Chính vì vậy, trong những sáng tác của mình, Chế Lan Viên đã chiếm lĩnh được đỉnh cao của nghệ thuật và ở mỗi giai đoạn đều có những tập thơ để lại những dấu ấn khó phai tron
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Hà Nội - 2014
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
LƯU THI ̣ LAN
THƠ CHÍNH LUẬN CHẾ LAN VIÊN TỪ GÓC NHÌN
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Tác giả luận văn LƯU THI ̣ LAN
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Lời đầu tiên, tôi xin bày tỏ lòng kính trọng và sự biết ơn sâu sắc tới PGS.TS Nguyễn Bá Thành - người đã luôn tận tình chỉ dẫn, giúp đỡ và động viên tôi trong quá trình hoàn thành luận văn này
Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới các Thầy cô giáo khoa Văn học- Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn đã tạo điều kiện thuận lợi nhất cho tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu
Trân trọng cảm ơn các Thầy cô phản biện và các Thầy cô giáo trong hội đồng khoa ho ̣c đã đọc, nhận xét và góp ý về luận văn
Cuối cùng tôi xin gửi lời tri ân sâu sắc tới những người thân trong gia đình, bạn bè và đồng nghiệp - những người đã luôn bên tôi, động viên tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn này
Người viết: Lưu Thị Lan Lớp Cao học Văn K57
Trang 5MỤC LỤC
MỤC LỤC 5
PHẦN MỞ ĐẦU 7
1 Lí do chọn đề tài 7
2 Lịch sử vấn đề 10
3 Mục đích và đối tượng nghiên cứu 14
4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu 16
4.1 Phương pháp phân tích, tổng hợp 16
4.2 Phương pháp so sánh , đối chiếu 16
4.3 Phương pháp nghiên cứu lịch sử và phương pháp nghiên cứu loại hình 16
4.4 Phương pháp nghiên cứu tiểu sử tác giả 13
5 Những đóng góp mới về khoa học của luận văn 17
6 Bố cục của luận văn 17
PHẦN NỘI DUNG 19
CHƯƠNG I: KHÁI QUÁT VỀ TƯ DUY NGHỆ THUẬT VÀ THƠ CHÍNH LUẬN CHẾ LAN VIÊN 19
1.1.Khái niệm về tư duy thơ 19
1.1.1.Khái niệm về tư duy 19
1.1.2 Tư duy nghê ̣ thuật 21
1.1.3 Tư duy thơ 23
1.2 Khái niệm về thơ chính luận 24
1.2.1 Tư duy lý luận lấn át tư duy hình tượng 24
1.2.2 Ngôn ngữ thuyết giảng, diễn ngôn, lập luận 30
1.3 Thơ chính luâ ̣n Chế Lan Viên 36
1.3.1 Sự hình thành và vận động yếu tố chính luận trong thơ Chế Lan Viên 37
Trang 61.3.2 Chính luận như yếu tố cốt lõi tạo nên phong cách Chế Lan Viên 55
1.3.3 Thơ chính luận trong sự nghiê ̣p sáng tác của Chế Lan Viên 62
Tiểu kết chương 1: 65
CHƯƠNG 2: CẢM HỨNG DÂN TỘC THỜI ĐẠI VÀ CÁI TÔI TRỮ TÌNH TRONG THƠ CHÍNH LUẬN CHẾ LAN VIÊN 66
2.1 Cảm hứng lịch sử và thời đại 66
2.1.1 Cảm hứng lịch sử về cái “Điêu tàn” và tư duy siêu hình 66
2.1.2 Cảm hứng dân tộc thời đại và tư duy biê ̣n chứng li ̣ch sử 76
2.2 Cái tôi trữ tình biện luận 77
2.2.1 Cái tôi cô đơn 78
2.2.2 Cái tôi hòa nhập 80
Tiểu kết chương 2: 86
CHƯƠNG 3: THỂ LOẠI, NGÔN NGỮ, BIỂU TƯỢNG TRONG THƠ CHÍNH LUẬN CHẾ LAN VIÊN 87
3.1 Thể thơ 87
3.1.1.Thơ tự do 87
3.1.2 Thơ tứ tuyê ̣t 91
3.2 Ngôn ngữ 92
3.3 Biểu tươ ̣ng 103
3.3.1 Các quan niệm về biểu tượng nghệ thuật 99
3.3.2 Một số hình ảnh biểu tượng trong thơ chính luận Chế Lan Viên 105
Tiểu kết chương 3: 115
KẾT LUẬN 117
TÀI LIỆU THAM KHẢO 121
Trang 7PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Trong nền văn học Việt Nam hiện đại, Chế Lan Viên là một tác gia lớn Cuộc đời hoạt động nghệ thuật của ông bao trùm lên thế kỷ XX và để lại dấu ấn đậm nét trong lịch sử văn học nước nhà Hơn 50 năm làm thơ (1936-1989), như một con ong cần mẫn và tận tụy hút nhụy hoa cuộc đời để làm nên mật ngọt, Chế Lan Viên đã gom góp, chắt lọc và dâng hiến những gì tinh túy nhất, thơm thảo nhất của cuộc đời ông, của tâm linh ông, của hồn thơ ông cho bạn đọc, cho nhân dân, cho Tổ quốc mà ông xiết bao yêu quý Chính vì vậy, trong những sáng tác của mình, Chế Lan Viên đã chiếm lĩnh được đỉnh cao của nghệ thuật và ở mỗi giai đoạn đều có những tập thơ để lại những dấu ấn khó
phai trong lòng bạn đọc: giai đoạn Thơ Mới với “Điêu tàn”, hòa bình với
“Ánh sáng và phù sa”, thời chống Mỹ cứu nước với “Hoa ngày thường - chim
báo bão”, “Những bài thơ đánh giặc”, giai đoạn đổi mới với “Di cảo thơ”
Người đọc biết đến ông không chỉ với tư cách là một nhà thơ mà còn là một người có nhiều đóng góp trong viết văn, viết tiểu luận Hiện nay ông để lại 15 tập thơ (kể cả Di cảo thơ Chế Lan Viên 3 tập), 7 tác phẩm văn xuôi, 8 tập tiểu luận phê bình , ở lĩnh vực nào ông cũng đa ̣t được những thành công và để la ̣i dấu ấn khó phai trong lòng đô ̣c giả
Nói đến thơ Chế Lan Viên, người đọc có thể nghĩ ngay đến tập thơ
“Điêu tàn” mà ngay từ khi xuất hiện đã tạo nên một “niềm kinh dị” được viết
bằng chất liệu của đầu lâu, xác chết, nấm mồ, xương khô - ẩn trong tâm hồn của một cậu học sinh 17 tuổi ngồi cạnh tháp Chàm lẻ loi, bí mật
Bên cạnh đó, người đọc lại không quên giọng thơ đậm màu sắc trí tuệ ,giàu tính chiến luận của một nhà thơ lớn đại diện cho dân tộc đang chiến đấu và chiến thắng trong thời kỳ chống Mĩ Là một nhà thơ mà cuộc đời và sự nghiệp sáng tác luôn gắn liền với sự vận động và biến thiên của lịch sử dân
Trang 8tộc Ông đã cùng dân tộc đi qua những bước thăng trầm của lịch sử Ta nhận
ra trong thơ Chế Lan Viên tinh thần dân tộc và thời đại Chế Lan Viên đã thực
sự đem đến cho nền thơ hiện đại Việt Nam một tiếng thơ riêng, một “chất
mặn” đặc biệt, tạo nên một phong cách đa dạng, độc đáo
Chế Lan Viên là một nhà thơ có quá trình chuyển hóa sâu sắc triệt để
.Ông là người thành công trong quá trình chuyển hóa ấy, “đã đem lại một mùa
thơ” trong thời đại bão táp cách mạng Từ một nhà thơ tiền chiến lãng mạn,
ông đã thực sự trở thành nhà thơ hiện thực xã hội chủ nghĩa Nhiều bài thơ của ông là một sự kết hợp nhuần nhị giữa các yếu tố anh hùng ca và trữ tình, hiện thực và lãng mạn, cảm xúc và trí tuệ, trữ tình và châm biếm Bởi thế, qua thơ Chế Lan Viên ta bắt gặp một nét độc đáo của nền thơ ca Việt Nam: tiếng nói anh hùng đã trở thành tiếng nói tự nhiên của tâm hồn, tình cảm hay nói cách khác chất trữ tình đã hòa quyện gắn bó với chất anh hùng ca Vì thế đọc thơ ông, người đọc phải có chiều sâu suy ngẫm mới có thể cảm nhận được cái hay, cái đẹp ẩn chứa trong mỗi câu thơ Phải chăng tạo nên vẻ đẹp trong thơ Chế Lan Viên chính là sự hòa quyện giữa yếu tố triết lí và tư duy nghệ thuật Mỗi một nhà thơ đều có một cách tư duy thơ khác nhau Người ta thường hay nhắc đến cảm quan thời gian trong thơ Xuân Diệu, cảm quan không gian trong thơ Huy Cận Còn với Chế Lan Viên, lại nổi bật lên với phong cách thơ suy tưởng đặc sắc và độc đáo Thơ ông đã nói lên được những điều dữ dội nhất, quyết liệt nhất, dã man nhất và cũng tiến bộ nhất xảy ra đối với nhân loại nói chung cũng như đối với mỗi dân tộc và chính bản thân ông Suy tưởng thơ Chế Lan Viên bắt nguồn từ một trí tưởng tượng bay bổng, phong phú và một tư duy thơ sắc sảo Suy tưởng đã mở đường cho hình tượng thơ vận động theo đi ̣nh hướng của tư duy thơ và dòng chảy của cảm xúc Đó là
Trang 9Thơ Chế Lan Viên là thứ thơ triết mỹ, giàu màu sắc nhận thức luận Vì vậy, thơ ông thâm trầm, sắc sảo, ý tứ sâu xa với một mạch thơ lúc nào cũng trăn trở, suy tư, khát khao hiểu biết, luôn muốn khám phá những điều kỳ lạ, mới mẻ Chất suy tưởng đặc biệt của Chế Lan Viên đã đem đến cho thơ ông những hình ảnh đẹp, gợi cảm và giàu ý nghĩa vô cùng
Chế Lan Viên luôn tâm niệm “Thơ là vũ khí đấu tranh giai cấp kỳ
diệu” và đã vận dụng triệt để vào trong sáng tạo nghệ thuật của mình Chính
vì thế mà trong những bài thơ chính luận, Chế Lan Viên đã thể hiện được sức chiến đấu năng nổ, tinh túy nhạy bén kịp thời, chiều sâu của tư duy nghệ thuật
