Chính vì vậy, sự hiện diện của tôn giáo với những biểu tợng mangtính chất h ảo nh Chúa, thiên đờng, Phật, cõi niết bàn, thánh Ala… cầu nguyện những là cứucánh cho cuộc sống đầy bất trắc
Trang 1Bộ giáo dục và đào tạo
Tr ờng đại học vinh
-đào thị mai phúc
Sự gặp gỡ giữa tôn giáo và thơ ca trong t duy thơ hàn mặc tử
Chuyên ngành: văn học Việt Nam
Trang 2Mở đầu
1 Lí do chọn đề tài
1.1 Chế Lan Viên là nhà thơ lớn của thế kỷ XX, sự nghiệp sáng tác của
ông đồng hành cùng với sự phát triển của thơ ca dân tộc Trong cuộc đời sángtạo nghệ thuật của Chế Lan Viên, giai đoạn sáng tác trớc 1945 đợc xem là
“độc sáng” Đây là giai đoạn khởi đầu, thăng hoa cho một hồn thơ Tập Điêu tàn đã “đột ngột xuất hiện ra giữa làng thơ nh một niềm kinh dị”(Hoài Thanh),
chứng tỏ đợc tài năng và vị trí của Chế Lan Viên Nghiên cứu sự gặp gỡ giữatôn giáo và thơ ca trong t duy thơ Chế Lan Viên trớc cách mạng Vì vậy,không chỉ hiểu thêm về tài năng, phong cách một nhà thơ, mà còn giúp chúng
ta nhận thức thấu đáo hơn những tơng đồng giữa tôn giáo và thơ ca ở bìnhdiện t duy, đồng thời có đợc một cái nhìn khái quát hơn về sự đổi mới t duynghệ thuật thơ trên hành trình hiện đại hóa thơ ca dân tộc
2.2 Những sáng tác đầu tay bao giờ cũng rất quan trọng trong cuộc đờimột nhà thơ Tuy nhiên, nghiên cứu thơ Chế Lan Viên giai đoạn này vẫn còn
khiêm tốn Điêu tàn và Thơ không tên vẫn còn nhiều bí ẩn không sao giải mã
đợc hết Đi vào đề tài này, chúng tôi hi vọng góp phần vén mở “bức màn bí ẩntôn giáo” ẩn sâu trong cõi tâm linh, bản ngã thi sĩ, từ đó có thể hiểu hơn đặctrng t duy thơ Chế Lan Viên trớc cách mạng
1.3 Chế Lan Viên là tác giả trọng tâm trong chơng trình môn ngữ văn ởnhà trờng, từ bậc phổ thông đến đại học Thực hiện đề tài này vì vậy không chỉ
có ý nghĩa khoa học mà còn có ý nghĩa thực tiễn Bên cạnh đó, đây có thể xem
là nén tâm hơng kính dâng lên nhà thơ Chế Lan Viên, nhân dịp kỉ niệm 20năm ngày mất của ông(1989 - 2009)
mốc son quan trọng cuộc đời thi ca của ông, tập thơ đầu tay Điêu tàn ra đời
Trang 3gắn với bút danh Chế Lan Viên Theo hồi kí của Hoàng Diệp trong Văn thi sĩ tiền chiến thì chính sự ngộ nhận bất ngờ của nhà văn Khải Hng đã đem lại cho
Điêu tàn sự vinh quang ngoài sức tởng tợng Khái Hng đã nhầm tởng Chế Lan
Viên thuộc dòng dõi Chế Bồng Nga và đã ra sức khen ngợi tập thơ Hồi kí củaHoàng Diệp đã hé mở cho ta hiểu thêm một số thông tin về tập thơ và ngời
khai sinh ra nó Theo Lại Nguyên Ân trong Tạp chí Thơ, số 9/ 2007 thì đã có
một cuộc tranh cãi trong d luận xung quanh tập thơ khi nó mới ra đời, ngờikhen nhiều mà ngời chê cũng có Riêng Trơng Tửu đã có hai bài liên tiếp ở
các số 101, 102 trên báo ích Hữu (1938) viết về tập thơ Điêu tàn và quan niệm
thơ của Chế Lan Viên Đứng ở lập trờng của một nhà phê bình hiện thực,
Tr-ơng Tửu đã phê phán quan niệm thơ của Chế Lan Viên là dị thờng, điên rồ,loạn trí “Ngời ấy đã lý thuyết hóa cái điên, cái mê của mình Một trạng thái kì
dị của tâm hồn, ngời ấy đã làm thành một quan niệm về thơ Một quan niệmsai lầm và nguy hiểm” [48, 5] Theo ông quan niệm về thơ của tác giả Điêutàn là lệch lạc, sai lầm dẫn đến thờ ơ với thực tại, xa vòng tranh đấu Nhng với
Điêu tàn thì ông lại đánh giá rất khả quan, Trơng Tửu yêu thích tập thơ và nhà
thi sĩ của Huyền Bí, ông xem Chế Lan Viên là “thi nghệ tài hoa”, “có khiếutrực giác linh mẫn”, “một linh cảm huyền diệu chỉ nảy nở sớm ở những tâmhồn tế nhị” [47, 7] Trớc sự công kích của Trơng Tửu, Chế Lan Viên đã cómột bài đáp trả “Ông Trơng Tửu cãi lại ông Trơng Tửu” để tự bào chữa cho
mình, trên báo Bắc Hà, số 12/ 1938 Phải thừa nhận rằng ngời đầu tiên giới thiệu Điêu tàn với công chúng là Hàn Mặc Tử Ông đã tôn vinh Chế Lan Viên
và đánh giá cao về tập thơ Chúng ta không còn lạ gì tình bạn thân hữu giữahai ngời, Hàn Mặc Tử đã khuyến khích nâng đỡ Chế Lan Viên trong những b-
ớc đi chập chững trên con đờng thơ ca Ông cũng là ngời góp ý, giúp Chế LanViên sữa chữa từ những trang bản thảo đầu Tuy nhiên, không phải vì thế mànhững đánh giá nhận xét của Hàn Mặc Tử về tác giả Điêu tàn là thiếu xác
đáng, là cảm tính, thiên vị Mà ngợc lại chính vì quá am tờng, thấu hiểu vềnhau mới đa ra những nhận định tinh tế, sát thực Ông đã phát hiện ra “thi sĩthần đồng” và xếp Chế Lan Viên thuộc vào loại “những văn tài mới nở” Trên
báo Tràng An, năm 1937 Hàn Mặc Tử đã có một bài giới thiệu Chế Lan Viên với công chúng trớc khi Điêu tàn đợc xuất bản Hàn Mặc Tử đã rất nâng niu
trân trọng đứa con tinh thần của Chế Lan Viên, để giới thiệu một nhà thơ mớitác giả đã “đốt trầm”, “lấy hết tinh lực của hồn của máu… cầu nguyện những cầu nguyện nhữnglinh hồn thơ từ muôn năm trớc về giúp cho ngòi bút” của ông “lột đơc chút ít
Trang 4tinh thần văn thơ của Chế” Rõ ràng, với Điêu tàn không chỉ cảm nhận bởi sự
chân thành sáng suốt của khối óc, con tim mà quan trọng là phải cảm nhậnbằng cả tâm linh, trực giác trong một không khí linh thiêng, huyền diệu Đúng
nh mong ớc, Hàn Mặc Tử đã phần nào bóc trần, chạm đến cái tinh túy, thầnthái của “một linh hồn thi sĩ” khi đa ra những nhận xét “Trong tấm linh hồnchất phác ấy đã sớm nảy nở ra những nguồn thơ mới lạ mằn mặn nh nớc suối
Vychy song vẫn ngon môi và mát dạ Đọc hết tập Điêu tàn tôi chỉ nghe mãi
những tiếng căm hờn đắm đuối nh ánh sáng của vừng trăng tan ra thành khílạnh” [46, 70], “ông Chế Lan Viên đã thấy và đã nghe những hình những tiếng
mơ hồ và huyền bí, và đã nhập hồn vào với gió với mây”, “Cả tập Điêu tàn nh
một bài văn tế của Bossuet, nh một lời than của Shakespear, nh một tiếng saorụng êm đềm không tiếng dội” [46, 72] Bởi vì, “Tất cả đều tan dần trongbóng tối, đều chìm lịm, biến vào H Vô, ảo ảnh… cầu nguyện những Đời chỉ h ảo, là một làn h-
ơng mơ” Dới bút danh Phong Trần, Hàn Mặc Tử lại tiếp tục giới thiệu “Chế
Lan Viên, một thi sĩ điên” (Tiến bộ, số 20/ 1938), ông gọi Chế Lan Viên là
“thi sĩ của thần chết, của các kẻ điên rồ, của các vì tiên nữ, của vạn vật chìm
đắm trong cảnh điêu tàn… cầu nguyện những Một thi sĩ cách mạng với các thi sĩ mãi khóc trăng
lờ hoa héo” [3, 53] Trên Tạp chí Tao Đàn, số 5/ 1939 dới hình thức bức th gửi
cho bạn đọc, Lê Thiều Quang đã chân thành phát biểu những cảm tởng khi
đọc Điêu tàn Theo ông, bản chất thơ Chế Lan Viên đợc làm bằng tởng tợng,
ông nhấn mạnh đến trí tởng tợng thần bí, từ đó tác giả đi vào cắt nghĩa, lí giảinguyên nhân dẫn đến sự phát triển của khuynh hớng này ở tác giả Tuy nhiên
sự cắt nghĩa cha thuyết phục, còn mang tính phán đoán, loại suy [3, 254] Bản
chất thần bí trong Điêu tàn đã đợc phát triển đến mức cao nhất so với những
bản chất thần bí trong văn hóa Việt Nam hiện đại Do đó “Đọc thơ Chế ta thấy
nó nh thực, nh mơ, nh ảo huyền, mộng mị” [3, 255], Điêu tàn vì thế “mới lạ
quá đến làm ngạc nhiên và làm ngờ vực nhiều ngời” [3, 253] Vị trí của ChếLan Viên càng đợc khẳng định và nâng cao hơn nữa khi nhà thơ đợc vinh danh
đa vào Thi nhân Việt Nam (xuất bản 1941) Hoài Thanh, Hoài Chân đã rất sâu sắc, tinh tế khi nhận xét Điêu tàn, “Quyển Điêu tàn đã đột ngột xuất hiện ra
giữa làng thơ Việt Nam nh một niềm kinh dị” [41, 213] Và “Giữa đồng bằngvăn học Việt Nam ở nửa thế kỷ XX, nó đứng sững nh một cái tháp Chàm, chắcchắn và lẻ loi, bí mật” [41, 217] Tác giả Thi nhân Việt Nam đã nhận thấy
những dấu hiệu đặc trng của Điêu tàn trong phong trào Thơ mới Tập thơ ra
đời trong bối cảnh chung của Thơ mới mà vẫn khác lạ, lẻ loi, bí mật Bởi đó là
Trang 5một thế giới đầy bóng tối, siêu hình và khép kín làm cho ngời đọc phải rùngrợn, kinh hãi, hoang mang Tựu trung, từ Trơng Tửu, Hàn Mặc Tử, Lê Thiều
Quang đến Hoài Thanh, Hoài Chân đều gặp nhau khi cho rằng, Điêu tàn đã
đem đến một tiếng nói mới lạ, kinh dị, huyền bí trên thi đàn dân tộc và ChếLan Viên là một thiên tài thi ca, là đại diện tiêu biểu cho một hồn thơ đau th -
ơng, chán nản một cách găy gắt não nùng Tuy vậy, về bản chất đây chỉ lànhững bài giới thiệu nên các ý kiến đánh giá chỉ thiên về việc phát biểu cảmnhận mang tính chất khái quát mà cha có dịp đi sâu khám phá thế giới nghệthuật thơ Chế Lan Viên một cách toàn vẹn
Bớc vào 2 cuộc kháng chiến chống Pháp và Mỹ giữa không khí hùngtráng, hừng hực khí thế chiến đấu của cả dân tộc, những vần thơ kinh dị, rùng
rợn, nhuốm đầy máu xơng của Điêu tàn đã trở nên lạc lõng trong bản hòa ca
hào hùng của dân tộc Hơn ai hết Hoài Thanh lại là ngời đầu tiên thấy mình
“có lỗi”, phải có trách nhiệm “tự phê bình”, cất tiếng “cảnh tỉnh” Bản thânChế Lan Viên đã rất dằn vặt, nghiêm khắc với mình hơn khi nhìn lại mộtquảng đờng xa, tự mặc cảm với lơng tâm cũng là một cách “hối cãi”, “chuộclỗi” Chế Lan Viên đã quyết liệt, dứt khoát hơn trong việc “đoạn tuyệt” với thơtrớc cách mạng, ông xem đứa con rứt ruột của mình là “nỗi chua cay” màkhông bao giờ quên đợc Giờ nhìn lại ông chỉ thấy đó là đứa con của siêuhình, h vô, mê muội, là quá khứ buồn thơng Rõ ràng không chỉ giới nghiêncứu phê bình mà ngay cả ngời trong cuộc cũng khe khắt hơn với những sángtác của mình Đó là tâm lí chung của lớp nhà Thơ mới đi theo cách mạng
Năm 1966 chuyên luận Phong trào Thơ Mới của Phan Cự Đệ ra đời đã
