1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thơ tứ tuyệt chế lan viên

118 16 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 118
Dung lượng 0,97 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hồ Thế Hà không nói rõ quan niệm chung về thơ tứ tuyệt, nhưng khi bàn về thơ tứ tuyệt Chế Lan Viên, đã thể hiện một quan niệm khá rộng rãi về thơ tứ tuyệt của ông: “Chúng ta có thể xem t

Trang 1

TRẦN THỊ HẰNG

THƠ TỨ TUYỆT CHẾ LAN VIÊN

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN

Vinh - 2010

Trang 2

4 Đối tƣợng và phạm vi nghiện cứu 5

1.1.1 Các quan niệm về thơ tứ tuyệt 7

1.2.1 Vài nét về sự nghiệp thơ Chế Lan Viên 10 1.2.2 Vị trí của thơ tứ tuyệt trong sự nghiệp thơ Chế Lan Viên 24

Chương 2: ĐỀ TÀI VÀ TỨ THƠ TRONG THƠ TỨ TUYỆT

2.1.2 Đề tài thơ tứ tuyệt trong hệ đề tài thơ Chế Lan Viên 29 2.1.3 Một số sự khác biệt giữa đề tài thơ tứ tuyệt Chế Lan Viên với

đề tài thơ tứ tuyệt truyền thống 52

2.2.2 Tứ thơ trong thơ tứ tuyệt và thơ Chế Lan Viên nói chung 63 2.2.3 Một số sự khác biệt giữa tứ thơ trong thơ tứ tuyệt Chế Lan Viên

với tứ thơ trong thơ tứ tuyệt truyền thống 69

Trang 3

3.1 Hình ảnh 74 3.1.1 Quan niệm của Chế Lan Viên về vai trò của hình ảnh trong thơ 74 3.1.2 Hình ảnh thơ tứ tuyệt trong hệ thống hình ảnh thơ Chế Lan

3.1.3 Một số sự khác biệt giữa hình ảnh trong thơ tứ tuyệt Chế Lan

Viên với hình ảnh trong thơ tứ tuyệt truyền thống 82

3.2.2 Kết cấu thơ tứ tuyệt trong kết cấu thơ Chế Lan Viên nói chung 85 3.2.3 Một số sự khác biệt giữa kết cấu trong thơ tứ tuyệt Chế Lan

Viên với kết cấu trong thơ tứ tuyệt truyền thống 89

3.3.2 Ngôn ngữ thơ tứ tuyệt trong hệ thống ngôn ngữ thơ Chế Lan

3.3.3 Một số sự khác biệt giữa ngôn ngữ thơ tứ tuyệt Chế Lan Viên

với ngôn ngữ thơ tứ tuyệt truyền thống 100

Trang 4

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

1.1 Như chúng ta đã biết, Chế Lan Viên là một trong những nhà thơ tiêu

biểu của nền thơ hiện đại Việt Nam thế kỷ XX Ông là nhà thơ đã gắn bó Đời

và Thơ mình với dân tộc và sự nghiệp cách mạng, đặc biệt ông đã khẳng định mình bằng một phong cách riêng – phong cách suy tưởng Ngay từ khi mới xuất hiện trên văn đàn dân tộc, sáng tác của Chế Lan Viên cùng những hoạt động văn hoá phong phú của ông đã có tác động tích cực và ảnh hưởng rộng rãi trong đời sống văn học Việt Nam hiện đại Đây là một trong những lí do khiến chúng ta chọn thơ ông để khảo sát, tìm hiểu

1.2 Chế Lan Viên có nhiều đóng góp trong lĩnh vực thơ ca, đặc biệt là ở

thể loại thơ tứ tuyệt Thế nhưng, trong các công trình nghiên cứu thơ Chế Lan Viên, tuy có rất nhiều bài viết, chuyên đề đề cập và bàn đến thơ tứ tuyệt, song chưa có công trình nào nghiên cứu thực sự độc lập, đầy đủ và toàn diện

về thơ tứ tuyệt của ông Do vậy, trên thực tế đây vẫn là đề tài còn nhiều vấn

đề cần tiếp tục đi sâu nghiên cứu

1.3 Tác giả cũng hy vọng qua nghiên cứu đề tài “Thơ tứ tuyệt Chế Lan

Viên”, có thể đóng góp một phần thiết thực vào việc phân tích và tìm hiểu thơ

Chế Lan Viên, giúp cho việc dạy và học tác phẩm của ông được tốt hơn

Trang 5

Trong phong trào Thơ mới 1932 – 1945, tuy Chế Lan Viên là người xuất

hiện muộn nhưng ngay từ tập thơ đầu tay Điêu tàn đã gây chấn động trong

đời sống văn học dân tộc Lúc này, người ta thường nhìn thấy Chế Lan Viên

bên cạnh những “Những tượng Chàm lở lói rỉ rên than, Muôn ma hời sờ

soạng dắt nhau đi” (Trên đường về) hay “Ai đổi đầu lâu trong nấm mộ, Tiếng khuya vang ran khắp đầu ta, Có ai rên rỉ ngoài thôn lạnh, Như tiếng xương người rên rỉ khô” (Mơ trăng) Chế Lan Viên là người đại diện cho khuynh

hướng thoát ly cuộc sống, tìm đến cõi vô hình, thần bí Cách mạng tháng Tám thành công đã “thay đổi đời”, “thay đổi thơ” ông và dường như chúng ta không còn nhận ra Chế Lan Viên nữa Trước mắt chúng ta không phải là một Chế Lan Viên chỉ biết than khóc trên đống gạch đổ nát của Tháp Chàm mà là một Chế Lan Viên hăm hở xông vào đời, Chế Lan Viên đã tìm được hướng đi cho mình là đến với cách mạng, đến với nhân dân

Dường như chính sự “lột xác” ấy ở Chế Lan Viên đã gây xôn xao dư luận Những bạn đọc yêu quý ông, những nhà nghiên cứu, giới phê bình không chỉ

vỗ tay nhiệt liệt để chào đón một Chế Lan Viên từ cõi hư vô trở về cuộc đời

mà còn mỗi ngày một viết về ông một cách nhiệt tình hơn, có những bài luận bàn chung về thơ ông và có những bài tập trung tìm hiểu riêng về thơ tứ tuyệt Sau đây tôi xin điểm lại một số ý kiến tiêu biểu:

Trong cuốn “Chế Lan Viên – Người làm vườn vĩnh cửu” là cuốn sách đã

tập hợp những bài viết về Chế Lan Viên của nhiều tác giả do Phong Lan sưu

tầm và tuyển chọn Cụ thể như bài: “Con đường và tầm vóc thơ Chế Lan

Viên” của Phạm Hổ, trong bài này Phạm Hổ đã nhận xét về thơ Chế Lan Viên

như sau: “Từ khi có Chế Lan Viên, có thơ Chế Lan Viên, trong đời sống văn học, thơ ca có thêm một dòng cảm nghĩ mới, một cách nói mới Anh viết về nhiều chủ đề, nhiều thể loại, từ những trường ca đến những bài bốn câu, nhiều giọng nói – lúc như có lửa bốc lên rừng rực, lúc như dòng nước mát chảy êm

Trang 6

– nhưng cái chất Chế Lan Viên chỉ là một Và ở một vài thể loại như thơ văn

xuôi mà tiêu biểu nhất, hay nhất là Cành phong lan bể, như thơ chính luận mà

Thời sự hè 72- Bình luận có thể là một ví dụ, Chế Lan Viên đã có những đóng

góp về mặt khai phá mở mang Và ngay ở những thể loại đã cũ rồi như tứ tuyệt, anh đã có những sáng tạo mới” [55, 220]

Nguyễn Văn Long trong bài viết “Chế Lan Viên, một ngọn tháp trên cánh

đồng thơ” cũng đã đánh giá rằng: “Chế Lan Viên là một phong cách đa dạng

Thơ ông như là sự tập hợp, giao thoa của nhiều đối cực rất khác nhau và ở mọi phương diện, từ đề tài, cảm hứng đến chất liệu, hình ảnh, từ giọng điệu, ngôn ngữ đến thể thơ và bút pháp Thơ Chế Lan Viên nổi bật ở chất suy tưởng, triết lí, ở sức mạnh trí tuệ, nhưng nhà thơ cũng rất coi trọng vai trò của cảm xúc, trực giác, của sự sống trực tiếp Chế Lan Viên chịu ảnh hưởng của trường phái tượng trưng và nhiều quan niệm thơ hiện đại phương Tây, nhất là thơ trí tuệ của Valêri nên trong thơ tứ tuyệt của ông có được cái hàm súc và phong vị man mác cổ thi của thơ Đường Về thể thơ cũng rất đa dạng Chế Lan Viên thành thạo, nhuần nhuyễn trong thể bảy tiếng, tám tiếng ngay từ tập thơ đầu Thể thơ tứ tuyệt, hay nói chính xác hơn là thơ bốn câu của Chế Lan Viên là sự sáng tạo mới mẻ, hiện đại trên cơ sở một thể thơ truyền thống Đó

là kết qủa nghệ thuật đầy năng động, vừa tiếp thu và mài giũa những công cụ của truyền thống mà những khả năng tiềm tàng của nó không phải chúng ta đã khám phá hết được cùng sự tìm tòi thể nghiệm không ngừng, vừa vượt qua những giới hạn, những khuôn khổ cố định, đem đến cho thơ hiện đại nhiều khả năng và sức mạnh mới, nhằm đáp ứng những đòi hỏi của thời đại đối với thơ” [63, 293]

Trong cuốn “Thơ Chế Lan Viên - những lời bình” do Mai Hương và

Thanh Việt tuyển chọn và biên soạn đã dẫn ý kiến đánh giá của Lê Lưu Oanh

và Đinh Thị Nguyệt: “Tứ tuyệt Chế Lan Viên thể hiện rất rõ những đặc trưng

Trang 7

truyền thống loại hình mang tính bền vững, như một phương diện “hữu hạn” của ý thức nghệ thuật, vừa cho thấy sự sinh thành, vận động và phát triển của thể loại tứ tuyệt Với phong cách độc đáo, Chế Lan Viên đã mang lại những đóng góp mới mẻ cho thơ tứ tuyệt Việt Nam tiến thêm một bước” [45, 186]

Hồ Thế Hà thể hiện quan niệm về thơ tứ tuyệt Chế Lan Viên: “Chúng ta

có thể xem thơ tứ tuyệt Chế Lan Viên là những bài thơ 4 câu không hạn chế

số từ, thể thơ…, nhưng luôn tuân thủ nguyên tắc độc đáo của thể loại Triển

khai một tứ thơ trọn vẹn: xoáy sâu vào một trạng thái tình cảm đặc biệt; phát hiện một ý tưởng có tính chất triết lý bất ngờ và cuối cùng là gây hứng thú trong lòng người đọc” [45, 205]

