Nh- trên đã xác định, mục đích của đề tài là nghiên cứu đặc tr-ng hình thức ngôn ngữ bao gồm cách tổ chức vần - nhịp và các biện pháp tu từ trong thơ tám tiếng của Chế Lan Viên từ đó là
Trang 1Tr-ờng đại học vinh
Khoa ngữ văn
Bùi Thị Thoa
Đặc điểm ngôn ngữ
thơ tám tiếng của Chế Lan Viên
Khóa luận tốt nghiệp đại học
Chuyên ngành Ngôn ngữ học
Vinh - 2008
Trang 2Tr-ờng đại học vinh
Khoa ngữ văn
Đặc điểm ngôn ngữ
thơ tám tiếng của Chế Lan Viên
Khóa luận tốt nghiệp đại học
Trang 3ca ngày nay không bó hẹp trong khuôn khổ những quy định về hình thức thơ truyền thống mà nó dung nạp nhiều hình thức khác nhau Tuy nhiên, sự cách tân hình thức này vẫn không làm mờ đi ranh giới của mình, thơ vẫn đứng vững trên lãnh địa của thơ, chẳng hạn thể thơ tám tiếng là một sáng tạo của phong trào thơ mới, một bộ phận quan trọng của thơ mới đ-ợc viết bằng thể thơ này Bài thơ tám tiếng không hạn định về số câu, vần gieo bằng vần chân nh-ng hầu nh- không có vần l-ng Lối gieo vần có sự kết hợp giữa vần liên chân với lối gieo vần trong thơ ca ph-ơng Tây Khi vận dụng thể loại thơ tám tiếng vào sáng tác của từng tác giả thì quy luật chung của sự phát triển về hình thức của thơ ca hiện đại cũng thể hiện khá rõ nét trong từng nhà thơ Điều đó đ-ợc
khẳng định ở tr-ờng hợp Chế Lan Viên trong Điêu tàn Trong tập Điêu tàn
của Chế Lan Viên có 35 bài thơ tám tiếng trên tổng số 36 bài Vậy hình thức của thơ tám tiếng có liên quan với nguồn gốc của sự phát triển thơ ca không? Thể thơ tám tiếng là sự kết thúc cho một quá trình vận động, biến đổi đặc tr-ng và hình thức thể hiện hay là sự mở đầu cho những câu thơ dài trên tám
Trang 4tiếng? Câu hỏi này cần phải đ-ợc quan tâm xem xét Do đó, thơ tám tiếng nói chung, thơ tám tiếng của Chế Lan Viên nói riêng cần đ-ợc nghiên cứu thấu
đáo
1.2 Chế Lan Viên là một nhà thơ tài năng thực sự Ch-a đầy 17 tuổi đã
có tập thơ đầu tay đ-ợc xuất bản gây một tiếng vang lớn trong làng thơ lúc
bấy giờ Và đến tập Điêu tàn, Chế Lan Viên đã gây một chấn động lớn Giữa
lúc các nhà thơ nh- Huy Cận đang chìm đắm trong niềm khắc khoải hoặc bất lực về mối sầu nhân gian hay Xuân Diệu đã bó tay tr-ớc sự trôi chảy của thời gian thì chàng thanh niên ch-a đầy 17 tuổi đã ngạo nghễ xuất hiện tr-ớc bậc
đàn anh lừng danh với một phong cách thơ lạ lùng và sắc nét Ông đ-ợc xem
là một trong những nhà thơ Việt Nam lớn nhất của thế kỉ XX, là sự hội tụ của tài năng, trí tuệ, t- duy nghệ thuật sắc sảo của ng-ời nghệ sĩ tr-ớc cuộc đời Tìm hiểu thơ tám tiếng của Chế Lan Viên một phần nào đó giúp chúng ta có
đ-ợc cái nhìn thỏa đáng hơn về những đóng góp của ông trong quá trình sáng tạo thơ mới
1.3 Trải qua hàng chục năm nay, Chế Lan Viên là một trong số những
nhà thơ đ-ợc giảng dạy trong hệ thống nhà tr-ờng ở n-ớc ta từ bậc phổ thông cho đến bậc đại học Tuy nhiên, trên thực tế, việc giảng dạy, học tập thơ ông
đang gặp không ít khó khăn cả về t- liệu lẫn cách tiếp cận Vì lẽ đó, nghiên cứu vấn đề này, chúng tôi hy vọng góp phần tháo gỡ những khó khăn v-ớng mắc ấy bằng việc xác lập một h-ớng tiếp cận mới từ những đặc tr-ng thơ ông
2 Lịch sử vấn đề
Nói đến g-ơng mặt thi nhân tiêu biểu làm nên diện mạo của nền thi ca hiện đại thi ca Việt Nam, chúng ta không thể không kể đến tên tuổi của nhà thơ Chế Lan Viên Chế Lan Viên là một nghệ sỹ nhiều tài năng Ông vừa là cây bút văn xuôi, vừa tham gia viết tiểu luận, phê bình, vừa làm thơ ở lĩnh vực nào ông cũng tạo nên đ-ợc g-ơng mặt riêng của mình, để lại đ-ợc dấu ấn phong cách độc đáo Tuy nhiên, công chúng mến mộ và quen nhìn ông với t-
Trang 5Khi Điêu tàn đ-ợc xuất bản (1937), tên tuổi Chế Lan Viên lừng vang
trong công chúng độc giả, làm kinh ngạc giới phê bình văn học và trở thành đề
tài lớn làm d- luận báo chí phải quan tâm Nh- ta đã biết, Điêu tàn “ đột ngột
xuất hiện giữa làng thơ Việt Nam nh- một niềm kinh dị” (Hoài Thanh) đã
đánh dấu tài năng và phong cách thơ Chế Lan Viên tr-ớc cách mạng L-ợng
bài viết về Điêu tàn lên đến con số hàng chục và trong số hàng chục đó là
những bài thơ viết bằng hai thể loại tám tiếng và bảy tiếng trong đó thơ tám tiếng có 35/36 bài, chiếm 97,2%
Từ tr-ớc đến nay, thể loại thơ tám tiếng có rất ít tài liệu nghiên cứu Các nhà nghiên cứu gần nh- ít quan tâm thể loại này Thơ tám tiếng nói chung thơ tám tiếng của Chế Lan Viên nói riêng vẫn còn bỏ ngõ Vì vậy, chúng tôi mạnh dạn đặt vấn đề nghiên cứu hình thức thơ tám tiếng của Chế Lan Viên Dĩ nhiên, khóa luận của chúng tôi mới chỉ là những phác thảo b-ớc đầu
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Nh- trên đã xác định, mục đích của đề tài là nghiên cứu đặc tr-ng
hình thức ngôn ngữ bao gồm cách tổ chức vần - nhịp và các biện pháp tu từ trong thơ tám tiếng của Chế Lan Viên từ đó làm sáng tỏ những nét đặc sắc trong hình thức thể hiện cũng nh- t- duy nghệ thuật của Chế Lan Viên
3.2 Để đạt đ-ợc mục đích đó, chúng tôi đặt ra cho đề tài nhiệm vụ phải
giải quyết những vấn đề sau đây:
Thứ nhất, chỉ ra các đặc tr-ng hình thức nghệ thuật ở các khía cạnh: vần, nhịp, thanh điệu và sự phối thanh, các biện pháp tu từ trong thơ tám tiếng của Chế Lan Viên
Thứ hai, trên cơ sở những đặc tr-ng hình thức thơ tám tiếng của Chế Lan Viên, lý giải quá trình vận động, biến đổi trong hình thức thơ tám tiếng của ông cũng nh- các nhà thơ hiện đại gắn với quá trình hiện đại hóa hình thức thơ ca dân tộc
