1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Biện chứng cá nhân xã hội trong lối sống của sinh viên hiện nay

73 1,4K 11

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Biện Chứng Cá Nhân – Xã Hội Trong Lối Sống Sinh Viên Hiện Nay
Tác giả Nguyễn Thị Hiệp
Người hướng dẫn Th.S Đinh Thị Phòng
Trường học Đại Học Huế
Chuyên ngành Khoa Học Chính Trị
Thể loại Khóa luận tốt nghiệp
Năm xuất bản 0 1
Thành phố Huế
Định dạng
Số trang 73
Dung lượng 535 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trên cơ sở xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật của chủ nghĩa cộng sản,phát triển các quan hệ xã hội cộng sản chủ nghĩa và thực hiện cuộc cách mạngvăn hóa, sẽ hình thành một cá nhân con ng

Trang 1

ĐẠI HỌC HUẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ

-*** -

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

BIỆN CHỨNG CÁ NHÂN – XÃ HỘI

TRONG LỐI SỐNG SINH VIÊN HIỆN NAY

Trang 2

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Tình hình nghiên cứu của đề tài 3

3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài 5

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 5

5 Cơ sở lý lận và phương pháp nghiên cứu 6

6 Đóng góp của đề tài 6

7 Kết cấu của khoá luận 6

Chương 1 7

MỐI QUAN HỆ GIỮA CÁ NHÂN VÀ XÃ HỘI 7

1.1 Khái niệm cá nhân và xã hội 7

1.1.1 Khái niệm cá nhân 7

1.1.2 Khái niệm xã hội 12

1.2 Mối quan hệ biện chứng giữa cá nhân và xã hội 15

Chương 2 29

VẬN DỤNG BIỆN CHỨNG GIỮA CÁ NHÂN VÀ XÃ HỘI TRONG XÂY DỰNG LỐI SỐNG MỚI CỦA SINH VIÊN HIỆN NAY 29

2.1 Xây dựng lối sống mới cho sinh viên hiện nay trên cơ sở nguyên tắc biện chứng giữa cá nhân và xã hội 29

2.1.1 Thực trạng lối sống sinh viên hiện nay 29

2.1.2 Thực chất của quan hệ lợi ích giữa cá nhân - xã hội trong lối sống của sinh viên hiện nay

40 2.2 Một số kiến nghị về giải pháp nhằm xây dựng lối sống mới cho sinh viên hiện nay 57 KẾT LUẬN 65

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 68

Trang 3

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Hiện nay Việt Nam chúng ta đã và đang tiến hành xây dựng đất nướctheo công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Việc xây dựng phongcách sống, văn hóa lành mạnh hiện đang là vấn đề được quan tâm trong trongcông cuộc xây dựng cuộc sống mới xã hội chủ nghĩa của nước ta hiện naychính vì thế việc bàn về lối sống của sinh viên là một điều quan trọng và hếtsức cần thiết… Sinh viên là lớp thanh niên trí thức, là chủ nhân tương lai củađất nước

Việc xây dựng lối sống mới nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển của xãhội hiện nay là một vấn đề bức thiết đối với đất nước ta Bởi hiện nay nước tađang tiến hành xây dựng đất nước quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội, nên muốn

có chủ nghĩa xã hội thì phải có con người mới xã hội chủ nghĩa Lối sống mới

đó phải được hình thành, phát triển cùng với sự phát triển của xã hội Nó phải

là lối sống văn minh, tiên phong mang đậm bản sắc dân tộc và những giá trịmới, những tinh hoa văn hoá của nhân loại

Cho đến nay, xây dựng lối sống mới trở thành một trong những mụctiêu của xây dựng xã hội mới ở nước ta Trước bối cảnh hoàn thiện thể chếkinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, chủ động hội nhập kinh tế thếgiới, mở rộng giao lưu và hợp tác quốc tế trong xu thế toàn cầu hoá, nhữngtác động tích cực rất nhiều, nhưng đã bộc lộ những mặt trái của nó, trong đó

có ảnh hưởng tiêu cực đến tư tưởng, đạo đức, lối sống của nhân dân ta, nhất làđối với lối sống của sinh viên Bởi sinh viên là lớp người có phản ứng nhanh,nhạy bén với cái lạ, cái mới Những năm gần đây, một bộ phận sinh viên cónhiều biểu hiện nghiêng về tự do cá nhân, bất chấp lợi ích công đồng Xét vềtriết lý sống, họ thiếu nhân sinh quan đúng đắn trong giải quyết quan hệ giữa

cá nhân và xã hội Sinh viên là tầng lớp kế tiếp những truyền thống tốt đẹpcủa cha ông ta trong sự nghiệp xây dựng đất nước giàu mạnh, công bằng và

Trang 4

văn minh Chính vì thế việc bàn về lối sống của sinh viên là một điều hết sứcquan trọng.

Nói đến sinh viên Việt Nam tức là nói đến một thế hệ trẻ đầy sức sống

và sức sáng tạo Họ có tri thức của thời đại, chìa khóa mở ra cánh cửa cho tiến

bộ xã hội nói chung và sự phát triển đất nước nói riêng Về mặt số lượng, sinhviên là một lực lượng không nhỏ Hiện cả nước có khoảng gần 120 trường đạihọc, cao đẳng; trung bình mỗi trường có khoảng 6000 sinh viên theo học Thửnhân lên chúng ta sẽ được một con số khổng lồ: 720 000 người, gần bằng dân

số trung bình của một tỉnh Về mặt chất lượng, sinh viên là lớp người trẻ đượcđào tạo toàn diện và đấy đủ nhất, bao gồm các chuyên ngành học trên khắpcác lĩnh vực tự nhiên, xã hội, khoa học…

Sinh viên Việt Nam là những lớp người có phẩm chất năng lực và khảnăng tư duy nhạy bén, năng động sáng tạo, nhanh nhạy nắm bắt cái mới, cái

lạ, tiếp cận nhanh chóng các thông tin mới nhất Họ là thế hệ tiếp nối truyềnthống cha ông tiếp tục sự nghiệp giáo dục đào tạo của đất nước nói riêng vàtri thức nhân loại nói chung Họ luôn biết bản thân họ đang làm gì, sẽ làm gì

để cho tương lai cuộc sống sau này của mình Các bạn chính là những hạtgiống đang nảy mầm trong một chân trời kiến thức mà mọi người đều muốnkhám phá và chinh phục

Tuy nhiên cùng với sự thay đổi sang cơ chế thị trường như hiện nay thìlối sống, cách nghĩ của sinh viên cũng biến chuyển theo: có rất nhiều sinhviên đã trưởng thành và phát huy mọi khả năng của mình để góp một phầnsức lực trong việc đổi mới đất nước, cũng có nhiều sinh viên đã biết vượt qua

số phận nghiệt ngã của mình để học tập Đồng thời đó cũng không phải ngẫunhiên mà hàng loạt các tệ nạn như đua xe, ma tuý cờ bạc, rượu chè…ngàycàng xâm nhập vào giảng đường Tất cả những điều đó trở thành điều nhứcnhối cho toàn xã hội Trên hết, tất cả chúng ta phải quan tâm hơn nữa đến chấtlượng chủ chốt này, phải làm sao cho sinh viên Việt Nam có lối sống đúngđắn, thực sự nhận thức rõ vai trò quan trọng của mình đối với sự phát triểncủa đất nước

Trang 5

Để sinh viên xứng đáng và phát huy vị trí, vai trò của mình trong sựnghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước cần xây dựng lối sống mới chođối tượng này Hiện nay các lực lượng chống phá chủ nghĩa xã hội đang tiếnhành chiến lược “Diễn biến hoà bình”, nhằm trọng tâm vào chuyển biến cácthế hệ sinh viên, thanh niên, làm chuyển đổi hệ giá trị tư tưởng, nhân sinhquan của sinh viên, thanh niên Đây là chiến lược được chủ nghĩa đế quốc xácđịnh là lâu dài, có thể 20 năm, 30 năm hoặc lâu hơn nữa để chuyển hoá cácnước xã hội chủ nghĩa theo hướng tự do tư bản chủ nghĩa Do vậy, xây dựnglối sống mới cho thanh niên không những là yêu cầu khách quan của xã hội

mà còn để chúng ta phòng chống chiến lược “Diễn biến hoà bình”

Sinh viên Việt Nam đang hướng tới những hệ giá trị mới mang tínhtoàn cầu, đồng thời mang đậm bản sắc văn hoá dân tộc Họ đang cần địnhhướng các giá trị để xây dựng nhân sinh quan mới, từ đó làm cơ sở xây dựnglối sống mới - đó là nhân sinh quan cách mạng của triết học mácxít Trong đóquan điểm rất quan trọng là “Mối quan hệ biện chứng giữa cá nhân và xãhội” Hiểu đúng mối quan hệ biện chứng giữa cá nhân và xã hội cho chúng tathế giới quan, nhân sinh quan cách mạng để xây dựng những nội dung mớilàm chuẩn mực xây dựng lối sống mới

Từ những thực tiễn đòi hỏi ở trên, cho nên việc nghiên cứu một cách có

hệ thống và tìm ra những giải pháp thích hợp để nhằm phát huy vai trò củasinh viên, việc xây dựng lối sống mới của sinh viên là một vấn đề vừa có ýnghĩa lý luận, vừa có ý nghĩa thực tiễn cấp bách Đồng thời qua một thời giannghiên cứu, tìm hiểu bản thân mình cũng là một sinh viên, em đã chọn đề tài

khoá luận tốt nghiệp của mình là : “Biện chứng cá nhân - xã hội trong lối

sống của sinh viên hiện nay” để làm vấn đề nghiên cứu.

2 Tình hình nghiên cứu của đề tài

Vấn đề xây dựng lối sống mới của sinh viên hiện nay là vấn đề cónhiều công trình khoa học và có nhiều bài viết quan tâm ở nhiều lĩnh vựckhác nhau, tiêu biểu như các công trình khoa học và các bài viết như:

GS Phạm Minh Hạc, đề tài kx07 “Con người Việt Nam - mục tiêu vàđộng lực phát triển kinh tế - Xã hội” Vũ Văn Hạc, “Về sự biến đổi mối quan

Trang 6

hệ giữa cá nhân - xã hội và những suy nghĩ xây dựng con người Việt Namtrong giai đoạn hiện nay", Tạp chí nghiên cứu con người, 2007 Bài viết đãphác thảo mối quan hệ giữa cá nhân trong lịch sử và sự “xung đột” giữanhững giá trị “cũ” và “mới” trong sự biến đổi quan hệ giữa cá nhân và xã hộitrong giai đoạn hiện nay.

