật nêu ở danh

từ Ví dụ: Một trăm ván cơm nếp, một trăm nệp bánh chưng và voi chín ngà, gà chín cựa, ngựa chín hồng mao (Sơn Tinh, Thuỷ Tinh)

- Số từ kết hợp sau danh từ để biểu thị ý nghĩa về thứ tự, hoặc đặc điểm về tổ chức, hoặc đặc điểm về số hiệu của sự vật được nêu ở danh từ Ví dụ:

(1212 biểu thị đặc điểm về số hiệu Khi dùng kèm danh từ chỉ số hiệu, số từ

có thể đặt sau từ số: Người tù mang số 1212 bước ra)

a.2 Khả năng kết hợp của số từ với động từ, tính từ:

Trang 23

- Số từ kết hợp sau động từ để chỉ số lượng, mức độ của hành động được nêu

a.3 Khả năng kết hợp của số từ với đại từ:

Số từ kết hợp với đại từ và danh từ để biểu thị số lượng người được nêu

trong đại từ: Hai ta làm bạn thong dong v.v…

Khi làm vị ngữ, số từ phải đứng sau là, bằng Ví dụ:

- Nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một Mỗi người làm việc bằng hai

b.3 Số từ làm thành tố phụ trong cụm từ để biểu thị ý nghĩa số lượng:

- Số từ có thể đứng trước trong cụm danh từ Ví dụ:

Chín con sông cùng đổ ra biển

- Số từ có thể đứng sau trong cụm danh từ Ví dụ:

Xuân Mậu Thân 1968, Chiến dịch Hồ Chí Minh 1975

Do ý nghĩa chỉ lượng nên số từ thường đi kèm với danh từ Chức năng cơ bản của số từ là làm thành tố phụ trong cụm danh từ

- Số từ làm bổ ngữ trong cụm động từ, tính từ Ví dụ:

Hai nhân hai bằng bốn

Hai bằng bốn thì hai là bổ ngữ đối tượng, còn bốn là bổ ngữ kết quả

Tuy nhiên những số từ làm bổ ngữ cũng như số từ làm định ngữ của động từ,

tính từ trong tiếng Việt không phổ biến như kết hợp với danh từ

Trang 24

Từ cách giải thích trên, có thể thấy thuật ngữ con số có đặc điểm về hình thức:

mỗi con số được phát âm thành một tiếng (một, hai…) hay một số tiếng (mười lăm, năm mươi…), được viết thành một số (1, 2, 3,…) hoặc một tổ hợp (100, 101, ), có

khi được viết thành chữ số (một, hai…) Về nội dung, con số là những số từ cụ thể

trong tập hợp những từ ngữ chỉ lượng

1.1.5 Xác định khái niệm “con số” được áp dụng trong Luận án

a Tham khảo các định nghĩa về số từ, về con số, trong Luận án này, chúng

tôi quy ước dùng thuật ngữ con số với cách hiểu: con số là những từ chỉ số lượng

và thứ tự của sự vật (số lượng và vị thứ xác định hoặc biểu trưng)

b Với cách hiểu này, con số là một đơn vị:

Xét về mặt từ loại, con số chính là số từ được dùng trong từng ngữ cảnh cụ

thể (con số gần giống với số, chẳng hạn: con số 4 hoặc số 4…)

Con số là những từ chỉ số lượng, số thứ tự; con số chỉ số lượng xác định hay phiếm định, chỉ số lượng cụ thể hoặc biểu trưng

Con số, ngoài chức năng dùng để tính toán, còn được dùng với nghĩa biểu

trưng (Ví dụ: Vững như kiềng ba chân) Quả thật, khi dùng thuật ngữ con số thì

bản thân từ con cũng gợi được tính sống động, bởi từ “con” được sử dụng để gọi tên nhiều sự vật khác nhau: con người, con vật, con mắt, con thuyền, con kênh, con đường v.v… Mặc dầu những sự vật được gọi là con không cùng loại với nhau song cùng có những điểm chung là: a) Là những cá thể, đơn vị nhỏ trong một tổng thể; b) Có hình dáng, hoạt động; c) Tồn tại trong tâm thức của người Việt như là những biểu tượng Theo đó thì con số cũng được coi là những sinh

thể có hoạt động, có hình dáng, có đời sống riêng trong đời sống văn hóa tinh thần của con người

Hình dáng con số không thể vẽ nên trên bức tranh như con kênh, con thuyền,

con đường, mà nó tồn tại trong ý niệm của con người Cũng một con số nhưng có

Trang 25

khi gợi sự việc, hiện tượng nhỏ bé: một thân một mình (tình trạng lẻ loi, cô độc), có khi lại gợi sự vật, hiện tượng lớn lao: thiên nhân hợp nhất (trời đất hoà hợp làm

một) Như vậy, lớn hay bé, hình dáng, hoạt động như thế nào là do chính đời sống

văn hoá của dân tộc tạo nên Con số tồn tại như một sinh thể nhưng là sinh thể nghệ

thuật trong sáng tạo dân gian

1 2 Thành ngữ, tục ngữ và ca dao và vấn đề con số

1.2.1 Khái niệm thành ngữ, tục ngữ, ca dao

a Thành ngữ

Thành ngữ là những tổ hợp từ “đặc biệt”, biểu thị những khái niệm một cách

bóng bẩy được người Việt sử dụng rộng rãi trong giao tiếp hàng ngày, đặc biệt là

trong khẩu ngữ Về thành phần từ vựng, các yếu tố tạo nên thành ngữ hầu như được giữ nguyên trong sử dụng, trong nhiều trường hợp không thể thay thế bằng các yếu

tố khác Về cấu trúc, trật tự các thành tố tạo nên thành ngữ thường mang tính cố định, khó thay đổi Về ý nghĩa, thành ngữ biểu thị những khái niệm hoặc biểu tượng trọn vẹn về các thuộc tính, quá trình hay sự vật Nói cách khác, thành ngữ là đơn vị định danh của ngôn ngữ, nhưng là loại đơn vị định danh bậc hai - nghĩa là ngoài nghĩa gốc được hiểu từ các từ ngữ tạo nên thành ngữ thì còn một tầng nghĩa được thành ngữ hướng tới buộc người nghe phải suy ra từ chúng

Thành ngữ có mặt mọi lúc, mọi nơi trong đời sống giao tiếp của người Việt Bất kỳ diễn đạt vấn đề gì, người Việt đều có thể mượn thành ngữ để thể hiện cách đánh giá của mình Không những trong đời sống, thành ngữ còn có mặt trong các sáng tác văn học, làm nên tính dân tộc, tính nhân dân cho các sáng tác đó Xem xét con số trong thành ngữ, có thể khái quát một vài đặc điểm tiêu biểu của nó trong đời

sống văn hoá người Việt

b Tục ngữ

Tục ngữ là những câu nói, là ngôn bản đặc biệt, biểu thị những phán đoán một cách nghệ thuật Nếu thành ngữ là một tổ hợp từ thì tục ngữ đã là một câu, “câu

tự nó diễn trọn một ý nghĩa, một nhận xét, một kinh nghiệm, một lý luận, một công

lý, có khi là một sự phê phán” [76; tr 37] Tục ngữ là câu nhưng là loại câu đặc biệt

bởi nó còn tồn tại với tư cách là một văn bản nghệ thuật Về hình thức, tục ngữ ngắn gọn, hàm súc, kết cấu bền vững gắn liền với các yếu tố của kết cấu thơ, những biện

Trang 26

pháp tu từ, những cách vận dụng ngôn ngữ dân tộc độc đáo Về cách diễn đạt, tục ngữ cũng lựa chọn lối nói có hình ảnh, gắn liền với tư duy hình tượng