Nguyễn Quốc Khánh trong bài viết “Tính hiện đại trong thơ tứ tuyệt Chế

Lan Viên” có nhận định: Tứ tuyệt của Chế Lan Viên lấy cảm hứng từ đời

thường, từ cá nhân và mang đầy nỗi niềm suy tư trăn trở về đời, về thơ, về mình “Thơ Chế Lan Viên đã mở rộng trên mọi hướng đề tài và chủ đề để đủ sức ôm trùm, bao quát đời sống muôn mặt của một thời đại đầy biến động Chế Lan Viên đã góp phần to lớn tăng cường khả năng phản ánh, miêu tả và biểu hiện hiện thực cuộc sống và các trạng thái tâm hồn của con người trong thơ tứ tuyệt, khiến cho nó có thể từ một khung cửa chật chội, bé nhỏ, một góc nhìn hẹp mà thâu tóm được cả thế giới vô cùng Tính hiện đại của tứ tuyệt Chế Lan Viên là đưa cái tôi cá nhân vào thơ, cá thể hóa lời nói và giọng điệu thơ, ở các phương tiện biểu hiện như hệ thống hình ảnh, kết cấu, ngôn ngữ ” [50]

Tác giả Võ Văn Luyến trong bài viết “Chế Lan Viên và thể thơ tứ tuyệt”

cũng đã đánh giá: “Nói đến Chế Lan Viên là nói đến thơ tứ tuyệt, bởi thơ ông đã đơm hoa kết trái ở thể thơ này Không một ai cùng thời sánh bằng, trên cả hai mặt số lượng và chất lượng Tứ tuyệt Chế Lan Viên là một cái nhìn đa diện về thế giới và con người trong lối khắc phục hạn chế về hình thức nhỏ của thể loại bằng cách “mở rộng hiện thực bằng đề tài, sự chiếm lĩnh chiều sâu hiện thực

Trang 8

bằng cách tăng tính triết lý khái quát ở chủ đề và sự thể hiện con người nhiều chiều” Có thể nói không quá rằng, một mình Chế Lan Viên đã dựng nên một đài tháp riêng về thơ tứ tuyệt Việt Nam hiện đại đậm phong cách tác giả Ngẫm ra, hầu như ông đã khai thác và phát huy khá đầy đủ những đặc điểm nội dung và nghệ thuật thơ tứ tuyệt Việt Nam từ truyền thống đến hiện đại” [64]

Tóm lại, về thơ tứ tuyệt Chế Lan Viên, đã có một số công trình, bài báo đề cập đến, nhưng cho đến nay, thực ra vẫn chưa có một công trình nghiên cứu độc lập, toàn diện và có hệ thống Kế thừa thành quả nghiên cứu của những người đi trước, đề tài “Thơ tứ tuyệt Chế Lan Viên” của chúng tôi sẽ tổng hợp, khái quát, hệ thống hoá để giúp người đọc có cái nhìn toàn diện và sâu sắc về những sáng tạo và đóng góp của Chế Lan Viên ở thể loại thơ tứ tuyệt đối với nền thơ ca Việt Nam hiện đại

3 Mục đích nghiên cứu

- Làm rõ hơn vị trí, ý nghĩa, giá trị của thơ tứ tuyệt trong toàn bộ sự nghiệp

thơ Chế Lan Viên

- Góp phần khẳng định những đóng góp quan trọng của Chế Lan Viên vào quá trình tìm tòi, cách tân, phát triển thơ tứ tuyệt Việt Nam hiện đại

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là thơ tứ tuyệt của Chế Lan Viên

Trang 9

- Đánh giá vị trí và ý nghĩa của thơ tứ tuyệt trong sự nghiệp sáng tác thơ

ca của Chế Lan Viên nói riêng và trong thơ ca hiện đại nói chung

5 Phương pháp nghiên cứu

Ở đề tài nghiên cứu này, chúng tôi chủ yếu sử dụng các phương pháp sau:

- Phương pháp khảo sát và thống kê, phân loại

- Phương pháp phân tích, tổng hợp

- Phương pháp so sánh, đối chiếu

6 Đóng góp của luận văn

Tổng hợp ý kiến và thành tựu nghiên cứu của những người đi trước về thơ

tứ tuyệt Chế Lan Viên

Từ đó, tiếp tục đi sâu nghiên cứu, làm rõ hơn những đóng góp to lớn của Chế Lan viên về nội dung và nghệ thuật ở thể loại thơ tứ tuyệt

7 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, phần nội dung chính gồm ba chương:

Chương 1 Những vấn đề chung

Chương 2 Đề tài và tứ thơ trong thơ tứ tuyệt Chế Lan Viên

Chương 3 Hình ảnh, kết cấu và ngôn ngữ thơ tứ tuyệt Chế Lan Viên

Trang 10

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG

1.1 Giới thuyết khái niệm

1.1.1 Các quan niệm về thơ tứ tuyệt

Theo cách hiểu truyền thống thì thơ tứ tuyệt hay gọi là tuyệt cú là những bài thơ bốn câu, mỗi câu 5 chữ hoặc 7 chữ, loại câu 5 chữ gọi là ngũ ngôn tuyệt cú, loại câu bảy chữ gọi là thất ngôn tuyệt cú, về vần có thể là vần bằng hoặc vần trắc Đây là cách hiểu chung, ngoài ra một số nhà nghiên cứu còn đưa ra cách hiểu riêng của mình như sau:

GS Dương Quảng Hàm, trong “Việt Nam văn học sử yếu” cho rằng:

“tứ có nghĩa là bốn, tuyệt nghĩa là dứt, ngắt Lối này gọi thế vì “thơ tứ tuyệt”

là ngắt lấy bốn câu trong bát cú tạo thành” [26, 23] Ý kiến này đã được GS Bùi Văn Nguyên và GS Hà Minh Đức tán thành và còn giải thích thêm: “tuyệt

là cắt, là dứt, nhưng là dứt câu, dừng bút để trọn một ý bài thơ, sau khi viết câu thư bốn Bởi vì, một câu chưa thành thơ, hai câu mới thành một vế đối liên, ít nhất bốn câu mới có vần, khi đó mới thành bài thơ”

Còn nhà nghiên cứu Lạc Nam, Phan Văn Nhiễm, trong “Tìm hiểu các

thể thơ”, lại hiểu chữ “tuyệt” là tuyệt vời: “Thơ bốn câu gọi là tứ tuyệt, người

Trung Quốc gọi là tuyệt cú, tức là bài thơ hay tuyệt vời, vì chỉ có bốn câu 20

từ hoặc 28 từ mà nói lên được đầy đủ ý tứ của một đề tài theo đúng luật lệ của thơ Đường” [69, 25] Cụ Bùi Kỷ cũng hiểu tương tự như vậy: “Tuyệt là tuyệt diệu, mỗi câu chiếm một vị trí đặc biệt Chỉ trong bốn câu mà thiển thâm, ẩn hiện, chính kỳ, khởi phục, đủ cả cho nên gọi là tuyệt”

Trần Trọng Kim, trong cuốn “Đường Thi”, lại cho rằng: “Tứ tuyệt là một

khái niệm khá co dãn, bao hàm nhiều nghĩa, chỉ được nhiều hiện tượng, miễn là

Trang 11

bài thơ có bốn câu: luật tuyệt, cổ tuyệt Tứ tuyệt về vần có thể bằng hoặc trắc, về

số chữ trong mỗi câu có thể là 5, 6, 7 hoặc thậm chí là tạp ngôn” [51, 109]

Nguyễn Sĩ Đại, trong “Một số đặc trưng nghệ thuật của thơ tứ tuyệt đời

Đường” cho rằng: “tứ tuyệt trước hết là một bài thơ bốn câu, không nhất thiết

là ngũ ngôn hay thất ngôn, không nhất thiết phải niêm luật chặt chẽ nhưng phải vận dụng tối đa các thủ pháp nghệ thuật, phát huy thế mạnh của âm vận, đặc biệt là cách tổ chức hợp lý hình ảnh để tạo một cấu trúc đa chiều vừa mang tính khái quát cao ” [13, 36]

Hồ Thế Hà không nói rõ quan niệm chung về thơ tứ tuyệt, nhưng khi bàn

về thơ tứ tuyệt Chế Lan Viên, đã thể hiện một quan niệm khá rộng rãi về thơ

tứ tuyệt của ông: “Chúng ta có thể xem thơ tứ tuyệt Chế Lan Viên là những bài thơ 4 câu không hạn chế số từ, thể thơ…, nhưng luôn tuân thủ nguyên tắc

độc đáo của thể loại Triển khai một tứ thơ trọn vẹn: xoáy sâu vào một trạng

thái tình cảm đặc biệt; phát hiện một ý tưởng có tính chất triết lý bất ngờ và cuối cùng là gây hứng thú trong lòng người đọc” [45, 205]

1.1.2 Nhận xét và đề xuất

a) Nhận xét:

Qua các ý kiến vừa dẫn trên, có thể thấy rõ ràng từ trước đến nay, các nhà nghiên cứu đã đưa ra nhiều quan niệm khác nhau về thơ tứ tuyệt, và cho đến nay, vẫn chưa có một định nghĩa thống nhất về thể thơ này Những điểm tương đồng và khác biệt trong các quan niệm về thơ tứ tuyệt có thể khái quát như sau:

 Điểm chung duy nhất là lấy số câu trong bài (4 câu) làm một trong những tiêu chí xác định thơ tứ tuyệt

 Những điểm khác biệt:

- Xuất phát từ việc chiết tự hai chữ “tứ tuyệt” để xác định đặc trưng thể loại, có 2 loại ý kiến Một loại ý kiến cho “tuyệt” trong “tứ tuyệt” là

Trang 12

dứt, ngắt; và do đó “tứ tuyệt” là “ngắt lấy bốn câu trong bát cú tạo thành” (Dương Quảng Hàm, Bùi Văn Nguyên, Hà Minh Đức) Loại ý kiến khác cho

“tuyệt” trong “tứ tuyệt” là tuyệt diệu, tuyệt vời (cụ Bùi Kỷ, và sau này là Lạc Nam, Phan Văn Nhiễm) Điều đáng lưu ý là, tuy có khác biệt, nhưng các nhà nghiên cứu Dương Quảng Hàm, Bùi Văn Nguyên, Hà Minh Đức, Lạc Nam, Phan Văn Nhiễm đều gặp nhau ở chỗ coi thơ tứ tuyệt như dạng biến thể của thơ Đường luật, hoặc là “ngắt lấy bốn câu trong bát cú tạo thành”, hoặc là

“theo đúng luật lệ của thơ Đường”; còn cụ Bùi Kỷ thì dường như không quan niệm như thế

