Và đó cũng là lí do để chúngtôi chọn đề tài: Đặc điểm sử dụng từ ngữ và câu thơ trong tập Hoa trên đá 1 của Chế Lan Viên 2.. Nhiệm vụ nghiên cứu Để thực hiện đề tài này chúng tôi xác địn
Trang 1Mở đầu 1.Lý do chọn đề tài
1.1 Thơ ca Việt Nam từ những năm đầu thế kỉ xx đến 1945, có nhiều bớc nhảyvọt tạo nên một cuộc cách mạng trong thơ ca Phong trào thơ mới 1932-1945 với độingũ sáng tác đông đảo, có nhiều ngòi bút sáng tạo mới mẻ, cách tân, có nhiều tìm tòitạo nên một phong cách riêng, trong đó có nhà thơ Chế Lan Viên Từ trớc đến nay thơ
ca luôn bám sát hiện thực phong phú và phức tạp của đời sống, những biến động củathời đại đều đợc phản ánh qua những vần thơ Thơ ca Chế Lan Viên cũng phản ánh đờisống mang tính thời sự, tính triết lí, tính chính trị, tính chiến đấu cao
1.2 Chế Lan Viên là một cây bút tài năng thật sự, năm 17 tuổi đang ngồi trênghế nhà trờng đã cho ra đời tập thơ Điêu tàn gây tiếng vang lớn trong làng thơ, làm xônxao d luận Trong lúc Xuân Diệu đầu hàng trớc sự trôi chảy của thời gian, Huy Cậnchìm đắm trong sầu muộn, buồn vũ trụ, sầu nhân thế thì có một nhà thơ ngạo nghễxuất hiện trớc các đàn anh với một phong cách thơ mới lạ Chế Lan Viên đợc đánh giá
là cây bút tài năng thật sự, có sự hội tụ của trí tuệ, t duy nghệ thuật sắc sảo của ngờinghệ sĩ trớc cuộc đời
Trong 13 tập thơ, với hàng trăm bài trình bạn đọc, Chế Lan Viên đã tỏ rõ mình
là một hồn thơ giàu trí tuệ, cảm xúc, tình cảm, triết lí Đây chính là tiếng nói của tâmhồn, của nội tâm sâu kín, thể hiện bằng nhiều thể thơ khác nhau Từ tập đầu tay Điêu tàn, ánh sáng và phù sa đến tập Hoa trên đá (1) cho thấy sự vận động rõ nét về phong
cách nghệ thuật Vì vậy nhiều nhà nghiên cứu đã đi vào tìm hiểu thế giới nghệ thuậtcũng nh ngôn ngữ trong tập thơ Điêu tàn, ánh sáng và phù sa Riêng tập Hoa trên đá
(1) đợc nhiều bạn đọc yêu thích và đợc nghiên cứu từ nhiều mặt nhng cha tác giả nào
tìm hiểu đặc điểm vốn từ và câu văn trong tập thơ này Và đó cũng là lí do để chúngtôi chọn đề tài: Đặc điểm sử dụng từ ngữ và câu thơ trong tập Hoa trên đá (1) của Chế
Lan Viên
2 Đối tợng và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1 Đối tợng nghiên cứu
Trang 2Đối tợng nghiên cứu của luận văn này là tập Hoa trên đá (1) của Chế Lan Viênchỉ giới hạn ở phần đặc điểm sử dụng vốn từ và câu văn.
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để thực hiện đề tài này chúng tôi xác định thực hiện các nhiệm vụ sau:
- Tìm hiểu các lớp từ đăc sắc trong tập Hoa trên đá (1) của Chế Lan Viên
- Tìm hiểu đặc điểm câu phân loại theo mục đích nói và một số biện pháp tu từ
đặc sắc trong tập Hoa trên đá (1) của Chế Lan Viên
3 Lịch sử vấn đề
Việc nghiên cứu từ trớc đến nay về đề tài đặc điểm ngôn ngữ thơ Chế Lan Viên
đã có rất nhiều tác giả quan tâm Những bài viết, bài báo, đề tài nghiên cứu đã đi vàotìm hiểu cả nội dung lẫn hình thức, những nét đặc sắc và sự vận động
Trong Tuyển tập thơ Chế Lan Viên, Nhà xuất bản Văn học, 1985, Nguyễn XuânNam nhận xét, đánh giá nội dung, nghệ thuật thơ Chế Lan Viên: Đọc thơ Chế Lan Viên
ấn tợng nổi bật nhất là sự thông minh, tài hoa Thông minh vì ý thơ phong phú bất ngờ,tài hoa vì hình thức mới lạ, kì thú [23, tr 115]
Về tập thơ Hoa trên đá (1) trong cuốn Chế Lan Viên về tác gia tác phẩm, VĩnhQuang Lê viết: Đọc những vần thơ hiện nay của Chế Lan Viên, tôi ngoái lại một hànhtrình thơ mà 40 năm trớc anh chuẩn bị Rõ ràng thơ anh vẫn tiến lên Có lúc thơ anhbùng cháy và có lúc thơ anh đi bớc một Có đợc sự tiến lên đó là do anh biết thay đổicách nhìn, biết tìm về những giá trị đích thực của giá trị nhân loại, biết làm giàu cóthêm trí tởng tợng và suy t của mình bằng đời sống, bằng những giây lát bất ngờ của sựsống mà thoáng qua ta tởng rất mong manh, nhng lại chứa đựng những quy luật sốngcòn của thơ Nh một ngời làm xiếc tài ba, thơ anh bao giờ cũng đi trên một sợi dây rấtmảnh, phía bên này là sự lãng quên và bên kia là sự sáng tạo [2, tr 375]
chỗ khác Nguyễn Văn Vĩnh viết: Đây chính là cuộc chạy đua dai sức giữa anh
và đời sống Và dù sự sống có phóng nhanh đến đâu, nó vẫn đọng mật ngọt cho thơanh, đa thơ anh tới vị trí xứng đáng trong văn đàn [2, tr 375] Hoặc Hoa trên đá nh mùaxuân không chịu lùi trớc tuổi tác của anh [2, tr 377]
Chế Lan Viên là một trong những gơng mặt tiêu biểu làm nên diện mạo thơ caViệt Nam hiện đại Thơ Chế Lan Viên có sự vận động trong phong cách Từ tập Điêu
Trang 3và câu thơ qua tập Hoa trên đá (1) của Chế Lan Viên Đề tài chúng tôi mới ở dạng phácthảo nhng có thể giúp bạn đọc có một cái nhìn rõ ràng và cụ thể hơn về mặt ngôn ngữcủa tập thơ này.
4 Phơng pháp nghiên cứu
Để thực hiện các nhiệm vụ của đề tài, chúng tôi sử dụng các phơng pháp sau:
- Phơng pháp thống kê và phân loại: chúng tôi thống kê các lớp từ và câu để chỉ
ra đặc điểm nội dung và tác dụng của chúng
- Phơng pháp phân tích tổng hợp: chúng tôi thống kê, phân loại từ, câu sau đótiến hành phân tích và tổng hợp lại, nêu đặc điểm khái quát của chúng
- Phơng pháp so sánh đối chiếu: so sánh đặc điểm ngôn ngữ thơ của Chế LanViên với các nhà thơ khác về cách dùng từ và câu để làm nổi bật nét riêng về cách dùng
từ và câu của Chế Lan Viên
5 Đóng góp của luận văn
Nh đã đề cập ở trên khoá luận của chúng tôi có thể đợc xem là công trình đầutiên tập trung nghiên cứu đặc điểm ngôn ngữ thơ về từ ngữ và câu văn của tập thơ Hoa trên đá (1) của Chế Lan Viên Qua khảo sát, phân tích và tổng hợp chúng tôi đã chỉ ra
đợc những đặc điểm độc đáo, những nét đặc sắc ở nội dung thể hiện và hình thức kèmtheo nó
6 Cấu trúc của khoá luận
Ngoài phần mở đầu, phần kết thúc, danh mục tài liệu và phần phụ lục, về nộidung chính gồm có ba chơng
Chơng 1: Một số giới thuyết xung quanh đề tài
Trang 4Chơng 2: Đặc điểm các lớp từ đặc sắc trong tập Hoa trên đá (1) của Chế LanViên.
Chơng 3: Đặc điểm câu thơ xét theo mục đích nói trong tập Hoa trên đá (1) của
Chế Lan Viên
Trang 5Chơng 1
Một số giới thuyết xung quanh đề tài
1.1 Chế Lan Viên – cuộc đời và sự nghiệp
làm cho bạn đọc và giới phê bình chú ý đến nhà thơ trẻ tài năng này Năm 1939, ChếLan Viên ra học ở Hà Nội, rồi sau lại vào Sài Gòn làm báo, sau ra Thanh Hoá và quayvào Huế dạy học
Cách mạng Tháng 8 năm 1945 bùng nổ, Chế Lan Viên tham gia cách mạng tạiquy nhơn, sau đó ra huế tham gia đoàn xây dựng cùng với hoài thanh, lu trọng l,
đào duy anh,… viết bài cho báo quyết thắng của việt minh trung bộ.