đánh giá lại Thơ mới trên tinh thần “gạn lọc”, không “phủ định sạch trơn”
Ông đã có một cái nhìn công bằng hơn về Thơ mới Đánh giá Chế Lan Viên
và Trờng thơ loạn ông cho rằng “Do ảnh hởng của Ed Garpoe và Baudelairnên họ bắt đầu đi tìm cái đẹp ở những bến bờ xa lạ của cảm giác, tìm nhữngkhoái lạc bệnh tật ở những vùng đất hoang dại cha đợc khai phá” [12, 67]
Năm 1969 cuốn Chế Lan Viên – thi sĩ tiền chiến thi sĩ tiền chiến của Hoàng Diệp đợc nhàxuất bản Khai Trí Sài Gòn ấn hành ở đó những bí ẩn xung quanh chân dungtác giả Điêu tàn từ buổi thiếu thời và tập thơ đầu tay của thi nhân đã phần nào
đợc vén mở thông qua hồi ức, hoài niệm của Hoàng Diệp – thi sĩ tiền chiến bạn thân cùng ờng thơ loạn Tác giả cuốn sách đã chú tâm cắt nghĩa, lí giải sự hiện diện của
Tr-Chế Lan Viên và tập thơ Điêu tàn là do ảnh hởng của thơ Siêu thực Pháp kết
hợp với chứng tích điêu tàn của một dân tộc bị diệt chủng hiện hình lên từ
Trang 6những ngôi tháp Chàm lẻ loi, trơ trọi cùng thời gian Từ đó, Hoàng Diệp đã
tiến sâu thám hiểm vào thế giới cõi ta bản ngã của Điêu tàn – thi sĩ tiền chiến một vùng “u
uẩn, huyền bí, đầy những hiện tợng của miền vô thức” [3, 261] Ông cho rằng
ở Điêu tàn có hai Lan Viên, “Một Lan Viên qua hình ảnh của ngọn tháp Chàm
chơ vơ, sừng sững, cứng nhắc, đứng trên ngọn đồi với nét mặt càng thêm bí ẩnbuồn thảm lúc hoàng hôn xuống” [3, 265] Đó là Lan Viên thi nhân Và “MộtLan Viên thứ hai đã xuất hiện, tỏa rộng nh hơi, bao vây, ôm ấp thân mìnhtháp, rồi bốc lên cao, bay theo sơng gió, theo mây ngàn phơng, theo trăng vạnkiếp” [3, 265] Đây chính là Lan Viên đồng cốt, “Lan Viên đã bị hồn ma bóngquỷ Hời nhập vào, không còn giữ đợc cốt cách thờng nhật nữa Lúc bấy giờ thinhân đã trở thành một sức mạnh siêu hình, linh thiêng, huyền bí, khi ẩn khihiện, lúc mờ tối khi sáng rực” [3, 266] Trên cơ sở đó, Hoàng Diệp đã không
ngần ngại khi khẳng định “Với Điêu tàn, nghệ thuật thi ca Chế Lan Viên đã
đạt tới độ cao, ngoài nhãn tuyến của chúng ta Nó tích lũy đợc cái dạt dào củathác đổ, cái mênh mông của đại dơng Nó đợm vẻ oai linh của núi rừng Nónhuốm màu thần bí của cõi chết” [3, 598] Những ý kiến của Hoàng Diệp về
Điêu tàn theo chúng tôi là sát sao, tinh tế Năm 1985, Tuyển tập Chế Lan Viên
ra mắt bạn đọc Mặc dầu rất khiêm tốn chỉ với 5 bài thơ của Điêu tàn đợc
tuyển chọn nhng trong lời giới thiệu, Nguyễn Xuân Nam một lần nữa lạikhẳng định thêm, nhấn mạnh hơn cái tinh túy của hồn thơ Chế Lan Viên trongphong trào Thơ mới “Trong những giọng buồn quen thuộc của thơ ca lãngmạn 32 – thi sĩ tiền chiến 45, đây là giọng buồn ảo não, có pha màu huyền bí” [50, 11]
Trong một cố gắng nhằm cắt nghĩa nỗi buồn ở Điêu tàn, Nguyễn Xuân Nam
đã cho rằng “Buồn trong hiện thực, Chế Lan Viên tìm giải thoát trong tôngiáo” nhng “Đi vào tôn giáo chính là đi vào nỗi buồn ghê gớm nhất, vào h vôcủa những h vô sâu thẳm nhất” [50, 12] Năm 1989 Chế Lan Viên từ giã cõi
đời, từ thế thi ca, khép lại sự nghiệp văn thơ đồ sộ của mình đồng thời lại mở
ra nhiều xu hớng, thách thức, trăn trở cho giới nghiên cứu phê bình về nhữngtrang di cảo mà ông để lại
Bớc vào thập niên 90 của thế kỷ XX, Điêu tàn lần lợt đợc khảo sát trong
một số công trình nghiên cứu về Chế Lan Viên Hà Minh Đức với nỗ lực khámphá thế giới tâm hồn thơ Chế Lan Viên đã chỉ ra “căn bệnh tâm tởng lớn nhấtcủa tác giả Điêu tàn chính là tâm trạng buồn, buồn đến tuyệt vọng” [3, 285].Tuy nhiên, ông còn nhìn thấy từ thẳm sâu tâm hồn thơ Chế Lan Viên vẫn khátkhao một lẽ sống, tình đời, tình ngời ấy bộc lộ khá rõ rệt trong những bài thơ
Trang 7ngoài Điêu tàn, ở thời kì trớc cách mạng tháng Tám Hà Minh Đức viết
“Trong thẳm sâu của tâm hồn thơ Chế Lan Viên là nỗi khát khao đợc giảithoát khỏi sự tù túng của hiện tại… cầu nguyện những muốn vợt ra khỏi không gian gò bó trongcõi đời và cõi trời, trong t tởng và tình cảm” [3, 288] Những phân tích, kiếngiải của Hà Minh Đức là một cách để lí giải hồn thơ tác giả Điêu tàn ở mộtgóc độ quan tâm khác, Hồ Thế Hà đã cố gắng đi tìm “Ngời lạ mặt giữa thế
giới Điêu tàn”( Tìm trong trang viế ) Theo tác giả, “Trớc sự lạnh lùng, buồn
bã của thời đại, Chế Lan Viên đã đem cái im lìm, ghê rợn của cõi tịch liêu đểnhập vào không – thi sĩ tiền chiến thời gian của từng đối tợng mong tìm những cảm xúc đặcbiệt để hôn mê, “điên dại” bằng tiếng nói thi ca” [16, 233] Hồ Thế Hà đã chỉ
ra và làm sáng tỏ Điêu tàn là sự cộng hởng của quan niệm mĩ học độc đáo
(xem cái đẹp là cái buồn, cái quái đản) cùng với quan niệm khách thể thẩm mĩmang tính tởng tợng, h cấu, siêu hình và chủ thể sáng tạo mang tính cực đoanthần bí, quái đản, đợc chỉ đạo bởi t duy hỗn hợp của những yếu tố huyền thoại,thần bí kinh dị pha đậm màu sắc tôn giáo Lý giải t duy thơ Chế Lan Viên,Nguyễn Bá Thành đi theo một hớng nghiên cứu khác, ông đi vào khám phá
phong cách suy tởng trong thơ Chế Lan Viên từ Điêu tàn đến Di Cảo Ông đã
có những nhận xét thấu đáo, tinh tế khi cho rằng “Dòng suy tởng trong Điêu tàn là dòng trôi quằn quại của những hình ảnh thấm đầy màu đỏ của máu,
màu trắng của xơng, màu vàng chết chóc, và màu đen của bóng đêm… cầu nguyện những Soimình qua cái tôi cuồng loạn ấy mọi vật đều bị nhuốm một sắc màu khủngkhiếp của địa ngục máu xơng” [42, 49-50] Và “Trong cả tập thơ… cầu nguyện những đâu đâu tacũng thấy một con ngời, một cái tôi xông xáo sục sôi nhng đau thơng quằnquại, cô đơn nh một cái tháp Chàm lẻ loi đang rạn vỡ bên trong” Cha dừng lại
ở đó, Nguễn Bá Thành còn chỉ ra “Hiện thực trong Điêu tàn là hiện thực của
những giấc mơ huyền ảo, những mộng tởng viển vông nhng mãnh liệt, điêncuồng… cầu nguyện những Nét nỗi rõ nhất của một tâm trạng qua Điêu tàn là nỗi đau xót, giận
hờn, chua chát một cách say mê” [42, 52-53] Tuy nhiên, vấn đề mới chỉ dừnglại ở mức độ khái quát Do đây là những công trình mang tính tổng hợp, vì thếnhà nghiên cứu chỉ có thể lớt qua trên cơ sở xuyên suốt các giai đoạn sáng tác
mà cha có dịp dừng lại để đào sâu, xới kĩ về một giai đoạn cụ thể nào Sang
năm 2000 cuốn Chế Lan Viên về tác gia và tác phẩm do Vũ Tuấn Anh tuyển
chọn, giới thiệu đợc ấn hành Đây là công trình lớn, mang tính tập hợp đa đếnmột cái nhìn tơng đối hệ thống, nhiều chiều về một tác gia Nhng đặc trng của
nó là tuyển chọn, trích dẫn và giới thiệu nên không có gì mới Phải đợi đến
Trang 8năm 2007 Vũ Tuấn Anh mới hoàn thiện đợc ý tởng còn dở dang, lở hẹn về
Điêu tàn và Vàng sao Theo ông, bài viết “Chế Lan Viên với Điêu tàn và Vàng sao” (Tạp chí nghiên cứu Văn học, số 8/ 2007) là cuộc chạy tiếp sức trên chặng đờng tìm hiểu và giải mã Điêu tàn cùng với t tởng sáng tạo của Chế Lan Viên Ông khẳng định Điêu tàn“ là một độc sáng của thơ Chế Lan Viên” [4,
30] Điểm độc sáng đó theo ông là Điêu tàn“ khởi sự một mĩ học mới trongsáng tạo thi ca”, “Phóng thoát khỏi mô hình Thơ mới để bớc vào cõi thơ siêuthực, bí ẩn” Ông nhấn mạnh “Với Chế Lan Viên, sáng tạo thi ca là một cuộcphân ly kinh dị giữa xác và hồn, là sự nghiệm sinh cái chết của hữu thể để
sống phần tâm linh, vô thức” [4, 31] Chính vì thế, thoát ly ở Điêu tàn mang
bản chất của “khát vọng vơn tới khám phá cái thế giới không cùng của Bảnthể, xóa đi cái hữu hạn của nhận thức và lý trí” để làm đợc điều đó buộc sức t-ởng tợng của nhà thơ phải tìm đến “cái phi phàm, cái quái dị” Tựu trung
Điêu tàn
“ trình bày cuộc hành trình thống khổ và ghê rợn của cái tôi nhà thơ
đi tìm bản ngã và cuộc sống đích thực của nó trong miền hoang tởng Khép
cánh cửa ngoại giới, mở to mắt nhìn vào nội tâm, Điêu tàn đã thể hiện một đời
sống tâm linh sôi sục, vọt trào rộng rãi nhiều khi đến điên loạn trên nhữngtrang thơ” [4, 37] Đây là những nhận xét sắc sảo, tinh vi
Trên đây, chúng tôi đã điểm lại quá trình nghiên cứu thơ Chế Lan Viênthời kì trớc cách mạng trong phạm vi tài liệu hiện có Có một điều dễ nhậnthấy là hầu hết các công trình, bài viết đều khẳng định tài năng thi ca Chế Lan
Viên, đánh giá cao về Điêu tàn và cho rằng t duy thơ ông thời kì này là siêu
hình, bí ẩn Tuy nhiên tất cả mới chỉ dừng lại ở những kiến giải, nhận định,
đánh giá trên một bình diện nghệ thuật nhất định nào đó hay chỉ là bớc đầu đề
cập đến đặc trng t duy thơ, quan niệm thơ Chế Lan Viên thời Điêu tàn Cho
đến nay cha có công trình nào nghiên cứu duy thơ Chế Lan Viên trong mối
t-ơng quan gặp gỡ với tôn giáo cũng nh khảo sát trên một hệ thống nghệ thuậthoàn chỉnh về giai đoạn sáng tác quan trọng này Để từ đó lí giải về t duy
nghệ thuật của tác giả Điêu tàn đánh dấu một chặng khởi đầu “độc sáng” và
phát lộ tài năng của một phong cách thơ trữ tình – thi sĩ tiền chiến triết lí Trong phạm viquan tâm của đề tài, chúng tôi xem những nghiên cứu trên là nguồn t liệu vôcùng quý giá, mang tính định hớng, gợi mở để đi vào tìm hiểu, khảo sát,nghiên cứu t duy thơ Chế Lan Viên giai đoạn trớc cách mạng trong sự gặp gỡvới tôn giáo mà tính chất hớng nội đợc xem là dấu ấn đặc trng
3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
Trang 93.1 Nh tên đề tài đã xác định, mục đích của chúng tôi là tìm hiểu sựgặp gỡ giữa tôn giáo và thơ ca trong t duy thơ Chế Lan Viên trớc cách mạng.
