Các công trình nghiên cứu về các vấn đề cụ thể của ngữ dụng học như các loại hànhđộng ngôn ngữ ở Việt Nam cho đến nay cũng đã có khá nhiều, chủ yếu là các luận ántiến sĩ và luận văn thạ
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
HÀ THỊ HỒNG MAI
HÀNH ĐỘNG HỎI TRONG CA DAO
Trang 2MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Hơn ba thập kỉ gần đây, ở nước ta, ngữ dụng học đã có những bước phát triểnnhanh chóng, mạnh mẽ Trong ngữ dụng học, hành động ngôn ngữ chiếm một vị trí đặcbiệt Để thấy hết vai trò của nó đã có ý kiến cho rằng bản thân cuộc sống dường nhưphần lớn là do các hành động ngôn ngữ tạo nên Chính vì vai trò quan trọng của hànhđộng ngôn ngữ, nên kể từ khi xuất hiện, lí thuyết về hành động ngôn ngữ đã được ứngdụng vào nghiên cứu nhiều lĩnh vực của hoạt động giao tiếp và đã mang lại những kếtquả đáng kể
Ca dao là một thể loại văn học dân gian rất có giá trị trong kho tàng văn học củadân tộc ta Từ lâu, ca dao Việt Nam đã được nhiều nhà nghiên cứu chú trọng đến.Nhiều công trình nghiên cứu có giá trị đã giúp cho người đọc có được cái nhìn đa diệnđối với ca dao Mặc dù vậy, việc nghiên cứu ca dao dưới góc độ ngôn ngữ học còn ít,trong đó, việc vận dụng lý thuyết về ngữ dụng học vào nghiên cứu văn học dân gian,
cụ thể với thể loại ca dao vẫn là một vấn đề còn khá mới mẻ Trước tình hình như vậy,việc vận dụng lí thuyết về hành động ngôn ngữ, cụ thể là hành động hỏi, vào nghiêncứu ca dao sẽ có những đóng góp mới cho việc nghiên cứu về ca dao người Việt
Xuất phát từ những lý do trên, chúng tôi chọn: “Hành động hỏi trong ca dao
người Việt” làm đề tài nghiên cứu.
2 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở lí thuyết ngữ dụng học, tiến hành nghiên cứu đề tài này, luận ánnhằm mục đích: làm rõ các đặc điểm của hành động hỏi trong ca dao trên các phươngdiện: hình thức, nội dung, văn hóa ứng xử, trong đó nổi bật là phép lịch sự
3 Lịch sử nghiên cứu
Theo Đỗ Hữu Châu thì trong lịch sử ngôn ngữ học, chưa từng có một chuyênngành ngôn ngữ học miêu tả đồng đại nào lại lôi cuốn được nhiều nhà ngôn ngữ họcvào vòng xoáy của mình trong một thời gian ngắn như ngữ dụng học Chúng tôi tiếpthu những kiến thức lí luận chung nhất về ngữ dụng học của các tác giả trên thế giới
với hàng loạt công trình nghiên cứu của các tác giả như: J.L Austin (1962, How to
do thing with words), J.R Searle (1969, Speech Acts), Vender (1972), Katz (1977),
Ballmer và Brenestuhl (1981), Weirzbicka (1987, English Act Verbs), George Yule (1996, Pragmatics), v.v Bên cạnh đó, lí thuyết về ngữ dụng học đã được các tác giả
như Đỗ hữu Châu Nguyễn Đức Dân, Diệp Quang Ban, Nguyễn Thiện Giáp, NguyễnVăn Hiệp… nhắc tới một cách hệ thống trong nhiều công trình nghiên cứu của mình
Trang 3Các công trình nghiên cứu về các vấn đề cụ thể của ngữ dụng học như các loại hànhđộng ngôn ngữ ở Việt Nam cho đến nay cũng đã có khá nhiều, chủ yếu là các luận ántiến sĩ và luận văn thạc sĩ, tập trung vào các hướng: nghiên cứu các hành động ngônngữ như một sự kiện lời nói trong tương tác hội thoại; nghiên cứu so sánh đối chiếuhành vi ngôn ngữ giữa tiếng Việt với một ngôn ngữ khác;