Thời kỳ chống pháp, ông hoạt động văn nghệ và báo chí ở liên khu bốn và chiếntrờng Bình Trị Thiên năm 1949, Chế Lan Viên đợc kết nạp vào đảng cộng sản ViệtNam
Trong kháng chiến chống mỹ, ông tham gia lãnh đạo hội nhà văn việt nam,tham dự nhiều diễn đàn văn hoá quốc tế ở nhiều nớc trên thế giới: liên xô, ấn độ,Thuỵ Điển, Pháp… Chế Lan Viên còn là đại biểu khoá 4, 5, 6, 7
Năm 1975, khi đất nớc thống nhất, hoà bình lập lại, ông chuyển vào sống ởthành phố hồ chí minh và tiếp tục sống ở đó cho đến hết đời Ngày 19 tháng 6 năm
1989, Chế Lan Viên trút hơi thở cuối cùng ở bệnh viện thống nhất Lễ truy điệu đợc
cử hành vào ngày 26 tháng 6 trong niềm tiếc thơng vô hạn của bạn bè và ngời thân
Trang 61.1.2 Quá trình sáng tác thơ văn
Sự nghiệp sáng tác thơ văn của Chế Lan Viên trải qua một quá trình lâu dài, cónhiều trăn trở, có nhiều day dứt và cũng tạo nhiều bớc ngoặt trên con đờng nhận thức vàthơ văn quá trình sáng tác thơ văn của ông không bằng phẳng mà có nhiều bớc thăngtrầm Từ thế giới kinh dị, thần bí, bế tắc, điêu tàn đột ngột xuất hiện giữa đồng bằngcủa cánh đồng thơ mới, giống nh một tháp chàm lẻ loi và bí mật điêu tàn là sự kết hợpcủa ám ảnh trong thơ với những tháp chàm thững thờ trong hoàng hôn; nỗi cô đơn và bếtắc sau cách mạng tháng 8, thơ ông đến với cuộc sống nhân dân, đất nớc thấm nhuần
ánh sáng cách mạng trong kháng chiến chống mỹ, thơ ông đậm chất sử thi và chínhluận thời sự Khi đất nớc thống nhất, những vần thơ của ông lại trở về với cuộc sống thế
sự, trăn trở về cái tôi đa diện và biến động phức tạp nói đến thơ Chế Lan Viên là nói
đến tính suy tởng, triết lý mang vẻ đẹp trí tuệ, đa dạng phong phú của thế giới hình ảnh
Cả cuộc đời sáng tác của mình, Chế Lan Viên để lại nhiều tập thơ có giá trị:
Điêu tàn (1937), Gửi các anh (1955), ánh sáng và phù sa (1960), Hoa ngày thờng, chim báo bão (1967), Những bài thơ đánh giặc (1972), Đối thoại mới (1973), Ngày vĩ đại
(1976), Hoa trớc lăng ngời (1976), Hái theo mùa (1976), Hoa trên đá (1984), Di cảo
thơ Chế Lan Viên (tập 1, 2,3, 1992-1993-1996).
Về văn xuôi, Chế Lan Viên cũng là một cây bút xuất sắc: Vàng sao (1942),
Thăm Trung Quốc (1963), Những ngày nổi giận (1966), Bay theo đờng dân tộc đang bay
(1976), Giờ của số thành (1977), Nàng tiên trên mặt đất (1985)
Có nhiều bài tiểu luận và phê bình: Kinh nghiệm sáng tác (1952), Nói chuyện
thơ văn (1952), Vào nghề (1962), Suy nghĩ và bình luận (1971), Nghĩ cạnh dòng thơ
(1981), Từ gác Khuê Văn đến Quán Trung Tân (1981), Ngoại vi thơ (1987)
Phải khẳng định rằng: Chế Lan Viên là một cây bút đa tài ngoài 13 tập thơ, một
số truyện ngắn, ông còn là cây bút kí và tuỳ bút, là tác giả của nhiều cuốn tiểu luận vănhọc Nhà thơ qua đời để lại một khối lợng sáng tác đồ sộ và có đóng góp rất lớn chonền thơ văn việt nam ông rất xứng đáng đợc nhận giả thởng hồ chí minh về văn họcnghệ thuật đợt II năm 1996
Trang 7Bút danh Chế Lan Viên gắn với đời thi sĩ có vẻ nh một sự ngẫu nhiên do ônggặp bạn thơ yến lan nên mới có hai chữ lan viên, bởi ảnh hởng của tên lan và vờnnhiều hoa lan của bạn Rồi hàn mặc tử có bài thi sỹ chàm đề tặng chế bồng hoan, họ
chế là do hàn mặc tử đặt ra Thế là với chữ chế, dù là Chế Lan Viên hay chế bồng hoan, tôi đã rời sản phẩm của một ngời để sống sản phẩm của một dân tộc (Chế Lan
Viên, hàn mặc tử, tiến phong biên soạn, Nxb văn nghệ, tp hồ chí minh 1998)
Thơ ca của Chế Lan Viên xuất hiện sớm và gây xôn xao d luận trong giới phêbình nghiên cứu Thơ ông ngay từ khi ra đời đã đợc sự cổ vũ nhiệt tình của bạn đọc vàtrở thành đề tài của nhiều nhà nghiên cứu , phê bình văn học Những bài nghiên cứu,phê bình đầu tiên của nguyễn vỹ, hoài thanh, nguyễn lộc, nguyễn xuân nam,… vềthơ ông đã phác hoạ một tài năng thơ độc đáo các công trình nghiên cứu về Chế LanViên ngày một nhiều và dẫn theo đó tài năng thơ ca của ông đợc khẳng định Hầu hết đivào một số lĩnh vực nh: t tởng, phong cách, đặc điểm thi pháp,… đặc biệt họ đã nhận raChế Lan Viên có một phong cách độc đáo điển hình Chất trí tuệ và triết lý trong thơ
ông là một nét đặc sắc nhất mà ông đóng góp cho nền thơ ca việt nam hiện đại trí tuệ
và triết lý không phải là lớp phấn trang điểm bên ngoài mà là một phẩm chất nội tại của
t duy thơ Triết lý nhng lại rất gần gũi
- Khi ta ở chỉ là đất ở Khi ta đi đất bỗng hoá tâm hồn
- Tình yêu làm đất lạ hoá quê hơng
(Đờng lên Tây Bắc) 1.1.3 Chế Lan Viên với tập Hoa trên đá (1)
Nếu trong tập điêu tàn, ta bắt gặp một cậu thiếu niên dáng vẻ hiền lành bỗnghọc đợc phép chui vào h vô, dùng thơ ca để tỏ tình với các chết
Hãy cho tôi một tinh cầu giá lạnh Một vì sao trơ trọi cuối trời xa
để nơi ấy tháng ngày tôi lẩn trốn Những u phiền buồn khổ với âu lo
Trang 8đến hoa trên đá (1) là tập thơ thứ 9, ngời ta nhận ra một giọng thơ mới, một
chất thơ mới khi nhà thơ bớc vào tuổi 60 đằm chín Nhà thơ cảm thấy thời gian thúcbách mà cái đích nghệ thuật – những đỉnh cao cần chinh phục còn xa vời nên ông viếttrong sự thôi thúc
đạp tháng ngày mà viết Hốt lấy chữ lấy lời Ném nhanh qua cửa sổ ( 1, tr 7 )
Giông bão chiến tranh đi qua, những khúc ca hoành tráng, những vần thơ chiến
đấu nay hồn thơ ấy lại chín trong những vần thơ trữ tình không còn trẻ trung nhng sâulắng, thắm thiết, thấm tận đáy lòng
Tuổi năm mơi lòng yêu nh lửa đỏ Nhng trong lòng vẫn cứ trắng nh không (13,tr 16)
đây là tập thơ viết ở cái tuổi ngoài năm mơi, cái tuổi mà Chế Lan Viên luôn ýthức đợc
đời ngoài tuổi năm mơi Mong gì hơng sắc lạ Mọc chùm hoa trên đá
Mùa xuân đâu chịu lùi (1, tr 7)
Dũng cảm nhìn vào sự thật, biết rõ sự khắc nghiệt của thiên nhiên nhng lạikhông bi quan, bi luỵ Mà luôn biết lựa chọn những khoảnh khắc hợp lý cho thơ và cho
đời
Lửa cháy phòng bên rồi Chờ đá hiện đờng vân Trai hoàn thành viên ngọc
Trang 9Chờ dó đọng nên trầm Thì thơ anh hoá đất (1, tr 7)
Thơ Chế Lan Viên gắn bó không mệt mỏi với những vấn đề thời sự Phải chăng
đây là một yếu tố làm nên nét riêng trong thơ ông ngời ta tìm đến với thơ ông để tiếptục bàn luận về vấn đề chính trị, thời sự Nhiều khi chỉ một mẩu tin rất nhỏ vừa xẩy ralập tức ông có thơ ngay Thơ Chế Lan Viên có mặt ngay ở những nơi diễn ra các vấn đềthời sự nóng bỏng Nên chủ đề chiến đấu vẫn là chủ đề nổi bật của tập thơ này Mangtính thời sự, chiến đấu nhng không phải và thế mà thơ Chế Lan Viên kém phần nồng
ấm, dịu hiền, ngợc lại cái hơng sắc cần thiết, cái dí dỏm trong thơ vẫn còn đó
Hà nội hạ thần sấm Nào thởng chầu bia hơi Không gì làm thức nhắm Nắm lạc vui đủ rồi (46, tr 44)
Viết về nỗi chờ đợi của ngời phụ nữ việt nam Chế Lan Viên cũng có cách thểhiện riêng
Ngày lắng tiếng bom rơi toạ độ
đêm ngủ với kỷ niệm với th (50, tr49)
Khi kẻ thù gieo rắc tội ác lên đất nớc, khắp chốn là tiếng bom và lửa đạn, sự chờ
đợi thuỷ chung 20 năm đã qua nhng rồi cũng là sự chờ đợi những năm tiếp theo
Ta cầm trái tim mình mà bóp chặt Tình yêu thầm rên rỉ dới bàn tay (60, tr64)
Cũng nh nhiều thi sĩ khác muốn dùng những vần thơ của mình lấp đầy nỗi đau
mà khoảng trống hố bom để lại đó là nỗi đau vô hình mà quân giặc đã để lại trên mặt
đất nên khi nghe một mẩu tin có một ngời thuỵ điển quyên máu và quyên tiền, ChếLan Viên đã đem đến cho độc giả một tứ thơ hay
Một ngời bạn thuỵ điển Quyên máu và quyên tiền Còn gửi thêm viên sỏi
Trang 10để lấp đầy hố bom (75, tr93)
Nhìn lại một hành trình thơ đã qua, ta thấy thơ Chế Lan Viên có sự thay đổi tiến
bộ đi lên có khi là sự bùng cháy rạo rực, có khi lại là bớc đi khoan thai Có đợc sự tiếnlên đó là do Chế Lan Viên thay đổi cách nhìn, biết tìm về với giá trị đích thực, làm giàuthêm bằng trí tởng tợng và suy t Cuộc chạy đua dai sức giữa thơ và anh, giữa thơ và
đời sống, dù cuộc sống có chạy nhanh đến đâu cũng đọng lại mật ngọt cho thơ ông, đathơ Chế Lan Viên lên một vị trí xứng đáng trên văn đàn thơ ca
Thơ không chỉ là chữ nghĩa, hình thức mà đây còn là hình thức vĩnh cửu của tráitim Thơ không còn là hình thức lên xuống giữa các dòng mà còn là diễn biến bớcthăng trầm của nội dung, của cuộc sống Không phải Chế Lan Viên phủ nhận nhữngnhà phê bình chân chính, những ngời đẹp ngâm thơ mà chỉ muốn nhân danh hiện thực
và đời sống để nhìn nhận lại giá trị đích thực phục vụ cho thơ
đó là những vần thơ đã chín, đã ra hoa kết quả của Chế Lan Viên đó là nhữngbông hoa không bao giờ lùi trớc mùa xuân của đất trời Vũ quần phơng nói rằng: là
một thành công của Chế Lan Viên cũng là một bớc trởng thành, một sự tự tin của nền thơ Việt Nam xã hội chủ nghĩa Tập thơ Hoa trên đá (1) đợc nhận giải thởng Hội nhà văn
cảm xúc Đời Đờng bạch c dị quan niệm cụ thể hơn: Cái cảm hoá đợc lòng ngời chẳng
gì quan trọng bằng tình cảm, chẳng gì gần gũi bằng âm thanh, chẳng gì sâu sắc bằng ýnghĩa Với thơ gốc là tình cảm, mầm là ngôn ngữ, hoa là âm thanh, quả là ý nghĩa [19,
tr 24] Chu Hi trong lời tựa của Kinh thi: Thơ là cái d âm của lời nói, trong khi lòng
ng-ời cảm xúc với sự vật mà thể hiện ra bên ngoài Đây chính là cơ sở cho các quan niệm
về sau
Trang 11Các tác giả trong nhóm xuân thu nhã tập: Nó chiếm đoạt ta tất nhiên, hoàn toàn,tức khắc Đó là sự phối hợp những âm thanh, chữ, hình ảnh, biểu hiện theo những niêmluật rõ rệt hay tiềm tàng để diễn tả những lớp dày đặc của tiềm thức [10, tr 17].
