Luật Thơ Mới thất ngôn, trớc hết và chủ yếu cũng là luật phối thanhtiếng bằng, tiếng trắc, xét riêng từng câu thơ, trong một khổ thơ hoặc cả toàn bộbài thơ.. Nếu chọn ra những bài thơ ha
Trang 2Trêng §¹i häc Vinh Khoa: Ng÷ V¨n
Ngêi híng dÉn: TS NguyÔn Hoµi Nguyªn
Sinh viªn Thùc hiÖn: TrÇn ThÞ Thanh Hµ
Líp: 43E 4 - Ng÷ V¨n
Vinh - 2007 - -
Trang 3Lời cảm ơn
Để hoàn thành khóa luận này tôi xin chân thành cảm ơn Thầy giáo:Nguyễn Hoài Nguyên đã hớng dẫn, giúp đỡ tôi tận tình trong quá trình thu thậptài liệu và hoàn thành khóa luận
Nhân đây, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến các thầy, cô giáo trong
tổ ngôn ngữ, khoa Ngữ văn, thầy cô giáo trong trờng Đại học Vinh trong nhiềunăm qua đã truyền đạt cho tôi nhiều kiến thức quí báu
Vinh, ngày 10 tháng 05 năm 2007
Sinh viên thực hiện
Trần Thị Thanh Hà
Trang 4Mở đầu
1 Lý do chọn đề tài và mục đích nghiên cứu
1.1 Thơ ca là hiện tợng độc đáo của văn học ở cơ chế vận hành bộ máyngôn ngữ của nó Thơ là một thể loại có hình thức tổ chức ngôn ngữ đặc biệt.Khi nghiên cứu ngôn ngữ thơ, ta cần chú ý đến tính nhạc của nó Thơ Việt Nam
có đựơc nhạc tính chủ yếu là nhờ vào ba thứ “điệu” sau: trớc hết là thanh điệusau đó là vần điệu và nhịp điệu
Khi nghiên cứu sự tác động của bất kì nhân tố nào trong ba nhân tố trên,
về nguyên tắc, ta phải tạm thời trừu tợng đi vai trò của hai nhân tố còn lại Trong
ba yếu tố cơ bản tạo nên nhạc điệu cho thơ thì yếu tố thanh điệu đóng vai tròquan trọng nhất Về mặt ngữ âm, bài thơ chứa đựng mặt thuần nhất và mặt dịbiệt của âm luật thể loại trên ba yếu tố cấu thành nhạc điệu Xét về mặt thuầnnhất trong nhạc điệu, ta thấy thanh điệu bài thơ cơ bản tuân thủ tính cách luậtcủa thể loại Luật Thơ Mới thất ngôn, trớc hết và chủ yếu cũng là luật phối thanhtiếng bằng, tiếng trắc, xét riêng từng câu thơ, trong một khổ thơ hoặc cả toàn bộbài thơ
1.2 Phong trào Thơ Mới đã đem lại những biến đổi có tính chất nhảy vọttrong thơ ca Thơ Mới là trào lu mở đầu sự thay đổi ngôn ngữ thơ trong giai đoạn
1932 - 1945, và là một hiện tợng rất mới của ngôn ngữ văn học Việt Nam thế kỷ
XX Phát huy tích cực những biểu hiện có tính truyền thống của thơ ca ViệtNam, đồng thời tiếp thu một cách sáng tạo những hình thức thơ ca nớc ngoài,phong trào Thơ Mới đã đem đến một tiếng nói mới cho nền thơ ca Việt Nam.Nhờ có các hình thức diễn đạt mới, các nhà thơ đã thoát khỏi khuôn khổ ngônngữ chật hẹp của những câu thơ cũ, đồng thời cũng vợt qua những quy luậtnghiêm ngặt về vần luật và niêm luật trớc đây Thơ Mới còn đợc hiểu là lối thơkhông theo qui định của lối thơ cũ, chỉ u tiên cho vần và điệu, không bị gò bó về
số câu, số chữ và niêm luật Thơ Mới đã đột phá về ngôn ngữ theo hớng tự do
Trang 5hóa và hiện đại hoá và đã thu đợc những thành tự đặc sắc Sự đổi mới về hìnhthức biểu hiện của thơ mới thể hiện khá nổi bật cách ngắt nhịp, gieo vần, cách bốtrí thanh điệu bằng trắc Điều đó thể hiện rõ nhất ở thơ mới bảy chữ.
Trong “Thi nhân Việt Nam”, Hoài Thanh có nhận định riêng về thể thấtngôn (và ngũ ngôn) nh sau: “Thất ngôn và ngũ ngôn rất thịnh (“) thất ngôn và ngũ ngôn bây giờ lại do luật Đờng giãn và nới ra, cho nên êm tai hơn Cũng có
lẽ vì nó a vần bằng hơn vần trắc” Sự đúc kết ấy của Hoài Thanh đã là một sự
gợi ý rất hay cho những tìm kiếm về luật thơ mới, đặc biệt là luật bằng trắc
1.3 Thơ mới bảy chữ có nhiều bài thực mẫu mực, tài hoa Trong 168 bài
đợc tuyển chọn vào“Thi nhân Việt Nam”, tính ra có tới 68 bài thơ bảy chữ (sovới 41 bài thơ tám chữ và 25 bài thơ lục bát) Nếu chọn ra những bài thơ haynhất của các nhà Thơ Mới thì phần nhiều các nhà thơ đợc chọn và số đông cácbài thơ đợc chọn vẫn là những bài thất ngôn có chia khổ nh: Xuân Diệu với
Nguyệt Cầm , Đây mùa thu tới
“ ” “ ”; Hàn Mạc Tử với “Đây thôn Vĩ Dạ , Mùa” “
xuân chín”; Chế Lan Viên: Thu“ ”; Nguyễn Bính: “M a xuân”; Tế Hanh với Vu“
vơ”; Thâm Tâm với Tống biệt hành“ ”…
Khóa luận chọn đối tợng khảo sát là bằng trắc thơ bảy chữ Chế Lan Viênbởi lẽ: Chế Lan Viên là một gơng mặt khá nổi bật trong phong trào Thơ Mới.Thơ Chế Lan Viên là một hiện tợng khá đặc biệt, ở đó có sự hòa quyện giữatruyền thống và hiện đại, giữa kế thừa và cách tân, giữa sự nhuần nhuyễn đằmthắm và những trăn trở sáng tạo
Nhạc điệu mà cụ thể là cách tổ chức thanh điệu bằng trắc trong thơ ChếLan Viên nói chung, trong thơ bảy chữ nói riêng có nhiều độc đáo sáng tạo, cónhững cách tân khá thành công
Trang 6Đây chính là lý do khiến chúng tôi mạnh dạn tìm hiểu một khía cạnhtrong hình thức biểu hiện thơ Chế Lan Viên: Bằng trắc trong thơ bảy chữ Chế Lan Viên làm đề tài khóa luận tốt nghiệp Đại học
1.3 Mục đích nghiên cứu của đề tài là thông qua việc khảo sát bằng trắctrong các bài thơ mới bảy chữ của Chế Lan Viên xác định các khuôn bằng trắcphổ biến và những biểu hiện về sự cách tân, sáng tạo của Chế Lan Viên ở hìnhthức biểu hiện, về ngôn ngữ, về nhạc điệu trong thơ mới bảy chữ
2 Lịch sử vấn đề
Lâu nay, trong các bài viết về ngôn ngữ thơ, các nhà nghiên cứu có nhắc
đến việc tổ chức thanh điệu trong thơ nhng cha có tác giả nào đặt vấn đề nghiêncứu nh một đối tợng độc lập Gần đây, việc nghiên cứu cách tổ chức bằng trắctrong thơ một cách có hệ thống đã đợc đặt ra trong một số khóa luận tốt nghiệp
Đại học Chẳng hạn: Bằng trắc trong thơ lục bát Tố Hữu của Nguyễn Thị Đào,
ĐHV 2005; Bằng trắc trong thơ bảy chữ Xuân Diệu của Nguyễn Thị Thu, ĐHV
2006; Luật phối thanh trong lục bát Truyện Kiều của Nguyễn Thị Nhung, ĐHV
2005
Trờng hợp thơ bảy chữ của Chế Lan Viên, cho đến nay, đã có một số khóaluận tốt nghiệp Đại học nghiên cứu nh ở phần nhịp điệu, chẳng hạn: Nhịp điệu trong thơ mới bảy chữ của Chế Lan Viên của Lê Thị Ngân, ĐHV 2006 Còn luật
bằng trắc trong thơ bảy chữ Chế Lan Viên cha đợc nghiên cứu một cách có hệthống Chính điều đó đã khiến chúng tôi mạnh dạn khảo sát cách phân bố bằngtrắc trong thơ bảy chữ Chế Lan Viên một cách có hệ thống và với t cách là một
đối tợng độc lập
3 Đối tợng và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Đối tợng nghiên cứu
Đối tợng nghiên cứu của khóa luận là cách tổ chức bằng trắc trong thơmới bảy chữ của Chế Lan Viên
Trang 73.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Chúng tôi đặt ra cho khóa luận phải giải quyết những vấn đề sau đây:
- Khảo sát thơ Chế Lan Viên, xác định số lợng các bài thơ bảy chữ, từ đótiến hành xác lập các khuôn bằng trắc trong câu thơ, khổ thơ, bài thơ
- Chỉ ra những sự kế thừa và cách tân về cách tổ chức bằng trắc trong thơmới bảy chữ của Chế Lan Viên theo khuynh hớng tự do hóa Khảo sát thanh điệutrong quan hệ với vần, điệu, nhịp điệu trong thơ mới bảy chữ của Chế Lan Viên
để làm sáng tỏ tính nhạc trong thơ bảy chữ của ông
- So sánh đối chiếu với thời đại, với các tác giả khác để đánh giá chung vềvai trò của thanh điệu trong việc biểu hiện ngữ nghĩa và việc cảm thụ thi ca
4 Nguồn t liệu và phơng pháp nghiên cứu
4.1 Nguồn t liệu
4.1.1 Toàn bộ sáng tác thơ của Chế Lan Viên từ 1937 - 1988 do tác giả
Vũ Thị Thờng (2002) su tầm và biên soạn gồm 15 tập thơ, 918 bài thơ bao gồmcác thể loại:
- Thơ tự do: 548 bài, chiếm 59,7%
- Điêu tàn (1937): 4 bài (Đọc sách, Thu, Xuân, Mơ trăng)
- Sau Điêu tàn (1937 - 1947): 5 bài (Hoàng hôn, Chết giữa mùa Xuân,Rừng Xuân, Mai đã…, Lại thấy thời gian)
Trang 8- ánh sáng và phù sa (1955 - 1960): 20 bài: (Đêm ra trận, Th mùa nớc lũ,Cách chia, Lại nhà, Cánh hoa nhỏ, Nhớ Việt Bắc, Lơng mới, Mẹ, Xem ảnh,Trông th, Cờ đỏ mọc trên quê mẹ, Gốc nhãn cao, Điện và Trăng, TặngAntokonsky, Chớ hái hoa trong bệnh viện, Xóm cũ, Tra, Tiếng chim, Ôi chịhằng Nga cô gái Nga, Tiếng Ngô thuốc độc.)