Tuy nhiên, hành động hỏi trong ca dao gắn với văn hóa giao tiếp người Việtvẫn là một vấn đề còn khá mới mẻ
4 Đối tượng, phạm vi, nhiệm vụ nghiên cứu
là tình yêu đôi lứa và tình cảm vợ chồng Chúng tôi cũng bước đầu tìm hiểu về phép
lịch sự qua các hành động ngôn ngữ gián tiếp đó dưới góc độ văn hóa (một khíacạnh của văn hóa) giao tiếp của người Việt
4.3 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích trên, luận án thực hiện những nhiệm vụ sau: Tìm hiểunhững vấn đề về lí thuyết có liên quan tới đề tài: lí thuyết về hành động ngôn ngữ, líthuyết về hội thoại, về phép lịch sự; Thống kê, phân loại hành động hỏi trong ca dao;Phân tích, mô tả về nội dung, hình thức và các phương tiện biểu hiện của hành độnghỏi trong ca dao; Phân tích, mô tả hành động ngôn ngữ gián tiếp được thực hiện thôngqua hành động hỏi; Phân tích, mô tả những đặc điểm về phép lịch sự trong văn hóaứng xử của hành động hỏi trong ca dao trữ tình người Việt
5 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp thống kê phân loại: thu thập ngữ liệu trong từng vấn đề cụ thể
theo định hướng của luận án Phương pháp phân tích diễn ngôn: miêu tả và phân tích cấu trúc, chức năng của hành động hỏi Phương pháp miêu tả: miêu tả, phân tích diễn
ngôn với nguồn tư liệu đã lựa chọn, từ đó có những nhận xét, kết luận phù hợp.Phương pháp này tạo nên tính logic, chặt chẽ trong lập luận
Bên cạnh đó, luận án còn sử dụng thủ pháp so sánh để làm rõ những điểm khác
biệt của hành động hỏi trong ca dao với hành động hỏi trong hội thoại hàng ngày
Trang 46 Ý nghĩa lí luận và thực tiễn của luận án
Việc nghiên cứu đề tài này sẽ giúp khẳng định các đặc điểm về mặt hình thức
và nội dung của hành động hỏi trong ca dao trữ tình người Việt Nó là cơ sở để hiểuthêm về cách mà người Việt bày tỏ tâm tư, tình cảm của mình qua ca dao, đồng thờiqua đó cũng để hiểu thêm phong tục, tập quán và con người của dân tộc Việt Nam
Mặt khác, kết quả của đề tài sẽ góp thêm một cứ liệu trong lĩnh vực nghiêncứu về ngôn ngữ và văn hoá, văn học dân gian và văn hoá dân gian; là nguồn tư liệutham khảo cần thiết cho việc nghiên cứu và giảng dạy ngữ dụng học, văn học dângian trong nhà trường góp phần giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc
7 Bố cục của luận án
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận án gồm bốn chương:
Chương 1: Cơ sở lí thuyết
Chương 2: Phương tiện đánh dấu hình thức hành động hỏi trong ca dao
người ViệtChương 3: Nội dung các hành động ngôn ngữ gián tiếp được thực hiện qua
hành động hỏi trong ca dao người Việt
Chương 4: Phép lịch sự thể hiện qua hành động hỏi trong ca dao người Việt
J.L.Austin cho rằng có ba loại HĐNN lớn là: hành động tạo lời (locutionaryact), hành động mượn lời (perlocutionary act), hành động ở lời (I-llocutionary act)
Ba loại hành động: hành động tạo lời, hành động mượn lời, hành động ở lờiđược thực hiện một cách thống nhất khi tạo ra một diễn ngôn Tuy nhiên, ở phạm vi
