1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đặc điểm từ loại danh từ trong hai tập thơ điêu tàn, ánh sáng và phù sa của chế lan viên

104 706 3
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đặc điểm từ loại danh từ trong hai tập thơ "Điêu tàn", "Ánh sáng và phù sa" của Chế Lan Viên
Tác giả Nguyễn Thị Ái Liên
Người hướng dẫn Giáo S – Tiến Sĩ Đỗ Thị Kim Liên
Trường học Đại Học Vinh
Chuyên ngành Lý Luận Ngôn Ngữ
Thể loại Luận văn thạc sĩ ngữ văn
Năm xuất bản 2006
Thành phố Vinh
Định dạng
Số trang 104
Dung lượng 0,97 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhiều nhà nghiên cứu đã đánh giá, nhận xét về hai tập thơ của ông: Tác giả Hoài Thanh trong Thi nhân Việt Nam : Với tập Điêu tàn đã đột ngột xuất hiện ra giữa làng thơ Việt Nam nh một ni

Trang 1

bộ giáo dục và Đào tạo trờng đại học vinh

==== ˜ & ˜ ====

nguyễn thị ái liên

đặc điểm từ loại danh từ trong hai

Trang 2

Lời cảm ơn

Để hoàn thành luận văn này, ngoài sự cố gắng nỗ lực của bản thân, tôi

đã nhận đợc sự hớng dẫn tận tình chu đáo của Giáo S Tiến Sĩ Đỗ Thị Kim

Liên, cùng sự đóng góp ý kiến quý báu của các thầy cô giáo bộ môn ngôn ngữ, khoa ngữ văn, khoa sau đại học trờng Đại Học Vinh, cũng nh sự quan tâm

động viên giúp đỡ của bạn bè, ngời thân, đồng nghiệp Nhân dịp này cho phép tôi đợc bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến quý thầy cô, bạn bè và những ngời thân.

Tác giả

Nguyễn Thị ái Liên

Mục lục

Trang 3

Chơng 1: Một số giới thuyết xung quanh đề tài.

1.1 Chế Lan Viên- cuộc đời và thơ văn 9

1.1.3 Chế Lan Viên với tập thơ Điêu tàn. 121.1.4 Chế Lan Viên với tập thơ ánh sáng và phù sa. 171.2.Thơ và đặc điểm ngôn ngữ thơ 20

1.3 Xung quanh vấn đề danh từ trong tiếng Việt 271.3.1.Đặc điểm ngữ pháp của danh từ tiếng Việt 27 1.3.2.Phân loại danh từ và các tiểu nhóm 301.3.2.Danh sách các nhóm danh từ tiếng Việt 31Chơng 2: Đặc điểm lớp danh từ qua Điêu tàn, ánh sáng và phù sa.

2.1.2 Đặc điểm các tiểu nhóm danh từ trong tập Điêu tàn 352.1.3 Đặc điểm các tiểu nhóm danh từ trong tập ánh sáng và phù sa. 43 2.2 Sự chuyển nghĩa các từ loại danh từ và vai trò của chúng trong

hai tập thơ điêu tàn, ánh sáng và phù sa 54

Trang 4

2.3.TiÓu kÕt ch¬ng 2 69 Ch¬ng 3: Mét sè h×nh tîng tiªu biÓu qua líp danh tõ trong hai tËp th¬: §iªu tµn, ¸nh s¸ng vµ phï sa

3.1.1 Mét sè h×nh tîng tiªu biÓu qua líp danh tõ trong tËp §iªu tµn 723.1.2 Mét sè h×nh tîng tiªu biÓu trong ¸nh s¸ng vµ phï sa 783.2 Sù ph¸t triÓn th¬ ca ë hai tËp th¬ th«ng qua mét sè thÓ lo¹i 83

Trang 5

Mở đầu

1 lý do chọn đề tài

1.1 Trong tiến trình xã hội và văn học, thơ Việt Nam đầu thế kỷ XX đến

1945 đã có những bớc nhảy tạo nên một cuộc cách mạng trong thơ ca.Thế hệ các nhà thơ mới 1932-1945 đông đảo và táo bạo, trong những nhà thơ táo bạo đó Chế Lan Viên là một thanh niên mới 17 tuổi, đang là học sinh ông đã cho xuất bản tập thơ Điêu tàn (1937) đã dựng lên một thế giới đầy sọ dừa, xơng máu cùng yêu ma

Đó là một thái độ phủ nhận với thực tại

1.2.Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp kết thúc, đất nớc chuyển sang một giai đoạn mới Cuộc sống lao động khẩn trơng hàn gắn vết thơng chiến tranh

và xây dựng xã hội chủ nghĩa, cả nớc tiếp tục chiến đấu chống Mỹ-Ngụy để thống nhất nớc nhà Trên cơ sở đó thơ phát trển mạnh mẽ theo hai hớng, hai cảm hứng trung tâm là yêu nớc và chủ nghĩa xã hội

Thơ Chế Lan Viên nghiêng về thế giới nội tâm và cảm xúc Ông nghiêng về khẳng định những cái mới, cài hiện tại rộn ràng nhiều mơ ớc, đồng thời đấu tranh

đẩy lùi cái cũ Thơ ông thể hiện một cách sâu sắc quá trình từ cái riêng đến cái chung Tuy có đôi chỗ ông sa vào tìm tòi hình thức cho câu thơ khiến cho thơ ông

có chỗ cầu kỳ khó hiểu nh… ng thơ Chế Lan Viên đã lôi cuốn, hấp dẫn ngời đọc bằng nhiều vẻ đẹp độc đáo, mới lạ Trên cơ sở một phong cách thể hiện nhiều khía cạnh tìm tòi khác nhau đến lúc này tài năng, vế thơ của ông đã nở rộ, có nhiều bài thơ đặc sắc, đợc ghi nhận

Từ Điêu tàn, tập thơ đầu tay Chế Lan Viên đã bộc lộ nét riêng của t duy và

dùng từ và đặc biệt là lớp ngữ nghĩa danh từ trong 2 tập thơ này

Trang 6

2.1 Đối tợng nghiên cứu

Luận văn tập trung khảo sát đặc điểm ngữ nghĩa danh từ trong 2 tập thơ

Điêu tàn, ánh sáng và phù sa của Chế Lan Viên trong đó:

Tập Điêu tàn (1937) gồm : 36 bài thơ

Tập ánh sáng và phù sa (1960) gồm : 69 bài thơ

2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để thực hiện đề tài này, chúng tôi đi vào đã thực hiện những nhiệm vụ sau:

a Thống kê phân loại danh từ trong 2 tập thơ

b.Phân tích, mô tả các tiểu nhóm danh từ về ngữ nghĩa

c Sự thay đổi nổi bật của các hình tợng thơ tiêu biểu do các tiểu nhóm danh

từ thể hiện ở hai tập thơ

3 Lịch sử vấn đề

Điểm các bài phê bình, giới thiệu, nghiên cứu về thơ Chế Lan Viên chúng tôi thấy có những bài viết điểm qua một vài nét về: Nội dung thơ Chế Lan Viên Nét đặc sắc thơ Chế Lan Viên, một sự thay đổi trong cách nhìn nhận về hiện thực, bắt nguồn từ đời sông giàu tâm trạng, cảm xúc qua cách sử dụng từ

-Về nội dung

Trong tuyển tập Chế Lan Viên của nhà xuất bản văn học 1985, tác giả Nguyễn Xuân Nam đã có nhận xét, đánh giá về nội dung nghệ thuật thơ Chế Lan Viên: Đọc thơ Chế Lan Viên ấn tợng nổi bật của chúng ta là sự thông minh, tài hoa Thông minh vì ý thơ phong phú bất ngờ, tài hoa vì hình ảnh khác lạ, kì thú.(tr 115)

Nếu ở Điêu tàn trong cuốn Tác gia và tác phẩm , Nxb GD, 2003, tác giả

Hà Minh Đức viết: Điêu tàn khai thác một đề tài thi ca có căn cứ lịch sử, nhng không rõ quan hệ với thi nhân: Sự sụp đổ của nhà nớc Chàm Một thế giới u linh của những quỷ dữ ma trơi, những đầu lâu, sọ dừa, máu xơng ảo não và những tiếng khóc than không dứt, và cuối cùng là một tấm lòng đau đớn, nuối tiếc không nguôi của nhà thơ với những gì đã mất đi của xứ Chàm.(tr 282).

Thì đến ánh sáng và phù sa tác giả Mã Gang Lân trong Tiến trình thơ hiện

đại Việt Nam, Nxb GD, 2000 đã viết : Với ánh sáng và phù sa biểu hiện cuộc

Trang 7

hành trình tâm trạng của riêng mình để hoà mình vào cuộc hành trình của cả dân tộc trong quá trình phát triển Nhờ vậy nghệ thuật cũng trở nên phóng khoáng, đa dạng Câu thơ có thêm gân guốc, xốc vác của cuộc đời thực ngôn ngữ đã vì quần chúng mà hồn nhiên trong sáng hơn Và đề tài đợc mở mang đến nhiều vấn đề của cuộc sống đặt ra Tình yêu đất nớc có lúc là những cảm xúc mạnh mẽ toát lên từ những tứ thơ phóng khoáng, dòng thơ trải rộng, có khi là tiếng nói thầm thì quyến luyến.( tr 271).

Một số bài viết khác cũng đều xoay quanh giá trị văn thơ của Chế Lan Viên

Ông đợc khẳng định nh một nhà thơ của thế kỷ, một nhà văn hoá

- Về những nét đặc sắc qua hai tập thơ

Thơ Chế Lan Viên vận động, biến đổi qua nhiều giai đoạn nhng vẫn định hình những nét riêng, thể hiện cá tính sáng tạo Chất trí tuệ, vẻ đẹp triết lí trong thơ ông là một nét đặc sắc nhất mà ông đã góp vào nền thơ hiện đại Nhiều nhà nghiên cứu đã đánh giá, nhận xét về hai tập thơ của ông:

Tác giả Hoài Thanh trong Thi nhân Việt Nam : Với tập Điêu tàn đã đột ngột xuất hiện ra giữa làng thơ Việt Nam nh một niềm kinh dị (tr 213).Và, Mã

Giang Lân trong Tiến trình thơ hiện đại Việt Nam viết: Trong những giọng buồn quen thuộc của thơ ca lãng mạn 32 45 đây là giọng buồn ảo não có pha màu

huyền bí và với tập thơ này Chế Lan Viên đợc đánh giá là một trong bộ ba trờng thơ loạn và còn đợc xem là ngọn cờ đầu vào những năm cuối thập niên ba mơi

(tr 72)

Còn sự ra đời của ánh sáng và phù sa vào những năm 1960 đợc xem nh một

đỉnh cao mới của thơ Chế Lan Viên, một thành tựu của nền thơ xã hội chủ nghĩa Tác giả Vũ Tuấn Anh trong Điêu tàn tác phẩm và d luận lại khẳng định: Tập thơ phản

ánh, ngơi ca cuộc sống mới đang lớn dậy từng ngày , kịp thời góp tiếng nói đấu tranh cùng với miền Nam, và đồng thời, xuyên suốt tập thơ là sự giằng xé trong tâm hồn nhà thơ, đẩy lùi nỗi đau cũ để tiến đến niềm vui mới ( tr 308).