Tục ngữ là pho sách lưu giữ trí tuệ của dân tộc từ đời này sang đời khác Đến với tục ngữ, một góc độ nào đó có thể coi như đã đến được với tri thức của dân tộc

và nhân loại Tục ngữ tồn tại và tham gia vào tất cả mọi lĩnh vực của cuộc sống, phản ánh rõ nét sự hình thành những thói quen, tập quán, phong tục, suy nghĩ, hành động của người Việt, góp phần lưu giữ và thể hiện bản sắc văn hoá của người Việt

c Ca dao

Ca dao là một từ ghép (ca và dao) được hình thành từ dân ca, là một thể thơ

(mang đặc điểm của thơ, và là một thể thơ lục bát), là một đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành (Văn học dân gian, Ngôn ngữ học, Văn hóa học) Đến nay, đã có rất nhiều định nghĩa về ca dao Theo Vũ Ngọc Phan, “Ca dao là một loại thơ dân gian

có thể ngâm được như các loại thơ khác và có thể xây dựng thành các điệu dân ca” [76; tr 23] Một số đặc điểm cơ bản của ca dao:

- Về hình thức, ngôn ngữ:

+ Điều dễ nhận thấy là ca dao mang những đặc điểm cơ bản của thơ ca Đó là yếu tố vần và yếu tố nhịp có mặt trong tất cả các bài ca dao (từ loại bài hai câu cho đến những bài dài) Loại vần và nhịp cơ bản của ca dao trùng với thể thơ lục bát truyền thống (95% bài ca dao ở thể lục bát), có hai loại vần cơ bản: vần chân và vần lưng, nhịp chẵn Đây là một thể thơ được sáng tác trong dân gian (vô danh), lưu truyền từ đời này sang đời khác bằng phương thức truyền miệng (thời nay, sau khi truyền miệng, nó được văn bản hóa)

+ Ca dao có một số mô hình xác định, lặp đi lặp lại, rất đặc trưng của thơ dân gian Chẳng hạn:

Nhiều bài ca dao có cùng mô hình cấu trúc Ví dụ, mô hình Bao giờ Ax thì By: Bao giờ bánh đúc có xương / Tơ hồng có rễ thì nường lấy ta

Bao giờ gạo gánh đến nhà / Lợn kêu ý oét mới là vợ anh

Nhiều bài ca dao có cùng một số từ ngữ lặp giống nhau theo một vị trí nhất

định Ví dụ, có nhiều bài ca dao cùng mở đầu bằng: Chiều chiều ra đứng…, Bao giờ cho đến…, Đôi ta như thể v.v…

Trang 27

+ Ngôn ngữ ca dao mộc mạc, giản dị, trong sáng, thuần Việt; nó đúng là lời

ăn tiếng nói của quần chúng lao động, đúng là nguyên liệu lấy từ đời sống, gần gũi với đời sống, ở trong đời sống Ví dụ:

Thương anh bụng sát tận da / Anh thì không biết tưởng là đói cơm

Ai ơi bưng bát cơm đầy / Dẻo thơm một hạt đắng cay muôn phần

- Về nội dung:

Nội dung cơ bản nhất của ca dao là thể hiện thái độ, tình cảm, miêu tả đất nước, con người, xã hội, phản ánh tập quán v.v Cái đọng lại trong ca dao là những suy nghĩ, tình cảm, ứng xử của con người đối với tất cả mọi phương diện của

đời sống: nhà cửa, gia đình, ruộng đồng, quê hương, đất nước, (Làng ta phong cảnh hữu tình / Dân cư đông đúc như hình con long); tình cảm gia đình và làng xóm, tình yêu nam nữ (Có cha có mẹ thì hơn / Không cha, không mẹ như đờn không dây ); quan niệm về hạnh phúc, về lao động, về công ơn, tình nghĩa (Công cha như núi ngất trời / Nghĩa mẹ như nước ngời ngời biển Đông).v.v

Những nội dung này làm thành giá trị của ca dao: tính nguyên sinh (ca dao chứa những cái không pha tạp, mang bản năng gốc), giá trị nhân sinh (ca dao là tâm nguyện của con người về lẽ sống), giá trị văn hóa (ca dao thể hiện bản sắc văn hóa truyền thống của dân tộc, làm nền tảng cho sự phát triển, tiếp biến văn hóa hiện đại)

1.2.2 So sánh thành ngữ, tục ngữ và ca dao

a Những điểm tương đồng

Thành ngữ, tục ngữ và ca dao có những điểm chung: đều là lời ăn tiếng nói của nhân dân lao động, có nguồn gốc từ lâu đời, được sử dụng như những đơn vị có sẵn, có nghĩa bóng bẩy, giàu hình ảnh Trong đó, tục ngữ và ca dao đều tồn tại ở dạng những phát ngôn hoàn chỉnh, có tính độc lập cao như những văn bản tối giản; đều là những văn bản đặc thù có tính nghệ thuật (tính vần điệu, tính biểu trưng)

Thành ngữ, tục ngữ và ca dao đều phản ánh nếp cảm, nếp nghĩ của người dân, chủ yếu là của người dân lao động Môi trường hình thành thành ngữ, tục ngữ

và ca dao người Việt đều từ trong cuộc sống thôn quê, từ trong sản xuất, chủ yếu là sản xuất nông nghiệp, và từ trong giao tiếp hàng ngày Do vậy, cả ba thể loại đều là kết tinh lời ăn, tiếng nói một cách hồn nhiên nhất, trong lành và trung thực nhất của

Trang 28

nhân dân; đều chứa đựng những nét văn hóa bản thể của dân tộc (nền văn hóa nông nghiệp lúa nước, trọng tình nghĩa, thực tế, giản dị, )

Cả ba có thể cùng một ý tứ, hoặc trong ca dao có thành ngữ, tục ngữ; trong

tục ngữ có thành ngữ Chẳng hạn: Chị ngã em nâng (tng) - Tưởng rằng chị ngã em nâng / Ai ngờ chị ngã em bưng miệng cười (cd); Ở hiền gặp lành (tng) - Ở hiền thì lại gặp lành / Nhược bằng ở dữ tan tành cái con (cd); nói chín làm mười (thng) - Nói chín thì nên làm mười / Nói mười làm chín kẻ cười người chê (tng); chín đụn mười trâu (thng) - Con kiến mày kiện củ khoai / mày chê tao khó lấy ai mà giàu / nhà tao chín đụn mười trâu / lại thêm ao cá bắc cầu rửa chân (cd).v.v

Vì thế, nhiều bài ca dao gần với thành ngữ, tục ngữ và ngược lại, vì chúng đều có mặt trữ tình dân gian, lại có triết lý dân gian, tri thức dân gian, bản thân chúng đều là con đẻ của dân gian Chính vì vậy mà trong mỗi một thể loại, chúng ta đều có thể nhìn thấy những đặc điểm nội dung của thể loại khác Đây có thể coi là

hiện tượng ba trong một của văn học dân gian

b Những điểm khác biệt

Về mặt hình thức, thành ngữ là đơn vị tương đương với từ, tục ngữ, ca dao

là những câu, phát ngôn đầy đủ Tục ngữ thường là những câu ngắn gọn, chứa

nội dung trong một câu, ít khi là những câu dài (Ăn vóc học hay; Nước mưa là cưa trời; ); ca dao là văn bản hoàn thiện, ngắn nhất có hai câu, dưới dạng thơ

lục bát

Về mặt nội dung, thành ngữ thiên về định danh, nêu khái niệm, là hiện

tượng ngôn ngữ; tục ngữ thiên về biểu đạt phán đoán, mang tính duy lý, là một hiện tượng thể hiện rõ “ý thức xã hội”; ca dao lại thiên về biểu đạt trữ tình, mang tính duy cảm, thể hiện rõ “tinh thần xã hội”, là “cây đàn muôn điệu” của đời sống

tâm hồn nhân dân Có thể nói gọn lại: ca dao thiên về thể hiện nếp cảm, tục ngữ thiên về thể hiện nếp nghĩ, thành ngữ thiên về nếp diễn đạt của dân gian Cùng thể

hiện những đặc trưng văn hóa dân tộc, nhưng mỗi loại lại có mỗi cách thể hiện khác nhau Dưới đây là bảng so sánh các đặc điểm khác biệt giữa thành ngữ, tục ngữ và ca dao như sau:

Trang 29

Bảng 1.1 So sánh những điểm khác biệt giữa thành ngữ, tục ngữ, ca dao Bình diện

Kết cấu

ngữ pháp

Cụm từ cố định

Câu hoàn chỉnh Văn bản hoàn chỉnh

Chức

năng văn

học

Chức năng thẩm mĩ

Chức năng thẩm mĩ Chức năng nhận thức Chức năng giáo dục

Chức năng thẩm mĩ Chức năng nhận thức Chức năng giáo dục

Hình thức

tư duy

logic

Diễn đạt khái niệm, khái quát những hiện tượng riêng rẽ

Diễn đạt phán đoán, khẳng định một thuộc tính của hiện tượng

Biểu đạt trữ tình, mang tính duy cảm

Hiện tượng ngôn ngữ

Chức năng thông báo thuộc lĩnh vực nhận thức

Hiện tượng ý thức xã hội, văn hóa tinh thần của nhân dân

Chức năng biểu cảm, thuộc lĩnh vực văn học

Hiện tượng “tinh thần

xã hội”, là “cây đàn muôn điệu” của đời sống tâm hồn nhân dân

1.2.3 Cơ sở tìm hiểu đặc điểm con số trong thành ngữ, tục ngữ, ca dao người Việt

a Qua khảo sát các đơn vị thành ngữ, tục ngữ, ca dao được tập hợp trong các công trình sưu tầm xuất bản thời gian gần đây, chúng tôi thấy con số xuất hiện với tỉ

Trang 30

- Khảo sát 12.419 bài ca dao (trong cuốn Kho tàng ca dao người Việt (2 tập)

có 2953 bài có con số, chiếm 23,8%

Sự xuất hiện các con số với tần số cao như vậy hẳn là có nguyên do, cần phải khảo sát, tìm hiểu

b Nghĩa của con số vốn vừa thực, chính xác, lại vừa có thể có ý nghĩa biểu

trưng Nó là số chính xác (ba, bốn, năm, mười, ) nhưng trong nhiều ngữ cảnh của

thành ngữ, tục ngữ, ca dao không “quy chiếu” về một con số xác định Chẳng hạn:

ba chân bốn cẳng; mồm năm miệng mười; Muối ba năm muối đang còn mặn / Gừng chín tháng gừng hãy còn cay / Đôi ta tình nặng nghĩa dày / Dù xa nhau chăng nữa,

ba vạn sáu ngàn ngày mới xa v.v

Những ý nghĩa này xuất hiện một cách tự nhiên, phổ biến và phong phú trong văn bản nghệ thuật, trong đó có thành ngữ, tục ngữ, ca dao Đó chính là vấn

đề mà luận án cần phân loại, phân tích

c Thành ngữ, tục ngữ, ca dao là sản phẩm tinh thần của dân tộc, thể hiện nếp cảm, nếp nghĩ của dân tộc Con số xuất hiện trong đó cùng với nhiều yếu tố khác, chắc hẳn góp phần quan trọng thể hiện nếp cảm, nếp nghĩ ấy Rộng hơn, con

số cũng như nhiều yếu tố khác xuất hiện trong thành ngữ, tục ngữ, ca dao phản ánh chiều sâu tư duy, đặc trưng văn hóa dân tộc Tìm hiểu con số trong thành ngữ, tục ngữ, ca dao, ở một phương diện quan trọng của luận án này chính là góp phần

“giải mã” “nhận thức văn hóa” dân tộc thể hiện qua hệ thống con số xuất hiện trong đó

1.3 Lý thuyết về nghĩa

1.3.1 Khái quát về nghĩa

Hiện các tài liệu viết về nghĩa và xác định thế nào là nghĩa (của ngôn ngữ) chưa có được một sự rõ ràng và thống nhất Tuy vậy, có thể đưa ra một vài hướng tiêu biểu:

hình thức (âm thanh, kí hiệu), còn có mặt bên trong, làm thành nội dung Chính nhờ mặt này mà đơn vị có nghĩa đó mới tồn tại trong ngôn ngữ và mới trở thành đơn vị giao tiếp Nghĩa là toàn bộ nội dung tinh thần của một từ (hoặc câu, văn bản, ) gợi

ra khi chúng ta tiếp xúc với nó

Trang 31

- Nghĩa là sự phản ánh hiện thực: một đơn vị ngôn ngữ nào đó đều do con

người tạo ra, quy ước; đơn vị đó là sự thể hiện, hoặc là tư tưởng, tình cảm hoặc là phản ánh hiện thực khách quan

Theo Nguyễn Như Ý, nghĩa là sự phản ánh đối tượng của hiện thực (các hiện

tượng, quan hệ, phẩm chất, quá trình) vào trong nhận thức, trở thành một yếu tố của ngôn ngữ nhờ việc tạo nên mối liên hệ thường trực, liên tục với một chuỗi âm thanh nhất định, nhờ đó sự phản ánh hiện thực trong nhận thức được hiện thực hóa Sự phản ánh hiện thực này tham gia trong cấu trúc của từ như là mặt bên trong, mặt nội dung trong quan hệ với mặt âm thanh như là vỏ vật chất cần thiết không chỉ để biểu hiện nghĩa và thông báo cho người khác, mà còn cần thiết cho chính sự hình thành, nảy sinh, tồn tại và phát triển của nó [105; tr 143]

điều được các đơn vị ngôn ngữ biểu hiện, phản ánh Theo Diệp Quan Ban, “nghĩa là cái được truyền tải hoặc cố ý cho là được truyền tải bởi ngôn ngữ, gồm có ý nghĩa biểu niệm, ngụ ý của từ, của cả phát ngôn hay bất kỳ phương diện nào khác trong hoạt động ngôn ngữ ” [5; tr 525] Lê Quang Thiêm cho rằng: “Ngữ nghĩa có thể được hiểu theo nhiều cách nghĩa là một loại nội dung tinh thần chức năng tồn tại được biểu đạt qua chất liệu, hình thức, cái biểu đạt của ngôn ngữ Nghĩa tồn tại trong hệ thống - cấu trúc nhưng biểu hiện rõ ràng, hiện thực nhất là qua hành chức, qua hoạt động chức năng sáng tạo đa dạng của các đơn vị, biểu thức của ngôn ngữ trong giao tiếp, tư duy thuộc các loại hình hoạt động và phong cách chức năng khác nhau với văn cảnh, ngôn cảnh quy định chúng” [92; tr.188]