- Hoa ngày thờng - Chim báo bão (1961 - 1967): 2 bài: (Không ai có thểcứu chúng mày, Cây dẫn em về)
- Đối thoại mới (1967 - 1973): 17 bài: (Chơi chữ về ngõ Tạm Thơng,Hoàng Thảo hoa vàng, Tranh ngựa, Im bớt màu hoa, Mây của em, Chim ấy raunày, Chim biếc Vĩnh Linh, Đọc “bất khuất”, Nhánh đào yêu, Hồng trận địa,Tặng thơ, Liễu cũng chờ em, Trở về Quảng Bá, Xuân vĩnh viễn, Vừa thấy môihoa, Búp lộc vừng, Nội dung và hình thức)
- Hoa trớc lăng Ngời (1954 - 1976): 0 bài
- Hái theo mùa (1973 - 1977): 4 bài: (Vẫn cánh mai ấy, Hoa gạo son, Thỏthẻ hòa bình, Tập qua hàng)
- Hoa trên đá I (1977 - 1984): 13 bài: (Bóng cọ, Hoa táo, Cành đàoNguyễn Huệ, Sen Huế, Trở lại An Nhơn, Tứ tuyệt, Chị Ba, Mồ mẹ, Mùa đậuquả, Nhảy sạp vùng than, Nghe hết câu chèo, Hải đăng, Vàm Cỏ Tây)
- Ta gửi cho mình (1980 - 1985): 4 bài: (Mẹ dân dã, Tiếng trẻ tha, Đờnglên biên giới, Vũng Tàu nhớ và quên)
- Hoa trên đá II: 4 bài: (Chị T, Viên tĩnh viên, Hoa giấy, Hoa chạc chìu)
- Di cảo thơ I: 8 bài: (Chèo tiễn biệt, Đi trốn đi tìm, Nhớ tuổi thơ, chị và
em, Cảnh điền viên, Cửa Việt, Về thăm xứ Huế, Đột ngột cây chiều)
- Di cảo thơ II: 3 bài: (Lên gác, Không có mùa xuân, Hoa trắng)
- Di cảo thơ III: 2 bài: (Vợt bể, Vờn quê)
4.2 Phơng pháp nghiên cứu
Trong quá trình thực hiện đề tài, chúng tôi dùng các phơng pháp nghiêncứu sau đây:
Trang 9- Dùng phơng pháp thống kê phân loại để xác định các bài thơ bảy chữ,xác lập các khuôn thanh trong thơ bảy chữ của Chế Lan Viên.
- Dùng phơng pháp phân tích và miêu tả để chỉ ra luật phối thanh vànhững đột phá về ngôn ngữ theo khuynh hớng tự do hóa
- Dùng phơng pháp đối chiếu để xác định những nét độc đáo, cách tân củathơ bảy chữ Chế Lan Viên với các nhà thơ hiện đại khác và so với thơ cách luậttruyền thống
5 Đóng góp của khóa luận
- Từ góc độ ngôn ngữ học, khóa luận đã tập trung làm sáng tỏ luật phốithanh trong thơ bảy chữ của Chế Lan Viên, một trong ba yếu tố (cùng với vần
điệu và nhịp) tạo nên tính nhạc cho thơ
- Chỉ ra những sự kế thừa,sự sáng tạo và cách tân của Chế Lan Viên xét ởmặt hình thức biểu hiện thơ, góp phần chứng tỏ Chế Lan Viên là nhà thơ khá đặcbiệt trong các nhà thơ hiện đại
6 Bố cục của khóa luận
Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung khóa luận triển khai thành bachơng:
Trang 10Chơng 1
Giới thuyết xung quanh đề tài
1 Vài nét về đời và thơ Chế Lan Viên
1.1 Nhà thơ Chế Lan Viên (1920 - 1989)
Chế Lan Viên tên thật là Phan Ngọc Hoan, sinh ngày 23 tháng 10 năm
1920 trong một gia đình viên chức nghèo ở Cam Lộ, Quảng Trị Năm 1927, gia
Khi tập thơ “Điêu tàn” - là một tập thơ rất nổi tiếng và có giá trị lớn ra đờinăm 1937, ông mới 17 tuổi và đang là học sinh năm thứ ba trờng trung học QuyNhơn Ngay trừ bấy giờ, d luận đã đặc biệt chú ý đến nhà thơ tài năng và đặc sắcnày
Năm 1939, Chế Lan Viên ra học tại Hà Nội, sau đó ông vào Sài Gòn làmbáo, ra Thanh Hóa, quay về Huế dạy học Năm 1942, ông hoàn thành và cho ra
đời tập “Vàng sao” và sau đó viết tập bút ký triết luận Gai lửa “ ”
Ông tham gia Cách mạng tháng Tám trong Quy Nhơn, rồi sau đó ra Huếtham gia “đoàn xây dựng” cùng với Hoài Thanh, Lu Trọng L, Đào Duy Anh…viết bài cho các báo “Quyết thắng” của Việt Minh Trung bộ
Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, ông hoạt động văn nghệ vàbáo chí ở liên khu bốn và chiến trờng Bình Trị Thiên Tháng 7 năm 1949, ông đ-
ợc kết nạp vào Đảng Những bài thơ đợc sáng tác trong thời kỳ kháng chiến đợctập hợp lại trong tập thơ “Gửi các anh” (1955), thể hiện sự chuyển biến quan
trọng trong t trởng và hồn thơ Chế Lan Viên
Trang 11Sau năm 1954, ông về sống ở Hà Nội Tập thơ “ánh sáng và phù sa”
(1960) là một thành công đặc sắc, đánh dấu bớc phát triển mới của thơ Chế LanViên
Bớc vào cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nớc, thơ Chế Lan Viên đã đạtnhiều thành tựu mới với các tập “Hoa ngày thờng - Chim báo bão” (1967),
“Những bài thơ đánh giặc” (1972), Đối thoại mới“ ” (1973) mang đậm chấtchính luận sử thi bên cạnh chất trữ tình đằm thắm của cuộc sống đời thờng Saungày đất nớc giải phóng, ông vào sống ở Thành phố Hồ Chí Minh và tiếp tục cho
ra đời các tập thơ “Hái theo mùa” (1977), “Hoa trên đá” (1984), “Ta gửi cho mình” (1986)
Chế Lan Viên còn là cây bút văn xuôi đặc sắc với các tập bút ký “Vàng sao” (1942), “Thăm Trung Quốc” (1963), “Những ngày nổi giận” (1966), Giờ“
của số thành” (1977) Các tập tiểu luận - phê bình của ông cũng gây tiếng vang
rộng rãi có tác động tích cực vào đời sống văn học nh “Vào nghề” (1962), Phê“
bình văn học” (1962), Suy nghĩ và bình luận“ ” (1971), “Nghĩ cạnh dòng thơ”(1980), “Từ gác Khuê Văn đến quán Trung Tân” (1981)…
Tóm lại, Chế Lan Viên là một nhà thơ lớn của đất nớc, có vị trí quan trọngtrong lịch sử văn học Việt Nam Năm mơi năm cầm bút, Chế Lan Viên đã để lạimột tài sản văn chơng đồ sộ, phong phú và đa dạng Thế giới nghệ thuật thơ ChếLan Viên phong phú, nhiều màu sắc, có đóng góp đáng kể trong quá trình hiện
đại hóa thơ ca Việt Nam
1.2 Những nét đặc sắc thơ Chế Lan Viên
Chế Lan Viên là một trong số ít các nhà thơ có quan niệm rõ ràng về sángtác nghệ thuật Suốt cuộc đời cầm bút, làm thơ ông luôn ý thức rõ về thiên chứcngời nghệ sĩ Không ai viết nhiều bài thơ bàn về thơ nh ông Ông có một quanniệm hết sức táo bạo: “Hình thức cũng là vũ khí Sắc đẹp câu thơ cũng phải đấu tranh cho chân lý / ” Ngoại vi thơ, Nxb Thuận Hóa, Huế 1987/ Ông còn khẳng
Trang 12định: “Đi tìm cái Thiện, cái Chân nh ng phải biểu hiện bằng hình thức đẹp”/