Nhìn lại những công trình, bài viết trên đây về thơ Chế Lan Viên, chúng tôi thấy rằng đa số các tác giả mới chỉ dừng lại tìm hiểu thơ ông ở góc độ văn học Hai đề tài thạc sĩ của Lê Quang Đức và Nguyễn Thuý Thanh tiếp cận ở góc độ

Trang 8

trong thơ Chế Lan Viên ( của Lê Quang Đức) và cấu trúc câu thơ của Chế Lan Viên ( Nguyễn Thuý Thanh) mà cha có công trình nào đề cập đến sự phát triển về nhận thức của Chế Lan viên thể hiện trong hai tập thơ Điêu tàn và ánh sáng và phù sa (Qua khảo sát tiểu nhóm từ loại danh từ) Đó cũng chính là lý do mà chúng

tôi đi vào khảo sát đề tài: “Đặc điểm từ loại danh từ trong hai tập thơ Điêu tàn,

ánh sáng và phù sa của Chế Lan Viên”

4.3 Phơng pháp phân tích tổng hợp

Trên cơ sở kết quả khảo sát, thống kê, miêu tả chúng tôi sử dụng phơng pháp phân tích tổng hợp nh một công cụ hữu hiệu để thấy đợc đặc điểm danh từ về mặt ngữ nghĩa, qua đó chỉ ra sự thay đổi nhận thức của Chế Lan Viên Từ đó dẫn

đến sự thay đổi về hình tợng thơ ông với nhng quy luật sáng tạo trong văn học nớc nhà

5 Đóng góp của luận văn

Có thể xem đề tài của chúng tôi là đề tài đầu tiên tìm hiểu đặc điểm ngữ nghĩa danh từ qua 2 tập thơ ở hai thời kì khác nhau của Chế Lan Viên, để từ đó chỉ

ra đóng góp riêng của ông với nền thơ ca của dòng văn học hiện đại Việt Nam

6 cấu trúc của luận văn

Chơng 1: Một số giới thuyết xung quanh đề tài

Trang 9

Chơng 2 : Đặc điểm ngữ nghĩa lớp danh từ trong 2 tập thơ Điêu Tàn, ánh Sáng Và Phù Sa

Chơng 3 : Từ một số hình tợng tiêu biểu qua ngữ nghĩa danh từ trong 2 tập thơ đến sự phát triển nhận thức thơ ca của Chế Lan Viên

Chơng 1 Một số giới thuyết xung quanh đề tài

Trang 10

1.1 Chế Lan Viên cuộc đời và sự nghiệp

1.1.1 Đôi nét về tiểu sử

Chế Lan Viên tên thật là Phan Ngọc Hoan, sinh ngày 23 tháng 10 năm 1920 (tức ngày 12 tháng 9 năm canh thân ) trong một gia đình viên chức ngèo ở huyện Cam Lộ, tỉnh Quảng trị Năm 1927, gia đình chuyển vào An Nhơn, Bình Định Mảnh đất Bình Định đã gắn bó với ông suốt thời thơ ấu và sau này theo ông vào

đời thơ Vì vậy, ông coi Bình Định là quê hơng thân yêu của mình

Chế Lan Viên làm thơ từ lúc 12, 13 tuổi Năm 1935 – 1936, ông đã có thơ

và truyện ngắn đăng trên báo Tiếng Trẻ, Khuyến Học, Phong Hoá Lớn lên, ông

theo học tại một trờng trung học Quy Nhơn Năm 16, 17 ông đã có thơ đăng báo gây xôn xao d luận trong bạn đọc và giới phê bình Năm 1939, ông học ở Hà Nội, sau đó làm báo ở Sài Gòn, rồi ra Thanh Hoá dạy học Cách mạng tháng Tám bùng

nổ, ông tham gia cách mạng ở Quy Nhơn, tham gia viết báo Quyết Thắng của Việt Minh Thời gian này Chế Lan Viên công tác ở liên khu IV từ Thanh- Nghệ Tĩnh

đến Bình- Trị- Thiên Tháng 7 năm 1949, Chế Lan Viên gia nhập Đảng cộng sản Việt Nam

Kháng chiến chống Pháp thắng lợi, Chế Lan Viên trở lại Hà Nội và tiếp tục

sự nghiệp sáng tác của mình Thời kì này, ông có nhiều thành công lớn Trong cuộc kháng chiến chống Mĩ, ông tham gia lãnh đạo hội nhà văn Việt Nam, tham

dự nhiều diễn đàn văn hoá quốc tế ở nhiều nớc trên thế giới: Liên Xô, Pháp, Nam

T, ấn Độ, Na Uy, Thuỵ Điển, Ông là đại biểu quốc hội các khoá 4, 5, 6, 7 và…nhiều lần có mặt tại diễn đàn quốc tế về văn hoá và văn học

Đất nớc thống nhất , ông chuyển vào sống ở thành phố Hồ Chí Minh và vẫn tiếp tục sáng tác cho đến cuối đời Ông trút hơi thở cuối cùng tại bệnh viện Thống Nhất Thành phố Hồ Chí Minh vào ngày 19 tháng 6 năm 1989 (tức ngày 16 tháng 5 năm kỉ tỵ) trong niềm tiếc thơng vô hạn của gia đình, bà con và bạn bè

1.1.2 Quá trình sáng tác thơ, văn.

Con đờng thơ của Chế Lan Viên trải qua nhiều biến động, nhiều bớc ngoặt với những trăn trở, tìm tòi không ngừng của nhà thơ Từ thế giới kinh dị, thần bí và

bế tắc của Điêu tàn trớc cách mạng đến sau cách mạng tháng tám, thơ Chế Lan

Viên đã đến với cuộc sống nhân dân và đất nớc, thấm nhuần ánh sáng cách mạng

Trang 11

Trong những năm kháng chiến chống Mỹ, thơ Chế Lan Viên vơn tới khuynh hớng

sử thi hào hùng và chất chính luận hùng biện nóng hổi tính thời sự Từ năm 1975, thơ ông lại trở về với thế sự và những trăn trở về cái tôi trong sự phức tạp , đa diện

và vĩnh hằng của đời sống Thơ Chế Lan Viên có phong cách rõ rệt và độc đáo, nổi bật nhất là suy tởng, triết lí mang vẻ trí tuệ và đa dạng, phong phú của thế giới hình ảnh, thơ đợc sáng tạo bởi ngòi bút thông minh, tài hoa

Trên hành trình sáng tạo, Chế Lan Viên để lại nhiều tập thơ có giá trị :

- Điêu tàn, 1937

- Gửi các anh, Nxb Hội nhà văn , 1955

- ánh sáng và phù sa, Nxb Văn học, 1960

- Hoa ngày thờng, Chim báo bão, Nxb Văn học, 1967

- Những bài thơ đánh giặc, NxbThanh niên ,1972

- Đối thoại mới, Nxb Văn học ,1973

- Ngày vĩ đại ,Nxb văn học giải phóng ,1976

- Hoa trớc lăng Ngời, Nxb Thanh niên , 1976

- Hái theo mùa, Nxb Tác phẩm mới ,1986

- Hoa trên đá, Nxb Văn học ,1984

- Di cảo thơ Chế Lan Viên- Tập I , Nxb Thuận hoá ,1992

- Di cảo thơ Chế Lan Viên- Tập II, Nxb Thuận hoá , 1993

- Di cảo thơ Chế Lan Viên – Tập III , Nxb Thuận hoá ,1996

Ông còn là cây bút văn xuôi đặc sắc :

- Vàng sao, Nxb Tân Việt , 1942

- Thăm Trung Quốc (bút ký ), Nxb Văn học ,1963

- Những ngày nổi giận (bút ký ) , Nxb Văn học ,1966

- Bay theo đờng dân tộc đang bay ,Nxb Văn nghệ Giải phóng 1976

- Giờ của số thành (bút ký ), Nxb Lao động , 1977

- Nàng tiên trên mặt đất, Nxb Kim Đồng , 1985

Và nhiều bài tiểu luận - phê bình :

- Kinh nghiệm sáng tác, Nxb Thép mới ,1952

- Nói chuyện thơ văn (Chàng Văn ) , Nxb Văn học ,1952

- Vào nghề (Chàng Văn ), Nxb Văn học ,1962

Trang 12

- Phê bình văn học , Nxb Văn học, 1962

- Suy nghĩ và bình luận , Nxb Văn học , 1971

- Nghĩ cạnh dòng thơ , Nxb Văn học , 1981

- Từ gác Khuê Văn đến Quán Trung Tân, Nxb Tác phẩm mới, 1981

- Ngoại vi thơ , Nxb Thuận hoá , 1987

Có thể nói, Chế Lan Viên là một nhà thơ tài năng, một nhà văn hoá đã có những đóng góp to lớn cho nền thơ Việt Nam và văn hoá Việt Nam Ông ra đi để lại một khối lợng tác phẩm lớn mà không mấy ai có đợc Ngoài 13 tập thơ, một số truyện ngắn, ông còn là cây bút của bút kí, tuỳ bút, là tác giả của nhiều cuốn tiểu luận Văn học, kinh nghiệm sáng tác.Ông đợc nhà nớc khen thởng giải thởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật năm 1996 (đợt II )

Cái bút danh Chế Lan Viên gắn với đời thơ của thi sĩ có vẻ nh một sự ngẫu nhiên Gặp bạn thơ Yến Lan, mới có hai chữ Lan Viên, bởi ảnh hởng tên Lan và vờn lan nhiều hoa nhà bạn :“ Vờn lan ấy ai tới cho con ” – thơ Yến Lan

Rồi Hàn Mặc Tử có bài “Thi sĩ Chàm ” đề tặng cho Bồng Hoan, mà cái họ Chế đợc Hàn Mặc Tử đặt ra Thế là “ Với chữ Chế, dù là Chế Lan Viên hay Chế Bồng Hoan, tôi đã rời số phận một ngời để sống số phận một dân tộc ” (Chế Lan Viên, Hàn Mặc Tử Lâm Tiến Phong biên soạn, Nxb Văn nghệ, thành phố Hồ Chí

Minh, 1998 )

Chế Lan Viên là nhà thơ gắn bó với dân tộc và sự nghiệp cách mạng, đồng thời luôn thể hiện khát khao của một bản lĩnh, một tâm hồn thi sĩ Những tác phẩm của ông đã gây nhiều tiếng vang lớn, in đậm dấu ấn trong lòng tác giả, trở thành

đỉnh cao của thơ ca Việt Nam hiện đại

Ngay từ khi mới xuất hiện, thơ Chế Lan Viên đã dợc sự cổ vũ nồng nhiệt của

độc giả Những bài nghiên cứu, phê bình đầu tiên của Nguyễn Vĩ, Hoài Thanh, …

Về thơ ông đã phác hoạ một tài năng thơ độc đáo Số lợng các công trình nghiên cứu của tác giả về Chế Lan Viên ngày một tăng lên và theo đó tài năng thơ ca của

ông cũng đợc khẳng định Những bài nghiên cứu ấy nhận ra một phong cách độc

đáo, sáng tạo, điển hình, một khuynh hớng mới Hầu hết các công trình có giá trị đi vào khai thác các lĩnh vực chủ yếu, quen thuộc nh t tởng, phong cách, đặc điểm thi

Trang 13

pháp, so với các nhà thơ cùng thời, ông đ… ợc thừa nhận là ngời làm thơ, bàn về thơ nhiều nhất.