Từ đó, góp phần nhận diện đặc trng cơ bản của một kiểu t duy nghệ thuật
3.2 Với mục đích đó, đề tài có nhiệm vụ:
Thứ nhất: Chỉ ra đợc cơ sở hình thành mối quan hệ giữa tôn giáo và thơ
ca trong t duy thơ Chế Lan Viên trớc cách mạng
Thứ hai: Chỉ ra đợc những biểu hiện gặp gỡ giữa tôn giáo và thi ca trong
t duy thơ Chế Lan Viên trớc cách mạng
Thứ ba: ở một chừng mực nhất định chỉ ra đợc những khác biệt cơ bảntrong t duy thơ Chế Lan Viên so với các nhà thơ mới cùng thời
4 Đối tợng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Giữa tôn giáo và thơ ca có sự gặp gỡ, tơng đồng trong t duy, đợcthể hiện ở nhiều khía cạnh song trong luận văn này chúng tôi chỉ tập trungkhảo sát và làm sáng tỏ trên một số phơng diện cơ bản nh: Tính chất hớng nộitrong t duy, không gian nghệ thuật, thế giới biểu tợng thơ
4.2 Phạm vi khảo sát của đề tài chủ yếu là hai tập thơ Điêu tàn và Thơ không tên Ngoài ra chúng tôi còn khảo sát tác phẩm Vàng sao, một tác phẩm thơ văn xuôi Về văn bản, chúng tôi khảo sát những bài thơ in trong Chế Lan Viên toàn tập (Tập 1, 2, Nxb Văn học, Hà Nội, 2002)
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn gồm ba chơng:
Chơng 1: Cơ sở hình thành mối quan hệ tôn giáo và thơ ca trong t duy thơ ChếLan Viên
Chơng 2: Không gian tâm linh với dòng cảm xúc hớng nội trong thơ Chế LanViên trớc cách mạng
Chơng 3: Hình thức biểu tợng hóa trong thơ Chế Lan Viên trớc cách mạng
Chơng 1
CƠ Sở HìNH THàNH MốI QUAN Hệ TÔN GIáO Và THƠ CA
TRONG TƯ DUY THƠ CHế LAN VIÊN
Trang 1011 Cơ sở triết học, văn hóa – thi sĩ tiền chiến xã hội
1.1.1 Tôn giáo và thơ ca – thi sĩ tiền chiến những nhu cầu tinh thần của nhân loại
Một trong những căn nguyên tạo nên mối kỳ duyên giữa tôn giáo và thơ
ca là cả hai đều đáp ứng nhu cầu tinh thần của nhân loại Con ngời sinh rangoài nhu cầu vật chất mang tính bản năng thì tinh thần cũng là nhu cầu tựnhiên không thể thiếu đợc trong cuộc sống Chính giá trị tinh thần đã tạo nêntính ngời, phần hồn ở con ngời Sống không chỉ cần ăn, ở, ngủ, nghỉ, đi lại, lấy
vợ, lấy chồng… cầu nguyện những mà còn có nhu cầu đợc bộc lộ tâm t, tình cảm, khát vọng ớng thiện Cả tôn giáo và thơ ca đều đáp ứng nhu cầu tự nhiên đó của con ng -
h-ời Bản chất của tôn giáo là niềm tin và hớng thiện Sống trong đời sống cần
có niềm tin, bi kịch của con ngời không có gì khác là mất niềm tin Có mộtnghịch lí là sự phát triển của khoa học – thi sĩ tiền chiến công nghệ càng mạnh càng chứng tỏgiới hạn của trí tuệ con ngời, có những vùng tối, khuất lấp mà con ngời khôngthể lí giải và nhận thức đợc Chính sự “bất túc của trí tuệ” (Upanishad) trớc vũtrụ bao la, bí ẩn đã làm cho con ngời mất niềm tin vào chính mình Một khiniềm tin bị đỗ vỡ ngời ta nhanh chóng rơi vào tuyệt vọng và đó là con đờngdẫn đến tội lỗi của chúng sinh Có thể nói mọi tội ác đều bắt nguồn từ việc
đánh mất niềm tin Điều này đã đợc thiên tài W Sharespeare cụ thể hóa bằnghình tợng nhân vật Ôtenlô trong vở kịch cùng tên Mặt khác phải thừa nhậnrằng khát vọng thánh thiện là khát vọng thờng trực, muôn thuở của loài ngời.Tuy nhiên con ngời trong sự tồn tại hiện thực của nó không có ai đạt đến sựthánh thiện Chính vì vậy, sự hiện diện của tôn giáo với những biểu tợng mangtính chất h ảo nh Chúa, thiên đờng, Phật, cõi niết bàn, thánh Ala… cầu nguyện những là cứucánh cho cuộc sống đầy bất trắc và phức tạp của con ngời, nhằm xoa dịu nỗi
đau trong cõi tâm linh của con ngời, giúp con ngời thoát khỏi bi kịch, bế tắc,khủng hoảng về sự tồn tại hữu hạn của mình, tạo niềm tin cho con ngời hớngthiện làm điều tốt để lúc từ giã cõi đời sẽ đợc lên thiên đờng
Nh vậy, bản chất và mục đích cuối cùng của tôn giáo là đức tin và lòngkhát khao hớng thiện Đây cũng là cơ sở cho sáng tạo nghệ thuật Nghệ thuậtchân chính luôn song hành với niềm tin và khát vọng hớng thiện Bởi vì “ sựhoài nghi , ngờ vực, do dự chính là ung nhọt chết ngời của nghệ thuật chânchính ” [9, 215] Chính đức tin trong tôn giáo mang đến cho thơ một đề tàimang tính tập hợp tuyệt vời, đó là tụng ca Theo Paul claudel thì nền thơ calớn từ kinh Vệ Đà đến Thái Dơng Ca của thánh Frăng xoa đều là tụng ca Và
Trang 11“tụng ca là động cơ lớn nhất của thơ ca, bởi vì nó là sự thể hiện một nhu cầutâm hồn hết sức sâu sắc, là tiếng ca niềm vui và cuộc sống, là bổn phận củamọi sự sáng tạo, khi mỗi sinh linh cần đến tất cả các sinh linh khác ”[9, 215]
Thế giới hiện nay có 4 tôn giáo lớn cùng tồn tại trên lãnh thổ các quốcgia Đó là Cơ đốc giáo, Phật giáo, Hin đu giáo và Hồi giáo Ngay từ khi conngời vừa có ý thức về sự tồn tại của mình trong vũ trụ cũng là lúc những yếu
tố có tính chất tôn giáo, ma thuật xuất hiện, cách đây khoảng 10 vạn năm Trảiqua hàng ngàn năm phát triển, ngày nay tôn giáo đã là một hiện tợng có tínhnhân loại Theo chân các nhà truyền đạo, thơng gia, cũng nh các cuộc chiếntranh xâm lợc, dù là bằng con đờng hòa bình, tự nhiên hay cỡng bức thì tôngiáo đã có mặt ở tất cả các quốc gia dân tộc trên thế giới và chiếm một vai tròquan trọng trong đời sống tinh thần nhân loại Lịch sử đã từng ghi dấu sự độctôn của tôn giáo trong việc chi phối mọi hoạt động của đời sống con ngời,không ngoại trừ cả khoa học tự nhiên Hẳn chúng ta cha quên Galilê với họcthuyết quả đất quay xung quanh mặt trời nhng đã bị giáo hội thiên chúa phủnhận một cách cay đắng Thời trung cổ ở Châu Âu, Thiên chúa giáo không chỉ
in dấu ấn đậm đà trong đời sống tinh thần mà còn chi phối cả hệ thống chínhtrị xuyên quốc gia Giáo hội Thiên chúa là đại diện cho quyền năng tối cao, vôhạn, bao phủ cả Châu Âu trong những đêm trờng trung cổ Theo giáo s JohnBouke, “chỉ khoảng 300 năm trở lại đây, tôn giáo và khoa học mới trở thànhnhững con đờng khám phá riêng biệt” [21, 106] Bây giờ ở Phơng Tây, tuy tôngiáo không còn ngự trị, ám ảnh nh bóng ma hãi hùng nữa nhng thánh địaVaticăng và giáo hoàng vẫn là niềm hớng vọng của ngời Châu Âu Đối với
họ, từ lúc sinh ra cho đến khi chết đi ít nhất phải đợc làm lễ thánh tắm và rửatội hai lần, ngày vui nhất của mỗi cặp tình nhân là ngày cả hai cùng khoác taynhau vào nhà thờ làm lễ cới dới sự chứng kiến của Chúa và nhận những lờichúc phúc của cha đạo Họ tin rằng thiên Chúa luôn yêu thơng và che chở chomình kể cả khi về thế giới bên kia Còn Phơng Đông là cái nôi của Phật giáo,Hồi giáo và Hin đu giáo Không biết có phải vì ngời á Đông luôn đề cao, coitrọng đời sống tâm linh, tinh thần không mà ngay từ khi tôn giáo xuất hiện đã
đợc tiếp nhận nồng hậu hay là do cá tính hớng nội của ngời Phơng Đông đãsản sinh ra học thuyết về thế giới bên trong, với mục đích là nhận biết bảnchất tâm linh, đạt tới chiều sâu tâm hồn và giải thoát Có lẽ là do cả hai Chỉbiết rằng khi mà nhân loại đang bớc qua ngỡng của nền văn minh thứ 3 – thi sĩ tiền chiến vănminh hậu công nghiệp, thì ở Phơng Đông huyền thoại dờng nh vẫn đang đợc
Trang 12bao phủ bởi một lớp sơng tôn giáo, dấu ấn tôn giáo in rõ trong đời sống tinhthần các dân tộc từ phong tục tập quán cho đến văn hóa nghệ thuật góp phầntạo nên nét đặc sắc trong tâm hồn, tính cách, vẻ đẹp tinh thần của ngời á
Đông , ngời ấn Độ cho rằng ngời không tôn giáo nh thể xác không linh hồn
Đối với ngời Hồi giáo ở Trung Đông thì thánh Ala cùng với nhà tiên triMohamet là biểu tợng tinh thần tối cao nhất chi phối cuộc sống của họ Dù ở
đâu xa xôi, trong cuộc đời mỗi ngời Hồi giáo ít nhất họ phải thực hiện chuyếnhành hơng về miền đất thánh một lần Còn Nhật Bản – thi sĩ tiền chiến một trong 3 trung tâmkinh tế, khoa học kĩ thuật của thế giới, vậy mà, “không ít ngời Nhật cùng mộtlúc là tín đồ của 2 đến 3 tôn giáo Thống kê của cuốn niên giám về tôn giáocủa hiệp hội văn hóa thế giới cho thấy, tổng số tín đồ tôn giáo ở Nhật Bản năm
1995 gần gấp hai lấn so với dân số (219,83 triệu so với 120 triệu) [21, 106].Riêng Thái lan và Campuchia có đến hơn 90% dân số là tín đồ Phật giáo ViệtNam tuy không phải là quê hơng của một tôn giáo nào nhng mỗi lần gặp khókhăn trở ngại gì trong cuộc sống, ngời Việt lại cầu cứu tới Chúa, Trời, Phật,
Bồ tát nh một lẽ tự nhiên vậy Việc đi lễ chùa hằng tháng đối với ngời ViệtNam không còn là đi do hiếu kỳ hay vãn cảnh nữa mà là để đáp ứng nhu cầutâm linh , để nguyện cầu cho tâm đợc thanh tịnh, lòng yên tĩnh, vô u, monggiũ bỏ đi phần nào những phiền não, đau khổ trớc những cơn giông bão củacuộc đời Mấy năm trở lại đây các hoạt động tập thể cầu siêu, phổ độ cho cácanh linh liệt sĩ đã thu hút đợc sự tham gia của đông đảo quần chúng nhân dân,thỏa mãn nhu cầu tâm linh, tinh thần của con ngời Ngày nay không gì các tín
đồ, con chiên mới mong chờ những ngày lễ tôn giáo lớn nh: Noel, Phục sinh,Phật đản… cầu nguyện những mà toàn thể nhân loại đều hăm hở đón chào, tham gia náo nhiệt.Vì ngày lễ tôn giáo cũng là cơ hội, là dịp để ngời ta thể hiện, bộc lộ tình cảmcủa mình với những ngời xung quanh bằng việc tặng những món quà có ýnghĩa cho nhau Giáo đờng, mái chùa cũng là nơi cho các cặp đôi bày tỏ tìnhyêu, thề nguyền, ớc hẹn Nh vậy, tôn giáo đã đồng hành cùng với cuộc sốngtinh thần của con ngời từ xa cho đến nay và trở thành nhu cầu tâm linh, tinhthần không thể thiếu đợc của nhân loại Ngời ta tìm đến với tôn giáo bằngniềm tin diệt khổ, hớng thiện, bằng khát vọng đợc bình yên, hạnh phúc, chechở , yêu thơng
Nhà thơ Xuân Diệu đã từng thổ lộ: Đợc đọc thơ, ngâm thơ chính là đợcthởng thức những bữa tiệc tinh thần Quả thế, thơ ca chính là “gia vị” khôngthể thiếu đợc trong những bữa tiệc tinh thần cũng nh vị mặn của muối trong
Trang 13mỗi bữa ăn vậy Mỗi cá nhân trong xã hội là một cá thể độc lập, riêng biệtsong tất cả đều gặp nhau trong một nhu cầu, đó là nhu cầu đợc bộc lộ tâm t,tình cảm, khát vọng của mình Và thơ ca xuất hiện là để đáp ứng những nhucầu đó của nhân loại Từ xa tới nay văn học nói chung thơ ca nói riêng luôn đ-
ợc xem là món ăn tinh thần nuôi dỡng tâm hồn con ngời R.Tagore cho rằngthơ “là cái gì đó hoàn thiện từ bên trong” Và V.N.Pospelov đã làm sáng tỏ
điều này khi khẳng định “Thơ là bản tự thuật tâm trạng”, là đứa con tinh thầncủa ngời nghệ sĩ Mỗi bài thơ là một tác phẩm nghệ thuật chứa đựng tronglòng nó cái đẹp, cái cao cả, cái bi, cái hài của cuộc đời Thơ đợc xem là hìnhthái văn học đầu tiên của loài ngời, “sự tồn tại của thơ ca nói riêng, nghệ thuậtnói chung đợc xem nh một tất yếu, chừng nào con ngời vẫn còn khát vọng vềcái đẹp và nhu cầu đợc bày tỏ, sẻ chia” [21, 105] Bản chất của thơ là sự thểhiện tình cảm, cảm xúc, tâm trạng, là tiếng nói của lòng tri ân giữa nhà thơ vớibạn đọc Thơ ca vì thế không có biên giới, nó là hiện tợng mang tính quốc tế.Nhìn vào lịch sử thơ ca nhân lọai ta thấy mọi cung bậc tình cảm từ buồn vui,
hi vọng, tuyệt vọng, đẹp xấu… cầu nguyện những từ những biến thái tế vi nhất trong sâu thẳmtâm hồn cho đến cả những vấn đề vĩ mô mang tầm cỡ dân tộc, quốc tế đều đợcthể hiện bởi “con mắt trông thấy 6 cõi”, “tấm lòng nghĩ thấu ngàn đời” củacác bậc thi bá thi hào Thông qua hệ thống ngôn ngữ hàm súc, giàu hình ảnh
và nhịp điệu cùng những hình tợng, biểu tợng nên thơ, thi ca đã thực sự đápứng đợc nhu cầu thởng thức cái đẹp, chất thơ của cuộc sống Bởi thơ mangtrong mình nó bản chất của cái đẹp Đó là sự hài hòa nhuần thấm từ trong nộidung đến hình thức của mỗi bài thơ Không những thế cái đẹp trong thơ cònxuất phát từ tình đời, tình ngời đợc thoát ra từ mỗi vần thơ Thơ có tác dụngcứu rỗi linh hồn, giúp con ngời thanh lọc, xoa dịu nỗi đau tinh thần Bởi vì,nói nh Bon da rep – thi sĩ tiền chiến nhà tiểu thuyết Nga, thì sứ mệnh của ngời nghệ sĩ là
“Bằng những dây thần kinh lòi trần, họ cảm nhận nỗi đau của những ngờikhác và truyền cho đồng loại những tín hiệu về sự khốn cùng phải cứu giúpnhau” Quả thế, “… cầu nguyện nhữngtừ bao giờ đến bây giờ, từ Home đến Kinh thi, đến ca daoViệt Nam , thơ vẫn là một sức sống mãnh liệt và quảng đại Nó đã ra đời giữanhững vui buồn của loài ngời và nó sẽ kết bạn với loài ngời cho đến ngày tậnthế” [41, 38] Thơ ca vốn nảy sinh một cách hồn nhiên giản dị trong cuộc sốnghàng ngày, là một hoạt động tinh thần rất phổ biến dễ đi vào lòng ngời Vì thế,ngời ta quen gọi thơ ca là hoạt động của trái tim, là “tiếng nói của tâm hồn đitìm những tâm hồn đồng điệu” (Tố Hữu) Sự phát triển của thơ ca từ thơ dân
Trang 14gian, thơ cách luật cho đến thơ tự do, thơ văn xuôi cho thấy quy luật phát triểncủa thể loại, thay đổi đợc bắt đầu từ hình thức cho phù hợp với nội dung đợcthể hiện Điều đó chứng minh rằng thế giới tinh thần tình cảm của con ngờingày càng phức tạp, nhu cầu đợc thể hiện, sẻ chia những cảm xúc ngày mộtdồi dào hơn Chỉ có sự đổi mới liên tục của hình thức mới hàm chứa nỗi nhữngthác nguồn tình cảm, những cơn lốc cảm xúc của thi nhân nhằm thỏa mãn nhucầu, thị hiếu của ngời tiếp nhận.