Thơ Chế Lan Viên vẫn luôn là một đề tài hấp dẫn cho không ít người đọc và các nhà lý luận nghiên cứu văn học Những bài báo, tạp chí, tuyển tập, công trình nghiên cứu, phê bình, tiểu luận, luận án, luận văn viết về sự nghiệp sáng tác của ông với tất cả niềm say mê và lòng ngưỡng mộ Những công trình lớn mang tầm cỡ khoa học phải kể đến như của Phan Cự Đệ, Hà Minh Đức, Mã Giang Lân, Nguyễn Bá Thành Những công trình khoa học ấy giúp chúng ta khám phá thêm sự nghiệp sáng tác thơ của Chế Lan Viên, qua đó góp phần nâng cao năng lực tiếp cận cho độc giả tìm hiểu thêm về sức sáng tạo thơ ông
Trong sáng tác của Chế Lan Viên, thơ chính luận xuyên suốt hành trình sáng tác Nó nằm rải rác trong tất cả các tập thơ của Chế Lan Viên Tuy nhiên, tiêu biểu và phát triển rực rỡ nhất là những bài thơ trong thời kỳ kháng chiến chống Mĩ
Nghiên cứu về Chế Lan Viên đã có rất nhiều những công trình lớn, nhưng nghiên cứu về thơ chính luận Chế Lan Viên thì chưa có một công trình nào
Trang 10Là một độc giả yêu mến thơ Chế Lan Viên - ngưỡng mộ và cảm phục tài thơ của ông, tôi mong muốn tìm tòi, thể nghiệm những nhận thức của mình
về sự nghiệp thơ của Chế Lan Viên, tôi đã mạnh dạn chọn đề tài “Thơ chính
luận Chế Lan Viên từ góc nhìn tư duy nghệ thuật” để nghiên cứu, tìm hiểu
Qua những vần thơ chính luận Chế Lan Viên, bức tranh toàn cảnh xã hội Việt Nam trong những năm tháng dữ dội nhất sẽ hiện lên cụ thể, sống động hơn, giúp ta thêm yêu những vần thơ giàu chất trí tuệ, giàu tính chính luận khi viết
về Tổ quốc, nhân dân, Đảng và lãnh tụ, về kẻ thù đã đang và sẽ mãi mãi ngân tỏa trong lòng người đọc mọi thế hệ
2 Lịch sử vấn đề
Chế Lan Viên là một gương mặt độc đáo trong lịch sử Văn học Việt Nam
hiện đại, là “cây đại thụ thơ tỏa bóng mát xum xuê trong khu rừng lớn Văn
học Việt Nam thế kỷ XX” Từ quyển “Điêu tàn” đột ngột xuất hiện giữa làng
thơ như một niềm kinh dị năm 1937 đến “Di cảo thơ” tập 3 năm 1996, ông đã
để lại một di sản văn học đồ sộ Chính vì thế, thơ Chế Lan Viên đã trở thành một hiện tượng thu hút sự quan tâm nghiên cứu của nhiều cây bút, nhiều nhà
lí luận phê bình
Số lượng những bài viết về thơ Chế Lan Viên khá nhiều Đó là các bài phê bình, nghiên cứu, chân dung văn học Đã có những công trình bàn trực tiếp về thơ, về phong cách và phương pháp sáng tác của Chế Lan Viên Tuy nhiên nghiên cứu ở phương diện tư duy thơ Chế Lan Viên vẫn còn mới mẻ dù
đã có một số bài viết, nhưng đó chỉ là một vài phương diện chứ chưa nghiên cứu một cách toàn diện
Qua nhiều giai đoạn, thơ Chế Lan Viên vận động, biến đổi nhưng vẫn định hình những nét riêng, thể hiện rõ cá tính sáng tạo Những nhà nghiên cứu
Trang 11có tính chất châm ngôn, tính chất triết lý ”(Nguyễn Lộc) [3,59], “Chế Lan Viên là nhà thơ biết khai thác triệt để năng lực sáng tạo trong thơ, một lĩnh vực gắn với thế giới cảm xúc Điều này khiến thơ ông luôn vượt qua cái cụ thể, cảm tính, mở ra những chiều sâu đạt đến những tầm cao mới” (Vũ Tuấn
Anh) [3,31,32]
Trong những công trình nghiên cứu khác khẳng định khuynh hướng
khái quát và triết lý trong thơ Chế Lan Viên Nguyễn Lộc với “Chế Lan Viên
và những tìm tòi trong nghệ thuật thơ” [28] Nguyễn Xuân Nam với “Những bài thơ đánh giặc của Chế Lan Viên”[33]
Bàn trực tiếp đến các vấn đề thuộc lĩnh vực tư duy có các công trình
của tác giả Vũ Tuấn Anh, Nguyễn Bá Thành, Hà Minh Đức, “Chế Lan Viên
là nhà thơ biết khai thác triệt để năng lực trí tuệ trong sáng tạo thơ, một lĩnh vực gắn với thế giới cảm xúc Điều này khiến thơ ông luôn vượt qua cái cụ thể
- cảm tính để mở ra những chiều sâu đạt đến tầm cao mới” (Vũ Tuấn Anh)
[3,59], “Thơ ông có một số đã không đi theo con đường mòn mà thơ ca xưa
nay vẫn đi, tức là con đường từ trái tim đến những trái tim Thơ ông đi theo con đường từ trí tuệ để đến với trái tim” (Nguyễn Bá Thành) [43,189]
“Trong các nhà thơ lớp trước, Chế Lan Viên mang đậm nét phong cách thơ suy tưởng Anh không đến với thơ với tư cách là người làm triết học Không phải là bộ óc duy lý , một tư duy triết học nở hoa khi đến với một vườn hoa đẹp Tiếng nói thơ ca đầu tiên của anh là thuộc về một tấm lòng , là nỗi đau đến da diết của một tâm trạng”, “Dòng suy luận và dòng suy tưởng trong thơ Chế Lan Viên khéo léo kết hợp làm một, nhịp nhàng, uyển chuyển mà sâu sắc Trên hướng phân tích, bình luận những vấn đế thời sự, Chế Lan Viên dừng lại lái vào những vấn đề triết lý rồi lại trả vấn đề về dòng tư duy chính luận” (Hà
Minh Đức ) [7,661-662] Nguyễn Xuân Nam lại hướng bạn đọc đến với sức
hấp dẫn của thơ ông khi điểm qua các tập thơ trong lời giới thiệu “Tuyển tập
Trang 12Chế Lan Viên” Theo ông “đọc thơ Chế Lan Viên, ấn tượng nổi bật của chúng
ta là sự thông minh và tài hoa Thông minh vì ý thơ phong phú , bất ngờ, tài hoa vì hình ảnh khác lạ , kỳ thú” [2, 72] Nguyễn Xuân Nam cũng đồng tình
với Nguyễn Văn Hạnh rằng: “Nét nổi bật của tư duy nghệ thuật Chế Lan Viên
chính là sự đối lập Qua đối lập, nhà thơ nói lên một quy luật phát triển cơ bản của sự vật, tác động mạnh mẽ đến trí tưởng tượng của người đọc, khêu gợi củng cố hứng thú thẩm mỹ của họ, bằng cách cho họ tiếp xúc với những bất ngờ và tương phản trong ý thơ, trong hình ảnh, trong kết cấu, trong nhạc điệu từ cuộc sống lớn đến niềm riêng, từ xã hội đến thiên nhiên, từ hiện tại đến quá khứ, từ yêu thương đến giận dữ, từ yên tĩnh đến bàng hoàng, từ trang nghiêm đến trào lộng” [2,86]
Các thao tác quen thuộc trong tư duy thơ Chế Lan Viên đều được các nhà phê bình chú ý, đó là cách sử dụng phép đối lập tương phản Nguyễn Văn
Hạnh trong một bài viết của mình đã đưa ra ý kiến: “Hình thức cơ bản phổ
biến trong tư duy nghệ thuật của Chế Lan Viên là sự đối lập Đối lập trong không gian ,trong lòng người Qua đối lập phải nói Chế Lan Viên đã nắm bắt một quy luật quan trọng trong cuộc sống cũng như sự nhận thức nghệ thuật”
[3,32] Ý kiến này nhận được sự đồng tình của Đoàn Trọng Huy trong cuốn “
Nghệ thuật thơ Chế Lan Viên”: “một nét đặc trưng dễ nhận thấy trong thơ trong tư duy nghệ thuật của Chế Lan Viên là sự khai thác những tương quan đối lập” [22,7] Tuy nhiên hầu hết các tác giả mới chỉ dừng lại ở những nhận
xét khái quát như trên mà chưa đi sâu nghiên cứu đề tài một cách có hệ thống và toàn diện
Nghiên cứu thơ Chế Lan Viên một cách tương đối toàn diện và có hệ thống còn phải kể đến một số luận án thạc sĩ , tiến sĩ của các tác giả như Ngô
Trang 13cách mạng Trong đó hai luận án tiến sĩ của Hồ Thế Hà và Đoàn Trọng Huy được xem là hai luận án khá công phu đi sâu nghiên cứu về đặc sắc nghệ thuật
thơ Chế Lan Viên Hồ Thế Hà với “Thế giới nghệ thuật thơ Chế Lan Viên”, Đoàn Trọng Huy với “Những nét đặc sắc cơ bản của hình thức nghệ thuật thơ
Chế Lan Viên từ sau 1945” Hồ Thế Hà từng nhận xét “Chế Lan Viên vận dụng và sáng tạo nhiều phương pháp đối lập và so sánh, mang dấu ấn thẩm
mỹ và năng lực sở trường độc đáo của riêng ông” [15,24] Đoàn Trọng Huy
cũng cho rằng “Đối lập có trong liên tưởng như đã nêu Tuy nhiên nó trở
thành một phương thức tư duy lớn bao trùm hơn, mang dấu ấn cá tính sáng tạo rất rõ trong thơ Chế Lan Viên” [23,39]
Tìm hiểu tư duy thơ Chế Lan Viên chính là sự tìm hiểu “sự phong phú
vô biên” của một hồn thơ tự do, phóng túng là tìm hiểu những quy luật vận