đề tài này, chúng tôi chỉ khảo sát các bài ca dao người Việt trên văn bản viết (không
có môi trường diễn xướng) nên chúng tôi chỉ xem xét, tìm hiểu, nghiên cứu HĐHdưới hình thức hành động ở lời hỏi (HĐOLH)
Trang 51.1.2 Điều kiện sử dụng hành động ở lời
Tác giả Đỗ Thị Kim Liên cho rằng: “Điều kiện sử dụng HĐOL (hành vi ở lời)
là những nhân tố cần thiết cho phép thực hiện một HĐOL nhất định trong một ngữcảnh giao tiếp cụ thể” [72, 82]
Điều kiện sử dụng các HĐOL theo J.L.Austin là các điều kiện “may mắn”(felicic conditions) vì nếu chúng được bảo đảm thì hành động mới thành công.J.R.Searle gọi HĐOL là điều kiện thoả mãn, bao gồm bốn loại: điều kiện nội dungmệnh đề, điều kiện chuẩn bị, điều kiện chân thành, điều kiện căn bản
Sở dĩ chúng tôi quan tâm nhiều hơn tới HĐOL và điều kiện sử dụng HĐOL bởichính các điều kiện sử dụng đó sẽ giúp cho việc nhận diện và phân biệt các hànhđộng ở lời trực tiếp (HĐOLTT) và hành động ở lời gián tiếp (HĐOLGT)
1.1.3 Hành động ở lời trực tiếp - gián tiếp
Hành động ở lời trực tiếp
“Khi nào có một quan hệ trực tiếp giữa một cấu trúc và một chức năng thìchúng ta có một hành động ngôn từ trực tiếp” [111, 55]
Hành động ở lời gián tiếp
Có một nguyên lí đặc biệt của ngôn ngữ đó là: trong nói năng, chúng ta truyềnbáo nhiều hơn là điều chúng ta nói ra Trong thực tế giao tiếp, một phát ngôn thườngkhông phải chỉ có một đích ở lời, mà đại bộ phận phát ngôn được xem như là thựchiện đồng thời một số hành động ở lời
Hiện tượng người giao tiếp sử dụng trên bề mặt HĐOL này nhưng lại nhằmhiệu quả của một HĐOL khác được gọi là hiện tượng sử dụng hành động ngôn ngữtheo lối gián tiếp
Hướng tiếp cận của luận án này chúng tôi chỉ giới hạn ở HĐH được thựchiện bằng cấu trúc câu hỏi Vì vậy, việc tìm hiểu lý thuyết về câu hỏi và HĐH;điều kiện sử dụng HĐH; các phương tiện hình thức sử dụng trong HĐH làm cở sở
để tìm hiểu về HĐH trong ca dao
Trang 61.2 Văn hóa giao tiếp và phép lịch sự
1.2.1 Văn hóa
Trong khoa học xã hội, văn hóa là một thuật ngữ có nhiều cách định nghĩa
Sơ lược về đặc trưng văn hóa giao tiếp của người Việt: Người Việt vừa thích
giao tiếp lại vừa rụt rè; Người Việt lấy tình cảm làm nguyên tắc ứng xử; Người ViệtNam thích tìm hiểu về tuổi tác, gia đình, nghề nghiệp, trình độ học vấn…của đối
tượng giao tiếp; Người Việt rất trọng danh dự; Hệ thống từ ngữ xưng hô và cách nói
lịch sự rất phong phú Người Việt xưng hô theo nguyên tắc xưng khiêm hô tôn Thậmchí, cách nói lịch sự của người Việt cũng rất phong phú, mỗi trường hợp khác nhaulại có một các xưng hô cho phù hợp
Tóm lại, việc xác định nội hàm khái niệm văn hóa và những đặc trưng cơ bảncủa văn hóa giao tiếp người Việt vô cùng phức tạp và trừu tượng Trong điều kiệnhạn chế, luận án chỉ đề cập tới yếu tố văn hóa từ một góc độ cụ thể: xem xét một sốyếu tố văn hóa trong mối quan hệ với HĐH trong ca dao trữ tình người Việt
1.2.2 Lịch sự
Lịch sự là một thuộc tính thuộc phạm trù văn hóa ứng xử của con người trong giaotiếp, đó là một nhân tố quan trọng có tính chất điều hòa các quan hệ liên nhân, nó chi phốikhông những đối với quá trình vận động hội thoại mà cả đối với hiệu quả giao tiếp