1.1.3 Chế Lan Viên với tập thơ Điêu Tàn.

Lớn lên trong không khí oi bức ngột ngạt của chế độ thực dân, Chế Lan Viên

đã ý thức đợc nỗi nhục nhã của ngời dân mất nớc.Chàng thiếu niên ấy vật vã trong

bế tắc, không tìm đợc con đờng đi cho riêng mình và ông đă tìm đến thơ nh một liệu pháp tinh thần Sự đổ nát của nền văn minh Chiêm Thành cộng với sự đa sầu đa cảm của một tri thức trẻ tuổi trong cơn bế tắc đã làm nên tập thơ Điêu tàn(1937)

một tập thơ gồm 36 bài với lời tựa đầy tự tin hào hứng Giữa lúc Xuân Diệu đang chìm đắm trong khắc khoải thời gian, Huy Cận bất lực vì nỗi sầu nhân gian, Thế Lữ tìm đến cõi tiên nh một giải pháp cho tâm hồn, thì Chế Lan Viên- một cậu thiếu niên 16, 17 tuổi đờng hoàng xuất hiện trớc các bậc đàn anh bằng tiếng thơ lạ lùng

và sắc nét Ngời ta không tránh khỏi bàng hoàng, đôi chút tò mò bởi vì ngời ta thấy tập thơ lạ lẫm, da diết, rùng rợn vì nó vẽ lên một thế giới đầy yêu ma, quỷ quái, đầy

sọ ngời và tiếng khóc vật vờ uất hận

Với Điêu tàn, tập thơ đầu tay còn mang nhiều ảnh hởng bên ngoài và không

thuần nhất, nhng xuyên suốt tập thơ đã thực làm nên một“niềm kinh dị”lớn trong

thơ ( theo chữ của Hoài Thanh) Không sửng sốt, không kinh dị sao đợc khi một cậu thiếu niên dáng vẻ hiền lành bỗng học đợc phép chui vào quan tài của h vô, dùng thi ca để tỏ tình với cái chết

Ông ớc :

Hãy cho tôi một tinh cầu giá lạnh ! Một vì sao trơ trọi cuối trời xa.

( Những sợi tơ lòng)Tinh cầu ấy, vì sao ấy với Chế Lan Viên chính là chiếc sọ ngời Chiếc sọ ng-

ời biểu trng hoá niềm siêu hình thăm thẳm, bao hàm : Cô đơn - Cái chết– H vô từng đã thách đố triết học và tôn giáo Chế Lan Viên dùng thi ca giải mã chiếc sọ ngời mong tìm tôn giáo và triết học, tìm bí mật phía bên kia tồn tại nh tìm nỗi không đâu vớ vẩn kiếp ngời Với Điêu tàn bầu trời cũng mang hình hộp sọ, tinh

cầu Sọ ngời bay lơ lửng trong không gian Chế Lan Viên nh một thứ hạt giống thi

Trang 14

ca gieo vào h vô lên từng trang giấy đến nỗi nhà thơ muốn cắn chiếc sọ ngời vỡ tan

nh trái bồ đào:

Ta muốn cắn mi ra từng mảnh nhỏ ! Muốn điên cuồng nuốt cả khối xơng khô.

( Cái sọ ngời)Chế Lan Viên đã tạo cho mình một thế giới khác thế giới cõi âm với những quỷ dữ, ma hời, những đầu lâu, xơng máu rùng rợn đợc nguỵ trang bằng nỗi bi hận mang vẻ thần bí, siêu hình để khóc cho một dân tộc, về thân phận mất nớc

Trong lời tựa Điêu tàn, Chế Lan Viên viết : Hàn Mặc Tử nói : làm thơ tức

là điên Tôi thêm : làm thơ là làm sự phi thờng Thi sĩ không phải là ngời Nó Là ngời Mơ ngời Say, ngời Điên Nó là Tiên, là Ma, là Quỷ, là Tinh, là Yêu Nó thoát hiện tại nó gào, nó thét, nó khóc, nó cời Có cái gì của nó cũng tột cùng

Nó gào vỡ sợ, nó thét đứt đầu, nó khóc trào máu mắt, nó cời tràn cả tuỷ là tuỷ Thế mà có ngời tự cho là hiểu đợc nó rồi đem nó ra so sánh với ngời…” Đây là

tuyên ngôn của trờng thơ loạn lúc bấy giờ

Thoát ly vào thơ và làm thơ thoát ly hiện thực, đó là đặc điểm cốt lõi của phong trào thơ Mới nói chung và Chế Lan Viên nói riêng Với quan niệm nh thế, Chế Lan Viên đã thực sự làm nên cái phi thờng trong thơ ca từ trớc đến nay

Chất liệu để sáng tạo nên Điêu tàn là bóng tối, mồ hoang, sọ ngời, xơng khô,

máu tuỷ và những hồn ma vất vởng Cái thế giới đầy mộng tởng mà thi nhân hằng mơ ớc có trăm phơng nghìn ngõ trong thế giới ấy hiện lên khung cảnh nớc Chàm

nh hai bức tranh tơng phản Năm xa là khung cảnh thanh bình :

Đây, điện cái huy hoàng trong ánh nắng Những đền đài tuyệt mỹ dới trời xanh.

Trang 15

Cái nổi bật của một tâm trạng qua Điêu tàn không phải là cái yêu thơng mơ

màng hay cái buồn man mác mà là nỗi đau xót giận hờn chua chát một cách say

mê, một khối óc khát khao hiểu biết, trằn trọc suy t một cách tuyệt vọng Tố Hữu nhận xét : Chế Lan viên gợi lên những nỗi hoài vọng của dân tộc Chàm ngày xa theo cách của anh, đó cũng là một lời ca yêu nớc bởi anh khóc số phận của một dân tộc bị đô hộ Vì lẽ đó cái lãng mạn của Chế Lan Viên không phải ở cái mơ màng, êm dịu không bàng bạc, mơ hồ mà gắt gao quyết liệt nh sự chối bỏ sạch trơn cuộc đời trần thế, dắt con ngời lạc vào thế giới âm u, cô tịch của một nền văn minh đỗ vỡ.

Nh vậy, viết Điêu tàn, Chế Lan Viên đã xác lập đợc một quan niệm thơ, căn

cứ ở mối quan hệ giữa chủ thể sáng tạo và khách thể thẩm mỹ Trong cái khác ờng, dị thờng sự lệch pha thờng diễn ra và ta gặp những bí ẩn non tơi của lòng ngời yêu đời, yêu cuộc sống, yêu dân tộc và những cái vô nghĩa hợp lý chính là để nói lên hiện thực cuộc đời nên niềm kinh dị trong Điêu tàn đến lợt nó mang lại những giá trị mới ở chiều sâu trong t tởng bi thiết của chế Lan Viên, nói lên nỗi đau của một dân nô lệ, một khát vọng thoá khỏi u hận

Chiếc Sọ Ngời, Xơng Khô, Đốm Lửa, Ma Trơi, Đầu Lâu, Bãi Tha Ma, Hồn, Máu, … là nguồn cảm xúc của thơ Chính cái nớc non bi hời là khách thể để thơ ông thăng hoa, t tởng siêu hình cất cánh

Ta sẽ nhịp khớp xơng lên đỉnh sọ

Ta sẽ ca những dọng của hồn nhiên

Để máu cạn, hồn tan, tim rạn vỡ

Để trôi đi ngày tháng nặng u phiền.

( Nhạc điệu điên cuồng)Với nhiều tác giả trong phong trào thơ mới mùa xuân luôn tràn đầy sức sống,

ở Chế Lan Viên thì ngợc lại thậm chí “ không ngoài nghĩa khổ đau ”

Tôi có chờ đâu có đợi đâu Mang chi xuân lại gợi thêm sầu Với tôi tất cả nh vô nghĩa

Tất cả không ngoài nghĩa khổ đau

( Xuân)

Trang 16

Và phản ứng có nguồn gốc từ một định luật thờng xuyên xuất hiện trong

Điêu tàn – một định luật bi đát về cõi trần :

Quên sao đợc hỡi loài ngời ngu dại Quả tim ta là một khối u buồn Mạch máu ta là những mối đau thơng

Mà quả đất là khối u sầu vô hạn

Mà mỗi ngời là một lời ca thán Của hoá công gieo rắc xuống trần gian

( Đừng quên lãng)Rồi không hiểu mình là ai ? không biết đâu là hồn, xác, tác giả muốn nói tới cái thực trạng:

Hồn của ai trú ẩn ở đầu ta

ý của ai trào lên trong đầu óc.

(Ta)Thi nhân đã tự tách mình thành hai phần : hồn và xác và rồi chẳng biết linh hồn lạc vào đâu, trú ngụ nơi nào Đắm chìm mãi trong thế giới điêu tàn cũng tạơ nên vô nghĩ nếu không nói là buông xuôi.Và niềm yêu đời cùng lúc nảy sinh ở hồn thơ trẻ

Bên tháp vắng còn ngời thi sĩ hỡi Sao không lên tiếng, hát đi ngời ơi.

(Đêm xuân sầu)Với Điêu tàn, Chế Lan Viên không khỏi rơi vào t tởng bi đát, hoài nghi cả sự

tồn tại của con ngời và thế giới, vì ông cũng là một chủ thể bé nhỏ Nhng là sự hoài nghi triết học : “Ai bảo giùm : Ta có ta không?(Ta) Tiếng van xin thảm thiết ấy là

bi kịch đau đớn nhất của con ngời thi nhân trong Điêu Tàn và đó là điểm khởi đầu

cho sự nghi vấn : “ Biết làm sao giữ mãi đợc ta đây ” Những bài thơ dành riêng…cho thiên nhiên, hoa trái, suy nghiệm lẽ đời ông đã hoà nhập những yếu tố huyền…thoại, thần bí, kinh dị mang đậm màu sắc tôn giáo, Đó cũng chính là nét độc đáo riêng của ông so với các nhà thơ cùng thời

Do đặc điểm thoát ly hiện thực, hình ảnh thơ trong Điêu tàn thờng giàu tính

khái quát, yếu tính cá thể Những biểu tợng mang tính chất muôn thở : mây, gió,

Trang 17

trăng, sao và những nấm mồ giờ đây đợc nhà thơ khoác thêm cái màu sắc Điêu tàn

của t tởng chủ quan Trong lòng ngời cũng vậy chỉ nói về nỗi đau thơng, u buồn mà chẳng hiểu vì sao mà đau, vì sao mà buồn Đau buồn nh một sự cố hữu, bản chất

Đâu đâu ta cũng gặp u buồn đau thơng, quyên lãng, âu lo và một ít vui t… ơi Vui

t-ơi chỉ là vật hi sinh để biểu hiện nỗi buồn đối lập Tuy nhiên trong khi ấy cái vui tt-ơi làm phơng tiện nghệ thuật, để nâng cao cái buồn đau, Chế Lan Viên đã tỏ rõ khả năng miêu tả rất tinh nhạy

Hàng dừa cao say sa ôm bóng ngủ Vài quả xanh khảm bạc hớ hênh phô

Xoan vờn cành khèo mặt trời rực rỡ Bên bóng râm lơi lả nhẹ nhàng đu

Đây tà áo chuối non bay phấp phới Phơi màu xanh lấp lánh dới sơng mai

Đây pháo đỏ lập loè trong nắng chói

Đây hoa đào mỉm miệng đón xuân tơi.