Trang 6Thứ ba, trong một chừng mực nhất định, qua cái nhìn so sánh với một
số nhà thơ hiện đại, b-ớc đầu nhận diện phong cách thơ tám tiếng của Chế Lan Viên
Trang 74 Phạm vi t- liệu và ph-ơng pháp nghiên cứu:
4.1 Sự nghiệp thơ của Chế Lan Viên hết sức phong phú và đồ sộ (gồm
14 tập thơ đã đ-ợc xuất bản), nh-ng do hạn chế về thời gian và khả năng t-
liệu, chúng tôi chỉ tập trung khảo sát một tập thơ đó là tập Điêu tàn (nhà xuất
5 Đóng góp mới của khóa luận
Nh- đã nói trên, khóa luận của chúng tôi có thể coi là công trình đầu tiên tập trung nghiên cứu thể loại thơ tám tiếng của Chế Lan Viên Qua khảo sát, phân tích, so sánh, khóa luận chỉ ra những nét đặc sắc từ hình thức thể hiện trong thơ tám tiếng của Chế Lan Viên, đánh giá những đóng góp của ông trong việc làm mới một thể thơ dân tộc Khóa luận cũng đã chỉ ra nét phong cách ngôn ngữ độc đáo của nhà thơ trong thế vận động của thơ ca hiện đại
6 Cấu trúc của khóa luận
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung chính, khóa luận gồm ba ch-ơng:
Ch-ơng 1 Những vấn đề lý thuyết liên quan đến đề tài
Ch-ơng 2 Đặc điểm hình thức thơ tám tiếng của Chế Lan Viên
Ch-ơng 3 Các biện pháp tu từ trong thơ tám tiếng của Chế Lan Viên
Trang 8Ch-ơng 1 Những vấn đề lý thuyết liên quan đến đề tài
1.1 Vài nét về Chế Lan Viên và sự nghiệp sáng tác
1.1.1 Vài nét về Chế Lan Viên
Chế Lan Viên tên thật là Phan Ngọc Hoan sinh ngày 23 tháng 10 năm
1920 huyện Cam Lộ, tỉnh Quảng Trị trong một gia đình viên chức nhỏ, sinh ra
ở Quảng Trị nh-ng mảnh đất Bình Định đã gắn bó với ông suốt thời thơ ấu Sau này mảnh đất đó đã theo ông vào trong thơ Vì vậy, ông coi Bình Định là quê h-ơng thứ hai của mình
Lớn lên, ông học tại tr-ờng trung học ở Quy Nhơn Thời gian này, ông
đã có thơ đăng báo và gây xôn xao d- luận trong bạn đọc và giới phê bình, khi
đó ông mới 16 tuổi Năm 1939, ông học ở Hà Nội, sau đó vào làm báo ở Sài Gòn rồi lại ra Thanh Hóa dạy học Cách mạng tháng Tám bùng nổ, ông tham gia cách mạng ở Quy Nhơ, tham gia viết báo cho báo Quyết Thắng của Việt Minh Trong thời gian này, Chế Lan Viên công tác tại Liên khu IV cũ từ Thanh Hóa-Nghệ Tĩnh đến Bình-Trị-Thiên Tháng 7 năm 1949, Chế Lan Viên gia nhập Đảng Cộng sản Việt Nam
Kháng chiến chống Pháp thắng lợi, Chế Lan Viên trở lại Hà Nội và tiếp tục sự nghiệp sáng tác của mình Thời kỳ này ông có nhiều thành công lớn Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, ông tham gia Ban lãnh đạo Hội nhà văn Việt Nam, tham dự nhiều diễn đàn văn hóa Quốc tế ở nhiều n-ớc trên thế giới
Đất n-ớc hoàn toàn thống nhất, ông chuyển vào sống ở thành phố Hồ Chí Minh và tiếp tục viết cho đến hết cuộc đời Ông trút hơn thở cuối cùng tại bệnh viện Thống Nhất thành phố Hồ Chí Minh vào ngày 19 tháng 6 năm
1982, trong niềm tiếc th-ơng vô hạn của gia đình, bà con và bạn bè
1.1.2 Sự nghiệp sáng tác của Chế Lan Viên
Trong tiến trình phát triển của nền văn học Việt Nam hiện đại, Chế Lan Viên giữ một vị trí quan trọng hàng đầu không thể ai thay thế đ-ợc: Bắt đầu sự
Trang 9một phong cách độc đáo và cho đến cuối đời ông đã để lại cho nền thơ ca dân tộc 14 tập thơ với hơn một nghìn bài thơ, viết nhiều công trình tiểu luận, phê bình ở lĩnh vực nào, ông cũng là cây bút tài năng, độc đáo, có cá tính và có
Trang 101.2 Giới thiệu chung về tập thơ đ-ợc khảo sát
Thuở ấy, Chế Lan Viên lớn lên trong không khí ngột ngạt của chế độ thực dân nên đã ý thức đ-ợc nỗi nhục của ng-ời dân mất n-ớc Chàng thiếu niên ấy phải vật vã trong sự bế tắc đến ngột thở Không tìm đ-ợc con đ-ờng đi cho mình, Chế Lan Viên chỉ biết tìm đến thơ nh- một liều thuốc tinh thần Sự
đổ nát của nền văn minh Chiêm Thành cộng với cái đa cảm sầu lụy của một trí
thức trẻ tuổi trong cơn bế tắc đã làm nên tập thơ Điêu tàn (1937) - một tập thơ
khổ nhỏ, mỏng mảnh gồm 36 bài với những lời thơ mới lạ, có phần kinh dị Giữa lúc Xuân Diệu đang chìm đắm trong niềm khắc khoải thời gian, Huy Cận bất lực với nỗi sầu nhân gian, Thế Lữ tìm đến cõi tiên nh- một giải pháp cho tâm hồn, thì Chế Lan Viên đã xuất hiện tr-ớc những bậc đàn anh bằng tiếng thơ lạ lùng và sắc nét khiến ng-ời ta không khỏi bàng hoàng, hoặc đôi chút tò mò bởi vì ng-ời ta thấy lạ lẫm quá, nó da diết quá, rùng rợn quá; bởi vì
nó vẽ nên một thời gian đầy yêu ma, quỷ quái, đầy sọ ng-ời và những tiếng khóc vật vờ, uất hận Có ai dám tin rằng “ cái mạnh mẽ, cái to lớn ấy, những
đau th-ơng vô lý mà da diết ấy, đã khiến bao ng-ời ngạc nhiên giữa đồng bằng văn học Việt Nam thế kỷ XX, nó sừng sững nh- cái Tháp Chàm chắc chắn, lẻ loi, bí mật” [14, 5]
Với Điêu tàn, Chế Lan Viên thật sự làm nên một “ niềm kinh dị” trong
thơ ca Nó “ kinh dị” không phải ở nghĩa khác th-ờng, siêu phàm, không phải
ở cái rùng rợn, ma quái, không phải ở cái chán nản ở gắt gao, không chỉ ở cái tuổi tác mà còn khiêm tốn ở bản thân thi nhân… không ai lý giải cho hết đ-ợc nh- Hoài Thanh đã dùng từ thật chính xác Từ bấy đến giờ có những thi nhân
đã “ thủ” thay thế ông Họ tập tành yêu ma hóa hình ảnh, rùng rợn hóa câu chữ, nh-ng sự rùng rợn ma quái đó khác xa Chế Lan Viên tin vào cái ông viết
ra một cách tuyệt đối
“Đọc thơ Chế Lan Viên, ta cảm thấy d-ờng nh- thi nhân không còn là sáng tạo thơ ca mà chỉ là những thể xác giao cảm với những linh hồn ở cõi H- Vô rồi ghi lại từng lời than khóc, rên rỉ những cô hồn hoài vọng một thời x-a”