Có thể định nghĩa lịch sự: “như là một phương thức để giảm thiểu sự xung độttrong diễn ngôn (…); Những chiến lược lịch sự có nhiệm vụ đặc biệt là làm cho cuộctương tác được thuận lợi” (Lakoff, dẫn theo Đỗ Hữu Châu [13, 582]
Như vậy phép lịch sự là tập hợp những phương tiện mà người nói vận dụng đểđiều phối hay tôn vinh người đối thoại Phép lịch sự là cần thiết và là chuẩn mực màngười nói luôn muốn hướng tới
1.2.3 Hành động hỏi với văn hóa giao tiếp và phép lịch sự
Chúng tôi tập trung xem xét HĐH trong mối quan hệ với thể diện của người nói
và người nghe trong trường hợp: HĐH được thực hiện gián tiếp (nhằm hướng tới hiệulực của hành động khác)
Khi HĐH được dùng gián tiếp để hướng đến một hiệu lực ở lời của hành độngkhác thì việc đe dọa hay tôn vinh thể diện của người nói và người nghe phụ thuộc rấtnhiều vào hành động mà HĐHGT hướng tới
1.3 Vài nét chung về ca dao người Việt
1.3.1 Khái niệm về ca dao
Có nhiều khái niệm về ca dao, ở đề tài này, chúng tôi dùng thuật ngữ ca dao để
chỉ những sáng tác được lưu truyền trong dân gian bằng những lời ca có vần điệu và
mang phong cách bình dân
Trang 71.3.2 Những đặc trưng cơ bản của ca dao trữ tình người Việt
• Về thể thơ, ca dao người Việt được sáng tác bằng thể thơ lục bát, song thấtlục bát, vãn ba (câu thơ ba tiếng), vãn bốn (câu thơ bốn tiếng), vãn năm (câu thơ nămtiếng) Tuy nhiên, thể thơ lục bát là thể thơ dân tộc, dễ thuộc, dễ hiểu, gần gũi với lời
ăn tiếng nói của người dân, diễn đạt tâm trạng nhiều chiều của nhân vật trữ tình nênđây là thể thơ phổ biến của ca dao
Tính tập thể là một đặc điểm nổi bật của ca dao nên cái tôi trữ tình trong ca daokhông có dấu vết của cá nhân Chủ thể trữ tình trong ca dao được đặt trong mối quan
hệ hữu cơ với đối tượng trữ tình Cảm xúc, tâm tư của nhân vật trữ tình được bộc lộbằng nhiều giọng điệu : tâm tình, sâu lắng, trách móc, hờn giận, đau buồn, xót xa, nóibóng gió, hồn nhiên vui tươi… Thời gian và không gian : là những mặt hiện thựckhách quan được phản ánh trong tác phẩm, tạo thành thế giới nghệ thuật của tácphẩm Ngôn từ được sử dụng trong ca dao gắn với hình ảnh của các biểu tượng nghệthuật, với quy ước của cộng đồng về một ý niệm tượng trưng
Tóm lại, những đặc trưng về ca dao trữ tình người Việt chúng tôi nêu ra trênđây chỉ mang tính khái quát Trong quá trình tìm hiểu hành động hỏi trong ca dao trữtình gắn với văn hóa giao tiếp của người Việt, chúng tôi sẽ đi sâu vào tìm hiểu từngvấn đề cụ thể
Trong các hành động ngôn ngữ, ở chương 1 này, chúng tôi chú trọng tới HĐH,thống nhất nội hàm khái niệm HĐH và bàn tới các phương tiện hình thức đánh dấuhành động, các nguyên tắc lịch sự và văn hóa ứng xử chi phối việc lựa chọn HĐHtrong ca dao trữ tình người Việt
3 Phép lịch sự có hiệu lực giải thích các phát ngôn, các cách thức nói năng vàgiải thích hàm ngôn, hành động ngôn ngữ gián tiếp Quy tắc lịch sự sẽ cho phép xácđịnh ngưỡng của cái tôi cá nhân trong nội dung và trong quan hệ liên cá nhân Đồngthời, phép lịch sự cũng góp phần phát hiện và lí giải hiện tượng hai chiều trong tương