GS Lê Hữu Tầng, đề tài kx07 - 13 “Vấn đề phát huy và sử dụng đúngđắn vai trò động lực của con người trong sự phát triển kinh tế - xã hội.Nguyễn Trọng Chuẩn “Một số vấn đề Triết học - con người - xã hội” ThànhDuy “Tư tưởng Hồ Chí Minh với sự nghiệp xây dựng con người phát triểntoàn diện” Nguyễn Văn Huyên “Mấy vấn đề Triết học về xã hội và phát triểncon người”, “Lối Sống của người Việt Nam dưới tác động của toàn cầu hoáhiện nay” Võ Văn Thắng “Một số mâu thuẫn nảy sinh trong quá trình xâydựng lối sống mới ở nước ta hiện nay” Đoàn Văn Khiêm “Lý tưởng đạo đức

và việc giáo dục lý tưởng đạo đức cho thanh niên trong điều kiện hiện nay”

Hồ chí Minh “Về xây dựng con người mới” Đoàn Đức Hiếu “ Khắc phục chủnghĩa cá nhân để phát triển nhân cách cá nhân”, “Sự phát triển cá nhân trongnển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa”… Các bài viết đã làm rõ

về vai trò của con người Việt nam trong thười đại mới - thời đại chủ nghĩa xãhội Tuy nhiên vấn đề con người và lối sống của con người Việt Nam nóichung, lối sống của thanh niên nói riêng chỉ mới dừng lại ở công tác tư tưởng

Hoàng Chí Bảo “Giáo dục đạo đức, nhân cách cho sinh viên đại học ởnước ta hiện nay - quan niệm, vấn đề và giải pháp” Dương Tự Đam “Bảnlĩnh thanh niên, sinh viên ngày nay” Phạm Đình Nghiệp “Giáo dục lý tưởngcách mạng cho thế hệ trẻ trong tình hình mới” Văn Tùng “Tìm hiểu tư tưởng

Hồ Chí Minh về giáo dục thanh niên” Võ Minh Tuấn “Về xu hướng vậnđộng của đạo đức sinh viên Việt Nam trong giai đoạn hiện nay” Võ Văn Hoài

“Giáo dục đạo đức Hồ Chí Minh cho sinh Viên Đại học Huế hiện nay” TrầnHậu Kiêm và Đoàn Đức Hiếu “Hệ thống phạm trù đạo đức và vấn đề giáo dụcđạo đức cho sinh viên”… Các bài viết trên đây đã khái quát và làm rõ về vấn

đề giáo dục đạo đức và nhân cách cho sinh viên ở nhiều góc độ khác nhau

Trang 7

Tất cả các công trình, bài viết nêu trên đã phần nào đề cập và làm sáng

tỏ được thực chất của việc xây dựng đạo đức mới, lối sống văn hoá cho conngười cá nhân, đặc biệt cho sinh viên ở nhiều góc độ khác nhau Tuy nhiênchưa có công trình nghiên cứu cụ thể nào về vấn đề: Biện chứng cá nhân - xãhội trong lối sống của sinh viên hiện nay

Kế thừa kết quả nghiên cứu của các công trình, các bài viết có liênquan, tác giả khoá luận lựa chọn vấn đề “Biện chứng cá nhân - xã hội tronglối sống của sinh viên hiện nay” làm đề tài nghiên cứu của mình

3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài

Mục đích nghiên cứu của đề tài:

- Làm rõ mối quan hệ biện chứng giữa cá nhân và xã hội theo quanđiểm của triết học Mác - Lênin với tư cách là thế giới quan, nhân sinh quancách mạng, là cơ sở lý luận cho lối sống mới của mỗi sinh viên hiện nay

- Vận dụng quan điểm của chủ nghĩa duy vật lịch sử về mối quan hệgiữa cá nhân và xã hội trong thực tiễn xây dựng lối sống mới của sinh viênhiện nay

- Góp vào thực tiễn những giải pháp nhằm phát huy hơn nữa hiệu quảxây dựng lối sống mới của sinh viên hiện nay

- Quan điểm của chủ nghĩa duy vật lịch sử về mối quan hệ giữa cá nhân

và xã hội

- Những chuẩn mực của lối sống mới của sinh viên cần hướng tới đểxây dựng

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Mối quan hệ giữa cá nhân và xã hội theo quan điểm triết học Mác Lênin

-Khóa luận nghiên cứu những chuẩn mực thuộc nội dung xây dựng lốisống mới chủ yếu ở góc cạnh thể hiện quan hệ giữa cá nhân trong quan hệ với

xã hội, tổng hợp các quan hệ ứng xử của cá nhân trong xã hội

Thực hiện hành động và hiệu quả xây dựng lối sống mới của sinh viênhiện nay

Trang 9

5 Cơ sở lý lận và phương pháp nghiên cứu

Đề tài dựa trên hệ thống quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tưtưởng Hồ Chí Minh, đường lối quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam vềxây dựng lối sống mới cho sinh viên

Phương pháp nghiên cứu của đề tài là phương pháp biện chứng duy vậtvới sự vận dụng các nguyên tắc của lôgíc biện chứng như: Nguyên tắc toàndiện, nguyên tắc lịch sử - cụ thể, nguyên tắc thực tiễn… để xem xét giải quyếtvấn đề trên cơ sở các tài liệu khoa học và thông tin mới nhất

6 Đóng góp của đề tài

Kết quả nghiên cứu của khóa luận sẽ góp phần:

Làm rõ vai trò thế giới quan, nhân sinh quan cách mạng đối với việcđịnh hướng hệ giá trị mới nhằm xây dựng lối sống mới

Đề tài là tài liệu tham khảo cho những ai quan tâm đến vấn đề này

Đề tài là những gợi ý đóng góp cho việc giáo dục và xây dựng lối sốngmới cho sinh viên các trường đại học và cao đẳng trong cả nước

Nắm được thực trạng và nêu lên một số giải pháp nhằm góp phần vàoviệc xây dựng lối sống mới cho sinh viên đạt hiệu quả hơn nữa

7 Kết cấu của khoá luận

Khóa luận ngoài phần Mở đầu, phần Kết luận, Danh mục tài liệu thamkhảo, Khóa luận gồm hai chương (4 tiết)

Trang 10

Chương 1 MỐI QUAN HỆ GIỮA CÁ NHÂN VÀ XÃ HỘI

1.1.1 Khái niệm cá nhân

Cá nhân và xã hội là một trong những vấn đề quan trọng có quan hệđến công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội và là đối tượng của cuộc đấu tranhgiữa hệ tư tưởng Mác - Lênin và hệ tư tưởng tư sản

- Quan điểm của các nhà tư sản

Các nhà tư tưởng tư sản hình dung xã hội như một tổng số máy mócnhững con người riêng lẻ và coi cá nhân là những con người trừu tượng, táchkhỏi những quan hệ xã hội lịch sử - cụ thể vốn có của nó Do đó, họ tuyệt đốihoá những nét đặc thù của mỗi cá nhân và phủ nhận tính giai cấp phổ biến củamỗi con người trong xã hội có giai cấp

- Quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin

Chủ nghĩa Mác - Lênin chỉ rằng cá nhân là cá thể người với tư cách làsản phẩm và là chủ thể của sự phát triển lịch sử xã hội Là chủ thể lao động,của mọi quan hệ xã hội và của nhận thức Cá nhân là một con người hoànchỉnh trong sự thống nhất giữa những khái niệm riêng của nó của người đóvới chức năng xã hội do người đó thực hiện Người ta không bao giờ sốngtách rời, cô lập với nhau trong quá trình sản xuất và tiêu dùng, bao giờ cũng

có quan hệ với nhau Hoạt động của con người trong xã hội quy định ảnhhưởng lẫn nhau Chính trong sự tác động lẫn nhau đó mà con ngưòi hợp thành

sử Mỗi thời đại sinh ra một kiểu cá nhân với tính đặc thù của nó

Trang 11

Con người với những phẩm chất được quy định về mặt xã hội và đượcbiểu lộ ở mỗi cá nhân: trí tuệ, tình cảm, ý chí Quan niệm khoa học về cá nhândựa vào định nghĩa của chủ nghĩa Mác về bản chất con người như đã nêu trên.Xuất phát từ đó, người ta rút ra kết luận là các đặc tính vốn có của cá nhânkhông thể bẩm sinh, mà suy cho cùng là bởi quy định bởi chế độ xã hội hìnhthành trong lịch sử Mỗi xã hội được xây dựng trên cơ sở chế độ tư hữu về tưliệu sản xuất sẽ cản trở và làm sai lệch sự phát triển của cá nhân Việc thủ tiêuchủ nghĩa tư bản mở ra một con đường phát triển toàn diện, hoàn chỉnh của cánhân Trên cơ sở xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật của chủ nghĩa cộng sản,phát triển các quan hệ xã hội cộng sản chủ nghĩa và thực hiện cuộc cách mạngvăn hóa, sẽ hình thành một cá nhân con người mới kết hợp hài hoà sự phongphú về tinh thần, sự trong sáng về đạo đức và sự hoàn thiện về thể chất [32,57].

Trong tâm lý học, cá nhân - mỗi con người riêng biệt với những đặcđiểm cá nhân vốn có của mình về tính cách, trí tuệ, tình cảm Tính chất khíchất, năng lực con người và cả những đặc điểm diễn biến của các quá trìnhtâm lý thuộc về các đặc tính tâm lý của cá nhân Trong khi các trạng thái tâm

lý (cảm xúc, động cơ, hành vi,v.v ) không ngừng thay đổi thì tư chất hay bộmặt tâm lý của cá nhân phần nào vẫn không thay đổi của điều kiện sinh hoạt,với những đặc điểm loại hình của hệ thống thần kinh của cá nhân Sự thay đổi

về tư chất tâm lý của cá nhân là hậu quả của những thay đổi diễn ra trong đờisống con người, kết quả của quá trình giáo dục của xã hội Cá nhân - đó làmột tổng thể gắn bó những nét bên trong và những đặc điểm của con người,qua đó mọi tác động từ bên ngoài được phản ánh Nguồn gốc tích cực của cánhân là những nhu cầu nhiều vẻ về cá nhân và xã hội con người Cái chủ quantrong cá nhân (cảm xúc, ý thức, nhu cầu) là không tách rời các quan hệ kháchquan được hình thành giữa con người với hiện thực chung quanh Trình độphát triển của cá nhân phụ thuộc vào chỗ các quan hệ này tiến bộ đến đâu vềmặt lịch sử Ở Liên Xô, cá nhân hình thành trong điều kiện xã hội xã hội chủnghĩa phù hợp với những yêu cầu của đạo đức cộng sản chủ nghĩa [32, 57]

Trang 12

Cá nhân là khái niệm chỉ con người cụ thể sống trong một xã hội nhấtđịnh với tư cách là một cá thể, một thành viên của xã hội ấy; do những đặcđiểm riêng biệt của mình mà được phân biệt với các thành viên khác của xãhội thông qua tính đơn nhất và tính phổ biến của nó Khái niệm cá nhân cũngđược phân biệt với khái niệm con người là khái niệm dùng để chỉ tính phổbiến trong bản chất người của tất cả các cá nhân.

Cá nhân là sản phẩm của xã hội Mỗi cá nhân là một cái đơn nhất mangnhững đặc điểm riêng biệt với các cá nhân khác không chỉ về mặt sinh học màchủ yếu về mặt những quan hệ xã hội, những quan hệ này vô cùng phức tạp,rất cụ thể, có tính lịch sử Mỗi cá nhân có đời sống riêng, có những “quan hệ

xã hội” của riêng mình không hoàn toàn giống quan hệ xã hội của các cá nhânkhác, có kinh nghiệm riêng, có nhu cầu, có lợi ích, nguyện vọng riêng, cácquan hệ xã hội là tấm gương soi cho mỗi cá nhân Tuy nhiên các cá nhântrong một xã hội nhất định dù khác nhau đến đâu, đều mang cái chung; họ đều

là thành viên của xã hội, không thể sống ngoài xã hội Trong xã hội có giaicấp, mỗi giai cấp đều do các cá nhân - thành viên của giai cấp hợp thành, mỗi

cá nhân cũng có tính giai cấp Quyền lợi và địa vị của mỗi cá nhân về cơ bảngắn liền với quyền lợi, địa vị của giai cấp họ Nhưng đồng thời mỗi cá nhâncòn có những nét riêng của mình do toàn bộ những điều kiện sinh sống riêngcủa họ quyết định, làm cho cá nhân này khác cá nhân khác Cần có sự phânbiệt cá nhân với cá thể người Một con người mới lọt lòng chưa có ý thức,chưa có những quan hệ xã hội thực sự, chưa thể gọi là một cá nhân Chỉ khinào con người có ý thức, có thế giới nội tâm riêng, có những quan hệ xã hộiriêng, con người đó mới trở thành một cá nhân đúng nghĩa khái niệm này.Yếu tố xã hội là đặc trưng căn bản để hình thành cá nhân

Cá nhân còn là chủ thể của xã hội Các cá nhân chủ động lựa chọn sựtác động của xã hội đối với bản thân mình

- Biểu hiện của cá nhân

Trong mối quan hệ với giống loài, tức là trong mối quan hệ với xã hội,

cá nhân biểu hiện ra với tư cách sau:

Trang 13

Thứ nhất: Cá nhân là phương thức tồn tại của giống loài “người”.