Trang 11Điều dễ thấy ở Chế Lan Viên so với phong trào thơ Mới là ông đã tạo cho mình một thế giới khác, thế giới cõi âm với những quỹ dữ, ma hờn, những
đầu lâu, x-ơng máu rùng rợn đ-ợc ngụy trang bằng những nỗi niềm bi hận mang vẻ thần bí, siêu hình để khóc than cho một dân tộc bị chinh phục cho
đến tan thành tro bụi
Cùng nhóm với Xuân Diệu, Hàn Mặc Tử, Quách Tấn, khi còn trẻ Chế Lan Viên đã không để cho lực hút chung của phong trào thơ Mới h-ớng vào tình yêu mộng mơ… mà ông tự hào cho mình một khách thể “ có căn cứ lịch sử không rõ quan hệ với t- nhân: sự sụp đổ của n-ớc Chàm” qua t-ởng t-ợng h- cấu, siêu hình Đó là sự lựa chọn nghệ thuật, làm nên con mắt thơ mà Hoài Thanh ca ngợi, nh- “ một niềm kinh dị” “ Niềm kinh dị” này chính là xuất phát điểm cho một quan niệm thơ
Chế Lan Viên thoát ly vào thơ và làm cho thơ thoát đi khỏi hiện thực
Đó cũng là cốt lõi của phong trào thơ Mới nói chung và Chế Lan Viên nói riêng Sau khi đã thoát ly vào thơ, họ bắt đầu tuyên bố các quan điểm thơ của mình Thế Lữ cho mình là cây đàn muôn điệu, ham vẻ đẹp có muôn hình muôn thể; Xuân Diệu khẳng định “ Là thi sỹ nghĩa là ru với gió – mơ theo trăng và vơ vẩn cùng mây” ; Hàn Mạc Tử nói: “ làm thơ tức là điên” ; Chế Lan
Viên thì “ làm thơ là sự phi th-ờng” trong thơ ca từ tr-ớc tới nay Đọc Cái sọ
ng-ời ta thấy một thế giới rùng rợn của cõi âm hiện ra chập chờn, ám ảnh với
tác giả:
Để nếm lại cả một thời x-a cũ, Cả một dòng năm tháng đã trôi qua
Chất liệu Điêu tàn là bóng tối, mồ hoang, sọ ng-ời, x-ơng khô, máu tủy
và những hồn ma vất v-ởng Thi nhân không mô tả thế giới, không cảm xúc tr-ớc thế giới hiện hữu mà tạo ra một thế giới riêng cho mình đầy ảo t-ởng,
khoái đản Đi xa hơn Khi bóng đêm tan trên dòng sông vô tận, Nắng trời bay
phấp phới bạc muôn cây, con ng-ời Chế Lan Viên vẫn thấy Cõi đời dày đặc những bóng đêm mờ và dù hết sức tìm kiếm thi nhân vẫn không thấy Tia nào
đâu rơi tựa n-ớc Chàm ta? đã không tìm đ-ợc ánh sáng nào ở trần gian thi sĩ
Trang 12đã lục lọi chân lý giữa lòng đêm tối Cái thế giới đầy mộng t-ởng mà thi nhân hằng mơ -ớc có mấy trăm nghìn mối và thế giới ấy hiện lên khung cảnh n-ớc non Chàm nh- bức tranh t-ơng phản:
Đây, những Tháp gầy mòn vì mong đợi Những đền x-a đổ nát d-ới Thời gian Những sông vắng lê mình trong bóng tối Những t-ợng Chàm lở lói rỉ rên than
(Trên đ-ờng về)
Nét nổi bật nhất của tâm trạng nhà thơ qua Điêu tàn không phải cái yêu
th-ơng mơ màng hay cái buồn man mác mà là nỗi đau xót, giận hờn chua chát
một cách say mê Cảm hứng trong Điêu tàn của Chế Lan Viên nặng nề về sự
vật vã tinh thần của một khối óc khao khát hiểu biết, trằn trọc suy t- một cách tuyệt vọng Nếu so hầu hết các nhà thơ mới thì cảm xúc, suy nghĩ trong thơ Chế Lan Viên th-ờng đ-ợc đẩy cao hơn lên một cung bậc nhất định D-ờng nh- ông không hát mà hét, ông nh- muốn kêu lên thật to để mọi ng-ời nghe
đ-ợc, ông không giấu đi nỗi buồn mà ông đã giải bày một cách não nùng,
chán nản nh- trong bài thơ Tạo lập
Trời hỡi trời! Hôm nay ta chán hết Những sắc màu hình ảnh của trần gian
Chất liệu thi ca ấy, cho phép nhà thơ thể hiện nỗi buồn và sự luyến tiếc
những ngày qua Điêu tàn đã thể hiện một cách thầm kín tâm sự yêu n-ớc,
nỗi day dứt về một đất n-ớc đang tồn tại nh-ng thực sự đang điêu tàn trong cảnh đời cũ Tố Hữu đã nhận xét: “ Chế Lan Viên thì gợi lên nỗi hoài vọng dân tộc Chàm ngày x-a theo cách của anh, đó cũng chính là lời ca yêu n-ớc bởi anh khóc số phận của những dân tộc bị đô hộ” [11, 9] nhà thơ muốn thoát
khỏi sự ràng buộc với cuộc sống hiện tại Trong Điêu tàn Chế Lan Viên thực
sự là một nhà thơ lãng mạn, cái lãng mạn của Chế Lan Viên ở đây không mơ màng, không êm dịu mà đó là sự quyết liệt nh- muốn chối bỏ sạch cuộc sống trần thế khi đất n-ớc, con ng-ời rơi vào cuộc sống âm u, cô tịch bởi một nền
Trang 13Chính vì thế đọc thơ Điêu tàn của Chế Lan Viên, Hoài Thanh có cảm
giác “ Mỗi lần nấn ná quá lâu, đầu tôi choáng váng không còn biết mình là
ng-ời hay là ma” [16, 35] Bởi khi đi vào thế giới lạ lùng, rùng rợn của Điêu
tàn đã làm cho không ít ng-ời lạc vào thế giới cõi âm, hồn ma Khi bắt gặp
hình ảnh máu x-ơng, sọ ng-ời, mộ huyệt… trong Điêu tàn ta không có gì bỡ
ngỡ vì đó là ý đồ nghệ thuật của tác giả, đó là sự cố tình phơi bày những hình
ảnh đau th-ơng để tạo cảm giác “ đê mê, tê liệt” và nhà thơ đã thành công Quan niệm “ làm thơ là sự phi th-ờng” có thể xem đây là tuyên ngôn c-ơng lĩnh tr-ờng thơ loạn Tr-ờng thơ loạn “ chịu ảnh h-ởng trực tiếp những quan niệm thẩm mỹ của Edgarpoe” [14, 67] Càng về sau, họ không chỉ chịu ảnh h-ởng của một mà nhiều thi sỹ Pháp, trong đó có Baudelaire là để lại chứng tích sâu đậm Họ “ bắt đầu đi tìm cái đẹp ở những bến bờ xa lạ của cảm giác, tìm những khoái lạc bệnh tật ở những vùng đất hoang dại ch-a đ-ợc khai phá” [14, 167]
Trong Điêu tàn, ta không thấy tác giả đứng yên mà “ cái tôi” luân
chuyển ngang tàng nh- một hiệp sỹ khi “ Ngủ trong sao” , khi tắm d-ới trăng, khi ngồi trên bờ bể, khi can đảm xông vào bãi tha ma vung cánh tay trần của tuổi thanh niên tuyên chiến với x-ơng khô và ma quỷ Và tác giả vội vàng chạy trốn thời gian vì thời gian chỉ mang lại đau khổ, tác giả muốn chặn lại thời gian và đất trời hãy ngừng quay:
Tôi không muốn đất trời xoay chuyển nữa Với tháng ngày biền biệt đuổi nhau trôi Xuân đừng về! Hè đừng gieo ánh lửa!
Thu thôi sang! Đông thôi lại não lòng tôi!