Gần cuối thế kỷ xx, Phan Ngọc nói: Thơ là một cách tổ chức ngôn ngữ hết sứcquái đản để bắt ngời tiếp nhận phải nhớ, phải có cảm xúc ở hình thức ngôn ngữ này [19,
tr 30]
Định nghĩa trên cho ta thấy đợc mối quan hệ cơ bản giữa thơ và đời sống, thơ và
độc giả Thơ không phải là một hiện tợng giao tiếp nghệ thuật, một phát ngôn đầy đủcủa từ này Những hình thức kết hợp “quái đản” của ngôn ngữ thơ thực chất là nhữngcấu trúc ngôn ngữ phi nghệ thuật
Mã Giang Lân trong Tiến trình thơ hiện đại Việt Nam cho rằng: thơ là sự rung
động có rung động là có thơ, thơ là cái gì huyền ảo, tinh khiết, thâm thuý, cao siêu Thơgần với trong, đẹp, thật Thơ là đạo, là tôn giáo, là tình yêu Đặt thơ ngang với đạo, tìnhyêu, thế giới, thực chất là nâng cao thơ, coi thơ là cái gì thiêng liêng cao quý nh một tínngỡng, một thứ đạo Đạo sáng tác của ngời sáng tác có chung một đạo, thờ chung một
Từ các định nghĩa trên ta có thể rút ra đợc những đặc điểm thống nhất về đặc
Trang 121.2.2.1 Đặc điểm ngữ âm
Ngôn ngữ mang tính xã hội, lời nói mang tính cá nhân Lời nói phát ra bằng âmthanh cụ thể với những đặc trng của ngữ âm học nhng khi tìm hiểu hình thức biểu đạtcủa ngôn ngữ, ta thấy chúng không hẳn là những âm thanh ấy Hình thức biểu đạt củangôn ngữ trong giao tiếp thành những âm thanh cụ thể của lời nói cá nhân; Song chínhbản thân nó lại là những thực thể trừu tợng mang chức năng xã hội Do vậy ngữ âm làtoàn bộ âm, các thanh và các kết hợp âm thanh và giọng điệu nằm ở trong từ và câu củangôn ngữ Âm thanh và giọng điệu có quan hệ với nhau cấu tạo và sắp xếp theo nhữngcách quy tắc nhất định thành kiến trúc ngữ âm của một ngôn ngữ
Vai trò của ngữ âm trong thơ ca là rất quan trọng vì các yếu tố tạo nên tính nhạccho thơ là âm vận, điệp âm, nhịp thơ, khổ thơ… và cũng nhờ tính nhạc của thơ giúp taphân biệt thơ và văn xuôi cũng vì trong thơ ca có sự giao hoà giữa âm thanh và ý nghĩa.Ngôn ngữ tiếng Việt phong phú về thanh điệu nhất là số lợng âm đầu, âm chính và âmcuối tạo nên tính nhạc khi du dơng, khi trầm bổng, khi ngân vang, khi dồn dập, khi dàodạt
Khi đi vào khai thác tính nhạc của thơ ta phải chú ý đến các kiểu đối lập
Đối lập: rộng – hẹp, ngắn – dài, tròn môi – không tròn môi, hàng trớc –hàng sau giữa các nguyên âm
Đối lập: vang – tắc của phụ âm cuối
Đối lập: bằng – trắc, cao – thấp của thanh điệu
Đối lập: vô thanh – hữu thanh của phụ âm đầu
Ngoài mặt ngữ âm thì vần và nhịp cũng tạo tính nhạc cho thơ Nhạc trong thơkhác với các loại nhạc thông thờng bởi các yếu tố: âm điệu, nhịp điệu và vần điệu.Trong một bài thơ vai trò của ba yếu tố này càng cao thì tác phẩm càng giàu nhịp điệu.Trong thơ ngời ta gọi đó là nhạc thơ, khi nhạc thơ của một thể thơ nào đó đạt đến độ ổn
định nó sẽ làm nên sự khác biệt và trở thành âm luật của thể thơ ấy
Về âm điệu:
Ngữ âm của tiếng Việt là sự tổng hoà của các yếu tố cờng độ, cao độ, âm sắc,cái làm nên âm điệu trong thơ chính là sự đối lập của âm tiết tiếng Việt
Trang 13Khi nghiên cứu âm điệu của ngôn ngữ nghệ thuật, ngời ta chú ý nhất là độ vang
nh một biểu hiện tiêu biểu của lợng nguyên âm đợc thể hiện qua thuộc tính trờng độ.Cao độ bị âm thanh chi phối, thanh điệu lại bị quy định bởi cấu trúc chính của âm tiết.Vì thế khi kết thúc âm tiết, thanh điệu là yếu tố thứ hai thể hiện âm điệu của tác phẩm.Luân phiên sáu thanh, tổ hợp các âm vị tạo nên giai điệu uyển chuyển trong phát ngôn.Thanh điệu đóng vai trò quan trọng trong thơ, tạo nên sắc thái giai điệu của bài thơ
Âm điệu có sự đối lập giữa bằng và trắc Thanh điệu là yếu tố cơ bản làm nên sựkhác biệt về phẩm chất ngữ âm của âm tiết, là đối tợng chính của âm điệu
Về vần điệu:
Hiện nay vần điệu là một khái niệm cha có tính ổn định Vần là yếu tố lặp lạicủa bộ phận âm tiết Trong thơ vần nh sợi dây buộc các dòng thơ lại với nhau, do đógiúp ngời đọc đợc thuận miệng, ngời nghe đợc thuận tai và làm cho ngời đọc, ngờinghe dễ đọc, dễ nhớ [10, tr 21-22]
Từ điển thuật ngữ văn học cho rằng: vần là một phơng tiện tổ chức văn bản thơ
dựa trên sự lặp lại không hoàn toàn các tiếng ở vị trí nhất định của dòng thơ nhằm tạonên tính hài hoà và liên kết các dòng thơ và giữa các dòng thơ [15, tr 423]
Vần là yếu tố quan trọng tạo nên sự hoà âm giữa các câu thơ Đơn vị thể hiệnvần là âm tiết Vần thơ Việt Nam có hai nhóm:
Nhóm vần bằng: căn cứ trên các âm tiết có thanh huyền và thanh ngang
Nhóm vần trắc:
+ Trắc thờng: căn cứ vần có thanh ngã, hỏi, sắc, nặng
+ Trắc nhập: căn cứ âm tiết có âm cuối p, t, c, ch mang hai thanh sắc, nặng.Hiệp vần là hiện tợng phổ biến trong thơ và đợc quan tâm trên các phơng diện:
vị trí, mức độ hoà âm, đặc điểm biến thiên cao độ của âm thanh mang vần
Vị trí: vần chân và vần lng
Hoà âm: vần chân và vần thông
Đặc điểm cao độ: vần bằng và vần trắc
Về nhịp điệu
Trong thơ, nhịp thơ là kết quả hoà phối âm thanh đợc tạo ra từ ngắt nhịp Nhịp
điệu ngng nghỉ theo một cách thức nhất định khi phát âm đó là sự ngắt nhịp Hiện nay
Trang 14có hai loại ngắt nhịp: theo cú pháp và theo tâm lí Nhịp thơ gắn liền với cảm xúc và tìnhcảm Các trạng thái rung cảm, cảm xúc…đều làm ảnh hởng tới việc lựa chọn nhịp chocâu, cho bài thơ.