Trang 8tác: nghiên cứu vấn đề lịch sự sẽ giúp chúng tôi lý giải được nền tảng văn hóa củanhững hành động ngôn ngữ gián tiếp ẩn sau những hành HĐH trong ca dao vàngược lại
Trên đây là những cơ sở lý thuyết nền tảng mà trong các chương sau chúng tôi
sẽ vận dụng để lý giải những hiện tượng ngôn ngữ có liên quan Trong các chươngtiếp theo của luận án, chúng tôi sẽ lần lượt tìm hiểu HĐH trong ca dao trữ tình ngườiViệt trên các phương diện hình thức, nội dung các hành động ngôn ngữ gián tiếp và
lý giải việc sử dụng hành động hỏi để thực hiện các hành động ngôn ngữ gián tiếp đótrên cơ sở phép lịch sự và văn hóa ứng xử của người Việt
Chương 2 PHƯƠNG TIỆN ĐÁNH DẤU HÌNH THỨC HÀNH ĐỘNG HỎI
TRONG CA DAO NGƯỜI VIỆT
2.1 Tiểu dẫn
Qua quá trình khảo sát ngữ liệu, chúng tôi thu thập được 2011 bài ca dao cóchứa HĐH HĐH trong các bài ca dao đó lại hướng tới hiệu lực ở lời của các
HĐNNGT khác như: thăm dò, làm quen, thử tài, than, trách, bày tỏ, chê, khuyên…
Trong chương 2 của luận án, chúng tôi tập trung đi vào tìm hiểu các phương tiện đánhdấu về hình thức của các HĐNNGT được thực hiện thông qua HĐH trong ca dao trữtình người Việt
Các HĐNNGT được thực hiện thông qua HĐH được chúng tôi thống kê trongbảng sau:
Bảng 2.1 Các HĐNNGT được thực hiện thông qua HĐH trong ca dao người Việt
Tỉ lệ Hành động gián tiếp
Tổng số: 2011 bài
Số lượng (bài) Tỉ lệ (%)
Hỏi - Làm quen, thăm dò 526 26,2
Trang 9Trong luận án này, chúng tôi chấp nhận quan niệm HĐH được thực hiện bằngcấu trúc hỏi
Kết quả khảo sát về phương tiện hình thức của HĐH trong ca dao được tổnghợp qua bảng sau:
Bảng 2.2 Thống kê số lần xuất hiện của phương tiện đánh dấu hình thức
của HĐH trong ca dao người Việt
Tổng số 2011 (bài) SL,%
Các cặp phụ từ 225 11,2
Quan hệ lựa chọn hay 123 6,1
Tiểu từ tình thái chăng 67 3,3
2.2 Đại từ nghi vấn
2.2.1 Hỏi về người (ai, người nào)
Theo kết quả khảo sát ngữ liệu của chúng tôi, đại từ dùng để hỏi về người có
671 lần xuất hiện, chiếm 42,3% trên tổng số các đại từ dùng để hỏi trong ca dao Xétvai trò của đại từ nghi vấn dùng để hỏi về người trong ca dao trữ tình có so sánh vớiđại từ nghi vấn trong tiếng Việt chúng tôi nhận thấy: Đại từ dùng để hỏi về ngườixuất hiện nhiều nhất so với những dấu hiệu hình thức khác, có mặt trong tất cả cácHĐNNGT được thực hiện thông qua HĐH Tuy nhiên, khi thực hiện các HĐNNGTkhác nhau thì đại từ chỉ người lại đứng ở những vị trí khác nhau trong câu và thựchiện những vai trò khác nhau
2.2.2 Hỏi về vật, việc
Đại từ dùng để hỏi về vật, việc, theo kết quả khảo sát của chúng tôi xuất hiện 138lần, chiếm 8,7% tổng số lần xuất hiện của đại từ dùng để hỏi trong ca dao Cùng để chỉ
những gì “không rõ” nhưng đại từ chỉ vật, việc: gì, chi có tần số sử dụng thấp hơn rất nhiều so với đại từ chỉ người ai Và khác với đại từ ai, đại từ gì, chi được dùng nhiều
nhất trong các câu đố - thử tài, giao duyên Vì mang nghĩa chỉ vật, việc nên các mô
thức sử dụng đại từ gì, chi trong HĐH cũng đơn giản hơn rất nhiều so với đại từ ai.