(Những sợi tơ lòng)
Thơ trong tập Điêu tàn cho ta nhận biết: mùa hè về mang theo nỗi căm
hờn, mùa thu sang đem lại nỗi buồn thấu lạnh, còn mùa đông gắn với vẻ đẹp
điêu tàn
Khi lật từng trang giấy nhỏ của Điêu tàn, chúng ta sẽ bắt gặp biết bao
Trang 14Thanh đã kêu lên không dám ở lâu trong đấy, nào là “ Chiếc sọ ng-ời” , “ Mộ không” , “ X-ơng khô” , “ Máu x-ơng” , “ Đầu rơi” , “ X-ơng vỡ” , “ Máu trào” , …
đều là những cái, những nơi mà thi nhân đã nói tới, đã tìm tới trên một t- thế
là thoát ra ngoài cái ta Ng-ời Tây ph-ơng gọi lối thoát ấy là “ sự bốc hơi của cái ta” và Đông ph-ơng dùng danh từ “ xuất thần” Nhờ thế, mỗi khi Hàn Mặc
Tử lên tiên dự tiệc Bàn Đào, chàng phải làm ba cốc “ xuất thần tửu” nh-ng Chế
Lan Viên không quen dùng nh- vậy; ông chỉ biết giết mình trong khoảng không u ám để tìm về n-ớc non Chiêm – xứ sở của muôn vàn xác chết Khép lại những trang thơ một thời, chúng ta nhận thấy Chế Lan Viên đã đóng góp cho phong trào thơ Mới những màu sắc lạ của một tài năng thi ca mà điểm xuất phát đã tỏa sáng và nhiều vần thơ làm say đắm lòng ng-ời
1.3 Phân biệt ngôn ngữ thơ với ngôn ngữ văn xuôi
Theo Tômaepki thì ngôn ngữ trong thơ không dày đặc nh- trong văn xuôi, mà chia cách các thành phần ngắn hay dài theo âm luật Các thành phần này đ-ợc chia thành câu thơ và th-ờng th-ờng chia thành các giọng thơ nhỏ hơn Cùng chung một nội dung, khi Bác viết văn xuôi, Ng-ời viết: “ Bất kỳ đàn
ông, đàn bà, bất kỳ ng-ời già, ng-ời trẻ không chia tôn giáo, đảng phái dân tộc, hễ là ng-ời Việt Nam thì phải đứng lên đánh thực dân Pháp, cứu Tổ quốc
Ai có súng dùng súng, ai có g-ơm dùng g-ơm, không có g-ơm dùng cuốc, thuổng, gậy gộc, ai cũng phải ra sức chống thực dân Pháp cứu Tổ quốc” , nh-ng khi làm thơ Bác viết”
Trang 15Đoạn văn xuôi và đoạn thơ trên viết cách nhau bốn năm, về nội dung gần cùng khớp nhau Đoạn văn xuôi dày đặc thành một khối từ ngữ, còn thơ thì lại chia cắt ngôn từ trong những vế t-ơng đ-ơng, không liền mạch
Theo Gôntrarốp, trong tác phẩm, âm thanh của câu thơ và vấn đề vần, thì cấu trúc âm thanh của ngôn ngữ văn xuôi chỉ có một bình diện nghĩa là ngữ điệu và giọng đọc trùng khít với nhau, đơn vị của việc đọc và ngữ điệu trong văn xuôi là câu văn xuôi Trong thơ, ngữ điệu của câu thơ và giọng thơ
đọc không trùng khít với nhau Trong thơ, giọng đọc, cách đọc cho phép câu thơ đ-ợc ngắt nhịp một cách tự do hơn và do đó bản thân giọng đọc, cách đọc cũng gia tăng, thêm l-ợng thông tin cho câu thơ ngoài giá trị thông tin văn bản Trong văn xuôi: “ bất kỳ đàn ông, bất kỳ đàn bà, bất kỳ ng-ời già, ng-ời trẻ, không chia tôn giáo, đảng phái dân tộc hễ là ng-ời Việt Nam thì phải
đứng lên đánh thực dân Pháp, cứu Tổ quốc” thì ngữ điệu giọng đọc trùng khớp theo cách ngắt nhịp thống nhất: “ Bất kỳ đàn ông / đàn bà / bất kỳ ng-ời già / ng-ời trẻ / không chia tôn giáo / đảng phái dân tộc / hễ là ng-ời Việt Nam thì phải đứng lên / đánh thực dân Pháp / cứu Tổ quốc/ ” Độ cao thấp, nhanh hay chậm khi đọc theo nhiều cách chia đoạn khác nhau Do đó có chỗ nghỉ hơi và dài hơi t-ơng đối tự do hơn và sắc thái biểu cảm của từng khúc thơ nhỏ cũng
Trong đoạn thơ trên có bảy chỗ nghỉ ngắt ngắn và một chỗ nghỉ dài hơn Nh-ng cũng có thể chia thành ba khúc nhỏ, đọc thành ba giọng đọc Và
Trang 16khiến cho ngoài ngữ điệu của dòng thơ, lại có ngữ điệu của đoạn thơ(hay khổ thơ)
Giọng đọc gấp gáp thể hiện sự kiên quyết, có tính chất mệnh lệnh, giục giã
Toàn bộ đoạn này có ngữ điệu chung (ng-ời ta phân biệt ngữ điệu có tính giai đoạn của một đoạn thơ hay một bài thơ) Bản thân giọng đọc, cách
đọc lại biến hóa, đ-a thêm sắc thái riêng của ng-ời đọc, tạo thêm l-ợng thông tin cho một đoạn thơ
Theo Vêriê, trong cuốn “ L-ợc khảo những nguyên tắc của luật âm học Anh” thì thơ khác văn xuôi ở chỗ: “ trong thơ, sự phát âm có sự xác định rõ ràng hơn Từng âm đ-ợc phát âm có sự nhấn mạnh, đ-ợc chú ý hơn trong văn xuôi” Theo Vêriê thì nguyên âm đ-ợc chú ý, đ-ợc nhấn mạnh âm sắc để phân biệt sự hòa âm tự nhiên và sự hòa âm có ý thức riêng biệt của ng-ời làm thơ,
đọc thơ Ta thấy rằng câu thơ khác văn xuôi ở chỗ: câu thơ tự do này tuy dài
đến mấy cũng phải ngắt thành nhiều dòng thơ riêng biệt trong khi đọc theo những chỗ ngắt có tính chất ngữ điệu, nhịp điệu và cuối cùng là các dòng thơ riêng biệt ấy vẫn tuân theo quy luật âm thanh của câu thơ bình th-ờng
Câu thơ “ nhà thi sĩ nh- chim bói cá, mắt bao gồm đầm hồ bát ngát, phải thấy cả tâm thiên mẫu của đời, tr-ớc khi lao vào bắt một chiếc lá con” của Chế Lan Viên trong thực tế phải ngắt thành bốn dòng thơ
Nếu tìm hiểu bốn dòng thơ nhỏ hơn câu thơ văn xuôi trên ta thấy bốn câu
Trang 17Sự khác nhau về nhịp điệu, ngữ điệu trong thơ và văn xuôi:
Nhịp điệu trong thơ xuất hiện trên cơ sở nhịp điệu của lao động, nhịp
điệu hơi thở của con ng-ời Nhịp điệu là sự nối tiếp của các tiếng sắp xếp thành từng khung đều đặn của giọng nói và theo thời gian lời nói phát triển dần dần từ những hành động phản xạ của các cơ quan phát âm t-ơng ứng với những cố gắng của bắp thịt có quan hệ tới sự sử dụng công cụ Theo Giooctônxôn, trong chủ nghĩa Mác và thơ ca thì khúc hát dân gian có phần ứng biến và có phần bất biến, phần bất biến dính liền với công việc thực tế không thay đổi, còn phần ứng biến thì vô cùng vô tận, thay đổi hằng ngày theo tình hình thời sự Lúc đầu khiêu vũ, âm nhạc, thơ ca có chung nguồn gốc là sự vận động nhịp nhàng của con ng-ời trong lao động gồm cơ thể và lời nói Trong bài hát, thơ làm thành nội dung của âm nhạc, âm nhạc là hình thức của thơ, rồi tách ra dần Thơ kể một câu chuyện có sự cô đọng nối lại của riêng nó
và độc lập với hình thức nhịp điệu, cho nên ngôn ngữ thơ ca giữ đ-ợc nhiều tính nhịp điệu, tính âm h-ởng, tính t-ởng t-ợng cố hữu của lời nói thơ ca