động của toàn bộ tư tưởng và tình cảm của nhà thơ thể hiện qua tác phẩm Những bài nghiên cứu thơ Chế Lan Viên không nhiều, chủ yếu các nhà nghiên cứu tìm hiểu thơ Chế Lan Viên ở phương diện triết học, nhận thức và phản ánh hiện thực Đó chỉ là những khía cạnh, phương diện tư duy thơ, chưa thành đối tượng nghiên cứu toàn diện Một số những công trình, bài viết có tìm hiểu, nghiên cứu về vấn đề này Đoàn Trọng Huy trong luận án phó tiến
sỹ khoa học Ngữ Văn về “Những nét đặc sắc cơ bản của hình thức nghệ thuật
thơ Chế Lan Viên từ sau năm 1945” có tìm hiểu tư duy thơ Chế Lan Viên ở
những biện pháp nghệ thuật đă ̣c sắc như tưởng tượng, liên tưởng, đối lập làm nên định hướng thẩm mỹ và nguồn gốc những sáng tạo hình thức nghệ thuật thơ Chế Lan Viên
Nghiên cứu về Chế Lan Viên, khái quát được tư duy thơ Chế Lan Viên
một cách sâu sắc, toàn diện Nguyễn Bá Thành cho rằng “một nhà thơ đã
chiếm lĩnh được nhiều đỉnh cao nghệ thuật ở các giai đoạn khác nhau: Giai đoạn Thơ mới với “Điêu tàn”, giai đoạn hòa bình với “Ánh sáng và phù sa”,
Trang 14giai đoạn chống Mỹ cứu nước với “Hoa ngày thường - chim báo bão”,
“Những bài thơ đánh giặc”, giai đoạn Đổi mới với “Di cảo thơ” Điều đáng chú ý là ông đã đi trước thời đại trong công cuộc đổi mới tư duy thơ, đổi mới toàn diện của đất nước để hòa nhập vào cuộc sống nhân loại”[43,187] “Trên chặng đường hơn 50 năm làm thơ, Chế Lan Viên đã chú ý đến hầu như toàn
bộ những vấn đề lớn nhất của đời sống tinh thần dân tộc và nhân loại Những vấn đề triết học nhân đạo, về dân tộc và thời đại, về thế thái nhân tình, về nghề nghiệp văn chương đều được đến một cái sâu sắc và tâm huyết”
(Nguyễn Bá Thành) [43,26]
Qua những vấn đề như trên để chứng tỏ rằng Chế Lan Viên là tác giả lớn, là tinh hoa của nền văn học hiện đại Việt Nam, đòi hỏi nhiều người tiếp tục nghiên cứu Như vậy, vấn đề tư duy nghệ thuật của Chế Lan Viên nói chung và trong thơ chính luận nói riêng chưa trở thành một đề tài nghiên cứu riêng biệt cho một công trình hay một tác giả nào Mặc dù vậy, ở một số phương diện, một số khía cạnh vấn đề tư duy trong thơ chính luận cũng đã được đề cập đến Và luận văn của tôi là một hướng nghiên cứu, đóng góp trên
cơ sở tiếp thu những thành tựu của những công trình đi trước và cố gắng tiếp cận theo phương pháp phong cách học kết hợp với phương pháp văn học sử
để chỉ ra giá trị ưu việt trong tính toàn vẹn, bao quát và chỉnh thể của toàn bộ
tư duy nghệ thuật Chế Lan Viên trong thơ chính luận
3 Mục đích và đối tƣợng nghiên cứu
Mục đích của đề tài là đi sâu tìm hiểu thơ chính luận Chế Lan Viên từ góc nhìn tư duy nghệ thuật Vì vậy toàn bộ các tập thơ của Chế Lan Viên là đối tượng để khảo sát Tuy nhiên đề tài này chủ yếu đi sâu những sáng tác của Chế Lan Viên trong thời kỳ kháng chiến chống Mĩ, mà tiêu biểu là những bài
Trang 15Nhắc đến tư duy – một vấn đề khá trừu tượng – quả là vấn đề không dễ Mă ̣t khác bàn về tư duy thơ của một nhà thơ lớn như Chế Lan Viên càng khó hơn Vì làm thơ không phải là có gì nói đấy, tư duy mô ̣t cách đơn thuần Chúng ta không thể phủ nhận để có một bài thơ hay để lại ấn tượng cho người đọc nhà thơ đã phải miệt mài bỏ biết bao công sức lao động nghệ thuật một cách nghiêm túc như thế nào Vấn đề ở đây không đơn thuần nằm trong nội dung câu thơ hay bài thơ nữa mà nó còn liên quan đến hình thức Ý thơ sẽ được triển khai ra sao, dùng hình ảnh biểu tượng nào, thể loại nào là thích hợp, điều đó còn phụ thuộc vào từng nhà thơ và lối tư duy nghệ thuật của họ
Nói về tầm quan trọng của tư duy văn học, Chế Lan Viên từng viết: “Nghe
ngóng, quan sát, lấy tài liệu cũng chỉ giúp chúng ta nắm chân lý một nửa Còn một nửa là phải biết vận dụng tư duy” Có thể nói, nét đặc trưng tư duy
này của Chế Lan Viên được vận dụng hiệu quả trong cảm xúc và suy tư, đều
có ý nghĩa thi pháp Tất cả tưởng tượng, liên tưởng trong quá trình tư duy đều nhằm đạt hiệu quả tạo hình thức nghệ thuật, biểu hiện tốt nhất nội dung Thông qua luận văn này, người viết mong muốn tiếp cận tác phẩm thơ Chế Lan Viên dưới một góc độ, góp thêm một cách lý giải sự gắn bó giữa tư duy và sáng tạo nghệ thuật, chức năng của văn học vốn là những vấn đề muôn thuở
Bên cạnh đó, vì sự nghiệp thơ Chế Lan Viên quá đồ sộ và không phải bài thơ nào của ông cũng là chính luận Do vậy, tôi chỉ dừng lại ở những bài thơ phục vụ cho mục đích nghiên cứu của đề tài, đặc biệt là những bài thơ chính luận tiêu biểu cho phong cách nghệ thuật của nhà thơ trong các tập:
“Hoa ngày thường - chim báo bão”, “Những bài thơ đánh giặc” Các tập thơ
khác cũng được nghiên cứu nhưng ở mức độ ít hơn
Chế Lan Viên không chỉ là một nhà thơ ông còn là một nhà nghiên cứu phê bình sắc sảo, nhà l ý luận độc đáo có rất nhiều các bài nghiên cứu phê bình
Trang 16, tiểu luận về thơ, về nghề Đây chính là tài liệu quý để tôi tìm hiểu tham khảo giúp cho việc đánh giá được khách quan và chính xác hơn
Trong quá trình phân tích, tôi cũng lấy một số bài thơ của các tác giả khác cùng thời hoặc khác thời để đối chiếu so sánh nhằm làm nổi bật vấn đề
Luận văn cũng khảo sát các tập thơ Chế Lan Viên để từ đó có thể so sánh, đối chiếu để tìm ra những bài thơ chính luận làm nên giá trị trong thơ Chế Lan Viên
4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
4.1 Phương pháp phân tích, tổng hợp
Phương pháp này dựa trên quan điểm tiếp cận thi pháp học được vâ ̣n dụng để khảo sát những hiện tượng có tính quy luật của hình thức nghệ thuật, những yếu tố hình thức mang tính quan niệm đặc trưng tư duy nghệ thuật riêng biệt của từng giai đoạn thơ Chế Lan Viên Luận văn vận dụng quan điểm triết học mỹ học Mác – xít trong nghiên cứu tư duy thơ Chế Lan Viên
4.2 Phương pháp so sánh , đối chiếu
Phương pháp này đòi hỏi vận dụng nhiều so sánh, đối chiếu thơ chính luận Chế Lan Viên với thơ chính luận của các nhà thơ khác để tìm ra những đặc sắc, những nét riêng biệt độc đáo của tư duy nghệ thuật thơ Chế Lan Viên
4.3 Phương pháp nghiên cứu lịch sử và phương pháp nghiên cứu loại hình
Phương pháp nghiên cứu lịch sử yêu cầu đặt đối tượng nghiên cứu trong bối cảnh, tiến trình lịch sử xã hội và chú ý đặc trưng của thể loại nghiên cứu, coi sự xuất hiện của loại thơ chính luận như một nhu cầu tất yếu của lịch
sử xã hội để xem xét quá trình sáng tác qua các thời kỳ khác nhau của Chế
Trang 17phương thức biểu hiện, từ đó tìm hiểu những đóng góp riêng của tư duy thơ Chế Lan Viên vào lịch sử văn học dân tộc
Trong phương pháp loại hình, tôi coi thơ có những đặc trưng của thể loại để tìm ra những nét đặc biệt trong tư duy thơ Chế Lan Viên
4.4 Phương pháp nghiên cứu tiểu sử tác giả:
Luâ ̣n văn cũng sử du ̣ng phương pháp này để rút ra các kết luâ ̣n về tác giả Chế Lan Viên
5 Những đóng góp mới về khoa học của luận văn
Chế Lan Viên là một hiện tượng thi ca độc đáo Nhiều người đã quan tâm nghiên cứu thơ ông từ rất sớm với nhiều góc độ, khía cạnh khác nhau Nhưng đây là công trình đầu tiên nghiên cứu Chế Lan Viên từ góc độ tư duy nghệ thuật
Luận văn góp phần nghiên cứu thơ chính luận Chế Lan Viên xuyên suốt các tập thơ, nhưng tiêu biểu và phát triển rực rỡ nhất trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ
Về khoa học, nhu cầu tìm hiểu tư duy thơ Chế Lan Viên một cách sâu sắc trong tiến trình chung của thơ Việt Nam hiện đại là cần thiết Luận văn cố gắng chỉ ra những đặc sắc của tư duy thơ ông đáp ứng nhu cầu đó, chứng minh ông là nhà thơ lớn
6 Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, thư mục tham khảo, luận văn được chia thành ba chương :
Chương 1 Khái quát về tư duy nghê ̣ thuâ ̣t và thơ chính luận Chế Lan Viên
Chương 2 Cảm hứng dân tộc thời đại và cái tôi trữ tình trong thơ chính luận Chế Lan Viên