- Xuất phát từ việc nghiên cứu, dịch thuật Đường thi, quan niệm

của Trần Trọng Kim là một quan niệm rộng rãi, và phản ánh đúng thực tiễn sáng tác thơ tứ tuyệt đời Đường cũng như thơ tứ tuyệt truyền thống nói chung Chỉ có điều, ý kiến của ông chủ yếu thiên về dấu hiệu hình thức bề ngoài, cần được bổ sung thêm đặc điểm cấu trúc bên trong: “thiển thâm, ẩn hiện, chính kỳ, khởi phục, đủ cả” (Bùi Kỷ), “triển khai một tứ thơ trọn vẹn” (Hồ Thế Hà), “tổ chức hợp lý hình ảnh để tạo một cấu trúc đa chiều và mang tính khái quát cao” (Nguyễn Sĩ Đại)

b) Đề xuất:

Qua nhận xét khái quát trên, căn cứ vào kết quả khảo sát các tác phẩm thơ

tứ tuyệt của Chế Lan Viên, chúng tôi xác định khái niệm “thơ tứ tuyệt Chế Lan Viên” như sau:

- Là bài thơ bốn câu;

- Vần có thể bằng hoặc trắc, số chữ mỗi trong câu có thể nhiều ít khác nhau;

- Không nhất thiết phải vận dụng một thể thơ cố định, theo niêm luật chặt chẽ, nhưng phải “triển khai một tứ thơ trọn vẹn”, “tổ chức hợp lý hình ảnh để tạo một cấu trúc đa chiều và mang tính khái quát cao”

Trang 13

1.2 Thơ tứ tuyệt Chế Lan Viên

1.2.1 Vài nét về sự nghiệp thơ Chế Lan Viên

1.2.1.1 Sự nghiệp thơ trong toàn bộ sự nghiệp sáng tác của Chế Lan Viên

Chế Lan Viên tên thật là Phan Ngọc Hoan, sinh ngày 23 tháng 10 năm

1920 (tức ngày 12 tháng 9 năm Canh Thân) trong một gia đình viên chức nghèo

ở Cam Lộ, Quảng Trị Năm 1927 gia đình chuyển vào An Nhơn, Bình Định

Chế Lan Viên bắt đầu làm thơ ngay từ lúc 12, 13 tuổi, thời kỳ đang sống và đi học ở huyện lỵ An Nhơn Vào những năm 1935 – 1936, ông đã có

truyện ngắn đăng trên các báo Tiếng trẻ, Khuyến học, Phong hóa Sự nghiệp

sáng tác của Chế Lan Viên rất đa dạng, ông vừa làm thơ, vừa viết văn, viết tiểu luận phê bình Và ở dạng nào ông cũng là một cây bút tài năng, cũng có những nét độc đáo, cách suy nghĩ và cách thể hiện của riêng mình Vì lẽ đó nên trong hơn 50 năm cầm bút, Chế Lan Viên đã để lại một khối lượng tác phẩm lớn, phong phú trên nhiều thể loại

- Hoa ngày thường, chim báo bão, Nxb Văn học, 1967

- Những bài thơ đánh giặc, Nxb Thanh Niên, 1972

- Đối thoại mới, Nxb Văn học, 1973

- Hoa trước lăng người, Nxb Thanh niên, 1976

- Hái theo mùa, Nxb Tác phẩm mới, 1977

- Hoa trên đá 1, Nxb Văn học, 1984

- Ta gửi cho mình, Nxb Tác phẩm mới, 1986

- Hoa trên đá 2,Nxb Văn học, 1988

Trang 14

- Di cảo thơ Chế Lan Viên - Tập I, Nxb Thuận Hóa, 1992

- Di cảo thơ Chế Lan Viên - Tập II, Nxb Thuận hóa, 1993

- Di cảo thơ Chế lan Viên - Tập III, Nxb Thuận Hóa, 1996

Về văn xuôi:

- Vàng sao, 1942

- Thăm Trung Quốc (bút ký), Nxb Văn học, 1963

- Những ngày nổi giận (bút ký), Nxb Văn học, 1966

- Bác về quê ta (tạp văn), Nxb Nghệ An, 1972

- Bay theo đường dân tộc đang bay, Nxb Văn Nghệ Giải phóng, 1976

- Giờ của số thành (bút ký), Nxb Lao Động, 1977

- Nàng tiên trên mặt đất, Nxb Kim Đồng, 1985

Về tiểu luận – phê bình:

- Kinh nghiệm tổ chức sáng tác, Nxb Thép mới, 1952

- Nói chuyện thơ văn (Chàng văn), Nxb Văn học, 1960

- Vào nghề (Chàng văn), Nxb Văn học, 1962

- Phê bình văn học, Nxb Văn học, 1962

- Suy nghĩ và bình luận, Nxb Văn học, 1971

- Nghĩ cạnh dòng thơ, Nxb Văn học, 1981

- Từ gác Khuê Văn đến quán Trung Tân, Nxb Tác phẩm mới, 1981

- Ngoại vi thơ, Nxb Thuận Hóa, 1987

Những thống kê kể trên đã cho chúng ta thấy sự nghiệp sáng tác thơ đã chiếm vị trí quan trọng trong toàn bộ sự nghiệp sáng tác của Chế Lan Viên, riêng số lượng tác phẩm thơ đã chiếm tới 15 tập (chiếm 50%) trong khi tác phẩm văn xuôi chỉ có 7 tập và tiểu luận – phê bình là 8 tập Trong số đó, nhiều tác phẩm có tiếng vang lớn trong dư luận và đã đánh dấu tài năng đặc sắc của một nhà thơ tài hoa, độc đáo trong nền văn học Việt Nam hiện đại

Trang 15

Đoàn Trọng Huy đã đưa ra nhận định: “Chế Lan Viên là một trong những

nhà thơ hàng đầu của nền văn học Việt Nam hiện đại Trong phong trào Thơ

mới, ông được xem là một trong số những nhà thơ nổi tiếng và sau 1945, vẫn

được xem là một nhà thơ có vai trò mở đường và dẫn đường cho thơ ca cách

mạng Đặc biệt sau ngày ông mất, các tập Di cảo thơ tiếp tục được xuất bản, riêng tập Di cảo thơ (II) là tác phẩm duy nhất được trao giải thưởng của Hội

nhà văn Việt Nam năm 1994” [42, 8]

1.2.1.2 Sơ lược về tiến trình thơ Chế Lan Viên

a Thơ Chế Lan Viên trước 1945

Trong số nhiều nhà thơ tiêu biểu cho dân tộc và thời đại, Chế Lan Viên nổi bật như một nhà thơ mang nhiều nét đặc trưng

Tiến trình sáng tác của Chế Lan Viên cũng phản ánh tiến trình vận động chung của thơ ca cách mạng đương thời Con đường thơ của Chế Lan Viên trải qua nhiều biến động, nhiều bước ngoặt với những trăn trở, tìm tòi sáng tạo không ngừng

Trước cách mạng, Chế Lan Viên đã cho ra đời tập Điêu tàn (1937) Tập thơ nằm trong bối cảnh chung của Thơ mới mà vẫn đầy khác lạ, 36 bài thơ

trong tập thể hiện những đau đớn, khắc khoải của một linh hồn cô đơn trong một thế giới dị thường, đổ nát, rùng rợn kinh người Tập thơ ra đời khi Chế Lan Viên mới 17 tuổi và đã gây tiếng vang lớn mà như lời nhận xét của Hoài

Thanh: “đã đột ngột xuất hiện giữa làng thơ Việt Nam như một niềm kinh dị”

Không sửng sốt, không kinh dị sao được khi một chàng thanh niên dáng vẻ hiền lành, bỗng học được phép chui vào quan tài của nỗi hư vô, dùng thi ca tỏ tình với cái chết Trước những chứng tích của một nền văn minh bị mai một theo thời gian còn lại như: ngọn tháp, đền đài, tượng Chàm , đã gợi lên cho tâm hồn Chế Lan Viên biết bao sự liên tưởng mạnh mẽ và cuối cùng nhà thơ

lặng lẽ “quay về xem non nước giống dân Hời” Có lẽ trong sâu thẳm cõi lòng

Trang 16

Chế Lan Viên, hình ảnh của “những tháp gầy mòn vì mong đợi”, “những đền

xưa đổ nát dưới thời gian”, “những tượng Chàm lở lói rỉ rên than” , không

chỉ là hình ảnh của một nước Chàm đã mất, mà còn là dự cảm về số phận của dân tộc Việt trong cảnh nô lệ lầm than Cuộc sống hiện tại được Chế Lan

Viên cảm nhận với niềm uất hận, đau thương Và chính ông đã viết: “Điêu tàn

có riêng gì cho nước Chiêm Thành yêu mến của tôi đâu? Kìa kìa nó đang đục

sọ dừa anh Tiếng xương rạn vỡ dội thấu đáy hồn tôi” Và như Nguyễn Minh

Vỹ đã nói: “Không phải Chế Lan Viên đã viết Điêu tàn cho dân tộc Chàm,

tuy rất đúng là quá khứ của dân tộc Chàm đã tác động vào chiều sâu của tâm

hồn nhà thơ! Không phải Chế Lan Viên đã viết Điêu tàn cho ai đâu khác,

không phải than vãn vì ai đâu khác, mà viết cho chính dân tộc Việt Nam, cho những người Việt Nam lúc bấy giờ đang trên bờ vực thẳm do kẻ thù mưu toan

đẩy vào! Nhà thơ đã lấy hình ảnh Điêu tàn, kinh nghiệm Điêu tàn của nòi

giống Chiêm Thành để nói lên đau khổ của chính người Việt chung Nỗi buồn thương nhớ tiếc cặp mắt, đôi môi của nàng nào đó, không phải là tấm lòng chỉ rung động bởi tình yêu thường tình nào đó, dù là viết hoa đủ kiểu – mà là niềm uất hận, mối căm hờn cao cả ”[44, 256] Như vậy, Chế Lan Viên tìm đến thơ để gửi gắm và giải bày sự suy ngẫm của mình về cuộc sống Ông nói đến nỗi đau của dân tộc Chàm cũng là để bộc lộ nỗi đau của chính mình trước cảnh đời hiện tại Chính từ những nhận thức đó, nhà thơ Chế Lan Viên cảm nhận sâu sắc về sự vô nghĩa, “cái u buồn”, “u tối”, “cái sầu vô hạn” giữa cuộc

đời hiện tại và ông đã thốt lên: “Với tôi tất cả như vô nghĩa/ Tất cả không

ngoài nghĩa khổ đau !” (Xuân – Điêu tàn)

Hồ Thế Hà đã đánh giá: “Khi viết Điêu tàn, Chế Lan Viên đã xác lập được

một quan niệm thơ, căn cứ ở mối quan hệ giữa chủ thể sáng tạo và khách thể thẩm mỹ Trong cái khác thường, dị thường, sự lệch pha thường diễn ra và ta gặp những bí ẩn non tươi của lòng người yêu đời, yêu cuộc sống, yêu dân tộc