Hãy bảo ta cánh hoa đào mơn mởn Không phải là khối máu của dân Chàm Cành cây thắm nghiêng mình trong nắng sớm Không phải là hài cốt vạn quân Chiêm

(Xuân về)Kiểu suy tởng trên đây trong Điêu tàn cha phổ biến lắm, suy tởng trong các

bài còn đơn giản, thiếu mạch thẳng, ít khi đợc cấu tạo từ độc đáo Nhng trong Điêu tàn, tác giả đã bộc lộ một quan điểm làm cơ sở cho hớng suy tởng sau này đó là

Trang 18

năng lực biểu hiện Hình ảnh thờng lấy ở những miền đề tài thoát ly cuộc sống, những hình ảnh đó cũng chỉ là những cái túi để đựng u buồn và sầu não Những cảnh trong Điêu tàn là tha ma, nghĩa địa nhng lại rất sôi động, ngay cái chết cũng

không im lìm mà mang màu sắc chói lọi, linh hoạt, không có một cái gì tĩnh tại

Tiếng ai đi rung động cả rừng sâu?

Hay im lặng chuyển mình trên máu đỏ?

Hay rừng xanh lăn nhẹ khối u sầu?

(Chiến tợng)Với những hình ảnh trên đây một mặt nói lên sự xâm nhập một cách sâu sắc của t tởng điêu tàn, đổ vỡ trong t duy thơ, mặt khác cũng bộc lộ một khả năng liên tởng độc đáo, một cách nhìn nhận nhạy bén, sắc cạnh của tác giả trong Điêu tàn

1.1.4 Chế Lan Viên với tập thơ ánh sáng và phù sa

Trong ánh sáng và phù sa một Chế Lan viên khác hẳn với Chế Lan Viên

trong Điêu tàn ỏ tập thơ này chúng ta bắt gặp một thi pháp khác, một phong cách

Con gặp lại nhân dân nh nai về suối cũ

Cỏ đón giêng hai chim én gặp mùa

Nh đứa trẻ thơ đói lòng gặp sữa Chiếc nôi ngừng bỗng gặp cánh tay đa.

(Tiêng hát con tàu)

Trang 19

Xa nhà thơ trầm mình trong cái chết, trong h vô sọ ngời, thì nay ông nh đợc tái sinh trong ròng ròng sự sống, trong thực tại nụ cời và nớc mắt, trong sự hoà điệu với triệu ngời.

Tôi yêu quá ! cuộc đời nh con đẻ

Nh đêm xuân ngời vợ trẻ yêu chồng Tôi nối với bạn bè nh với bể,

ở ánh sáng và phù sa Nhà thơ đã lấy lại tâm hồn mình, lấy lại nớc mắt h vô

xa chợt hoá ngọc trai t tởng bây giờ:

Xa ở sông Ngô ta đánh mất vàng

Đánh mất tâm hồn ta nhng hiện tại

Nh sông Tơng đã trả vàng ta lại Khắp đôi bờ t tởng chói hào quang.

( Vàng của lòng tin)Những bài thơ trong ánh sáng và phù sa tuy cùng trên một cơ sở, một phong

cách, nhng thể hiện nhiều khía cạnh tìm tòi khác nhau, nhiều lối vận dụng h cấu, nhiều hình thức miêu tả Có những tứ thơ phong phú, lại đợc thể hiện bằng những hình ảnh

đẹp, nhng sự so sánh mới lạ, câu thơ ánh lên nhiều màu sắc:

Anh bỗng nhớ em nh đông về nhớ rét Tình yêu ta nh cánh kiến hoa vàng

Nh xuân đến chim rừng lông trở biếc Tình yêu làm đất lạ hoá quê hơng.

(Tiếng hát con tàu)

Có những câu thơ nhẹ nhàng thoải mái mà duyên dáng tế nhị:

Trang 20

Dệt cây ta vào với tấm vui đời.

(Giữa tết trồng cây)Gần bảy chục bài thơ trong ánh sáng và phù sa đánh dấu một thành công

mới của Chế Lan Viên Tuy nhiên chúng ta vẫn còn bắt gặp đây đó những tâm trạng cô đơn, ngậm ngùi song ông luôn cố gắng vợt khỏi cái cô đơn bé nhỏ để hoà vào cái chung của mọi ngời:

Trong thung lũng đau thơng vẫn tìm ra vũ khí Phá cô đơn ta hoà hợp với ng“ ” “ ời

(Khi đã có hớng rồi )Nhng dù sao, toàn bộ những sự ngậm ngùi buồn nản đó vẫn không phải là tâm trạng chung của nhân dân lao động đang phấn khởi xây dựng cuộc sống Phải chăng đó là lý do khiến nhà thơ đã có những ý nghĩ chủ quan:

Tôi trong đau vẫn làm viên muối bể

Để mặn lòng những kẻ muốn vô t

Với một sức tởng tợng lớn, ông đã viết : Cành phong lan bể, Tàu đi, Tàu

đến, đòi hỏi một quy mô h cấu cũng nh đòi hỏi vốn sống cụ thể trực tiếp Sức tởng

tợng và sức suy nghĩ của nhà thơ đợc vận dụng để tổ chức lại những ấn tợng, những cảm nghĩ đã tích luỹ về ngời công nhân cộng với sức quan sát trực tiếp thu nhặt đ-ợc

Tôi muốn đến chỗ nớc trời lẫn sắc Nơi bốn mùa đã hoá thành thu Nơi đáy bể những rừng san hô vờ thức ngủ Những rừng rong tóc xoã , lợc trăng cài Nơi những đàn mây trắng xoá cá bay đi.

( Cành phong lan bể)Nếu không có cái vốn tâm hồn phong phú thì cũng không dám phóng túng thi tứ thế kia Không vững tay nghề thì không dám buông lỏng cho câu thơ ngắn dài vô độ Mặc dù có những câu thơ dài quá làm loãng nhịp điệu, làm mất tác dụng của vần, bài thơ vẫn không rơi vào văn xuôi mà vẫn mang âm điệu của thơ

Tuy nhiên thơ ông mang nhiều tâm sự của hoàn cảnh riêng mình, Hoàn cảnh của một ngời khắc phục nhiều khó khăn để lao mình vào cuộc sống ánh sáng và

Trang 21

phù sa đặc biệt gần gũi với ngời đọclà do thế Và nếu ánh sáng và phù sa cha đạt

tới cái giản dị, cái khoẻ mạnh, cái sức lực của quần chúng, nhng vợt lên hoàn cảnh

ta bắt gặp ý nghĩ mùa xuân, Nhật ký một ngời chữa bệnh, Ngoảnh lại mùa đông,

… những nét tin tởng phấn đấu

Đọc ánh sáng và phù sa, chúng ta trân trọng những thành công của tác ghả

và càng yêu quý một nhà thơ lớp trớc đã chuyển mình theo cách mạng, đang cố gắng dem ngòi bút và tài năng của mình phục vụ cho cách mạng, cho nhân dân

ánh sáng và phù sa đánh dấu một thành công của tác giả Mặc dù còn có nhiều

thiếu sót nhng qua ánh sáng và phù sa chúng ta thấy đợc ở Chế Lan Viên một

phong cách độc đáo, một cây bút có nhiều khả năng sáng tạo

1.2.thơ đặc điểm ngôn ngữ thơ

1.2.1 Khái niệm về thơ

Với câu hỏi : Thơ là gì? từ trớc đến nay đã có nhiều định nghĩa về sự ra đời

mà vẫn cha dợc định hình, định vị song bắt đầu với công trình luận về thơ ca sớm nhất của phơng Đông ra đời cách đây 1.500 năm với “Văn tâm điêu long” của Lu

Hiệp chỉ ra phơng diện cơ bản để cấu thành một tác phẩm thơ hình văn, thanh văn

và tình văn Ngôn ngữ trong thơ có hoạ (hình văn) có nhạc (thanh văn) và có cảm xúc (tình văn) Đến đời Đờng, quan niệm thơ của Bạch C Dị có cụ thể hơn: “Cái cảm hoá đợc lòng ngời chẳng gì trọng yếu bằng tình cảm, chẳng gì đi trớc đợc ngôn ngữ, chẳng gì gần gũi đợc âm thanh, chẳng gì sâu sắc bằng ý nghĩa Với thơ gốc là tình cảm, mầm là ngôn ngữ, hoa là âm thanh, quả là ý nghĩa” (13, tr 24)

Trong quan niệm của Bạch C Dị các bình diện của ngôn ngữ thơ đợc đề cập sáng

tỏ Trong lời tựa Kinh Thi, Chu Hi cho rằng “thơ là cái d âm của lời nói,trong khi lòng ngời cảm xúc với sự vật mà thể hiện ra bên ngoài” Đây chính là cơ sở cho

những cách nhìn nhận về thơ ca hiện nay

Các tác giả “Xuân thu nhã tập” đã quan niệm thơ là cái gì mà ngời ta không thể giải đợc bằng lời, mà cũng không cần giải thích, “Nó chiếm đoạt ta tất nhiên, hoàn toàn, tức khắc Đó là sự phối hợp những âm thanh, chữ, hình ảnh, biểu hiện theo những niêm luật rõ rệt hay tiềm tàng để diễn tả những lớp dày đặc của tiềm thức và vô ý thức” (Nxb Vh 1991 tr17, 18)

Trang 22

Vào những năm cuối thế kỷ XX, ở nớc ta, giáo s Phan Ngọc đã có những

định nghĩa về thơ theo ông: “ thơ là một cách tổ chức ngôn ngữ hết sức quái đản

để bắt ngời tiếp nhận phải nhớ, phải có cảm xúc do hình thức ngôn ngữ này” (47

tr30) Chữ “quái đản” đợc giáo s Phan Ngọc giải thích là khác lạ so với thông ờng

th-Qua định nghĩa trên, chúng ta thấy đợc một mối quan hệ cơ bản giữa thơ và

đời sống, thơ với độc giả Định nghĩa đã kế thừa những khám phá quan trọng về thơ của những nhà nghiên cứu thuộc các trờng phái khác nhau ở châu Âu và gợi ra một trờng phái nghiên cứu rộng rãi ; Thơ không phải là một hiện tợng giao tiếp nghệ thuật, một phát ngôn trong ý nghĩa đầy đủ của từ này Những phơng thức kết hợp

“quái đản” của ngôn ngữ thơ thực chất là những cấu trúc ngôn ngữ xa lạ so với cấu trúc ngon ngữ phi nghệ thuật

Ngoài một số ý kiến của các tác giả nêu trên chúng tôi xin nêu ra một số

định nghĩa tiêu biểu:

- Định nghĩa Từ điển tiếng Việt :

Thơ là: Hình thức nghệ thuật dùng ngôn ngữ giàu hình ảnh và có nhịp điệu

để thể hiện nội dung một cách hàm súc (43, tr 921).

-Theo nhóm các nhà phê bình, nghiên cứu: Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi : Thơ là hình thức sáng tác văn học phản ánh cuộc sống, thể hiện tâm trạng, những cảm xúc mạnh mẽ bằng ngôn ngữ hàm súc, giàu hình ảnh

và nhất là có nhịp điệu (29, tr 262).

- Mã Giang Lân trong Tiến trình thơ hiện đại Việt Nam cho rằng: Thơ là sự

rung động “ có rung động là có thơ”, thơ là cái gì huyền ảo, tinh khiết, thâm thuý, cao siêu Thơ gần với trong, đẹp, thật Thơ là đạo, là tôn giáo, là tình yêu Đặt thơ ngang với tình yêu, với đạo, với tôn giáo thực chất là nâng cao thơ, coi thơ là một cái gì thiêng liêng cao quý nh một tín ngỡng, một thứ đạo Đạo sáng tác và ngời sáng tác có chung một đạo, thờ chung một đạo là sáng tác

Từ đó có thể rút ra những điểm thống nhất về đặc điểm thơ đó là:

+ Bộc lộ cảm xúc bằng hình ảnh, là tâm hồn nhà thơ, là sự trong trẻo vô t.+ Có hệ thông ngôn từ, có tổ chức riêng

+ Có vần, nhịp điệu

Trang 23

điệu có quan hệ với nhau đợc cấu tạo theo những quy tắc nhất định, sắp xếp theo những quy lụât nhất định lập thành kiến trúc ngữ âm của một ngôn ngữ.