Nghĩ cạnh dòng thơ, Nxb Văn học, H 1981/ Ông không chỉ phát biểu quanniệm lý thuyết, có thể nói ông đã phấn đấu hết sức mình trong suốt cả đời thơ đểthực hiện quan niệm ấy trong thực tiễn sáng tác và trong phê bình thơ Qua cáctập thơ chúng ta dễ dàng nhận thấy ông luôn trăn trở để tìm kiếm tiếng thơ mớithời đại, luôn luôn vơn lên tự đổi mới để đạt đợc sự thể hiện tinh thần lớn laothời đại, tìm tòi những hình thức mới mẻ phù hợp với những nội dung Điều đặcbiệt ở chỗ Chế Lan Viên là ông mạnh dạn sáng tạo, đổi mới trên nguyên tắc kếthừa truyền thống Bởi vì Chế Lan Viên là nhà thơ rất coi trọng truyền thống -
Đó là những phần tinh hoa có tính chất độc đáo bền vững trong di sản văn hóacủa một dân tộc Tuy nhiên truyền thống trong quan niệm của ông không phải làcái gì cố định, bất biến, ngng đọng mà tùy theo bớc phát triển của văn học phảiphản ánh, giải đáp đợc những yêu cầu của thực tại và ý thức hệ mới Do đó, kếthừa truyền thống nhng ông luôn nhấn mạnh yêu cầu đổi mới cách thể hiện trongthơ Điều này cắt nghĩa một thực tế, về mặt thể loại, ông làm nhiều thơ cách luật,nhiều bài tứ tuyệt rất hay nhng ông cũng rất sở trờng về thơ tự do, thơ văn xuôi
Thơ Chế Lan Viên là thơ có cá tính riêng, là thơ trí tuệ sắc sảo, thơ nghịluận hùng hồn Đặc sắc t duy thơ Chế Lan Viên là tởng tợng, liên tởng và đốilập Tởng tợng nhiều kiểu: hoàn toàn h ảo hoặc nửa siêu thực; liên tởng nhiềuchiều, nhiều hớng, nhiều phạm vi; đối lập nhiều cách: phép đối nghịch, đối lập t-
ơng phản; các nét đặc trng t duy thơ Chế Lan Viên đợc vận dụng rất hiệu quảtrong cảm xúc và suy t và đều có ý nghĩa thi pháp Chúng đợc dùng trong sự liênkết linh hoạt, trong mối quan hệ hữu cơ để thể hiện một trí tuệ sắc sảo, tân kỳ,
độc đáo nh nét phong cách, tạo nên vẻ đẹp riêng của thơ Chế Lan Viên
Là nhà thơ trí tuệ nhng thơ Chế Lan Viên lại giàu hình ảnh Giữa nétphong cách trí tuệ và sự sáng tạo thế giới hình ảnh trong thơ Chế Lan Viên cómối quan hệ gì đây? Nh đã biết, hình tợng của thơ là hình tợng cảm xúc nhngnếu nói bao quát thì là hình tợng của cảm xúc và suy nghĩ Cảm xúc và suy tởng
Trang 13luôn qua lại, chuyển hóa trong dòng t duy nghệ thuật thơ Chất suy nghĩ trongthơ biểu hiện từ cấu tứ, liên tởng đến các hình ảnh cụ thể Đặc điểm nổi bật vàsức mạnh chủ yếu của thơ Chế Lan Viên là ý tởng phong phú, độc đáo trong nộidung cũng nh trong diễn đạt Đó là mối quan hệ rất hữu cơ giữa ý và hình, giữatrí tuệ và hình ảnh đợc Chế Lan Viên xử lý hết sức tài tình trong thơ Đọc thơ
ông, chúng ta nhận thấy những ý tởng phong phú độc đáo đợc thể hiện qua mộtthế giới hình ảnh giàu có, mới mẻ, đa dạng sự trong vận động và phát triển Hình
ảnh thơ Chế Lan Viên chứa đựng cảm xúc và suy t nhng thờng mang nặng ý ởng Xúc động thi ca của Chế Lan Viên thờng bừng dậy trong ánh sáng trí tuệ;
t-ánh sáng ấy đợc tiếp nhận từ mọi phía, mọi chiều, mọi hớng lại đợc soi chiếu vàohình ảnh, hình tợng làm ánh lên vẻ đẹp lấp lánh nhiều màu sắc Chẳng hạn:
“Mỗi gié lúa đều muốn thêm nhiều hạt
Gỗ trăm cây đều muốn hóa nên trầm Mỗi chú bé đều nằm mơ ngựa sắt Mỗi con sông đều muốn hóa Bạch Đằng ”
(Tổ quốc bao giờ đẹp thế này chăng?)
1.3 Ngôn ngữ thơ Chế Lan Viên
Có thể khẳng định ngôn ngữ thơ Chế Lan Viên mang rõ nét dấu ấn cá tínhsáng tạo Xác định hai mặt kế thừa và sáng tạo, Chế Lan Viên cho rằng “mỗi nhà văn đều làm hai công việc lớn lao này: (1) khai thác những khả năng, những tiềm lực của tiếng nói dân tộc, (2) và trong tiếng nói chung của dân tộc thêm cách nói riêng của mỗi ngời vốn có một tâm hồn, một phong cách riêng Nhng chính cách nói riêng ấy cũng là do quy luật chung, đặc điểm chung của tiếng nói dân tộc đẻ ra, bồi đắp cho”/ Suy nghĩ và bình luận, Nxb Văn học, H.
1971/ Có ý thức trong việc sử dụng ngôn ngữ, Chế Lan Viên đã coi trọng đúngmực nhạc điệu trong thơ Nhạc điệu làm cho thơ truyền cảm và lan tỏa rộng rãi
Ông nhận xét rất tinh tế khi cho rằng: “Cái tiếng hát của nhà thơ và cái tai độc
Trang 14giả gặp nhau ở điểm nào? Đấy là âm thanh và vần điệu bằng trắc của tiếng Việt, nó có những quy luật nhất định của nó /” Nghĩ cạnh dòng thơ, Nxb Vănhọc, H 1981/ Chế Lan Viên là nhà thơ coi ý thơ là quan trọng bậc nhất nhngvẫn không xem nhẹ nhạc điệu trong thơ Nhạc điệu trong thơ, theo ông, gồm cóvần, nhịp điệu và tiết tấu Thơ Chế Lan Viên không có nhiều vần nh thơ Tố Hữunhng vẫn giàu nhạc điệu Nét đặc sắc trong thơ Chế Lan Viên là phong phú vềhài thanh Chế Lan Viên là nhà thơ có ý thức cao về việc sử dụng hai nét đặc tr-
ng của thanh điệu tiếng Việt là âm vực (cao/ thấp) và âm điệu (bằng/ trắc) đểtăng cờng tính nhạc cho thơ Cùng với việc hiệp vần, việc tổ chức luân phiênthanh điệu bằng/ trắc là điểm nổi bật trong thơ Chế Lan Viên Về mặt nhạc tính,
sự luân phiên này lan tỏa trong toàn bộ câu thơ, bài thơ tạo ra những cấu trúc tiếttấu thực đa dạng
Thơ Chế Lan Viên giàu chất triết lý, có vẻ đẹp trí tuệ Đứng ở góc độ ngônngữ và xét, yếu tố tạo ra chất trí tuệ của thơ Chế Lan Viên là bề dày của ý, tức lànhững tầng nghĩa trong câu thơ Chế Lan Viên có sở trờng đặc biệt trong việckhai thác mở rộng các tầng nghĩa bằng nhiều phơng thức Đặc sắc nhất là phépchuyển nghĩa của từ, là phơng thức đa nghĩa hóa từ Ngôn ngữ thơ Chế Lan Viên
có ba nét nổi bật là sử dụng các phơng thức tu từ đậm đặc, chất duy lý của ngônngữ, ngôn ngữ giàu tính thời sự, thời đại Có thể nói Chế Lan Viên là nhà thơ sửdụng đậm đặc các phơng thức tu từ bao gồm tu từ ngữ âm tu từ từ vựng, tu từ ngữpháp Một trong những biện pháp tu từ đợc ông sử dụng có hiệu quả nhất là sosánh So sánh tu từ trong thơ Chế Lan Viên đa dạng, độc đáo, sáng tạo, mới lạ
Câu thơ của Chế Lan Viên cũng có nhiều nét cá tính nh nhiều câu dài, câuthơ nhích gần câu văn xuôi… tất cả những điều đó góp phần cá thể hóa ngôn ngữthơ Chế Lan Viên Xét về mặt hiệu quả ngôn ngữ thơ Chế Lan Viên góp phần
Trang 15quan trọng thúc đẩy quá trình tự do hóa, hiện đại hóa ngôn ngữ văn học ViệtNam nh có đợc ngày nay.