Trong ngôn ngữ thơ Việt Nam, đơn vị nhịp điệu thờng từ một đến hai từ trở lên.Trên thực tế thơ có hai loại nhịp: nhịp chẵn và nhịp lẻ Nhịp chẵn là nhịp điệu tự nhiêntrong giao tiếp, nhịp lẻ phá vỡ cái đều đặn, cái cân đối tạo nên sự hoà phối mới
Nh vậy vần và nhịp là hai đơn vị không thể thiếu về mặt hình thức của thơ ca.Nếu ngắt đúng chỗ bản thân chúng mang nghĩa Vần và nhịp có sự tơng hợp, quan hệvới nhau Nhịp là đơn vị cơ bản, là xơng sống của bài thơ, là tiền đề của hiện tợng gieovần
1.2.2.2 Đặc điểm ngữ nghĩa
Thơ là một loại hình nghệ thuật, ngôn ngữ cô đọng, súc tích về từ ngữ và hình
ảnh Mỗi tác giả có sự lựa chọn từ ngữ khi đa chúng vào trong tác phẩm của mình Do
đó nó hoạt động linh hoạt, đa dạng và biến hoá
Thơ khác văn xuôi, nếu văn xuôi số lợng âm tiết, từ ngữ, câu chữ không hạn chếthì thơ tuỳ vào thể loại để có cấu trúc nhất định Ngôn ngữ thơ là cô đọng, súc tích, dồnnén nên nhiều khi ngữ nghĩa của từ không còn nguyên nghĩa, không chỉ dừng lại ởnghĩa gốc, nghĩa trong thơ chứa sức mạnh tiềm tàng, chứa đựng vẻ đẹp, sự tinh tế Ngữnghĩa trong thơ tinh tế hơn, đa dạng hơn ngữ nghĩa trong giao tiếp bình thờng và trongcác thể loại văn xuôi
Nhạc điệu đóng vai trò quan trọng trong thơ song bản thân một mình nó cũngkhông tạo nên bài thơ có giá trị, ngữ nghĩa và ngữ âm là hai mặt cơ bản để cấu thànhtác phẩm trong thơ ca Trong mỗi đơn vị ngôn ngữ đều chứa đựng tất cả mọi sáng tạomang tính nghệ thuật ngoài giá trị của ý niệm ngôn ngữ chung Điều kỳ diệu của ngônngữ thơ là mỗi tiếng, mỗi chữ vừa gợi lên những sự vật vừa gợi lên những liên tởngkhiến độc giả phát hiện ra những nét nghĩa tiềm tàng mà trong giao tiếp không thấy Đóchính là sức mạnh tiềm tàng của ngôn ngữ nghệ thuật Ngôn ngữ thơ là những khơingợi và ý tại ngôn ngoại, mang tính biểu tợng Vì thế khi đi vào nghiên cứu thơ ta phảichỉ ra đợc các phơng thức tạo lập những đơn vị ngôn ngữ có hiệu quả biểu đạt cao Đặctrng ngữ nghĩa này tạo nên cho ngôn thơ một sức mạnh hấp dẫn, lôi cuốn ngời đọc, ng-
Trang 15ời nghe Đến với thơ chúng ta không chỉ tiếp nhận bằng mắt, bằng tai mà bằng cả cảmxúc, tình cảm, bằng cả lý trí, tởng tợng và liên tởng Điều đó làm cho ngôn ngữ thơkhông chỉ là phơng tiện giao tiếp mà còn đóng vai trò là một thứ gì đó cha từng đợc nóihoặc cha từng đợc nghe Trong quá trình vận động của ngôn ngữ thơ ca, cái biểu hiện
và cái đợc biểu hiện đã xâm nhập và chuyển hoà vào nhau tạo ra các khoảng trống vôcùng cho ngôn ngữ thơ ca
1.2.2.3 Đặc điểm ngữ pháp
Về phơng diện ngữ pháp, câu thơ trong thơ không trùng nhau Có những câu thơbao hàm nhiều dòng và cũng có một dòng bao hàm nhiều câu Nhà thơ có thể sử dụngnhiều kiểu câu “bất bình thờng” nh đảo ngữ, câu tách biệt, câu vắt dòng, câu trùng
điệp… mà không làm ảnh hởng đến quá trình tiếp nhận ý nghĩa của văn bản, trái lại nólại mở ra những giá trị mới, ý nghĩa mới cho ngôn ngữ thơ ca Nó có khả năng vô tậntrong việc chuyển tải những trạng thái tinh tế của thế giới tâm hồn con ngời Trong thơkhông phải lúc nào cũng phải theo một lôgic thông thờng, một lập luận bình thờng màcấu trúc câu nhìn qua tởng nh vô nghĩa, kết hợp lỏng lẻo, không có lôgic và nhiều khitrái ngợc nhau Nhng ngời đọc vẫn hiểu đợc mạch ngầm của câu thơ, sự liên tởng sâu
xa trong cấu trúc câu thơ ấy Do đó thơ ca có khả năng liên tởng, biểu hiện trạng tháitinh tế, bí ẩn sâu kín trong ngõ ngách tâm hồn con ngời Một câu thơ thờng có một hình
ảnh, một ý nghĩa trọn vẹn
1.3 Tiểu kết chơng 1
Chơng 1 này, chúng tôi đã đi vào trình bày các vấn đề sau: Chế Lan Viên –cuộc đời và sự nghiệp, khái niệm thơ và đặc điểm ngôn ngữ thơ Phần Chế Lan Viên –cuộc đời và sự nghiệp, chúng tôi đi vào tìm hiểu đôi nét về tiểu sử Điểm qua một vàinét về tên tuổi, gia thế cũng nh những bớc đờng hoạt động cách mạng của ông Về quátrình sáng tác thơ văn, ông đã để lại cho kho tàng văn học nớc nhà một khối lợng tácphẩm đồ sộ Chúng ta có thể khẳng định: Chế Lan Viên – một cây bút đa tài, sáng táctrên nhiều thể loại: thơ, truyện, tuỳ bút, bút kí, tiểu luận…nhng để lại ấn tởng nhất tronglòng bạn đọc là thể loại thơ Ông rất xứng đáng đợc nhận giải thởng Hồ Chí Minh vềvăn học nghệ thuật đợt II năm 1996 Hoa trên đá (1) là tập thơ thứ 9 của Chế Lan Viên,
Trang 16đây là những vần thơ đã chín, đã ra hoa kết quả của ông Đó chính là những bông hoakhông bao giờ lùi trớc mùa xuân của đất trời.
Về khái niệm thơ và đặc điểm ngôn ngữ thơ, chúng tôi đã điểm lại một số ý kiếncủa các tác giả đi trớc về khái niệm thơ Từ đó có thể rút ra đợc những đặc điểm thốngnhất về những đặc điểm thơ Phần đặc điểm ngôn ngữ thơ, chúng tôi tiến hành tìm hiểu
đặc điểm ngữ âm, ngữ nghĩa và ngữ pháp, qua đó chúng ta they rõ nét đặc trng cơ bảncủa ngôn ngữ thơ
Chơng 2
Đặc điểm các lớp từ đặc sắc
Trang 17trong tập Hoa trên đá (1) của Chế Lan Viên
2.1 Từ trong hệ thống ngôn ngữ và từ trong ngôn ngữ thơ
2.1.1 Khái niệm từ trong hệ thống ngôn ngữ
Theo Từ điển tiếng Việt: Từ là đơn vị nhỏ nhất có nghĩa hoàn chỉnh và cấu tạo ổn
định, dùng để đặt câu Từ đơn, cách dùng từ Kết hợp từ thành câu [26, tr 1326]
Theo Từ điển giải thích thuật ngữ nghĩa học: Từ là đơn vị cấu trúc - ngữ nghĩa cơbản của ngôn ngữ dùng để gọi tên các sự vật và thuộc tính của chúng, các hiện tợng,các quan hệ của thực tiễn, là một tổng thể các dấu hiệu ngữ âm, ngữ nghĩa và ngữ pháp
đặc trng cho từng ngôn ngữ Các dấu hiệu đặc trng của từ là tính hoàn chỉnh, tính cụ thểphân chia thành các bộ phận và khả năng tái hiện dễ dàng trong lời nói Từ đó có thểphân chia thành các cấu trúc: cấu trúc ngữ âm của từ, cấu trúc hình thái của từ và cấutrúc ngữ nghĩa của từ Cấu trúc ngữ âm của từ là toàn bộ các hiện tợng âm thanh tạonên vỏ âm thanh của từ Cấu trúc hình thái của từ là toàn bộ các hình vị tạo nên từ Cấutrúc ngữ nghĩa của từ là toàn bộ các nghĩa khác nhau của từ [36, tr329]
Tác giả Nguyễn Kim Thản: Từ là đơn vị cơ bản của ngôn ngữ, có thể tách khỏicác đơn vị khác của lời nói để vận dụng một cách độc lập và là một khối hoàn chỉnh vềngữ âm, ý nghĩa (từ vựng hoặc ngữ pháp) và chức năng ngữ pháp [30, tr 61]
Tác giả Nguyễn Thiện Giáp đa ra định nghĩa nh sau: Từ của tiếng Việt là mộtchỉnh thể nhất định có ý nghĩa dùng để cấu tạo câu nói, có hình thức của một âm tiết,một chữ viết rời [13, tr134]
Đỗ Hữu Châu cũng có định nghĩa về từ: Từ của tiếng Việt là một hoặc một số
âm tiết cố định, bất biến, có ý nghĩa nhất định, nằm trong một phơng thức cấu tạo (hoặckiểu cấu tạo) nhất định, lớn nhất trong tiếng Việt và nhỏ nhất để cấu tạo câu [8, tr 139]
Tác giả Diệp Quang Ban thì khẳng định: Từ là đơn vị nhỏ nhất và hoạt động tự
do trong câu, từ chi phối toàn bộ cú pháp tiếng Việt, đảm nhận và san sẻ các chức năng
cú pháp trong câu [3, tr39]
Trang 18Đỗ Thị Kim Liên định nghĩa về từ nh sau: Từ là đơn vị của ngôn ngữ, gồm mộthoặc một số âm tiết, có nghĩa nhỏ nhất, có cấu tạo hoàn chỉnh và đợc vận dụng tự do đểcấu tạo nên câu [20, tr 18].