Trang 17

và những cái vô nghĩa chính là để nói lên hiện thực cuộc đời Chính vì lẽ đó mà

niềm kinh dị trong Điêu tàn đến lượt nó mang lại những giá trị mới ở chiều sâu

trong tư tưởng bi thiết của Chế Lan Viên, và hơn hết nói lên được nỗi đau của một dân tộc nô lệ, một khát vọng thoát khỏi u hận” [45, 235]

b Thơ Chế Lan Viên từ 1945 đến 1975

Sau khi chia tay với những niềm kinh dị, với không khí u uất của những bóng ma Hời, Chế Lan Viên đã hạnh phúc đón chào cách mạng và sống gắn

bó với đời sống kháng chiến, hiểu hơn về Tổ quốc và nhân dân Trong thời gian kháng chiến, sự sáng tạo thơ của Chế Lan Viên chỉ dừng lại ở tập thơ

“Gửi các anh” (1955), tập thơ gồm 13 bài Tập thơ tuy còn nhiều hạn chế

nhưng đã đánh dấu sự chuyển biến lớn trong hành trình thơ Chế Lan Viên và hơn hết nó đã làm nhiệm vụ châm ngòi nổ cho thơ tự do Đặc biệt trong giai đoạn này, con người nghệ sĩ ở Chế Lan Viên chủ yếu nghiền ngẫm, tìm tòi về phương thức thể hiện để phù hợp với nhu cầu thẩm mĩ của cuộc đời mới Ông

đã trải qua những gian truân vất vả và cảm nhận được không khí hào hùng, sôi động của dân tộc trong kháng chiến Ông xúc động mãnh liệt trước bao nhiêu tấm gương hy sinh anh dũng của những con người bình thường giản dị

để làm nên chiến thắng

Sau khi cuộc kháng chiến chống Pháp thắng lợi, Tổ quốc và dân tộc kiêu hãnh tiến bước trên một chặng đường lịch sử mới Lúc này, Chế Lan Viên cũng hòa mình với cuộc sống xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc trong niềm vui và hạnh phúc

Trong hoàn cảnh cuộc đời mới, trong khí thế xây dựng đất nước, Chế Lan

Viên lại tiếp tục cho ra đời tập “Ánh sáng và phù sa” (1960) Qua tập thơ, ta

thấy Chế Lan Viên đã thực sự chín muồi về tư tưởng và phong cách, đánh dấu

sự cách tân quan trọng không chỉ đối với riêng ông mà còn đối với cả nền thơ Việt Nam hiện đại Tập thơ đã cho thấy ông đã vượt qua những “nỗi đau

Trang 18

riêng để hòa nhập với niềm vui chung” đã thật sự “từ chân trời của một người đến chân trời của mọi người” hay nói đúng hơn, đó là tập thơ của sự sống

chiến thắng bệnh tật, chiến thắng cái chết Cụ thể như bài “Nhật ký một người

chữa bệnh”:

Ta lấn từng nỗi đau như mùa chiêm lấn vành đai trắng

Lấn bệnh tật mà đi, máu đỏ lấn da xanh

(Nhật ký một người chữa bệnh – Ánh sáng và phù sa)

Dù sống trong bệnh tật, sống trong đau đớn nhưng nhà thơ đã vượt lên chính mình với tinh thần lạc quan, phấn khởi vì có ánh sáng của Đảng soi vào Nhà thơ đã hoàn toàn hòa nhập với cuộc sống, với thực tại, với nhân dân, với Đảng Lúc này, Chế Lan Viên đã cố gắng hướng sáng tác vào những chủ đề hiện tại, tâm hồn nhà thơ mở rộng, đón lấy vẻ đẹp của đất nước, của cuộc đời

Đó cũng là tình cảm tự nhiên của những con người đã đem lý tưởng của mình gắn với mạch sống chung của dân tộc

Sống giữa niềm vui của cuộc đời mới, Chế Lan Viên đã có quan niệm mới

mẻ về quê hương Quê hương không chỉ là nơi chôn rau, cắt rốn, mà quê hương còn là nơi ta gắn bó và biết sống hết mình vì nó Do đó, trong bài

Tiếng hát con tàu, nhà thơ viết:

Khi ta ở chỉ là nơi đất ở Khi ta đi, đất đã hóa tâm hồn

(Tiếng hát con tàu – Ánh sáng và phù sa)

Những đổi thay kì diệu của cuộc sống đã tạo cho tâm hồn thơ Chế Lan Viên càng thêm dạt dào cảm xúc Nhiều bài thơ của ông trong thời kỳ này thể hiện sự nhận thức sâu sắc về vẻ đẹp của Tổ quốc và dân tộc, về vai trò của

Đảng và Bác Hồ, tiêu biểu là: Tiếng hát con tàu, Cành phong lan bể, Tàu đến,

Tàu đi, Kết nạp Đảng trên quê mẹ

Trang 19

Như vậy, Chế Lan Viên trong Ánh sáng và phù sa đã khác hẳn so với Chế Lan Viên ở Điêu tàn, một thi pháp khác, một phong cách khác, một thể xác và

một linh hồn khác, một ngôn ngữ khác, mỹ học khác, một khổ đau và một hạnh phúc khác và hơn hết là giọng triết luận thấm đẫm trong toàn tập thơ

Ngô Văn phú còn nói: “Ánh sáng và phù sa trở thành một niềm sửng sốt thứ

hai mà Chế Lan Viên mang lại cho thi đàn Việt Nam Có thể xem đây là tập thơ hay nhất của ông, sự thành công này đã đưa Chế Lan Viên đứng ngang

hàng với những tài năng cùng thế hệ như: Huy Cận với Trời mỗi ngày lại

sáng, Xuân Diệu với Mũi Cà Mau, Tế Hanh với Gửi miền Bắc” [45, 245] Ánh sáng và phù sa chính là một bước đi, một bậc thang của hồn thơ Chế Lan

Viên, là một tác phẩm phức tạp của một Chế Lan Viên cụ thể Tập thơ là sản phẩm của cuộc sống, nó mang máu thịt cụ thể, ưu khuyết cụ thể của một nhà thơ trong một chặng của đời mình Và Chế Lan Viên cũng như bất kì một thi

sĩ nào sau mỗi tập thơ đã ra, ông lại chuẩn bị một chặng mới của thơ mình, một chặng cao hơn nữa

Chặng đường thơ chống Mỹ, Chế Lan Viên lại tiếp tục mùa gặt hái mới

trong thơ với các tập Hoa ngày thường – chim báo bão (1967), tập thơ này thể

hiện sự chuyển hướng mạnh bạo trong phong cách của Chế Lan Viên Do đó,

Lê Đình Kỵ đã nhận xét: “Nếu Ánh sáng và phù sa đã đưa nhà thơ “từ thung

lũng đau thương ra cánh đồng vui” và cái vui ở đây là của một cá nhân đang

cố gắng khắc phục những trắc trở riêng để hòa vào cái vui chung của cuộc

sống chan hòa ánh sáng và cuồn cuộn phù sa thì với Hoa ngày thường – Chim

báo bão, Chế Lan Viên đã làm một cuộc chuyển quân, tiến sát tới những

tuyến đầu của cuộc chiến đấu của dân tộc và thời đại Đời sống quần chúng, thời đại là nguồn gốc của mọi giá trị thơ ca lớn nhỏ, văn nghệ sĩ phải không ngừng vươn lên ngang tầm với thời đại và nhân dân mình Thơ Chế Lan Viên

Trang 20

đã cố gắng bám sát đời sống hơn trong cảm hứng, trong nội dung, trong tình

ý, cũng như trong thể hiện” [45, 285]

Tập thơ thu hút người đọc trước hết ở phần thơ chống Mỹ Chế Lan Viên

đã đặt nhiệm vụ chống Mỹ trong ý nghĩa chung nhất: “Đế quốc Mỹ là kẻ thù của dân tộc ta và toàn thể nhân loại, và cái ý nghĩa chung này như muốn nâng

lên tầm triết lý, có những bài thơ mà ngay cái tên đã có ý bao quát: Đế quốc

Mỹ là kẻ thù riêng của mỗi trái tim ta, Tặng bạn gần gửi những bạn đang xa

Nhà thơ đã đánh Mỹ từ nhiều phía, ông đã vạch trần bộ mặt đầy tội ác của giặc qua hàng loạt các bài thơ” [45, 288]

Theo đánh giá của Lê Đình Kỵ thì “Từ Ánh sáng và phù sa cho đến Hoa

ngày thường, Chim báo bão, ta thấy Chế Lan Viên có nhiều tìm tòi sáng tạo,

hình thức thể hiện phong phú, đa dạng, câu thơ đi lại, tới lui, thoải mái nhưng bao giờ cũng theo một nghệ thuật chặt chẽ, tinh tế Ở Chế Lan Viên, con người thơ được sự viện trợ nhiều của con người nghệ sĩ Tất cả đều có tính toán, cân nhắc, cố tạo cho câu thơ có nhiều hiệu quả nhất, vừa thỏa mãn trái tim, vừa thỏa mãn trí tuệ của người đọc” [45, 295]

Tiếp theo trong chặng đường thơ chống Mỹ, chúng ta không thể không

nhắc tới Những bài thơ đánh giặc (1972) Tập thơ ra đời như để tham gia vào

cuộc đấu tranh, thực hiện nhiệm vụ chung: vạch rõ bộ mặt hung bạo, những mưu mô xảo trá của quân thù, phản ánh những ngày gian khổ đau thương nhưng tuyệt vời anh dũng của nhân dân ta và hơn hết là nói lên niềm tin, khát vọng của thời đại Với Chế Lan Viên, chưa bao giờ Tổ quốc lại cao đẹp như những tháng năm kháng chiến chống Mĩ Nhà thơ không ngần ngại khẳng định đó là “những ngày đẹp hơn tất cả”, “ngày vĩ đại”

Hiện thực đời sống thời kì kháng chiến chống Mĩ đã tỏa nắng cho thơ Chế Lan Viên để nhà thơ có thêm nhiều vần thơ tràn đầy sức sống và sức hấp dẫn

Trang 21

Tâm hồn thơ Chế Lan Viên rộng mở hướng tới khắp mọi miền của Tổ quốc

để nhạy bén thu nhận chất thơ của đời sống và hòa nhịp sống của mình với nhịp sống của dân tộc Đặc biệt nhà thơ đã nhận thức sâu sắc hơn về vẻ đẹp của Tổ quốc và sự gắn bó rất đỗi đằm thắm, thiết tha:

Ta đã yêu Việt Nam đẹp, Việt Nam thơ, bát ngát câu Kiều, bờ tre, mái rạ

Mái đình cong cong như bàn tay em gái giữa đêm chèo,

Cánh cò Việt Nam trong hơi hát xẩm xoan, cò lả

Cái đôn hậu nhân tình trong nét chạm chùa Keo

(Thời sự hè 72, bình luận - Những bài thơ đánh giặc)