Nếu xét bình diện ngữ âm trong thơ nó có vai trò quan trọng vì trong thơ có

sự giao hoà đặc biệt giữa âm thanh và ý nghĩa và bởi vì với các yếu tố : âm vận,

điệp âm, điệp vần, nhịp, khổ thơ, tất cả tạo nên tính nhạc của thơ và cũng nhờ…tính nhạc này mà chúng ta dễ phân biệt đợc giữa thơ và văn xuôi Tiếng Việt với sự phong phú về thanh điệu, số lợng các nguyên âm, phụ âm, để tạo nên tính nhạc…trong thơ khi du dơng, khi trầm bổng, khi ngân nga, khi dào dạt, khi dồn dập

Và, khi đi vào khai thác tính nhạc trong thơ, chúng ta cần chú ý đến những

sự đối lập:

- Sự đối lập về trầm – bổng, khép mở giữa các nguyên âm

- Đối lập về vang tắc giữa hai dãy phụ âm mũi và phụ âm tắc vô thanh

trong các phụ âm cuối

- Đối lập cao thấp, bằng trắc của các thanh điệu

Bên cạnh sự đối lập đó vần điệu, nhịp điệu cũng góp phần quan trọng trong việc tạo nên tính nhạc cho thơ ca

Với mỗi phát ngôn bao giờ cũng có ngữ điệu, còn trong thơ mỗi dòng, mỗi câu bản thân nó đều chứa đựng một loại ngữ điệu đặc biệt, ngời ta gọi đó là tính

Trang 24

nhạc trong thơ hay là nhạc thơ, khi nhạc thơ của một thể thơ đạt đến độ ổn định thì

nó sẽ làm nên sự khác biệt và chúng trở thành âm luật cho thể thơ đó

Với nhạc, thơ là một thứ nhạc đặc trng , âm nhạc đợc xuất phát từ ngôn ngữ

mà ra cho nên nó khác với các loại nhạc thông thờng bởi một số yếu tố nh: âm

điệu, vần điệu và nhịp điệu Trong bất cứ bài thơ nào vai trò của ba yếu tố này càng lớn thì tác phẩm càng giàu nhạc điệu, ấn tợng ngữ nghĩa càng phụ thuộc nhiều vào

ấn tợng ngữ âm Vì thế không ai không thừa nhận tính nhạc trong thơ

Về âm điệu

Đó là sự biến thiên của cao độ theo thời gian và đặc trng đễ dàng nhận thấy trong thanh điệu Đờng nét của sự biến thiên này có thể bằng phẳng hoặc không bằng phẳng Thế đối lập này đợc gọi là biến điệu Ngay đặc tính đối lập của các âm tiết tiếng việt đã quy định âm tiết tiếng việt chứ không phải một đơn vị nào khác tạo

ra âm điệu trong thơ Phẩm chất ngữ âm của tiếng việt là sự tổng hoà của các mặt: cao độ, cờng độ,trờng độ, âm sắc

Khi đi vào nghiên cứu âm điệu của ngôn ngữ nghệ thuật, ngời ta chú trọng xem xét độ vang nh một biểu hiện tiêu biểu của lợng nguyên âm đợc thể hiện qua thuộc tính trờng độ Cao độ chủ yếu bị thanh điệu chi phối, song khả năng xuất hiện của thanh điệu lại đợc quy định bởi cấu trúc chính của âm tiết Vì vậy sau khi kết thúc âm tiết, thanh điệu là yếu tố thứ hai thể hiện tập trung âm điệu của thi phẩm Luân phiên sáu thanh tiếng Việt kết hợp với các tổ hợp âm vị làm nên giai

điệu uyển chuyển trong phát ngôn Thanh điệu đóng vai trò quan trọng trong thơ, tạo nên sắc thái giai điệu của bài thơ

Về âm điệu có sự đối lập giữa bằng và trắc Trong các thanh trắc lại phân biệt thợng, khứ, nhập của các âm cuối vô thanh Âm điệu là một khái niệm đợc hiểu trong mối tơng quan với vần diệu và nhịp điệu Âm điệu cũng có thể đợc hiểu

là sự hoà âm đợc tạo ra từ sự luân phiên xuất hiên của các đơn vị âm thanh, có những phẩm chất ngữ âm tơng đồng và dị biệt trên trục tuyến tính Và thanh điệu

có t cách nh là yếu tố cơ bản làm nên sự khác biệt về phẩm chất ngữ âm của mỗi

âm tiết là đối tợng chính của âm điệu và đợc tìm hiểu trên hai phơng diện:

- Âm vực

- Cách thức vận động

Trang 25

Theo Aristote: Vần là âm không có ý nghĩa (độc lập) đợc cấu tạo bởi âm câm

và nguyên âm(hoặc do mấy âm câm và một nguyên âm)

Theo Hêghen , vần trong thơ là: “do nhu cầu thực sự của tâm hồn muốn nhìn thấy mình đợc biểu lộ rõ hơn, có sự vang dội đều đặn”(36,tr.18).Vần là yêú

tố quan trọng tạo nên sự hoà âm giữa các câu thơ Đơn vị biểu diễn vần thơ trong tiếng việt là âm tiết Trong kết cấu của vần ngời ta không thể tách các âm vị ra khỏi thanh điệu Xem xét vần thơ Việt Nam có hai nhóm:

- Nhóm vần bằng: Căn cứ trên các âm tiết có thanh huền và thanh ngang

- Nhóm vần trắc: Chia thành hai nhóm nhỏ

a Nhóm trắc thờng: Căn cứ trên những âm tiết có thanh hỏi, ngã, sắc, nặng

b Nhóm trắc nhập: Căn cứ trên các âm tiết có âm cuối p, t, c, ch mang hai thanh sắc và nặng

Hiệp vần là hiện tợng phổ biến trong thơ Vần điệu đợc quan tâm đến ở các phơng diện: vị trí, mức độ hoà âm, và đặc điểm biến thiên cao độ của âm tiết mang vần

Trang 26

đợc tạo ra từ ngắt nhịp Nhịp điệu liên kết các yếu tố ngữ âm lại với nhau để tạo ra nhạc tính Nhịp điệu ngng nghỉ chỉ theo một cách thức nhất định khi phát âm hay còn gọi là sự ngắt nhịp Cho đến nay, ngắt nhịp trong thơ có thể phân tích thành hai loại: Ngắt nhịp cú pháp và ngắt nhịp tâm lý Nhịp thơ gắn liền với tình cảm, cảm xúc Các trạng thái rung cảm, cảm xúc, xúc động, đều ảnh h… ởng đến việc lựa chọn nhịp thơ của câu thơ, bài thơ Hai loại nhịp này khi hoà quyện vào nhau, có khi tách bạch tuỳ vào cấu trúc ngôn ngữ của dòng thơ, thể thơ và cảm hứng.

Nhịp trong câu thơ khác với nhịp trong văn xuôi Nhịp thơ không bao giờ trùng với cú pháp Nhịp trong lời nói thông thờng không chia tách từ phân hoá, từ chỉ loại với danh từ, giới từ đứng sau nó Trong một số thể thơ cách luật, ngắt nhịp

bị chi phối bởi yếu tố tâm lý và cấu trúc âm điệu

Cách ngắt nhịp, tạo nhịp hết sức đa dạng, có nhiều kiểu tuỳ câu, tuỳ đoạn, tuỳ bài thơ, thể thơ Nhịp trong thơ mang bản sắc của từng nhà thơ trong việc chọn nhịp

Ví dụ: trong thơ lục bát, sự ngắt nhịp trớc hết diễn ra dới áp lực của vần lng

và xu hớng tăng song tiết hoá trong tiếng Việt Vì vậy, trong thể thơ này, lúc nào cũng chứa đựng một loại nhịp đặc thù: nhịp tâm lý Loại nhịp này xuất hiện khi bối cảnh không đủ sức cho nhịp lẻ nào đó tồn tại Nhịp tâm lý có nguồn gốc là một nhịp lẻ bị đồng hoá bởi tính nhịp nhàng của nhịp đôi trong thơ và giữa các cặp 6/ 8 Nhịp chẵn 2-2-2, 2-2-2, và tiết tấu nhịp đôi đã hình thành từ lâu và trở thành nét đặc trng của tiếng Việt Loại nhịp này dễ dàng tơng hợp với mỗi dòng thơ lục bát vốn

có số tiếng chẵn Tuy nhiên, không loại trừ nhịp lẻ mặc dù loại nhịp này không có tính u thế vì ngời Việt a tâm lý cân đối, hài hoà Nhịp lẻ xuất hiện trớc hết là nhịp lẻ cân đối 3/3, và sau đó mới đến nhịp lẻ độc lập

Nhịp lẻ không liên kết với nhịp lẻ tơng tự trên cùng một dòng thơ Nhịp lẻ

độc lập là nhịp biến cách và nhịp không phổ biến của thể thơ này

Trong thơ tự do, có những câu thơ rất gần với văn xuôi song lại có sức ngân vang lớn Hiệu quả đó là do nhà thơ đã cố ý cho vào đó một số âm tiết làm cho nhịp câu thơ dài ra và trùng với đơn vị cú pháp của văn xuôi, làm cho ngời đọc cảm tởng

nh đang bơi trên một dòng sông chảy không dứt của chuỗi ngôn từ đầy ấn tợng, làm cho câu thơ có sức ngân vang lớn

Trang 27

Trong ngôn ngữ thơ Việt Nam, đơn vị nhịp điệu có thể từ một từ trở lên và thờng là hai từ trở lên Trong thực tế thơ ca có hai loại nhịp: nhịp chẵn và nhịp lẻ Nhịp chẵn là nhịp điệu tự nhiên trong giao tiếp, nhịp lẻ là phá vỡ cái đều đặn, sự cân đối để tạo sự hài hoà phối mới.