Ngôn ngữ học nói chung, ngữ nghĩa học nói riêng đã nghiên cứu các loại nghĩa: nghĩa gốc, nghĩa phái sinh, nghĩa ngữ cảnh, nghĩa biểu trưng, nghĩa liên nhân, hiển ngôn, hàm ngôn.v.v “Nói một cách tổng quát, ngữ nghĩa học hiện đại

nghiên cứu không chỉ những ý nghĩa hiển ngôn mà cả những nghĩa hàm ẩn, nghiên cứu ý nghĩa không chỉ của các đơn vị đoạn tính mà cả các yếu tố không có đoạn tính, nghiên cứu ý nghĩa không chỉ của các đơn vị lập thành hệ thống mà cả của các hành vi sử dụng chúng, của những quan hệ giữa các đơn vị hệ thống với hoàn cảnh giao tiếp” [21]

Trang 32

1.3.2 Nghĩa gốc và nghĩa biểu trưng

a Nghĩa gốc

Nghĩa gốc còn được gọi là nghĩa ban đầu, nghĩa xuất phát, nghĩa đen Nghĩa

gốc của từ là nghĩa được coi là có trước những nghĩa khác về mặt logic hay về mặt lịch sử Đây là nghĩa vốn có ngay từ khi đơn vị đó xuất hiện và thường được xem xét trong từ vựng Nghĩa này thường mang tính võ đoán (không có lý do) Ví dụ:

Nghĩa gốc của từ ăn là: đưa thức ăn vào miệng, nhai nuốt (Tôi ăn cơm); Nghĩa gốc của từ đi là: hoạt động dời chuyển (Mẹ đi chợ).v.v…

b Nghĩa biểu trưng

Biểu trưng trong ngôn ngữ học được dùng theo hai nghĩa khác nhau: 1) Biểu

trưng là kí hiệu (signe) có tính võ đoán; 2) Biểu trưng là kí hiệu mà quan hệ với quy chiếu là có nguyên do Ở đây, biểu trưng được hiểu theo nghĩa thứ hai

Nghĩa biểu trưng là loại nghĩa của đơn vị ngôn ngữ (trong từ hay trong câu) có

sự hình dung, tưởng tượng, liên hệ của người nói, người nghe liên quan đến hiện thực

Theo Từ điển tiếng Việt, “biểu trưng” (vừa có thể là động từ, vừa có thể là

danh từ) là biểu hiện một cách tượng trưng (dùng một sự vật cụ thể có hình thức và tính chất thích hợp để gợi ra sự liên tưởng đến một cái trừu tượng nào đó) và tiêu

biểu nhất Vd: Con rồng là biểu trưng cho một tín ngưỡng Những biểu trưng của nghệ thuật thời nguyên thủy Còn “biểu tượng” được hiểu là (1- danh từ) Hình ảnh tượng trưng Ví dụ: Chim bồ câu là biểu tượng của hòa bình (2- chuyên môn) Hình

thức của nhận thức, cao hơn cảm giác, cho ta hình ảnh của sự vật còn giữ lại trong đầu óc sau khi tác động của sự vật vào giác quan ta đã chấm dứt [98; tr 80] Theo Nguyễn Đức Tồn: “Biểu trưng là cách lấy một sự vật, hiện tượng nào đó để biểu hiện có tính chất tượng trưng, ước lệ một cái gì đó mang tính trừu tượng” [96; tr 387] Thực chất nguồn gốc của nghĩa biểu trưng chính là hiện tượng chuyển nghĩa được dựa trên những quan hệ tương đồng hay tương cận (theo cách nói truyền thống

về cơ sở của phép chuyển nghĩa theo ẩn dụ hay hoán dụ)

Như vậy, nghĩa biểu trưng là những xuất phát từ nghĩa gốc theo phép ẩn dụ hay hoán dụ; đây là loại nghĩa có căn cứ vì có liên quan đến nghĩa ban đầu Nghĩa

biểu trưng cũng có thể liên quan đến nghĩa trong ngữ cảnh (còn gọi là nghĩa liên hội,

Trang 33

nghĩa lâm thời): là nghĩa của đơn vị đó chỉ liên quan đến ngữ cảnh sử dụng, tách khỏi hoàn cảnh sử dụng, nghĩa của đơn vị đó lại trở về nghĩa thường dùng ban đầu

Vậy, có thể hiểu nghĩa biểu trưng của từ là kết quả của sự chuyển nghĩa gốc (theo phép ẩn dụ hay hoán dụ thông qua sự liên tưởng) sang loại nghĩa tượng trưng, bóng bẩy và có tính trừu tượng

Theo Lê Quang Thiêm: “nghĩa biểu trưng có hai loại:

a) Loại nghĩa dành cho nội dung nghĩa những từ mà hình thức âm thanh (mô phỏng âm thanh) hoặc hình thức cấu âm (mô phỏng cấu hình) như có liên hệ đến nội

dung được biểu hiện của từ Ví dụ, từ tượng thanh: cúc cu, meo meo, (cười) khà khà, (nói) oang oang từ tượng hình: (đường) ngoắt ngoéo, (chữ viết) ngoằn ngoèo

Những từ có nghĩa biểu trưng này là kết quả của quá trình biểu trưng hóa

b) Nghĩa biểu tượng là nội dung có được do hình dung, tưởng tượng Chẳng hạn, nội dung nghĩa của các từ rồng, phượng là do hình dung, tưởng

tượng chứ không có trong thực tế Biểu tượng là một yếu tố của ý nghĩa bởi vì ý thức được biểu hiện bằng chất liệu ngôn ngữ với hình ảnh của sự vật, hiện tượng được quy chiếu” [92; tr 125, 126]

Những từ mẹ, tổ quốc, quê hương, có nghĩa biểu tượng vì chúng được hình

dung, tưởng tượng, gán với những giá trị nhân văn cao đẹp, thiêng liêng Theo tác

giả, đây là phạm vi nghĩa văn hóa

Để giải mã được ý nghĩa biểu trưng cần hiểu được yếu tố nguyên do chi phối

quá trình hình thành nghĩa Đó là: (1) Tâm lý, quan niệm của xã hội (2) Các biện

pháp chuyển nghĩa của từ ngữ như ẩn dụ, so sánh, hoán dụ, cải dung.v.v Như vậy, nghĩa biểu trưng bắt nguồn từ nghĩa gốc hoặc một nghĩa bóng nhờ kết quả của việc

sử dụng từ có ý thức trong lời nói để biểu thị sự vật không phải là vật quy chiếu tự nhiên, thường xuyên Đây là nghĩa có căn cứ, có lý do Nói cách khác, hình ảnh sự vật, sự việc cụ thể miêu tả trong văn bản là nhằm nói về ý niệm khái quát hoá

Như vậy, có thể hiểu, nghĩa là kết quả của sự phản ánh hiện thực, kết quả của

nhận thức của con người vào trong các đơn vị của ngôn ngữ Mỗi đơn vị đều có nghĩa gốc (nghĩa trực tiếp, nghĩa ban đầu), rồi trong quá trình sử dụng, mỗi đơn vị lại hình thành những nghĩa mới (đối với từ ngữ) hay có thêm những nghĩa mới (đối với câu, văn bản); nghĩa mới này liên quan đến ngữ cảnh sử dụng ngôn ngữ, và từ