Theo Tâm lý học thì khi vui vẻ, ta thở 17 nhịp thở trong một phút, khi buồn chỉ có 9 nhịp thở trong một phút và khi tức giận ng-ời ta thở 40 nhip thở trong một phút Nhịp thở chịu sự chi phối của tình cảm, các trạng thái rung cảm, cảm xúc, xúc động đều ảnh h-ởng đến việc lựa chọn nhịp của câu, bài thơ
Tômsepki lại nhận định rằng: “ nhịp của bài thơ đ-ợc xây dựng trên bản chất của chính vật liệu ngôn ngữ và nó động viên chính các thuộc tính biểu hiện các vật liệu ngôn ngữ, dù cơ cấu của thơ có sự riêng biệt và đặc thù bao nhiêu đi nữa, thì cơ cấu ấy thuộc về một ngôn ngữ và không đ-ợc lặp lại ngoài giới hạn của các hình thức dân tộc trong lời nói”
Vậy nhịp trong thơ là nhịp trên cơ sở lao động, dựa vào hơi thở gắn liền với xúc cảm, dựa vào bản chất của chất liệu ngôn ngữ Nhịp thơ là nhịp điệu
có tính mỹ học do con ng-ời sáng tạo ra để biểu hiện t- t-ởng, tình cảm của con ng-ời
Trang 18Chính Maiacôpxki trong “ Làm thơ nh- thế nào” , đã nói rõ công việc của ng-ời làm thơ và vai trò của nhịp điệu thơ: “ nhịp là sức mạnh cơ bản, năng l-ợng cơ bản của bài thơ Sự ngắt đoạn và nhịp của bài thơ hệ trọng hơn
sự chấm câu, và khi sự chấm câu đ-ợc dùng theo khuôn sáo cũ, nó phải phục tùng ngắt đoạn và nhịp… năng lực sáng tạo những khoảng cách và tổ chức thời gian phải đ-ợc đ-a vào nh- là quy tắc cơ bản của mọi thứ sách giáo khoa thực hành về thơ”
Mà nhịp điệu ấy mang bản sắc của từng nhà thơ trong việc chọn nhịp Tôi có đ-ợc cách luật là do phải thể hiện cái tiếng rên vang ấy của nhịp điệu bằng những từ ngữ, bằng những từ đ-ợc đ-a ra có mục đích (tôi luôn tự vấn:
Từ này hay hơn từ kia? Mà tôi đọc nó cho ai nghe? Và nó đ-ợc hiểu nh- thế nào không?.v.v.v) Bằng những từ đ-ợc kiểm tra lại bởi một thứ nhịp cao hơn
là nhịp điệu có tính mỹ học, có tính phong cách; nhịp điệu nghệ thuật thể hiện bằng tài năng, năng khiếu và cả một số kĩ thuật, thủ thuật lựa chọn, sắp xếp nhịp thơ
Việc nghiên cứu đồng hồ sinh học đang giúp ta nghiên cứu thêm về việc tạo ra nhịp thơ của ng-ời nghệ sĩ A.Ablôc hơi nhấn mạnh một ít: “ nhà thơ là thế nào? là viết ra những bài thơ chăng? Không, tất nhiên là không Nhà thơ
đó là ng-ời mang nhịp tiết tấu”
Nhịp điệu có tính mỹ học, nhịp điệu trong thơ khác nhịp điệu trong văn
xuôi Tuyên ngôn độc lập, Bình ngô đại cáo đều có nhịp điệu, nh-ng Sáng
tháng năm, Bài ca vỡ đất, Tổ quốc bao giờ đẹp thế này chăng? có nhịp điệu
riêng
T-nhanrôp phân tích “ trong văn xuôi (nhờ sự đồng thời của lời nói) thời gian đ-ợc cảm thấy rất rõ; hiển nhiên đó không phải là t-ơng quan về thời gian có tính chất -ớc lệ… trong thơ thì thời gian hoàn toàn không thể cảm giác
đ-ợc các tiểu tiết của chủ đề đều đ-ợc bằng nhau bởi cấu trúc chung của thơ Nhịp điệu của thơ xuất hiện trên cơ sở lặp lại và luân phiên các đơn vị âm luật theo sự cấu tạo đơn vị ngữ điệu ngôn ngữ
Trang 19Timôphêep trong lí luận câu thơ, cho nhịp điệu tr-ớc tiên là sự lặp lại có tính quy luật các hiện t-ợng giống nhau Đơn vị đầu tiên của nhịp là âm tiết và rộng lớn hơn là một nhóm âm tiết Dadan (1916) lại cho rằng đơn vị cơ bản của nhịp điệu là dòng thơ, là các nhóm thống nhất trong dòng thơ tạo nên một dãy hay một hệ thống cùng dãy Theo Timôphêep thì nghiên cứu nhịp điệu
độc đáo có tính cá biệt trong thơ gồm:
- Nghiên cứu việc tạo lập đơn vị nhịp điệu
- Nghiên cứu sự biến dạng trong việc cấu tạo đơn vị nhịp điệu
âm vị, âm tiết trong một từ, nh-ng trong từng câu thơ vẫn có những từ đ-ợc nhấn mạnh hơn khi đọc lên
Theo Hêghen, thì nhịp trong thơ đ-a cái trật tự vào tình trạng không có trật tự khi chọn lựa, sử dụng từ Nhịp trong thơ giúp cho con ng-ời trong giây lát thoát khỏi sự trôi chảy liên miên của thời gian, con ng-ời đánh dấu điểm
đầu, điểm giữa và điểm cuối của sự tiếp tục bằng nhịp thơ
Theo Jimunxki trong “ Lý luận câu thơ” , thì âm luật câu thơ nghiên cứu quy luật chung của việc luân phiên các âm mạnh và âm yếu Nhịp trong thơ gồm các phần cụ thể áp dụng theo đúng quy luật của âm luật Nhịp điệu của thơ tạo nên quy luật của sự luân phiên của âm mạnh và âm yếu xuất hiện trong
sự tác động của các bản chất tự nhiên của các tài liệu ngôn ngữ và âm luật Giúp cho con ng-ời trong sự tác động của bản chất tự nhiên của tài liệu ngôn ngữ và âm luật
Trang 20Theo Bùi Văn Nguyên, Hà Minh Đức trong Các thể thơ ca và sự phát
triển của hình thức thơ ca trong văn học Việt Nam (Nhà xuất bản Khoa học xã
hội 1971), thì “ nhịp thơ ta là lẻ tr-ớc chẵn sau, còn nhịp thơ Trung Quốc chẵn tr-ớc lẻ sau”
Còn ngữ điệu của thơ, theo Vinôgađôp, trong cuốn Về lí luận của ngôn
ngữ nghệ thuật (Nhà xuất bản Cao đẳng; Maxcơva 1971) là ph-ơng tiện ngữ
pháp để tạo thành câu và xuất hiện với t- cách là một trong những dấu hiệu th-ờng xuyên của câu Timôphêep cho rằng ngữ điệu không gian và thời gian của một từ sống, nó tồn tại và thể hiện ý nghĩa có tính hiện thực: cơ sở của ngữ điệu là sự xác định luân phiên của giọng cất cao lên và hạ thấp xuống,
đem lại sắc thái t- t-ởng của câu
Timôphêep nhận định rằng sự đa dạng của ngữ điệu của các câu thơ gồm các yếu tố:
- Sự cấu tạo đoạn thơ bằng các câu thơ
Tômmasepki thì cho rằng ngữ điệu trong thơ là âm thanh biểu hiện ở giọng lên cao và xuống thấp, lời chậm và nhanh, giọng chậm và yếu
Theo Khôsennhicôp, thì ngữ điệu bao gồm:
- Giọng lên cao và xuống thấp
- Chỗ ngắt mạnh nhiều hay ít trong lời
- Sự sắp đặt các trọng âm câu mạnh hay yếu
- Từng phần của nhóm từ nhanh hay chậm t-ơng đối
Nói đến ngữ điệu tr-ớc tiên là giọng cất cao hay xuống thấp ở trong thơ Việt Nam, căn bản thanh của các từ (các thanh huyền, sắc, hỏi, ngã, nặng)
đóng góp vào các tổ chức ngữ điệu
Trang 21Thanh điệu trong tiếng Việt xếp theo bằng, trắc Bằng, trắc có thể là một trong các yếu tố góp phần tạo nên ngữ điệu