Trang 18Chương 3 Thể loa ̣i, ngôn ngữ và biểu tượng trong thơ chính luận Chế Lan Viên
Trang 19PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG I KHÁI QUÁT VỀ TƯ DUY NGHỆ THUẬT VÀ THƠ
CHÍNH LUẬN CHẾ LAN VIÊN
1.1.Khái niệm về tư duy thơ
1.1.1.Khái niệm về tư duy
Tư duy không chỉ là đối tượng nghiên cứu của khoa ho ̣c tâm lý , triết
học, mà còn là đối tượng nghiên cứu của lĩnh vực nghệ thuật “Tư duy là
hoạt động nhận thức lý trí của con người Khí quan của tư duy chính là bộ óc người với một hê ̣ thống tinh vi của gần 16 tỷ tế bào thần kinh” [18,32] Tư
duy không chỉ là mô ̣t sản phẩm xã hô ̣i hay sản phẩm của tự nhiên , mà là sản phẩm có tính tổng hòa của quá trình lịch sử nhân loại Tư duy là kết quả phát triển của vâ ̣t chất tự tổng hợp qua hàng va ̣n , hàng triệu năm Sự ra đời của tư duy chính là bằng chứng về sự xuất hiê ̣n của con người Do vâ ̣y có thể đi ̣nh
nghĩa:“ con người là một động vật có tư duy”
Tư duy (pensée) là toàn bộ hoạt động tâm lý của con người , chỉ có con người mới có, đó là đời sống trí tuê ̣ của con người Tư duy được phân biê ̣t với
nhâ ̣n thức (conscience) Nói đến ý thức là nói đến sự “phản ánh” hiê ̣n thực
của hoạt động tâm lý Hay nói đúng hơn, ý thức là tư duy ở trạng thái tĩnh , và
tư duy ở tra ̣ng thái đô ̣ng , tư duy là hành đô ̣ng nhâ ̣n thức của con người Tư duy và lý trí (raison) không phải là mô ̣t Nói đến lý trí là nói đến cái logic có tính nguyên tắc của nhận thức Nói đến tư duy là nói đến sự vận động có tính tổng thể của các yếu tố tư tưởng và tình cảm , cảm xúc và lý trí nh ằm mục đích nhâ ̣n thức Tư tưởng ( Idee) hay còn go ̣i là quan niê ̣m tư tưởng vừa là kết quả lại vừa là xuất phát điểm của tư duy Quan hê ̣ con người với con người ,
Trang 20con người với xã hô ̣i , con người với hoàn cảnh sống là những mối quan hê ̣ chủ yếu tạo nên quan niệm tư tưởng ở mỗi con người Tư tưởng mang tính chất dân tô ̣c , đoàn thể quốc gia , tính giai cấp là những phạm trù mang tính chủ quan hơn so với tư duy Tư tưởng nằm ở pha ̣m trù nô ̣i dung, tư duy nằm ở phạm trù phương pháp Tuy nhiên giữa chúng vẫn có những mối quan hê ̣ mâ ̣t thiết với nhau Đặc trưng của tư duy là phản ánh các mối quan hệ của con người với thế giới khách quan , quan hê ̣ con người với con người và quan hệ của con người với thế giới khách quan , quan hê ̣ con người với con người và quan hê ̣ giữa các sự vâ ̣t hiê ̣n tượng ; truy tìm các mối quan hê ̣ đó bằng các phương tiê ̣n ngôn ngữ, đó là toàn bô ̣ chức năng nhâ ̣n thức của tư duy Nói đến
tư duy là nói đến những hoa ̣t đô ̣ng của bô ̣ óc con người ở tra ̣ng thái sống đô ̣ng của nó Tư duy nảy sinh từ sự sống và gắn liền với hoa ̣t đô ̣ng của tế bào não
Nó là một quá trình xử lý lượng thông tin do các khí quan cảm giác thu nhận được Trong li ̣ch sử phát triển của con người , sự hình thành và phát triển của
tư duy gắn liền với sự hình thành và phát triển của chủ thể Vâ ̣y, phán đoán đầu tiên của sự sống là ở chỗ , với tư cách là chủ thể , sự sống tự tách mình ra khỏi tính khách quan
Nói đến sự sống trong vận động của tư duy chính là nói đến cơ sở sinh lý
của tư duy Yếu tố “sống” đó sẽ ta ̣o cho tư duy mô ̣t thuô ̣c tín h quan tro ̣ng, đó là sự trao đổi tinh thần có tính chất giao tiếp , tính chất “cảm ứng”, “giao
cảm” giữa người với người Bởi vâ ̣y, giao tiếp ngôn ngữ là mô ̣t giao tiếp có
tính bề ngoài, còn trao đổi tinh thần, giao lưu tư tưởng và tình cảm là bản chất của hoạt động tư duy
Tư duy là mô ̣t “trạng thái” bên trong của vâ ̣t chất (Plekhanop) nhưng
chỉ có ở trong dạng vật chất đặc biệt , phát triển ở trình độ cao , tức là ở con
Trang 21đầu óc của con người , đều là quan niệm tư duy phi chủ thể , hoă ̣c ta ̣o ra mô ̣t chủ thể siêu nhiên đối lập với con người
Nhưng cả tư tưởng và tư duy sẽ không nảy sinh được nếu không có ngôn ngữ Ngôn ngữ là công cu ̣ của tư duy Ngôn ngữ là cái vỏ vâ ̣t chất của tư tưởng Không có ngôn ngữ thì tư duy chỉ là những dự báo mơ hồ , những phản ứng có tính bản năng trước hiện thực Không có tư duy thì ngôn ngữ chỉ là những tiếng kêu bập bẹ của trẻ sơ sinh mà thôi Tư duy làm cho ngôn ngữ phát triển phong phú , tinh xảo, ngôn ngữ ta ̣o điều kiê ̣n cho tư duy đi sâu vào bản chất của sự vật hơn
1.1.2 Tƣ duy nghê ̣ thuâ ̣t
Tư duy nghê ̣ thuâ ̣t là sản phẩm sáng tạo của con người trong lĩnh vực nghê ̣ thuâ ̣t Có nhiều quan điểm về vấn đề này, tuy nhiên chúng tôi thống nhất quan điểm của nhóm Lê Bá Hán , Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi trong cuốn
Từ điển thuật ngữ văn học ( NXB Đa ̣i ho ̣c Quốc gia Hà Nô ̣i , 1998) và ý kiến
của tác giả Nguyễn Bá Thành trong cuốn Tư duy thơ và tư duy thơ hiê ̣n đại
Viê ̣t Nam ( Nxb Văn ho ̣c Hà Nô ̣i , 1996) Từ điển thuâ ̣t ngữ văn ho ̣c đi ̣nh
nghĩa: “ Tư duy nghê ̣ thuật là dạng hoạt động trí tuê ̣ của con người hướng tới
sáng tạo và tiếp nhận tác phẩm nghệ thuật” [9,381] Kiểu tư duy đă ̣c thù của
nghệ thuật là tư duy bằng hình tượng Mục đích cuối cùng của tư duy nghệ thuâ ̣t là tìm đến bản chất của sự vâ ̣t, hiê ̣n tượng để nắm bắt quy luâ ̣t của đời sống khách quan Nhưng ở đây tư duy hình tượng phản ánh cái chung qua cái
cụ thể mang tính đại diện, mang tính quy luâ ̣t
Khác với loại tư duy hành động trực quan và tư duy khái n iê ̣m logic, tư duy nghê ̣ thuâ ̣t có cơ sở là tư duy hình tượng cảm tính hoă ̣c tư duy này cho phép nghệ sĩ cùng một lúc vừa phát hiện khách thể vừa bộc lộ nỗ i lòng, tâm
tư của chủ thể sáng tạo Đặc điểm của loại tư duy này là sự tái hiện từ xa, tách khỏi khách thể , bởi thế có thể sử du ̣ng hư cấu tưởng tượng để hình thành
Trang 22những hình tượng nghê ̣ thuâ ̣t có tầm khái quát lớn lao , có sự tác động mạnh
mẽ đến độc giả Chính vì thế , Bêlinxki đã phân biê ̣t: để tác động đến trí tuệ
của người nghe và người đọ c, kinh tế chính tri ̣ thì “ chứng minh” bằng các số liê ̣u, còn nhà thơ thì lại “trình bày” hiê ̣n thực như vốn có Không phải ngẫu
nhiên mà từ Hê ghen cho đến Plek hanop, Gorki đều nhấn ma ̣nh tư duy nghê ̣ thuâ ̣t là tư duy hình tượng Dĩ nhiên tư duy nghệ thuật có những đặc trưng khác biệt về thế giới Nói khác đi , trong nghê ̣ thuâ ̣t quan niê ̣m nghê ̣ thuâ ̣t là giới ha ̣n thực tế của tư duy nghê ̣ thuâ ̣t Nó tương tự như một khí quyển hoạt
đô ̣ng con người
Có thể nói, quan niê ̣m nghê ̣ thuâ ̣t ta ̣o ra khả năng lĩnh hô ̣i hiê ̣n thực đời sống triê ̣t để , sâu sắc trong sự đa da ̣ng , phức ta ̣p của chúng Cho nên trong thực tiễn sáng tạo nghệ thuật không phải nhà văn nào cũng có thể tạo một thứ
tư tưởng cho riêng mình Trên thực tế, những nhà văn lớn cũng là những nhà
tư tưởng Sáng tác của họ không thể đơn thuần dùng lại nguyên xi cuộc sống mà họ phả i tìm ra bản chất và quy luâ ̣t vâ ̣n đô ̣ng của hiê ̣n thực khách quan , giải quyết nhiệm vụ thẩm mỹ Chính nhờ đặc điểm này mà nội dung khái quát của nghệ thuật thường mang tính phổ quát hơn , triết ho ̣c hơn so với sự thâ ̣t cá biê ̣t Lấy trí tưởng tượng sáng ta ̣o là chất xúc tác của hoa ̣t đô ̣ng tư duy nghê ̣ thuâ ̣t, nghê ̣ sĩ xây dựng các giả thiết , làm sáng rõ các bộ phận còn bị che khuất của thực ta ̣i , lấp đầy các “lỗ hổng chưa biết” Tư duy nghê ̣ thuâ ̣t “nhìn thấy” thế giới mô ̣t cách toàn vẹn, nắm bắt nó qua những dấu hiê ̣u phát sinh , đồng thời phát hiê ̣n các mối liên hê ̣ chưa được nhâ ̣n ra
Tư duy nghê ̣ thuâ ̣t đòi hỏi mô ̣t ngôn ngữ nghê ̣ thu ật làm “hiện thực trực tiếp” cho nó Ngôn ngữ , đó là hê ̣ thống các ký hiê ̣u nghê ̣ thuâ ̣t , các hình tượng, các phương thức tạo hình và biểu hiện Nó có mã nghệ thuật, tức là các