Không có con người nói chung, loài người nói chung tồn tại cảm tính Tồn tạicảm tính trong tính hiện thực cụ thể giống loài là cá nhân của giống loài

Thứ hai: Cá nhân là cá thể người riêng rẽ, là phần tử đơn nhất tạo thành

cộng đồng xã hội

Thứ ba: Cá nhân là là một chỉnh thể toàn vẹn có nhân cách

Thứ tư: Cá nhân được hình thành và phát triển chỉ trong quan hệ xã hội.

Nhưng xã hội thay đổi theo tiến trình lịch sử cho nên cá nhân là một hiệntượng có tính lịch sử Mỗi thời kỳ lịch sử có một “kiểu xã hội của cá nhân”mang tính định hướng về thế giới quan, phương pháp luận cho hoạt động củacon người trong thời kỳ lịch sử cụ thể đó

Chính vì vậy trong thực tiễn giao tiếp, trong quan hệ xã hội mỗi cánhân giao tiếp với xã hội trước hết là giao tiếp với mỗi cá nhân trong xã hội

đó

- Nhân cách - bản sắc độc đáo của con người thể hiện ở mỗi cá nhân

Nếu như cá nhân là khái niệm phân biệt sự khác nhau giữa cá thể vớigiống loài, sự khác biệt biểu hiện ra bên ngoài của cá nhân này với cá nhânkhác thì nhân cách là khái niệm để chỉ sự khác biệt những yếu tố bên trongriêng biệt với toàn bộ hoạt động sống của nó, của cá nhân này với cá nhânkhác Cá nhân khác với xã hội bởi tính hiện thực cụ thể của nó, còn mỗi cánhân khác nhau bởi nhân cách của mình

Cá nhân là phương thức biểu hện của giống loài, đến lượt mình nhâncách là toàn bộ những năng lực và phẩm chất xã hội - sinh lý - tâm lý tạothành một chỉnh thể đóng vai trò chủ thể tự ý thức, tự đánh giá, tự khẳng định,

tự điều chỉnh mọi hoạt động của mình, vì nhân cách là nội dung, trạng thái,tính chất, xu hướng bên trong riêng biệt của mỗi cá nhân để phân biệt sự khácnhau giữa các cá nhân nên nó là cái bản sắc độc đáo của mỗi cá nhân Đó làthế giới của “cái tôi” do tác động tổng hợp của các yếu tố cơ thể và xã hộiriêng biệt tạo nên Mỗi cá nhân “dấn thân” vào cuộc sống, tiếp thu và chuyểnnhững giá trị văn hoá của xã hội vào bên trong mình, thực hiện quá trình sosánh lọc bỏ, tự đánh giá, tự tạo nên thế giới riêng của mình Đây là quá trình

Trang 14

kép, xã hội hoá cá nhân và cá nhân hoá xã hội, cá nhân xã hội và cá nhân,nhân cách là thống nhất Với nhân cách riêng, mỗi cá nhân có khả năng ý thức

về mình, làm chủ cuộc sống của mình, tự lựa chọn chức năng, niềm vui vàtrách nhiệm hoạt động cụ thể trong xã hội

Nhân cách không nảy sinh từ cái phi vật chất, cũng không nảy sinh từmọi cấu trúc vật chất và cũng không phải là những yếu tố có sẵn trong cá thể,

cá nhân rồi lớn dần lên về số lượng trong thời gian và không gian Nhân cáchđược hình thành và phát triển phụ thuộc vào những yếu tố sau đây:

Thứ nhất: Nhân cách phải dựa trên tiền đề sinh học một tư chất di

truyền học - một cá thể sống, có cấu trúc phức tạp và phát triển cao, có cácgiác quan, hệ thần kinh trung ương, não bộ đoá hoa rực rỡ nhất của vật chất

Thứ hai: Môi trường xã hội là yếu tố quyết định sự hình thành và phát

triển nhân cách Đó là môi trường gia đình, trường học và xã hội tác động vào

cá nhân bằng vô vàn sợi dây liên hệ trực tiếp và gián tiếp Sự tác động của xãhội vào cá nhân không diễn ra một chiều mà đó là sự tác động biện chứng

Thứ ba: Hạt nhân của nhân cách đó là thế giới quan cá nhân bao gồm

toàn bộ những quan điểm, lý tưởng, niềm tin, định hướng giá trị chung của cánhân Đóng vai trò quyết định hình thành thế giới quan cá nhân là tính chấtcủa thời đại; lợi ích, vai trò, địa vị của cá nhân trong xã hội; mức độ từng trải,khả năng thẩm định các giá trị đạo đức - nhân văn, tầm hoạt động cá nhântrong xã hội

Trên cơ sở nền tảng thế giới quan đó, nhân cách còn bao gồm các thuộctính bên trong về năng lực trí tuệ, thể chất chuyên môn và những phẩm chấtchính trị, đạo đức, pháp luật thẫm mỹ

Vì vậy có thể nói, sự hình thành và phát triển nhân cách là sự thốngnhất của ba chiều sinh học (sinh lý), tâm lý và xã hội trong quá trình xác lập

Trang 15

Nhân dân là cộng đồng lớn nhất, trong đó cá nhân hành động như chủthể của lịch sử Cá nhân chỉ được hình thành và phát triển trong xã hội, trongtập thể Cá nhân và xã hội tác động lẫn nhau trong quá trình phát triển Sự tácđộng đó mang hình thức đặc thù trong những hình thức kinh tế - xã hội khácnhau.

Như vậy, cá nhân là một chỉnh thể đơn nhất, vừa mang tính cá biệt,vừa mang tính phổ biến, là chủ thể của lao động, của mọi quan hệ xã hội vàcủa nhận thức nhằm thực hiện chức năng cá nhân và thực hiện chức năng xãhội trong một giai đoạn phát triển nhất định của lịch sử xã hội Con người tồntại qua những cá nhân người, mỗi cá nhân người là một chỉnh thể đơn nhấtgồm một hệ thống những đặc điểm cụ thể không lặp lại, khác biệt với những

cá nhân khác về cơ chế, tâm lý, trình độ… Xã hội bao giờ cũng do các cánhân hợp thành Những cá nhân này sống và hoạt động trong những nhómcộng đồng, tập đoàn xã hội khác nhau do điều kiện lịch sử quy định

1.1.2 Khái niệm xã hội

C.Mác đã chỉ rõ xã hội là toàn bộ những mối quan hệ trong đó conngười hình thành và phát triển Trong mối quan hệ đó, quan hệ sản xuất làquan hệ cơ bản và quyết định Chính quan hệ xã hội tạo thành con người, cánhân con người

Khái niệm xã hội được xác định trên bình diện rộng hẹp khác nhau Xãhội là khái niệm dùng để chỉ cộng đồng các cá nhân trong mối quan hệ biệnchứng với nhau, trong đó cộng đồng tập thể gia đình, cơ quan, đơn vị… vàlớn hơn là cộng đồng xã hội quốc gia, dân tộc… và rộng lớn nhất là cộngđồng nhân loại

Khái niệm xã hội, theo nghĩa rộng, không chỉ dành riêng cho con người

mà còn cho mọi tổ chức của sinh vật có tương quan lệ thuộc lẫn nhau Nóimột cách cụ thể, xã hội là tập hợp những sinh vật có tổ chức, có phân cônglao động tồn tại qua thời gian, sống trên một lãnh thổ hay một cộng đồng nhấtđịnh, cùng nhau chia sẻ những mục đích và lợi ích chung, cùng nhau thựchiện những nhu cầu chủ yếu của đời sống (nhu cầu tái sản xuất, sản xuất củacải vật chất, nhu cầu tinh thần, nhu cầu đảm bảo an ninh…)

Trang 16

Chúng ta cần phân biệt sự khác nhau giữa khái niệm xã hội và kháiniệm dân cư Khái niệm dân cư không hàm ý một tổ chức xã hội, trong khikhái niệm xã hội nhấn mạnh những mối quan hệ hỗ tương giữa các thành viêntrong xã hội Đồng thời xã hội cũng không đồng nghĩa với quốc gia, mặc dùtrong xã hội hiện đại, khái niệm xã hội dùng để chỉ một quốc gia, một nhànước Thông thường mọi thành viên của xã hội nghĩ rằng họ là thành viên củamột quốc gia nhất định nhưng điều đó không phải luôn luôn như vậy và trongnhiều trường hợp không có sự thống nhất giữa xã hội và nhà nước Đó lànguyên nhân của nhiều cuộc nội chiến, xung đột xã hội như trường hợp củangười Palentin ở vùng Trung Cận Đông, của những người thổ dân của Mỹhay bộ lạc Ibo ở Nigeria.

Xã hội con người cũng khác hẳn xã hội loài vật Bởi lẽ con người làđộng vật có tư duy, có văn hoá và biết tổ chức xã hội Con người có khả năngthay đổi hình thức và chức năng xã hội để thích ứng với hoàn cảnh, hay nóicách khác con người có khả năng xây dựng cho mình một nền văn hoá chophép những cá nhân sống trong một xã hội chia sẻ những giá trị, những tínniệm chung Đồng thời văn hoá cho phép con người, thuộc những nền vănhoá khác nhau, có những loại hình quan hệ xã hội, những kiểu tương tác khácnhau Do đó một khi đã được sản sinh, văn hoá và xã hội phát triển cùng nhaumột cách khá phức tạp

Xã hội là một tập thể hay một nhóm những người được phân biệt vớicác nhóm người khác bằng các lợi ích, mối quan hệ đặc trưng, chia sẻ cùngmột thể và có cùng văn hoá

Xã hội bao giờ cũng do các cá nhân tạo nên Những cá nhân này sống

và hoạt động trong các nhóm, cộng đồng và tập đoàn xã hội khác nhau, dođiều kiện lịch sử cụ thể quy định Bất cứ xã hội nào cũng được cấu thànhkhông phải bởi những con người trừu tượng mà bởi những con người cụ thể,những cá nhân đang sống

Mỗi con người đều tồn tại trong mối quan hệ lệ thuộc, tác động lẫnnhau và sự tác động này không chỉ mang tính cá nhân mà còn mang tính cộngđồng Cộng đồng xã hội là một bộ phận người có chung một số dấu hiệu,

Trang 17

nguyên tắc Tuỳ theo cách xác định các dấu hiệu, nguyên tắc mà người ta cóthể xác định những cộng đồng với các tên gọi khác nhau (dân tộc, giai cấp,tập thể, đơn vị, nhóm hoạt động…) Có hai loại cộng đồng: cộng đồng kháchquan được hình thành một cách tự nhiên, không phụ thuộc vào ý muốn conngười và cộng đồng chủ quan được hình thành từ ý đồ, mục đích của conngười.