2 Một số khái niệm liên quan đến đề tài
2.1 Ngôn ngữ thơ và ngôn ngữ văn xuôi
Thơ là một cách tổ chức ngôn ngữ hết sức đặc biệt để bắt ngời tiếp nhậnphải nhớ, phải cảm xúc và phải suy nghĩ do chính hình thức tổ chức ngôn ngữnày Từ thời cổ đại, các học giả nh Aritxtot, Điđơrô đã bàn nhiều vấn đề của thơ
ca Thơ là hình thức sáng tác văn học phản ánh cuộc sống, thể hiện những tâmtrạng, những xúc cảm mạnh mẽ bằng ngôn ngữ hàm súc, giàu hình ảnh, nhất là
có nhạc điệu
Mọi hiện tợng thi ca điều chứa đựng những yếu tố cảm xúc, thẩm mĩ vàkhát vọng của con ngời vơn tới cái đẹp Thơ ca chính là vẻ đẹp của cuộc sống đ-
ợc biểu hiện một cách tập trung, khái quát nhất Nhà thơ Sóng Hồng đã từng
định nghiã về thơ: “Thơ là một hình thái nghệ thuật cao quý tinh vi“ thơ là tình cảm và lý trí kết hợp một cách nhuần nhuyễn và có nghệ thuật Tình cảm
và lý trí ấy đợc diễn đạt bằng những hình tợng đẹp đẽ qua những lời thơ trong sáng vang lên nhịp điệu khác thờng ”
Thiên về biểu hiện cảm xúc, hàm súc cô đọng, ngôn ngữ có nhịp điệu đó
là những đặc trng cơ bản của thơ Khác với văn xuôi, thơ ca là thể loại chỉ dùngmột lợng hữu hạn các đơn vị ngôn ngữ để biểu hiện cái vô hạn của cuộc sốngbao gồm các sự kiện tự nhiên và xã hội cũng nh những điều thầm kín trong tâmlinh con ngời Để hòan thành thiên chức đó, thơ ca phải tính đến những kiểu tổchức đặc biệt khiến cho có ngời nhận định rằng: “Thơ ca là một thể loại có hình thức ngôn ngữ quái đản”(Phan Ngọc) Nó là hình thức nghệ thuật dùng ngôn
ngữ giàu hình ảnh, giàu liên tởng và có nhịp điệu để thể hiện nội dung một cách
Trang 16hàm súc trong khi đó văn xuôi chỉ là những hình thức đợc trau chuốt cho hay,cho đẹp.
Trong văn xuôi, lặp là điều tối kỵ và phơng trình không đợc dùng để xâydựng các thông báo(Nguyễn Phan Cảnh - Ngôn ngữ thơ) ấy thế mà, chính cái
điều văn xuôi rất kị ấy lại là thủ pháp làm việc của thơ: Trong thơ, tính tơng
đồng của các đơn vị ngôn ngữ lại đợc dùng để xây dựng các thông báo Sử dụng
đặc trng tơng đồng của các đơn vị ngôn ngữ trong thơ là vì sự tơng đơng của các
đơn vị ngôn ngữ làm nên chiết đoạn tạo thành thông báo bao giờ cũng bao hàmmột sự tơng đơng về ý nghĩa Nghiã là, sức mạnh của cơ cấu lặp lại, của kiếntrúc song song chính là ở chỗ đã tạo ra đợc một sự láy lại, song song trong t t-ởng Việc chức năng mỹ học chiếm u thế trong các thông báo trong khi khôngloại trừ chức năng giao tế nh thế, đã làm cho thông báo thành ra đa nghĩa, có tínhchất nớc đôi, thành ra nhập nhằng hiểu theo nghĩa cốt tử của từ này Và đấychính là điều cốt tử của thơ: “Thơ phải đợc ý ở ngoài lời Trong thơ hàm súc vô cùng thì mới là tôn chỉ của ngời làm thơ Cho nên ý thừa hơn lời tuy cạn mà vần sâu, lời thừa hơn ý thì tuy công phu mà mà vẫn vụng Còn nh ý hết mà lời cũng hết thì không đúng là ngời làm thơ vậy ”
Cách tổ chức thơ có u thế hơn văn xuôi bởi tính chắp khúc (vticule) của
nó Một bài thơ đợc chia ra thành từng đoạn, mỗi đoạn chia ra thành từng khổ,mỗi khổ có một số câu nh nhau, mỗi câu lại có một số chữ nh nhau; các chữnày đợc bố trí theo một mô hình có sẵn về thanh điệu, trờng độ, âm tiết và từngcâu ấy có một ý nghĩa trọn vẹn Cho nên ta không ngạc nhiên khi thơ có vần, cónhịp, có tổ chức bằng trắc, có số câu… theo những mô hình cực kỳ gắt gao.Trong văn xuôi, không ai tổ chức ngôn ngữ theo những ớc định chặt chẽ nh vậy.Cấu trúc ngôn ngữ trong thơ là một cấu trúc hoàn hảo giúp cho nhà thơ bộc lộnội cảm dễ dàng còn ngời đọc dễ nhớ Mặt khác nội dung thông báo của vănxuôi là nội dung do cú pháp đem lại Còn ngữ nghĩa của thơ ngoài nội dung
Trang 17thông báo còn có những ngữ nghĩa khác Ngữ nghĩa thông báo của văn xuôi vàthơ cũng khác nhau Câu văn xuôi chứa đựng một thông báo cá biệt, hạn chế về
địa điểm, đối tợng, thời gian và sau đó là quên Một thông báo của thơ là phi thờigian, phi không gian, cho cả loài ngời Do đó, câu thơ nào cũng đa nghĩa, cũngchứa đựng một nỗi niềm, những tâm trạng ngời đọc có thể xác định trong từnghoàn cảnh riêng Chính vì vậy, xét về mặt tần số thì thơ là nơi tập trung nhiềucấu trúc mang tính chất ngoại lệ nh đảo cú, đọc xuôi, đọc ngợc, chơi chữ, đối
âm, chiết tự, nói lửng, thậm xng, nói ngợc… đủ mọi loại thủ pháp Cố nhiên vănxuôi cũng sử dụng những hình thức này nhng tần số rất thấp Tự thân thơ là lạ, là
đặc biệt nên GS Phan Ngọc mới cho rằng”thơ là một cách tổ chức ngôn ngữ hết sức quái đản ”
2.2 Thơ mới và thể thơ bảy chữ
Thơ mới, lâu nay đợc coi nh “một chiếc nấm lạ trên cây gia hệ văn học dân tộc ” /Đỗ Lai Thúy - Mắt thơ, 2000/ Thơ Mới là một dòng thơ xuất hiện từnhững năm 1932 - 1945 với những biến đổi có tính chất nhảy vọt trong thơ cadân tộc
Thơ Mới là trào lu thơ mở đầu sự thay đổi ngôn ngữ thơ trong giai đoạn
1932 - 1945, và là một hiện tợng rất mới của ngôn ngữ văn học Việt Nam thế kỷXX
Thơ Mới còn là một khái niệm để phân biệt với thơ cũ, tức là những loạithơ truyền thống có luật lệ chặt chẽ với số câu, số chữ, cách gieo vần, phép đốitheo luật bằng trắc
Thơ mới là lối thơ không hạn định về số câu, chữ, không theo niêm luật
mà chỉ cần vần và điệu Điệu thơ là một phần cốt yếu của thơ, là một trongnhững yếu tố tạo nên sự khác biệt giữa thơ và văn xuôi
Thơ mới còn đợc dùng để chỉ thơ hiện đại, bởi về mặt hình thức và loạithơ hiện đại nói chung không có tính chất cách luật mà là thơ tự do, thậm chí có
Trang 18cả thơ văn xuôi Tuy vậy, thơ hiện đại vẫn có sự kế thừa một cách sáng tạonhững tinh hoa trong hình thức và thể loại của thơ ca cổ truyền Trong quá trìnhphát triển, một số hình thức ổn định đợc nhiều ngời a thích nh thơ bảy chữ, támchữ, năm chữ, thơ lục bát…
Thơ bảy chữ gần giống thể thơ thất ngôn Đờng luật mỗi câu gồm bảy chữ,
có vần bằng hoặc vần trắc; mỗi khổ thờng gồm bốn dòng Mỗi câu thơ là mộtdòng thơ, là một đơn vị nhịp điệu, đơn vị ý nghĩa, đơn vị liên kết trong bài thơ