Nh vậy, từ trong tiếng Việt có 4 đặc điểm chính sau:
- Từ là một đơn vị nhỏ nhất của ngôn ngữ, có âm thanh, đợc biểu thị bằng mộthoặc một số âm tiết
- Từ có ý nghĩa nhỏ nhất
- Từ có cấu tạo hoàn chỉnh
- Từ có khả năng vận dụng tự do để cấu tạo câu
Trên đây, chúng ta đã điểm lại một số định nghĩa về từ của một số tác giả vàchúng tôi dựa vào định nghĩa của Đỗ Thị Kim Liên về từ để đi vào tìm hiểu các lớp từ
đặc sắc trong tập Hoa trên đá (1) của Chế Lan Viên
Tóm lại, ở trên là cách hiểu về khái niệm từ từ góc độ lí thuyết nhng khi từ thamgia hành chức trong thể loại thơ thì nó có thêm đặc điểm mới Sau đây, chúng ta đi vàotìm hiểu những đặc điểm đó
a Từ mang tính hình tợng
Từ gắn với khái niệm – hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan Chính vì vậy,khả năng nghệ thuật của ngôn từ thể hiện ở tính hình tợng Nhờ tính hình tợng đó mà từgợi lên những hình tợng nghệ thuật, giúp ta thâm nhập vào thế giới của những cảm xúc,
ấn tợng, suy tởng mà ngôn ngữ thông thờng ít khi truyền đạt đợc Tính hình tợng của từtrớc hết đợc nhận ra ở những lớp từ nh từ tợng thanh, tợng hình, từ mô tả cảm giác,trạng thái (nh : khấp khểnh, lởm chởm, trục trặc, róc rách, lác đác )
Trang 19Tính hình tợng của từ còn thể hiện ở các phơng thức chuyển nghĩa của từ, hiện tợng
đa nghĩa của từ (thuyền, bến ) Từ có khả năng thể hiện nhiều mặt của một hình tợngchủ thể lời nói nh giọng điệu, t rởng, tình cảm, văn hoá, địa vị xã hội Trong thể loạitrữ tình, cách tổ chức ngôn ngữ thành lời mang đặc trng riêng của thể loại Từ ngữ cũng
nh phơng thức tu từ trong thơ đợc lựa chọn sao cho làm nổi bật lên đợc nội dung, cảmxúc, thái độ đánh giá hay sự đồng cảm hoặc phê phán của chủ thể Cho nên từ ngữtrong ngôn ngữ thơ không còn đơn nghĩa, chính xác, khách quan mà giàu tính biểucảm, mang sắc thái đánh giá
b Từ đợc tổ chức theo một định hớng
Trong một câu thơ thờng có một từ tập trung tất cả sức mạnh âm điệu, không chỉ
về mặt âm thanh mà còn về mặt nội dung, ý nghĩa của toàn câu thơ Từ đó đóng vai trò
là tiêu điểm của câu thơ, có khi của khổ thơ, đoạn thơ nhng có khi cũng là của toàn bài
Nó trở thành điểm nhìn xuyên thấu vào tâm hồn tác giả
Ôi những cánh đồng quê chảy máu Dây thép gai đâm nát trời chiều Những đêm dài hành quân nung nấu Bỗng bồn chồn nhớ mắt ngời yêu
(Đất nớc - Nguyễn Đình Thi)
Từ ngữ phối kết thành những lời thơ theo một định hớng nh cuốn chúng ta vàobầu tâm trạng, nỗi đau của nhà thơ Nguyễn Đình Thi Những câu thơ đa chúng ta vàonhững khung cảnh chiến tranh, khối lửa bom đạn, những đau thơng mất mát Khi đọclên ngời đọc nh đang sống lại và đau nỗi đau của đất nớc trong chiến tranh
Tính chất “mê hoặc” của câu thơ làm cho ngời đọc nh chạm vào luồng điện, gây
ấn tợng ám ảnh vào trong tâm trí Sức mạnh đó của câu thơ phải xuất phát từ thực tế,chân lí của cuộc đời mới có sức mê hoặc thực sự
c Từ trong thơ đợc phối kết về mặt âm thanh
Thơ phản ánh cuộc sống qua những rung động của tình cảm Ngôn ngữ thơ vì thế
mà cũng có nhịp điệu riêng phù hợp với tâm trạng, cảm xúc của nhà thơ Nói cáchkhác, thế giới nội tâm của nhà thơ không chỉ biểu hiện bằng ý nghĩa của từ ngữ, màbằng cả âm thanh, nhịp điệu của từ ngữ ấy Âm thanh, nhịp điệu thêm hàm nghĩa cho từ
Trang 20ngữ, gợi ra cho từ ngữ những lớp nghĩa mới mà khi đứng riêng ra lại không có đợc.Trong thơ, từ sắp xếp theo một cách thức nào đó để tạo ra nhịp điệu ý nghĩa của âmthanh, nhịp điệu xuất phát từ nội dung của từ ngữ Từ với vỏ ngữ âm của nó, phối hợpvới những từ khác để tạo nhịp, vần cho câu thơ Với vai trò đó, từ không chỉ tạo nênnhững vẻ đẹp, làm tăng yếu tố biểu cảm mà còn tạo nên những sự liên tởng về nộidung, ý nghĩa của bài thơ.
Tôi lại về quê mẹ nuôi xa Một buổi tra nắng dài bãi cát Gió lộng xôn xao, sóng biển đu đa Mát rợi lòng ta ngân nga tiếng hát
(Tố Hữu)
Chính sự phối hợp nghệ thuật giữa các từ tạo nên âm thanh riêng của chúng.Những âm thanh đó đã tạo nên những ý nghĩa mà chính các từ ngữ đó không thể hiệnhết đợc
Tóm lại, từ trong thơ ca có sự hành chức rất linh hoạt Nhà thơ sử dụng ngôn từtheo dụng ý nghệ thuật của mình nhằm phát huy hết khả năng biểu đạt, biểu cảm của từngữ Từ trong thơ luôn mang những đặc trng, những dụng ý nghệ thuật biểu đạt caonhất, không chỉ về nội dung, ý nghĩa, cảm xúc mà còn có âm điệu
2.2 Đặc điểm các lớp từ ngữ đặc sắc trong tập Hoa trên đá (1)
Trong tập Hoa trên đá (1), Chế Lan Viên sử dụng rất nhiều lớp từ khác nhau
nh-ng ở đây chúnh-ng tôi chỉ đi vào tìm hiểu 4 lớp từ đặc sắc Từ đó chúnh-ng tôi có bảnh-ng thốnh-ng
kê khái quát sau:
Trang 21Bảng 2: Thống kê lớp từ gắn với chủ đề chiến tranh
Viết về chủ đề chiến tranh Chế Lan Viên cũng nh nhiều nhà thơ khác, lớp từ viết
về cuộc kháng chiến xuất hiện rất nhiều Có 34/79 bài chiếm 43%, với số lợng từ 126
và 251 lợt dùng, nhiều nhất là danh từ, sau đó là động từ và tính từ Bảng trên là những
từ tiêu biểu
2.2.1.1 Lớp từ chỉ con ngời trong chiến tranh
Trong tập Hoa trên đá (1) của Chế Lan Viên ta bắt gặp lớp từ chỉ con ngời trongchiến tranh bao gồm nhiều tên gọi khác nhau Nhóm danh từ chung này đó là nhữnganh cán bộ, chiến sĩ, nữ xạ viên, nhà thơ, những ngời anh, những em gái, những bà mẹ
Chiến tranh là tang thơng, chết chóc, hy sinh Bao nhiêu đau thơng, bao nhiêumất mát phủ lên cuộc sống của con ngời Mẹ hôm qua còn đó, dáng tần tảo, cử chỉ yêuthơng nhng hôm nay mẹ đã đi rất xa, rất xa
Nấm mộ rìa làng mẹ đấy chăng?
Một đời xa mẹ mới về thăm Nhớ bên đồn địch con rời mẹ Nay đốt tuần hơng chỗ mẹ nằm (37, tr 29)
Trang 22Chẳng còn ai đấy nữa
Mồ mẹ chôn trên đồi (68, tr 78)
Trong các cuộc kháng chiến của nhân dân ta không lúc nào thiếu vắng đợc bàntay nuôi dấu cán bộ của các bà mẹ Hình ảnh mẹ Suốt, bà ủ, mẹ Bầm tần tảo, anhdũng, hy sinh cuộc đời mình cho cách mạng xuất hiện trong thơ Tố Hữu Và trong thơChế Lan Viên hình ảnh ngời mẹ cũng xuất hiện rất nhiều Sự hy sinh và phẩm chất chịuthơng chịu khó của mẹ suốt đời vì các con, vì cách mạng Đây không phải là tên riêngcủa một bà mẹ nào mà mang tính chung chung Đó là những bà mẹ Việt Nam anhhùng
Nếu nh trong thơ Thu Bồn ta bắt gặp những cái tên cụ thể, những tấm gơng trongkháng chiến nh anh Trần Đại, nh anh Năm Dừa, nh chi Vân
Cô gái đêm qua dệt lụa may cờ Hôm nay thắp hơng trên mộ anh Trần Đại
(Mùa Xuân về quê mẹ)
Thì trái lại, trong thơ Chế Lan Viên lại ít nói đến những cái tên cụ thể, mà haydùng những cái tên chung chung mang tính khái quát nh chiến sĩ, ngời em gái vô danh,
cô gái áo chàm, cô gái sênh tiền, cô xạ viên, bà mẹ
Phải đâu chỉ nhớ đất anh hùng Nhớ ngời em gái vô danh ấy (72, tr 89)
Đó là những ngời con của đất nớc, hy sinh mình vì độc lập, vì tự do cho tổ quốcmến yêu Họ không tiếc tuổi xuân của mình mà đứng lên chiến đấu chống lại ách ápbức bóc lột của kẻ thù, kẻ đã gieo rắc mọi tội ác lên đất nớc ta Chính những con ngờinày đã làm nên chiến thắng
- Nay một phút máu anh hùng đỏ rực Trên nghìn non cao ấy có xơng thịt
con em ta trên mỗi chốt
- Hỡi em gái thời đại của nhân dân là thế đó Chính em là thần chiến thắng phải không em?