Trang 23kinh nghiê ̣m, biết nghiền ngẫm và hê ̣ thống hóa các kết quả nhâ ̣n thức Như
vâ ̣y, tư duy nghê ̣ thuâ ̣t được thể hiê ̣n rõ nét trong cảm hứng s áng tạo, trong quá trình người nghệ sĩ phát hiện, chiêm nghiê ̣m và thể hiê ̣n chân lý của đối tượng
1.1.3 Tƣ duy thơ
Tư duy thơ là mô ̣t phương thức biểu hiê ̣n của tư duy nghê ̣ thuâ ̣t , nhưng
nó mang trong mình một khả năng biểu hiệ n phong phú nhờ ngôn ngữ thơ Phương tiê ̣n ngôn ngữ của tư duy thơ là mô ̣t phương tiê ̣n giao tiếp có tính xã
hô ̣i hóa cao đô ̣ Cho nên thơ có thể biểu hiê ̣n được nhiều tâm tra ̣ng , nhiều dạng cảm xúc, nhiều nô ̣i dung cu ̣ thể và trực tiếp Biểu tượng thi ca vừa mang tính chất biểu tượng thính giác , vừa mang tính chất biểu tượng thi ̣ giác , nghĩa là trong thơ vừa có nhạc, vừa có ho ̣a
Trong tư duy thơ thì đă ̣c điểm quan tro ̣ng nhất là sự thể hiê ̣n cái tôi tr ữ tình, cái tôi cảm xúc , cái tôi đang tư duy Cái tôi trữ tình trong thơ được biểu hiê ̣n dưới hai da ̣ng thức chủ yếu là cái tôi trữ tình trực tiếp và cái tôi trữ tình gián tiếp
Tư duy thơ phản ánh những tình cảm cô ̣ng đồng và tư duy thơ thời đại Về mă ̣t nô ̣i dung hình thức , có thể coi tư duy thơ là biểu hiện cụ thể và sinh
đô ̣ng của những tư tưởng triết ho ̣c, chính trị, đa ̣o đức dưới da ̣ng phổ biến nhất của một cộng đồng người
Tư duy thơ nói riêng cũng như lao đô ̣ng trí óc nói chung đã để la ̣i trong sản phẩm của nó dấu ấn của một cuộc hành trình : Hành trình của trí tưởng tượng Tư duy thơ là tư duy sáng ta ̣o trong mô ̣t tra ̣ng thái đầy cảm hứng Các nhà lý luậ n mỹ ho ̣c và các tác gia lớn luôn luôn nhấn ma ̣nh vai trò của cảm hứng sáng tác trong sáng tác
Trang 24Nếu tư duy toán ho ̣c tác đô ̣ng vào trí tuệ, thì tư duy thơ nhằm tác động vào tình cảm của người đọc Nói về hướng tư duy thơ , chúng ta thấy có các khả năng: hướng nô ̣i, hướng ngoa ̣i, và sự kết hợp hướng nội với hướng ngoại Như vâ ̣y, tìm hiểu tư duy thơ là tìm hiểu sự vận động của hình tượng thơ
1.2 Khái niệm về thơ chính luận
“ Khái niê ̣m chính luận hiê ̣n có nhiều nghĩa Theo Từ điển Bách khoa Văn học giản yếu của Nga năm 1987 ( tiếng La Tinh là publicus , nghĩa là xã hội), chính luận là một loại hình văn học và báo chí , viết về các vấn đề nóng bỏng của xã hội, chính trị, kinh tế, văn học, triết học, tôn giáo và các vấn đề khác Theo lý luận phong cách học, chính luận là một phong cách chức năng, bên cạnh các phong cách sinh hoạt , khoa học , báo chí , nghê ̣ thuật , hành chính công v ụ Về lôgic, hai nghĩa này có mối liên hê ̣ nội tại với nhau , bởi phong cách chính luận chủ yếu là phong cách của các loại văn chín h luận, cũng như phong cách v ăn chương là thuộc tính của loại hình v ăn bản văn học, phong cách khoa học là thuộc tính của văn bản khoa học”[ 38, 386]
Chính luận là bàn luận có tính chất tư biê ̣n về phương diê ̣n triết ho ̣c , chính trị, đa ̣o đức thông qua sự luâ ̣n bàn này mà ngư ời viết thể hiện quan
điểm, được cách sống của mình Trong Văn ho ̣c Viê ̣t Nam “chính luận được
dùng như một phương ph áp tư duy” , đây là mô ̣t đă ̣c điểm mang tính truyền
thống Trong Văn ho ̣c Viê ̣t Nam , thơ Nguyễn Du , Đông Kinh nghĩa thu ̣c đều mang những yếu tố chính luâ ̣n
Thơ chính luâ ̣n là mô ̣t loa ̣i thơ thiên về bàn luâ ̣n , thiên về các lâ ̣p luâ ̣n , về các lẽ đời, triết lý, chính trị, xã hội, đa ̣o đức
1.2.1 Tư duy lý luận lấn át tư duy hình tượng
Thơ chính luận là sự bàn luận , phô diễn các q uan điểm chính tri ̣ bằng
Trang 25Do tư duy lý luâ ̣n lấn át nên cái tôi trữ tình thường ẩn đi Cái tôi trữ
tình trong thơ Chế Lan Viên xuất hiện trong nhiều hình t hái khác nhau: “Khi
thì lộ rõ , khi thì ẩn khuất , khi thì như một đối tượng phản ánh , khi thì lại chính là cái tôi tác giả – chủ thể thẩm mỹ, khi thì thiên về nội dung, có khi lại thiên về hình thức Nó đã có một chặng đường phát triển và thay đổi liên tụ c
từ Điêu tàn đến Hái theo mùa”[43,152]
Trong “Điêu tàn” - tâ ̣p thơ đầu tay của Chế Lan Viên cái tôi thường
nằm dưới da ̣ng biểu hiê ̣n trực tiếp như là nhân vâ ̣t trữ tình duy nhất Tuy
nhiên cái tôi ấy la ̣i đô ̣i lốt chữ “ Ta” nên hơi khó phân biê ̣t Trong hầu hết các bài thơ, cái “Ta” ấy là cái tôi trữ tình lộ rõ , xuất hiê ̣n ở khắp mo ̣i nơi , đôi khi
nó lại xuất hiện với kẻ khác Trong mô ̣t bài thơ của tâ ̣p thơ “Điêu tàn”, Chế
Lan Viên viết :
“ Ta gặp nàng trên một vì sao nhỏ,
Ta hôn nàng trong bóng núi mây cao,
Ta ôm nàng trong những nguồn trăng đổ,
Ta ghì nàng trong những suối trăng sao”
Cũng có khi nó lại xuất hiện như một đối tượng thẩm mỹ :
“ Ai bảo giùm : Ta có ta không?”
“Cái tôi trữ tình xuất hiện trực tiếp trong thơ trữ tình như vậy tạo điều kiê ̣n cho Chế Lan Viên bộc lộ cảm xúc và suy nghĩ trực tiếp Nhưng vì những cảm xúc và suy nghĩ ấy lại hướng vào chính mình nên cái tôi trữ tình tưởng như đồng nhất với cái tôi tác giả , đó là tình trạng nhà thơ tự khai thác mình , phân tích tình cảm riêng mình mà không hướng vào hiê ̣n thực cuộc sống Đặc điểm này thích hợp với thơ lãng mạn Nếu xét cái ta theo ý nghĩa cái chung , cái xã hội có tính lịch sử thì trong Điêu tàn chưa có Điêu tàn chỉ nói đến “ Cõi Ta” một cách chung chung , trừu tượng, đại biểu cho cái quan niê ̣m “bể
khổ trần gian” Như vậy cái ta đang ẩn khuất” [43,153]
Trang 26Cái tôi trữ tình trong thơ Chế Lan Viên có một sự thay đổi theo các chă ̣ng đường sáng tác của nhà thơ Giai đoa ̣n trước và sau Cách ma ̣ng có mô ̣t
sự chuyển đổi rõ nét Nếu đă ̣t các tâ ̣p thơ “Điêu tàn” bên canh tâ ̣p thơ “Gửi
các anh”, ta tưởng như của hai tác giả khác nhau Sự khác nhau đó thể hiê ̣n
trên cả nô ̣i dung, hình thức, cả chất và cả lượng
Trong tâ ̣p thơ “ Gửi các anh” , người đo ̣c không thấy cái tôi - nhân vâ ̣t trữ tình số mô ̣t đâu cả Chúng ta chỉ thấy những chữ như “chúng tôi”, “con”
chỉ một vài lần nhắc lại một cách chung chung mà những người kháng chiến
xưng hô với nhau Ở đây ta thấy “Cái ta đang dần dần mở rộng từ cái ta Viê ̣t
Nam đến cái ta quốc tế , từ cái ta bạn bè đến cái ta đồng chí anh em”
[43,153] Ta cũng thấy ở đây cái ta xuất hiê ̣n rất ít và cũng chưa đi ̣nh hình là cái ta dân tộc, giai cấp hay nhân dân Ta chỉ thấy đó là những hình ảnh chung chung như: mấy vùng xóm nghèo , mấy người vê ̣ quốc hy sinh , những bà me ̣
hâ ̣u phương và những người ba ̣n mới là Liên Xô và Trung Quốc
Trong tâ ̣p thơ “Gửi các anh” cái tôi hầu như không xuất hiện nhiều, mà
thay vào đó là cái ta phát triển, hình tượng thơ trở nên có bề rộng mà thiếu đi bề sâu Điểm nổi rõ nhất trong tâ ̣p thơ này đó là hầu hết các bài thơ đều là những bài thơ dài, có bài dài tới chín trang, câu thơ cũng giãn ra quá lỏng , có những câu thơ mà người ta cứ tưởng là mô ̣t đoa ̣n thơ Có những câu thơ dài
đến gần 60 chữ, nghĩa là hơn một bài thất ngôn bát cú “Lý do vắng bóng của
cái tôi chỉ có thể giải thích bằng cả nguyên nhân tư tưởng lẫn ngu yên nhân phương pháp sáng tác Bấy giờ cái tôi được quan niê ̣m như là một cái tôi riêng tư, cá nhân, đặc biê ̣t là cái tôi lãng mạn thì chưa thích nghi với cuộc kháng chiến đầy gian khổ hy sinh Vì vậy cái tôi cũ thì bị nhà th ơ giam lỏng,
“quản thúc”, chờ ngày hòa bình đem ra xét xử Còn cái tôi mới thì còn đang
Trang 27quen với phương pháp sáng tác mới nên không tránh khỏi những bỡ ngỡ và những thất bại có tính chất thử nghiê ̣m” [43,154]
Đến tâ ̣p thơ “ Ánh sáng và phù sa”, đâu đâu ta cũng thấy vang lên khúc
ca chiến thắng của cái mới đối với cái cũ Trong tâ ̣p thơ này, ta nhâ ̣n ra cái tôi lần thứ hai xuất hiê ̣n trong thơ ông như mô ̣t đề tài , như mô ̣t nô ̣i dung biểu