Nh vậy thơ mới bảy chữ vừa kế thừa vừa cách tân thể thất ngôn truyền thống.Thơ ca truyền thống từ thất ngôn cho đến song thất lục bát, ngũ ngôn, lục bát…cha có truyền thống chia bài thơ ra từng khổ Nếu là ngũ ngôn thì đó là ngũ ngôntrờng thiên, nếu là thất ngôn thì cả tám câu thơ thành một bài thơ Đờng luật haytoàn bộ bài thành một tổng thể duy nhất (thất ngôn trờng thiên) Thơ mới bảychữ đã thực hiện một sự cách tân trong kế thừa truyền thống là chia bài thơ bảychữ ra thành từng khổ, gồm bốn câu một khổ Nhng tự kiến trúc này lại chứa
đựng một nguy cơ khác, nếu cứ lặp đi lặp lại bốn câu một khổ thì bài thơ sẽ đơn
điệu Cần phải phá vở sự đơn điệu này bằng những cách tổ chức khác, tức là tạo
ra những khổ thơ có số câu khác nhau Để làm đợc điều đó, có thể lặp lại một vàichữ cách nhau những khoảng cách nhất định nhng vẫn đều đặn Có thể lặp lạimột số cấu trúc rồi xen kẽ bằng những cấu trúc khác tạo nên một cấu trúc chungtrong sự đa dạng làm cho nhịp thơ khi nhanh khi chậm nh nhịp đập của trái tim.Thế là thơ mới bảy chữ đã thực hiện đợc một sự đa dạng trong tổ chức bài thơnhìn một cách tổng thể Còn đi vào các mặt cụ thể nh vần thơ, nhịp điệu, niêmluật thơ thì thơ mới bảy chữ có nhiều sáng tạo, cách tân so với thơ truyền thống.Chỉ tìm hiểu luật phối thanh trong thơ mới bảy chữ cũng đã chứng tỏ điều đó
2.3 Thanh điệu và luật phối thanh trong thơ
Trong tiếng Việt, mỗi âm tiết đợc đặc trng bằng một độ cao khác nhau dothanh điệu đảm nhận
Trang 19Theo Đoàn Thiện Thuật thì: “Thanh điệu là sự nâng cao hoặc hạ thấp giọng nói trong âm tiết có tác dụng phân biệt vỏ âm thanh của từ hoặc hình vị”
[24, tr 57]
Thanh điệu tiếng Việt đợc miêu tả bằng hai đặc trng ngữ âm: âm vực và ờng nét Chúng ta có thể phân loại thanh điệu tiếng Việt dựa vào hai tiêu chí này.Mỗi cách phân loại sẽ cho ta kết quả khác nhau
đ Về âm vực: Cao: ngang, ngã, sắc
Thấp: huyền, hỏi, nặng
Theo tiêu chí âm vực, ta sẽ thấy thanh điệu tham gia vào sự hòa phối ngữ
âm trong từ láy tiếng Việt Trong các từ láy tiếng Việt, thanh điệu của các tiếngbao giờ cũng cùng âm vực, nghĩa là một tiếng có âm vực cao thì tiếng kia cũng
có âm vực cao và ngợc lại, một tiếng có âm vực thấp thì tiếng kia cũng có âmvực thấp (theo cách phân loại truyền thống, thanh hỏi âm vực cao còn thanh ngã
âm vực thấp)
Ví dụ: Lúng túng, lung linh, lủng củng… (âm vực cao)
Rầm rập, chòng chành, dễ dàng, rộng rãi…(âm vực thấp)
- Về đờng nét (âm điệu)
Đặc trng đờng nét tức là diễn biến độ cao của các thanh điệu tiếng Việt
Có những thanh đờng nét bằng phẳng nh thanh huyền và thanh ngang Cònnhững thanh đờng nét không bằng phẳng nh thanh hỏi, thanh sắc, thanh nặng,thanh ngã
Thanh điệu trong tiếng Việt phân loại theo bằng, trắc: bằng trắc có thể làmột trong các yếu tố góp phần tạo nên ngữ điệu Ngữ điệu của câu thơ, theoVinôgrađôp, trong về lý luận của ngôn ngữ nghệ thuật là phơng tiện ngữ pháp đểtạo thành câu và xuất hiện với t cách là một trong những dấu hiệu thờng xuyêncủa câu Cơ sở của ngữ điệu là sự xác định luân phiên của giọng cất cao lên vàhạ thấp xuống, đem lại sắc thái t tởng của câu
Trang 20xạc
hồnanh
Ta có thể chọn bằng trắc làm một trong những đơn vị ngữ điệu và tìm xem
sự xen kẽ bằng trắc theo quy luật nào để xem sự bố trí ngữ điệu trong các câuthơ ra sao
Bôgôrôdinxki (1936) ghi lại ngữ điệu của hai giọng khác nhau trong cùngmột câu: He W Y M H (đừng ồn)
Trang 212.4 Luật phối thanh trong thơ
Trong văn xuôi, không cần chú ý đến các thanh bằng trắc trong câu.Trong câu thơ thì các thanh bằng trắc cần phải đợc chú ý, nhất là những âm tiếtcuối câu thơ, dòng thơ Thanh điệu của các tiếng thờng ở các thể phối hợp đốihoặc láy để tạo nên một ấn tợng cân đối, hài hòa
Trong thơ có hai loại phối điệu cơ bản: Phối điệu bằng trắc và phối điệutrầm bổng
- Phối điệu bằng trắc là sự đối lập độ dài của âm tiết: Bằng (âm tiết dài)
đối lập với trắc (âm tiết ngắn) Bằng và trắc khác nhau là do diễn biến của đờngnét, của độ cao khác nhau Trong thơ tiếng Việt, với sự kết hợp thanh điệu chủyếu thể hiện ở phối điệu bằng trắc Câu: “Nhất, tam, ngũ bất luận, nhị tứ lục phân minh” là qui tắc phối điệu bằng trắc.
Ta có thể miêu tả sự phối điệu này qua bảng sau:
2.4.1 Luật phối thanh trong thơ Đờng luật
Luật phối thanh trong thơ Đờng luật là sự phối thanh bằng trắc theo chiềungang trong từng câu là sự phân vế các âm tiết mang thanh bằng, thanh trắctrong từng câu và trong cả bài Nếu chữ thứ hai của câu thứ nhất trong bài thơ làtrắc thì bài thơ thuộc luật trắc, và ngợc lại, chữ thứ hai của câu thơ thứ nhấttrong bài là bằng thì bài thơ thuộc luật bằng
2.4.2 Luật phối thanh trong thơ song thất lục bát
Hai câu lục và câu bát có luật phối thanh của thơ lục bát, còn hai câu bảychữ có luật phối thanh nh sau:
Trang 222.4.3 Luật phối thanh trong thơ lục bát
Lục bát là một thể thơ cổ truyền của ta, nó ăn sâu bắt rễ trong nhân dân,thể hiện rõ tính dân tộc của thơ Việt Nam Thơ nói chung, thơ lục bát nói riêng
là phải có tính nhạc, nhạc tính chủ yếu dựa vào sự hòa phối hiệp vần và hài âm.Hài âm hiểu theo nghĩa rộng bao hàm sự phối hợp các kiểu âm tiết, các loạinguyên âm, phụ âm trong dòng thơ, câu thơ, đoạn thơ… Hài âm còn là sự hàihòa, cân đối về bằng trắc (đờng nét) và cao thấp (âm vực), các thanh điệu đảmnhận việc ấy (đây là nét đặc thù của tiếng Việt)
Tác giả Dơng Quảng Hàm trong “Việt Nam văn học sử yếu” là ngời đầu
tiên chỉ ra đầy đủ về luật thơ lục bát, tức là cách sắp đặt các tiếng bằng trắc ở cả
14 chữ theo âm luật đợc đúc kết bằng khuôn mẫu:
- Các chữ in đậm (B, T) nghĩa là theo luật trắc bằng
- Các chữ in thờng (b, t) nghĩa là có thể linh động
Ví dụ:
Ca dao:
Yêu nhau cởi áo cho nhau
Trang 23Về nhà mẹ hỏi qua cầu gió bay.