Tóm lại vần và nhịp là hai yếu tố không thể thiếu về mặt hình thức trong thơ

ca, vần và nhịp nếu ngắt đúng chỗ bản thân nó sẽ mang nghĩa Vần và nhịp tơng hợp và giao hữu với nhau Nhịp là yếu tố cơ bản, là xơng sống của bài thơ, là tiền

đề cho hiện tợng gieo vần

b Đặc điểm ngữ nghĩa

Thơ là một loại hình nghệ thuật ngôn ngữ cô đọng, súc tích về từ ngữ và hình

ảnh Mỗi từ ngữ khi đa vào trong thơ đều trải qua sự lựa chọn của các tác giả vì thế

nó hoạt động rất da dạng, linh hoạt và biến hoá

Nếu ở văn xuôi không hạn chế về số lợng âm tiết, từ ngữ, câu chữ thì trong thơ tuỳ theo từng thể loại mà có những cấu trúc nhất định Khi đi vào thơ do áp lực của cấu trúc và ngữ nghĩa, ngôn từ nhiều khi không dừng lại ở nghĩa đen, nghĩa gốc, nghĩa ban đầu mà đi vào những ý nghĩa mới tinh tế, đa dạng hơn Chính vì thế ngữ nghĩa trong thơ chứa đựng sức mạnh tiềm tàng, chứa đựng cái đẹp đẽ, tinh tế sâu sắc Vì vậy ngữ nghĩa trong thơ phong phú hơn nhiều so với ngỡ nghĩa trong giao tiếp đời thờng và trong văn xuôi Trong từ ngữ của th có những từ đợc sử dụng bởi phép chuyển nghĩa( chủ yếu là ẩn dụ)

Nhạc điệu đóng vai trò quan trọng trong thơ ca song bản thân một mình nó cũng không tạo nên một bài thơ có giá trị Ngữ nghĩa và ngữ âm là hai mặt cơ bản

để cấu thành tác phẩm trong thi ca Trong thơ mỗi đơn vị ngôn ngữ đều chứa tất cả mọi gia trị sáng tạo mang tính nghệ thuật ngoài giá trị ý niệm của ngôn ngữ chung

Điều kì diệu của ngôn ngữ thơ là mỗi tiếng, mỗi chữ vừa gọi tên sự vật vừa gợi ra những liên tởng khiến độc giả phát hiện ra những nét nghĩa tiềm tàng mà trong giao tiếp không thấy Đó chính là sức mạnh tiềm tàng của ngôn ngữ nghệ thuật Ngôn ngữ thơ là ngôn ngữ khơi gợi và ý tại ngôn ngoại là mục tiêu cơ bản, muôn đời trong thi ca Vì thế khi đi vào ngiên cứu thơ ta phải chỉ ra đợc các phơng thức tạo lập những đơn vị ngôn ngữ có hiệu quả biểu đạt cao Đặc trng ngữ nghĩa này tạo cho ngôn ngữ thơ một sức hấp dẫn, lôi cuốn ngời đọc, ngời nghe Đến với thơ

Trang 28

chúng ta không chỉ tiếp nhận bằng nắt, bằng tai mà bằng cả cảm xúc, tình cảm, bằng cả trí tởng tợng và liên tởng Điều đó làm cho ngôn ngữ thơ không chỉ còn là phơng tiện giao tiếp mà còn đóng vai trò là một thứ gì đó cha từng đợc nói hoặc cha từng đợc nghe Trong quá trình vận động của ngôn ngữ thơ ca, cái biểu hiện và cái

đợc biểu hiện đã xâm nhập và chuyển hoá vào nhau tạo ra cái khỏang không ngữ nghĩa vô cùng cho ngôn ngữ thơ ca

c Đặc điểm ngữ pháp

Về phơng diện ngữ pháp, một câu thơ, dòng thơ không hoàn toàn trùng nhau,

có những câu thơ gồm nhiều dòng thơ và cũng có một dòng thơ bao gồm nhiều câu thơ Nhà thơ có thể sử dụng nhiều kiểu câu khác nhau, bất bình thờng nh đảo ngữ, câu tách biệt, câu vắt dòng, câu trùng điệp và không làm ảnh hởng đến quá trình tiếp nhận của văn bản, trái lại nó mở ra những giá trị mới, ý nghĩa mới cho ngôn ngữ thơ ca, nó có khả năng vô tận trong việc chuyển tải những trạng thái tinh tế bí

ẩn của thế giới và tâm hồn con ngời

1.3 Xung quanh từ loại danh từ trong tiếng Việt

1.3.1 Đặc điểm ngữ pháp của danh từ tiếng việt

1.3.1.1 Tiêu chí phân chia từ loại

Chúng ta có thể phân chia từ loại theo một số tiêu chí sau:

a Dựa vào ý nghĩa phạm trù.

- Dựa vào ý nghĩa phạm trù, ý nghĩa khái quát của những lớp từ cụ thể chứ không phải ý nghĩa từng từ cá biệt chẳng hạn: khi nói danh từ là những từ mang ý nghĩa sự vật thì những từ: bàn, ghế, áo, quần, Mang nghĩa sự vật Những từ: cái đẹp, tính…chính xác, đ… ợc xem làm ý nghĩa sự vật vì chúng xuất hiện đợc trong mô hình

/ Những A ấy/… …

b Khả năng kết hợp.

Đây là cái tiềm ẩn của mỗi từ trong việc kết hợp với từ khác để bộc lộ bản tính của mình, không phải mọi cách kết hợp có thực của từ với từ đều là dấu hiẹu của sự bộc lộ khả năng có tác dụng phân loại từ chỉ những cách kết hợp nào làm bộc lộ bản tính từ loại của từ, tức đặc trng ngữ pháp của chúng mới có tác dụng

định loại chúng

- Dựa vào khả năng kết hợp trong cụm từ

Trang 29

- Dựa vào khả năng kết hợp trong câu.

Vậy từ loại là lớp từ có cùng bản chất ngữ pháp, đợc phân chia theo ý nghĩa phạm trù, theo khả năng kết hợp trong cụm từ và câu, thực hiện những chức vụ ngữ pháp khác nhau

và có một chất lợng hết sức quan trọng trong cơ cấu ngữ pháp Đặc biệt trong quan hệ với động từ, Danh từ cùng động từ cho nên một cái trục mà quay quanh

nó là các vấn đề của cả từ pháp lẫn cú pháp, chẳng hạn nh các vấn đề phạm trù ngữ pháp,tổ hợp từ, chức năng thành câu”

- Tác giả Nguyễn Anh Quế trong “ Ngữ pháp tiếng việt” (1996) “ Danh từ chỉ sự vật ( bao gồm đồ vật, động vật, thực vật), chỉ ngời ( bao gồm tên ngời và cả tên nghề nghiệp, chức vụ của con ngời) chỉ các hiện tợng tự nhiên, hiện tợng xã hội và các khái niệm

- Nguyễn Kim Thản trong “ Nghiên cứu về ngữ pháp tiếng Việt (” 1963) Tr162 “Danh từ là từ loại có ý nghĩa phạm trù sự vật,có phạm trù ngữ pháp giống, số,cách( đợc thể hiện không giống nhau trong các ngôn ngữ khác nhau), thực hiện các chức năng ngữ pháp khác nhau trong câu nh chủ ngữ, vị ngữ, bổ ngữ, định ngữ.

Ví dụ: Học sinh đi học Đây là bố tôi, thầy giáo giảng bài Ao làng thả sen Mẹ nghỉ ở nhà.

Danh từ là loại thực từ biểu thị sự vật tính( sinh vật) vật thể, hiện tợng, sự việc trong đời sống thực tại và t duy) có những đặc trng ngữ pháp sau đây:

a Không trực tiếp làm vị ngữ Do đó: khi làm vị ngữ phải có hệ từ là (câu khẳng định) hoặc không phải, không phải là (câu phủ định) không đặt sau các từ

nh đứng, hãy, sẽ,…

Trang 30

b Có thể kết hợp với một trong những từ loại sau đây và đợc từ loại này xác định, hạn chế: số từ (một, hai, ) đại từ chỉ số (tất cả), lợng từ( những, các) phó định từ(con, cái, ) đại từ chỉ định (này, ấy, kia, )… …

- Trơng Dĩnh trong “ Về vấn đề hình thành khái niệm ngữ pháp cho học sinh phổ thông”(1974) , Danh từ là chỉ ngời, sự vật Danh từ có thể kết hợp với những từ số lợng ở trớc nó và những từ để ở sau nó Khi dùng vị ngữ, danh từ th- ờng phải dặt sau từ Là”.( tr 19)

- Tác giả Nguyễn Tài Cẩn trong “Từ loại danh từ tiếng Việt” (1975) , “ Danh từ là từ loại không thể độc lập làm vị ngữ Đó là một từ loại không có vị ngữ tính”.( tr 29)

- Hữu Quỳnh trong” Ngữ pháp tiếng Việt hiện đại” (1980) , “Về mặt ý nghĩa, danh từ là những từ có nghĩa từ vựng khái quát chỉ sự vật và các khái niệm trừu tợng ( tr55)

- Hồ Lê: “Một số vấn đề xung quanh vị trí bắt buộc và vị trí ý trong danh ngữ tiếng việt hện đại ngôn ngữ” (1983), Danh từ là từ có khả năng đứng giữa

và kết hợp hoặc trực tiếp hoặc gián tiếp với số từ (hay những phụ từ chỉ lợng: những, các, mọi, mấy; hay những đại từ chỉ lợng bao nhiêu, bấy nhêu, ) và với

từ chỉ định( này, kia, ấy, đó, nọ) để tạo ra cấu trúc danh từ”.( tr 37)

- Hoàng Phê (chủ biên): “ Từ điển tiếng Việt” (1998), Từ chuyên biểu thị ý

nghĩa sự vật đối tợng, thờng làm chủ ngữ trong câu.( Ngời, nhà, tinh thần) Từ hoặc tổ hợp từ chuyên dùng để gọi tên sự vật hoặc biểu đạt khái niệm, thờng trong lĩnh vực chuyên môn Giải thích những danh từ chính từ mới Danh từ khoa học ( tr234)

- Phan Văn Các “Từ điển từ Hán Việt” (1994) , “Danh Từ: từ dùng để chỉ ngời, vật hay sự việc, hiện tợng ( tr 96)

- Diệp Quang Ban- Hoàng Văn Thung “ Ngữ pháp tiếng Việt” (1996) , “ Danh từ có đầy đủ chức năng cú pháp của thực từ Trong mối quan hệ với động

từ, tính từ, nét riêng biệt của danh từ là ít đợc làm vị ngữ đặt trực tiếp sau chủ ngữ của câu Trong những trờng hợp đó, thờng danh từ đợc kết hợp với một từ biểu thị quan hệ ngữ nghĩa- ngữ pháp giữa hai thành phần câu ( tr 78)

Trang 31

- Theo tác giả Đỗ Thị Kim Liên trong “Ngữ pháp tiếng Việt” (2002) , “Cụm danh từ (thay còn gọi là danh ngữ) là cụm từ trong đó danh từ làm thành tố trung tâm và có một hoặc nhiều thành tố phụ quây quần xung quanh để bổ sung ý nghĩa ngữ pháp cho danh từ trung tâm”.( tr 81)

Nh vậy, ta có thể rút ra những điểm thống nhất về đặc điểm của danh từ đó là:-Là những từ chỉ ngời, vật, sự vật

- Có khả năng kết hợp với từ đứng trớc là những từ chỉ số lợng và có khả năng kết hợp với từ đứng sau: này, kia, nọ, ấy,…

- Và thờng làm chủ ngữ , có thể làm vị ngữ có từ : Là đứng trớc

Tóm lại danh từ lớp từ có ý nghĩa phạm trù sự vật, biểu thị những đơn vị có thể nhận thức đợc trên cơ sở tồn tại của chúng dời hình thức những hiện tợng trong

tự nhiên và xã hội hoặc trong suy nghĩ của con ngời

1.3.2.Phân loại danh từ thành các tiểu loại

Khi bàn về việc phân loại danh từ, thờng chỉ chia danh từ riêng, danh từ chung, rồi trong danh từ chung lại chia thành danh từ cụ thể, danh từ trừu tợng, danh từ tổng hợp, Đó là cách phân loại đã mô phỏng theo tiếng Pháp, nó mới chỉ…dựa trên ý nghĩa mà cha quan tâm tới thực tế tiếng việt Hơn nữa cách tiến hành phân loại cha thật tỉ mỉ và có hệ thống

Theo ông Bùi Đức Tịnh – ngời đầu tiên có ý định không phân chia từ loại theo cách truyền thống mà theo ông trong tiếng Việt phải chia danh từ chung, danh

từ riêng: danh từ xác định và danh từ phiếm định Ông có ý định xác lập mối liên quan giữa việc phân danh từ thành tiểu loại và việc phát hiện những đặc trng riêng của chúng trong hoạt động ngữ pháp song tất cả đều là những sự đối lập giữa hai dạng của một từ chứ không phải là sự đối lập giữa hai từ thuộc hai phạm trù từ vựng ngữ pháp khác nhau