- Các cấp độ tổ chức xã hội

+ Nhóm xã hội

Nhóm xã hội là khái niệm rất rộng, đi từ gia đình đến giai cấp, giớitính, lứa tuổi… tức là nhóm từ hai người đến hàng ngàn người Nhưng dù sốlượng bao nhiêu, đã gọi là nhóm thì đều có cơ cấu xã hội riêng và bao gồmmột số vị trí, vai trò nhằm thực hiện những mục tiêu cụ thể Mỗi cá nhân có ýthức về sự gắn bó của họ với nhóm thể hiện qua việc tiếp nhận đặc trưng nhưlợi ích, nhu cầu, chuẩn mực giá trị… Họ ý thức được những điểm chung nhấtđịnh với những thành viên khác của nhóm, hoà nhập vào nhóm để tạo mộtcộng đồng tâm lý Sự tham dự chung của các thành viên khác của nhóm vàotrong một hoạt động chung phụ thuộc vào cơ cấu tổ chức của nhóm Ngượclại, cơ cấu xã hội, tiểu văn hoá của nhóm cũng ảnh hưởng tới các hoạt độngcủa các thành viên

+ Tổ chức xã hội

Theo nghĩa rộng, tổ chức xã hội chỉ bất kỳ tổ chức nào hiện tồn trong

xã hội Còn nghĩa hẹp, tổ chức xã hội chính là một tiểu hệ thống xã hội trongmột tổ chức xã hội nào đó Tổ chức xã hội là một hiện tượng xã hội phổ biến

Nó là một trong những loại hình cộng đồng cơ bản, cùng với những loại hìnhcộng đồng khác, tạo ra sự cơ cấu xã hội Một xã hội nhất là xã hội hiện đạikhông thể không có tổ chức Sự hình thành tổ chức có thể là kết quả tự nhiêncủa một quá trình, cũng có thể là kết quả của một hành vi chốc lát, nhưng baogiờ cũng gắn liền với yếu tố khách quan (những đòi hỏi của xã hội, của cộngđồng) và chủ quan (tính năng xã hội của các cá nhân) Tóm lại, tổ chức xã hộirất đa dạng và phong phú, chúng thường thay đổi cùng với những thay đổikhách quan của hoàn cảnh xã hội và những thay đổi chủ quan của con người

Trang 18

Song mọi tổ chức xã hội đều có tác dụng tích cực đối với xã hội nếu nhưchúng tồn tại và hoạt động phù hợp với sự mong đợi của xã hội.

- Cơ cấu xã hội

Khái niệm cơ cấu xã hội phản ánh đến sự xếp đặt những yếu tố, nhữngthành phần, những đơn vị trong mối quan hệ xã hội Những thành phần,những yếu tố, những đơn vị đó được đặt ra trong mối quan hệ tương quantheo một trật tự và lệ thuộc nhau Cơ cấu xã hội là tất cả những cộng đồngngười và toàn bộ các quan hệ xã hội do sự tác động lẫn nhau của các cộngđồng ấy tạo nên Cơ cấu xã hội đề cập chủ yếu đến các cộng đồng được hìnhthành một cách khách quan, dựa trên các dấu hiệu tự nhiên như giai cấp, dân

số dân cư, nghề nghiệp, dân tộc, tôn giáo,…

Thông thường cơ cấu được hiểu một cách cụ thể như chúng ta vẫn quanniệm trên đây, nhưng thực ra cơ cấu xã hội phức tạp hơn nhiều Cơ cấu xã hộibắt đầu từ lúc người ta xác định được địa vị của nhau và địa vị của mọi ngườitrong xã hội được sắp đặt vào vị trí của một cái gì đấy, thì chính cái gì đấy là

cơ cấu xã hội Ở trong cơ cấu xã hội đó người ta quan hệ với nhau, quan hệvới người khác Không bao giờ có quan hệ ngoài cơ cấu xã hội Quan hệ giữa

mẹ / con cái chỉ thể hiện trong gia đình Quan hệ giữa thầy / trò chỉ đúngnghĩa trong cơ cấu trường học, lớp học, quan hệ giữa người lãnh đạo và người

bị lãnh đạo chỉ được thực hiện trong cơ cấu cơ quan, đơn vị chính quyền nhànước

Như vậy, xã hội là một kiểu, một hệ thống xã hội cụ thể trong một giaiđoạn lịch sử nhất định Đó là sản phẩm của sự tác động lẫn nhau giữa ngườivới người trong mối quan hệ biện chứng theo một tổ chức nhất định

1.2 Mối quan hệ biện chứng giữa cá nhân và xã hội

Nguyên tắc cơ bản của việc xác lập mối quan hệ giữa cá nhân và tậpthể cũng như mối quan hệ giữa cá nhân và cộng đồng xã hội nói chung chính

là mối quan hệ giữa lợi ích cá nhân và lợi ích cộng đồng xã hội

Mỗi cá nhân với tư cách là một con người, không bao giờ có thể táchrời khỏi những cộng đồng xã hội nhất định, đồng thời mối quan hệ giữa cánhân và xã hội là hiện tượng có tính lịch sử

Trang 19

Là một hiện tượng có tính lịch sử, quan hệ cá nhân - xã hội luôn luônvận động, biến đổi và phát triển, trong đó, sự thay đổi về chất chỉ diễn ra khi

có sự thay thế hình thái kinh tế - xã hội này bằng hình thái kinh tế - xã hộikhác Trong bất cứ xã hội nào, cá nhân cũng không tách rời xã hội Quan hệgiữa cá nhân và xã hội biến đổi trong sự phát triển của lịch sử Mối quan hệ

đó trong xã hội cổ đại không giống trong xã hội trung đại, xã hội cận đại.Điều đó không chỉ liên quan tới trình độ phát triển của lực lượng sản xuất,trình độ văn hoá, văn minh, mà liên quan tới sự thay đổi của phương thức sảnxuất, của hình thái kinh tế - xã hội Chỉ khi thay đổi hình thái kinh tế - xã hộimới có thay đổi căn bản

Mối quan hệ qua lại giữa cá nhân và xã hội khác nhau trong những thời

kỳ khác nhau, bởi vì không có “xã hội chung chung”, “trừu tượng” mà thực tếtồn tại những hình thái kinh tế - xã hội nhất định, và không có “cá nhân chungchung”, “trừu tượng” bởi vì cá nhân bao giờ cũng là sản phẩm của một chế độ

xã hội nhất định trong lịch sử C.Mác viết: “Bản thân xã hội sản xuất ra conngười như thế nào thì nó cũng sản xuất ra xã hội như thế” [22, 130]

Cái mà lý luận sai lầm về sự đối kháng dường như vĩnh viễn giữa cánhân và xã hội mạo nhận là “vĩnh viễn”, chỉ là cái đặc trưng riêng cho chủnghĩa tư bản và có tính chất tạm thời trong lịch sử Trong mỗi hình thái kinh

tế - xã hội khác nhau, hình thức biểu hiện khác nhau

Trong xã hội nguyên thuỷ, vì công cụ lao động còn thô sơ, muốn sinhtồn, con người phải tiến hành lao động tập thể trên cơ sở chế độ sở hữu tậpthể cộng đồng nguyên thuỷ Ở đây, mọi thành viên trong xã hội đều hoàn toànbình đẳng Mặt khác Do mỗi người chưa chế tạo được công cụ riêng, phâncông lao động chưa phát triển nên chưa có cơ sở để phân biệt giữa người nàyvới người khác, cá nhân chưa thể “nhô” lên được Con người nguyên thuỷchưa tách khỏi tập thể cả về mặt hoạt động lẫn về mặt ý thức Vì vậy, cá nhân

đã hoà vào tập thể Quan hệ giữa cá nhân và xã hội không có đối kháng Lợiích cá nhân phụ thuộc trực tiếp vào lợi ích sống còn, hàng ngày của cộngđồng Mỗi con người của xã hội nguyên thuỷ chưa trở thành những cá nhân

Trang 20

theo nghĩa đầy đủ của nó Trong xã hội này không những lợi ích cá nhân màvài trò của cá nhân cũng “tan biến” trong cộng đồng.

Con người chỉ bắt đầu có ý thức về sự tồn tại của “cái tôi” tức là của cánhân mình như là một thực thể “độc lập” khi lực lượng sản xuất phát triển đếnmức sự phân công lao động đã “cá biệt hoá” con người Mỗi người thực hiệnmột chức năng xã hội riêng Nhưng sự xuất hiện của chế độ tư hữu cùng với

sự phân chia xã hội thành giai cấp đã làm cho chức năng xã hội của mỗingười không chỉ thể hiện cả hoàn cảnh xã hội của họ Ở đây, sự khẳng địnhcủa mỗi cá nhân mang hình thức chủ nghĩa cá nhân Mối quan hệ giữa cánhân và xã hội mang tính đối kháng về lợi ích giai cấp Các giai cấp bóc lộtthống trị, nhân danh xã hội, bắt các giai cấp bị trị phải phục tùng lợi ích củagiai cấp họ Những cá nhân trong giai cấp bị trị bị tước đoạt cả quyền lợi vậtchất lẫn quyền lợi tinh thần, nhân cách, phẩm giá của họ bị chà đạp Chỉnhững cá nhân trong giai cấp thống trị mới được quyền khẳng định nhân cách

và phẩm giá của mình, buộc các giai cấp bị trị phải tôn trọng

Đến khi xã hội phát triển sang giai đoạn mới cao hơn, xã hội phân chiathành các giai cấp đối kháng, xuất hiện hình thái mới trong quan hệ cá nhân -

xã hội Đó là xã hội chiếm hữu nô lệ, những người nô lệ bị coi là những “công

cụ biết nói” của bọn địa chủ quý tộc Giữa cá nhân và xã hội vừa có tínhthống nhất vừa có mâu thuẫn sâu sắc Những con người thuộc giai cấp bị bóclột như nô lệ, nông nô, vô sản thiếu những điều kiện xã hội để trở thànhnhững cá nhân thật sự Mỗi con người thuộc các giai cấp ấy không thể khẳngđịnh cá nhân mình trên cơ sở làm chủ hoạt động lao động cũng như thành quảlao động của mình Các thành viên giai cấp thống trị, là những con người cóđặc quyền, đặc lợi được khẳng định với tư cách cá nhân và trở thành kiểu cánhân đặc trưng của thời đại (chẳng hạn cá nhân phong kiến, cá nhân tư sản…)

Trong xã hội phong kiến, những người nông nô bị coi là những kẻ “tôiđòi” của bọn địa chủ quý tộc

Trong xã hội tư bản, giai cấp tư sản luôn luôn nêu lên vấn đề cá nhân,

cá tính, tự do cá nhân… cho tất cả mọi người, coi quyền tự do cá nhân làquyền “thiêng liêng bất khả xâm phạm” để lừa bịp quần chúng lao động

Trang 21

Nhưng thực chất đó chỉ là tự do cá nhân của giai cấp tư sản, còn giai cấp côngnhân, quần chúng lao động thực ra chỉ có một quyền tự do duy nhất là tự dobán sức lao động, biến thành những kẻ nô lệ làm thuê cho nhà tư bản Chủnghĩa cá nhân tư sản chỉ có ý nghĩa tiến bộ nhất định khi giai cấp tư sản còn làgiai cấp cách mạng đấu tranh chống chế độ phong kiến để giải phóng lựclượng sản xuất của xã hội Nhưng khi giai cấp tư sản đã trở thành giai cấpthống trị thì chủ nghĩa cá nhân tư sản trở thành tư tưởng phản động, bào chữa

và bảo vệ lợi ích ích kỷ của giai cấp tư sản và đối lập gay gắt với chủ nghĩatập thể của giai cấp vô sản cách mạng C.Mác và Ph.Ăngghen đã chỉ rõ, tronglao động làm thuê, người vô sản mất hết cá tính Lợi ích của giai cấp côngnhân và lợi ích cá nhân của người công nhân

Chủ nghĩa tư bản càng phát triển càng làm cho con người bị tha hoá.Người công nhân gánh chịu mọi hậu quả nặng nề của sự tha hoá Kết quả hoạtđộng của con người, của người công nhân, ngày càng biến thành một lựclượng thoát ra khỏi con người, xa lạ với con người, thù địch với con người,lực lượng đó là tư bản Các điều kiện lao động của người công nhân đối lậpvới lại người công nhân Trong những điều kiện đó, tự do của người lao độngchỉ mang tính hình thức, cá nhân con người không thể có sự phát triển hài hoà

và toàn diện Điều kiện sống và làm việc của công nhân tồi tệ hơn khi họ mấtviệc làm; khi đó người lao động càng không thể khẳng định mình với tư cách

cá nhân Chỉ khi nào các đối kháng giai cấp toàn xã hội đã bị loại bỏ, khi nàongười lao động thực sự làm chủ các điều kiện vật chất của người lao động tự

do Và cá nhân người lao động, với tư cách là con người mới được khẳngđịnh

Dưới chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản, những điều kiện “cần” và