Ngoài khuôn mẫu trên, sự hòa phối thanh điệu trong câu thơ lục bát cónhững biến cách nhất định với một sự châm chớc cho phép
2.4.4 Luật phối thanh trong thơ tự do
Gọi là thơ tự do (giống nh thơ cổ phong Trung Quốc) vì chỉ có vần chứkhông cần theo niêm luật bằng trắc, tuy nhiên cũng phải sắp xếp từ nh thế nào đểcho câu thơ có nhạc điệu
Trong thơ tự do, sự phân bố thanh điệu bằng trắc không quy định nghiêmngặt nh các thể thơ khác Việc tổ chức bằng trắc trong câu thơ, bài thơ hòan toàn
tự do, tùy thuộc vào thi hứng,cảm xúc và thể hiện ý nghĩa của câu thơ, bài thơ
2.5 Thơ Đờng luật và thơ mới thất ngôn
2.5.1 Thơ Đờng luật
Thơ Đờng luật thờng gọi tắt là thơ Đờng, còn gọi là thơ cách luật là thểthơ mà thời Thịnh Đờng đã bổ sung các luật lệ vào thơ cổ phong thành một thểthơ hoàn chỉnh nh niêm, luật, đối, vần và một số quy định khác
Trong thơ Đờng luật, thể thơ ngũ ngôn và thất ngôn đợc coi là thể thơ phổbiến nhất Thơ Đờng luật có ba dạng chính: Thất ngôn bát cú (mỗi bài tám câu),thơ tuyệt cú (mỗi bài bốn câu) và thơ luật dạng kéo dài của thơ Đờng luật, trong
đó thơ thất ngôn bát cú (mỗi bài tám câu, mỗi câu bảy chữ) đợc coi là dạng cơbản Vì vậy chỉ cần nêu rõ cấu tạo của thơ thất ngôn bát cú là đủ
- Về bố cục: Bài thất ngôn bát cú gồm có bốn phần: đề, thực, luận, kết.Trong phần đề, câu thứ nhất gọi là phá đề, câu thứ hai là thừa đề Câu phá đề tức
là mở ra một cách khái quát về đề tài của bài thơ Câu thừa đề nhằm để phát triểnthêm ý cho đề tài đợc mở rộng rõ ràng và phong phú hơn Hai câu ba và bốn gọi
là thích thực, gọi tắt là hai câu thực còn gọi là hai câu “trạng” có nhiệm vụ giảitrình cho đề tài rõ hơn về ý, về cảnh, về tình, về sự vật, về tính chất, cốt làm nổibật đề tài lên Câu năm và câu sáu gọi là luận làm nhiệm vụ nhận định bình luận
Trang 24vấn đề có liên quan đến đề tài Hai câu bảy và tám là hai câu kết, làm nhiệm vụkết thúc bài thơ
- Luật bằng trắc trong thơ Đờng luật
Luật bằng trắc qui định theo hệ thống ngang của bài thơ, nghĩa là cácthanh bằng và trắc đã quy định nhất thiết phải theo đúng, nếu bố trí sai âm thanh
mà không rơi vào ngoại lệ là thất luật cần chú ý đến âm thanh ở các từ:
+ Chữ thứ hai và chữ thứ t ở thơ ngũ ngôn gọi là “nhị tứ phân minh”
+ Chữ thứ hai và chữ thứ t và chữ thứ sáu ở thơ thất ngôn gọi là “nhị tứ lục” phân minh.
Thơ Đờng luật phải theo sự quy định về thanh bằng, thanh trắc trong từngcâu và trong cả bài Hệ thống thanh bằng, thanh trắc đợc tính từ chữ thứ hai củacâu thứ nhất Nếu chữ này thanh bằng thì bài thơ thuộc luật bằng, và ngợc lại nếuchữ này là thanh trắc thì bài thơ thuộc luật trắc
- Niêm
Niêm nghĩa là dính, tức là sự gắn bó chặt chẽ với nhau về âm luật giữa cáccâu thơ theo hệ thống dọc trong cả bài thơ ở các chữ thứ hai, thứ t đối với thơngũ ngôn; các chữ thứ hai, thứ t và thứ sáu đối với thơ thất ngôn của mỗi câutheo từng đôi một, bằng với bằng, trắc với trắc theo công thức nhất định nh sau:
Nhất - Bát Nhị - Tam
Tứ - Ngũ Lục - Thất
Trang 25Có nghĩa là, đối với thơ bát cú thì: câu một niêm với câu tám, câu hainiêm với câu ba, câu bốn niêm với câu năm, câu sáu niêm với câu bảy Còn đốivới thơ tứ tuyệt thì: câu một niêm với câu bốn, câu hai niêm với câu ba theo côngthức: Nhất - Tứ, Nhị - Tam.
2.5.2 Thơ mới thất ngôn (bảy chữ)
Trong “Thi nhân Việt Nam ”, Hoài Thanh có nhận định riêng về thể thất
ngôn (và ngũ ngôn) nh sau: “Thất ngôn và ngũ ngôn rất thịnh (“) Thất ngôn
và ngũ ngôn bây giờ lại do luật Đờng giãn ra và nói ra, cho nên êm tai hơn Cũng có lẽ vì nó a vần bằng hơn vần trắc [23, tr.49 - 50].”
Sự đúc kết ấy của Hoài Thanh đã là một sự gợi ý rất hay cho những kiếmtìm về luật thơ mới Nhng, sau ông, hình nh mọi ngời có phần thiên về bàn luận
đến câu thơ nhiều hơn, mà ít chú ý tới khuôn phép chung của bài thơ và của mỗikhổ thơ Đây có lẽ là một điều đáng tiếc, vì khổ thơ cũng là một miền “đất hứa”cho những cuộc khảo sát về sự kế thừa và cách tân của các nhà thơ mới, xét ởmặt hình thức biểu hiện của thơ, về ngôn ngữ thơ
Thơ mới thất ngôn có nhiều bài mẫu mực, tài hoa Thơ Việt Nam có đợcnhạc tính chủ yếu là nhờ vào ba thứ “điệu” sau: Trớc hết là thành điệu, sau đó làvần điệu và nhịp điệu Khi nghiên cứu sự tác động của bất kỳ nhân tố nào trong
ba nhân tố trên, về nguyên tắc, ta phải tạm thời trừu tợng đi vai trò của hai nhân
tố còn lại: Chẳng hạn, muốn so sánh riêng về thanh của hai câu thơ với nhau thì
điều kiện là chúng phải có vần và nhịp giống nhau
Luật thơ mới thất ngôn, trớc hết và chủ yếu cũng là luật phối thanh tiếngbằng tiếng trắc, xét riêng từng câu thơ, trong một khổ thơ hoặc cả toàn bộ bàithơ
Để hiểu luật này, phải biết luật thơ cũ Một bài thất ngôn bát cú kiểu ờng thi gồm 56 tiếng, bằng trắc ngang nhau đều 28 tiếng, chỉ dùng vần bằng, sắpxếp theo những khuôn mẫu thanh điệu nhất định Tuy nhiên, điều đáng nói ở đây
Trang 26Đ-là: tuy gồm tám câu, nhng không bắt buộc phải là tám khuôn thanh bằng trắckhác nhau Kì thực, luật thất ngôn cũ đúc rút lại chung quy chỉ có bốn loại khônthanh - vần mà thôi (ba chữ in đậm ở vị trí ba tiếng “Nhị, tứ, lục” là bắt buộc
bằng trắc, ba chữ in thờng ở vị trí ba tiếng “nhất, tam, ngũ” là không bắt buộc
bằng trắc, chữ cuối ở vị trí tiếng “thất” có gạch dới là vần).
- Khuôn I: b B t T t B b
- Khuôn II: t T b B t T b
- Khuôn III: b B t T b B t
- Khuôn IV: t T b B b T t
Bốn khuôn này có thể cô gọn hơn nữa, chỉ thành hai loại khuôn thanh, nếu
ta không tính đến vần, bỏ qua ba tiếng “nhất, tam, ngũ” (bất luận), và chỉ xét ba
vị trí bắt buộc của ba tiếng “nhị, tứ, lục”.
“Nhị” “Tứ” “Lục” “Thất” (vần)
Chính các khuôn này từ một vai trò ngoại lệ tân kì làm nên cái cốt lõi
“bất biến” nhị nguyên bằng trắc, là các hạt nhân hữu hạn từ đó có thể mô tả và
phân tích cái vũ trụ mênh mông “vạn biến” của cả ngàn câu thất ngôn thời thơ
mới Khổ thơ bảy chữ bốn câu của thơ mới, về hình thức, giống nh một bài thấtngôn tứ tuyệt: Có luật bằng trắc, có thể thơ, kiểu vần, loại nhịp Nhng cũng cóchỗ khác, khá cơ bản, vì khổ thơ chỉ là một phần của bài thơ, nên phải chú ý đếncả vị trí của nó trong toàn bài
Xét về cấu trúc bằng trắc của khổ thơ, đầu tiên phải chú ý đến vần, vì mỗikhổ thơ thất ngôn bốn câu thờng đi theo một kiểu vần bằng trắc nhất định, tínhtheo chữ cuối (tiếng thứ bảy) của dòng thứ nhất Nếu chữ đó là thanh bằng ta sẽ
có kiểu vần bằng
Ví dụ:
Chao ôi! thu đã đến rồi sao?