(69, tr 81)
Trang 23Ngoài những tên chung chung mang tính khái quát đó, trong tập Hoa trên đá (1)Chế Lan Viên còn nhắc đến những cái tên gắn với những vùng đất, mang một nét cụ thểhơn Mặc dù rất ít nhng họ lại là những ngời con tiêu biểu của cuộc kháng chiến.
- Ngủ lại Xê-băng-hiên chàng trai nhỏ đất sông Hồng Ngủ lại Xê-băng-phai là chàng Phú Thọ
2.2.1.2 Lớp từ nói về chiến tranh
Có thể nói Chế Lan Viên cũng nh những nhà thơ khác viết về cuộc kháng chiến,lớp từ chỉ cuộc kháng chiến xuất hiện rất nhiều, gần nh dày đặc trong thơ Có 34/79 bài,chiếm 43,1% với số lợng 126 từ, 251 lợt dùng Lớp từ này phản ánh tính chất khốc liệtcủa cuôc chiến tranh
Đó là những tổ hợp từ: Bom, đạn, giàn đại bác, máy bay, phi cơ, tên lửa, ra đa,
rốc két, toạ độ, chiến trờng, chiến địa, chiến đấu, chiến công, chiến thắng, máu tơi, vết thơng, chiến sĩ, đau thơng
Câu ca quấn ta từ trong nôi ra đến đến chiến tr ờng Pháo chụp, pháo bầy, bom bi, toạ độ
Ly biệt, đoạ đầy cách chia tan vỡ (55, tr 58)
Chiến tranh không mang đến những giây phút vui vẻ, hạnh phúc mà chiến tranhxẩy ra là đau thơng, là mất mát, tổn thất, gây thơng vong cho con ngời
Hôm qua bom các thần đều chảy máu Mảnh đạn còn vơng ngay trớc phật đài
Đồng đội còn th ơng vong trong chiến đấu Xác máy bay thù loang máu tơi (48, tr 47)
Trang 24Chiến tranh là đau thơng, là tổn thất Nó đã cớp đi những ngày tháng đẹp đẽ củacon ngời, cớp đi tuổi ấu thơ hồn nhiên, tơi trẻ và cớp đi những nụ cời ấm áp trên môi.
Lẽ ra tuổi thơ các em đợc ở trong vòng tay ấm áp của mẹ, êm đềm trong vòng tay củacha Vậy mà chiến tranh khói mìn, súng đạn đã phủ một màu đen tang thơng lên cuộcsống của em nhỏ, của những em bé mới chập chững vào đời Chiến tranh làm cho gia
đình li tán, mẹ con chia cắt mỗi ngời một nơi Mẹ đi kháng chiến, xa con mà trăm nỗi
lo lắng, không một phút bình yên, luôn nằm trong tâm trạng bất an khi nghĩ về con Mẹ
đã tranh thủ mọi phút để đến thăm con
Chiều qua bom phía nào
Mà tiếng nghe nặng lắm Nếu lỡ mà con ốm
mẹ sống ra làm sao? (42, tr 34)
Tối tối khi màn đêm buông xuống mọi gia đình sum họp hạnh phúc vui vẻ, êm
đềm Vậy mà chiến tranh đã xáo trộn cuộc sống của họ: mẹ xa con, vợ xa chồng, anh
xa em, gia đình li tán
Ta ra khỏi gian buồng Hơi bom còn ngột ngạt Cúi nhặt một mảnh bom Cứa vào tay lạnh ngời (41, tr 32)
Chiến tranh diễn ra quân dân ta chiến đấu trong tình trạng muôn vàn khó khăn,thiếu thốn vũ khí và cơ sở vật chất Nhng với tinh thần dũng cảm, lòng yêu nớc nồngnàn, sự lạc quan cộng với niềm tin vào ngày mai chiến thắng, nhân dân ta luôn vữngvàng trớc kẻ thù
2.2.2 Lớp từ chỉ thời gian
Chế Lan Viên là ngời có quan niệm khá rõ khi cầm bút, thơ ông có sự cảm thụnhạy bén cả về không gian và thời gian Từ sự cảm thụ về thời gian gắn liền với ý thứcmới về cuộc đời, Chế Lan Viên đã xây dựng một hình tợng thời gian sinh động, gợicảm, đầy suy t
Trong con mắt của ông thời gian không ủng hộ ai, cũng không mang nhân tốtích cực mà ngợc lại có sự tàn phá của thời gian Chế Lan Viên có quan niệm độc đáo
Trang 25về thời gian: Thời gian của hạnh phúc đang mất, thời gian của huỷ diệt đang chờ Nh vậythời gian mang bản chất tiêu cực là đặc trng cơ bản của thơ ông.
Sau 1975, cách mạng đã đổi đời thơ và đổi ngợc thời gian của thơ, trong thơ ôngxuất hiện thời gian nghệ thuật mới Đó là thời gian hiện thực, thời gian sự kiện, thờigian lịch sử xã hội mang kích thớc vĩ mô Đặc biệt trong cuộc kháng chiến chống Mỹthời gian đã đi vào những bớc cực lớn xa, nay, đời tôi, trận đánh thế kỉ, tiếng hát bốn
ngàn năm, văn ngày chói lọi mặt trời diệt Mỹ Thời gian lịch sử tích tụ nh tác nhân tích
cực là thời gian đặc trng Thời gian cá nhân gắn liền với thời gian lịch sử xã hội, mangthời gian lịch sử xã hội, đời sống, không còn biệt lập nh ngày xa nữa
Trong tập Hoa trên đá (1), nhà thơ nhận thức lại sâu sắc vấn đề con ngời và thờigian Thời gian mang đầy màu sắc tâm trạng, cảm xúc và suy t, triết lí trong một số bài:
Đề từ, Hoa trắng đỏ, Sông xen, Chị Ba, Nghe hết câu chèo, Kỷ niệm có gì, Dã tràng có ích, Thần chiến thắng… Trong thơ của ông có nhiều hình ảnh hiện thực xen lẫn với t-
ợng trng, nét h ảo đợc đan cài vào cái có thực Có khi sự im lặng vàng bạc tạo nên ý ởngoài lời, đằng sau hình ảnh đợi chờ biến hoá này không ai khác là tác nhân vô hìnhcủa thời gian
Không có em, mỗi ngày đều chảy mất
Mà anh xa tổ quốc đã năm tuần (19, tr 19)
Trong tập Hoa trên đá (1) chúng tôi thu đợc kết quả có 72 từ với 299 lựơt dùng.Lớp từ chỉ thời gian này có mặt trong 58 bài, chiếm 73,5% tổng số bài đợc khảo sát.Sau đây chúng tôi thông kê một số danh từ chỉ thời gian
Bảng 3 : Thống kê danh từ chỉ thời gian
Trang 269 cuộc đời 8 3,0 Cuộc đời riêng
17 Các từ khác 59 22,4 Mai, tuần, phút, buổi
2.2.2.1 Lớp từ chỉ thời gian quá khứ
Trong tập thơ này, thời gian quá khứ đợc nói đến khá nhiều, vừa có quá khứ gầnvừa có quá khứ xa Chúng thờng do danh từ đảm nhận hoặc tổ hợp số từ + danh từ chỉthời gian quá khứ nh: chiều qua, hôm qua, sáng qua, đêm trớc, tháng sau, buổi ấy, năm
tuần, suốt tuần, nửa tháng, 2 năm, 10 năm, 34 năm, 50 năm, 64 năm, nghìn năm, thế kỉ,
40 thế kỉ… Khi nhìn về quá khứ của dân tộc, nhà thơ đôi lúc bộc lộ một nỗi niềm trân
trọng biết ơn Đó là quá khứ gần gũi với những kỷ niệm về mẹ, về chị, về kỷ niệm củatuổi thơ… Trong các bài: Chị Ba, Côn Sơn, Sông Hồng, Trở về An Nhơn, Cành đào
Nguyễn Huệ, Mồ mẹ… Kỷ niệm thờng đợc nhắc cùng với những gì mà bản thân ông đã
trải qua
Cái nhìn hớng về quá khứ không phải là đặc điểm mới mẻ, độc đáo, khác lạ củaChế Lan Viên giai đoạn này Trong nhiều tập thơ giai đoạn trớc nhà thơ cũng đã luôngiành cho quá khứ một vị trí quan trọng (nh giai đoạn 1937-1947) Tiếc nuỗi về quákhứ vàng son của nớc Chàm có nền văn minh rực rỡ mà nay thành quách đã tan hoang,tiêu điều với một niềm hoài cổ xót xa
ôi dân chàm mất nớc Kiếp dân mình đâu xa
Phải chăng đây cũng là đặc điểm chung của phong trào thơ mới, cũng nh củanhà thơ Chế Lan Viên trớc cách mạng Song đến tập Hoa trên đá (1), cái nhìn về quákhứ không phải đi tìm “thời gian đã mất” mà lại là một sự chiêm nghiệm, nhìn ở chiều
Trang 27sâu, ở một tầm cao với bao suy t, băn khoăn, day dứt về cuộc đời, con ngời và chính bảnthân mình.
Đâu là vơng triều? Đâu là Mạc, đâu là Lê?