Nh vậy, thi ca và tôn giáo là một “cặp bài trùng” trong thế giới tinh thầnnhân loại góp phần làm cho cuộc sống tâm linh, tinh thần của con ngời thêmphong phú và có ý nghĩa hơn Tôn giáo và thơ ca giúp cho con ngời thoát khỏinhững khổ lụy, để sống vui, sống thanh thản, không thắc mắc, không hoàinghi, yếm thế
1.1.2 Tôn giáo và thơ ca – thi sĩ tiền chiến những hình thái ý thức xã hội đặc thù
Thi ca và tôn giáo là những hình thái ý thức xã hội có mối quan hệ tơngtác, chi phối và ảnh hởng lẫn nhau “Ngay từ khi con ngời cha có đợc một ýthức đầy đủ về mình, cùng với ý niệm về vũ trụ bao la, thần bí là sự xuất hiệnmột niềm tin và những tởng tợng hồn nhiên, ngây thơ về những quyền năngcủa một đấng sáng thế vô ảnh vô hình Đó là sự khởi đầu cho mối tơng giaogiữa tôn giáo và thơ ca” [21, 105] Lỗ Tấn cho rằng “ nếu lao động và tế lễsinh ra thơ ca thì sự nghỉ ngơi giải trí phát sinh ra tiểu thuyết” Theo đó thìnguồn gốc phát sinh ra thơ ca là do lao động( cuộc sống của con ngời ) và tếlễ( tín ngỡng tâm linh và tôn giáo ) Thực tế cho thấy, những bài cúng, các bộsách kinh đều tồn tại dới hình thức văn xuôi có vần hoặc là thơ Nh vậy, ngay
từ xa xa thơ ca đã có mối lơng duyên với tín ngỡng và tôn giáo Tác phẩm đầutiên ghi dấu mối kỳ duyên ấy là thánh kinh Veda của ngời ấn Độ Vào thế kỷ
19, nhà thơ Pháp Paul Claudel trong một lần diễn thuyết ở Mỹ đã chỉ ra những
u thế to lớn mà tôn giáo mang lại cho thơ ca “Tôi cho rằng mọi ngời thiênchúa giáo cũng đều là nhà thơ giỏi Bởi vì tài năng thơ ca, cảm hứng thơ ca,giống nh sự tiên tri, là một ân sủng, một ân sủng đợc ban phớc, là cái mà cácnhà thiền học gọi là “gratia gratis data ( tiếng latinh sự ban phớc từ tâm )” [9,215] Theo ông thì có 3 lợi ích mà tôn giáo mang lại cho thơ ca Đó là “Đứctin vào chúa cho phép nhà thơ tụng ca”; tôn giáo đem đến “Lời nói” mangnhiều niềm vui và có ý nghĩa cho thơ; tôn giáo mang lại cho con ngời “Tấnkịch” và “không chỉ đặt tấn kịch vào trong cuộc sống, nó còn ra kì hạn đặttrong cái chết – thi sĩ tiền chiến hình thức kịch cao nhất mà tất cả các môn đồ thật sự của s
Trang 15thánh chúng ta hiểu rằng đó là sự dâng hiến” Bằng cái nhìn duy tâm của mộtnhà thơ tôn giáo, Paul Claudel đã chỉ ra mối quan hệ thần bí giữa t tởng củaThiên chúa giáo với thi ca trong luồng sáng mặc khải của Chúa Trời Và nhthế, thơ ca sẽ làm nhiệm vụ của “kinh nhật tụng” cho loài ngời về sự màunhiệm của tín ngỡng tôn giáo Còn tôn giáo với tính chất thần bí siêu hình sẽtạo ra những quầng sáng huyền ảo cho thơ ca Để nhấn mạnh và làm sáng tỏhơn mối quan hệ tôn giáo – thi sĩ tiền chiến thơ ca, Hàn Mặc Tử luôn tâm niệm “sáng tạo là
điều cần thiết tối yếu của thơ, mà muốn tìm về nguồn cảm xúc mới lạ khôngchi bằng đọc sách về tôn giáo cho nhiều Nh thế văn thơ mới trở nên trọngvọng, cao quý và có ý nghĩa thần bí” Và ngợc lại “Thơ có nhiệm vụ thay thếtôn giáo nghĩa là nhiệm vụ làm cho tâm hồn thanh khiết, cảm nhận đợc cái
đẹp của vũ trụ và gây cho con ngời cảm hóa đợc giữa ngời và sinh vật” (LâmNgữ Đờng) Vì thế, ngời ta đã sử dụng thơ ca nh sứ giả tinh nhã đem thông
điệp từ bi bác ái, huyễn đồng với mọi sinh vật trong vũ trụ để giải thoát conngời ra khỏi vô minh Tôn giáo và thơ ca từ Đông sang Tây cứ thế trợ duyênnhau mà làm nên những bài thơ siêu việt
Là một thành tố thuộc hình thái ý thức xã hội đặc thù Tôn giáo đã chiphối, tác động tới nền nghệ thuật của nhân loại từ kiến trúc, điêu khắc cho tớihội họa, văn học… cầu nguyện những Riêng trong lĩnh vực văn học ta thấy cuộc hội ngộ giữa thi
ca và tôn giáo đã làm xuất hiện những hiện tợng thơ ca – thi sĩ tiền chiến tôn giáo, chẳng hạnnh: Thơ thiền Lý – thi sĩ tiền chiến Trần ở Việt Nam; thơ Vơng Duy (Trung Quốc); thơBasho (Nhật Bản); thơ R.Tagore (ấn Độ) và Hàn Mặc Tử… cầu nguyện những Chính họ đã mang
đến cho văn học một tiếng nói mới lạ làm nên một bản sắc độc đáo trongdòng chảy thơ ca nhân loại, vừa gần gũi, lung linh, huyền diệu vừa thăm thẳmmột chiều sâu khó mà với tới Để lí giải thấu đáo, đạt hiệu quả đối với nhữnghiện tợng thơ này chúng ta phải chú tâm tìm hiểu về tôn giáo mà nhất là t t-ởng, nhận thức luận và quan điểm mĩ học tôn giáo Phơng Đông xa nay là quêhơng, xứ sở của Phật giáo, ảnh hởng phổ biến nhất trong thơ vẫn là Thiền Tìmhiểu đặc trng mĩ học thiền sẽ giúp ta am hiểu hơn về thơ ca phơng Đông.Thiền – thi sĩ tiền chiến tinh hoa của minh triết phơng Đông, là phơng pháp tu hành để đạt đ-
ợc mục đích cuối cùng là sự giải thoát, luôn coi trọng sự tĩnh tâm và hớng nội.Lấy cái đơn sơ giản dị làm nền tảng, tiêu chí Bằng con đờng “dĩ tâm truyềntâm”, “trực chỉ nhân tâm” để giác ngộ, thấu đạt chân lý Sử dụng những biểu t-ợng có sức ám gợi để chuyển tải thuyết lí phật học Là những hình thái ý thứcxã hội, trong sự tồn tại và phát triển của mình cả tôn giáo và thơ ca đều có mối
Trang 16liên hệ, tác động đến những hình thái ý thức khác, đặc biệt là các thiết chế xãhội nh nhà nớc, pháp luật, chính trị, đạo đức… cầu nguyện những Điều này còn tùy thuộc vàotừng thời kì lịch sử tiến hóa của nhân loại Vào thời cổ đại, thế giới có 5 nềnvăn minh phát triển rực rỡ là ấn Độ, Trung Quốc, Lỡng Hà, Ai Cập, Hy – thi sĩ tiền chiến La.Song nhìn chung, trình độ nhận thức của con ngời vẫn còn kém cõi, loài ngờivừa thoát thai khỏi cuộc sống săn bắt hái lợm để bớc vào nền văn minh đầutiên, văn minh nông nghiệp, sản xuất nông nghiệp chủ yếu phụ thuộc vào điềukiện tự nhiên là chính, cho nên t tởng thần luận đã chi phối mọi mặt đời sốngxã hội, bao gồm cả nghệ thuật, thơ ca Bớc vào thời trung đại, với sự ra đời củanhà nớc phong kiến, xã hội có sự phân hóa giai cấp Tôn giáo và thơ ca trởthành những bộ phận trong thợng tầng kiến trúc tác động mạnh mẽ đến đờisống xã hội và có xu hớng bị chính trị hóa, nhất là đối với tôn giáo Giai cấpthống trị đã lợi dụng tính chất duy tâm thần bí của tôn giáo cũng nh niềm tincủa dân chúng vào thợng đế thần linh để duy trì, cũng cố quyền lực của mình.Nhà thờ và giáo hội thiên Chúa là “thể chế xã hội có đầy đủ uy quyền” thốngtrị cả Châu Âu Còn ở Phơng Đông là nơi phát tích và là thành trì của nhiềutôn giáo, tôn giáo đợc coi là thành phần quan trọng trong thợng tầng kiến trúc.
Nó đã chi phối và tác động đến những yếu tố khác trong thợng tầng nh phápluật, chính trị, đạo đức, mĩ học, t tởng triết học (ví nh ở ấn Độ là Balamôngiáo thống soái; Trung Đông là đạo Hồi; Trung Quốc, Nhật Bản, Triều Tiên làNho giáo; Campuchia, Thái Lan, Lào là Phật giáo… cầu nguyện những) Riêng ở Việt Nam có sựhiện diện của tam giáo đồng nguyên song cũng nh các nớc trong lân bang, họcthuyết Nho gia đã giữ địa vị thống trị những thiết chế xã hội khác suốt hơn
1000 năm Tuy nhiên ảnh hởng của Phật giáo trong đời sống nhân dân là sâurộng, đặc biệt phát triển rực rỡ hng thịnh nhất vào thời Lý – thi sĩ tiền chiến Trần T tởngPhật giáo bao trùm lên cuộc sống và chi phối đến t tởng, hành động của conngời, dẫn đến sự hình thành một dòng văn học thiền Thơ thiền Lý – thi sĩ tiền chiến Trần đãphản ánh sâu sắc đời sống tâm hồn con ngời, thể hiện sự hòa hợp giữa ngời tuhành và cuộc sống trần thế, sôi động trong tinh thần “hòa quang đồng trần”,
“c trần lạc đạo”
Tính chất đặc thù của tôn giáo và thơ ca so với các hình thái ý thức xãhội khác là ở chỗ chúng đều thuộc lãnh địa tinh thần thuần khiết, và cùngchung một hình thức t duy Đó là t duy hớng nội “ Với thơ ca, hớng nội làcách thức nhà thơ trở về với chính mình, khám phá những vỉa tầng thăm thẳmtrong thế giới tinh thần, ở đó cả phần ý thức và vô thức hòa vào nhau cùng tồn
Trang 17tại trong bản thể con ngời Sự khác biệt giữa tôn giáo và thơ ca chỉ là ở cáchnhận thức và hình thức biểu hiện Nếu ở thơ, chân lý cuộc sống đợc nhà thơnhận thức thông qua những rung động nghệ thuật và đợc thể hiện bằng mộtthế giới hình tợng, thì ở tôn giáo chân lý đợc nhận thức bằng thực nghiệm tâmlinh, qua những chiêm nghiệm suy t và đợc biểu đạt bằng những ý niệm, thôngqua một thế giới biểu tợng ” [21, 110] Vì thế, đặc tính của thơ ca là cụ thểcảm tính thì đặc tính của tôn giáo là trừu tợng siêu hình Đây chỉ là sự phânbiệt trên một chừng mực nhất định nào đó, tuyệt nhiên không có ý nghĩa phổbiến đối với mọi loại hình thơ.