Với tình cảm nồng nàn, trí tuệ sắc sảo và sự gắn bó sâu sắc với hiện thực đời sống chiến tranh, Chế Lan Viên đã sáng tạo được nhiều vần thơ xúc động đậm đà chất trữ tình Đặc biệt, trong thơ thời sự, Chế Lan Viên đã kết hợp óc khái quát và óc phân tích, các chủ đề trong thơ có tính chất khái quát lớn Đọc thơ thời sự của Chế Lan Viên phải luôn luôn có cái nhìn tổng thể, nhớ đến cái chủ đề khái quát mới thấy được cái hay của thơ Và đây chính là đặc điểm tạo nên phong cách thơ thời sự của ông

Nguyễn Xuân Nam đánh giá về thơ Chế Lan Viên: “Nếu ta cho thơ màu xanh là thơ về tuổi trẻ và hy vọng, thơ màu tím là thơ về tình yêu và nỗi nhớ,

thì Những bài thơ đánh giặc này đúng là những bài thơ màu đỏ: màu đỏ của

niềm tin, màu đỏ của sắc cờ mà anh ca ngợi (Cờ rất đỏ như cờ màu thịnh trị)

Dĩ nhiên đây là một màu trong bảng màu phong phú của thơ Chế lan Viên Các màu ấy bổ sung cho nhau như những tiếng chim trong buổi ban mai làm nên cái đa dạng của hồn thơ anh” [45, 300] Đọc thơ Chế Lan Viên, ta thấy ông có hoài bão lớn, có sức sáng tạo dồi dào, có cách nói mới và trong ba bài

Trang 22

thì bài nào cũng có những đoạn hay nhưng nhìn chung bài Thời sự hè 72, bình

luận có quy mô bề thế và có nhiều đoạn khoáng đạt

Đến Đối thoại mới (1973), chúng ta tiếp tục được tiếp nhận những bài thơ

có âm vang và hơi thở khỏe khoắn như các bài thơ chống Mỹ ở tập Hoa ngày

thường, Chim báo bão và Những bài thơ đánh giặc Và theo ý kiến của

Hoàng Lan: “Những bài thơ chống Mỹ trong tập Đối thoại mới có xu hướng vươn dài, mở rộng cảm xúc trữ tình đến những vấn đề triết học, như: Nghĩ suy

68, Đối thoại mới về câu chuyện cổ, Đường sáng tuyệt vời Và bao trùm các

bài thơ là chất trữ tình hiện đại, chất anh hùng ca, chất trầm tư lịch sử Ngoài mảng thơ chống Mỹ gồm những bài thơ dài, có dung lượng lớn thì trong tập thơ còn xen lẫn những bài thơ ngắn và những chùm tứ tuyệt nhỏ Dường như

sự xuất hiện của một vài chùm tứ tuyệt đã điều hòa không khí, khiến cho tập

thơ thấm đẫm hương vị trữ tình, qua các bài: Chơi chữ về ngõ Tạm sương,

Hoàng thảo hoa vàng, Cầu vồng, Mây của em Ngoài ra, ở một số bài tứ

tuyệt và bài thơ ngắn khác, Chế Lan Viên lại nghiêng về những suy nghĩ có

tính chất triết học, như: Cây giữa chu kỳ, Thời gian không đợi, Nội dung hình

thức Trong tập thơ này còn phải kể đến mảng thơ là những bài đúc kết suy

nghĩ nghề nghiệp của tác giả, người đọc tìm thấy ở đấy khá nhiều vấn đề riêng của thơ Những vấn đề ấy tưởng như đã cũ hoặc không còn gì để nói, nhưng trong suy nghĩ độc đáo lại chứa đầy hình ảnh và sức liên tưởng mạnh

mẽ của Chế Lan Viên Đi qua các mảng thơ trong Đối thoại mới, ngược cả về

những tập thơ trước, tôi muốn nói lên điều cảm nhận trước tiên với thơ Chế Lan Viên Đó là sức mạnh ám ảnh của thơ anh về nhiều phương diện: tình cảm, trí tuệ đối với bạn đọc Chưa nói đến từ trường riêng của mỗi bài thơ tạo

ra xung quanh mình, có thể thơ Chế Lan Viên có một lớp độc giả chưa hẳn là đông đảo, rộng khắp, nhưng tôi vẫn muốn nói đến sức ám ảnh riêng trong thơ

Trang 23

ông Tôi nghĩ rằng cả sức mạnh của thơ Chế Lan Viên chủ yếu được tạo lập

từ vẻ đẹp trí tuệ, trong hiện tượng thơ của anh bao giờ cũng xoáy lên từ ngọn sóng cảm xúc và vươn cao trong cơn lốc trí tuệ” [44, 309] Như vậy, bên cạnh

sự tồn tại nhiều phong cách của nền thơ hiện đại, Chế Lan Viên hiện lên với một sắc màu riêng: nhà thơ trí tuệ của cảm xúc

Mặt khác, Hoàng Lan còn khẳng định rằng: “Bằng hoạt động trí tuệ, Chế Lan Viên đã tự khẳng định cho mình một vị trí nhất định và tạo ra một hướng

đi quan trọng cho nền thơ hiện đại Tuy tập thơ không nhiều những bài thơ hay, rực rỡ chói chang, nhưng nhìn chung, vừa giữ lại được cái tình sâu đậm trong

Ánh sáng và phù sa, cái sắc sảo trí tuệ nổi bật trong Hoa ngày thường, Chim báo bão, Những bài thơ đánh giặc, vừa nâng trí tuệ, cái tình lên những bình

diện mới Vậy nên, vẻ đẹp trong hiện tượng thơ Chế Lan Viên là kết quả của một chủ thể trữ tình có hoạt động trí tuệ đầy năng động và sắc bén” [45, 319] Như vậy, bao trùm lên các tập thơ chống Mỹ là chất chính luận, thời sự và

âm hưởng sử thi hào hùng, mang khí thế cuộc chiến đấu vĩ đại của dân tộc nhưng đồng thời vẫn có mạch thơ về tình cảm gia đình, tình yêu, thiên

nhiên , mà tiêu biểu là những bài trong Hoa ngày thường Những bài thơ này

đã tô điểm và minh chứng cho vẻ đẹp trong trẻo, dịu mát của tâm hồn con người trong những năm tháng dữ dội, khốc liệt của chiến tranh

c Thơ Chế Lan Viên từ sau 1975 đến khi qua đời

Sau 1975, thơ Chế Lan Viên tiếp tục phương hướng đã được mở ra trong giai đoạn thơ chống Mĩ, lúc này thơ ông có phần lắng xuống, hướng về những

vấn đề của cuộc sống hàng ngày Cụ thể như những tập “Hoa trước lăng

người”(1976),“Hái theo mùa”(1977),“Hoa trên đá 1”(1984), “Ta gửi cho mình” (1986), “Hoa trên đá 2” (1988) và đáng kể nhất là ba tập “Di cảo thơ” I,

II, III (1992, 1993, 1996) với khoảng 600 bài thơ và gần 800 trang sách được

Trang 24

xuất bản sau khi Chế Lan Viên qua đời Và theo nhận định của Đoàn Trọng Huy: “Nếu trước 1975, thế giới thơ của Chế Lan Viên hiện ra với không gian của chiến trường, là những chiến lũy, hầm hào, những trận tuyến thì sau 1975 lại nhường chỗ cho không gian đời thường Giờ đây, Chế Lan Viên chuyển sang khuynh hướng khai thác chính con người với những diễn biến trong cuộc sống đời thường Trước đây, nét nổi bật trong thơ Chế Lan Viên là nét chính luận thì dần dà nó đã chuyển thành chính luận - triết luận” [55, 194] Vậy nên, thơ những năm cuối đời của ông trĩu nặng những suy tư về cuộc đời, về sự nghiệp

Bên cạnh sự vận động của nội dung, của tư duy là ngôn ngữ mới Giọng điệu đã có nhiều đổi khác, giọng cao xưa kia hợp với những tráng ca, những khúc bi hùng, những khẩu lệnh , thấm đẫm chất sử thi anh hùng thì giờ đây ông lại hát ca với một tiếng thơ không kém mạnh mẽ nhưng sâu lắng hơn,

trầm tĩnh hơn: “Giọng cao bao nhiêu năm, giờ anh hát giọng trầm/ Tiếng hát

lẫn vào im lìm của đất” (Giọng trầm – Di cảo thơ 1)

Đây không phải là sự đổi giọng đến bất ngờ như cảm nghĩ của một số

người khi đến với Di cảo thơ Sự tự nhận thức, nghiền ngẫm về bản thân đã

giúp cho Chế Lan Viên không rơi vào sự “ảo tưởng”, ông quan niệm mỗi câu thơ đều phải vượt lên mình và ông sống với sức mạnh của tấm lòng nhân hậu,

sự yêu đời, vì thế tâm hồn nhà thơ càng trở nên thanh cao hơn trong cuộc

sống hiện thực Và ông đã xúc động cảm nhận: “Sau anh còn mênh mông

nhân loại/ Đừng nghĩ mình là người đi cuối/ Phải để lại dấu chân, nhành cây, viên sỏi / Cho người theo sau không cô đơn” (Sau anh – Di cảo thơ 3)

Dường như Chế Lan Viên nghĩ nhiều đến cái chết như để đừng tuyệt vọng

Phải chăng đó là sự biểu hiện tâm thế và lẽ sống cao quý của nhà thơ khi viết Từ

thế chi ca để lại cho người đời bằng những lời thơ tâm huyết giàu triết lí:

Trang 25

Những bạn bè yêu anh sẽ gặp anh trong cỏ Trong hạt sương, trong đá

Anh tồn tại mãi Không bằng tuổi tên, mà như tro bụi, Như ngọn cỏ tàn đến tiết lại trồi lên

(Từ thế chi ca – Di cảo thơ 3)

Có thể nói, trên từng chặng đường sáng tác, ngay cả khi nằm trên giường bệnh, Chế Lan Viên vẫn luôn sống hết mình cho đời và cho thơ Do

đó, theo Đoàn Trọng Huy: “Trên tất cả những nỗi niềm day dứt, thiết tha,

da diết, có lẽ cái đáng trân trọng nhất ở những bài thơ cuối đời là cái tâm của nhà thơ Chế Lan Viên biết chia sẻ cùng ta những nhận xét, những nghĩ suy sâu sắc về tình thế, về đất nước, về cuộc đời không đơn giản, cũng như

cả những lo toan, xao xuyến, buồn vui chân thật được trải nghiệm qua năm tháng cuối đời” [55, 200]

Còn theo Nguyễn Quốc Khánh: “Đọc ba tập Di cảo thơ của Chế Lan

Viên, người đọc một lần nữa phải “kinh ngạc” về một Chế Lan Viên mới, khác với chân dung ông đã hiện diện trong những trang thơ trước đây Đến

với Di cảo thơ của ông, chúng ta bắt gặp khá nhiều bài thơ có tính chất như

những bản tổng kết về đời mình Mỗi bài thơ như một lời nói trước vành móng ngựa về thời gian Không bi quan, không lạc quan mà là chiêm nghiệm Những chiêm nghiệm trần trụi, không màu mè mỹ tự nhưng sâu sắc Nếu sau