Trang 27(Chế Lan Viên - Thu)
Vì vậy, khổ thơ thờng sẽ theo lối vần liền:
Chao ôi! thu đã tới rồi sao (vần bằng)Thu trớc vừa qua mới độ nào (bằng)Mới độ nào đây hoa rạn vỡ (trắc)Nắng hồng choàng ấp dãy bàng cao (bằng)Nếu đó là kiểu vần trắc thì khi đó khổ thơ thờng theo lối vần cách
Ví dụ:
Mây chắp lụa dài vây núi biếc (vần trắc)Sơng dây mồ bặc dấu trăng vàng (bằng)Thuyền ai dồn nớc sông Ngân ấy (trắc)
Mà để sao sa xuống cõi hồn (bằng)
(Chế Lan Viên - Mơ trăng)Mỗi khổ thất ngôn thờng cũng đợc làm theo những “thể thanh” (điệu)
nhất định, tính theo chữ thứ hai của dòng thứ nhất Nếu đó là tiếng trắc thì ta cóthể trắc, còn nếu đó là tiếng bằng, ta sẽ có thể bằng
Mùa xuân dẫu có về qua đấy
(Chế Lan Viên - Không có mùa xuân)Nhạc tính của cả câu thơ là khởi phát từ tiếng thứ hai này: Nó sẽ chi phốicác tiếng tiếp theo của câu thơ, xếp đặt chúng theo những khuôn bằng trắc nhất định Cho nên, việc lựa chọn khuôn thanh-vần đã nói ở trên,,mở ra một khổ thơ,
có vai trò đặc biệt quan trọng: Nó ảnh hởng rõ rệt đến sự bố trí các loại khuônthanh trong cả khổ thơ
2.6 Câu thơ, khổ thơ, bài thơ trong thơ mới bảy chữ
Trang 282.6.1 Câu thơ
Nếu bài thơ là một văn bản thì khổ thơ tơng ứng với các đoạn văn và câuthơ là đơn vị nhỏ hơn khổ thơ Theo tác giả Lê Lu Oanh trong “Thơ trữ tình Việt Nam 1975 - 1990 ” (1998) câu thơ là dòng thơ, là một đơn vị nhịp điệu, đơn vị ýnghĩa, đơn vị liên kết trong bài thơ Trong quan hệ với cái tôi trữ tình, câu thơ
nh một hình thức ngôn ngữ cụ thể trực tiếp của những quan niệm nghệ thuật củacái tôi trữ tình
Nh vậy, có thể thống nhất mỗi câu thơ đợc biểu hiện bằng một dòng thơchứ không đợc đánh dấu bằng dấu chấm câu nh ở câu văn xuôi thông thờng ở
đây, chúng tôi lấy quan niệm mỗi câu thơ là một dòng thơ để khảo sát và xử lý tliệu về vấn đề câu thơ trong thơ bảy chữ Chế Lan Viên Câu thơ bảy chữ ChếLan Viên bao gồm:
- Việc gieo vần ngang trong một câu thơ tạo ra sự cân đối hài hòa, tínhnhạc cho thơ
- Về thanh điệu, các nhà thơ đã tạo ra những điểm nhấn nghệ thuật bằngcách tập trung loại thanh điệu nhất định, tạo cảm giác mạnh trong câu thơ
+ Câu thơ có sự tập trung nhiều thanh bằng thờng gợi sự êm ái, nhẹnhàng, hài hòa, không gian đợc mở rộng, thời gian đợc kéo dài, lòng ngời cũng
Trang 29- Về nhịp điệu, các nhà thơ không chỉ kế thừa cách ngắt nhịp 4/3 truyềnthống của thi ca cổ điển mà họ còn tạo ra 42 cách ngắt nhịp thơ mới, câu thơ cóthể đợc ngắt thành 2, 3, 4, 5 thậm chí là 6 nhịp.
Ví dụ:
Trăng/trăng/trăng/là trăng/trăng/trăng (Hàn Mặc Tử-Trăng vàng,trăng ngọc)
Sự sáng tạo về nhịp điệu đó đáp ứng đợc nhu cầu cần bộc lộ thi hứng, cảmxúc đa dạng của các nhà thơ trớc hiện thực sinh động, mới mẻ
Tuy cũng có sự đột phá theo hớng tự do hóa về mặt cấu trúc, hình thứcthơ, song mỗi nhà thơ có những nét đặc trng thể hiện bản lĩnh và phong cáchnghệ thuật riêng
Những nét sáng tạo trong thơ mới bảy chữ ở Chế Lan Viên và các nhà thơkhác không chỉ khẳng định bản lĩnh của mỗi nhà thơ trong việc bứt phá khỏikhuôn khổ của thơ truyền thống mà còn góp phần tạo ra sắc diện mới cho thơViệt Nam thế kỷ XX Nó có giá trị khơi nguồn và khẳng định ý nghĩa của sự tự
do hóa trong thơ đợc khởi phát từ phong trào thơ mới 1932 - 1945 Sự tự do hóa
ấy cũng là dấu hiệu dự báo trớc đặc trng của thơ hiện đại
2.6.2 Khổ thơ
Theo các tác giả “Từ điển thuật ngữ văn học” (2004) khổ thơ là sự kết
hợp của các câu thơ thành từng nhóm, thống nhất với nhau về vần, nhịp, cú pháp,ngữ điệu Mỗi khổ thơ đợc kết thúc bằng một khoảng nghỉ dài Trong văn bản in,giữa các khổ thơ đánh dấu bằng một khoảng lớn hơn khoảng cách giữa hai dòngthơ Yếu tố quan trọng nhất trong khổ thơ là sự thống nhất giữa các câu thơ vềvần Trong khổ thơ thờng chỉ có một vần Nếu thay đổi vần, bài thơ sẽ chuyểnsang khổ khác Nhịp cũng đợc thống nhất trong khổ thơ Mỗi khổ thơ thờng chứa
đựng một cách ngắt nhịp Chính vì thế giữa các khổ thơ có thể có sự thay đổi vềnhịp Khổ thơ bao giờ cũng trọn vẹn về cú pháp Về ngữ điệu, có thể thay đổi
Trang 30trong toàn bộ khổ thơ từ câu đầu đến câu cuối, song phải thể hiện đợc dấu hiệukết thúc các khổ thơ
Các khổ thơ có số lợng các câu thơ khác nhau Khổ ít nhất là một câu, khổnhiều nhất trên 20 câu Khổ thơ thờng biểu thị một ý cha hoàn chỉnh
Bàn luận về cái mới trong thơ bảy chữ của Chế Lan Viên so với thơ cổ
điển không thể không nhắc tới khổ thơ Vẫn tuân thủ phép đối thanh điệu trongthơ cổ điển, nhng thơ bảy chữ Chế Lan Viên lại có những phá cách bất ngờ, tạo
ra những câu thơ không đối nhau về thanh điệu
Khổ thơ bảy chữ trong thơ mới nói chung, thơ bảy chữ Chế Lan Viên nóiriêng cũng có nhiều nét giống một bài tứ tuyệt Đờng luật
Về cấu trúc, khổ thơ cũng đợc tổ chức theo 4 phần: Đề thực luận kết Song, nét mới là ở một khổ thơ tứ tuyệt, phần đề chỉ có một câu thơ vừa đảmnhiệm chức năng phá đề, vừa đảm nhiệm chức năng thừa đề
- Về thể loại, bài thơ vừa chịu ảnh hởng của thể bát cú, tứ tuyệt Đờng luật
và thể thể tràng thiên cổ phong, vừa có bớc đột phá Đó là, bài thơ gồm nhiềukhổ thơ
Ví dụ: Bài: “Không ai có thể cứu chúng mày” trong tập “Hoa ngày thờng
- Chim báo bão , Chết giữa mùa xuân” ” trong tập “Sau điêu tàn” gồm 5 khổ.