Cũng nh các hình thái ý thức xã hội khác, cả tôn giáo và thơ ca một mặtchịu sự tác động của tồn tại xã hội, mặt khác lại là sự phản ánh phức tạp vềtồn tại xã hội, tức là cơ sở đời sống làm nảy sinh ra chúng Vậy là cả tôn giáo
và thơ ca đều có khả năng nhận thức và phản ánh hiện thực khách quan Theo
Ăngghen bản chất của tôn giáo “Chỉ là sự phản ánh h ảo vào trong đầu óc conngời của những lực lợng bên ngoài chi phối cuộc sống hằng ngày của họ; chỉ
là sự phản ánh trong đó những lực lợng ở trần thế đã mang hình thức nhữnglực lợng siêu trần thế” Bảo bối của tôn giáo là những bộ sách kinh, từ kinhPhật, kinh Coran đến Tân ớc, Cựu ớc đều cho thấy tôn giáo chỉ có thể xuấthiện khi trình độ nhận thức của con ngời vẫn còn kém cõi Sự xuất hiện hệthống những vị thần, thánh, Chúa, Phật trong tôn giáo chính là phản ánh nhậnthức thơ ngây của con ngời về vũ trụ nhân sinh Kitô giáo tin rằng Chúa trờitạo nên vũ trụ và sinh ra muôn loài, còn Hồi giáo cho rằng cội nguồn mọi sựvật hiện tợng trong thế giới kể cả con ngời là thánh Ala Nh vậy, tôn giáo xuấthiện trong một giai đoạn phát triển nhất định của chế độ công xã nguyên thủyvới t cách là sự phản ánh tình trạng bất lực của con ngời trớc các lực lợngkhủng khiếp và bí ẩn của tự nhiên Tuy nhiên, khi khoa học kĩ thuật vẫn chatồn tại, thế giới tự nhiên chỉ là màn đêm huyền bí, loài ngời vẫn đang còn mơ
hồ, mông muội về nguồn gốc xuất thân của mình thì sự có mặt của tôn giáo dù
là kì bí, h ảo, hoang đờng cũng đã phần nào lí giải đợc những băn khoăn nằmngoài tầm hiểu biết của con ngời, thỏa mãn đợc sức tởng tợng ly kỳ phong phúcủa loài ngời
Theo Hàn Mặc Tử thì “Văn chơng không phải tự nhiên mà có, mà làsinh ra có liên quan mật thiết với tình trạng kinh tế xã hội Hễ kinh tế, xã hộiphát triển chừng nào thì văn chơng phát triển nhanh chừng ấy” Quả thế, thơ
ca là nghệ thuật ngôn từ, sinh ra từ tồn tại xã hội song lại phản ánh hiện thực
Trang 18khách quan thông qua lăng kính chủ quan của ngời nghệ sĩ Thi ca cũng nhcác loại hình văn nghệ khác, luôn đem đến cho con ngời giá trị nhận thức, ýnghĩa nhận thức của thơ ca là ở chỗ nó giúp ta hiểu biết về thế giới và con ng -
ời Tác phẩm thơ ca cho chúng ta biết đợc vẻ đẹp của thiên nhiên, cái hồn của
sự vật, phong tục tập quán, sinh hoạt của con ngời cho tới những biến cố lịch
sử, những sự kiện xã hội trong một quốc gia dân tộc T duy thơ có thể thâmnhập vào những chân lí phổ biến nhất của tồn tại con ngời: sự sống, cái chết,tình yêu, lòng chung thủy, lí tởng, ớc mơ, tơng lai, hạnh phúc… cầu nguyện những Song cái đặcsắc của thi ca là ở chỗ nó không chỉ hớng ra thế giới mà còn hớng vào con ng-
ời, đi sâu thâm nhập vào thế giới bên trong của con ngời, nắm bắt và diễn tảlại quy trình tâm trạng, cảm xúc, tình cảm của nó Con ngời là đối tợng củanhiều bộ môn khoa học nhng cho đến nay nó vẫn luôn là một vũ trụ bí ẩn.Nghệ thuật không chỉ giải phẫu cơ thể mà là giải phẫu tinh thần con ngời.Vậy, thơ ca là một hình thức đặc biệt để con ngời t duy và cảm nhận cuộcsống Tác phẩm nghệ thuật là tấm gơng soi những năng lực và thế giới tinhthần của ngời nghệ sĩ Sau mỗi lần sáng tác anh ta nh hiểu mình hơn Đối vớingời tiếp nhận cũng thế, nhờ tiếp xúc với tác phẩm nghệ thuật mà ngời ta biếtnhiều hơn về xã hội, về thế giới tự nhiên, về ngời khác và về chính mình Thơ
ca vì thế mà Paul Claudel gọi là “Quyền năng hiện thực hóa một cách đầy đủcác thực thể, biến chúng thành hiện thực bằng cách khiến cho từ ngữ phải bàyhết ý nghĩa của nó đối với tinh thần và cảm thức của chúng ta” [9, 212]
1.1.3 Những ảnh hởng của môi trờng văn hóa - xã hội
Môi trờng văn hóa xã hội là một trong những nhân tố tạo nên tài năngthi ca Những ảnh hởng của chúng tới quá trình sáng tác và sự hình thànhphong cách của một nhà thơ là không thể phủ nhận Vậy, sự xuất hiện của
Điêu tàn và “thần đồng thi sĩ” Chế Lan Viên trong làng Thơ Mới có liên quan
tới bối cảnh văn hóa – thi sĩ tiền chiến xã hội của thời đại nh thế nào Đó là điều mà chúngtôi sẽ làm sáng tỏ ngay sau đây
Trớc hết ta đi vào tìm hiểu môi trờng sinh sống của Chế Lan Viên vàTrờng thơ loạn Mảnh đất Quy Nhơn thuộc vùng Nam Trung Bộ có truyềnthống văn hóa lịch sử lâu đời, lại đợc thiên nhiên ban tặng cho cả một vùngmây trời non nớc kì vĩ mà nên thơ, dễ gây xúc động cho những tao nhân mặckhách Đây cũng là nơi giao lu, gặp gỡ của những dòng văn hóa Việt – thi sĩ tiền chiếnChăm, phơng Đông – thi sĩ tiền chiến phơng Tây Chính mảnh đất màu mỡ này đã ơm mầmcho những hạt giống thi ca đợc nở rộ Không phải ngẫu nhiên mà bao nhiêu tài
Trang 19thơ đều hội tụ về đây, từ Xuân Diệu, Phạm Văn Ký, Hàn Mặc Tử, Chế LanViên, Bích Khê, Yến Lan, Quách Tấn, Nguyễn Xuân Sanh, Hoàng Diệp,Nguyễn Viết Lãm … cầu nguyện những Quy Nhơn cũng là nơi hội ngộ của nhiều tôn giáo từ đạoPhật, đạo Thiên chúa, đến Balamôn giáo… cầu nguyện nhữngđều có mặt Tuy Chế Lan Viênkhông phải là tín đồ của một giáo phái nào nhng có lần ngời đã tự thú “Mở
đầu tôi yêu chúa, rồi sau đó tôi yêu phật” Thi nhân có cảm tình với tôn giáocũng là theo lẽ tự nhiên khi mà gia đình ông là tín đồ của Phật, Hàn Mặc Tửbạn văn thơ thân tình là con chiên của Chúa, Bích Khê – thi sĩ tiền chiến thi hữu cũng là tín
đồ của Phật Vậy là môi trờng sống xung quanh Chế Lan Viên đều có sự hiệndiện của tôn giáo Phải chăng vì thế mà những t tởng tôn giáo đã thấm dần vàothi nhân một cách vô thức và cứ thế đi vào thơ ông cũng hết sức tự nhiên Đặcbiệt là hình ảnh những ngôi Tháp Chàm – thi sĩ tiền chiến dấu tích còn lại của một nền vănhóa rực rỡ, giờ đã là một phế tích đau thơng, rêu phong, cổ kính, thâm u, kì bí,trầm mặc, trơ trọi, in hình trên nền trời miền Trung xanh thẳm đã đi vào tâmtrí của chàng thanh niên 16, 17 tuổi, và trở thành nỗi ám ảnh thờng trực trongtâm trí chàng Ký ức của Hoàng Diệp đã làm sáng tỏ thêm nhận định này
“Trên đờng đi học về hằng ngày, từ thành Bình Định đến trờng học QuyNhơn, hai ngôi tháp Chàm ở làng Hng Thạnh nghiêm mình đứng sững cắmsâu vào mắt chàng nh hai mũi tên nhọn, làm cho tâm trí chàng luôn bị căngthẳng… cầu nguyện những” [3, 264] Có thể nói quá khứ của dân tộc Chàm và dấu tích còn lạicủa nó là những ngôi tháp Chàm lở lói, trơ trọi, kì bí kia chính là nguồn mạchcảm hứng vô tận cho các sáng tác của Chế Lan Viên giai đoạn này Điều này
đã đợc ông phát biểu ngay từ lời tựa Điêu tàn: “Trong thơ ta dân Chàm luôn sống mãi/ Trong thơ ta xơng máu khóc không thôi ”
Cũng từ mảnh đất này, cái tên Chế Lan Viên đợc khai sinh và ngời đãlấy làm bút danh đi suốt cuộc đời, sự nghiệp của mình, một phần là để tỏ rõtấm lòng ngỡng vọng, tri ân đối với một dân tộc đă nuôi dỡng hồn thơ mình,
đồng thời để tỏ lòng biết ơn của thi nhân với mảnh đất Quy Nhơn có nhiềuduyên nợ với ông Thiên nhiên Bình Định và nhất là hình ảnh trăng đã trởthành biểu tợng độc đáo trong thơ Hàn Mặc Tử và Chế Lan Viên, là nỗi ám
ảnh và là đề tài xuyên suốt Điêu tàn Để có đợc những bài thơ đẹp về thiên
nhiên nh thế, ngoài tài năng, Chế Lan Viên và các thi hữu hẳn đã dành nhữngkhoảnh khắc quý giá để thởng ngoạn thiên nhiên “Những đêm trăng sáng,màu trăng hoang dại, huyền hoặc thờng quyến rũ chúng tôi đi ngủ biển ChếLan Viên, Yến Lan và tôi hội họp tại nhà Hàn Mặc Tử… cầu nguyện những những đêm ấy là
Trang 20những đêm ma tầm tã, lụt ngập trời Nhng ma ở đây là ma sao, lụt ở đây là lụttrăng Chúng tôi bị trăng vây phủ tứ bề, ngăn hết nẻo đờng và bị ma sao đứngsững dòm ngó chúng tôi… cầu nguyện những” [43, 56] Hồi ức của Hoàng Diệp đã hé mở cho tathấy đợc trăng không chỉ là đề tài hấp dẫn đối với Trờng thơ loạn mà hình ảnhtrăng luôn gắn liền với những kỉ niệm ngọt ngào, đẹp đẽ, thơng yêu, ấm ápcủa tình bạn Trăng cũng là biểu tợng xuyên suốt mặc khải kinh thánh QuyNhơn tuy không phải là nơi chôn nhau cắt rốn nhng lại là mảnh đất nuôi dỡnghồn thơ ông để cho nó đợc thăng hoa tỏa sáng trên bầu trời thi ca dân tộc ChếLan Viên xuất hiện giữa làng Thơ mới khi mà cuộc bút chiến giữa thơ cũ vàthơ mới đã đi vào hồi kết Với sự cáo chung của gần 1000 năm thơ cũ, thơ mớilên ngôi và gánh trọng trắch lịch sử nặng nề của nó là hiện đại hóa thơ ca dântộc Để thực hiện bớc chuyển biến thời đại này, các thi sĩ Thơ mới cần có
điểm tựa và một cú hích ngoạn mục Đó chính là những biến chuyển của xãhội và tinh hoa văn học Pháp
Xã hội Việt Nam đầu thế kỷ XX là xã hội thực dân phong kiến Khủnghoảng kinh tế và những cuộc khai thác thuộc địa, khủng bố của Pháp làm chokhông khí ngột ngạt, bức bối bao trùm khắp non sông, con ngời đang rên xiếtdới cái nghèo đói về vật chất và nỗi đau về tinh thần, giống nòi Tuy nhiên sự
có mặt của Pháp cũng làm cho xã hội phong kiến vốn thâm trầm, u tịch đợcmột phen lung lay, biến chuyển khác thờng, cơ cấu giai cấp trong xã hội thay
đổi Hệ thống đô thị lớn xuất hiện ở Hà Nội, Hải Phòng, Huế, Quy Nhơn, SàiGòn… cầu nguyện những Kéo theo đó là sự hình thành các tầng lớp t sản, tiểu t sản, thị dân Đâychính là lực lợng công chúng văn học đông đảo với thị hiếu thẩm mĩ cũng đã
đổi thay, đã kích thích và thúc đẩy văn học phát triển Phơng Tây đã đem lạimột luồng sinh khí mới bắt đầu cho những đổi thay trên mảnh đất Việt Namnày, nhất là ý thức dân chủ của Phơng Tây đã ảnh hởng và chi phối sâu sắc
đến đời sống tinh thần dân tộc Nói nh nhà phê bình Hoài Thanh là “PhơngTây đã trao trả hồn ta lại cho ta” Cái tôi cá nhân của ngời nghệ sĩ đã thoát thaikhỏi cái ta chức năng phận sự, cái ta cộng đồng để đợc làm chính nó, một cáitôi dạt dào sức sống, mạnh mẽ và cũng cha bao giờ cái tôi cá nhân của ngờinghệ sĩ lại nở rộ nh lúc này Chính cái tôi này đã làm nên một cuộc cách mạngtrong thi ca Những hình thức nghệ thuật mới lạ lần đầu có mặt ở Việt Nam
nh sân khấu, kịch, điện ảnh, hội họa, âm nhạc… cầu nguyện những và đặc biệt là họat động báochí, văn học dịch thuật đợc viết bằng chữ quốc ngữ ngày càng đợc truyền bárộng rãi, trở thành dòng chảy thông tin quan trọng đến tay công chúng, góp
Trang 21phần làm cho quá trình hiện đại hóa văn học càng khẩn trơng hơn Báo chí đợcxem là sân chơi, là nơi thử bút của giới văn nghệ sĩ, văn chơng nghệ thuậtnhanh chóng trở thành hàng hóa Vì thế, viết báo, làm thơ văn đợc xem nhmột nghề để mu sinh Có thể nói sự đổi mới của văn học đợc bắt đầu từ đây.