“đủ” để giải quyết hài hoà mối quan hệ giữa cá nhân và xã hội mới xuất hiện

và phát huy tác dụng Chủ nghĩa xã hội không “thủ tiêu cá nhân” xoá bỏ lợiích cá nhân như giai cấp tư sản nói, trái lại tạo điều kiện xã hội cần thiết cho

sự phát triển toàn diện của mỗi cá nhân, làm cho mỗi cá nhân phát huy cao độnăng lực của mình, bản sắc của mình trong cuộc sống riêng tư cũng như trongxây dựng một xã hội mới nhân bản, công bằng, văn minh, một xã hội trong đó

Trang 22

lợi ích cá nhân và lợi ích xã hội không đối lập nhau mà thống nhất với nhau,

là tiền đề và điều kiện của nhau

Trong xã hội xã hội chủ nghĩa, giai cấp công nhân là giai cấp có sứmệnh lịch sử giải phóng toàn thể nhân loại khỏi ách áp bức, bóc lột của chủnghĩa tư bản Chỉ có giai cấp công nhân mới có thể phát triển chủ nghĩa tậpthể và tự khẳng định cá nhân với ý nghĩa chân chính của nó Đó là do điềukiện người lao động và đời sống của giai cấp công nhân, do sự phát triển củanền sản xuất đại công nghiệp có tính chất xã hội hoá và do cuộc đấu tranh củagiai cấp công nhân với giai cấp tư sản tạo nên Giai cấp công nhân ngày cànggiác ngộ và có tổ chức, nên khuynh hướng đó ngày càng mang tính chất xãhội chủ nghĩa

Chủ nghĩa xã hội xoá bỏ hình thức chiếm hữu tư nhân về tư liệu sảnxuất - cơ sở của sự phân chia xã hội thành các giai cấp đối kháng - do đó,cũng xoá bỏ tình trạng đối kháng giữa cá nhân và xã hội Được xây dựng trên

cơ sở chế độ công hữu về tư liệu sản xuất dưới hai hình thức sở hữu tập thể và

sở hữu toàn dân, chủ nghĩa xã hội là chế độ xã hội trong đó giai cấp côngnhân và nhân dân lao động trở thành người chủ tập thể Với tư cách là ngườichủ tập thể của xã hội, mọi thành viên của xã hội đều hoàn toàn bình đẳng vềnghĩa vụ và quyền lợi, không còn tình trạng người bóc lột người, một số cánhân hợp thành giai cấp bóc lột, chiếm lấy đặc quyền, đặc lợi, áp bức tuyệtđại đa số cá nhân là thành viên của xã hội Do đó, quan hệ giữa cá nhân và xãhội đã hoàn toàn thay đổi, đó là mối quan hệ gắn bó giữa những người làmchủ tập thể xã hội mà lợi ích cơ bản của cá nhân và tập thể thống nhất vớinhau

Chủ nghĩa tập thể là đặc điểm nổi bật của các mối quan hệ giữa conngười với nhau trong xã hội xã hội chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa Trong xãhội đó, con người hợp tác với nhau, phục vụ lẫn nhau theo tinh thần mỗingười vì mọi người, nên đã kết hợp một cách hợp lý lợi ích cá nhân với lợi íchchung của xã hội Tuy nhiên, trong xã hội xã hội chủ nghĩa, giữa lợi ích xãhội và lợi ích cá nhân cũng còn mâu thuẫn nhất định, vì trình độ phát triển củalực lượng sản xuất còn chưa đủ để thỏa mãn mọi nhu cầu và vì những tàn dư

Trang 23

của quá khứ vẫn còn tồn tại trong ý thức và hành động của mỗi cá nhân Đểkhắc phục mâu thuẫn đó, phải phát triển và hoàn thiện chế độ xã hội chủnghĩa trên cơ sở của nền sản xuất phát triển ngày càng cao; phải tiến hànhcông tác giáo dục để cho mỗi người có ý thức đầy đủ về lợi ích chung của xãhội.

Trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản, cánhân tự khẳng định mình trong tập thể, hình thành những cá nhân theo kiểumới Con người mới xã hội chủ nghĩa vừa có đặc điểm riêng về nhân cách cánhân, lại vừa có những đặc trưng chung của ý thức xã hội xã hội chủ nghĩa,như làm chủ tập thể, lao động, yêu nước xã hội chủ nghĩa và tinh thần quốc tế

vô sản

Chỉ dưới chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản, mới thực sự có tự do

cá nhân Chủ nghĩa Mác - Lênin bác bỏ quan niệm tự do tuyệt đối có tính chấtlừa bịp của các nhà tư sản và khẳng định rằng không có thứ tự do như vậytrong thực tế Sự tác động cá nhân và xã hội mang hình thức đặc thù tuỳ thuộcvào các chế độ xã hội và trình độ văn minh khác nhau Lịch sử phát triển củaloài người là lịch sử đấu tranh để giành tự do ngày càng cao Trong các xã hội

có giai cấp đối kháng, tự do của người này được thực hiện bằng cách tướcđoạt tự do của người khác Tự do cá nhân của giai cấp thống trị được bảo đảmbằng cách tước đoạt tự do cá nhân của giai cấp bị trị Cho nên, quá trình đấutranh của giai cấp công nhân và quần chúng nhân dân lao động là giành lại tự

do của họ đã bị giai cấp tư sản tước đoạt Họ đều hiểu rõ rằng họ chỉ có tự dothật sự trong điều kiện của xã hội, không tách rời với trình độ của con ngườichinh phục thiên nhiên Vì vậy, lịch sử phát triển của loài người là lịch sử đấutranh để giành tự do ngày càng cao Chỉ đến khi xây dựng được chủ nghĩa xãhội và chủ nghĩa cộng sản con người mới có tự do thực sự Ph.Ăngghen viết:

“Đó là bước nhảy vọt của loài người từ vương quốc của tất yếu sang vươngquốc của tự do”[27, 183]

Chủ nghĩa xã hội vươn tới thực hiện những quyền tự do chân chính củamọi người, trước hết là quyền làm chủ đối với tư liệu sản xuất và quyền củangười công dân đối với nhà nước Song dưới chủ nghĩa xã hội, tự do không

Trang 24

phải là không có giới hạn, vì trình độ phát triển của lực lượng sản xuất chưathỏa mãn được tất cả mọi nhu cầu của mỗi người (điều này chỉ có thể thựchiện được ở giai đoạn phát triển cao là chủ nghĩa cộng sản) Xã hội bảo đảm

tự do cho cá nhân, ngược lại mỗi cá nhân phải có trách nhiệm đối với xã hội.Không có trách nhiệm của cá nhân đối với xã hội thì không đảm bảo được tự

do của xã hội và do đó cá nhân cũng không thể có tự do Xã hội xã hội chủnghĩa đòi hỏi mỗi cá nhân phải có trách nhiệm lao động với năng suất cao, tạo

ra ngày càng nhiều sản phẩm cho xã hội, trong đó có mình và do mình làmchủ, ra sức xây dựng, bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa… Đây là hai mặt củavấn đề “tự do cá nhân”

Chỉ dưới chế độ xã hội chủ nghĩa, người lao động mới có điều kiệnphát triển tài năng sáng tạo và phát huy tác dụng tích cực của mình một cách

có ý thức đối với tiến trình phát triển lịch sử Lần đầu tiên trong lịch sử, mỗi

cá nhân với tư cách là người làm chủ tập thể xã hội, trở thành một chủ thể tựgiác của lịch sử trong một cộng đồng xã hội mà lợi ích của cá nhân, tập thể vàcủa xã hội nhất trí Sự nhất trí đó mở ra những chân trời rộng lớn cho sự pháttriển toàn diện của mỗi người Sự phát triển toàn diện của mỗi người lại làđiều kiện cần thiết cho sự phát triển chung của xã hội Vì vậy, mối quan hệthống nhất khách quan giữa cá nhân và xã hội trong xã hội xã hội chủ nghĩa

và cộng sản chủ nghĩa là một trong những động lực to lớn của sự phát triển xãhội mới

Chủ nghĩa xã hội không cho phép tách rời lợi ích cá nhân trên lợi ích xãhội Nhưng chúng ta cũng phê phán quan niệm sai lầm cho rằng dưới chủnghĩa xã hội, chỉ cần nói đến xã hội mà không nói đến cá nhân; hoặc nhữngluận điệu xuyên tạc của các nhà tư tưởng tư sản cho rằng chủ nghĩa xã hội,chủ nghĩa cộng sản thủ tiêu quyền lợi của cá nhân và nhân cách cá nhân Tráilại, chỉ có dưới chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản, mới có điều kiện đểbảo đảm chăm sóc và phát triển những nhu cầu và năng lực rất phong phú, đadạng của mỗi cá nhân Sự phát triển của cá nhân hoàn toàn không mâu thuẫnvới sự phát triển của xã hội, ngược lại, theo lời của C.Mác và Ph.Ăngghen

“Thay cho xã hội tư bản cũ, với những giai cấp và đối kháng giai cấp của nó,

Trang 25

sẽ xuất hiện một liên hợp, trong đó sự phát triển tự do của mỗi người là điềukiện cho sự phát triển tự do của tất cả mọi người” [25, 111] Coi thườngnhững lợi ích chung của xã hội cũng như coi thường những lợi ích chính đángcủa cá nhân đều trái với bản chất của chủ nghĩa xã hội, đều gây trở ngại cho

sự phát triển của xã hội Chúng ta không bao giờ chủ trương xoá bỏ cá nhânvới tư cách là đơn vị con người, điều đó là hoàn toàn phi lý, vì xã hội là donhững cá nhân hợp thành, không có cá nhân thì cũng không có xã hội, ngượclại, không có xã hội, cá nhân cũng không tồn tại được Cái mà chúng ta kiênquyết xoá bỏ là chủ nghĩa cá nhân tư sản và tiểu tư sản, nó gây trở ngại choviệc phát triển tinh thần làm chủ tập thể xã hội chủ nghĩa Đồng chí Lê Duẩnnhấn mạnh rằng:

“Chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản không bao giờ chủ trương xoá

bỏ quyền lợi cá nhân, mà chỉ làm sao cho quyền lợi cá nhân và quyền lợi tậpthể nhất trí với nhau… Đã là một con người thì phải có cái riêng của conngười, không thể có một con người siêu hình Không thể phá đơn vị conngười Không còn cái riêng của con người nữa thì xã hội sẽ mất đi ý nghĩa,mất cơ sở…” [5, 152]

Trong điều kiện chủ nghĩa xã hội, mối quan hệ giữa cá nhân và xã hộiđược đặc trưng bằng tính quy luật mới, bằng việc kết hợp lợi ích cá nhân vàlợi ích xã hội, trong xu hướng cuối cùng bằng sự hoà hợp của những lợi ích

đó Dưới chế độ xã hội chủ nghĩa và chế độ cộng sản chủ nghĩa, nguồn thỏamãn và xu hướng chung của lợi ích cá nhân và lợi ích xã hội trùng hợp vớinhau Xuất phát từ quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, cá nhân không phải

là một “đơn thể” cô lập, nên con đường giải phóng cá nhân chỉ được thực hiệnbằng cách thông qua việc giải phóng quần chúng Nhưng xã hội không thểnào tự giải phóng cho mình nếu không giải phóng cho từng cá nhân riêng lẻ

Cả xã hội nói chung cũng như mỗi thanh viên xã hội đều quan tâm đến tiến bộkhoa học - kỹ thuật, đến việc không ngừng nâng cao năng suất lao động, đếnviệc thỏa mãn ngày càng cao các nhu cầu vật chất và văn hoá của các thànhviên trong xã hội Sự nhất trí này giữa các lợi ích xã hội và cá nhân về nhữngvấn đề cơ bản trong đời sống của họ không loại trừ những mâu thuẫn riêng