Theo Ê- mê- nô: Danh từ trong tiếng Việt có thể phân thành các tiểu loại: Danh

từ có biệt loại, Danh từ không biệt loại, loại từ, từ chỉ số lợng từ Ê- mê- nô mở quá rộng phạm vi danh từ và đa từ chỉ số lợng và từ chỉ trỏ vào các từ loại này

Tác giả Nguyễn Tài Cẩn trong Từ loại danh từ trong tiếng Việt hiện đại-

Nxb khoa học xã hội- Hà Nội,1975, phân loại dựa trên khả năng của danh từ trong việc cấu tạo ra danh ngữ và tiêu chí phân loại chính:

Trang 32

a Những từ có liên quan đến những khả năng kết hợp điển hình nhất của danh từ mà lại có khả năng dùng làm tiêu chuẩn phân loại tốt nhất Vì không kết hợp đồng đều với mọi tiểu loại, mọi nhóm Tất cả đều nằm trong danh ngữ cả.

b Tất cả những h từ dùng để dạng thức hoá danh từ và diễn đạt phạm trừ thuần tuý ngữ pháp của danh từ cũng đều nằm trong danh từ cả

Nh vậy dựa vào khả năng cấu tạo danh ngữ để phân loại danh từ thì sẽ thu

đ-ợc một bảng phân loại rất có khả năng phản ánh đđ-ợc nhiều đặc điểm hoạt động ngữ pháp quan trọng nhất của những tiểu loại một cũng nh của từng nhóm nhỏ một Xu hớng này đợc nhiều nhà nghiên cứu chấp nhận và dựa vào tiêu chí phân loại trên chúng ta có thể đi đến phân chia các tiểu nhóm của danh từ

1.3.3 các nhóm danh từ tiếng việt

Nói danh từ chỉ vật, chỉ ngời, là nói về đặc điểm về ý nghĩa của danh từ.…Căn cứ vào khả năng kết hựp của danh từ với từ khác, căn cứ vào khả năng đảm nhiệm các chức vụ khác nhau ở trong câu ngời ta có thể phân loại danh từ ra các tiểu loại nh danh từ tổng hợp, danh từ chỉ chất liệu, danh từ chỉ thời gian,…

Mỗi tiểu loại trong danh từ tuy có chung một đặc điểm về ý nghĩa nhng lại

có thể khác nhau về đặc điểm ngữ pháp

Ví dụ: sách, vở, bàn, cá, thịt đều là danh từ chỉ vật nhng đặc điểm ngữ pháp khác nhau nh:

+Ba cái bàn hoặc ba bàn

+Ba quyển sách hoặc ba sách

Không thể nói hai thịt, ba cá

Vì vậy để hiểu rõ về danh từ trong tiếng Việt chúng ta cần tếp tục phân ra các nhóm nhỏ căn cứ vào đặc điểm ý nghĩa lẫn đặc điểm ngữ pháp Và đã có nhiều cách phân chia về tiểu nhóm của từ loại tiêu biểu nh:

- Diệp Quang Ban- Hoàng Văn Thung trong Ngữ pháp tiếng Việt (t1) Nxb

GD, 1996, phân chia các tiểu nhóm:

Danh từ riêng

Đếm dợcTổng hợp

Không đếm đợc

Trang 33

Danh từ chung

Đếm đợcKhông tổng hợp

Không đếm đợc

- Tác giả Nguyễn Tài Cẩn trong Từ loại danh từ trong tiếng Việt hiện đại-

Nxb Khoa học xã hội- Hà Nội ,1975, phân chia:

Danh từ riêng

Danh từ tổng hợpDanh từ chỉ đơn vịDanh từ Danh từ Danh từ chỉ ngời

Chung Không

Tổng hợp

Danh từ chỉ sự vật +Khái niệm trừu tợngDanh từ chỉ động vật, thực vật

Danh từ chỉ chất liệu

Còn tác giả Đỗ Thị Kim Liên trong Ngữ Pháp Tiếng Việt NXB Giáo dục,

(2002) chia tiểu nhóm danh từ thành:

Trang 34

Vậy là dựa vào một số cách phân chia về các tiểu nhóm danh từ trên chúng tôi đi đến thống nhất trong luận văn này sẽ sử dụng và đi theo cách phân chia các tiểu nhóm danh từ của tác giả Đỗ Thị Kim Liên vì chúng tôi thấy rằng cách phân chia nh vậy nó sát với thực tế, khoa học, giúp cho ngời học, đọc dễ dàng nhận diện

đợc các tiểu loại danh từ và hơn nữa nó gói gọn và khái quát đợc các tiểu loại ngay khi nhìn vào sơ đồ

và phù sa

Tỷ lệ %

Trang 35

Trong tổng số danh từ ở hai tập thơ chúng tôi nhận thấy rằng số lợng danh

từ ở tập ánh sáng và phù sa nhiều hơn tập Điêu tàn (627 từ- 396 từ).Trong đó

danh từ riêng- sự vật ở tập Điêu tàn hoàn toàn không có , tỉ lệ xuất hiện trong các

nhóm cũng không giống nhau Các nhóm có số lợng lớn đó là nhóm danh từ trừu tợng ở Điêu tàn là74 từ chiếm 18,8%, ở ánh sáng và phù sa là 73 từ chiếm

11,64% Nhóm danh từ chỉ vật ở Điêu tàn là 81 từ chiếm 20,5%, ánh sáng và phù

sa có 93 từ chiếm 14,8%, Danh từ tổng hợp 35- 8%, và 15- 2,39% Các tiểu nhóm

còn lại đều chênh lệch nhau ở số từ và tỷ lệ phần trăm nh: Danh từ chỉ ngời 24- 6% và 101- 16%, Danh từ chỉ động vật 9- 2% và 37- 5,9%.Danh từ chỉ thực vật 29- 7% và 93- 14,83% Còn một số tiểu loại tỉ lệ xuất hiện còn thấp nh: danh từ chỉ loại, danh từ chỉ chất liệu, danh từ tính toán

2.1.2 Đặc điểm các tiểu nhóm Danh từ trong tập Điêu Tàn

2.1.2.1. Danh từ trừu tợng

Với số lợng 74 từ/ 396 danh từ ở 36 bài thơ thì danh từ trừu tợng chiếm tới 18% Chế Lan Viên đẫ thoát hiện tại, xáo trộn dĩ vãng và ôm trùm lấy tơng lai Khi ta đọc lên những danh từ này tởng rằng chúng vô nghĩa, song đó lại là cái vô nghĩa hợp lý với

Trang 36

sự sụp đổ của nhà nớc Chàm Một thế giới u linh của quỷ dữ ma hời và một tấm lòng

đau đớn, nuối tiếc của tác giả với những gì mất đi

Danh từ trừu tợng trong tập Điêu tàn thờng đợc sử dụng với số lợng cao so

với các tiểu nhóm khác So với tập ánh sáng và phù sa thì tiểu nhóm này cao hơn

0,6 lần Con số này cho thấy ở tập Điêu tàn, Chế Lan Viên đã sử dụng lớp danh từ

mang tính trừu tợng cao Vì thế nên các danh từ có yếu tố Cõi, Hồn chiếm số

l-ợng cao có tới 30 lần sử dụng nh: Cõi trần gian, cõi tang hay hồn mơ, hồn trôi, mảnh hồn, cõi chết, cõi trần gian, cảnh đời, siêu hình, cõi sống, linh hồn, hồn thơ, hồn mây, hơi thở, hơi say, hơi men Đây là những từ thiên về đời sống tinh…thần, tâm linh hơn là một thế giới thực nh:

Có tởng lại mảnh hồn mi đau khổ

Đang lạc loài giữa cõi chết xa xôi.

( Cái sọ ngời) Hãy đem tôi xa lánh cõi trần gian!

Muôn cảnh đời chỉ làm tôi chớng mắt

( Những sợi tơ lòng)Những từ thiên về phản ánh quan niệm, thế giới trừu tợng nh: yêu ma, yêu tinh, quỷ quái, cõi ta, ma hời, … là những danh từ nói về loài vật nhng lại không

có thực Đây là những từ gây sự tởng tợng về nỗi sợ hãi, khiếp sợ, kinh dị hơn là sự tồn tại của kiếp ngời hiện thực

Và rót máu trong hồn ta tê liệtNhững nguồn mơ rồ dại, hỡi yêu tinh!

( Điệu nhạc điên cuồng)Các danh từ trừu tợng nh sinh khí, thế giới, h không, h vô, hơi âm, dĩ vãng, giấc mơ … cũng đều gợi về một thế giới nào đó xa xăm thuộc về quá khứ, tởng t-ợng chứ không phải một thế giới thực

Quả đất chuyển dây lòng tôi rung độngNỗi sầu t thấm cõi h vô

( Những sợi tơ lòng)

Và xơng khô, và sọ dừa, và thịt nát

hơi âm rờn rợn của yêu tinh.

( Mồ không)

Trang 37

Cũng nh nhiều tác giả của phong trào thơ mới, Chế Lan Viên cũng qua thơ nhằm bộc lộ mình Ông có những suy nghĩ sâu sắc về cái tôi trớc cuộc đời Nói nhiều đến sự tồn tại và chết chóc, quá khứ và hiện tại, hiện thực và ớc mơ song những câu hỏi trong thơ ông đã mang màu sắc siêu hình, đi giữa cái h và thực, giữa cái hữu hạn và cái vô hạn Đi tới tận cùng của cái thực thơ đến với cái siêu hình:

Ôi rồ dại muôn ngời trên trái đất

Trí vô t theo đuổi mộng ngông cuồng,

ở trần gian muốn thoát khỏi u buồn,

Trong cõi sống, ng ra vòng khổ sở.

(Đừng quên lãng)

Ông đã dùng những hình ảnh tái hiện giản đơn mà thiên về hình ảnh suy ởng, liên tởng, giàu chất khái quát, chất trí tuệ biểu trng, thiên về một thế giới siêu thực

t-2.1.2.2.Danh từ chỉ vật, đồ vật

So với tiểu nhóm danh từ trừu tợng, danh từ chỉ vật, đồ vật có số lợng tơng

đ-ơng là 81 từ/ 306 danh từ trong 36 bài chiếm 20,5% Các danh từ trong Điêu tàn

th-ờng chỉ :

a.Những vật dụng gần gũi với con ngời nh; áo, chiếc áo, chiếc bành, mảnh

áo, chiếc hòm, đồ bàn,…

Chiếc hòm con êm đi trong sơng lạnh

Ngời mẹ già nức nở lên đôi hồi

(Đám ma)

b.các đồ vật gắn liền với ngời chết nh ; mộ, đáy mộ, mộ tàn, đáy giếng, đáy

óc, nấm mồ, tha ma, hòm, huyệt tối ;

Nh hồn ma trong khi về mộ khác

Còn đôi hồi dừng cánh viếng mộ sâu.