T tởng mở đờng cho hành động, một khi t tởng đã đợc khơi thông chỉ còn chờcơ hội là các thi sĩ Thơ mới sẵn sàng hành động ngay Cuộc bút chiến giữa thơ
cũ và thơ mới đã châm ngòi nổ cho một cuộc cách mạng trong thi ca Cáchmạng toàn diện từ chất liệu, thể loại, ngôn ngữ đến ý thức t tởng về cái tôi cánhân của ngời nghệ sĩ Cuộc cách mạng này đã phá vỡ cả hệ thống thi phápvăn học trung đại Phong trào Thơ mới đã tạo ra những chấn động không nhỏtrong đời sống văn học Việt Nam đầu thế kỷ XX và nó còn để lại d âm lâu dàicho nền thơ dân tộc Chính hoạt động giao lu văn hóa Đông – thi sĩ tiền chiến Tây là cơ hộicho giới trí thức Việt tiếp xúc với nền văn học Pháp Trong nhà trờng PhápViệt, thơ văn u tú của nhân loại, tinh hoa thơ Pháp bằng những con đờng khácnhau đã thấm dần vào tâm hồn trí thức Việt Nam
Phong trào Thơ mới chịu ảnh hởng gần một thế kỷ thơ Pháp, từ trờngphái Lãng mạn, nhóm Thi sơn qua Baudelaire đến Tợng trng và Siêu thực.Hình tợng cái tôi cô đơn, u buồn, sầu não từ văn học Pháp đã đi vào Thơ mới
nh một hình tợng chủ chốt, làm nên nét đặc sắc cho Thơ mới Riêng Chế Lan
Viên chịu ảnh hởng của Baudelaire rất nặng Tác giả thi nhân Việt Nam cho
rằng “Chế Lan Viên lại đi từ Baudelaire, Edgar Poe đến thơ Đờng… cầu nguyện những Nếu nói
đi tới thơ Tợng trng Pháp có lễ đúng hơn, tuy hai lối thơ này có chỗ giốngnhau” Còn bản thân thi nhân đã tự thú “Tôi yêu Baudelaire từ bé, yêu tác giả
ác hoa từ buổi hoa niên đến bây giờ” Baudelaire và các nhà thơ Lãng mạn
Ph-ơng Tây xem nhà thơ nh là thiên tài cao cả, linh diệu, đứng hẳn lên trên loàingời Trong “Lời chúc phúc” Baudelaire cho rằng “Nhà thơ theo lệnh cácquyền lực tối cao” “xuất hiện giữa thế gian buồn chán”, “nhng đợc sự bảo trợvô hình của Thiên thần” Hởng ứng quan niệm trên, Chế Lan Viên quả quyết
“Làm thơ là làm sự phi thờng Thi sĩ không phải là Ngời Nó là Ngời Mơ,
Ng-ời Say, NgNg-ời Điên, là Tiên, là Ma, là Quỷ, là Tinh, là Yêu Nó thoát Hiện tại
Nó xối trộn Dĩ vãng Nó ôm trùm Tơng lai… cầu nguyện những.” (Tựa Điêu tàn) Cách nói đợm
màu tôn giáo huyền bí trên đã tôn vinh loài thi sĩ đến tột đỉnh, đối với Chế LanViên sáng tác thi ca là một việc làm phi thờng, siêu việt Vì thế thi sĩ khôngphải là ngời bình thờng mà là kết tinh của những đối cực thần thánh và quái
dị, linh thiêng và tầm thờng, thiên thần và ác quỷ, cao đẹp và tội lỗi, say đắm
Trang 22mơ màng và điên cuồng loạn trí… cầu nguyện những Và quả nhiên Điêu tàn là sự cụ thể hóa cho quan niệm độc đáo này, Điêu tàn“ khởi sự một mĩ học mới trong sáng tạo thica” [4, 30] Chế Lan Viên đã chính thức khai bút cho Trờng thơ loạn bằngtuyên ngôn nghệ thuật kỳ lạ trên Rõ ràng với quan niệm này “Ngời ta nhận ra
sự phóng thoát tuyệt đối khỏi quan niệm quen thuộc của thơ trữ tình Thơkhông còn là sự diễn tả xúc cảm của con ngời, cái hiện có của hiện tại biếnmất nhờng chỗ cho cái hỗn mang của quá khứ và cái vô định của tơng lai, làmthơ là thả hồn lạc vào mê lộ của cái phi thờng, cái dị thờng” [4, 30]
Chịu ảnh hởng những quan niệm thẩm mỹ của Edgar Poe vàBaudelaire, “ Trờng thơ loạn bắt đầu đi tìm “Cái Đẹp ở những bến bờ xa lạ củacảm giác, tìm những khoái lạc bệnh tật ở những vùng đất hoang dại cha đợckhai phá” [12, 67] Đó là địa hạt của thơ Tợng trng mà Chế Lan Viên và cácthi hữu trong nhóm đã bị ảnh hởng tơng đối đậm đà, Chủ nghĩa Tợng trng chủtrơng “đem thuộc tính của tinh thần của con ngời sáp lại với tôn giáo, coi vôthức trực giác là cái chủ yếu trong sáng tạo nghệ thuật”[43, 96] Vai trò chủ
đạo trong nhận thức và sáng tạo nghệ thuật là trực giác đợc đồng nhất với sựbừng ngộ thần bí, khải thị để khám phá ra một cái bí ẩn của thế giới trongtrạng thái bị kích động cao Theo đó Điên, Loạn, Mơ, Say là biểu hiện của sựhng phấn thăng hoa đến tột độ, mê sảng điên cuồng nhất trong sáng tác Đó
cũng là điều mà ông đã phát biểu trong tựa Điêu tàn Đối tợng thẩm mĩ mà
Tr-ờng thơ loạn hớng tới là những thế giới bí ẩn của cảm giác, vô thức và tâmlinh Để biểu thị đợc thế giới vô hình, bí ẩn ngoài cõi h linh đó các nhà thơ T-ợng trng đã sử dụng thủ pháp khêu gợi và dùng một rừng biểu tợng nh một ph-
ơng tiện để “khải thị” Và họ đã đi vào con đờng nghệ thuật thuần túy, thoát lyhoàn toàn đời sống thực tại Đó cũng là con đòng của Thơ mới 32 – thi sĩ tiền chiến 45 Tr-ờng thơ loạn không chỉ bị chi phối, tác động bởi Chủ nghĩa Lãng mạn, Tợngtrng mà còn ảnh hởng bởi Chủ nghĩa Siêu thực Thơ Siêu thực nỗ lực khámphá những bí ẩn vô thức, tiềm thức, chiêm bao, siêu hình chìm ẩn bên trongcon ngời Đây cũng là chủ đích của thơ Điên, thơ Loạn Trong sáng tác cácnhà thơ Siêu thực có thể trộn thực với mộng thành cái thực tại tuyệt đối gọi là
siêu thực, nói cách khác đó là một kiểu “sự thật siêu tởng” Điêu tàn là thế
giới siêu thực của những tởng tợng, trực giác và giấc mơ hãi hùng, kinh dị Đó
là thế giới của cô hồn, âm hồn vất vởng lang thang, thế giới của sọ ngời, xơng
vỡ máu trào, mồ không lạnh lẽo, hồn trôi, bơ vơ, lạc loài… cầu nguyện những Chủ nghĩa Siêuthực chủ trơng lối viết tự động, thể hiện mọi ý tởng cảm xúc ngẫu nhiên từ cõi
Trang 23tiềm thức, những giấc mơ ảo giác, thoát khỏi sự kiểm soát của lí tính Lối viếtnày đã hấp dẫn Trờng thơ loạn và họ xem sáng tác thơ là bớc vào cõi mê sảng,siêu thăng, lúc này thi sĩ rơi vào trạng thái điên cuồng, loạn tâm, vợt thoátkhỏi tầm ngắm của lí trí, trải qua cơn đau sáng tạo mới, khoảnh khắc này nhàthơ mới hoàn thành sứ mệnh thiêng liêng của ngời nghệ sĩ “Giữa đại dơng củangôn từ, của ý tởng, bản thể con ngời nh tan biến hẳn, thi nhân chỉ là nơi vachạm của muôn làn sóng dồn dập, muôn âm điệu thần bí của vũ trụ” [3, 264].
ở Điêu tàn có một số thi phẩm chớm đạt đến cơn mê siêu thực, lúc này chủthể sáng tạo chỉ sống với trực giác và tâm linh nên có lúc đã rơi vào trạng thái
đau thơng điên loạn, giấc mơ cuồng (Tắm trăng; Ngủ trong sao; Trăng điên; Xơng vỡ máu trào; Xơng khô… cầu nguyện những) Và “Không cần bám víu hiện thực nào khác,chỉ với những chất liệu đợc tạo ra bằng trực giác và tởng tợng, thơ Chế LanViên chuyển hẳn sang địa hạt thơ siêu thực ở đây, cái thực đã hòa trộn cái mêsảng, những cảm giác đợc thay bằng ảo giác và cuộc sống trần thế nhờng chỗcho cõi tinh thần và tâm linh, những trải nghiệm ngoại giới quay ngợc lại
thành những nghiệm sinh nội tâm Cái đợc mô tả, trải nghiệm trong Điêu tàn
chỉ còn là những giấc mơ siêu thực” [4, 35] Trực giác và linh hồn không chỉhiện hữu trong thực tiễn sáng tác mà nó đã đợc nảy mầm từ trong quan niệm
sáng tạo của thi sĩ, ngay sau Điêu tàn, dấu ấn độc đáo của t duy sáng tạo này còn tiếp tục hình thành nh một đột khởi, một lóe sáng ở Vàng sao Bên cạnh
tiếp xúc tinh hoa thi ca Phơng Tây, Thơ mới trong đó có Trờng thơ loạn còn
kế thừa di sản quý báu của thơ ca Phơng Đông từ thơ Đờng cho đến thơ dângian, thơ bác học trung đại Việt Nam một cách sâu sắc và tinh vi Việt Nam
có lịch sử phát triển thơ ca hơn 1000 năm là nền tảng vững chắc cho Thơ mớigiao lu, hội nhập với thế giới mà vẫn giữ đợc bản sắc dân tộc, vẫn giữ đợc hồnthiêng cha ông để lại Thơ mới là một nguồn thơ chảy trong văn mạch thơ dântộc
Nhìn một cách tổng quát, môi trờng văn hóa – thi sĩ tiền chiến xã hội là nhân tố thamgia vào sự hình thành cá tính, t tởng và t duy của một hồn thơ Chính nó đã tạonên hồn thơ kì bí, siêu hình, kinh dị Chế Lan Viên giai đoạn này
1.2 Sự tơng đồng trong hình thức t duy thơ và t duy tôn giáo
1.2.1 Gắn liền với con ngời cá nhân cá thể
Điểm gặp gỡ tạo nên mối lơng duyên giữa tôn giáo và thơ ca là cả hai
đều gắn liền với con ngời cá nhân cá thể Trong tôn giáo nhận thức luôn gắnvới từng cá nhân, chẳng hạn đối với Phật giáo, chân lý phải đợc nhận thức
Trang 24bằng thực nghiệm tâm linh, có nhận thức đợc hay không là tùy thuộc vào mỗicá nhân Cũng nh vậy rung động thẩm mĩ trong thơ cũng luôn gắn liền với cánhân nghệ sĩ Tiếng nói trong thơ bao giờ cũng thuộc về một cái tôi trữ tình.
Điều này đã đợc các thi gia đời Đờng ý thức rất rõ “Tác thi, bất khả dĩ vô ngã”( Làm thơ không thể không có cái tôi) Nếu xã hội Phơng Tây lấy con ngời cánhân làm trung tâm “nhất là khi có đạo thiên chúa không bao giờ cá nhân bị rẻrúng” (Hoài Thanh), thì xã hội Phơng Đông lại luôn đề cao và coi trọng ý thứccộng đồng, mỗi cá nhân luôn phụ thuộc vào gia đình, dòng họ, làng xã, quốcgia và thậm chí “phép vua thua lệ làng” là chuyện thờng tình Vì thế, con ngờicá nhân khó mà tìm thấy chỗ đứng của mình trong xã hội, “cái bản sắc cánhân sẽ chìm đắm trong gia đình, quốc gia nh giọt nớc trong biển cả”, yếu tốcá nhân có thể bị rạn vỡ Tuy nhiên t tởng tôn giáo và sự tìm tòi tinh thần lạiluôn nhấn mạnh đến yếu tố cá nhân cá thể Bản chất của mọi sáng tạo khôngbao giờ là mang tính tập thể, mà khởi đầu của nó là thuộc về cá nhân Ngay cảkhi công trình hay tác phẩm đó là của tập thể thì dấu ấn cá nhân luôn in đậm,
có mặt trong từng đờng đi nớc bớc Bản chất của sáng tạo thơ là gắn liền vớicá nhân ngời nghệ sĩ, cho nên dấu ấn cá tính sáng tạo và tài năng luôn in rõtrong từng thi phẩm, đây là con đờng dẫn đến sự hình thành phong cách nhàthơ Nhờ yếu tố cá nhân cá tính riêng độc đáo ở mỗi phong cách sáng tạo màcác thi nhân có thể tạo đợc vị thế, chỗ đứng, “thơng hiệu” của mình trên văn
đàn cũng nh trong lòng ngời đọc Một trong những đặc trng của văn học trung
đại theo giáo s Nguyễn Đăng Mạnh là tính phi ngã, giọng điệu trong thơ làgiọng siêu cá thể Điều này có nghĩa là dấu ấn cá nhân nhà thơ không trực tiếpbộc lộ ở tác phẩm (trừ một vài trờng hợp vợt quy phạm nh Hồ Xuân Hơng,Nguyễn Công Trứ) Dù vậy, qua thơ ngời đọc vẫn nhìn thấy chân dung thinhân, cá tính và phong cách độc đáo của từng cá nhân nhà thơ Sang đầu thế
kỷ XX giao lu văn hóa Đông – thi sĩ tiền chiến Tây đã làm thức tỉnh ý thức con ngời cá nhânViệt Nam phát triển một cách mạnh mẽ, nhất là trong giới văn nghệ sĩ Theocách nói của Hoài Thanh là “Phơng Tây đã trao trả hồn ta lại cho ta” [41, 47]
và “Phơng Tây bây giờ đã đi tới chỗ sâu nhất trong hồn ta” [41, 17] Chỗ sâunhất mà Hoài Thanh muốn nói ở đây phải chăng là sự thức tỉnh cái tôi nghệ sĩ
đã ngủ quên ngót 1000 năm trong thời trung đại Hoài Thanh gọi thời Thơ mới
là thời đại của chữ tôi Chính cái tôi bề sâu này vừa là đặc trng của Thơ mớivừa là yếu tố tạo nên sự phong phú đa dạng của phong cách thi sĩ, “Cha baogiờ ta thấy xuất hiện cùng một lần một hồn thơ rộng mở nh Thế Lữ, mơ màng
Trang 25nh Lu Trọng L, hùng tráng nh Huy Thông, trong sáng nh Nguyễn Nhợc Pháp,
ảo não nh Huy Cận, quê mùa nh Nguyễn Bính, kỳ dị nh Chế Lan Viên… cầu nguyện những vàthiết tha, rạo rực, băn khoăn nh Xuân Diệu” [41, 29] Đối với Thơ mới, dù làhớng nội hay hớng ngoại, ý thức hay vô thức, hiện thực hay siêu thực nhà thơbao giờ cũng nói tiếng nói của mình với cái tôi cá nhân cá thể Vì thế cả nềnthơ là một cấu tạo đa thanh Việc sử dụng đại từ nhân xng ngôi thứ nhất chophép nhà thơ biểu hiện rõ ràng, dứt khoát lập trờng t tởng của chủ thể trữ tình.Câu thơ trở thành lời nói cá thể, có ngữ khí tự Vì vậy, luôn mang lại quanniệm về một cá nhân con ngời cụ thể, sống động, một cái tôi có nỗi niềm
riêng Theo Chu Hy trong lời tựa Kinh thi “Thơ là cái d âm của lời nói trong,
khi lòng ngời cảm xúc với sự vật mà nó thể hiện ra ngoài” “Lời nói trong” ở
đây chính là tiếng nói từ thẳm sâu trong tâm hồn của chủ thể trữ tình Phảichăng vì thế mà thơ đợc ví nh bông hoa nảy nở trong lòng thi nhân “Thi yếu tựphát kỳ tâm hoa”, là “nụ cời và nớc mắt, phản ánh cái gì đó đã hoàn thiện từbên trong” (R.Tagore) Thành phần chủ yếu của thơ theo Quách Mạt Nhợcchính là “Sự biểu hiện của cái tôi” và “Cái tôi trữ tình đã cung cấp cho thơ một
sự thống nhất về nội dung và hình thức” (Hêghen)
Vậy cốt lõi của thơ là trữ tình Mọi biểu hiện của cuộc sống đợc nói đếntrong thơ đều gắn với tâm hồn, tình cảm, t tởng của con ngời, đều thông quacảm nhận chủ quan của nhà thơ, bộc lộ khá đậm nét “ cái tôi ” của ngời cầmbút Ngay cả giọng điệu trong thơ cũng đợc quy định bởi tâm thế, khoảngcách giữa chủ thể trữ tình và đối tợng trữ tình Từ những lí giải và ý kiến trêncho thấy vai trò quan trọng của cái tôi cá nhân nhà thơ trong hoạt động sángtạo cũng nh trong mối tơng quan với hiện thực khách quan Tác phẩm thi ca làsản phẩm tinh thần của cá nhân ngời nghệ sĩ, cho nên phẩm chất cá tính ngờisáng tạo luôn để lại dấu ấn sâu đậm trong tác phẩm Một khi sự sáng tạo vềtinh thần không bắt nguồn sâu xa từ phẩm chất tinh thần của cá nhân nhà thơ,
từ sự thể nghiệm trờng đời và lí tởng thẩm mĩ của anh ta thì tác phẩm khó mà
có sức hấp dẫn nghệ thuật, khó tạo đợc ấn tợng và xúc động đối với ngời đọc.Trong thực tế, sáng tạo thơ ca là sự trở về với chính mình, thành thật với lòngmình, đối diện với bản thân và là “cuộc đối thoại của nhà thơ với thời đạimình” (Hermades), từ đó giải tỏa những cảm xúc dồn nén trớc một hiện tợngnào đó trong thực tế đời sống Sáng tạo thơ chính là “cuộc hành trình đơn độc
lẻ loi của cá nhân ngời nghệ sĩ Trong giây phút sáng tạo, nhà thơ nh một kẻ tuhành, một ẩn sĩ, cô đơn , tìm kiếm” [21, 111], giây phút đó chỉ có sự tồn tại
Trang 26duy nhất của thế giới nội tâm nhà thơ Ranh giới giữa bên trong và bên ngoài,thực và mộng trở nên nhạt nhòa, mong manh Đối với nhà thơ trong giây phútcảm xúc đạt đến thăng hoa, lên hơng cũng đợc xem nh là khoảnh khắc đốnngộ, siêu thoát của một kẻ chân tu “Sự tìm kiếm cô đơn gắn liền với những thểnghiệm tâm linh sẽ giúp nhà thơ có đợc những phút giây huyền diệu, khải thị,thăng hoa, nghe đợc những điều không ai nghe, thấy đợc những điều không aithấy” [21, 112] Điều này đặc biệt thấy rõ ở kiểu nhà thơ tín đồ, nh Mãn Giácthiền s, Basho, Tagore, Hàn Mặc Tử Cũng vì thế mà nhiều nhà thơ đời Đờng– thi sĩ tiền chiến Tống nh Nghiêm Vũ đã “mợn đạo thiền so sánh với thơ”, ông cho rằng
“đạo thiền ở chỗ diệu ngộ, đạo thơ cũng ở chỗ diệu ngộ” Theo Nghiêm Vũ thìthơ Đờng sở dĩ hay là vì “giác ngộ thấu triệt” Trên tinh thần lấy tham thiền đểlàm thơ, Vơng Sĩ Trinh đời Thanh cũng phát biểu “Nhà thiền nói về ngộ cảnh,nhà thơ nói về hóa cảnh, thi thiền nhất trí, không khác nhau” Đối với họ căncốt của thơ không phải là chọn chữ, gieo vần, đặt câu, đối liên mà ở sự thểnghiệm tự nhiên chân tính của mình Điều này đã đợc Hàn Câu đời Tống chấp
bút thành chỉ tiêu, quy tắc cần thiết đối với ngời làm thơ thiền: “Học thơ rất giống học tham thiền/ Đừng chấp vào câu với đối liên/ Thi sĩ khắp nơi đều đ-
ợc thế/ Ngàn muôn năm sẽ mãi lu truyền ”
Nhìn một cách tổng quát, sáng tác thơ thuộc lĩnh vực sản xuất tinh thần,theo phơng thức “cá thể” Nói nh Tố Hữu là “Mỗi ngời có cách làm của mình,cách sáng tạo của mình, không bắt chớc ai đợc” Cũng nh vậy, trong tôn giáo
sự giác ngộ, siêu thoát và hiểu biết chân lí tối hậu không bao giờ thuộc vềcộng đồng Nó hoàn toàn mang tính cá nhân cá thể Chẳng phải Phật dạy rằngtrong mỗi chúng sinh đều chứa đựng phật tính Tuy nhiên để đạt đến cảnh giớigiác ngộ của thiền, chân lí nhà Phật là do mỗi cá nhân phải “tự tu, tự ngộ, tựchứng” Theo cách nói của thiền s Quảng Nghiêm là mỗi ngời phải tự tìm cho
mình một con đờng đi riêng để trở thành Phật (Nam nhi tự hữu xung thiên chí/
Hu hớng Nh Lai hành xứ hàn ).