Còn lại đây tấm trần trên thớ gỗ Nét dạo chạm quên mất mặt rồng vua chúa Chỉ để lại hoa ngời và một nét sen che (33, tr 27)
Nhìn về quá khứ, Chế Lan Viên đã tái hiện lại đất nớc một thời khó khăn, giankhổ, chiến tranh, loạn lạc Đây chính là một cái nhìn hớng về quá khứ, không phảibằng con mắt tự hào cũng không phải bằng con mắt kì thị mà ông có sự nhận thức lạiquá khứ một cách đúng đắn không bôi đen cũng không tô hồng
Có một chút gì đó nuỗi tiếc khi hớng về quá khứ, làng quê, con ngời xa đâu rồi?Quê hơng quen thuộc xa kia đâu mà nay nhà thơ cảm thấy mình lạc lõng, bơ vơ ngaychính trên mảnh đất quê nhà
Trở lại An Nhơn Tuổi lớn rồi Bạn chơi ngày nhỏ chả còn ai Nền nhà nay dựng cơ quan mới Chẳng nhẽ thăm quê lại nhớ ngời (23, tr 21)
Chiến tranh đâu chỉ có những vầng hào quang chiến thắng mà ở đó còn có mấtmát, đau thơng Một thời trong thơ ca bao giờ cũng phải nói cái chiến thắng, nói cái hàohùng mà né tránh cái mất mát, cái đau thơng, cái tổn thất Chế Lan Viên nhìn về quákhứ với một nỗi đau khó nói thành lời
Trang 28Nấm mồ rìa làng mẹ đấy chăng?
Một đời xa mẹ mới về thăm Nhớ bên đồn địch con rời mẹ Nay đốt tuần h ơng chỗ mẹ nằm (37, 29)
Viết về chiến tranh, Chế Lan Viên căm giận quân giặc cớp nớc đã gieo rắc tội áclên đất nớc ta, những thành quả ta cố gắng xây dựng trong mời năm chúng thiêu trụitrong một buổi và ông khẳng định rằng:
Cái ta xây m ời năm , chúng thiêu tàn một buổi Tội ác ấy muôn đời không xoá nổi (69, tr 81)
Nhìn về quá khứ Chế Lan Viên có một cuộc tự vấn sâu sắc để tìm ra một lời giải
đáp về tâm hồn, cách nhìn và là cách đánh giá công bằng và nghiêm khắc, có niềm tựhào, có nỗi xót xa, có sự tiếc nuỗi Tất cả có sự hoà quyện đan xen mâu thuẫn mà lạinhất quán với mục đích cuối cùng dâng cho đời, dâng tất cả cho thơ
2.2.2.2 Lớp từ chỉ thời gian hiện tại
Đối với Chế Lan Viên, trớc sau thời hiện tại vẫn là điểm tập trung nhất cho mọicảm xúc và suy t của nhà thơ Chế Lan Viên rất chú trọng khắc hoạ cái ngày hôm naytrong thơ với biết bao nhiêu niềm yêu quý, trân trọng…Nay ông yêu mến thời gian nồngcháy nh yêu mến, yêu thích cuộc đời màu nhiệm [34, tr 141]
Hoa trên đá (1) có những từ chỉ thời gian hiện tại nh : buổi chiều, hôm nay, sáng nay, đêm nay, năm nay, phút này, tháng này… và những từ chỉ thời gian ngắn : tích tắc, khoảnh khắc, giây lát, một phút, một ngày, nửa ngày, một buổi, mỗi ngày…
Tiếc nuỗi, lo sợ về sự trôi nhanh của thời gian và kèm theo đó là sự tan biến củamọi vật Chế Lan Viên đang vui vẻ giây phút hiện tại mà đã lo lắng, ám ảnh, sợ sệt vàtiếc nuỗi Niềm vui đó mong manh, mơ hồ và dễ tan biến
Sợ đêm hết, sợ tình yêu có hạn
Đi cha hết sân đã vội xoay vòng (7, tr 13) Một cái hôn ban sáng
Thành cơn ma buổi chiều (62, tr 69)
Trang 29Thời gian trôi đi không bao giờ dừng lại, nhng sự gấp gáp của thời gian khônglàm con ngời vội vàng để trở thành nông nổi Những câu thơ Chế Lan Viên càng đậmsâu hơn nh bông hoa trên đá, tuy sắc màu nghèo ngặt nhng giữ đợc cái hơng sâu kín vôngần nh một lời cầu nguyện.
Nếu sắc màu vơi đi Mong mùa hơng vớt lại (1, tr 7)
Các bài thơ về tuổi tác, lòng tin của nhà thơ bao trùm lên tất cả: tin vào bản thânmình nhng cũng thấy buổi xế chiều của tuổi, thời gian trôi đi nh nhanh hơn, nh gấp gáphơn, giành giật từng phút, từng giờ với cuộc đời Tất cả nh gấp gáp đến vô cùng
- Viết nhanh lên cho kịp
Lũ sắp ập về kia
Đạp tháng ngày mà viết Còn ậm ạ nỗi chi (1, tr 7)
- ở ngoài khơi tàu đổ bộ dập dình Còn phút này êm ở bên anh (54, tr 56)
Chế Lan Viên nói nhiều đến đời, cuộc đời, một đời chỉ tính riêng từ đời thì toàntập xuất hiện 24 lần Dòng đời chính là dòng thời gian nhân thế, một kiểu thời gian đatuyến, đa chiều và mang đậm dấu ấn chủ quan Thời gian nhân thế có thể trôi xuôithuận chiều theo thời gian tự nhiên và cũng có thể trở lại, lặp lại theo vòng luân hồi củanhững kiếp ngời Đặc biệt tác giả sử dụng tổ hợp từ một đời rất nhiều lần: suốt một đờiyêu bao dòng sông xa tổ quốc; Suốt một đời cùng với gió giao tranh; Một đời tang tóc
nh đời chị; Một đời xa mẹ mới về thăm; Suốt một đời tao loạn, vẫn giữ giọng quê nhà
Nếu nh Xuân Diệu vội vàng sống và hởng thụ khi biết: Tuổi trẻ chẳng hai lần
thắm lại/ Còn trời đất nhng chẳng còn tôi mãi thì Chế Lan Viên khi nhắc đến tuổi tác
hiện tại mà không hề nói tới một cái gì của sự hởng thụ mà ngợc lại Chế Lan Viênmuốn khẳng định nỗ lực, sức vơn lên chiến thắng hoàn cảnh, chiến thắng sự già nua củacuộc đời Cái quy luật muôn đời của Chế Lan Viên ý thức rất rõ song cũng có một điềucanh cánh bên lòng: mình cha làm đợc bao nhiêu cho đời mà thời gian thì vội quá
Trang 30Mọc chùm hoa trên đá
Mùa xuân đâu chịu lùi (1, tr 7)
Nh đã đề cập ở trên thời gian hiện tại mang tính sự kiện, lịch sử xã hội Nó gắnvới những sự kiện mang tính thời sự: xếp hàng mua hàng hoá, trực chiến, hay nghe mộttiếng ễng ơng kêu Tất cả đều tạo dựng lên một bối cảnh hiện thực trong thơ Từ những
sự kiện rất nhỏ nhặt, rất đời thờng tởng nh không có gì đáng quan tâm nhng chúng đã đivào trong thơ ông nh một cái gì đó mang màu sắc triết lí của tình cảm và trí tuệ Cái sâusắc của một nỗi lòng luôn canh cánh trớc cuộc đời là nét thờng trực của nhà thơ
Trang 31có tên địa danh nớc ngoài.
Trang 32Về lớp từ chỉ địa danh, chiếm số lợng lớn nhất là lớp từ gọi tên địa danh trong
n-ớc, có 33 từ chiếm 54,1% trong tổng số 61 từ chỉ địa danh, với tần số 47 lần sử dụng,chiếm 34,8%
Đứng vị trí thứ 2 là từ chỉ địa danh nớc ngoài có 15 từ, chiếm 27,8%, tần số sửdụng 36 lần, chiếm 24,4 %
Thứ 3 là lớp từ gọi tên sông có 11 từ, chiếm 18,0%, có số lợng ít nhất trong tổng
số từ chỉ địa danh nhng tần số sử dụng lại cao nhất với 55 lần, chiếm 40,8%
Xét ở lớp từ chỉ địa danh, chúng tôi thấy rằng trong tập Hoa trên đá(1) của ChếLan Viên những từ chỉ địa danh ấy có khi đã có mặt ngay ở đầu đề các bài thơ: Côn Sơn, Tiếng cuốc chim ở Điện Biên, Sông Hồng, Sông Xen, Sông Lào, Trở lại An Nhơn, Trăng thôn Liễu, Tân Bình Đã thành quê, Cỏ ở tháp Rùa, Tợng Hy Lạp, búp bê ở Việt Nam, Ngời yêu ở Việt Nam, Qua cầu Mirabô, Hố bom ở Vĩnh Linh và viên sỏi Thuỵ
Điển, Say ở làng Hung… số lợng 24 bài, chiếm 30,4%.
2.2.3.2 Phân tích và miêu tả
a Từ gọi tên sông
a 1 Lớp từ gọi tên sông ở Việt Nam
Trong thơ ông, ta gặp các danh từ gọi tên những dòng sông ở Việt Nam chiếm sốlợng khá nhiều có 47 lần xuất hiện trong tập Hoa trên đá (1) chiếm 85,5 % Tên nhữngcon sông này gắn bó mật thiết với nhà thơ: sông Thơng, sông Mã, sông Hồng, sông
Hồng Hà, sông Vàm Cỏ Tây, sông vàm Cỏ Đông, sông cái, sông vàm cỏ…
Những cái hôn Hồng Hà
Đỏ chói màu phù sa Những cái hôn sông Mã
Lùa tháng ngày nh ngựa Những cái hôn sông Th ơng
ẩm ớt màu tà dơng (63, tr 70)
Tên các dòng sông cứ trở đi trở lại trong một số bài thơ của Chế Lan Viên Nó
nh một nỗi ám ảnh đến mức tởng không cần dùng tên cụ thể một con sông nào, nhngtoàn bài cho ta thấy hình ảnh một dòng sông đang vận động, đang chảy xiết Điều này
Trang 33cũng giống nh nhà thơ Thu Bồn, các dòng sông đợc lặp lại ở các dòng thơ (tên các dòngsông điệp lại 44 lần) Những con sông đó không phải là những con sông xa lạ mà gắnvới tình cảm sâu nặng của nhà thơ.