Nghĩa hàm ẩn của các mô thức này cũng đơn giản hơn nhiều Theo khảo sát ở trên,
các mô thức sử dụng đại từ gì, chi trong HĐH trong ca dao thuộc về ba nghĩa hàm ẩn
chính: hỏi - thử tài, hỏi - thăm dò và hỏi - phủ định
Trang 102.2.3 Hỏi về nguyên nhân, tình hình
Cùng để hỏi về nguyên nhân, trong ca dao ngoài đại từ “sao” còn có “răng” và các kết hợp từ như vì sao, vì chưng Trong ca dao, đại từ nghi vấn sao, vì sao, vì
chưng, răng, được sử để hỏi về nguyên nhân nhưng không phải để truy tìm nguyên
nhân mà mang ý nghĩa ngầm trách Ở nội dung hỏi - thăm dò, làm quen, mô thức Sao
+ không V lại được sử dụng với hàm ý mời mọc, như một lời gợi ý xuất phát từ thiện
ý
2.2.4 Hỏi về số lượng (bao nhiêu, bao, mấy)
Trong ca dao, ở HĐH, số lần sử dụng đại từ mấy nhiều hơn gấp 4 lần số lần sử dụng đại từ bao nhiêu (bao) Hiện tượng này có thể được lý giải qua thói quen sử dụng ngôn ngữ của con người: từ mấy ngắn gọn hơn và thường được sử dụng với các danh từ đếm được, còn bao nhiêu (bao) lại thường được sử dụng với những danh từ không đếm được: nước, tiền, thời gian Nhưng hiện nay, từ mấy với ưu thế ngắn (1
âm tiết) đã có thể lấn sang địa phận của đại từ bao nhiêu khi nó được kết hợp với cả
danh từ không đếm được
2.2.5 Hỏi về thời gian
Đại từ nào mang nghĩa lựa chọn, thường kết hợp với những danh từ chỉ thời gian như lúc (nào), khi (nào), hồi (nào), giờ (nào), ngày (nào), để chỉ thời điểm trong quá khứ hoặc trong tương lai, nó có biến thể khác là mô
Tóm lại, đại từ nghi vấn bao giờ, khi nào ngoài ý nghĩa từ điển theo cách dùng
thông thường, khi sử dụng trong ca dao còn mang ý nghĩa biểu thái sâu sắc, nhằmgóp phần thực hiện đích ở lời là những HĐNNGT như: bộc lộ, bày tỏ, than, trách
Về khả năng kết hợp, nếu các đại từ đó đứng trước vị tố thì được dùng để chỉ thờiđiểm trong tương lai, với ý nghĩa gián tiếp thiên về bộc lộ, bày tỏ; còn nếu chúngđứng sau vị tố thì được dùng để chỉ thời điểm trong quá khứ, với ý nghĩa gián tiếpthiên về trách, than
2.2.6 Hỏi về không gian
Đại từ nghi vấn đâu, nào trong ca dao có thể kết hợp với danh từ chỉ phương như: phương, chỗ, nơi để quy chiếu đến một không gian bất định, hoặc đối tượng
trong không gian bất định ấy nhằm bày tỏ những nỗi niềm trong lòng chủ thể trữ tình
Ở những nội dung gắn liền với sự bày tỏ, giãi bày nỗi niềm của chủ thể trữ tình, ca dao
sử dụng nhiều hơn những đại từ không gian, dường như đó là nơi con người muốn tìmđến để trút những lo âu, muộn phiền
2.3 Phụ từ nghi vấn
Trang 11Để tạo câu nghi vấn, tiếng Việt sử dụng các cặp phụ từ làm thành các khuônnghi vấn với các nội dung hỏi khác nhau.
2.3.1 Cặp có không (hoặc có không); có chăng
Cặp phụ từ có không (hoặc có không); có chăng được sử dụng trong câu hỏi với mục đích hướng người nghe vào hai sự lựa chọn: có / không Trong ca dao,
các câu hỏi có sử dụng các cặp phụ từ này không hướng tới câu trả lời của ngườinghe mà hướng vào việc giãi bày tình cảm của chính người hỏi, than trách hoặc thăm
dò tình ý của đối phương theo mô thức: Sp2 có X chăng/không? Cặp phụ từ có
không (hoặc có không); có chăng được chủ thể trữ tình sử dụng để thực hiện
HĐH trong ca dao nhằm hướng tới một sự ướm hỏi Lời ướm hỏi đó là cái cớ đểSp1 giãi bày tình cảm của mình Do đó, HĐH mặc dù có sử dụng các cặp phụ từtrên nhưng không nhằm hướng đến sự hồi đáp có/không của Sp2 Hay nói khác đi,hỏi nhưng không phải để hướng đến người nghe mà HĐH được thực hiện để dànhcho chính Sp1
2.3.2 Cặp phụ từ có được không hoặc có đặng không
Trong ca dao, những cặp phụ từ này cũng được sử dụng nhiều nhất ở những
câu ca dao mang nội dung thăm dò theo mô thức: Sp2 có X đặng không? hoặc V Sp2
được chăng/ không?
2.3.3 Cặp phụ từ đã chưa
Câu hỏi sử dụng cặp phụ từ đã chưa (một biến thể khác của cặp phụ từ đã
chưa là cặp phụ từ đà chưa) dùng để hỏi về một sự việc, hiện tượng nào đó xem nó
đã xảy ra hay chưa Do đó, cặp phụ từ này rất thích hợp với những bài ca dao thựchiện HĐH - thăm dò, chủ yếu để thăm dò xem đối phương đã có nơi có chốn hay
chưa theo mô thức: Sp2 đã (đà) V chưa? hay Sp2 đã có X chưa?