Khi ta ở chỉ là nơi đất ở Khi ta đi đất đã hóa tâm hồn
(Chế Lan Viên)
BB - TT - BB - TT 2BB - 2TT - 2BB - 2TT BBB - TTT - BB 3B - 3T - 2B
Chiền chiện ơi sao chẳng ở cùng bà Kêu chi hoài trên những cách đồng xa
BTBBTTBB 1B - 1T - 2B - 2T - 2B BBBBTTBB 4B - 2T - 2B
Ta thấy hai câu thơ trên đều có cặp hai từ vần bằng ở cuối Câu Khi ta ở
chỉ là nơi đất ở, Khi ta đi đất đã hóa tâm hồn có hai cụm chuyển từ 2B - 2T
câu một; sang 3B - 3T câu hai
Ngữ điệu trong thơ một mặt phụ thuộc vào nhịp điệu, âm thanh, từ ngữ trong chính văn bản của câu thơ, một mặt do ng-ời đọc, ng-ời đọc có thể nhấn mạnh vào các khía cạnh khác nhau, hoặc giọng đọc cao hơn hay thấp hơn một
ít Theo Calatơrôva lấy ví dụ về năm nguyên âm ở văn xuôi ở thể thơ ở cuối câu thơ, khi đọc có năm âm sắc khác nhau
Trang 22Nh- vậy, giữa ngôn ngữ thơ và ngôn ngữ văn xuôi có nhiều điểm khác biệt Ngôn ngữ thơ th-ờng cô đọng, hàm súc, nh- M Gorơki đã nhấn mạnh:
“Hình t-ợng thì càng tốn ít lời càng đậm đà càng minh xác” sự cô đọng và hàm súc đ-ợc thực hiện tr-ớc tiên phải chú ý đến đối t-ợng mà mình viết, nắm chắc đối t-ợng mà tác phẩm chuyển đổi và hiểu rõ mình thể hiện đối t-ợng đó bằng loại hình nghệ thuật nào, bằng ph-ơng tiện nghệ thuật nào Sự cô đọng trong sáng tác nghệ thuật nh- Mác đã nêu ra, về mặt hình thức là thuộc về ph-ơng pháp trình bày súc tích nhanh gọn, trên cơ sở ph-ơng pháp nghiên cứu
kĩ càng, chi tiết, lâu dài, có nghiên cứu kĩ thì mới trình bày gọn gàng, rõ ràng,
có hệ thống Mác nói: “ Dĩ nhiên là ph-ơng pháp nghiên cứu, nghiên cứu có nhiệm vụ phải nắm lấy tài liệu một cách chi tiết, phải phân tích những hình thức phát triển khác nhau của nó và khám phá ra mối liên hệ bên trong của những hình thức ấy Sau khi công việc đã làm xong và chỉ đến lúc đó thì mới
có thể trình bày toàn bộ sự vận động hiện thực một cách đích đáng (T- bản quyển 1) Sự hàm súc trong tác phẩm nghệ thuật là sự trình bày những điểm bản chất của sự kiện, hiện t-ợng mà vẫn giữ nguyên sức hấp dẫn có tính nghệ
thuật của nó Chẳng hạn, trong tập thơ ánh sáng và phù sa, Chế Lan Viên giới
thiệu một chùm thơ văn xuôi về một vùng thơ.Cái tiêu đề ấy nói lên một điều
có ý nghĩa: sự thâm nhập của văn xuôi, của một cuộc sống bề bộn, nhiều màu sắc vào trong thơ Về một ph-ơng diện khác mà xét, thơ mở rộng giới hạn và khuôn khổ cách luật chật hẹp để đón lấy sự sống đa dạng và phong phú về nhiều mặt Văn xuôi về một vùng thơ là một bức phác thảo giàu chất sống và
âm h-ởng của đời sống đó cũng là bức tranh nên thơ
Nh- vậy, ta thấy giữa ngôn ngữ thơ và ngôn ngữ văn xuôi có những
điểm khác nhau Nh-ng sự khác nhau của mỗi loại đều đem đến sự phong phú cho nhiều thể loại
1.4 Giới thiệu về thể thơ tám tiếng
Trong thơ cổ không có thể tám tiếng, chỉ tục ngữ, ca dao và dân ca có
Trang 23phổ biến có hai vế nhịp bốn, tiếng cuối của vế đầu bắt vần với tiếng thứ hai của vế sau Chẳng hạn: “ Một con ngựa đau / cả tàu bỏ cỏ” (Tục ngữ) Có khi tiếng cuối của vế đầu bắt vần với tiếng đầu của vế sau, chẳng hạn: “ Ăn thì hả hả / giả thì hi hi” (Tục ngữ) Có khi tiếng thứ ba hiệp vần với tiếng thứ năm trong câu tám tiếng, chẳng hạn: “ Bạc tinh tuyên / ai còn duyên thì đ-ợc” (Tục ngữ) Trong tr-ờng hợp này, câu tục ngữ tám tiếng có nhịp 3/5 Cũng có khi câu tục ngữ tám tiếng không có hiện t-ợng hiệp vần nh-ng vẫn ngắt nhịp 4/4 Chẳng hạn: “ Bán anh em xa / mua láng giềng gần” Trong ca dao, cách hiệp vần có một nguyên tắc là: một tiếng ở vế đầu hiệp vần với một tiếng ở vế sau còn vị trí không xác định Giữa các câu tám tiếng cũng bắt vần với nhau, th-ờng tiếng cuối câu trên bắt vần với tiếng thứ t- của câu tiếp Chẳng hạn:
“Lỗ miệng em nói có hai đồng tiền // Nh- cánh hoa sen / giữa ngày mới nở //
Mẹ em đi chợ / có kẻ gánh gồng // Anh đứng anh trông / má hồng đỏ thắm” Vì vậy, tác giả D-ơng Quảng Hàm cho rằng thể thơ tám tiếng là thể hỗn hợp của bốn tiếng trong tục ngữ, thành ngữ mà thành (D-ơng Quảng Hàm, Việt Nam văn phạm, Nxb Hội nhà văn, H.2002) Trong thực tiễn sáng tác, thể thơ tám tiếng là một sáng tạo của phong trào thơ mới Một bộ phận quan trọng của thơ mới đ-ợc viết bằng thể thơ này Bài thơ không hạn định về số câu, vần gieo bằng vần chân Gần nh- không có vần l-ng Lối gieo vần liên chân nh- lối gieo vần trong thơ ca ph-ơng Tây Câu thơ tám tiếng vẫn bắt nguồn từ các thể thơ ca dân tộc và trực tiếp hơn là thể hát nói Một số ng-ời nghiên cứu về thể thơ mới, chẳng hạn, Bùi Văn Nguyên và Hà Minh Đức[14] đều có nhận xét khá thống nhất là thể thơ tám tiếng có nguồn gốc từ thể hát nói Nếu so sánh và phân tích cụ thể xác định đó là đúng
Chỗ giống nhau giữa thể thơ tám tiếng và thể hát nói nh- sau:
- Số từ trong câu hát nói có thể từ 4,5 tiếng đến 12 tiếng trở lên nh-ng th-ờng là 7,8 tiếng Nên nhiều câu, nhiều khổ trong bài hát nói cùng một số
từ, cũng có những tr-ờng hợp câu thơ tám tiếng chỉ gồm 2 tiết tấu
Trang 24- Về thanh điệu: thể thơ tám tiếng tuân theo quy luật sắp xếp thanh địêu của thể hát nói Và đấy cũng là yếu tố rất cơ bản để thơ tám tiếng gần với thể hát nói
Một câu hát nói th-ờng đ-ợc chia làm 3 tiết tấu Mỗi tiết tấu phải đổi thanh theo quy luật bằng trắc:
Trải bao nhiêu / ngày tháng / hạ thu đông
(T-ơng t- chiều - Xuân Diệu)
Cách gieo vần của thơ tám tiếng cũng vận dụng cách gieo vần của thể hát nói: dùng cả vần bằng và vần trắc, vần l-ng và vần chân Chúng ta hãy so sánh lối gieo vần của đoạn hát nói:
Gặp xuân nay / xuân nhớ / lạ lùng Tóc có khác / trong lòng / ta chẳng khác (cv)
Kể từ thuở / biết xuân bốn nghìn năm về tr-ớc Vẫn r-ợu thơ / non n-ớc / làm thú vui
(cv)
Đến xuân nay / ta tuổi / đã năm m-ơi Tính trăm tuổi / đời ng-ời / ta có nữa (cv)
Trang 25Chỗ quen biết / kể gì / ai khách chủ (cv)
(Tản Đà)
và một đoạn thơ tám tiếng:
…Em sợ lắm / giá băng /tràn mọi nẻo Trời đầy trăng / lạnh lẽo / suốt x-ơng da (cv)
Ng-ời giai nhân / bến đợi / d-ới cây già Tình du khách / thuyền qua / không buộc chặt (cv)
Lời kỹ nữ / đã vỡ / vì n-ớc mắt Cuộc yêu đ-ơng / gay gắt / vị làng chơi (cv)
Ng-ời viễn du / lòng bận / nhớ xa khơi
Gỡ tay v-ớng / để theo lời / gió n-ớc (cv)
Xao xác tiếng gà / trăng ngà / lạnh buốt Mắt run mờ / kỹ nữ / thấy sông trôi
Du khách đi / du khách / đã đi rồi
(Lời kỹ nữ - Xuân Diệu)
Lối gieo vần của hai đoạn thơ trên về cơ bản giống nhau (ở đây chỉ chú
ý đến ngữ âm để tiện so sánh) Với những bài thơ loại trên, thể thơ tám tiếng rất gần với thể hát nói
Tuy nhiên, phần lớn những bài thơ tám tiếng th-ờng không gieo vần chân Vần chân đ-ợc gieo từng cặp theo các dạng liên tiếp, gián cách, ôm nhau, hỗn hợp… Đó là điểm mới trong cách gieo vần của thơ tám tiếng so với thể hát nói
Thể thơ tám tiếng phát triển từ thể hát nói, song có nhiều điểm khác số với thể hát nói Cấu tạo của bài thơ tám tiếng không có hạn định về số câu, số
Trang 26khổ thơ nh- bài hát nói, không có những thành phần nh- m-ỡu đầu, m-ỡu cuối và hai câu thơ theo luật ở giữa bài Về cú pháp thơ, thể thơ tám tiếng cũng có nhiều điều mới trong vận dụng ngôn ngữ so với thể hát nói Thơ tám tiếng là loại thơ giàu tính sáng tạo của phong trào thơ mới
1 5 Tiểu kết
Thơ Chế Lan Viên là một hiện t-ợng thơ khá đặc biệt Ông là ng-ời đi tìm, là ng-ời sáng tạo không mệt mỏi Thơ ông giàu tính triết lý sâu sắc, hình
ảnh thơ độc đáo, táo bạo có khi đến kinh dị Ngôn ngữ thơ Chế Lan Viên thực
sự có cá tính, có phong cách riêng Ông luôn luôn tìm tòi, đổi mới hình thức thể hiện của thơ Ông cũng là ng-ời có những đóng góp to lớn trong việc sáng tạo, cách tân, đổi mới các thể thơ dân tộc Có thể khẳng định rằng, Chế Lan Viên là một trong số ít các nhà thơ mới có công định hình thể thơ tám tiếng Thơ tám tiếng của ông có nhiều bài mẫu mực, tài hoa
Trang 27
Ch-ơng 2
Đặc điểm hình thức thơ tám tiếng của Chế Lan Viên
ở ch-ơng này, khóa luận của chúng tôi tiến hành xác định những vấn
đề lý thuyết liên quan đến đề tài: vài nét về Chế Lan Viên và sự nghiệp sáng
tác của ông, giới thiệu chung về tập thơ đ-ợc khảo sát (Điêu tàn), phân biệt
ngôn ngữ thơ với ngôn ngữ văn xuôi và giới thiệu về thể thơ tám tiếng Cụ thể những vấn đề đó nh- sau:
2.1 Vần và cách hiệp vần trong thơ tám tiếng của Chế Lan Viên
2.1.1 Vần thơ
2.1.1.1 Khái niệm vần thơ
Trong thơ ca của bất kì dân tộc nào, vẫn cũng là hiện t-ợng tồn tại hiển nhiên, dễ dàng nhận thấy đối với ng-ời nghe và ng-ời đọc Sự tồn tại của vần thơ trong thơ là khách quan nh-ng định nghĩa vần thơ là gì thì câu chuyện không hoàn toàn đơn giản Bởi lẽ, mỗi ngôn ngữ đều có những nét đặc thù, chi phối vần thơ nên một định nghĩa đ-ợc coi là chuẩn cho mọi nền thơ thì cho
đến nay vẫn ch-a có đ-ợc Trong thơ ca tiếng Việt, đơn vị vần thơ cũng có nhiều định nghĩa khác nhau Có thể dẫn ra một số định nghĩa tiêu biểu sau
đây Các tác giả Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi cho rằng: vần thơ “ dựa trên cơ sở sự lặp lại không hoàn toàn các tiếng ở những vị trí nhất
định của dòng thơ nhằm tạo nên tính hài hòa và liên kết của dòng thơ và giữa các dòng thơ” [8, 423] Tác giả Mai Ngọc Chừ quan niệm: “ vần là sự hòa âm,
sự cộng h-ởng nhau theo những quy luật ngữ âm nhất định giữa hai từ hoặc hai âm tiết ở trong hay cuối dòng thơ và thực hiện những chức năng nhất định nh- liên kết các dòng thơ, gợi tả, nhấn mạnh sự ngừng nhịp” [3, 16] Theo
định nghĩa này, đơn vị hiệp vần trong tiếng Việt là âm tiết (trong thơ Anh, thơ Pháp… đơn vị hiệp vần là từ) Các âm tiết hiệp vần phải có sự đồng nhất nào
Trang 28đó (hòa âm) ở những vị trí nhất định Và còn một điểm nữa, định nghĩa này nhấn mạnh chức năng của vần gồm liên kết các dòng thơ, gợi tả và nhấn mạnh
sự ngừng nhịp Chúng tôi chọn định nghĩa về vần thơ của tác giả Mai Ngọc Chừ để xử lý vấn đề
Theo Bùi Văn Nguyên và Hà Minh Đức: “ các thể thơ trong phong trào thơ mới đều sử dụng nhiều hình thức gieo vần phong phú Các lối gieo vần trong thơ ca dân tộc đều đ-ợc khai thác và vận dụng… Hai lối gieo vần cơ bản
là vần l-ng và vần chân vẫn đ-ợc chú trọng Vần l-ng đ-ợc dùng nhiều trong các thể thơ lục bát, thất ngôn và phần nào trong thể thơ tám từ” [14, 386]
2.1.1.2 Phân loại vần thơ
Vần l-ng và vần chân mà các tác giả nói ở trên là hai loại vần thơ phân loại theo vị trí hiệp vần ở trong dòng thơ Ngoài cách phân loại này còn có những cách phân loại vần thơ theo những tiêu chí khác Dựa vào thanh điệu, vần thơ đ-ợc chia thành hai loại là vần bằng và vần trắc Vần bằng là những vần có thanh điệu là thanh ngang và thanh huyền Vần trắc là những vần có thanh điệu là thanh hỏi, thanh ngã, thanh sắc và thanh nặng Dựa vào mức độ hòa âm giữa các âm tiết hiệp vần, vần thơ chia thành vần chính, vần thông và vần ép Vần chính là những vần mà các yếu tố tham gia hiệp vần (âm chính,
âm cuối và thanh điệu) đồng nhất hoàn toàn Vần thông là những vần có sự khác nhau chút ít giữa các yếu tố tham gia hiệp vần Còn vần ép là những vần
mà các yếu tố tham gia hiệp vần khác nhau quá lớn (không có quan hệ âm vị học) Ngoài ra, vần thơ còn có cách phân loại dựa vào cách kết thúc vần (cũng
là kết thúc âm tiết) Nếu vần kết thúc bằng nguyên âm, ta có vần mở Nếu kết thúc bằng bán âm, ta có vần nửa mở Nếu kết thúc bằng các phụ âm tắc mũi,
đó là vần nửa khép Còn kết thúc bằng các phụ âm tắc điếc, đó là vần khép
2.1.1.3 Vai trò của vần thơ
Là một hiện t-ợng hòa âm, vần tr-ớc hết có vai trò tổ chức, là chiếc cầu bắc qua các dòng thơ, gắn nối chúng thành khổ thơ, đoạn thơ và bài thơ hoàn chỉnh Vần nh- sợi dây buộc các dòng thơ lại với nhau làm cho việc đọc đ-ợc