Dòng sông gắn với kỉ niệm Với Chế Lan Viên, sông là nơi chia tay tiễn biệt, lànơi gắn với bao nhiêu là tình cảm, nỗi lòng Dòng sông không chảy trôi bình yên,không bình lặng cũng không ào ạt sóng vỗ, mà dòng sông ấy gắn với tình cảm, chởnặng biết bao kỉ niệm, nỗi nhớ Nhắc đến sông không chỉ nhớ đến dòng sông anh hùng
mà chính nơi đây còn ghi dấu những em gái vô danh đã ngã xuống
Từ biệt bên bờ Vàm Cỏ Đông Phải đâu chỉ nhớ đất anh hùng Nhớ ngời em gái vô danh ấy
Từ đấy tên sông gắn với lòng (72, tr 89)
Với những con ngời bình thờng, nhìn dòng sông họ chỉ thấy dòng nớc khi trong,khi đục, khi bình lặng, khi chảy xiết Dòng sông cung cấp nớc cho cuộc sống sinh hoạt,cho cây cối tơi tốt Có khi họ nhìn dòng sông mà không gợi lên một chút gì đáng lutâm, họ đi bên dòng sông và thấy nó vẫn tồn tại, vẫn nh thế, dòng nớc vẫn chảy giữa hai
bờ Còn với ai đã từng lớn lên, tắm mát và đợc dòng sông nuôi dỡng tâm hồn Dòngsông ấy là dòng sông mang nặng phù sa gắn với nhiều kỷ niệm, với nỗi nhớ, với tiếnglòng Sông đâu chỉ là dòng sông vô tri chảy trôi hàng ngày nh nó vẫn có mà gắn với baonhiêu là tình cảm, nh con ngời gắn với da thịt của mình
Sông Hồng, sông Mã với sông Th ơng
Đất nớc đau lòng chẳng nhớ thơng Không dng bỗng nhớ sông Vàm Cỏ Chảy xiết lòng ta giữa chiến trờng (72, tr 89)
Dòng sông đợc Chế Lan Viên ví nh dòng sông tâm trạng con ngời biết nhớ
th-ơng, biết giận hờn, biết buồn, biết vui
Vàm Cỏ Tây cũng chính em thôi Gặp gỡ mừng vui lẫn khóc cời Vẫn đất Long An - Đồng tháp cũ
Mà lòng thơng nhớ chảy làm đôi (72, tr 89)
Trang 34Dòng sông gắn với những chiến công hiểm hách của nhân dân ta Dòng sôngViệt Van vốn gắn liền với truyền thống đánh giặc, với những chiến công hiểm hách.Sông Bạch Đằng với hai lần chiến thắng quân Nguyên - Mông, ghi một mốc son chóilọi vào trang sử hào hùng của dân tộc, các dòng sông đã in dấu biết bao chiến công Đóchính là dòng sông kháng chiến, dòng sông cách mạng.
Mời năm xa cách tính bao ngày Sông có vơi không nhớ cứ đầy Chiến thắng anh về Vàm Cỏ lại Không phải Đông mà Vàm Cỏ Tây (7, tr 13)
a2 Lớp từ gọi tên sông ở nớc bạn
Lớp từ này xuất hiện ít hơn và chiếm một phần rất ít trong tổng số lớp từ gọi têncon sông, với 8 lần xuất hiện, chiếm 14,5% Đây là những con sông gắn với nhữngchặng đờng hành quân của tác giả hay đó là nơi nhà thơ có dịp đi qua
Đứng trên cầu sông Xen của nớc Pháp, một đất nớc xa xôi của tổ quốc nhìndòng sông trôi chảy mà tác giả lại nghĩ về quê hơng, nghĩ về tổ quốc, nghĩ về cuộc đờitrôi xuôi mà kỉ niệm tình yêu muốn dừng lại Dòng sông đã nhuốm màu sắc tâm trạngcủa thi nhân
Nỗi buồn Việt Nam sao chảy dới cầu
sông Xen nớc Pháp
Có gì đâu? Sông ấy cũng thời gian Không có em, mỗi ngày đều chảy mất
Mà anh xa tổ quốc đã năm tuần! (19, tr 19)
Cũng có những con sông gắn với kỉ niệm những ngày hành quân chiến đấu, vui
có, buồn có, khó khăn có Nhng cái để lại dấu ấn nhất cho tác giả là vẻ đẹp của consông nớc bạn Lào
Vốc một ngụm nớc lên môiUống cả dòng sông vào đôi mắt (78, tr 98)Con sông thơ mộng, đẹp và đầy mùi vị Ngời ta hay nói dòng sông đẹp, dòngsông trong Nguyễn Tuân trong Ngời lái dò sông Đà miêu tả dòng sông: Tuôn dài nh
Trang 35một áng tóc trữ tình Còn Chế Lan Viên ngỡ ngàng trớc cảnh đẹp nên thơ của dòng
sông
Những con sông thơm mùi lá ủ Mùi phong lan, mùi dứa dại, ngải trầm…
Voi đi theo bầy trầm t từng bớc Vòi buông xuống hái các vầng trăng (78, tr 98)
Dòng nớc chảy giống nh tiếng nhạc, điệu kèn vang lên, giống nh một nhà nghệ
sĩ đang dạo bản đàn ca lên tiếng nhạc du dơng làm say lòng ngời
Những con sông Lào chảy trong tiếng khèn muôn thuở Các cô gái nhìn sông
Hoá thành điệu múa (78, tr 98)
Dòng sông thơ mộng ấy cũng đã chứng kiến bao nhiêu đau thuơng, mát mát, hysinh của con ngời Nhà thơ không chỉ thởng ngoạn, du dơng theo tiếng nhạc, nhảy múatheo tiếng khèn muôn thuở mà ông còn nhỏ những giọt nớc mắt trớc nghìn nấm mộ, trớcnhững bản làng bị Mỹ đốt thành tro Ông đau nỗi đau của nhân dân Lào, thơng niềm th-
ơng của con ngời và căm phẫn tội ác của giặc gây ra
Tôi qua nhng con sông Lào đâu chỉ uống vầng thơ
Gặp nghìn nấm mộ
Và trăm bản Lào Mỹ đốt ra tro! (78, tr 98)
Tóm lại, các danh từ gọi tên sông ở Việt Nam chiếm 85,5%, tên sông ở nớc bạnchỉ 14,5% Đó là dòng sông gắn với kỉ niệm, gắn với những chiến công hiểm hách củachúng ta, dòng sông còn gắn với những hy sinh mất mát
b Lớp từ gọi tên địa danh
b 1 Gọi tên địa danh trong nớc
Trong tập Hoa trên đá (1), chúng tôi thống kê đợc 33 danh từ với 47 lần sử dụngtrong tổng số lớp từ chỉ địa danh đựợc khảo sát
Trong thơ Chế Lan Viên, ngoài những địa danh chỉ tên sông thân thơng, gợi nhớgắn bó mật thiết với cuộc đời nhà thơ thì còn có những địa danh trong nớc Đó là nhữngnơi tác giả đã đến, đã đi qua và đã từng sống Đó là những nơi để lại nhiều tình cảm
Trang 36trong lòng tác giả nh: miền Nam, miền Bắc, Nghĩa Bình, Long An, An Nhơn, Long Châu,
Vĩnh Linh, Tân Bình, Huế, Cổ Thành, Hà Nội, Côn Sơn, Điện Biên, thôn Liễu, tháp Rùa,
Hồ Tây, Thăng Long, Phú Thọ, Trờng Sơn, Đồng Tháp
Huế - mảnh đất nhỏ xinh với nhng ngôi nhà, phố cổ, dòng sông Hơng thơ mộng,cánh lục bình trôi lững lờ gợi lên bao nhiêu là tình cảm nhớ thơng, lu luyến
Trắng muốt mùa sen trắng cổ thành Ngỡ nh mùa hạ Huế chờ anh (22, tr 20)
Viết về quê hơng với niềm tự hào về mảnh đất vừa là cái nôi của cách mạng, cótruyền thống đấu tranh chống giặc ngoại xâm, vừa là mảnh đất trù phú giàu có
Tôi về sông Tân Bình Khí trời thanh nh lọc Ruộng vờn dân vây quanh Tình nhân dân đùm bọc (71, tr 86)
Từ một mảnh đất xa lạ nhng với vẻ đẹp của cảnh sắc thiên nhiên, tình nghĩa
đồng bào gợi lòng thơng, lòng nhớ Nên mới hai năm đến ở mà Tân Bình lạ thành quê
Điều này Chế Lan Viên cũng đã từng khẳng định:
Tình yêu làm đất lạ hoá quê hơng
Địa danh viết về quê hơng, sự thay hơng đổi sắc của quê nhà làm cho nhà thơcảm thấy xa lạ, lạc lõng, ngơ ngác ngay chính trên quê hơng của mình Cảm giác nàygiống nh một ý thơ của Hạ Tri Chơng trong Hồi hơng ngẫu th
Trở lại An Nhơn Tuổi lớn rồi Bạn chơi ngày nhỏ chẳng còn ai Nền nhà nay dựng cơ quan mới Chẳng lẽ thăm quê lại hỏi ngời! (23, tr 21)
Ngoài ra trong thơ ông còn nhắc đến những địa danh gắn với con ngời, gắn vớilịch sử chiến đấu anh dũng chống giặc ngoại xâm của ông cha ta Những mảnh đất chịunhiều đau thơng, mất mát, vết thơng ấy loang ra, in hằn không bao giờ lành
Đây hố bom Vĩnh Linh (75, tr 93)
Truyền thống chống giặc ngoại xâm của dân tộc ta có từ các thế hệ đi trớc