Điêu tàn, ông đi theo cách mạng và quyết tâm vươn lên chiến thắng, vượt qua

những nỗi đau riêng để hòa mình vào niềm vui của cách mạng, thì giờ đây

trong ba tập Di cảo thơ, không những ông không còn “đuổi” những nỗi đau

riêng đi nữa, mà trái lại đủ các sắc thái, đủ các cung bậc của nỗi buồn đau như cùng trỗi dậy, lúc bàng bạc, lúc lại đậm đặc Như vậy, hành trình nghệ thuật

Trang 26

của Chế Lan Viên như một vòng tròn khép kín Ông hướng tâm hồn tới những chân trời tư tưởng khác nhau để rồi cuối đời lại trở về với chính mình Chính

vì lẽ đó mà tiếng thơ trong Di cảo thơ của ông là những tiếng lòng chân thành

và trung thực đến mức muốn lộn trái tâm hồn mình ra cùng bạn đọc Hay nói đúng hơn đó là quá trình khám phá, nhận thức lại mình Đó cũng là một hành trình đầy thử thách của một thi sĩ lớn có bản lĩnh dám sống tận cùng với cá tính của mình Vì đây là những bài thơ viết cho riêng mình nên khi còn sống, Chế Lan Viên thận trọng không công bố Tuy nhiên, đã làm thơ, tức là có nhu cầu bộc lộ tư tưởng và tình cảm với người khác Vậy nên, tiếng thơ của ông không chỉ dành cho riêng mình mà còn là thông điệp của nhà thơ gửi đến độc giả” [45, 379]

Dường như ở Chế Lan Viên, đời nghệ thuật chỉ kết thúc cùng một lúc với

đời người Ông vào đời với một tập Điêu tàn mỏng manh, nhưng từ giã cuộc đời lại có ba tập Di cảo thơ dày dặn nhất, nhiều bài nhất và được in ấn đẹp

nhất trong các tập thơ của ông Con đường thơ của Chế Lan Viên đáng để chúng ta tìm hiểu và nghiên cứu

Hơn nửa thế kỷ cầm bút, Chế Lan Viên được xem là một nhà thơ đã gắn

bó Đời và Thơ mình với dân tộc và sự nghiệp Cách mạng, đồng thời luôn thể hiện những khát khao sáng tạo của một bản lĩnh, một tâm hồn thi sĩ Nhiều tác phẩm của ông đã có tiếng vang lớn, in đậm dấu ấn trong lòng độc giả, trở thành những đỉnh cao thành tựu của thơ Việt Nam hiện đại Kể từ sự xuất hiện

tập thơ Điêu tàn cho đến những tập Di cảo thơ, Chế Lan Viên đã sống cuộc

đời của một nghệ sĩ lớn Một nghệ sĩ gắn với những biến chuyển thời đại, với

số phận dân tộc Hay nói cách khác, ông là nhà thơ của thế kỷ, người có công đầu trong việc tạo dựng nên khuôn mặt và tầm vóc thơ Việt Nam hiện đại

Trang 27

1.2.2 Vị trí của thơ tứ tuyệt trong sự nghiệp thơ Chế Lan Viên

1.2.2.1 Bảng thống kê số bài tứ tuyệt trong các tập thơ Chế Lan Viên

Tâp thơ Tổng số bài

thơ Tứ tuyệt

Tỷ lệ (%) thơ

tứ tuyệt trên tổng số bài

Ánh sáng và phù sa 69 36 52,1% Hoa ngày thường, chim

báo bão

Những bài thơ đánh giặc 3 0 0%

Hoa trước lăng Người 14 0 0%

Trang 28

1.2.2.2 Bảng phân loại thơ tứ tuyệt Chế Lan Viên

Đối thoại mới

Hái theo mùa

Hoa trên

đá 1

Ta gửi cho mình

Hoa trên

đá 2

Di cảo thơ

1

Di cảo thơ

2

Di cảo thơ

Do vậy, thể loại không ngừng vận động và sinh thành trong lịch sử Và thể loại thơ tứ tuyệt cũng không nằm ngoài quy luật đó

Trang 29

Như chúng ta đã biết, đặc điểm bề ngoài dễ nhận thấy của tứ tuyệt là hình thức nhỏ bé Tuy số lượng câu chữ rất ít nhưng dường như các tác giả của thể loại thơ này không bao giờ đặt cho nó những điều vụn vặt Nếu nói vẻ đẹp của thơ là cô đọng thì những bài thơ tứ tuyệt đã thể hiện một cách tinh chất nhất

vẻ đẹp cô đọng ấy Vì thơ tứ tuyệt có khuôn khổ câu chữ hạn hẹp nên đòi hỏi thơ tứ tuyệt phải tạo ra một điểm nhìn thế giới theo cách riêng, để nắm bắt được bản chất của đời sống, các chi tiết, hình ảnh chọn lọc, kết cấu chặt chẽ, tạo sức ngân vang Tức là trong một sự hạn định tối thiểu về câu chữ thơ tứ tuyệt cần vận dụng tối đa các biện pháp nghệ thuật để truyền đến cho người đọc cảm xúc trọn vẹn không thua kém các thể loại khác: “lời hữu hạn mà ý vô cùng” Mặt khác, tứ tuyệt còn có đặc điểm nổi bật là tính khái quát, từ những hình ảnh bình thường khái quát thành quy luật, bản chất Đây chính là thế mạnh của thơ tứ tuyệt Chính nhờ đặc điểm này mà thơ tứ tuyệt được nhiều nhà thơ hiện đại ưa thích và vận dụng, và Chế Lan Viên là một trong số những nhà thơ hiện đại đã tìm thấy những nét tương đồng của thể thơ này với hồn thơ suy tưởng, giàu triết lí của ông Ngoài thể thơ này, Chế Lan Viên còn rất thành công ở thể loại thơ tự do, bởi thế nên nhà nghiên cứu Hồ Thế Hà đã khẳng định: "Hai thể loại được Chế Lan Viên quan tâm hơn cả là thơ tự do và thơ tứ tuyệt Đó là hai thể loại trái ngược nhau và tưởng là khó dung hòa được trong một nhà thơ vậy mà ở cả hai thể loại này, ông đều để lại những bài thơ đặc sắc và độc đáo" [45, 207]

Qua bảng thống kê và phân loại trên, chúng ta đã thấy rất rõ sau hơn nửa thế kỷ cầm bút, Chế Lan Viên đã để lại một khối lượng tác phẩm thơ khá đồ

sộ, gồm 15 tập thơ với khoảng hơn 1038 bài, trong đó thể loại thơ tứ tuyệt đã

có trong 10 tập và chiếm tới 382 bài (chiếm khoảng 36,7%) Đặc biệt, trong thể thơ tứ tuyệt Chế Lan Viên còn có nhiều dạng thể thơ khác nhau, thể 5 chữ,

6 chữ hợp thể, biến thể Ngoài hai thể truyền thống 5 chữ, 7 chữ thì trong

Trang 30

thơ ông còn có thêm thể 8 chữ, 6/8 và hợp thể, biến thể cũng chiếm một số lượng bài thơ khá lớn Điều đó cho thấy, thơ tứ tuyệt Chế Lan Viên đã có sự cách tân, phá cách về mặt hình thức, ông đã kết hợp hài hoà giữa truyền thống

và hiện đại để qua hình thức phong phú mà chuyển tải nhiều nội dung

Chúng ta thấy rằng, việc sử dụng thể thơ tứ tuyệt không phải là dễ Yêu cầu của thể loại tứ tuyệt là phải cô đúc về nội dung và chặt chẽ về hình thức hay nói đúng hơn là phải hay, lạ, ngắn gọn, sức nén thật cao, sức vang thật xa, sức gợi thật lớn Do vậy, chỉ những nhà thơ tài năng như Chế Lan Viên mới

thực sự thành công ở thể thơ này Chế Lan Viên đã có bài thơ lấy nhan đề Tứ

tuyệt nói về quy trình làm thơ của mình:

Uốn cả hồn anh thành tứ tuyệt Kẹt trong hẻm đá, voi quỳ chân

Đã đưa ngà được lên trăng sáng Vòi chửa buông xong để uống vần

(Tứ tuyệt – Hái theo mùa)

Ở đây, Chế Lan Viên đã liên tưởng một bài thơ tứ tuyệt như con voi đang bị kẹt trong hẻm đá, nhà thơ đã vẽ ra thế bí trong quá trình sáng tạo, dường như ý tưởng đã rõ ràng nhưng vần điệu thì chưa chỉnh nên bài thơ chưa thể đứng lên được Như vậy, để có một bài thơ tứ tuyệt hay, một bài thơ tứ tuyệt hoàn chỉnh thì không cần chỉ có ý tưởng hay mà vần điệu cũng giữ vị trí quan trọng

Nếu như thể thơ tứ tuyệt làm theo đúng quy tắc của thể thơ Đường luật thì yêu cầu niêm, luật, vần phải chặt chẽ và chủ yếu tồn tại dưới hai hình thức là ngũ ngôn và thất ngôn thì đến thơ tứ tuyệt Chế Lan Viên đã có nhiều thay đổi, không chỉ ý và tứ mới mà hình thức đã có sự cách tân Những câu thơ lục bát, song thất lục bát, thơ thất ngôn, lục ngôn, ngũ ngôn, tứ ngôn lẫn thơ tám chữ,

Trang 31

tạp ngôn đều được nhà thơ sử dụng trong thể thơ tứ tuyệt, miễn là bài thơ bốn câu nhưng không hạn chế số từ

Biết bao thế hệ nhà thơ ưu tú đã sử dụng thể thơ tứ tuyệt để sáng tác nên những bài thơ rất hay và còn được lưu truyền mãi đến ngày nay Và Xuân Diệu

trong bài phê bình Ánh sáng và phù sa đã dẫn, khi nhận xét tứ tuyệt Chế Lan

Viên cũng giải thích rõ: “Tuyệt là thể thơ rất khó, phải tập trung, hàm súc và cần có sự sáng tạo gì như là sự bất ngờ, một uẩn khúc trong bốn câu” [42, 142]

Trang 32

Chương 2

ĐỀ TÀI VÀ TỨ THƠ TRONG THƠ TỨ TUYỆT CHẾ LAN VIÊN 2.1 Đề tài

2.1.1 Khái niệm đề tài

“Đề tài là phương diện khách quan của nội dung tác phẩm văn học Đọc bất cứ tác phẩm nào chúng ta cũng gặp những người những cảnh và tâm tình

cụ thể sinh động Đó là phạm vi miêu tả trực tiếp của tác phẩm Tính chất của phạm vi miêu tả trực tiếp trong tác phẩm có thể hết sức đa dạng: chuyện con người, con thú, cây cỏ, chim muông, đồ vật, chuyện thần tiên, ma quái, chuyện quá khứ ” [66, 259]

2.1.2 Đề tài thơ tứ tuyệt trong hệ đề tài thơ Chế Lan Viên

Nguyễn Quốc Khánh đã nhận định: “Chế Lan Viên là nhà thơ phong phú vào bậc nhất trong nền thơ Việt Nam hiện đại Phong phú về nội dung, biên