Trang 34

các ngữ cảnh, chúng tạo thành các nghĩa khác nhau, trong đó đáng chú ý là nghĩa biểu trưng, nghĩa văn hóa, nghĩa tri nhận.v.v “Phân tích nghĩa, xác định nghĩa là tìm hiểu các tập hợp nghĩa trong hoạt động, trong chức năng hoàn thành của từ ngữ vào việc giao tiếp, tư duy, sáng tạo của người nói” [92; tr.111] Những khái niệm nghĩa này là cơ sở để chúng tôi khảo sát, tìm hiểu khi phân tích nghĩa của con số

trong các ngữ cảnh thành ngữ, tục ngữ và ca dao

1.4 Vấn đề con số trong thành ngữ, tục ngữ, ca dao từ góc độ ngôn ngữ - văn hóa

1.4.1 Mối quan hệ giữa ngôn ngữ, tư duy và văn hoá

Về văn hoá, đến nay đã có hàng trăm định nghĩa của các nhà nghiên cứu cùng nói về văn hoá Theo Phan Ngọc, “cho đến nay đã có ngót bốn trăm định nghĩa khác nhau và vì dân tộc nào cũng có văn hóa, vì bất kỳ cái gì ta cũng hình dung có mặt văn hóa, cho nên không thể tìm một định nghĩa thao tác luận cho văn

hóa nếu dựa vào xã hội học, kinh tế, chính trị ” [71] Bởi mỗi tác giả có một cách

tiếp cận và định nghĩa riêng: có cách hiểu về văn hóa dựa trên đánh giá về trình độ hiểu biết của con người, hay về lối sống, ứng xử, các sinh hoạt, phong tục, tập quán, hoặc phân chia, đánh giá các vùng văn hoá, các nền văn hoá theo một giai đoạn lịch sử nhất định; cũng bởi do nội hàm và ngoại diên của văn hoá ngày càng được mở rộng đưa đến nhiều cách định nghĩa về văn hoá - những cái gì liên quan đến con người, suy nghĩ của con người đều là văn hoá; và bởi đây là đối tượng của nhiều ngành nghiên cứu trong khoa học xã hội và nhân văn: văn hoá học, văn học, tâm lý học; các chuyên đề về văn hoá; các phong trào xây dựng nếp sống văn hoá cho nên, văn hoá được hiểu theo nhiều cách và đều được chấp nhận Chung quy lại

có thể thấy văn hoá bao gồm hai phương diện: văn hoá vật chất (hay văn hoá vật thể) và văn hoá tinh thần (hay văn hoá phi vật thể)

Trong mối quan hệ bộ ba ngôn ngữ - tư duy - văn hóa, ngôn ngữ không chỉ là phương tiện giao tiếp, mà còn là điều kiện cần yếu cho việc thực hiện các quá trình tư duy trừu tượng và khái quát Có thể nói, ngôn ngữ có tác động quyết định đối với tư duy, là nhân tố quyết định tính chất, sự hình thành và phát triển của tư duy, và tất yếu ngôn ngữ cũng quyết định tính chất của hoạt động nhận thức của tư duy con người

Trang 35

Theo Sapir E và Whorf B trong Giả thuyết về tính tương đối của ngôn ngữ

đã đề ra những luận điểm chủ yếu sau đây:

Thứ nhất là khẳng định rằng ngôn ngữ quyết định đặc trưng (kiểu) tư duy, bản

thân cơ chế logic của nó Whorf viết: “ bản thân ngữ pháp hình thành ra ý tưởng, là chương trình và chỉ nam của hoạt động tư duy của cá nhân, là phương tiện phân tích

và tổng hợp những ấn tượng của anh ta Hình thành ý tưởng - đó là một quá trình không độc lập, có tính duy lý nghiêm ngặt với nghĩa xưa cũ của từ này, nhưng một bộ

phận của ngữ pháp của ngôn ngữ này hay ngôn ngữ khác khác biệt ở các dân tộc một cách không đáng kể ở một số trường hợp khác, cũng giống như cơ cấu ngữ pháp của

các dân tộc tương ứng.” [Dẫn theo Hoàng Văn Hành - 40; tr 133]

Thứ hai là, tính chất của sự nhận thức thực tại phụ thuộc vào chỗ chủ thể

nhận thức suy nghĩ bằng ngôn ngữ nào, bởi vì do sự khác nhau căn bản của các ngôn ngữ mà họ sử dụng, quá trình hoạt động nhận thức của họ và những kết quả của quá trình ấy cũng sẽ khác nhau một cách cơ bản

Như vậy chúng ta có thể khẳng định, đặc trưng của ngôn ngữ dân tộc có sự ảnh hưởng trực tiếp và quyết định đến quá trình nhận thức, tư duy của con người Ngôn ngữ của người Việt là ngôn ngữ mang tính đơn lập và những đặc điểm của nó chắc chắn có tác dụng quyết định đến quá trình tư duy của người Việt

Trong mối quan hệ với văn hóa, ngôn ngữ là phương tiện quan trọng thể hiện văn hóa “Toàn bộ các từ trong ngôn ngữ, đó chính là phương tiện nối kết các hiện tượng bên ngoài với thế giới bên trong của con người Đặc biệt, bản sắc riêng của mỗi dân tộc luôn luôn được thể hiện qua tiếng mẹ đẻ của họ; ngôn ngữ là nơi bảo lưu tinh thần, văn hóa dân tộc, sức mạnh liên minh giữa các dân tộc - tất cả để lại dấu ấn tài tình trong mỗi âm thanh” [W Humbold; dẫn theo Phan Mậu Cảnh -12; tr.90] “Ngôn ngữ đã chứa đựng trong mình toàn bộ di sản văn hóa của các thế hệ trước, xác định hành vi của những con người hiện tại, trong một mức độ nào đó, ngôn ngữ còn làm tiền đề cho con người trong tương lai, có nghĩa chính ngôn ngữ sản sinh và sáng tạo ra con người” [M Kheydegger, dẫn theo Phan Mậu Cảnh - 12;

tr 90] Vì lẽ đó, ngôn ngữ không chỉ là hiện thân của văn hóa, một thành tố của văn hóa, mà còn là phương tiện truyền đạt văn hóa “Ngôn ngữ vừa là điều kiện tồn tại, vừa là sản phẩm văn hóa nhân loại, bởi vậy, trong mọi nghiên cứu về ngôn ngữ nhất

Trang 36

thiết phải coi chính văn hóa cũng là đối tượng của mình.” [Vinocua, 1960; dẫn theo Phan Mậu Cảnh - 12; tr 91] Điều đó cũng có nghĩa là mọi nghiên cứu về văn hóa cũng không thể không nghiên cứu chất liệu ngôn ngữ Như thế, từ chất liệu ngôn ngữ, nhất là chất liệu làm nên tác phẩm văn học, để đi tìm lịch sử dân tộc, văn hóa dân tộc là hoàn toàn có cơ sở khoa học Chất liệu đó càng cổ xưa thì chúng ta càng

có điều kiện để thấy rõ hơn cội nguồn, nhất là khi tìm về những giá trị văn hóa tinh thần truyền thống Một trong những nguồn ngữ liệu đó chính là các sáng tác dân gian Tất cả những gì con người tạo ra đều có tính văn hóa, đều có dấu ấn của ngôn ngữ, vậy giải mã văn hóa có thể căn cứ vào nhiều thông số, nhưng chiếc chìa khóa rất quan trọng, để có thể giải mã văn hóa của dân tộc, đó chính là ngôn ngữ của dân tộc ấy

Từ năm 1948, báo cáo “Chủ nghĩa Mác và vấn đề văn hóa Việt Nam” đã nêu rõ: “Bên cạnh văn hóa chính thống của các thời đại, có cả một nền văn hóa nhân dân còn lưu lại ở phương ngôn, ngạn ngữ, ca dao, cổ tích, tranh gà lợn Văn hóa này tả sự phấn đấu của người sản xuất (làm ruộng, làm thợ), lòng mong mỏi hay chí phản kháng của dân, chế giễu mê tín hủ tục hay khuyên răn điều thiện Đó là một kho tàng rất quý mà các nhà văn hóa, sử học và khảo cổ nước ta còn phải dày công tìm bới mới hiểu hết được” [66; tr.128] Việc tìm hiểu thành ngữ, tục ngữ, ca dao để góp phần làm rõ những đặc trưng văn hóa dân tộc là có cơ sở khoa học, và nó cũng rất cần thiết về mặt lý luận và thực tiễn