1.2.2 Tính chất hớng nội
Nh đã nói ở trên thi ca là “bản tự thuật tâm trạng”, là “lời nói trong củacá nhân ngời nghệ sĩ” Còn Phật giáo chủ trơng dùng tâm để lĩnh hội, giácngộ, thấu đạt chân lí Tu chứng theo phật là nỗ lực tự chứng, tự mình, trongnội tâm mình Bởi, “Tâm tức phật, phật tức tâm” Vô minh, Nghiệp quả, áidục cũng do tâm mà ra Vì thế, thiền tập trung vào phát tâm, an trú tâm, hàngphục tâm Vậy là, về bản chất tôn giáo và thơ ca đều hớng nội, xem thế giới
Trang 27nội tâm con ngời là thực tại và luôn khao khát hớng tới cái vĩnh hằng tuyệt
đối Với thi ca, hớng nội là cách thức nhà thơ trở về với chính mình, thànhthực với bản thân mình, khám phá những vỉa tầng thăm thẳm trong thế giớitâm linh tinh thần, ở đó ngoài phần ý thức còn có phần vô thức chìm lấp trongbản thể con ngời Cái tôi trong Thơ mới có hai bình diện cái tôi bề mặt gắn vớicảm xúc và cái tôi bề sâu gắn với suy tởng (là sự kết hợp của tởng tợng, cảmxúc và lí trí), khác với cái tôi trung đại là cái tôi hòa cùng vũ trụ, cái tôi phingã Chính cái tôi bề sâu này là phần vô thức, chìm khuất không dễ gì mà cảmnhận, lí giải đợc kể cả với thi nhân Tôn giáo và thơ ca đều đi vào cái tôi bềsâu này Đây là cái tôi chỉ phát lộ trong những giây phút thăng hoa của ngờinghệ sĩ Điều này lí giải vì sao có những ý thơ, những câu chữ chợt đến mộtlần nh trong giấc mộng, nhiều lúc vợt thoát ra ngoài sự kiểm soát của lí trí.Lúc này, nhà thơ không viết những gì nhìn thấy, mà viết những gì chợt đếntrong hồn thơ Nói cách khác, không phải thi nhân đang làm thơ mà thơ tìm
đến với thi nhân Trong thời khắc diệu kỳ đó mới có sự xuất thần của câu chữ,
ý đẹp, tứ hay Nói theo cách của Hàn Mặc Tử làm thơ nghĩa là “Nhấn mộtcung đàn, bấm một đờng tơ, rung rinh một làn ánh sáng”, là thể hiện sự “hammuốn vô biên những nguồn khoái lạc trong trắng của một cõi trời cách biệt”.Hêghen cho rằng sự thống nhất của tác phẩm thơ ca là ở “nội cảm chủ thể”, và
“nội cảm chủ thể phải đợc xem là nhân tố làm cho tác phẩm trữ tình có đợctính thống nhất của nó” Nói nh vậy, cũng có nghĩa là mối liên hệ với kháchthể đã đợc nội cảm hóa trong tâm hồn nhà thơ Có thể thấy điều này qua hiệntợng Thơ mới, các nhà thơ đã trực tiếp giải bày tâm t tình cảm, ớc mơ của bảnthân mình một cách thành thực và mãnh liệt nhất Họ đã trực tiếp nói rõ
“những điều u uất kín nhiệm” trong lòng cho đến những biến động tế vi nhấttrong tâm hồn đều đợc trình bày phô diễn hết sức tự nhiên, sinh động trên từngtrang thơ Thế giới khách quan gần nh đợc chủ quan hóa, nội cảm hóa hoàntoàn Cái tôi vừa là chủ thể vừa là đối tợng để khám phá, kiếm tìm Mỗi nhàthơ là một thế giới nội tâm tinh tế, đầy mẫn cảm với những biến thái hết sức vidiệu Xuân Diệu sống vội vàng, cuống quýt với một trái tim hăm hở, nồng nàn
đắm say trong tình yêu Lu Trọng L thổn thức, mơ màng, ngơ ngác trong cõimộng, Thế Lữ đi vào cõi tiên, Huy Cận buồn thơng da diết cùng vũ trụ, HànMặc Tử đau thơng điên loạn trong “cõi trời cách biệt”, Nguyễn Bính nâng niugìn giữ chút hơng đồng nội và Chế Lan Viên sừng sững một cái tôi sầu não,
đau buồn đến tận cùng của niềm kinh dị… cầu nguyện những Theo cách nói của R.Tagore, đó là
Trang 28“Những cảm xúc không hề nhìn thấy”, là sự hòa trộn của ý thức, vô thức vàbản năng tạo thành một cơn lốc vọt trào thôi thúc ngời nghệ sĩ viết và viết.Nguồn cảm xúc đó chỉ đến một vài lần trong cuộc đời một nhà thơ mà thôi.Thực chất của những hiện tợng đó là sự biến đổi thăng hoa nghệ thuật củanhững cảm giác cá nhân Theo Assagioli – thi sĩ tiền chiến nhà tâm lí học nổi tiếng ngờiItalia, thì bên cạnh khả năng trực giác, con ngời nhất là ở những tài năng siêuviệt còn có những phẩm chất tâm lí nổi bật nh tởng tợng, sự lóe sáng, khảithị… cầu nguyện những Đây là những phẩm chất quan trọng trong sáng tạo nghệ thuật Với ChếLan Viên nhờ “có khiếu trực giác linh mẫn”, một linh cảm huyền diệu” [56, 7]
và khả năng tởng tợng đã giúp thi nhân tạo dựng một thế giới kinh dị, kì bí
trong Điêu tàn, qua đó bày tỏ sự nuối tiếc xót xa cho một vơng quốc hng thịnh
rực rỡ nay đã tiêu vong, từ đó gián tiếp cảnh tỉnh về số phận dân tộc Việt Vậy
là, nhờ tính chất hớng nội trong t duy, thi ca có thể mang đến cho con ngờimột khả năng nhận thức sâu sắc về thế giới thực tại, đặc biệt là về bản chấtcon ngời, giúp con ngời tự khám phá bản thân và hiểu biết hơn về thế giới tâmhồn, tình cảm vô cùng phức tạp của chính nó Theo cách nói của Lê Ngọc Trà
“Nhà thơ không phải phản ánh thực tại mà là nghiền ngẫm về thực tại” Bởi vì,mọi vấn đề của hiện thực đời sống khi đi vào thơ đều đợc nội cảm hóa qua cáinhìn bên trong của nhà thơ, đều đợc khúc xạ, sàng lọc qua lăng kính chủ quancủa cá nhân ngời nghệ sĩ Sự thống nhất của bài thơ với t cách là một chỉnh thểnghệ thuật đợc bắt nguồn từ đó Nguyên tắc tối thợng trong việc tổ chức bàithơ, đặc biệt là khuynh hớng thơ triết lí phải phù hợp với tình cảm chủ thể nhàthơ, độ dài ngắn, vần nhịp của câu thơ suy đến cùng đều có căn nguyên từ cảmxúc t tởng của chủ thể trữ tình Với Chế Lan Viên, nghệ thuật làm thơ dờng
nh chỉ thâu tóm trong ba vấn đề chính là “quan sát, phân tích nội tâm, tởng ợng” Cũng cách nhìn ấy Nguyễn Đình Thi cho rằng “Tâm hồn chúng ta cómột rung động thơ khi nó ra khỏi tình trạng bình thờng” Không phải ngẫunhiên khi Nguyễn Hng Quốc ví nhà thơ lớn nh hạt muối nhỏ “chất chứa dồnnén trong mình tất cả những vị mặn chát của đại dơng” [21, 114]
Có thể nói, nếu sáng tạo nghệ thuật là một hoạt động mang tính chủquan gắn liền với t tởng, tình cảm, tài năng, cá tính của ngời nghệ sĩ thì sángtạo thơ ca điển hình cho sự chủ quan ấy Trong đó tính chất hớng nội lànguyên tắc cơ bản Thoát ra ngoài hệ thống ngôn ngữ thông thờng, “thơ làtiếng nói của nội tâm không giống với tiếng nói của một ngôn ngữ nào khác ”(Croce) Đó là điểm tơng đồng giữa t duy thơ và t duy tôn giáo
Trang 291.3 Phẩm cách cá nhân và kiểu t duy thơ
1.3.1 Một cái tôi cô đơn không niềm giao cảm
Đặc điểm quan trọng nhất của t duy thơ là sự thể hiện của cái tôi trữtình, cái tôi cảm xúc, cái tôi đang t duy Cái tôi chính là phạm trù trung tâm, làhạt nhân của phong trào Thơ mới Mỗi nhà thơ trong phong trào Thơ mới đềutìm một con đờng riêng để khẳng định cái tôi của mình Song nhìn chung đây
là thời của cái tôi cô đơn, cách biệt, Mỗi một ngời nh núi đứng riêng tây Nỗi
cô đơn này có cội nguồn từ trong văn học Pháp, nó đuợc manh nha từ Chủnghĩa Lãng mạn Pháp Cô đơn, buồn đau nh một căn bệnh trầm kha lantruyền, thấm dần vào cõi lòng thi nhân lúc họ tiếp xúc với văn học Pháp trongnhà trờng Cô đơn là căn bệnh của Chủ nghĩa Lãng mạn và trên hết căn cốtcủa nỗi cô đơn, nỗi buồn trong Thơ mới chính là do ngay từ đầu họ đã chủ tr -
ơng thơ là phải thoát ly cuộc sống, quay lng lại với thực tế cuộc đời, từ chốichất thơ của cuộc sống, hiện tại không có lối thoát, tơng lai mù mịt xa vời, vìthế đối với cái tôi Thơ mới thì “cuộc đời cũng đìu hiu nh dặm khách” Thơmới vừa cất tiếng khóc chào đời đã buồn ngay trong bản chất, đó là tấn bi kịchcủa cái tôi Thơ mới mà mỗi cá nhân Thơ mới đã hoàn thành xuất sắc vai diễn
của mình Trên cái nền chung đó sự xuất hiện của Điêu tàn đã mang đến cho
Thơ mới một tiếng nói “lạ lùng”, “kinh dị”, cái tôi Chế Lan Viên cô đơn nh
“một cái Tháp Chàm chắc chắn và lẻ loi, bí mật” [41, 217] Trong Điêu tàn
cái tôi thờng nằm dới dạng biểu hiện trực tiếp nh là nhân vật trữ tình duy nhất,nhng vì nó đội lốt chữ “Ta” nên hơi khó phân biệt, hay có thể nói đó là cái tôitrữ tình ẩn khuất
Nếu hình tợng cái tôi cô đơn đợc xem là nét chủ đạo, là đặc trng của
Thơ mới thì đại diện xuất sắc nhất phải là Chế Lan Viên Đọc Điêu tàn ta luôn
thấy hiện lên một con ngời cô đơn đến tận cùng, nỗi cô đơn đó có thể sánhcùng với trời đất vũ trụ, một cái tôi luôn khát khao kiếm tìm lối thoát trong nỗi
đau thơng da diết của cuộc đời, mong tìm đợc một chỗ trú ngụ để nơng náucho linh hồn đỡ bơ vơ, côi cút Cô đơn bế tắc trong cuộc đời, mỗi thi nhân Thơmới đều tìm cho mình một lối thoát Riêng Chế Lan Viên chọn chốn âm tylàm nơi trú ẩn Tại sao nhà thơ lại đi vào cõi âm kinh dị, rùng rợn Bởi vì, bằngcái nhìn siêu hình, h ảo thi nhân đã cảm nhận ranh giới giữa địa ngục và cuộc
sống, giữa cõi âm và cõi dơng thật mong manh, mờ ảo, nhòe nhoẹt: “Lòng hỡi lòng ! Biết đâu là âm giới?/ Biết nơi đâu là cõi sống của muôn ngời ? (Bóng”
tối) Phải chăng cuộc đời này với ngời cũng là địa ngục trần gian Nếu vậy, thì
Trang 30Chế Lan Viên là ngời bất hạnh và khổ đau nhất trên thế gian này Nỗi cô đơnbuồn đau ở ông thật mênh mang, dữ dội, đến nỗi cuộc sống này đối với thinhân không còn nghĩa lí gì nữa, ông đã thảng thốt mà kêu mà gào đến mức
gần nh chán chờng, tuyệt vọng: “Trời hỡi trời hôm nay ta chán hết/ Những sắc màu hình ảnh của trần gian (Tạo lập)” Đã hơn một lần nhà thơ cầu cứutới thợng đế:
Trời ơi ! Chán Nản đơng vây phủ
ý tởng hồn tôi giữa cõi tang?