Trang 26

biệt và tạm thời, chẳng hạn khi đòi hỏi lợi ích cá nhân phải phục tùng lợi ích

xã hội Sự kết hợp đúng đắn các lợi ích xã hội và lợi ích cá nhân; một mặt, lệthuộc vào việc tăng thêm của cải xã hội vào hoạt động của các tổ chức lãnhđạo Mặt khác, lệ thuộc vào mỗi thành viên của xã hội, vào chỗ mỗi người tựgiác phục vụ lợi ích xã hội Công cuộc xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật củachủ nghĩa cộng sản, sự hình thành các quan hệ xã hội cộng sản chủ nghĩa, sựphát huy hơn nữa chế độ dân chủ xã hội chủ nghĩa, việc không ngừng nângcao phúc lợi vật chất và văn hoá của nhân dân trên cơ sở phát triển sản xuất

xã hội chủ nghĩa với nhịp độ cao, nâng cao hiệu quả sản xuất, sự tiến bộ khoahọc - kỹ thuật và sự tăng nhanh năng suất lao động - đó là những tiền đề chủyếu để đạt được sự hài hoà hoàn toàn giữa cá nhân và xã hội, là những biệnpháp quan trọng nhất trên con đường xây dựng một cộng đồng xã hội

Để xây dựng chế độ xã hội xã hội chủ nghĩa ở nước ta, Đảng ta rất quantâm đến vấn đề quan hệ giữa cá nhân và xã hội, coi đó là một nội dung quantrọng, vì mục đích của Đảng là nhằm đảm bảo cho mỗi người trong cộngđồng xã hội ngày càng có đủ trình độ và năng lực làm chủ thiên nhiên, làmchủ xã hội và làm chủ bản thân mình, trở thành những con người tự do vàphát triển toàn diện Trong điều kiện của chủ nghĩa xã hội, một chính sách xãhội đúng đắn có khả năng đảm bảo sự kết hợp hài hoà giữa lợi ích cá nhân vàlợi ích xã hội, giải quyết kịp thời những mâu thuẫn trong nội bộ nhân dân, tạo

ra những điều kiện thuận lợi để mỗi cá nhân phất triển toàn diện nhân cách.Ngược lại chính sách xã hội sai lầm, thiển cận, thiên lệch sẽ gây ra hậu quả xãhội nghiêm trọng

Việc chăm sóc và phát triển những nhu cầu, năng lực phong phú và đadạng của mỗi cá nhân hoàn toàn không mâu thuẫn với sự phát triển xã hội,ngược lại mỗi cá nhân trong xã hội càng phát triển về thể lực và tài năng thìcàng có điều kiện góp phần mình thúc đẩy xã hội phát triển

Mục tiêu cách mạng của Đảng ta và nhân dân ta là đem lại ấm no, tự

do, hạnh phúc cho cả cộng đồng và mỗi thành viên của cộng đồng với tư cách

cá nhân Trong quá trình đổi mới, quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đấtnước, Đảng ta, Nhà nước ta thực hiện các chủ trương giải pháp kinh tế, chính

Trang 27

trị, văn hoá, xã hội phục vụ lợi ích của toàn xã hội, của cộng đồng Bảo vệvững chắc độc lập dân tộc, phát triển mạnh mẽ vững chắc kinh tế, văn hoá,từng bước thực hiện công bằng xã hội đó là lợi ích cơ bản của nhân dân ta.Lợi ích chung đó không mâu thuẫn với lợi ích cá nhân mà là cơ sở của lợi ích

cá nhân Chủ trương của Đảng và Nhà nước ta động viên toàn thể cộng đồngphấn đấu vì lợi ích chung, đồng thời quan tâm thích đáng những lợi ích cánhân chân chính Trong mỗi bước đi của cách mạng, chỉ có kết hợp hài hoàlợi ích xã hội và lợi ích cá nhân mới phát huy được tính tích cực sáng tạo củamỗi cá nhân Muốn được như vậy, cần phải kết hợp chặt chẽ giữa sự pháttriển kinh tế từng bước thực hiện công bằng xã hội Phải kết hợp hài hoà giữagiải phóng xã hội với giải phóng cá nhân Phát huy nhân tố con người cónghĩa là đồng thời phát huy nhân tố cộng đồng và nhân tố cá nhân

Báo cáo chính trị của Đại hội Đảng lần thứ IV đã nêu rõ rằng chúng taphải kết hợp hài hoà việc phát huy sức mạnh của cộng đồng làm chủ với việcphát huy sức mạnh của cá nhân làm cộng đồng phải thực hiện đúng đắn sựthống nhất giữa ba lợi ích, bảo đảm lợi ích toàn xã hội, bảo đảm lợi ích chotập thể, chú ý đúmg mức đến lợi ích cá nhân người lao động Trên cơ sởnhững đòi hỏi tất yếu của cuộc sống cộng đồng của quyền làm chủ tập thể,phải tôn trọng và bảo đảm các quyền của công dân, bảo đảm sự phát triểnphong phú của nhân cách, bồi dưỡng và phát huy sở trường và năng khiếu cánhân Trong chủ nghĩa xã hội, những điều kiện của xã hội mới tạo điều kiện,tiền đề cho cá nhân, để mỗi cá nhân phát huy năng lực và bản sắc riêng củamình phù hợp với lợi ích và mục tiêu của xã hội mới Vì vậy, xã hội xã hộichủ nghĩa và cá nhân là thống nhất biện chứng, là tiền đề, là điều kiện chonhau

Theo quan điểm của triết học Mác - Lênin, mối quan hệ giữa cá nhân

và xã hội là mối quan hệ biện chứng tác động nhau, trong đó xã hội giữ vaitrò quyết định, mà nền tảng của mối quan hệ này là quan hệ lợi ích Thực chấtcủa việc tổ chức trật tự xã hội là sắp xếp các quan hệ lợi ích sao cho khai thácđược cao nhất khả năng của mỗi thành viên vào các quá trình kinh tế, xã hội

và thúc đẩy quá trình đó phát triển lên trình độ cao hơn Xã hội là điều kiện, là

Trang 28

môi trường, là phương thức để lợi ích cá nhân được thực hiện Xã hội càngphát triển thì quan hệ giữa lợi ích cá nhân và xã hội ngày càng đa dạng vàphong phú, quan hệ trực tiếp và gián tiếp và ngày càng tăng về số lượng vàchất lượng Mỗi cá nhân được tiếp nhận ngày càng nhiều những giá trị vậtchất, tinh thần Mặt khác, mỗi cá nhân trong xã hội càng phát triển thì càng cóđiều kiện để thúc đẩy xã hội tiến lên Vì vậy, thỏa mãn ngày càng tốt hơn nhucầu và lợi ích chính đáng của cá nhân là mục tiêu và động lực liên kết nọithành viên xã hội và là mục đích của sự liên kết đó, thúc đẩy sự phát triển xãhội Tuy nhiên ngày nay nhiều mối quan hệ có tính chất toàn cầu mới xuấthiện liên quan đến lợi ích sống còn của xã hội và con người, do chính conngười tạo ra như môi trường với con người, chiến tranh và hoà bình v.v tínhđối kháng, tính phụ thuộc, tính độc lập ngày càng đan xen lẫn nhau buộc conngười phải lựa chọn tỉnh táo Bất cứ vấn đề gì, dù là phạm vi nhân loại hay cánhân, dù trực tiếp hay gián tiếp, nếu lợi ích cá nhân và xã hội là thống nhất thìchính ở đó bắt gặp mục đích và động lực của sự nỗ lực chung vì một tương laitốt đẹp.

Mối quan hệ giữa lợi ích cá nhân và lợi ích xã hội do sự quy định củamặt khách quan và mặt chủ quan Mặt khách quan được biểu hiện ở trình độđạt được của nền sản xuất xã hội, ở mức độ tăng năng suất lao động xã hội,cho phép đáp ứng ngày càng cao nhu cầu của mọi thành viên xã hội Mặt chủquan được biểu hiện ở khả năng nhận thức và vận dựng quy luật về sự kết hợpgiữa lợi ích cá nhân và lợi ích xã hội - một động lực phát triển của xã hội, phùhợp với mục đích của con người

Chỉ đến chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản con người mới thực sự

có tự do Ở đây, tất cả những vấn đề về lực lượng sản xuất, quan hệ kinh tế,

hệ thống chính trị, đấu tranh giai cấp… đều được thực hiện theo mục đíchphát triển tối đa năng lực con người và vì con người Trước đây C.Mác vàPh.Ănghen đã chỉ ra rằng, nền sản xuất tư bản chủ nghĩa đã làm phát triểnnhững quan hệ phổ biến, sự phụ thuộc phổ biến giữa các dân tộc, và “sản xuấtvật chất đã như thế thì sản xuất tinh thần cũng không kém như thế” Chủnghĩa tư bản hiện đại đang đẩy mạnh quá trình này, nhưng về thực chất đó

Trang 29

vẫn là sự mở rộng quan hệ bóc lột và nô dịch con người sang các dân tộckhác Nó tạo ra một số nước tư bản phát triển cao, giàu có, thì đồng thời cũnglàm cho châu Phi đói, châu Á nghèo, châu Mỹ Latinh nợ nần chồng chất Chủnghĩa xã hội thực hiện quá trình quốc tế hoá đời sống nhân loại để mỗi dântộc có điều kiện tiếp cận nhanh chóng những giá trị tiến bộ của nhân loại, làmcho con người phát triển nhân cách phong phú, biết đấu tranh chống nhữngquan hệ không có tính người trong cuộc sống nhân loại Đó là đặc trưng củachủ nghĩa nhân đạo xã hội chủ nghĩa trong quan hệ giữa cá nhân và xã hội

Trong những năm tiến hành cải tạo xã hội chủ nghĩa và xây dựng chủnghĩa xã hội, đã có lúc chúng ta chưa giải quyết đúng đắn quan hệ giữa lợi ích

cá nhân và xã hội Khi thì tuyệt đối hoá lợi ích tập thể và lợi ích nhà nước, coithường lợi ích chính đáng của cá nhân dẫn đến hậu quả là, cá nhân khôngquan tâm đến công việc chung của xã hội, không có trách nhiệm với nhữngcông việc họ đang làm, ngược lại, có lúc đẩy lợi ích cá nhân đến sự “biếndạng”, “biến tướng” gây nhiều tiêu cực trong đời sống xã hội, nhất là trong cơchế thị trường hiện nay Để kết hợp phát huy sức mạnh của cộng đồng nhữngngười làm chủ xã hội, việc thực hiện đúng đắn, sự thống nhất giữa lợi ích cánhân, lợi ích tập thể và lợi ích xã hội phải được coi là động lực, mục tiêu của

sự nghiệp xây dựng xã hội mới

Làm chủ bản thân và làm chủ xã hội là đặc trưng nổi bật trong quan hệgiữa người với người dưới chủ nghĩa xã hội Trên tinh thần đó, lợi ích cá nhânđược kết hợp với lợi ích chung trong cộng đồng ngày càng hợp lý Tuy nhiên,

do trình độ phát triển kinh tế - xã hội chưa cao nên chưa đủ tiền đề vật chất,

kỹ thuật để thỏa mãn một cách hoàn toàn bình đẳng nhu cầu của mọi thànhviên trong xã hội, cho nên trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội và ngaydưới chế độ xã hội chủ nghĩa vẫn có những mâu thuẫn giữa cá nhân và xã hộinhưng không phải là mâu thuẫn đối kháng Để giải quyết đúng dắn mối quan

hệ giữa cá nhân và xã hội cần phải tránh hai thái độ cực đoan:

Một là, chỉ thấy cá nhân mà không thấy xã hội, đem cá nhân đối lập với

xã hội, đòi hỏi thỏa mãn những yêu cầu cá nhân không phù hợp hoặc chưaphù hợp với lợi ích của xã hội và với điều kiện chung của xã hội, chỉ đòi hỏi

Trang 30

xã hội mà không thực hiện nghĩa vụ đối với xã hội Đó là chủ nghĩa cá nhâncần phê phán Những người tuyệt đối hoá cái cá nhân đã không nhận thức rõrằng nếu không đảm bảo những lợi ích cơ bản của xã hội thì không thể thựchiện được lợi ích cá nhân chân chính.