Với cách sử dụng phụ từ nghi vấn đã chưa (đà chưa) trong ca dao, nhân
vật trữ tình có thể dò hỏi về sự việc trong quá khứ với số lần xuất hiện nhiều nhất,ngoài ra còn dùng để thực hiện HĐH - than trách, bày tỏ, khuyên, thử tài
2.3.4 Cặp phụ từ còn không; còn không; còn chăng
Cặp phụ từ này được sử dụng để thực hiện HĐH trong ca dao tương đối ít, chỉvới 8 lần xuất hiện, trong đó nhiều nhất ở những câu ca dao có nội dung hỏi - thăm dò
- làm quen
Trang 12Cũng như những cặp phụ từ ở trên, cặp phụ từ còn không, còn không, còn
chăng thể hiện sự hoài nghi của chủ thể trữ tình về những điều thầm kín trong lòng
của Sp2 Các cặp phụ từ trên giúp câu hỏi trở nên ý tứ, kín đáo, giảm thiểu sự đe dọathể diện đối với người nghe bởi nó biến HĐH của Sp1 thành hành động ướm hỏi rất
lịch sự Kết hợp với quan hệ từ lựa chọn hay, HĐH của Sp1 lại trở thành việc đưa ra
các giả thiết để ướm hỏi về Sp2, vừa như để hỏi, nhưng lại vừa như để thể hiện sự hàihước khi sử dụng những giả thiết táo bạo dành cho Sp2
2.3.5 Phụ từ không, được không, đặng không
Về cấu trúc, phụ từ không đứng cuối câu hỏi theo mô thức: Hỏi P
(được/đặng) không? Về ý nghĩa, câu hỏi sử dụng phụ từ không đứng cuối câu
thường hướng nội dung hỏi tới người nghe mà không mang ý nghĩa tự vấn
Đêm khuya thiếp mới hỏi chàng
Cau khô ăn với trầu vàng xứng không?
2.4 Quan hệ từ lựa chọn hay
Theo kết quả khảo sát của chúng tôi, quan hệ từ lựa chọn hay được dùng
làm phương tiện đánh dấu HĐH trong ca dao có 123 lần xuất hiện
Trong những câu hỏi sử dụng quan hệ từ lựa chọn hay, người nói thường đưa ra hữu hạn sự lựa chọn theo mô thức: A hay B? Người nghe buộc phải lựa
chọn một trong số đó để trả lời Ngoài ý nghĩa tạo cấu trúc nghi vấn lựa chọn,
quan hệ từ hay còn có khả năng diễn đạt ý không dứt khoát, nghi ngờ, trách
móc Vì vậy đằng sau nội dung hỏi có sử dụng quan hệ từ lựa chọn hay bao giờ
chủ thể phát ngôn cũng nhằm thực hiện đích ở lời là những hành động ngôn ngữgián tiếp khác
2.5 Tiểu từ tình thái chăng
Chăng được sử dụng cuối câu với tư cách của những tiểu từ tình thái biểu thị
sự hoài nghi Chúng tôi thống kê được trong ca dao có 67 lần xuất hiện Tiểu từ tình
thái chăng Về cấu trúc, tiểu từ tình thái chăng thường đứng cuối câu hỏi theo mô thức: P chăng? Về ý nghĩa, tiểu từ chăng thường được sử dụng với ý nghĩa tự vấn,
mang tính chất ướm hỏi, phỏng đoán, không tin chắc, thăm dò
Ở một số trường hợp sử dụng, tiểu từ tình thái chăng không đứng cuối câu mà
đi kèm với từ “phải” tạo thành tổ hợp “phải chăng” được dùng theo mô thức: Phải
chăng P Mô thức này cũng thể hiện sự không tin tưởng chắc chắn, còn hoài nghi, hỏi
để hướng đến một sự tự vấn
Trang 13Tiểu kết chương 2
1 Trong chương 2, chúng tôi tiếp cận HĐH trong ca dao trữ tình người Việt ởphương diện đầu tiên là các phương tiện đánh dấu hình thức hỏi Căn cứ vào loại từ,chúng tôi phân loại các phương tiện đánh dấu hình thức hỏi trong ca dao thành cáctiểu loại: đại từ nghi vấn, phụ từ nghi vấn, quan hệ từ lựa chọn và tiểu từ tình thái.Trong từng tiểu loại, bước đầu chúng tôi đã đưa ra được một số mô thức ngôn ngữ