- Về cấu trúc, bài thơ đợc tổ chức theo 4 phần: Đề - thực - luận - kết Sựsáng tạo của các nhà thơ là ở chỗ:
Trang 31+ Số lợng câu thơ trong mỗi phần đề - thực - luận - kết không chỉ gồm haicâu/ phần nh trong bài thất ngôn bát cú Đờng luật ở mỗi bài thơ, phần thực cóthể tơng ứng với ba khổ thơ
+ Một bài thơ có thể đủ bốn phần đề - thực - luận - kết ở các bài thơ đợctính theo số lợng khổ thơ (ví dụ bài một khổ, bài ba khổ, bài năm khổ) Dù cũng
có đủ bốn phần đề - thực - luận - kết song sự phân bố dung lợng câu thơ, khổ thơcho mỗi phần đó trong mỗi loại bài thơ là rất khác nhau
+ Riêng phần thực và phần luận, sự phát triển về mặt dung lợng khổ thơcủa phần thực hoặc phần luận có thể tăng lên cao, tỷ lệ thuận với số lợng khổ thơtrong bài Phần thực có thể gồm ba khổ thơ (ở bài có sáu khổ thơ), bốn khổ,
Xem xét bài thơ, dù ít hay nhiều, đều phải đặt nó trong mối tơng quangiữa phơng tiện, cách thức thể hiện với nội dung đợc biểu hiện - những yếu tốgóp phần tạo nên tính hoàn chỉnh của một văn bản, một bài thất ngôn bát cú bất
kỳ có bố cục theo luật là đề (1, 2), thực (3, 4) , luận (5, 6) , kết (7, 8) Mỗi cậpcâu đó có chức năng tơng ứng: Đề: mở bài, Thực: giải thích đầu bài cho rõ ràng,Luận: bàn bạc cho rộng nghĩa đầu bài, Kết: tóm ý nghĩa cả bài mà thắt lại Hìnhthức tơng ứng với mỗi chức năng đó bắt buộc phải là hai câu thơ/ chức năng.Song, thơ bảy chữ của Chế Lan Viên đôi khi giữa phần thực và phần kết có sựhòa phối chặt chẽ, tạo nên nét mới trong thơ, biết phá khỏi những ràng buộc hìnhthức vốn đợc coi là quy tắc của thể thất ngôn bát cú cổ điển
Trang 32giai đoạn 1932 - 1945, và là một hiện tợng rất mới của ngôn ngữ văn học ViệtNam thế kỷ XX
Thơ Mới còn là một khái niệm để phân biệt với thơ cũ, tức là những loạithơ truyền thống có luật lệ chặt chẽ với số câu, số chữ, cách gieo vần, phép đốitheo luật bằng - trắc Thơ mới là lối thơ không hạn định về số câu, chữ, khôngtheo niêm luật mà chỉ cần vần và điệu Thơ mới còn đợc dùng để chỉ thơ hiện
đại, bởi về mặt hình thức và thể loại thơ hiện đại nói chung không có tính chấtcách luật mà là thơ tự do, thậm chí có cả thơ văn xuôi Riêng thơ bảy chữ khônghạn định trong tứ tuyệt(bốn câu) hay bát cú(tám câu) mà gồm nhiều câu bảy chữchia khổ Khổ thơ thờng có bốn câu, nhng có khổ năm câu, sáu câu… hoặc nhỏhơn bốn câu nh hai câu, một câu
1.2 Thơ mới bảy chữ vừa có sự kế thừa thơ cách luật truyền thống nhngcũng có nhiều sự biến đổi cách tân Luật thơ mới thất ngôn, trớc hết và chủ yếucũng là luật phối thanh tiếng bằng tiếng trắc, xét riêng từng câu thơ, trong mộtkhổ thơ hoặc cả toàn bộ bài thơ Để hiểu đợc luật này, phải biết luật thơ cũ Mộtbài thất ngôn bát cú kiểu Đờng thì gồm 56 tiếng, bằng trắc ngang nhau đều 28tiếng, chỉ dùng vần bằng, sắp xếp theo những khuôn thanh điệu nhất định Luậtthất ngôn cũ đúc rút lại chung quy chỉ có bốn loại khuôn thanh - vần mà thôi.Bốn khuôn thanh đó là:
tích cái vũ trụ mênh mông”vạn biến” của cả ngàn câu thất ngôn thời Thơ Mới về
sau ở chơng này, chúng tôi tập trung mô tả và phân tích cách tổ chức bằng trắctrong những bài thơ bảy chữ của Chế Lan Viên Để thấy đợc sự kế thừa và cách
Trang 33t©n cña ChÕ Lan Viªn, khãa luËn tËp trung m« t¶ ph©n bè b»ng tr¾c trong c©uth¬, khæ th¬ vµ bµi th¬ b¶y ch÷ ChÕ Lan Viªn ë mçi khÝa c¹nh kh¶o s¸t, sauphÇn m« t¶, khãa luËn sÏ rót ra c¸c nhËn xÐt cÇn thiÕt.
2 Ph©n bè b»ng tr¾c trong th¬ b¶y ch÷ ChÕ Lan Viªn
17 0 4 13
14 16 37 6
17 0 4 22
58 64 150 24
68 0 16 88
15 23 50 2
16 0 4 22
16 17 32 3
25 0 2 34
16 8 23 3
13 0 2 19
10 16 32 3
5 0 1 6
Trang 3410 4 10 3 2
40 16 40 12 8
12 5 12 3 2
14 5 17 3 4
7 5 9 4 2
1 0 1 1 0
+ Khu«n: t B b T t B b
Trang 35Khuôn này chúng tôi thống kê đợc 56 câu thơ, và là khuôn khá phổ biến.
Chẳng hạn:
(4) Kịch tan sơng lạnh ớt sàn tre.
(Bóng cọ - câu 2 trang 12)(5) Ngỡ nh mùa hạ Huế chờ anh
(Sen Huế - câu 2 trang 20) (6) Tiếng khua vang rạn khớp đầu ta?
(Mơ trăng-khổ 2, câu 2 trang 77)+ Khuôn: t B t T b B b Khuôn này có năm câu thơ
(9) Hơng ngời quanh quất lại say hơn
(Nhảy sạp vùng than- khổ 2, câu 2 trang51)(10) Sông Hồng, sông Mã với sông Thơng“
(Vàm Cỏ Tây- khổ 2, câu 1 trang 89)(11) Ngời xa ra trận có nh mình
(Chèo tiễn biệt- khổ 2, câu 1 trang 277)(12) Trăm quê cha dễ thực quê nhà
(Mẹ- câu 2 trang 176)+ Khuôn t B t t t B b Khuôn này có 17 câu thơ
Trang 36Chẳng hạn:
(13) Chị về Huế lại ngót mời năm
(Chị T- câu 2 trang 175)(14) Nhớ làn cát mịn đỡ chân em
(Vũng Tàu nhớ và quên- khổ 1, câu 4 trang 155)(15) Chém ngời phải trốn giữa mù sơng
(Tiếng Ngô thuốc độc- khổ 7, câu 4 trang 266)+ Khuôn: b B t T b B b Khuôn này có 3 câu thơ chẳng hạn:
(16) Hôm nay bụi phấn anh còn đây.
(Mai đã… khổ 1, câu 1, trang 119)
(18) Máy Ngô đi trớc, mồm đi sau
(Tiếng Ngô thuốc độc, khổ 10, câu 1, trang 267)(19) Máu ngời, Ngô để cho ngời đi xem
(Tiếng Ngô thuốc độc, khổ 8, câu 3, trang 267)
Trang 37(Chết giữa mùa xuân, khổ 1, câu 2, trang 89)(23) Đỏ nụ lòng ta chói ánh vui
(Lấy lại thời gian, khổ 3, câu 4, trang………)Cũng có khá nhiều trờng hợp, Chế Lan Viên triệt để khai thác tính tự do ởcác vị trí một, ba, năm về luật bằng trắc bằng cách tập trung nhiều thanh bằnghoặc thanh sắc Chế Lan Viên đã tạo ra những kiểu phân bố lên nền truyền thốngsau đây:
+ Khuôn: b T b B t T b Khuôn này chúng tôi thống kê đợc: 67câu thơ, và là khuôn phổ biến nhất
Chẳng hạn:
(24) Vòi chửa buông xong dễ uống vần
(Từ tuyệt, câu 4, trang 23)(25) Từ đấy tên sông gắn với lòng
(Vàm Cỏ Tây, khổ 1, câu 4, trang 89)(26) Lên gác nhìn quanh kiếm dáng xuân
(Lên gác, câu 1, trang 330)+ Khuôn: b T t B b T b Có 3 câu thơ
Chẳng hạn:
(27) Đêm mỏ ngọt ngào hoa đại thơm
(Nhảy sạp vùng than, khổ 2, câu 1, trang 51)(28) Hà Nội vắng ngời Con trẻ xa
(Tiếng trẻ tha, câu 1, trang 117)(29) Ai Khóc? Giật mình, đâu hậu phơng?
(Đêm ra trận, câu 1, trang 169)+ Khuôn: t T b B b T b
Khuôn nay có 26 câu thơ
Chẳng hạn:
(30) Cửa Việt hai bờ không bóng chim
Trang 38(Cừa Việt, câu 1, trang 296)(31) Đứng ngã ba đờng cây gạo son
(Hoa gạo son, câu 1, trang 602)(32) Trở lại phòng em, hơng vẫn nồng
(Trở về Quảng Bá, câu 4, trang 518)+ Khuôn: b T b B b T b
Khuôn này có 14 câu thơ
Chẳng hạn:
(33) Che khuất mình ta trong gió đùa
(Liễu cùng chờ em, câu 4, trang 517)(34) Đêm sắp tàn rồi Sơng trĩu cây
(Nhánh đào yêu, câu 1, trang 495)(35) Màu trắng là màu mây của em
(Mây của em, câu 1, trang 465)
- Khuôn III: b B t T b B t.
Khuôn III bao gồm 104 câu, chiếm tỷ lệ 19,9%, có 35 câu thơ phân bốbằng trắc theo đúng khuôn truyền thống
Chẳng hạn:
(36) Ai đâu trở lại mùa thu trớc
(Xuân, câu 1, trang 74)(37) Mùa xuân dầu có về qua đấy
(Không có mùa xuân, câu 1, trang 354)(38) Hôm nay đã chết hoa ân ái
(Chết giữa mùa xuân, khổ 4, câu 3, trang 89)Cũng có khá nhiều trờng hợp, Chế Lan Viên triệt để khai thác tình tự do ởcác vị trí một,ba,năm về luật bằng trắc tạo ra những kiểu phân bố trên nền truyềnthống sau đây:
+ Khuôn: b B b T b B t
Khuôn này chúng tôi thống kê đợc 23 câu thơ