Hai là, chỉ thấy xã hội mà không thấy cá nhân Khuynh hướng này biểu

hiện ở chỗ quan niệm sai lầm về lợi ích xã hội, về chủ nghĩa tập thể, thực chất

là tư tưởng của chủ nghĩa bình quân dẫn đến thiếu sự quan tâm thiết thực lợiích cá nhân, coi nhẹ việc hình thành và phát huy bản sắc cá nhân, tài năng cánhân, xem thường các nguyện vọng, tâm tư, ý kiến của cá nhân; không thấyrằng sự phát triển của một xã hội là do kết quả đóng góp tích cực sáng tạo củamọi cá nhân trong xã hội đó C.Mác nhận định: “Xã hội… là sản phẩm của sựtác động qua lại giữa những con người…”[25, 658] Xã hội càng phát triển thìnhững yêu cầu, nguyện vọng, khuynh hướng phát triển của cá nhân càng đadạng Không quan tâm giải quyết những vấn đề đó thì chẳng những làm suyyếu động lực của sự phát triển xã hội mà còn làm cho đời sống xã hội trở nênnghèo nàn, đơn điệu, không phù hợp với bản chất chủ nghĩa xã hội

Để khắc phục mâu thuẫn đó, chủ nghĩa xã hội phải không ngừng tăngtrưởng kinh tế, không ngừng phát triển lực lượng sản xuất, đổi mới chính sách

xã hội; gắn với việc phát triển kinh tế, đổi mới chính sách xã hội, nâng caodân trí… là quá trình giải quyết có hiệu quả vấn đề lợi ích của người lao động.Lợi ích của cá nhân được giải quyết hợp lý khi cá nhân với tính cách là chủthể sẽ là động lực thúc đẩy xã hội phát triển

Trang 31

Tiểu kết chương 1

Ở nước ta hiện nay, nền kinh tế thị trường đang thúc đẩy sự phát triểncủa lực lượng sản xuất, nâng cao năng suất lao động, tạo ra cơ sở vật chất vàvăn hoá tinh thần ngày càng đa dạng và phong phú Lợi ích cá nhân ngàycàng được chú ý, tạo ra cơ hội mới để phát triển cá nhân Tuy nhiên, cơ chếnày có thể dẫn tới tuyệt đối hoá lợi ích kinh tế, dẫn tới phân hoá giàu nghèotrong xã hội, chứa đựng những khả năng đối lập giữa cá nhân và xã hội Do

đó, chúng ta cần khắc phục mặt trái của cơ chế thị trường, phát huy vai trònhân tố con người, thực hiện chiến lược con người của Đảng giữa cá nhân và

xã hội, theo tinh thần Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX củaĐảng đã chỉ ra: “Xây dựng con người Việt Nam có tinh thần yêu nước và yêuchủ nghĩa xã hội, có ý thức tự lực tự cường dân tộc, trách nhiệm cao trong laođộng, có lương tâm nghề nghiệp, có tác phong công nghiệp, có ý thức cộngđồng, tôn trọng nghĩa tình, có lối sống văn hoá, quan hệ hài hoà trong giađình, cộng đồng và xã hội”

Trong điều kiện phát triển nền kinh tế nhiều thành phần, vận hành theo

cơ chế thị trường ở nước ta hiện nay, việc giải quyết đúng đắn quan hệ lợi ích

cá nhân và lợi ích xã hội có ý nghĩa to lớn và tầm quan trọng chiến lược.Tuyệt đối hoá lợi ích xã hội, coi thường lợi ích cá nhân và ngược lại, tuyệt đốihoá lợi ích cá nhân, coi thường lợi ích tập thể và lợi ích nhà nước, đều dẫn tớihậu quả làm “chệch hướng” phát triển của nền kinh tế quá độ đi lên chủ nghĩa

xã hội

Vì vậy, cần đảm bảo sự công bằng về quyền lợi và nghĩa vụ của mọicông dân, chống đặc quyền đặc lợi Tăng cường phát huy vai trò nhân tố conngười trong quan trọng phát triển kinh tế xã hội Đồng thời, lấy việc phục vụlợi ích con người làm mục đích cao nhất của toàn bộ mọi hoạt động, từ lợi íchkinh tế đến lợi ích chính trị, từ lợi ích vật chất đến lợi ích tinh thần Tất cả vìcon người Giải quyết hài hoà mối quan hệ cá nhân - xã hội là yêu cầu rất cơbản để phát triển con người trong điều kiện xã hội ta hiện nay

Trang 32

2.1.1 Thực trạng lối sống sinh viên hiện nay

Trong xã hội năng động hiện nay, có thể nhận thấy rằng tầng lớp sinhviên là tầng lớp đại diện cho bộ mặt xã hội bởi đó là tầng lớp năng động, nhiệthuyết và có nhiều cơ hội tiếp cận nhiều tri thức tiên tiến khoa học Bên cạnh

đó sinh viên là nguồn nhân lực nòng cốt tương lai của đất nước, do đó lốisống của sinh viên cần phải được quan tâm…

Bên cạnh những sinh viên đam mê nghiên cứu với các bài học trên lớp

và trên thư viện thì một bộ phận không nhỏ sinh viên lại đang sống “vộivàng”, “cuống quýt” hưởng thụ và buông thả

Sinh viên Việt Nam phải chịu nhiều yếu tố như: chuyên ngành theohọc, sự phân bố các trường, khu vực sinh sống, hoàn cảnh gia đình và điềukiện học tập…,vì vậy, lối sống của sinh viên Việt Nam nhìn chung cực kỳ đadạng và phong phú Tuy nhiên chúng ta có thể phân chia lối sống của sinhviên theo hai hướng: tích cực và tiêu cực Lối sống tích cực là lối sống vănhóa, lành mạnh, phù hợp với sự phát triển xã hội, có tác dụng thúc đẩy sựhoàn thiện cá nhân nói riêng và thúc đẩy tiến bộ xã hội nói chung Lối sốngtiêu cực, ngược lại, là lối sống không lành mạnh, có tác động xấu đến sự pháttriển con nguời nói riêng và kìm hãm sự đi lên của đất nước nói chung

- Lối sống sinh viên với những biểu hiện tích cực

Lối sống đẹp - Lối sống lý tưởng Sống đẹp là phải biết ứng xử văn

minh, tích cực tham gia hoạt động cộng đồng, bảo vệ môi trường, kính trọngthầy cô và xa lánh những tệ nạn trong giảng đường như quay cóp, hút thuốc,rượu bia, đánh nhau

Trang 33

Thứ nhất, điểm nổi bật khi chúng ta nghĩ về sinh viên đó là những con

người năng động và sáng tạo Chính sinh viên là những người tiên phongtrong mọi công cuộc cải cách, đổi mới về kinh tế, giáo dục… Trong đầu họluôn đầy ắp các ý tưởng độc đáo và thú vị; và họ tận dụng mọi cơ hội để biếncác cơ hội đó thành hiện thực Không chỉ chờ đợi cơ hội đến, họ còn tự mìnhtạo ra cơ hội Đã có nhiều sinh viên nhận được bằng phát minh sáng chế; vàkhông ít trong số những phát minh ấy được áp dụng, được biến thành sảnphẩm hữu ích trong thực tiễn, bằng chứng đó là những cuộc thi Robocon được

tổ chức hàng năm giữa sinh viên của các trường đại học và cao đẳng trongtoàn quốc, đây là sân chơi bổ ích nhất để cho tất cả các sinh viên được tự dothể hiện tài năng, trí tuệ và năng lực sáng tạo của bản thân một các tối đa nhất.Với thế mạnh là được đào tạo vừa toàn diện vừa chuyên sâu, sinh viên có mặttrong mọi lĩnh vực của đời sống kinh tế, xã hội của đất nước Phần lớn sinhviên đều có khả năng thích nghi cao với mọi môi trường sinh sống và học tập

Họ không chỉ học tập trong phạm vi hẹp ở trường, lớp, giới trẻ ngày nay luônphát huy tinh thần học tập ở mọi nơi, mọi lúc, nhiều sinh viên còn học một lúchai ba trường đại học nhưng họ vẫn đạt được kết quả cao

Không chỉ lĩnh hội tri thức của nhân loại, sinh viên Việt Nam còn tiếpthu những cái hay, cái đẹp trong mọi lĩnh vực khác như văn hóa, nghệ thuật…

Sự năng động của sinh viên còn được thể hiện ở việc tích cực tham gia cáchoạt động xã hội như y tế, từ thiện, các hoạt động; đạp xe vì môi trường, ủng

hộ và vận động tất cả mọi người ủng hộ cho đồng bào gặp lũ lụt, giúp đỡ trẻ

em mồ côi, những người khuyết tật, tổ chức các chương trình gây quỹ để giúp

đỡ cho trẻ em bị nhiễm chất độc điôxin… Ngoài giờ học, những sinh viên,những tuyên truyền viên hiến máu nhân đạo lại ngược xuôi đi mang kiến thức

về hiến máu đến mọi người, mọi nhà Không chỉ thế, mùa hè sẽ có ý nghĩahơn khi sinh viên đem lòng nhiệt huyết cháy bỏng của mình cho hoạt độngtiếp sức mùa thi hay đem tri thức, sức lực của mình đến những miền quê giúp

đỡ những người nông dân… Bằng sự năng động, sinh viên luôn cập nhậtthông tin, kiến thức, làm mới mình phù hợp với sự thay đổi và phát triển của

Trang 34

xã hội Rõ ràng, năng động và sáng tạo là những ưu điểm nổi bật làm nên lốisống tích cực của sinh viên Việt Nam thời đại mới.

Thứ hai, chính vì năng động và sáng tạo nên sinh viên Việt Nam luôn

thể hiện mình là những con người táo bạo và tự tin Sinh viên dám nghĩ, dámlàm, dám đối mặt với thử thách và tìm cách vượt qua thử thách; dám vượt lêntrên những định kiến, những hạn chế truyền thống; dám chấp nhận rủi ro Các

ý tưởng độc đáo không chỉ nằm trong suy nghĩ mà luôn được thử nghiệmtrong thực tế Có thể thành công hoặc thất bại, song họ không hề chùn bước.Với họ, mỗi lần thất bại lại làm họ tự tin hơn với nhiều kinh nghiệm hơn.Đứng trước cha anh, họ luôn tự tin vào chính mình Họ tin rằng với những trithức mình có trong tay, với những gì họ đã, đang và sẽ làm, các bậc cha anh

sẽ tự hào về họ

Tự tin nhưng không kiêu - đó chính là sinh viên Việt Nam Phần lớnsinh viên đều rất khiêm tốn, họ không bao giờ nghĩ rằng như thế là mình đãhơn các bậc tiền bối Trong suy nghĩ của họ, họ còn thiếu nhiều lắm, nhất làkinh nghiệm và sự từng trải Chính vì thế, khi quyết định một điều gì, sinhviên không bao giờ quên tham khảo ý kiến của những người xung quanh, đặcbiệt là bậc cha chú của mình Và khi đã nhận được sự ủng hộ của lớp người đitrước, họ thêm tự tin thực hiện ý định của mình Táo bạo song sinh viênkhông hề liều lĩnh Trước khi thực hiện một việc gì, họ luôn tính toán, xemxét vấn đề một cách thận trọng

Một điều quan trọng đáng nói ở đây, họ dám nhìn thẳng vào thất bại vàvượt qua nó Có nhiều sinh viên vẫn ngồi trên ghế giảng đường đại học mà đãdám thành lập công ty (dù là nhỏ), để tự mình thử thách, làm giàu Tóm lại,táo bạo và tự tin cũng là điểm rất đáng quý trong lối sống của sinh viên ViệtNam Nó giúp con người ta vươn lên trong cuộc sống Và chúng ta cũng phảithấy rằng chính sự táo bạo và tự tin ấy đã tạo nên những thành công kỳ diệucho họ

Thứ ba, phong cách tự lập trong cuộc sống cũng như trong học tập

cũng góp phần xây dựng một hình tượng đẹp về sinh viên Việt Nam Khônggiống như sinh viên các thế hệ trước chỉ biết sống phụ thuộc vào gia đình,

Trang 35

một bộ phận sinh viên ngày nay đã biết thân tự lập không còn trông chờ ỷ lạivào gia đình Không chỉ riêng việc học tập, mà mọi vấn đề khác trong cuộcsống đều được sinh viên giải quyết trong sự chủ động Nếu như trước đây,sinh viên còn chờ đợi tiền chu cấp của gia đình mỗi đầu tháng thì ngày naymọi chuyện dường như đã khác đi rất nhiều nhưng không phải là mất hẳn.Những con người ấy thật đáng khâm phục, xứng đáng trở thành những gươngmặt tiêu biểu đại diện cho sinh viên Việt Nam thời đại mới.