hiê ̣n Điều này còn thể hiê ̣n rõ hơn trong giai đoa ̣n Di cảo của Chế Lan Viên Cái tôi trong “Điêu tàn” Chế Lan Viên đưa ra mô ̣t cá i tôi chiến sĩ còn rất trẻ
trung nhưng đã được tôi luyê ̣n trong kháng chiến , trong những ngày đi thực
tế, làm công tác “tổ chức sáng tác” Sau lưng nó có mô ̣t cái ta rô ̣ng lớn , làm
nền cho cuô ̣c đấu tranh, và cuộc chiến đấu bắt đầu :
“Dĩ vãng buồn thương mang lá cờ đen,
Đến làm giặc giữa lòng ta Ta bắn chết
Đời rực rỡ phù sa, ta kiến thiết Những phố phường da thi ̣t ửng hồng lên
( Vàng của lòng tin – Ánh sáng và phù sa )
Ở đây ta thấy “ Dĩ vãng buồn thương của tác giả chính là cái tôi – điêu
tàn, cái tôi – quá khứ Chữ “ta” ở đây chính là cái tôi chiến sĩ Đời rực rỡ phù sa chính là lực lượn g hậu bi ̣ bên ngoài Cái tôi chiến sĩ là cái tôi “đi ra với đời, đi ra với người”, là nhân vật trữ tình gắn bó chặt chẽ với những nhân vật khác, với cái ta rộng lớn trong thơ Khi cái tôi đã hòa vào cái ta thì dòng suy nghĩ tưởng sẽ trở nên mềm mại hơn nhờ trí tưởng tượng bay bổng Cái tôi không còn cảm thấy bi ̣ gò bó bởi cái ta hay bởi chính mình Trí tưởng tượng phóng túng bấy giờ thấy mình thực sự tự do, như con “ chim lượn trăm vòng” trên mình Tổ quốc, bay đi tìm hình ảnh đe ̣p” [43,155]
“Tâm hồn tôi khi Tổ quốc soi vào, Thấy ngàn núi trăm sông diễm lê ̣
Con ngọc trai đêm hè đáy bể,
Trang 28Uống thủy triều bỗng sáng hạt châu”
( Chim lượn trăm vòng – Ánh sáng và phù sa) Trong thơ Chế Lan Viên cái tôi luôn có sự vận động, biến hóa Cái tôi trữ tình ấy có khi không còn là kẻ ngắm nhìn , ngợi ca bên ngoài , mà nó là chiếc cầu nối giao hòa giữa hai miền không gian và thời gian xa cách la ̣ i gần nhau.Tưởng như nếu vắng nó thì bài thơ không thế ra đời được vì thiếu
phương tiê ̣n, vì không có chiếc cầu liên tưởng :
“ Tôi đi từ
Đi từ nơi anh hùng Núp cầm lại vũ khí năm xưa ngày nay trăm lần sắc bén
Đi từ nơi CuBa thành tiếng rung động thiêng liêng trong ba mươi triê ̣u trái tim người Đến đất nước anh hùng mọc lên giữa sóng
Đến xứ này tìm đến Viê ̣t Nam tôi
( Tôi đi từ Tôi đến – Hoa ngày thường ) Càng về cuối chặng đường thơ chống Mỹ cứu nước thì cái tôi trên đây càng có xu hướng khuất dần trước cái ta , và Chế Lan Viên để cho nó dần da
thu mình vào trong những chủ đề nho nhỏ , những bài “ tiểu thi” Nhưng cái tôi đó sẽ phu ̣c sinh hoàn toàn trong “ Di cảo thơ” [43,156]
Đến những bài thơ trong tâ ̣p thơ “ Những bài thơ đánh giặc” ta không
thấy cái tôi xuất hiê ̣n trực tiếp nữa Trong những bài thơ chính luâ ̣n thì điều đó hoàn toàn phù hợp Thơ chính luâ ̣n thường thiên về biểu hiê ̣n mô ̣t cách khách quan và trực tiếp các quan điểm tư tưởng của một tầng lớp , mô ̣t giai cấp hay của mô ̣t quốc gia nhất đi ̣nh Do vâ ̣y, có thể nói tác giả thơ chính luận là người phát ngôn các quan điểm chính trị bằng thơ Các nhà thơ chính luận
Trang 29tình trở nên ẩn khuất Khi nào tác giả cố ý để cho cái tôi xuất đầu lộ diê ̣n thì
vô tình anh ta đã thêm vào một dấu “ +” giữa thơ và chính luận Cái dấu cộng ấy không gắn được , mà trái lại nó tách thơ ra khỏi chính luận Thơ thì cần cái tôi, chính luận thì cần cái ta Vì trong cái ta của thơ chính luận đã có thể só cái tôi rồi , cho nên cái tôi và cái ta sẽ quyê ̣n chặt vào nhau trong thơ chính luận khi cái tôi rồi , cho nên cái tô i và cái ta sẽ quyê ̣n chặt vào nhau trong thơ chính luận khi cái tôi trữ tình ẩn khuất Có như thế mạch suy tưởng trong thơ chính luận mới mang tính chất tổng hợp , khái quát, mà không rơi
vào tính cá thể của cái riêng” [43,157]
Trong thơ chính luâ ̣n vì đă ̣t nhiê ̣m vu ̣ thể hiê ̣n tư tưởng dân tô ̣c đất nước lên làm nhiê ̣m vu ̣ tro ̣ng yếu , cho nên cái tôi trữ tình thường phải ẩn đi ,
nhường chỗ cho cái ta lên ngôi “ Khả năng thuyết phục của thơ chính luận là
ở tính chất khách quan hóa của các quan điểm tư tưởng , tính chính xác của những luận điểm chính tri ̣ mang tư tưởng khoa học cách mạng , tính tất yếu của một xu thế thời đại mà thơ ca làm nhiệm vụ tiên tri Sẽ trở nên cô đơn và yếu ớt, nếu tác giả thơ ca lại đứng ở góc độ cá nhân để lên án cả một thế lực , một chính quyền Tác giả phải nhân danh giai cấp , dân tộc, để tấn công kẻ thù Cho nên trong suy tưởng tổng hợp , tác giả cần giấu mình đi để cho những quan điểm đường lối thật sự mang tính khách quan như là sự phản ánh các quy luật đấu tranh xã hội” [43,158]
Do đă ̣c thù của thơ chính luâ ̣n cho nên cái tôi trữ tình thường ẩn đi , điều này cũng dẫn đến s ự thiếu thuận lợi cho việc bộc lộ trực tiếp những cảm xúc
của tác giả “ Nguyên nhân này gây ra cái “khô” và cái “khó” của thơ chính
luận Khi đạt được tính khách quan trong biểu hiê ̣n quan điểm - nghĩa là thành công về mặ t chính luận – thì chất thơ có nguy cơ giảm sút Mạch suy tưởng chỉ còn lại cái “sườn” của nó, tức là chỉ còn lại dòng vận động liên tục
và có hướng của những ý nghĩ riêng lẻ – nếu như tác giả bỏ rơi cả cái “ta”
Trang 30Lúc bấy giờ người ta nhận xét rằng thơ Chế Lan Viên tỉnh táo , không say,
thiếu sức truyền cảm ”[43,158]
1.2.2 Ngôn ngƣ̃ thuyết giảng, diễn ngôn, lâ ̣p luâ ̣n
Không ngừng tìm tòi sáng ta ̣o để đem la ̣i vẻ đe ̣p cho thơ là điều ta nhâ ̣n
ra khi đo ̣c thơ Chế Lan Viên Mô ̣t điểm dễ nhâ ̣n thấy nữa là thơ Chế Lan Viên giàu tính thuyết giảng, diễn ngôn, lâ ̣p luâ ̣n Điều đó được thể hiê ̣n ở những từ ngữ mà nhà thơ sử du ̣ng trong sự đối lâ ̣p nhằm lý giải về mô ̣t vấn đề nào đó trong cuô ̣c sống mà nhà nhơ tră n trở, nghiền ngẫm Trong rất nhiều câu thơ được nhà thơ sử dụng mang ý nghĩa tương phản đối lập:
- Xưa phù du mà nay đã phù sa
- Đất nước mênh mông đời anh nhỏ hẹp
- Cây cay đắng đã ra mùa quả ngọt
- Tôi đổi năm đau lấy những ngày lành
- Giữa đục của đời một ngọn suối trong
- Ngõ rất cụt mà lòng sâu thẳm Ngõ bảy thước mà lòng muôn dặm
- Mắt dào lê ̣ đau thương nhưng lòng đã mỉm cười
Ở những c âu thơ trên sự tương phản trong ngôn từ đã ta ̣o nên mô ̣t dấu ấn đậm nét về những vấn đề mà nhà thơ cần thể hiện
Trong thơ Chế Lan Viên , cách sử dụng từ “ là” cũng phần nào thể hiện tính triết luận Những câu thơ có từ “ là” ấy không chỉ mang ý nghĩa giải
thích, đi ̣nh nghĩa về mô ̣t sự vâ ̣t , hiê ̣n tượng, mà còn mang giá trị khẳng định những suy nghiê ̣m của nhà thơ trước cuô ̣c đời:
- Tây Bắc ơi, người là me ̣ của hồn thơ
- Có những căm thù là hạnh phúc
Trang 31Tính triết luận trong thơ Chế Lan Viên còn được thể hiện ở những câu hỏi tu từ trong các bài thơ Các câu hỏi tu từ thường được gắn với các từ :
“gì”,“đâu”, “chăng”, “ư”, “ai”, “không”, “chả lẽ”, “có phải”, “có biết”
Hành trình sáng tác thơ Chế Lan Viên là hành trình của sự thay đổi về ngôn ngữ Điều đó đã ta ̣o nên nét đă ̣c sắc , khác biệt trong ngôn ngữ thơ Chế Lan Viên
Đặc trưng cơ bản của thơ chính luận là cấu trúc chặt chẽ , tâ ̣p trung thể
hiê ̣n mô ̣t nô ̣i dung cu ̣ thể Trong những bài thơ chính luâ ̣n thì “ mối liên hê ̣
giữa các ý, tứ phải có một độ bền vững nhất đi ̣nh thì những tư tưởng lớn mới được hình thành và truyền bá qua thơ Thơ chính luận không nh ất thiết phải
là thơ dài, nhưng vấn đề nó đặt ra phải giải quyết một cách trọn ve ̣n, triê ̣t để”
[43,159] Trong Văn ho ̣c trung đa ̣i Viê ̣t Nam , có những bài thơ chính luận rất ngắn nhưng đã đa ̣t tới trình đô ̣ mẫu mực cổ điển trong kết cấu, mà có lẽ không
có một tác phẩm nào vượt qua:
“Nam quốc sơn hà Nam đế cư,
Tiê ̣t nhiên đi ̣nh phận tại thiên thư
Như hà nghi ̣ch lỗ lai xâm phạm, Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư.”