1.4.2 Mối quan hệ giữa ngôn ngữ, tư duy, văn hoá trong thành ngữ, tục ngữ, ca dao

Trong Giáo trình Ngôn ngữ học đại cương, F.d Saussure đã coi cả văn hóa

và ngôn ngữ đều là “thiết chế xã hội” Hoạt động ngôn ngữ cũng như hoạt động văn hóa đều thuộc loại hoạt động tinh thần Ông khẳng định: “Phong tục của một dân tộc tác động đến ngôn ngữ, và mặt khác, trong một chừng mực khá quan trọng,

chính ngôn ngữ làm nên dân tộc” [107; tr 147]

Trong Ngôn ngữ - dẫn luận vào việc nghiên cứu tiếng nói, E.W Sapir đã

khẳng định: “Văn hóa có thể định nghĩa là cái mà một xã hội làm và suy nghĩ Còn ngôn ngữ là một phương tiện đặc biệt để tư duy Trong ý nghĩa là từ vựng của một ngôn ngữ phản ánh ít nhiều trung thành với cái nền văn hóa mà ngôn ngữ đó phục

Trang 37

vụ, thì một điều hoàn toàn đúng là lịch sử của ngôn ngữ và lịch sử của văn hóa

chuyển động theo những đường song song” [106; tr 270]

Có thể thấy ngôn ngữ có quyết định như thế nào đối với quá trình tư duy nói chung và quá trình sáng tạo của người Việt nói riêng Khi vận dụng những phương thức cấu tạo từ tiếng Việt trong thành ngữ, tục ngữ, ca dao đã đem lại cho các thể loại này khả năng tạo nghĩa kì diệu từ những cách cấu tạo ngôn từ trong tác phẩm

Có thể điểm qua một vài biện pháp nghệ thuật cấu tạo ngôn từ tiêu biểu được sử dụng trong các thể loại thành ngữ, tục ngữ, ca dao Chẳng hạn tạo các biện pháp nghệ thuật từ phương thức trật tự từ:

- Phương thức đối xứng: Đây là phương thức chia đôi hai nửa của câu trên dòng ngữ lưu, vừa tạo tính nhịp nhàng, vừa tạo sự đối lập giữa hai vế về ngữ nghĩa

và âm điệu Chẳng hạn: đầu tắt / mặt tối; đầu cua / tai nheo; thay lòng / đổi dạ; Thân em như giếng giữa đàng, người khôn rửa mặt / người phàm rửa chân; Ở chi hai dạ ba lòng, Dạ cam thì ngọt / dạ bòng thì chua v.v

- Phương thức điệp, tăng tiến: Đây là phương thức dùng lặp lại từ ngữ sau mỗi vế hoặc dùng những từ ngữ có ý nghĩa ngày càng tăng tiến trong một chuỗi ngữ

lưu Chẳng hạn: một dày, một mỏng; một chín một mười; Yêu nhau tam tứ núi cũng trèo, ngũ lục sông cũng lội, thất bát cửu đèo cũng qua v.v

Hoặc biện pháp dùng từ, dùng ngữ điệu:

- Dùng từ so sánh: rách như tổ đỉa; khoẻ như vâm; như cá nằm trên thớt; Chiều chiều ra đứng ngõ sau, hai tay rũ xuống như tàu chuối te v.v

- Dùng ngữ điệu: Nhất nước / nhì phân / tam cần / tứ giống; Nhất ếch / nhì

Đa / tam La / tứ Bích; Có yêu / thì nói rằng yêu / Chẳng yêu / thì nói một điều cho xong / Làm chi dở đục, dở trong / Lờ đờ nước hến, cho lòng tương tư v.v

Quá trình tư duy của người Việt trong thành ngữ, tục ngữ, ca dao đã tạo nên văn hoá, bản sắc của dân tộc Thành ngữ, tục ngữ, ca dao đã sinh thành trong cuộc sống của người Việt từ khi dân tộc ta chưa có chữ viết và đến nay, khi có hàng trăm cuốn từ điển thành ngữ, tục ngữ, sưu tập ca dao thì nó vẫn tồn tại trong lòng nhân dân, vẫn phát sáng trong giao tiếp và sáng tạo của nhân dân Có thể nói, thành ngữ, tục ngữ, ca dao là biểu hiện rất rõ một số khía cạnh của văn hoá dân tộc bởi văn hoá

là những cái còn lại sau khi tất cả những cái khác đã mất đi theo thời gian Như vậy

Trang 38

tìm hiểu con số trong thành ngữ, tục ngữ, ca dao chính là tìm hiểu con số từ góc độ văn hoá của người Việt

1.4.3 Một số quan niệm về con số trong văn hóa Việt Nam

Thực tế đối với người Việt, con số có một ảnh hưởng rõ rệt tới mọi lĩnh vực của đời sống: trong hoạt động tính toán, trong đời sống vật chất, trong đời sống tâm linh, trong cách tư duy v.v

a Con số trong tư duy của người Việt

Có thể khẳng định, trong tư duy của người Việt, con số xuất hiện từ rất sớm

trước khi văn hoá Trung Hoa du nhập vào nước ta Quan niệm về con số của người

Việt gắn liền với những tư duy về vũ trụ, đó là những yếu tố âm dương Ban đầu những biểu hiện tư duy này chưa hoàn chỉnh, chưa được kí hiệu hoá song đã biểu hiện ra bằng nhiều biểu tượng: những đôi nam nữ giao hợp trên nắp thạp Đào Thịnh; hình tượng con cóc trên mặt trống đồng; hình ảnh chim và hươu; biểu tượng vuông - tròn, đều là những biểu tượng biểu hiện âm dương hoà hợp đạt đến độ hoàn thiện Nhiều thành ngữ, tục ngữ, ca dao của người Việt đã diễn đạt sự hoàn thiện ấy bằng

hình tượng vuông tròn: mẹ tròn con vuông, ba vuông bảy tròn (thng), Ba vuông sánh với bảy tròn / Đời cha vinh hiển, đời con sang giàu; (cd)

Với những quan niệm như trên, chắc chắn hệ thống con số cũng chịu sự chi phối của triết lý âm dương - Những triết lý ấy đã nảy nở trong tư duy người Việt từ rất xa xưa (những truyền thuyết, di chỉ để lại đã nói lên điều đó) Tác giả Nguyễn Hữu Lương cho rằng, “về sau này khi Kinh Dịch từ Nho giáo du nhập vào nước ta, quan niệm âm dương được thể hiện rõ qua hệ thống con số, chính danh hoá những yếu tố âm dương ngũ hành sẵn đã nẩy nở trước đó ở nước ta” [82] Theo đó, mười con số từ một đến mười cũng được chia thành hai hệ thống số âm và số dương

Các số dương, đó là các số lẻ: một, ba, năm, bảy, chín, theo Thu Giang

Nguyễn Duy Cần: “Dương là nam (đàn ông), cương, thiện, đại, chánh, thành, thực,

quân tử, phú, quý, cho (phát ra), động, nóng, phía trên, bên ngoài, sáng Các con số dương như một, ba, năm, bảy, chín đều là để nói lên sự thành, thịnh, suy, huỷ của dương khí Con số một thường gọi là thiếu dương, con số ba thường gọi là thái dương Kỳ thực số một là thiếu dương ở thời kỳ vừa sinh ra, mà số ba là thiếu dương ở thời kỳ thành Số bảy như vậy mới thực là thái dương (theo nghĩa của tứ