độ cảm xúc rất rộng, đề tài thơ ông là muôn mặt của một thời đại đầy biến động” [50] Nếu trước Cách mạng tháng Tám, đề tài ông hướng đến là

“trường thơ loạn”, với những xương, máu, sọ người , những cảnh đổ nát ở

tháp Chàm thì sau cách mạng đề tài thơ ông đã có nhiều thay đổi, ông hướng

về cuộc sống nhân dân và đất nước, về lãnh tụ và cách mạng, về cuộc sống hàng ngày, về thời sự trong nước và trên thế giới, về kẻ thù, về người yêu, về gia đình, và về chính nghề thơ của mình Với hệ thống đề tài này, nên thơ Chế Lan Viên đã bao quát được mọi vấn đề diễn ra trong cuộc sống, từ những vấn đề rất nhỏ cho đến những vấn đề lớn lao mang tính thời đại

Như đã nói, đề tài trong thơ tứ tuyệt của Chế Lan Viên khá phong phú và

đa dạng Thơ tứ tuyệt của ông có những bài thơ tâm tình đời tư đằm thắm tình người và sâu xa về triết lý Đó là tình yêu, tình vợ chồng, tình cha con, bè bạn Đó còn là những bài thơ về mẹ, về thiên nhiên và những bài thơ thể hiện

sự trăn trở về nghề, về thơ, hay còn viết về tôn giáo mà nhất là Phật giáo

Trang 33

Không chỉ có thế, thơ tứ tuyệt của ông còn đề cập đến chuyện chiến đấu sôi động, chuyện quốc gia đại sự và mọi vấn đề trên thế giới Như vậy, với thể thơ có khuôn khổ nhỏ bé này, Chế Lan Viên đã gửi gắm ở đó không chỉ những đề tài bình dị mà còn là những đề tài lớn về lịch sử, xã hội Đặc biệt, đề tài thơ ông dù ở giai đoạn nào cũng mang tính khái quát và giàu triết lý, không phải là thứ triết lý sách vở, nói cho sang mà là thứ triết lý ông đưa ra để sống, để giải quyết việc đời và để ứng xử với đồng loại

Sự rộng lớn, bao quát ở đề tài luôn tương ứng với hình thức biểu hiện

phong phú Nếu ở Điêu tàn không có bài thơ tứ tuyệt nào mà chủ yếu sử dụng thể thơ 7 chữ, 8 chữ thì đến Ánh sáng và phù sa đã có tới 36 bài tứ tuyệt trong

tổng số 69 bài (chiếm 52,1%), và ở các tập thơ sau, thể thơ này ngày càng khẳng định được vị trí của mình trong sự nghiệp thơ Chế Lan Viên Ông là người tích cực trong việc tìm tòi đổi mới dáng vẻ câu thơ, bài thơ, đặc biệt đổi mới ở thể thơ tứ tuyệt Chế Lan Viên không chỉ phát huy cao độ những mặt mạnh của thơ tứ tuyệt truyền thống mà ông còn mạnh dạn cách tân thơ tứ tuyệt cho phù hợp với thời đại mới Chính vì thế mà tính dân tộc và hiện đại được kết hợp hài hòa trong tứ tuyệt Chế Lan Viên

2.1.2.1 Đề tài phản ánh cuộc sống, tâm sự về nghề thơ và về thơ trong thơ tứ tuyệt Chế Lan Viên

Có thể nói, nhiều bài thơ thể hiện những suy nghĩ, tâm niệm của Chế Lan Viên về thơ, về nghề làm thơ và những gì rộng lớn hơn cả nghề thơ ấy là một mảng thơ về thơ rất độc đáo, sáng tạo, xuất phát từ ý thức và trách nhiệm của Chế Lan Viên đối với công việc làm thơ Và hơn hết, qua những vần thơ này, người đọc sẽ tìm thấy nhiều ý kiến, quan điểm sâu sắc của Chế Lan Viên về nghệ thuật làm thơ, về nhà thơ, về mối quan hệ giữa nội dung và hình thức, về

ý nghĩa của thơ đối với cuộc đời Đặc biệt, những bài thơ về thơ này của Chế Lan Viên luôn được soi rọi từ một tư duy sắc sảo, ưa tìm tòi, ưa triết lý, biện

Trang 34

luận nhưng không khô khan, trừu tượng vì nó được tắm mình trong cảm xúc chân thành, nồng nhiệt của nhà thơ Bằng vốn sống và vốn văn hóa uyên bác, bằng trí tuệ sắc sảo và trực cảm nghệ thuật tinh tế, những suy tư, trăn trở về nghề thơ, về cuộc sống đã được ông biểu hiện qua những vần thơ, những tuyên ngôn bằng thơ dưới nhiều hình thức thể loại, trong đó có thơ tứ tuyệt Thơ tứ tuyệt Chế Lan Viên về đề tài này nổi lên một số bài khá tiêu biểu cho suy nghĩ

và quan niệm thơ của ông: Đi thực tế, Nội dung và hình thức, Mất giá

Trong sự nghiệp sáng tác của mình, Chế Lan Viên đã dùng thơ để tự đối thoại, giãi bày với chính mình và với đời Thế giới thơ của Chế Lan Viên là thế giới siêu hình với những bóng ma chập chờn, với đêm đen bao phủ nên

nhà thơ luôn quằn quại với câu hỏi “ta là ai?”

“Ta là ai?”, như ngọn gió siêu hình Câu hỏi hư vô thổi nghìn nến tắt

“Ta vì ai?”, khẽ xoay chiều ngọn bấc Bàn tay người thắp lại triệu chồi

(Hai câu hỏi – Ánh sáng và phù sa)

Những câu hỏi trên đã cho thấy Chế Lan Viên rất quan tâm đến những vấn

đề cơ bản của thơ Đó là mục đích của thơ, đối tượng và mạch nguồn sức sống của thơ, là nhiệm vụ của nhà thơ trong sự nghiệp cách mạng Và bài thơ trên đã trả lời cho những câu hỏi về bản thể từ lâu đã làm ông suy tư, trăn trở

Khi tìm được hướng đi cho mình thì câu trả lời cho câu hỏi “ta là ai?” quả là

bé nhỏ và đơn giản Nhưng từ “ta là ai?” đến “ta vì ai?” là cả hai chân trời

khác nhau trong sáng tạo thơ ca, là cả hai hướng đối lập nhau trong sáng tạo nghệ thuật Lúc này, ông làm thơ là vì cách mạng, vì nhân dân

Sau khi đã nhận được hướng đi chân chính của mình, Chế Lan Viên không quên ngoái lại để nhìn nhận cái dĩ vãng buồn thương trước kia để tự

kiểm điểm bản thân mình: “Suốt một đời ăn hạt gạo nhân dân/ Lần thứ nhất

Trang 35

nhà văn đi học cấy/ Bỗng hối tiếc nghìn câu thơ nước chảy/ Chửa “vì người” bằng một bữa cơm ăn” (Đi thực tế - Ánh sáng và phù sa)

Đây chính là sự băn khoăn, day dứt của con người khi nhận thấy trách nhiệm thiêng liêng, cao cả của mình đối với cuộc đời mà chưa làm được gì

Và ông nhận ra thơ nằm ngay trong cuộc sống rất bình dị và đời thường và chính nhân dân là nguồn cảm xúc để ông sáng tác và đối thoại

Với Chế Lan Viên, làm thơ cũng là một cách đối thoại với đời, với tất cả mọi người Điều đó cho thấy ông luôn nặng lòng với đời và ẩn chứa trong lòng ông là nỗi niềm mong được chia sẻ Vậy nên, có nhiều lúc ông làm thơ như để trần tình về những việc đã làm trong quá khứ, như sự ăn năn:

Mẹ già chạy gạo nuôi anh từng ngày từng buổi Một tháng bao lần ngô ghế theo khoai

Thế mà anh cứ đi tìm nắm cỏ trên trời để hái

Mẹ cần ăn, anh cho mẹ nắm cỏ trên trời

(Hái trên trời – Di cảo thơ 3)

Lời thơ là những lời lẽ ăn năn, nhà thơ như muốn bày tỏ trước cuộc đời về một thời đã lạc lối của mình Đó là thời nhà thơ rơi vào tư tưởng siêu hình, xa rời thực tế Và khi nhận thức được điều đó ông cũng rất ân hận, ông đã đấu tranh để khẳng định lại mình

Những năm cuối đời, Chế Lan Viên trở lại với những trăn trở băn khoăn

về đời sống thế sự, những suy tư triết lý về bản thể, về sự sống và cái chết, hư

vô và tồn tại, về thơ ca và con đường thơ của mình Vậy nên, nhà thơ tự vẽ lại cái “tôi” phức tạp của mình bằng biểu tượng tháp Bayon bốn mặt, mà trong

đó ba phần chìm ẩn tận trong sâu thẳm, còn một phần còn lại là hiện tại của chính cuộc đời mà ông đang phải đối diện, và khi cái chết đến gần ông mới

dám “lộn trái” mình ra để tự vấn: “Anh là tháp Bayon bốn mặt/ Giấu đi ba

Trang 36

còn lại đấy là anh/ Chỉ mặt đó mà nghìn trò cười khóc/ Làm đau ba mặt kia trong cõi ẩn hình”(Tháp Bayon bốn mặt – Hoa trên đá 2)

Dường như nhà thơ giãi bày và thừa nhận phần góc khuất của mình Trong những năm tháng chiến tranh tàn khốc, do hoàn cảnh nên nhà thơ phải che dấu cái riêng tư đi và khoác lên mình cái ta chung của dân tộc để đấu tranh giành lại sự sống Và khi hòa bình lập lại, vào những năm cuối đời, nhà thơ như làm một cuộc tổng kết và tự kiểm điểm về mình một cách thành thực Ngoài những băn khoăn, tự vấn lòng mình và đối thoại với đời, Chế Lan Viên còn có nhiều vần thơ thể hiện những ám ảnh về thời gian chảy xiết, về cái chết Nỗi ám ảnh về thời gian là nỗi ám ảnh muôn đời của người nghệ sĩ,

của nhà thơ, và hoa trong thơ Chế Lan Viên cũng nói lên điều đó: “Lòng rất

là vô lý/ Mừng hoa sữa vào thu/ Lại tiếc hè quá vội/ Chưa kịp hái sen hồ”

(Thời gian không đợi - Đối thoại mới)