mà chủ thể trữ tình sử dụng để thực hiện HĐH cùng sắc thái ý nghĩa của chúng
2 Phân tích những đặc điểm của các phương tiện đánh dấu hình thức hànhđộng hỏi trong ca dao thông qua ngữ liệu và một số ví dụ cụ thể, chúng tôi rút ra một
số nhận xét như sau:
2.1 Các phương tiện đánh dấu hình thức hỏi trong ca dao rất phong phú, đadạng (các đại từ nghi vấn, các cặp phụ từ, phụ từ nghi vấn, quan hệ từ lựa chọn
“hay”, tiểu từ tình thái “chăng”) Trong một bài ca dao có thể xuất hiện một, hai
hoặc nhiều hơn các phương tiện đánh dấu hình thức HĐH Về mặt hình thức,chúng cũng được sử dụng theo các mô thức giống như HĐH trong ngôn ngữ nóithông thường Tuy nhiên, ca dao thuộc phong cách ngôn ngữ nghệ thuật nên HĐHtrong ca dao không chỉ mang ý nghĩa đơn giản như trong ngôn ngữ nói thôngthường mà thường đi kèm với những lời đưa đẩy với những hình ảnh ẩn dụ, hoán
dụ, so sánh rất bóng bẩy, trữ tình Điều này khiến cho việc phân tích HĐH trong
ca dao trở nên rất phức tạp và việc xác định các mô thức ngôn ngữ của HĐH cũnggặp nhiều khó khăn
2.2 Khi HĐH được thực hiện theo những mô thức ngôn ngữ khác nhau sẽ đemlại những giá trị hàm ẩn khác nhau cho phát ngôn Và có thể cùng một HĐNNGTnhưng lại được thực hiện bằng nhiều mô thức ngôn ngữ khác nhau với các phươngtiện đánh dấu hình thức khác nhau Điều đó tạo nên sự phong phú trong cách diễn đạtcủa ca dao nghệ thuật và cũng phù hợp với nguyên tắc sử dụng HĐNNGT thông quaHĐNN trực tiếp
2.3 Khảo sát từng tiểu loại, chúng tôi nhận thấy:
- Các đại từ nghi vấn được sử dụng với số lượng và tần suất nhiều nhất Theo
đó, cũng có rất nhiều các mô thức ngôn ngữ ứng với mỗi loại đại từ, thể hiện đa dạngcác HĐNN của chủ thể trữ tình Trong đó, việc sử dụng đại từ để hỏi về người có
Trang 14nhiều mô thức ngôn ngữ nhất qua HĐH trong ca dao, mỗi mô thức là một sắc thái ýnghĩa khác nhau cho HĐNNGT mà nó hướng tới Các đại từ còn lại tương đối ổnđịnh trong việc tạo ra các mô thức ngôn ngữ cho HĐH
- Các cặp phụ từ và phụ từ nghi vấn cũng được sử dụng với tần suất lớn Tuynhiên, các cặp phụ từ và phụ từ nghi vấn lại không tạo ra nhiều các mô thức ngôn ngữ
đa dạng như các đại từ nghi vấn và như thế, sắc thái ý nghĩa của các HĐNNGT màcác HĐH chứa các phụ từ và cặp phụ từ nghi vấn thực hiện cũng không phong phúnhư với các đại từ nghi vấn Điều này không tỉ lệ thuận với hiệu quả mà các mô thứcngôn ngữ đó tồn tại qua HĐH trong ca dao
- Quan hệ từ lựa chọn “hay” và tiểu từ tình thái “chăng” được sử dụng theo
một mô thức bất biến và hướng đến ý nghĩa gián tiếp thống nhất trong các trường hợp
sử dụng Điều đáng nói là các HĐH được thực hiện với quan hệ từ lựa chọn “hay” và tiểu từ tình thái “chăng” thể hiện nghệ thuật ướm hỏi rất tế nhị mà thông minh, tài
tình của dân gian
Dưới hình thức hỏi, các HĐNNGT được thực hiện một cách tinh tế, giàu sứcbiểu cảm Cách nói vòng vo, rào trước đón sau trước một vấn đề tế nhị vốn vẫn làmột nét đặc trưng trong văn hóa giao tiếp của người Việt Ca dao chính là một hìnhthức thể hiện những chiến lược giao tiếp mang đậm nét văn hóa ấy