Trang 39

tượng) tức là ở thời “thịnh” Số chín là thái dương ở thời kỳ cực thịnh (nên gọi là

lão dương)” [14; tr 275]

Các con số âm, là các con số chẵn hai, bốn, sáu, tám, mười Theo Thu Giang

Nguyễn Duy Cần: “Âm là nữ (đàn bà), nhu, ác, tiểu, tà, ngụy, hư, tiểu nhân, bần, tiện, lấy (thu hút), tịnh, lạnh, phía dưới, bên trong, tối” [14; tr 276] Trong các con

số, hai là thiếu âm (thời sinh), số bốn là thiếu âm (thời thành), số sáu mới là thái âm (theo nghĩa của tứ tượng) có khi cũng gọi là lão âm Số tám mới thực là lão âm vì

âm khí đã đến kỳ cực thịnh Số mười được gọi là chung âm (số âm cuối) Có lúc số mười được quan niệm như số trăm, nghìn - con số vạn hữu - chỉ tất cả thế giới sự

vật rộng lớn, toàn thể, kiểu như chín phương trời, mười phương đất

b Con số trong đời sống tâm linh của người Việt

Theo Từ điển tiếng Việt (Hoàng Phê chủ biên - 1992) thì tâm linh là tâm hồn, tinh thần Trong Pháp Việt từ điển (Lê Khả Kế - 1994) thì tâm linh (prémonition) là linh tính Trong tiếng Pháp có chữ Spiritualiste là duy linh, Spiritualisme là chủ nghĩa duy linh, chủ nghĩa tin vào có linh hồn, thánh thần tồn tại Từ điển Hán Việt

(Đào Duy Anh) lý giải: “tâm linh là cái trí tuệ tự có trong lòng người” Có thể nói, tâm linh là niềm tin vào sự thiêng liêng có ở trong mỗi con người, trong mỗi gia đình, trong khắp cộng đồng Tâm linh tồn tại trong đời sống tinh thần của con người theo hai cách:

Thứ nhất, tâm linh tồn tại trong ý niệm và từ ý niệm ấy, con người hành động

vì niềm tin thiêng liêng của mình

Thứ hai, tâm linh biểu hiện ở các hình ảnh, biểu tượng Ví dụ: cây đa, giếng nước, mái đình, mồ mả, bát hương, đều là những biểu tượng thiêng liêng Vì thế, những con số gắn với những biểu tượng ấy trong ý niệm của con người cũng là những con số thiêng liêng

b1 Con số trong những không gian thiêng liêng

Không gian thiêng liêng là những nơi ở của Thần, Phật, tổ tiên Với truyền thống tín ngưỡng tôn giáo tốt đẹp, người Việt Nam dành những gì quý nhất, đẹp nhất, hay nhất của mình tập trung về đây Những không gian thiêng của người Việt

đó là: đình làng, đền, nghè, điếm, miếu, phủ, chùa, tháp, quán, am, đàn, nhà thờ, bàn thờ

Trang 40

Với tư duy đặc biệt về con số lẻ, không gian thiêng liêng của đền chùa Việt Nam thường được bố trí kiến trúc theo lối chữ tam “Điều này đã thấy ngay từ thời

Lý, ở dấu tích chùa Long Khám, chùa Phật Tích huyện Tiên Sơn - Hà Bắc, trên nền chùa ở sườn núi còn rõ ba cấp nền chính Hoặc như chùa Thầy - Hà Tây khởi dựng

từ thời vua Lý Thần Tông, vẫn còn rõ ba nếp kiến trúc ở trục chính, gọi là hạ, trung, thượng điện Đó là cách gọi theo đẳng cấp nho giáo, còn nhà Phật là thể hiện tam thế, tam thần hoặc tam bảo (Phật pháp tăng) Ở nhiều ngôi chùa, toà nhà đặt điện thờ Phật cũng gọi là toà tam bảo Hiện nay có chùa Tây Phương nổi tiếng ở huyện Thạch Thất - Hà Tây, chùa dựng lại vào thời Tây Sơn (1794), được bố trí theo chữ tam Đó cũng là muốn nhắc lại triết lý tam thế của nhà Phật đã có từ lâu trong bố trí

kiến trúc chùa của người Việt” [29; tr 226]

Không phải ngẫu nhiên mà kiến trúc thiêng liêng của người Việt được tạo nên theo số ba như thế Lý giải điều này, Nguyễn Đăng Duy giải thích: “Tam quan đối với mắt người thường chỉ là cổng vào chùa, nhưng trong mắt nhà tu hành thì tam quan là ranh giới giữa cõi thiêng và cõi tục, là ngưỡng cửa thiêng liêng siêu thoát, là phương châm tu hành, cho đến lúc thanh thản về với cõi vĩnh

hằng, không tách khỏi không gian ngôi chùa mà suốt đời nhà tu hành gắn bó” [29; tr 223] Ở miền Trung vào giữa thế kỷ XVII, XVIII do ảnh hưởng từ Bà La Môn giáo với quan niệm đất vuông ở giữa, xung quanh là biển, bốn góc có bốn

vị thiên vương chống đỡ đã sâu đậm trong tâm thức của người Chăm Pa Khi Phật giáo mở rộng, dựng chùa thường bố trí theo lối chữ khẩu, bốn toà nhà bao quanh sân ở giữa Điều này có thể thấy rất rõ trong kiến trúc một số ngôi chùa như: Thập tháp Bình Định gồm bốn toà, toà chính điện là phương trượng, toà tây đường, toà đông đường thông nhau qua một sân nhỏ ở giữa, toà chính điện thường bố trí hình vuông, phía trước thờ Phật, phía sau thờ tổ; Chùa Thiên Mụ - Huế, chính điện là toà tứ giác gọi là điện Đại Hùng, nhìn lên thấy hình bát quái,

cấu trúc khéo léo tụ vào chỏm nóc ở giữa Chùa Một Cột, bên trong là linh chiểu

(ao thiêng) hình vuông, bao quanh bên ngoài là viên trì (hồ tròn), bốn mặt ra vào bắc bốn cầu bích ngọc, bốn hướng tụ vào nhất trụ (một cột) vươn lên từ nước Kiến trúc ấy thể hiện sự hoà hợp thiêng liêng trời đất (trời tròn, đất vuông) Cột trụ tròn vươn lên từ nước - nguồn gốc đầu tiên của sự sống, sinh sôi phát triển -