( Nam quốc sơn hà – Lý Thường Kiệt) Trong bài thơ này , Lý Thường Kiệt đã xuất phát từ một luận điểm chính và đã khẳng định nó bằng một kết cấu rất chặt chẽ Điều đă ̣c biê ̣t ở bài thơ này đó là nô ̣i dung triết lý , là tư tưởng độc lập được khẳng đi ̣nh như mô ̣t chân lý vĩnh cửu mà Lý Thường Kiê ̣t muốn gửi gắm q ua bài thơ của mình Đặc sắc của bài thơ là âm hưởng hào hùng lại được toát lên từ một kết cấu chă ̣t chẽ
“Suy tưởng được coi như là động lực để thúc đẩy cho hình tượng thơ vận động và phát triển Sự vận động và phát triển ấy phải nhằm biểu hiê ̣n một
Trang 32tư tưởng, một nội dung triết lý nào đó Có khi sự triết lý đó lại là mục đích của vận động thơ Ngay từ thời “ Ánh sáng và phù sa” , Chế Lan Viên đã bộc lộ kiểu suy tưởng triết lý Tư tưởng triết lý có khi được rút thành một ý cụ thể nằm ở phía cuối bài thơ Có khi nó như một cái đòn bẩy đặt vào điểm cuối cùng nơi hình tư ợng thơ vận động tới , nhờ sức nặng của ý nghĩa triết lý mà
nó nâng tư tưởng bài thơ lên tới “cực đại”’ [43,179,180]
Kiểu kết cấu tổ chức như trên đã được hoàn thiê ̣n hơn trong “Những bài thơ đánh giặc” Tuy nhiên về cơ bản nó vẫn giữ kết luận tư tưởng nằm ở
cuối mỗi đoa ̣n thơ Thơ chính luâ ̣n của Chế Lan Viên có những bài thơ rất dài,
có bài dài tới 45 trang như “Thời sự hè 72, Bình luận” Những vấn đề về
chính trị, triết luâ ̣n được đă ̣t r a đã được Chế Lan Viên tổ chức hình ảnh và từ ngữ thành từng đoa ̣n , từng chương Mỗi đoa ̣n, mỗi chương đều thể hiê ̣n rõ
mô ̣t chủ đề khi nó đứng riêng lẻ , đô ̣c lâ ̣p Tuy nhiên, khi đứng gô ̣p la ̣i trong
mô ̣t bài thơ thì nó vần thể hiê ̣n ý chung toàn bài
Trong những bài thơ chính luâ ̣n của Chế Lan Viên , có rất nhiều bài thể
hiê ̣n rõ điều này “ Bài Phác thảo cho một trận đánh, một bài thơ diê ̣t Mỹ” có
thể coi là mô ̣t bài tiêu biểu cho kết cấu thơ ch ính luận do suy tưởng tổng hợp tạo nên Bài thơ này tác giả không đánh dấu thứ tự chương đoạn , nhưng từng phần mô ̣t, thể hiê ̣n mô ̣t n ội dung chủ đề như những mũ i nho ̣n tiến công của thơ mà ta có thể tìm thấy được Từng mũi tiến công có tính đô ̣c lâ ̣p tác chiến
nhưng đều nhằm mô ̣t hướng chung: “Phải diệt lũ săn người”
Nếu lấy mu ̣c đích kêu go ̣i giết thù trên đây làm tiêu chuẩn xác đi ̣nh mũi
tiến công thì ta thấy , trong “Phác thảo cho một trận đán h, một bài thơ diê ̣t
Mỹ” có sáu mũi cơ bản Trong đó có mũi chính mà tác giả tâ ̣p trung nhiều lực
lượng, có những mũi phụ rất độc đáo, táo bạo
Trang 33Mũi tiến công thứ nhất xuất phát từ “ Nich xơn là kẻ giết người”, đi qua bao tô ̣i ác của quân thù dã man , tàn bạo, tác giả khẳng định với chúng : “Ta
sắp được giết mày” ( Tr.12)
Mũi thứ hai cũng xuất phát từ bản chất kẻ thù là hiếu chiến , “Nich xơn
đã nâng chiến tranh lên thành trăng mật , tình yêu”, tác giả cũng đi qua bao
hành động đốt sạch , phá sạch của kẻ thù để khẳng định : “Là người ư , phải
diê ̣t lũ săn người – đấy là đi ̣nh nghĩa” ( Tr 15)
Mũi thứ ba, tác giả đi từ truyền thống yêu nước, từ mă ̣t pháp lý của tình
yêu Tổ quốc để đa ̣t tới : “Đi ̣nh nghĩa Viê ̣t Nam là phải cầm vũ khí giết
thù”((Tr.17)
Mũi thứ tư, tác giả lại đi từ tội ác – quân thù theo nghĩa triết ho ̣c của nó
– và đi tới kêu gọi cảnh giác : “ Hãy thức tỉnh , hãy sẵ n sàng diê ̣t chúng ”
(Tr.19)
Những mũi còn la ̣i , tác giả cụ thể hóa tội ác chiến tranh phá hoại bằng
những chiếc máy bay quân thù , mă ̣t “lao động” của hoa ̣t đô ̣n g giết người và khẳng đi ̣nh: “ Vậy ta chỉ còn một con đường giết chúng mà thôi”
Mở màn cho những mũi tiến công dồn dâ ̣p ấy là lời buô ̣c tô ̣i phủ đầu của tác giả và lời tuyên án đanh thép:
“Nào ta hãy cầm dao lên hóa kiếp đi cho nó”
Tuy nhiên những mũi tiến công trên cũng chưa thâ ̣t phon g phú và đa dạng Hầu hết là cùn g xuất phát từ mô ̣t vi ̣ trí , cùng đi qua một loạt các tội ác ghê tởm của quân thù để dẫn tới lời kêu go ̣i hành đô ̣ng Các mũi tiến công đôi
khi còn thiếu mô ̣t sức ma ̣nh hiê ̣p đồng và thiếu h ẳn một cuộc “tổng tiến công
chiến lược” ở cuối bài thơ Ưu thế lớn nhất của ông là đã vâ ̣n du ̣ng tư tưởng
cách mạng tiến công một cách sáng tạo , linh hoa ̣t Cái dũng khí tiên phong , xông xáo của người nghê ̣ sĩ thể hiê ̣n mô ̣t cách xuất sắc trong thơ Chế Lan Viên Hết lượt này đến lượt khác , ông luôn ta ̣o điều kiê ̣n để tổ chức hình ảnh ,
Trang 34âm thanh, tiến công liên tu ̣c , toàn diện vào kẻ thù chính của dân tộc Do đó tính chiến đấu là phẩm chất cơ bản của thơ chính luâ ̣n Chế Lan Viên, nó được tạo ra nhờ suy tưởng tổng hợp
Do cách tổ chức những mũi nho ̣n tư tưởng như vâ ̣y , trong thơ chính
luâ ̣n, sự vâ ̣n đô ̣ng của hình tượng thơ tuy vẫn “ lấy cảm xúc làm điểm tựa ”
nhưng cảm xúc lại phải tuân theo một cách nghiêm ngặt những luận điểm tư tưởng sáng rõ – như mô ̣t cái sườn kết cấu mà tác giả có thể hình dung ra ngay từ đầu Tức là hướng suy tưởng đã được xác đi ̣nh , chỉ cần tìm hình ảnh phù hợp để triển khai theo Từng hình ảnh thơ có khi trở thành những tiền đề phu ̣c
vụ cho sự đúc kết tư tưởng Đây là nguyên nhân làm cho thơ đánh giă ̣c của ông có tình tra ̣ng tư duy lô gic lấn át tư duy hình tượng ngay trong ma ̣ch suy tưởng Hay nói đúng hơn, tư duy hình tượng mang tính cá thể mà tư duy lôgic mang tính khái quát, bao trùm:
“Hỡi anh , nhà bác học, để tìm một vệt sống, một chất hữu sinh đã dày công thám hiểm các thiên hà Anh, nhà họa sĩ bỏ cả một đời để vẽ một đôi mắt
Người như mùa thu, như sóng bể
Anh, nuôi những tế bào, ghép từng quả tim với tấm lòng tạo hóa cưu mang của người bác sĩ Anh, mong rủ xuống con người một giọt lê ̣, một cành
sương của những triết gia Công của các anh chỉ là công cốc
Nếu chưa diê ̣t được loài đế quốc”
( Những bài thơ đánh giă ̣c ) [ 43,161-162-163-164]
Trang 35Là người đầu tiên thí nghiệm có kết quả việc đưa các dáng dấp văn xuôi vào trong thơ Ở những bài thành công , ta thấy Chế Lan Viên đã đưa được những câu thơ bề thế vào trong thơ, nhưng sự nhi ̣p nhàng vẫn đảm bảo:
“Đảo Long Châu, ở đây chỉ có biển và trời
và lời hát một ngọn hải đăng đã sáng trong
ba ngàn đêm ra bão lửa không một giờ chi ̣u tắt Đảo đã nghìn lần nghe tiếng bom, phải được một lần nghe tiếng hát Tổ quốc bao la nghìn vạn dặm nhưng nhớ nhất vẫn là nơi đầu trời cuối đất này.”