Thứ tư, sinh viên Việt Nam còn được thừa hưởng một truyền thống tốt

đẹp của dân tộc, đó là truyền thống hiếu học Sinh viên Việt Nam mọi thời đạiluôn ham học hỏi, ham hiểu biết Họ khao khát tìm tòi, khám phá chân trời trithức Họ say mê với những điều mới lạ Họ học hỏi ở mọi lúc mọi nơi ở tất cảmọi người, ở trường học và cả trường đời Chính truyền thống ấy đã đượcsinh viên Việt Nam tiếp nối với một tinh thần vừa giữ gìn vừa phát huy caonhất, xứng đáng là thế hệ mới đầy nhiệt huyết

Thủa xưa học trò nghèo không có tiền mời thầy dạy, đứng ngoài lớphọc nghe trộm lời thầy giảng bên trong Không có tiền mua sách vở, dầu đèn,

họ lấy que làm bút, lấy lá làm vở, lấy đom đóm làm đèn Tất cả đều vì lòngham học, ham kiến thức Ngày nay tuy điều kiện học đã tốt hơn cha ôngnhưng sinh viên Việt Nam vẫn phải vượt qua nhiều khó khăn khác để đến vớichân trời tri thức Có những người dù bị tật nguyền vẫn đi học như bao bạn bècùng trang lứa khác, họ tàn mà không phế không những vậy mà còn trở thànhnhững sinh viên giỏi, làm được nhiều điều cho gia đình, đất nước Có nhữngngười dù gia đình gặp nhiều khó khăn, bất hạnh, khiến họ phải bôn ba kiếmsống không được học hành đến nơi đến chốn vẫn mang trong mình khát vọngđược chiếm lĩnh tri thức nhân loại; và khi có cơ hội họ lại đi học trở lại, vớiniềm hạnh phúc lớn lao

Thứ năm, siêng năng cần cù, chịu thương, chịu khó của sinh viên Việt

Nam cũng là một đức tính cần được nói đến Nhiều sinh viên sinh ra ở nhữngmiền đất còn nghèo khó của đất nước nhưng họ biết khắc phục những khókhăn ấy để học tốt Không phải không có những sinh viên với những bữa cơmchỉ hai nghìn đồng mà ngày ngày vẫn đến giảng đường đều đặn, vẫn có mặt

Trang 36

tại thư viện trường mỗi buổi chiều, tối tối vẫn đạp xe đi dạy thêm hay làmthêm Biết mình không được như bạn bè, có những trang thiết bị hiện đạiriêng phục vụ học tập, những sinh viên nghèo tận dụng mọi nguồn trợ giúp từnhà trường, mượn tài liệu của bạn bè, tận dụng sự giúp đỡ của các tổ chứckhuyến học Sống và học tập trong bao khó khăn, nhiều sinh viên vẫn giữvững và liên tục là sinh viên xuất sắc trong nhiều năm học đại học, cao đẳng.

Họ thực sự xứng đáng nhận được sự khâm phục, ngưỡng mộ từ tất cả mọingười Còn phải kể đến những sinh viên Việt Nam đi du học ở nước ngoài.Bạn bè quốc tế luôn nói về đức tính siêng năng cần cù của sinh viên Việt Namvới sự khen ngợi và khâm phục chân thành Có những người đã nhận đượctấm bắng tiến sỹ khi tuổi đời còn rất trẻ, tuy nhiên họ vẫn rất nỗ lực phấn đấuvới sự khiêm tốn lạ kỳ

Sinh viên Việt Nam chăm chỉ, muốn tự lập và khẳng định bản thân.Ngoài việc hoàn thành tốt công việc học tập ở trường sinh viên còn tìm kiếmcác công việc làm thêm như: gia sư, làm tiếp thị, marketing… để kiếm thêmthu nhập và trau dồi kinh nghiệm cho bản thân là tiền đề để sau khi ra trường

dễ dàng thích ứng với môi trường, tìm được công việc phù hợp Có nhữngsinh viên muốn ra ngoài ở trọ không muốn phụ thuộc vào gia đình, muốn tựmình kiếm sống để lấy tiền đóng học Có thể trên bước đường đầu tiên họ cóthể vấp ngã, không dễ dàng gì vượt qua nhưng họ đã cố gắng không chịukhuất phục để đạt được mục tiêu của mình Và chính điều đó đã mang lại cho

họ thành công trong cuộc sống

Thêm vào đó, một biểu hiện tích cực nữa trong lối sống của sinh viênViệt Nam là phong cách tự khẳng định mình Không chỉ sinh viên mà giới trẻngày nay nói chung đều thích tự khẳng định mình Đó là một thế mạnh khôngphải mọi tầng lớp đều có được Phải thực sự có tri thức và đủ tự tin thì mớidám tự khẳng định mình Sánh ngang vai cùng các tầng lớp khác, sinh viênViệt Nam luôn tạo ra được thế đứng cho mình Họ đã chứng minh cho chúng

ta thấy được sức mạnh, vai trò to lớn của họ trong công cuộc xây dựng đấtnước và phát triển xã hội Chúng ta không thể coi thường hay hạ thấp vai tròquan trọng của sinh viên Đây là một đức tính mà mỗi sinh viên Việt Nam cần

Ngày đăng: 26/12/2013, 11:11

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Hoàng Chí Bảo (2000). “Giáo dục đạo đức, nhân cách cho sinh viên đại học ở nước ta hiện nay - quan niệm, vấn đề và giải pháp”, Sinh hoạt lý luận, số 2 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục đạo đức, nhân cách cho sinh viên đại học ở nước ta hiện nay - quan niệm, vấn đề và giải pháp
Tác giả: Hoàng Chí Bảo
Năm: 2000
2. Lê Thị Tuyết Ba (2005). “Tình cảm đạo đức và vấn đề bồi dưỡng tình cảm đạo đức trong điều kiện kinh tế thị trường ở nước ta hiện nay”, Tạp chí Triết học, số 1 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Tình cảm đạo đức và vấn đề bồi dưỡng tình cảm đạo đức trong điều kiện kinh tế thị trường ở nước ta hiện nay”
Tác giả: Lê Thị Tuyết Ba
Năm: 2005
3. Nguyễn Trọng Chuẩn (2002). Một số vấn đề triết học - con người - Xã hội, Nxb Khoa học - xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề triết học - con người - Xã hội
Tác giả: Nguyễn Trọng Chuẩn
Nhà XB: Nxb Khoa học - xã hội
Năm: 2002
4. Chương trình phát triển Liên Hiệp Quốc (2000). Báo cáo phát triển con người, 1999, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo phát triển con người, 1999
Tác giả: Chương trình phát triển Liên Hiệp Quốc
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2000
5. Lê Duẩn (1976). Tác phẩm chọn lọc, tập 1, Nxb Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tác phẩm chọn lọc
Tác giả: Lê Duẩn
Nhà XB: Nxb Sự thật
Năm: 1976
6. Thành Duy (2000). Tư tưởng Hồ Chí Minh với sự nghiệp xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tư tưởng Hồ Chí Minh với sự nghiệp xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện
Tác giả: Thành Duy
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2000
7. Dương Tự Đam (2000). Bản lĩnh thanh niên, sinh viên ngày nay, Nxb Thanh niên, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bản lĩnh thanh niên, sinh viên ngày nay
Tác giả: Dương Tự Đam
Nhà XB: Nxb Thanh niên
Năm: 2000
9. Đảng Cộng Sản Việt Nam (1994). Văn kiện Đại hội đại biểu giữa niệm kỳ khoá XII. Lưu hành nội bộ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu giữa niệm kỳ khoá XII
Tác giả: Đảng Cộng Sản Việt Nam
Năm: 1994
10. Đảng cộng sản Việt Nam (1996). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII
Tác giả: Đảng cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 1996
11. Đảng Cộng Sản Việt Nam (1998). Văn kiện Hội nghị lần thứ 5 Ban chấp hành Trung ương khoá VIII. Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghị lần thứ 5 Ban chấp hành Trung ương khoá VIII
Tác giả: Đảng Cộng Sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 1998
12. Đảng cộng sản Việt Nam (2001) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
13. Đảng cộng sản Việt Nam (2006). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X
Tác giả: Đảng cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2006
14. Đảng cộng sản Việt Nam (2011). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đảng cộng sản Việt Nam "(2011). "Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI
Tác giả: Đảng cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2011
15. Đoàn Đức Hiếu (1994). “Khắc phục chủ nghĩa cá nhân để phát triển nhân cách cá nhân”, Tạp chí Triết học, số 6. Sự phát triển cá nhân trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Khắc phục chủ nghĩa cá nhân để phát triển nhân cách cá nhân”, "Tạp chí Triết học, số 6. "Sự phát triển cá nhân trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN
Tác giả: Đoàn Đức Hiếu
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 1994
16. Nguyễn Đình Hoà (2007). “Tư tưởng Hồ Chí Minh về bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau”, Tạp chí Cộng sản, số 9 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Tư tưởng Hồ Chí Minh về bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau”
Tác giả: Nguyễn Đình Hoà
Năm: 2007
17. Nguyễn Văn Huyên (2003). “Lối sống người Việt Nam dưới tác động của toàn cầu hoá hiện nay”, Tạp chí Triết học, số 12 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Lối sống người Việt Nam dưới tác động của toàn cầu hoá hiện nay”
Tác giả: Nguyễn Văn Huyên
Năm: 2003
18. Nguyễn Thị Thanh Huyền (2007). “Toàn cầu hoá và nguy cơ suy thoái đạo đức, lối sống con người Việt Nam hiện nay”, Tạp chí Triết học, số 2 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Toàn cầu hoá và nguy cơ suy thoái đạo đức, lối sống con người Việt Nam hiện nay”
Tác giả: Nguyễn Thị Thanh Huyền
Năm: 2007
19. Giáo trình Triết học Mác - Lênin(2008). Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Triết học Mác - Lênin
Tác giả: Giáo trình Triết học Mác - Lênin
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2008
20. Giáo trình tư tưởng Hồ Chí Minh (2009). Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình tư tưởng Hồ Chí Minh
Tác giả: Giáo trình tư tưởng Hồ Chí Minh
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2009
21. Đoàn Văn Khiêm (2001) “Tư tưởng đạo đức và việc giáo dục lý tưởng đạo đức cho thanh niên trong điều kiện hiện nay”, Tạp chí Triết học, số 2 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Tư tưởng đạo đức và việc giáo dục lý tưởng đạo đức cho thanh niên trong điều kiện hiện nay”

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w