Ngày đăng: 26/12/2013, 15:27

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Trần Gia Anh (2003), Con số với ấn tượng dân gian, Nxb Hải Phòng, Hải Phòng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Con số với ấn tượng dân gian
Tác giả: Trần Gia Anh
Nhà XB: Nxb Hải Phòng
Năm: 2003
2. Trần Gia Anh (2007), Kiến thức văn hóa truyền thống - Con số dân gian, Nxb Văn hóa Sài Gòn, TP. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kiến thức văn hóa truyền thống - Con số dân gian
Tác giả: Trần Gia Anh
Nhà XB: Nxb Văn hóa Sài Gòn
Năm: 2007
3. Nguyễn Vũ Tuấn Anh (2001), Tìm về cội nguồn Kinh dịch, Nxb Đại học quốc gia TP. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm về cội nguồn Kinh dịch
Tác giả: Nguyễn Vũ Tuấn Anh
Nhà XB: Nxb Đại học quốc gia TP. Hồ Chí Minh
Năm: 2001
4. Diệp Quang Ban - Hoàng Văn Thung (1999), Ngữ pháp tiếng Việt, tập 1, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ pháp tiếng Việt
Tác giả: Diệp Quang Ban - Hoàng Văn Thung
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1999
5. Diệp Quang Ban (2010), Từ điển thuật ngữ Ngôn ngữ học (Sơ thảo) , Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển thuật ngữ Ngôn ngữ học (Sơ thảo)
Tác giả: Diệp Quang Ban
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2010
6. Nguyễn Nhã Bản (2003), Cuộc sống của thành ngữ, tục ngữ trong kho tàng ca dao người Việt. Nxb Nghệ An Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cuộc sống của thành ngữ, tục ngữ trong kho tàng ca dao người Việt
Tác giả: Nguyễn Nhã Bản
Nhà XB: Nxb Nghệ An
Năm: 2003
7. Nguyễn Nhã Bản ( 2005), Đặc trưng cấu trúc - ngữ nghĩa của thành ngữ, tục ngữ trong ca dao, Nxb Văn hoá Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: 2005), Đặc trưng cấu trúc - ngữ nghĩa của thành ngữ, tục ngữ trong ca dao
Nhà XB: Nxb Văn hoá Thông tin
8. Lê Biên (1998), Từ loại tiếng Việt hiện đại, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ loại tiếng Việt hiện đại
Tác giả: Lê Biên
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1998
9. Phan Kế Bính (2005), Việt Nam phong tục, Nxb Văn hóa Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam phong tục
Tác giả: Phan Kế Bính
Nhà XB: Nxb Văn hóa Thông tin
Năm: 2005
10. Phan Mậu Cảnh (2006), Ngữ pháp tiếng Việt (các phát ngôn đơn phần), Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ pháp tiếng Việt (các phát ngôn đơn phần)
Tác giả: Phan Mậu Cảnh
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2006
11. Phan Mậu Cảnh (2008), Lý thuyết và thực hành văn bản tiếng Việt, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý thuyết và thực hành văn bản tiếng Việt
Tác giả: Phan Mậu Cảnh
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2008
12. Phan Mậu Cảnh (2008), Bước đầu tìm hiểu đặc trưng văn hóa gốc nông nghiệp biểu hiện qua ngôn ngữ (trên dẫn liệu ca dao người Việt), Ngữ học trẻ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bước đầu tìm hiểu đặc trưng văn hóa gốc nông nghiệp biểu hiện qua ngôn ngữ (trên dẫn liệu ca dao người Việt)
Tác giả: Phan Mậu Cảnh
Năm: 2008
13. Phan Mậu Cảnh (2009), Tiếng Việt thực hành, Nxb Nghệ An, Nghệ An Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiếng Việt thực hành
Tác giả: Phan Mậu Cảnh
Nhà XB: Nxb Nghệ An
Năm: 2009
14. Thu Giang Nguyễn Duy Cần (1992). Dịch học tinh hoa. N xb Thành phố Hồ Chí Minh, TP. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dịch học tinh hoa
Tác giả: Thu Giang Nguyễn Duy Cần
Nhà XB: Nxb Thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 1992
15. Bùi Hạnh Cẩn (1997), Từ vựng chữ số và số lượng, Nxb Văn hóa Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ vựng chữ số và số lượng
Tác giả: Bùi Hạnh Cẩn
Nhà XB: Nxb Văn hóa Thông tin
Năm: 1997
16. Nguyễn Huy Cẩn (chủ biên) (2005), Tiếng Việt hiện nay và những vấn đề Ngôn ngữ học liên ngành, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiếng Việt hiện nay và những vấn đề Ngôn ngữ học liên ngành
Tác giả: Nguyễn Huy Cẩn (chủ biên)
Nhà XB: Nxb Khoa học Xã hội
Năm: 2005
17. Nguyễn Tài Cẩn (1975), Ngữ pháp tiếng Việt, Tiếng - Từ ghép - Đoản ngữ, Nxb Đại học và Trung học chuyên nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ pháp tiếng Việt, Tiếng - Từ ghép - Đoản ngữ
Tác giả: Nguyễn Tài Cẩn
Nhà XB: Nxb Đại học và Trung học chuyên nghiệp
Năm: 1975
18. Nguyễn Tài Cẩn (1975), Từ loại danh từ trong tiếng Việt hiện đại, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ loại danh từ trong tiếng Việt hiện đại
Tác giả: Nguyễn Tài Cẩn
Nhà XB: Nxb Khoa học Xã hội
Năm: 1975
19. Nguyễn Tài Cẩn (1996), Ngữ pháp tiếng Việt, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ pháp tiếng Việt
Tác giả: Nguyễn Tài Cẩn
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 1996
20. Đỗ Hữu Châu (1962), Giáo trình Việt ngữ. (tập 2, từ hội học). Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Việt ngữ
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1962

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.1. So sánh những điểm khác biệt giữa thành ngữ, tục ngữ, ca dao  Bình diện - Đặc điểm ngữ pháp và ngữ nghĩa của con số trong thành ngữ, tục ngữ, ca dao việt nam
Bảng 1.1. So sánh những điểm khác biệt giữa thành ngữ, tục ngữ, ca dao Bình diện (Trang 29)
Bảng 2.1. Từ loại của con số trong thành ngữ, tục ngữ, ca dao - Đặc điểm ngữ pháp và ngữ nghĩa của con số trong thành ngữ, tục ngữ, ca dao việt nam
Bảng 2.1. Từ loại của con số trong thành ngữ, tục ngữ, ca dao (Trang 50)
Bảng 2.3. Tần số sử dụng số độc lập / kết hợp trong thành ngữ, tục ngữ, ca dao - Đặc điểm ngữ pháp và ngữ nghĩa của con số trong thành ngữ, tục ngữ, ca dao việt nam
Bảng 2.3. Tần số sử dụng số độc lập / kết hợp trong thành ngữ, tục ngữ, ca dao (Trang 59)
Bảng 2.4. Tần số sử dụng số trong thành ngữ, tục ngữ, ca dao - Đặc điểm ngữ pháp và ngữ nghĩa của con số trong thành ngữ, tục ngữ, ca dao việt nam
Bảng 2.4. Tần số sử dụng số trong thành ngữ, tục ngữ, ca dao (Trang 60)
Bảng 2.5. Kết hợp con số với con số trong thành ngữ, tục ngữ và ca dao - Đặc điểm ngữ pháp và ngữ nghĩa của con số trong thành ngữ, tục ngữ, ca dao việt nam
Bảng 2.5. Kết hợp con số với con số trong thành ngữ, tục ngữ và ca dao (Trang 66)
Bảng 3.1. Tần số sử dụng các con số cụ thể trong thành ngữ, tục ngữ, ca dao  Con số - Đặc điểm ngữ pháp và ngữ nghĩa của con số trong thành ngữ, tục ngữ, ca dao việt nam
Bảng 3.1. Tần số sử dụng các con số cụ thể trong thành ngữ, tục ngữ, ca dao Con số (Trang 76)
Bảng 3.3. Sự khác biệt qua so sánh con số trong thành ngữ, tục ngữ và ca dao - Đặc điểm ngữ pháp và ngữ nghĩa của con số trong thành ngữ, tục ngữ, ca dao việt nam
Bảng 3.3. Sự khác biệt qua so sánh con số trong thành ngữ, tục ngữ và ca dao (Trang 107)
Bảng 4.1.  Hình thức tạo nhịp điệu của con số trong thành ngữ, tục ngữ, ca dao - Đặc điểm ngữ pháp và ngữ nghĩa của con số trong thành ngữ, tục ngữ, ca dao việt nam
Bảng 4.1. Hình thức tạo nhịp điệu của con số trong thành ngữ, tục ngữ, ca dao (Trang 114)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w