Trang 29trò nhấn mạnh sự ngừng nhịp Sự ngừng nhịp cuối dòng thơ là hiển nhiên và lúc này vần chân là cơ sở của sự ngừng nhịp Đôi khi vần l-ng trong dòng thơ cũng là căn cứ để ta ngừng nhịp, xác định nhịp điệu Chẳng hạn, “ Việt Nam /
độc lập / đồng minh // Có bản ch-ơng trình / đánh Nhật đánh Tây” (Hồ Chí Minh) Nhịp của dòng bát từ 2/2/2/2 thành nhịp 4/4 là do vần trong âm tiết
“minh” của câu lục hiệp vần với “trình” ở vị trí thứ t- của câu bát Nh- vậy, vần có mối quan hệ chặt chẽ với nhịp, chi phối cách tổ chức nhịp điệu Ngoài
ra, vần còn có vai trò biểu đạt ý nghĩa Tuy nhiên trong nhiều tr-ờng hợp, vị trí của vần trong câu thơ có thể tăng sức mạnh biểu đạt ý nghĩa cho câu thơ Chẳng hạn, vần “ eo” trong bài “ Thu điếu” của Nguyễn Khuyến phần nào cho
ta thấy tâm trạng cô đơn, lẻ loi, buồn tẻ, quanh quẩn của nhà thơ trong cảnh mùa thu câu cá
2.1.1.4 Cách gieo vần trong thơ mới
Các thể thơ trong phong trào thơ mới sử dụng nhiều hình thức gieo vần Các lối gieo vần đã có trong thơ ca dân tộc đều đ-ợc khai thác và vận dụng Ngoài ra, thơ mới còn tiếp thu nhiều cách gieo vần của thơ ca n-ớc ngoài, chủ yếu là thơ ca Pháp
Hai lối gieo vần cơ bản là vần l-ng và vần chân đ-ợc chú trọng Vần l-ng đ-ợc dùng nhiều trong các thể: Lục bát, song thất lục bát và phần nào trong thơ tám tiếng:
Buồn gieo theo gió ven hồ
Đèo cao quá chật bến đò lau th-a
(Huy Cận)
Xao xác tiếng gà, trăng ngà lạnh buốt Ng-ời giai nhân bến đợi d-ới cây già Tình du khách thuyền qua không buộc chặt
(Xuân Diệu) Những vần l-ng níu nhau trực tiếp trong câu thơ gợi lên những âm điệu
đặc biệt, tăng sức gợi cảm cho tứ thơ
Trang 30Ngoài vần l-ng, thơ mới dùng nhiều hình thức gieo vần chân Trong thơ
ca dân gian và một số thể thơ cũ đã có cách gieo vần chân theo lối vần liền và gián cách Thơ mới vần tiếp tục những cách hiệp vần đó, kết hợp với hiệp vần của lối thơ Pháp nh-: vần liên tiếp theo lối tứ tuyệt, vần liên tiếp gieo từng cặp một, vần gián cách, vần ôm nhau, vần hỗn hợp
2.1.2 Cách hiệp vần trong thơ tám tiếng của Chế Lan Viên
2.1.2.1 Nhận xét chung
Thơ Chế Lan Viên có rất nhiều thể loại khác nhau nh-: thơ tự do, song thất lục bát, tứ tuyệt, thơ tám tiếng Nh-ng do thời gian hạn hẹp nên đối t-ợng chúng tôi khảo sát chỉ là thể thơ tám tiếng Cụ thể là thể thơ tám tiếng trong
tập Điêu tàn của ông (Nxb Hội nhà văn 1995), gồm 35 bài với giọng thơ buồn
ảo não có pha màu huyền bí gắn liền với mạch cảm xúc hiện thực của nhà thơ Trong thơ Việt Nam nói chung, thơ tám tiếng Chế Lan Viên nói riêng, tất cả các yếu tố của âm tiết Tiếng Việt đều tham gia vào việc tổ chức vần thơ và tạo
âm h-ởng hài hòa cho thơ Nh-ng trong tất cả các yếu tố thì vai trò của thanh
điệu, âm chính, âm cuối nổi lên nh-ng là yếu tố đặc tr-ng nhất, không thể thiếu đ-ợc Do vậy, nói đến cách hiệp vần của Chế Lan Viên không thể bỏ qua các yếu tố này bởi đó là những yếu tố cơ bản nhất, chủ yếu nhất
Muốn xem xét vần thơ d-ới góc độ ngôn ngữ học phải ghi ký hiệu vần bằng ký hiệu ghi âm vị học Trong quá trình tìm hiểu cách gieo vần trong thơ tám tiếng của Chế Lan Viên, chúng tôi sử dụng các ký hiệu âm vị học trong cuốn “ Ngữ âm Tiếng Việt” của Đoàn Thiện Thuật (1997)
2.1.2.2 Cách hiệp vần dựa vào thanh điệu
Nh- ta đã biết, thơ tám tiếng nói chung và thơ tám tiếng của Chế Lan Viên nói riêng đều bắt nguồn từ thể hát nói nên về cơ bản cũng tuân theo luật bằng trắc nh-:
Hầu ran nóng, lửa hồng bừng cháy mắt
T
Máu hồng t-ơi lay cả thành kim
Trang 31Đâu điệu nhạc điên cuồng ta khao khát
(Nhạc điệu điên cuồng)
Ta để xiêm lên mây rồi nhẹ b-ớc
Điêu tàn” thì có 5 bài dạng biến thể, những bài có từng cặp trắc đi với từng cặp bằng Và những bài đó không phải khổ 4 câu mà khổ 3 câu, 5 câu, 9 câu,
cụ thể:
Biết làm sao giữ mãi đ-ợc ta đây?
Thịt cứ chiều theo thú dục chua cay!
Màu cứ nhảy theo nhịp cuồng kẻ khác!
Trang 32Mắt theo rõi tinh hoa bao màu sắc!
Đau đớn thay cho đến cả linh hồn
Cứ bay tìm chán nản với u buồn
Qua sự khảo sát 35 bài thơ chúng tôi thu đ-ợc kết quả nh- sau:
Nhóm bằng 307 câu Nhóm trắc 334 câu Tr-ờng hợp đặc biệt
Cao thấp
Trắc 12 cặp
Bằng 16 cặp
Tiếng lao xao dội thấu đến cung Hằng
Trang 33ở ví dụ trên “ b-ớc” hiệp vần với “ n-ớc” và “ quang” hiệp vần với
“hằng” cùng thanh sắc nhóm trắc; “quang” và “hằng” thanh ngang và thanh huyền nhóm bằng nh-ng có sự phối điệu trầm / bổng (cao / thấp)
Ví dụ:
Đây, những cảnh ngàn sâu cây lả ngọn Muôn ma hời sờ soạng dắt nhau đi Những rừng thẳm bóng chiều lan hỗn độn Lừng h-ơng đ-a, rộn rã tiếng từ quy
Trong thơ truyền thống dùng nhiều hình thức gieo vần chân theo lối liên tiếp và gián cách Thơ mới vẫn tiếp tục những cách hiệp vần đó, kết hợp với cách hiệp vần của thơ Pháp Trong thơ tám tiếng của Chế Lan Viên có lối hiệp vần:
- Vần gián cách:
Mi có nhớ cảnh pháp tr-ờng ghê rợn
Sọ muôn ng-ời lần l-ợt đuổi nhau rơi?
Hay mi nhớ những đêm mờ rùng rợn Hồn mi bay trong đốm lửa ma trơi?
(Cái sọ ng-ời) Hãy cho ta lúc vui trên tay khác
Một chút th-ơng an ủi tấm lòng đau Nh- hồn ma, trong khi về mộ khác Còn đôi hồi dừng cánh viếng mồ sâu
(Mồ không)
Trang 34- Vần liên tiếp theo từng cặp một:
Ta cởi truồng ra! Ta cởi truồng ra Ngoài kia trăng sáng chảy bao la,
Ta nhảy vào quay cuồng thôi lăn lộn, Thôi ngụp lặn trong ánh vàng hỗn độn Cho trăng ghì, trăng riết cả làn da
(Tắm trăng) Hồn ma ơi! Trong những đêm u tối
Mi tung mây về chân trời vòi vọi Hãy mau nghiêng cánh lại ở bên mồ Phủ lòng ta say đắm chút h-ơng mơ!
2.1.2.3 Cách hiệp vần dựa theo sự hòa âm
Trong tiếng Việt, các âm tiết khi tham gia vào thơ đều bị sự chi phối theo quy luật chung nhằm làm cho vần thơ đạt tới một vẻ đẹp nhất định Quy luật chung đó là: Tất cả các yếu tố âm thanh trong một âm tiết đ-ợc gieo vần phải nằm trên một mối liên quan chế -ớc và bù đắp lên nhau, tạo cho các âm