Có thể nói, thơ của Chế Lan Viên đã khắc họa được dòng thời gian vận động mang nhịp sống của cuộc đời, nhất là trong những năm tháng cuối đời, ý

thức về thời gian hiện hữu trong hầu hết các bài thơ Di cảo của ông

Giữa cuộc sống bộn bề và phức tạp, khi mà Chế Lan Viên đang phải đối diện với ốm đau, bệnh tật, đặc biệt là căn bệnh hiểm nghèo, hơn lúc nào hết, ông càng nhận thức sâu sắc quy luật thời gian trôi đi không bao giờ trở lại, và tuổi xuân không bao giờ “thắm” đến hai lần Đó chính là quy luật của cuộc

sống:“Chuyến xe sau không còn anh nữa/ Xe vẫn chạy nghìn đời chỉ vắng

anh thôi/ Nguyễn Trãi, Nguyễn Du từng đi chuyến trước/ Những chuyến xe không có khứ hồi” (Chuyến xe – Di cảo thơ 1)

Chuyến xe ấy vận động theo dòng chảy của thời gian nên chuyến xe

không có “khứ hồi” Đặc biệt, khi đặt trong mạch chảy chung của thời gian

khách quan, thời gian đời người là hữu hạn và cũng cùng chung trong hướng vận động một chiều, đã đi là không trở lại:

Trang 37

Cây dương vàng mùa thu Nga một lần anh thấy Cây palma Cuba và cỏ non Pari cũng chỉ một lần anh thấy Tuyết ra sân bay một lần ấy rồi vĩnh biệt

Trái đất, ăn một miếng trái ấy rồi, không ăn nữa, nghìn năm

(Một lần – Di cảo thơ 3) Tất cả chỉ “một lần” mà thôi, khi nhớ tới miền đất ông đã từng qua, đã

từng in dấu bao kỉ niệm, nhà thơ đồng thời nhận thức được quy luật một đi không trở lại Thời gian là dòng chảy xuôi chiều và khi càng cận kề với cái chết nhà thơ mới càng nhận rõ hơn quy luật tất yếu ấy

Vì nhận thức được thời gian trôi đi không bao giờ trở lại, vì nhận thức được mình đang phải đối diện với cái chết ở phía trước nên Chế Lan Viên đã chạy đua với thời gian bằng cách khẩn trương lao động, khẩn trương sáng tác Với Chế Lan Viên, được lao động, sáng tạo nghệ thuật và được cống hiến cho đời những tác phẩm văn học là khát vọng không nguôi trong tâm hồn ông Nhưng để viết được thì nhà thơ phải biết hòa mình vào cuộc sống của nhân dân, phải đi đến “trăm miền đất nước”, để lắng nghe và rung động với âm thanh ríu rít, tràn đầy sức sống của cuộc đời Tức là nhà thơ phải bám sát cuộc sống hiện thực và điều này đã được Chế Lan Viên hình tượng hóa thành hình ảnh con tằm ăn trăm vạn lá dâu xanh, con ong cần mẫn hút nhụy của những vườn hoa trăm miền để tạo ra thứ tơ óng ả, tạo nên chất mật ngọt cho đời:

“Nhà thơ như con ong biến trăm hoa thành một mật / Một giọt mật thành, đời vạn chuyến ong bay” (Và ong – Hái theo mùa), và “Nhà thơ là con tằm từ đợt dâu này qua đợt dâu kia cần mẫn / Xe sợi tơ mình là lấy từ sự sống để mà xe”

(Tằm và nhện – Hái theo mùa) Ông viết bằng niềm say mê và yêu nghề nên dường như ông không còn nhận thức được thời gian trôi đi quá nhanh: “Anh

như người chạy ngút hơi về trang giấy/ Về đến nơi, nó đã hóa chân trời/ Cái

Trang 38

ánh nắng trên cao nó lừa anh đấy!/ Anh ngỡ còn sớm mà, hóa đã tuổi năm mươi!” (Chân trời – Hái theo mùa)

Cả cuộc đời ông đã cống hiến hết mình cho nghệ thuật nên hơn ai hết, ông hiểu việc sáng tạo vất vả như thế nào Ông cho rằng, sáng tạo thơ không phải

là sự sao chép một cách thụ động mà phải là một quá trình lao tâm khổ tứ, là

sự nghiền ngẫm về hiện thực Muốn làm được như vậy thì nhà thơ phải “chịu suy nghĩ”, phải đào sâu, lật đi lật lại các vấn đề để phát hiện ra cái mới trong mạch ngầm của hiện thực, để có cách nói mới và từ đó mới tác động sâu sắc vào trí tuệ người đọc

Bên cạnh việc thay đổi nội dung thơ, Chế Lan Viên cũng hết sức chú ý đến hình thức thơ Ông kịch liệt phê phán quan niệm chỉ chú trọng nội dung

mà xem nhẹ hình thức Với ông, thay đổi hình thức nhưng hình thức đó phải

có đủ khả năng diễn tả mọi sắc thái tinh tế của tâm hồn, mọi dáng vẻ của cuộc đời đang chuyển động từng giờ, từng phút, hình thức đẹp phải gắn với tư

tưởng đẹp: “Những lá thơm hái lúc về già/ Hái những lá có hương tư tưởng/

Khi cây đã hóa trầm trong ruột/ Lá đủ rồi phải đợi gì hoa” (Nội dung và hình

thức - Đối thoại mới)

Và tiếp nối của việc thay đổi hình thức là “đổi giọng” cho câu thơ Sau khi

“từ thung lũng đau thương ra cánh đồng vui”, Chế Lan Viên đã đổi giọng từ

“Xưa tôi hát bây giờ tôi tập nói / Chỉ nói thôi mới nói hết được đời” Bởi lúc

này cuộc đời đang rộng mở trong hồn thơ Chế Lan Viên, ông nói nhanh, nói nhiều như để bù lại khoảng thời gian trước đây ông chỉ dành để khóc Và vào những năm cuối đời, ông thấy số ngày càng như ngắn lại nên một lần nữa ông

tiếp tục đổi giọng: “Giọng cao bao nhiêu năm giờ anh hát giọng trầm/ Tiếng

hát lẫn với im lìm của đất/ Vườn lặng im mà thơm mùi mít mật/ Còn hơn anh

rồ giọng hát vang ngân” (Giọng trầm – Di cảo thơ 2)

Trang 39

Như vậy, trong sự nghiệp sáng tác của mình, Chế Lan Viên luôn tìm cách đổi mới hình thức thơ để làm sao cho phù hợp với nội dung cần phản ánh trong từng giai đoạn

Nhà thơ không phải chỉ biết đổi mới câu thơ, lời thơ mà còn phải có trách nhiệm với ngòi bút của mình Đặc biệt, khi đất nước ta bước vào một giai đoạn mới với bao nhiêu biến động của đời sống xã hội từ chính trị đến kinh

tế, văn hóa, mà đặc biệt là sự tác động của nền kinh tế thị trường Chính sự tác động đó đã làm cho mọi giá trị của đời sống vật chất lẫn tinh thần có nguy

cơ bị đảo lộn, bị chi phối và chắc rằng những nghệ sĩ, những nhà thơ cũng sẽ

bị tác động bởi đời sống đó Nhiều nhà thơ đã không giữ được đúng thiên

chức của người nghệ sĩ sáng tạo cái đẹp: “Những nhà thơ mất giá/ Lại thường

hay đổi tiền/ Mong dùng nhiều chữ lạ/ Lừa người tiêu quá quen” (Mất giá – Hoa trên đá 2)

Đối với Chế Lan Viên, dù hoàn cảnh sống có thay đổi thế nào thì nhà thơ cũng phải viết bằng chính cái “tâm” của mình, nhà thơ phải có tâm hồn nhạy cảm, có cái nhìn thấu thị Vậy nên, ông phê phán những nhà thơ thích thay đổi nhưng lại là theo kiểu “đổi tiền” để đánh lừa người đọc và ông cho đó là

những “nhà thơ mất giá” Chế Lan Viên đã cảnh báo và phê phán mọi thứ giả

hiệu, mọi kiểu dối trá, mọi lối cơ hội chủ nghĩa chỉ có thể đưa đến phản thơ, phản nghệ thuật

Như vậy, qua những quan niệm về thơ và về nghề thơ được thể hiện trong thơ tứ tuyệt của Chế Lan Viên, ta thấy ông vừa như đối thoại với chính mình, vừa như đối thoại với người đọc, lại vừa như đang tranh luận với đồng nghiệp Những suy nghĩ của ông về thơ là những đóng góp quý báu vào lý luận thơ, bởi tất cả những điều ông đưa ra là được đúc rút từ trải nghiệm của một người có sự nghiệp sáng tác gần nửa thế kỷ, với 15 tập thơ và nhiều bài phê bình, tiểu luận

Trang 40

2.1.2.2 Đề tài về lịch sử cách mạng và kháng chiến, về xã hội, đất nước và con người Việt Nam trong thơ tứ tuyệt Chế Lan Viên

a Đề tài về lịch sử cách mạng và kháng chiến

Có thể nói rằng, đề tài thơ tứ tuyệt của Chế Lan Viên được ông khai thác trên mọi phương diện, từ chuyện tình yêu, chuyện xã hội đến chuyện chiến đấu Những cuộc chiến đấu gian khổ mà quật cường của quân dân ta trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ đã được ông thể hiện khá cụ thể

và thành công trong thơ tứ tuyệt của mình

Nếu như trong Điêu tàn, tâm hồn thơ ông chỉ toàn là nỗi buồn, toàn là sọ người, là bóng ma , thì đến Gửi các anh, khi mà ông đã gắn mình với cuộc

kháng chiến cũng tức là khi ông đã cảm nhận được cái đẹp, cái anh hùng Và lúc này, thực sự ông đã thấm thía và cảm phục những hy sinh thầm lặng, những chiến công to lớn của anh bộ đội, người giao liên Tuy vậy, tập thơ mới chỉ là sự thể nghiệm ban đầu nên mặt hạn chế còn nhiều

Trong Ánh sáng và phù sa có những vần thơ ghi lại nỗi bồi hồi, xúc động

về sự hồi sinh của đất nước: “Chỉ một cành hoa Tôi sững sờ/ Đất này xưa

giặc chiếm, không hoa/ Tôi vui lòng đổi trăm mùa khác/ Lấy nhành hồng đây,

nở chậm mùa” (Cành hoa nhỏ - Ánh sáng và phù sa)

Và những gian khổ khó khăn trong buổi đầu xây dựng cuộc sống mới mà

con người phải nỗ lực để vượt qua: “Nhớ xuôi, trông mãi mảnh tin nhà/ Nay

được phong thư nước suối nhòa/ Chẳng dám giận nhiều con thác lũ/ Thương tình chú ngựa khổ đường xa” (Thư mùa nước lũ – Ánh sáng và phù sa)

Bài thơ hiện lên một chuỗi cảm xúc, có nhớ, có trông và có giận Không

nhớ, không trông làm sao được khi mà mong mãi mới được “phong thư nước

suối nhòa” Đó là diễn biến tâm lí rất bình thường của người xa quê hương,

nhưng cái hay ở đây là câu kết của bài thơ, dường như cái lí và tình trong bài thơ đã đan cài vào nhau, ba câu đầu là nói về lí thì câu kết lại thể hiện cái tình

Ngày đăng: 04/10/2021, 17:08

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w