(Đối thoại mới –Tr 80) Những trùng điê ̣p của ngôn ngữ đã ta ̣o nên phong cách đô ̣c đáo trong thơ Chế Lan Viên Hình thức cơ bản trong thơ Chế Lan Viên là sự đối lập Đối
lâ ̣p trong thời gian, trong không gian, trong lòng người, đối lâ ̣p cái nhỏ bé –vĩ
đa ̣i, cái bi - cái hùng, văn minh – man rợ, người –thú Qua đối lâ ̣p , Chế Lan Viên nói lên mô ̣t quy luâ ̣t phát triển cơ bản của sự vâ ̣t , tác động mạnh mẽ đến trí tưởng tượng của người đọc Chính sự đối lập ấy đã tạo nên sức đa diện và sự biến hóa cho những câu thơ :
“Xưa cha ông đi mà nay con cháu bắt đầu bay
Người ngã xuống tựa máu mình đứng dậy
Người sống khiêng người chết đi xung phong”
(Hoa ngày thường-chim báo bão) Trong những bài thơ chính luâ ̣n dà i của Chế Lan Viên thường rất giàu chất trí tuê ̣ Nhà thơ thường lấy sự suy nghĩ làm cơ sơ rồi vâ ̣n đô ̣ng , tổ chức
nó lại để tạo nên hình tượng thơ Chế Lan Viên quan niê ̣m , thơ không chỉ tái hiê ̣n những hình ảnh của cuô ̣c sống , những rung đô ̣ng của trái tim , mà còn phải đủ sức phản ánh những biến đô ̣ng của tư duy
Trang 36Tạo nên vẻ đẹp độc đáo cho thơ Chế Lan Viên còn là do ngôn ngữ Hình ảnh ngôn ngữ trong thơ Chế Lan Viên là ngôn ngữ mà mỗi từ , mỗi ngữ đều cựa quậy , có khả năng dựng dậy những cảm nghĩ trừu tượ ng nhất thành những hình tượng cu ̣ thể sinh đô ̣ng Chế Lan Viên cũng là nhà thơ hay dùng những điển cố và những thi liê ̣u li ̣ch sử:
“Mỗi chú bé đều làm mơ ngựa sắt
Mỗi con sông đều muốn hóa Bạch Đằng”
(Hoa ngày thường-chim báo bão) Truyền thống của bốn nghìn năm li ̣ch sử của dân tô ̣c với những thi liê ̣u như: trống đồng, chim la ̣c, đền Hùng đều được Chế Lan Viên khai thác và sư dụng khá nhuần nhuyễn, tạo nên một cách nhìn nhận mới, cách cảm nhâ ̣n mới gắn liền với thời đa ̣i mới:
“Ta ra đi từ nền văn minh trên lưu vực sông Hồng
Cả dân tộc bay theo hình Chim Lạc
Nhưng cho đến nay ta mới thực giống Mặt trời ta trên những trống đồng
Chiến thắng ấy và vừng dương Tổ quốc”
(Hái theo mùa Tr 123) Chế Lan Viên đã sử du ̣ng điển tích và chất liê ̣u li ̣ch sử đúng chỗ sẽ đủ sức làm sống la ̣i những truyền thống anh hùng của dân tô ̣c Nhà thơ đã xác
đi ̣nh cho mình phong cách cũng là đă ̣t cho mình những giới ha ̣n Chính vì vậy thơ chính luâ ̣n Chế Lan Viên cũng có những ưu điểm và nhược điểm Những suy tưởng tổng hợp trong cấu tứ thơ đã khiến thơ Chế Lan Viên đã quá lan man, tác dụng thơ không tập trung kết cấu , thiếu chặt chẽ, tính quần chúng của thơ bị hạn chế
Trang 371.3.1 Sự hình thành và vâ ̣n đô ̣ng yếu tố chính luâ ̣n trong thơ Chế
Lan Viên
Trong nền thơ ca Viê ̣t Nam hiê ̣n đa ̣i Chế Lan Viên là nhà thơ có vi ̣ trí riêng Người đo ̣c có thể thấy được mô ̣t hành trình thơ ca không phải chỉ của riêng ông mà của cả mô ̣t thế hệ của các nhà thơ Việt Nam, của cả một thời đại cam go trong li ̣ch sử dân tô ̣c Chế Lan Viên đã để la ̣i mô ̣t khối lượng tác phẩm đổ sô ̣ trong hơn nửa thế kỷ cầm bút Đặc biệt những sáng tác ấy được khơi nguồn trong mô ̣t giai đoa ̣n có nhiều biến đô ̣ng lớn lao của li ̣ch sử dân tô ̣c Trước hay sau Cách ma ̣ng tháng Tám , trong thời chiến hay thời bì nh ông đều cho ra đời những tác phẩm được coi là đỉnh cao của thời đa ̣i và để la ̣i những ấn tượng đậm nét trong lòng người đo ̣c Nhìn tổng quát, chúng ta có thể thấy sự vâ ̣n đô ̣ng biến đổi của cái tôi trữ tình trong thơ Chế Lan Viên phát triển , biến đổi song hành cùng các chă ̣ng đường tư tưởng và sáng tác của ông Mỗi giai đoa ̣n , cái tôi trữ tình có màu sắc riêng , có sự khác nhau thâ ̣m chí phủ
đi ̣nh Chính sự vận động của cái tôi đã dẫn đến sự thay đổi quan điểm nghê ̣ thuâ ̣t thẩm mỹ và hình tượng thơ Đời thơ của Chế Lan Viên trải dài hơn nửa thế kỷ, gắn bó mâ ̣t thiết với những thăng trầm li ̣ch sử , với hành trình của thơ
ca dân tô ̣c
* Giai đoa ̣n trước Cách ma ̣ng
Ngay từ khi còn là một cậu bé Chế Lan Viên đã có thơ và tru yê ̣n ngắn đăng trên các báo Tiếng trẻ, Khuyến ho ̣c, Phong hóa Cùng với Hàn Mặc Tử , Yến Lan, Quách Tấn lập nên nhóm thơ Bình Định nổi tiếng và tạo một dấu ấn
đô ̣c đáo cho Thơ mới đương thời
Cùng với Hàn Mặc Tử , Chế Lan Viên là chủ tướng của nhóm thơ Bình
Đi ̣nh với cái tên Trường thơ loa ̣n Không nằm ngoài quan điểm thoát ly hiê ̣n thực của Văn ho ̣c lãng ma ̣n , khuynh hướng thẩm mỹ của Chế lan Viên cũng
có những điểm đáng chú ý Qua tâ ̣p “ Điêu tàn”, Chế Lan Viên đưa ra mô ̣t
Trang 38quan niê ̣m thơ độc đáo : “Hàn Mặc Tử nói: làm thơ túc là điên Tôi nói thêm:
làm thơ là sự phi thường Thi sĩ không phải là Người Nó là người Mơ, người Say, người Điên Nó là Tiên, là Ma, là Quỷ, là Tinh, là Yêu Nó thoát hiện tại,
nó xối trộn dĩ vãng Nó ôm trùm tương lai Người ta không thể hiểu được vì
nó nói những cái vô nghĩa, tuy rằng những cái vô nghĩa hợp lý [51,13] Chính
quan niê ̣m đô ̣c đáo khác người này đã hướng hồn thơ Chế Lan Viên đến mô ̣t
thế giới đầy “kinh di ̣, lẻ loi và bí mật” như Hoài Thanh đ ã đã nhận xét về
Điêu tàn Những tháp Chàm điêu tàn đổ nát có thể nói là mô ̣t nguồn cảm hứng lớn đáng chú ý của Chế Lan Viên Qua những phế tích đổ n át ta thấy ẩn hiện hình bóng của mô ̣t vương quốc hùng ma ̣nh thời vàng son cùng với nỗi niềm hoài cổ của nhà thơ
Tâ ̣p thơ “Điêu tàn” đã đột ngột xuất hiện như một niềm kinh dị , bởi
tuy đă ̣t vào bối cảnh chung của thơ mới , nhưng tâ ̣p thơ vẫn đầy những nét khác lạ Tuy nhiên, điểm gă ̣p gỡ giữa Chế Lan Viên và những nhà thơ mới cùng thời là ở chỗ , Chế Lan V iên đã cùng ho ̣ dấy lên được cả mô ̣t thời đa ̣i
mới trong thi ca Viê ̣t Nam, đã đưa cái Tôi trực tiếp vào trong thơ
Trong khi các thi sĩ của phong trào Thơ Mới thoát ly trong mô ̣ng tưởng , đắm mình trong thế giới của tình yêu cá nh ân, hay trốn mình vào cái tôi rợn ngợp thì Chế Lan Viên la ̣i cho ̣n cho mình mô ̣t khách thể thẩm mỹ mang tính
hư cấu –siêu hình –kinh di ̣ Thế giới củ a xương khô, sọ người, sự diê ̣t vong của Chiêm Quốc
Khác với Chế Lan Viên , Thế Lữ thoát ly vào cõi bồng lai tiên cảnh Chế Lan Viên la ̣i trở về thiên thai để chiếm lĩ nh mô ̣t không gian trong sáng ,
xa vắng và yên bình tuyê ̣t đối:
“Tiên Nga tóc xõa bên nguồn
Trang 39Mình cây nắng nhuộn ,bóng chiều không đi”
(Tiếng sáo thiên thai) Chán ghét cõi trần để rồi tìm vào cõi tiên Tuy nhiên, sự mơ nào cũng
có bóng dáng hiện thực – mô ̣t nỗi buồn mênh mang xa vắng của mô ̣t cái tôi
cô đơn được Thế Lữ gửi vào cõi tiên:
“Tiếng đưa hiu hắt bên lòng Buồn ơi! Xa vắng mênh mông là buồn”
Nỗi đau khổ của thi nhân trên cõi trần gian được bô ̣c lô ̣ bằng cảm xúc
“Trời hỡi trời hôm nay ta chán hết
Những sắc màu hình ảnh của trần gian”
(Tạo lập)
“Vì u buồn là những đóa hoa tươi
Và đau khổ là chiến công rực rỡ”
(Đừng quên lãng) Chán coĩ trần thế , Chế Lan Viên cũng như bao nhà thơ lãng ma ̣n khác ,ông hướng những vần thơ của mình vào cõi đi ̣a ngu ̣c tối tăm Đau buồn trước thực ta ̣i, ông lẩn trốn vào quá khứ:
“Ai đâu trở lại mùa thu trước
Nhặt lấy cho tôi những lá vàng Với của hoa tươi muôn cánh rã
Về đây đem chắn nẻo xuân sang”
(Xuân-Điêu tàn)
Trong “Điêu tàn” tràn ngập một khối buồ n, buồn sâu Nhưng không
phải lúc nào tác giả của nó cũng chỉ biết đến u hoài chán nản Trong bài thơ
“Xuân về” ở trên, ta thấy con ng ười đó có ý thức rõ ràng , cũng mong m uốn
“vui cười”, “de ̣p sầu bi”, muốn hát bài ca chào đón xuân như bao người chứ
không phải đơn đô ̣c mô ̣t mình “chắn nẻo xuân sang” Giữa mong muốn và
Trang 40hiê ̣n thực những mâu thuẫn đã nảy sinh : Mong muốn là thế song hiê ̣n thực là sự đối lâ ̣p giữa muôn vui tươi – lòng lạnh giá Điều này phản ánh những đối cực không sao giải quyết được trong lòng tác giả Cho dù xuân về , niềm vui đến nhưng con người đón nhận với một tâm hồn băng giá lạnh lùng , mô ̣t cõi
ta cho riêng mình cũng được tác giả Điêu tàn vẽ lên thật cụ thể:
“Ôi bát ngát mênh mông như Âm giới Đây cõi ta rộng rãi đến vô biên”
Trong thơ Chế Lan Viên cõi ta ấy là mô ̣t thế giới vô cùng rô ̣ng lớn nhưng dường như cũng hết sức nhỏ bé:
“Nhưng cũng là nơi ai ơi bé nhỏ
Nơi khó dò,khó biết,khó suy tường”
(Cõi ta, Điêu tàn) Chế Lan Viên đã làm hiê ̣n ra trước mắt người đo ̣c mô ̣t cõi ta vừa mênh mông vừa bé nhỏ , vừa rô ̣ng rãi la ̣i vừa sâu x a qua những câu thơ trên Chế Lan Viên đã tự ta ̣o cho mình mô ̣t cõi ta siêu hình nhưng mă ̣t khác cũng muốn vượt thoát khỏi nó nên điều đó không tránh khỏi mâu thuẫn
Chế Lan Viên vẫn chứng tỏ mình luôn có những băn khoăn, trăn trở với những mối quan hê ̣ đang vâ ̣n đô ̣ng trong đời sống hiê ̣n ta ̣i Ông luôn tự hỏi lòng, luôn xót xa đau đớn tự đáy lòng mình :
“Ta rơi xuống cõi đời
Từ cầu nào?Từ thời nào trong vũ trụ?
Để làm gì?Nếu không là than thở
Nhưng nước non dân tộc đã tan rồi.”
Tiếng thơ của Chế Lan Viên đã ta ̣o được tiếng nối riêng ngay từ lời tựa cho tâ ̣p thơ đầu tay Ông đã đưa ra những quan điểm về thơ, về người làm thơ