(Mồ không)c.Chỉ nơi c trú, nơi sinh hoạt văn hoá, các đồ vật gắn liền với sinh hoạt văn hoá nh : nhạc, thuyền, tiếng mỏ, tấm màn…

Rồi giữa cảnh sơng mờ sao nhỏ lệ

Trang 38

(Xơng khô)

mõ làng não nùng reo lốc cốc,

Tựa đầu lâu reo dới khớp xơng tan

(Bóng tối)

Có thể nói những danh từ chỉ vật, đồ vật trong tập thơ Điêu tàn đợc sử dụng

đều thiên về lớp từ mang nghĩa buồn đau, gợi sự cô quạnh, quạn vắng, mất mát, hụt hẫng Cách nói , cách dùng từ của Chế Lan Viên tuy là một nhà thơ trẻ song ở ông toát lên nột cách dùng từ độc đáo, chuyển hoá có sự sáng tạo, mạnh dạn trong cách biểu đạt vì thế nó nh lôi cuốn ngời đọc,

2.1.2.3 Danh từ chỉ bộ phận cơ thể ngời

Nhóm danh từ chỉ cơ thể ngời 50 từ/ 396 danh từ trong 36 bài chiếmtới 12% Chúng ta bắt gặp các danh từ chỉ bộ phận cơ thể ngời ở bên ngoài nh Đầu, bàn tay, môi, mắt, tóc,sọ, óc…

Nơi, loa vang, ngựa hí, với đầu rơi

(Chiến tợng)

Tay mỏi rồi! Không buồn lay động nữa!

(Vo lụa)Hoặc nhóm danh từ chỉ bộ phận cơ thể ngời ở bên trong, nh Đỉnh sọ, khớp x-

ơng, mạch máu, tim, thịt máu, tuỷ…

Để máu cạn, hồn tàn, tim tan vỡ

Để trôi đi ngày tháng nặng u phiền

(Điệu nhạc điên cuồng)

Quả tim là một khối u buồn Mạch máu ta là những mối đau thơng

(Đừng quên lãng)Chế Lan Viên đã sử dụng các danh từ bàn tay, chiếc sọ dừa, xơng khô, đầu lâu,máu,thịt ngời, tuỷ nồng, xơng tàn,… làm thành nguồn cảm xúc cho thơ Nh một

phản ứng dây chuyền, một thế giới quái đản lây lan đã lôi cuốn vào tận đáy sâu của một cõi thực mà lại siêu thực Lớp danh từ chỉ bộ phận cơ thể ngời cũng xuất hiện trong các kết hợp từ gợi nghĩa mất mát, u buồn, vỡ vụn, mỏi mệt trong thế giới của…những “ đối tợng” nh vậy, ta nhận ra một sự chối từ, phủ nhận hiện thực

Trang 39

2.1.2.4 Danh từ chỉ hiện tợng tự nhiên

Khi nhìn vào những hiện tợng cao đẹp, lớn lao của thiên nhiên nhà thơ còn bộc lộ khát vọng của mình với chị hằng, với gió lốc, gió xuân,với nắng hồng, rừng núi, …Chế Lan Viên đã vận dụng 47 từ/ 396 danh từ trong 36 bài thơ, chiếm 11,5% Nhận thức thế giới, cuộc đời xung quanh vẫn là ham muốn khôn cùng của nhà thơ nhng dờng nh bất lực, bất lực do sự cản trở của hoàn cảnh, đôi lúc ông nh muốn hoà nhập vào chốn thinh không nh không khí, ánh sáng, làn mây, ngọn gió và không muốn tồn tại dới dạng vật chất con ngời trong cuộc đời gió bụi

Tôi là kết tinh của ánh trăng trong

Sao không cho tôi đến chỗ h không?

( Tắm trăng)Trong thơ ông, các danh từ thiên nhiên đợc nhắc đến nh: cung trăng, nắng, vì sao, ngân hà, dòng trăng, vờn trăng, trăng ngà, cung mây, cung hằng…Hình ảnh

nói đến trăng hoặc liên quan đến trăng đợc lặp đi lặp lại đó là thế giới của mơ mộng, tởng tợng và chiêm ngỡng của ông Qua lớp từ này, ta có thể nhận ra một thế giới không có thực đợc ông gửi gắm tâm hồn, hy vọng của mình vào đó, vậy gián tiếp ông phủ nhận cuộc sống trần gian, cái xã hội thực dân phong kiến đờn thời

2.1.2.5. Danh từ chỉ thời gian

Về nhóm danh từ chỉ thời gian, Chế Lan Viên thờng sử dụng hai mảng chủ yếu đó là Đêm và Mùa.

Với Đêm ông đã khai thác ở mọi khía cạnh nh Đêm nay, Đêm sâu, đêm tối, bóng đêm, và với lớp danh từ chỉ thời gian này, ông cũng tạo nên một thời gian

của sự huyền bí, u tối, giá lạnh

Mênh mang lên, bát ngát tựa đêm sâu.

Trong bóng đêm u ám của hàng mi

Kiêu ngạo rằng: “ đây là bầu thế giới,Tạo lập ra mộy phút sầu bi”

(Tạo lập)Hay Bóng đêm tan trên đồng xanh vô tận

(Nắng mai)

Trang 40

Khi chuyển sang mùa ta lại bắt gặp hình ảnh mùa đông, thu, xuân nhng vẫn

mang một âm hởng chung của sự héo rụng, úa tàn

Thu đến đây chừ nói năng?

Chừ đây buồn giận biết sao ngăn?

Tìm cho những cánh hoa đang rụngTôi kiếm trong hoa chút sắc tànTìm cho những nét thơ xanh cũTrong những tờ thơ lá võ vàng

Ai nỡ tìm môi ng ời quả phụSắc màu hằn nhạt cả tình xuân

(Thu)

Ta bắt gặp các từ: ngày tháng, ngày xa, ngày xanh, thời gian và thu tàn,trăng xuân và cả trống cầm canh, trống thu không đều mang nghĩa chung để

chỉ sự tàn tạ, mòn mỏi

Trống cầm canh xa vang nơi cõi thế,

Hồn yêu tinh chợt thấy động tơ lòng?

(Xơng khô)Nếu nh ở các nhà thơ khác chán nản ngời ta tìm đến thiên nhiên để bầu bạn hoặc lẩn trốn trong quá khứ, trong hiện tại còn đối với Chế Lan Viên tất cả khoảng thời gian chỉ là một nỗi niềm chán nản gay gắt, não nùng nên ông đã trốn đời và nghĩ ngay tới một thế giới huyền bí mà cái thực là mỏi mòn, tàn lụi

2.1.2.6 Danh từ tổng hợp

Trong tập Điêu tàn danh từ tổng hợp đợc sử dụng 34 từ/ 396 danh từ trong 36

bài chiếm tỉ lệ 8% Danh từ tổng hợp thờng gồm hai yếu tố đều có nghĩa đẳng lập

nh : non nớc, cung đền, quỷ ma, quê hơng, trăng mây, mây trời, cỏ lả, hoa lá, máu xơng…

Có hai thế giới hiện ra qua lớp danh từ tổng hợp:

- Thế giới ma quỷ, đầu sọ, yêu ma, máu xơng, điện các…

Đây điện các huy hoàng trong ánh nắng

Những điền đài tuyệt mỹ dới trời xanh

(Trên đờng về)-Thế giới của: cỏ cây, hoa lá, mây trời Lớp từ này sử dụng không nhiều:

Ngày đăng: 17/12/2013, 21:35

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Vũ Tuấn Anh ( 2001 ) Chế Lan Viên tác gia và tác phẩm,NxbGiáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: ) Chế Lan Viên tác gia và tác phẩm
Nhà XB: NxbGiáo dục
2. Diệp Quang Ban - Hoàng Văn Thung (1996),Ngữ pháp TiếngViệt, (T1),Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ pháp TiếngViệt,(T1)
Tác giả: Diệp Quang Ban - Hoàng Văn Thung
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1996
3. Diệp Quang Ban – Hoàng Văn Thung (1993 ), Thực hành ngữ pháp Tiếng Việt, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực hành ngữ pháp Tiếng Việt
Nhà XB: Nxb Giáo dục
5. Nguyễn Nhã Bản (2001 ), Cơ sở ngôn ngữ học, Vinh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở ngôn ngữ học
6. Phan Văn Các (1994 ), Từ điển từ Hán Việt – , Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Từ điển từ Hán Việt
Nhà XB: Nxb Giáo dục
7. Hữu Đạt (2005 ), Nhận xét về sự phân bố từ vựng và phong cách trong truyện ngắn của một vài nhà văn Việt Nam nửa sau thế kỉ XX, tạp chí ngôn ngữsè 11 (198 ) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhận xét về sự phân bố từ vựng và phong cách trong truyện ngắn của một vài nhà văn Việt Nam nửa sau thế kỉ XX
8. Nguyễn Phan Cảnh (1987 ), Ngôn ngữ thơ, Nxb Đại học và Giáo dục chuyên nghiệp, Hà nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Ngôn ngữ thơ
Nhà XB: Nxb Đại học và Giáo dục chuyên nghiệp
9. Đinh Văn Đức (1986 ), Ngữ pháp tiếng Việt, Nxb Đại học và trung học chuyên nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ pháp tiếng Việt
Nhà XB: Nxb Đại học và trung học chuyên nghiệp
10. Phan Cự Đệ (1988), Văn học Việt Nam (1930- 1945 ), Nxb Đại học và Giáo dục chuyên nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học Việt Nam (1930- 1945
Tác giả: Phan Cự Đệ
Nhà XB: Nxb Đại học và Giáo dục chuyên nghiệp
Năm: 1988
11. Nguyễn Tài Cẩn ( 1996 ), Ngữ pháp tiếng Việt, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Ngữ pháp tiếng Việt
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
12. Hà Minh Đức (1998 ), Văn học Việt Nam hiện đại, Nxb Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học Việt Nam hiện đại
Nhà XB: Nxb Hà Nội
13. Phan Huy Dũng (1999 ), Kết cấu thơ trữ tình từ góc độ loại hình, Luận án tiến sĩ ngữ văn, ĐHSP Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết cấu thơ trữ tình từ góc độ loại hình
14. Hữu Đạt (1998 ), Ngôn ngữ thơ Việt Nam, Nxb khoa học xã hội, Hà Néi Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Ngôn ngữ thơ Việt Nam
Nhà XB: Nxb khoa học xã hội
15. Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi (1992 ), Từ Điển thuật ngữ văn học, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tõ §iÓn thuËt ngữ văn học
Nhà XB: Nxb Giáo dục
16. Nguyễn Thái Hoà(1996 ), Đi tìm cái mới trong biểu đạt thơ Việt Nam hơn nửa thế kỉ qua, Tạp chí Văn Học Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Đi tìm cái mới trong biểu đạt thơ Việt Nam hơn nửa thế kỉ qua
17. Bùi Công Hùng (2000 ), Tiếp cận nghệ thuật thơ ca, Nxb Văn hoá thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiếp cận nghệ thuật thơ ca
Nhà XB: Nxb Văn hoá thông tin
19. Đinh Trọng Lạc (1999 ), 300 bài tập phong cách học tiếng Việt, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: 300 bài tập phong cách học tiếng Việt
Nhà XB: Nxb Giáo dục
20. Mã Giang Lân (1996 ), Tìm hiểu thơ, Nxb Thanh niên, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Tìm hiểu thơ
Nhà XB: Nxb Thanh niên
21. Mã Giang Lân (2000 ), Tiến trình thơ hiện đại Việt Nam, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Tiến trình thơ hiện đại Việt Nam
Nhà XB: Nxb Giáo dục
22. Đỗ Thị Kim Liên (2002 ), Ngữ pháp Tiếng Việt, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ pháp Tiếng Việt
Nhà XB: Nxb Giáo dục

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ chung Riêng - Đặc điểm từ loại danh từ trong hai tập thơ điêu tàn, ánh sáng và phù sa của chế lan viên
Sơ đồ chung Riêng (Trang 33)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w