(Thu)
Điều đó chỉ chứng minh nỗi buồn đau trong ông quá lớn Quá cô đơnmới tìm đến trời Trời chính là sức mạnh siêu nhiên trong cảm nhận của conngời Vì thế, những lúc đau khổ ta lại tìm đến trời nh một vị cứu tinh đầy
quyền năng, Chế Lan Viên cũng thế Trong Điêu tàn, ta thấy cái tôi cô đơn thi
sĩ luôn mang nét đau khổ, sầu muộn đi suốt chiều dài thời gian và bề rộng củakhông gian cuộc đời Xuân đến, hè về, thu sang, đông lại không có nghĩa lí gìvới chàng cả mà chỉ gợi thêm sầu buồn, khổ đau trong cõi lòng vốn đã nát tan
của ngời: “Với tôi tất cả đều vô nghĩa/ Tất cả không ngoài nghĩa khổ
đau (Xuân)” Không nh Xuân Diệu luôn nhìn đời bằng cặp mắt “xanh non”,biếc rờn”, luôn vội vàng cuống quýt tận hởng sức hấp dẫn mê hoặc của tìnhyêu tuổi trẻ Chàng thi sĩ Chế Lan Viên lại cảm nhận cuộc đời chỉ khoác lên
nó sắc màu ảm đạm, điêu linh, tang thơng và chính cái huyệt của cuộc đờihiện tại đắng cay, chua chát đang dần dần ngấu nghiến, ăn mòn, chôn vùi,
nuốt chửng cái tôi thanh xuân trong nhà thơ lúc nào không hay: “Cả Dĩ Vãng
là chuỗi mồ vô tận/ Cả Tơng lai là chuỗi huyệt cha thành/ Và hiện tại biết cùng chăng hỡi bạn/ Cũng đơng chôn lặng lẽ chuỗi ngày xanh/ Chuỗi ngày xanh hùa theo nhau phai nhạt/ Dệt tấm màn quàng liệm tấm hồn ta! (Những”
nấm mồ) Đó là một cái nhìn bi quan về cuộc sống, xuất phát từ nỗi đau của
một hồn thơ bế tắc cô đơn Do ảnh hởng bởi không khí thời đại và mảnh đất
có nhiều chứng tích đau thơng, Bình Định với những Tháp Chàm lở lói, rêuphong, trơ trọi luôn hiện diện, đập vào mắt chàng thanh niên nhạy cảm hay usầu, từ đó trở thành nỗi ám ảnh thờng xuyên trong chàng suốt một thời trai trẻ
“Những cảnh ấy Trên Đờng Về ta đã gặp/ Tháng ngày qua ám ảnh mãi không thôi (Trên đờng về) Và trên hết cội nguồn của hồn thơ Chế Lan Viên là do cái
nhìn siêu hình tạo nên Có thể nói nhà thơ ý thức rất rõ nỗi khổ đau trong lòngmình:
Trang 31Trong lòng ta là huyệt bỏ, với trong hồn
Là mồ không lạnh lùng sơng giá đọng, Toàn khổ đau, sầu não với lo buồn !
(Mồ không)
Dờng nh tâm hồn thi nhân chỉ chất chứa toàn khổ đau, sầu não, lo buồn,
khiến cho tấm linh hồn bé nhỏ ấy đã hóa băng, đông cứng thành Khối sầu, Bể sầu bơ vơ, lạc lõng trong chốn nhân gian này Giống nh các nhà thơ đơng thời,
cái tôi Chế Lan Viên cũng thờng trực khát vọng đợc tỏ bày, sẻ chia trực tiếpnỗi lòng mình một cách chân thành, thẳng thắn với một niềm tin đau đớn là ai
đó có thể thấu hiểu mình Nó luôn muốn dốc hết, trút bỏ cả bầu tâm sự đểmong tìm kiếm tri ân, tri kỷ giữa cuộc đời Khát khao đợc giao hòa, giao cảm
với cuộc đời, cái tôi Điêu tàn luôn gào lên Tôi muốn, Hãy cho tôi, Đem cho ta… Tại sao nó hay gào thét thế ? Bởi vì, nó cô đơn quá chăng Đó là cách
giúp cái tôi xua đi nỗi trống trải cô liêu trong lòng, cũng là cách để khẳng
định bản ngã của mình “Hãy cho ta lúc vui trên tay khác/ Một chút thơng an
ủi tấm lòng đau (Mồ không)” Thật là đáng thơng! Khẩn thiết chân thành đếnthế kia Vậy mà có ai hiểu nó đâu Một mình cái tôi vẫn đi về lẻ bóng trên con
đờng thiên lý cuộc đời:
Đờng về thu trớc xa lăm lắm
Mà kẻ đi về chỉ một tôi.
Hình ảnh một cái tôi trên đờng dài hun hút đi tìm những khát khaomộng tởng, những giấc mơ cuộc đời trong mùa thu man mác buồn của quávãng xa xăm thật ấn tợng Chỉ cần một vài hình ảnh đợc lắp ghép, vài đờng nétchấm phá đơn sơ, mộc mạc đã gợi lên cái tê tái hiu hắt, vắng lặng, cô đơn trĩunặng lòng ngời trớc những mùa thu đã tàn phai Có thể xem hai câu thơ này là
sự tích tụ bao buồn đau cuộc đời Càng cô đơn thi nhân càng thèm khát đợc sẻchia, tâm tình song vì không bắt đợc nhịp giao cảm với con ngời, phát tín hiệuthông tin mà không có ai bắt đợc sóng Vì thế, lại càng cô độc hơn Đó là bikịch của cái tôi cô đơn Chế Lan Viên Trốn tránh hiện thực, rời bỏ cuộc sống
đi vào bãi tha ma nhng cái tôi này vẫn cha thỏa mãn, vẫn thấy sầu não khổ
đau không ngừng đeo bám và một lần nữa nó trốn chạy sâu hơn, vào nơi lạnh lẽo hơn : “Hãy tìm cho ta một nấm mộ hoang tàn/ Đào đất lên cậy cả nắp hòm săng/ Hãy chôn chặt thân ta vào chốn ấy (Máu x” ơng) Dù đã đi vào chốn
sơn cùng thủy tận của cõi âm ty cũng không làm cho hồn thơ Chế Lan Viênbớt bơ vơ mà trái lại linh hồn thi nhân càng đau khổ, tuyệt vọng hơn Bởi vì,
Trang 32nó vừa thoát khỏi cái eo hẹp của cuộc đời, vừa trốn chạy cái ao đời phẳnglặng, cái đìu hiu của cuộc sống thì lại rơi ngay vào cái âm u, lạnh lẽo, rùng rợncủa không gian mộ địa Không thể ở mãi trong bóng đêm tha ma dày đặc âmkhí, cái tôi khát thèm tự do trong Chế Lan Viên đã bay lên vũ trụ bao la, đầy
ánh sáng Trú ẩn trong miền không gian vũ trụ, ngụp lặn, đắm đuối, quaycuồng trong ánh sáng mặc khải của trời cùng với một nàng luôn bên cạnh,
quấn quýt nhau không rời Vậy mà hồn thi nhân vẫn khát, vẫn đau Tuy là Ngủ trong sao nhng cuối cùng vẫn lộ diện chân tớng một cái tôi đơn độc, lẻ
loi đang đối diện với biển cả mênh mông, nh một nhà hiền triết đang trầmngâm, suy t, chiêm nghiệm về vũ rụ nhân sinh Tuy trăng sao là nơi khao khát
của hồn thơ nhng xem ra nó cũng giá lạnh, trơ trọi, xa cách với loài ngời quá
chừng Dù sao thi nhân vẫn hi vọng đây sẽ là nơi trú ngụ cuối cùng cách biệthẳn với loài ngời, với trái đất sầu đau cho khuất mắt cảnh đỗ vỡ, điêu linh
chốn trần gian :“Hãy cho tôi một tinh cầu giá lạnh/ Một vì sao trơ trọi cuối trời xa/ Để nơi ấy tháng ngày tôi lẫn tránh/ Những u phiền, đau khổ với buồn
lo (Những sợi tơ lòng)” Lẩn tránh cuộc đời vì cho rằng nó thật buồn chán,phiền muộn Cái tôi lẻ loi, bơ vơ tìm đến một tinh cầu còn đơn côi, lạnh lẽohơn quả đất bao lần nhằm xoa dịu, an ủi linh hồn côi cút, lạc loài của mìnhtheo quy luật tình cảm “đồng thanh tơng ứng, đồng khí tơng cầu” Thế nhng
ánh sáng huyền ảo chan chứa của vũ trụ không đủ sởi ấm, hâm nóng cho tâmhồn vốn dĩ u uất, đau thơng của thi nhân Cái trơ trọi của một vì sao khôngphải là chỗ dựa vững chắc, chẳng phải là lâu đài vĩnh cửu cho hồn thơ buồnsầu, u t của Chế Lan Viên trú ngụ Và lần này cái tôi khao khát đợc tỏ bày
trực tiếp nỗi lòng mình quyết định quay trở về Cõi ta, về với cái tôi Chán Nản
U Buồn
– thi sĩ tiền chiến Trở về với chính mình, lẩn trốn trong thế giới của cái tôi để thámhiểm cõi lòng mình, gặm nhấm nỗi đau buồn, cô đơn của chính mình, nó lại
càng ý thức hơn về nỗi trống trải, cô liêu, trơ trọi của mình: Ôi bát ngát“
mênh mông nh âm giới/ Đây Cõi Ta rộng rãi đến vô biên/ Nơi an táng khổ
đau trong huyệt tối/ Nơi sinh sôi nảy nở những mầm điên (Cõi ta).” Bế tắc cô
đơn vô cùng tận, nó đã gào lên một cách khủng khiếp, điên cuồng: “Hồn của
ai trú ẩn ở đầu ta/ ý của ai trào lên trong đáy óc/ Để bay đi theo tiếng cời
điệu khóc ” (Ta) Có lúc nó không hiểu chính mình: “Ta đứng trớc Cõi Ta khôn hiểu thấu” Đào sâu, bới kỹ tận cùng tâm linh mình để rồi không hiểu
chính mình Vậy còn ai có thể hiểu nó đây ? Đúng thật là bi kịch Nhng đó là
tấn bi kịch của thời đại Thơ mới không riêng gì Chế Lan Viên ở Điêu tàn ta
Trang 33còn thấy một cái tôi luôn ray rứt, băn khoăn, khổ sở vì nó hay tự vấn mìnhbằng những câu hỏi mang tầm vóc triết học nhân sinh:
Ai bảo giùm : Ta có có ta không ?
(Ta)
Hay: Trời xanh ơi hỡi xanh không nói
Hồn tôi muốn hiểu chẳng cùng cho
(Đọc sách) Rồi: Lòng hỡi lòng biết đau là Âm giới ?
Biết nơi đâu cõi sống của muôn ngời ?
(Bóng tối)
Những câu hỏi mang tính độc thoại nội tâm nhằm tô đậm thêm nỗi cô
đơn, bơ vơ, lạc lõng của kiếp nhân sinh Thể hiện sự bế tắc, chán chờng, tuyệtvọng của thi nhân trong cuộc đời, nhà thơ không thể hỏi ai mà quay trở về hỏichính mình, đối diện với lòng mình để nhận ra nỗi cô đơn cứ xoáy sâu mãitrong tâm thức mình Bao nhiêu câu hỏi cứ tích tụ, vang vọng mãi trong đầu
mà không một lời giải đáp, thi nhân không thể trả lời đợc vì ông là “NgờiSay”, “Ngời Mơ”, “Ngời Điên”, những câu hỏi chỉ đa lí trí nhà thơ vào ngõcụt, bế tắc không lối thoát, ông không trả lời đợc cho mình và thời đại cũngthế ở Chế Lan Viên, nỗi cô đơn buồn đau đã đạt đến sự vật vã của cảm giác
và trí tuệ, nỗi đau của một trí tuệ ham hiểu biết, trằn trọc suy t nhng cuối cùnglại rơi vào bất lực, bế tắc trầm trọng
Cô đơn là trạng thái tâm lí phổ biến của Thơ mới Khảo sát thơ ChếLan Viên giai đoạn này, ta thấy cô đơn luôn đi với những biến thái của nó làbuồn đau, bơ vơ, lạc lõng, trơ trọi… cầu nguyện những Cụ thể ở Điêu tàn có 30 bài trực tiếp nói
đến buồn đau, cô đơn trong tổng số 36 bài thơ (chiếm 83%) Nếu xét về số ợng thì có tới 59 từ buồn, sầu, đau khổ trong tổng số 36 bài Con số này chothấy, nỗi buồn sầu cứ chảy lênh láng từ vần thơ này đến vần thơ khác, baotrùm lên cả không gian và thời gian, thấm sâu vào lòng ngời tê tái, lạnh lẽo.Bao trùm lên nỗi buồn sầu là cái cô đơn, lạnh lẽo, giá băng của cảnh vật và
l-lòng ngời, có 23 lần chữ lạnh xuất hiện ở Điêu tàn và Thơ không tên, bên cạnh
những từ cùng trờng nghĩa, những biến thái khác nhau của cô đơn, sầu, buồn
nh : trơ trọi, cô liêu, đìu hiu, u thảm, băng giá, Chán Nản, ủ rũ, lở lói, điêu tàn, đau thơng, đau khổ, quạnh hiu, cay đắng, u phiền, rùng rợn, hồn tàn, tan
vỡ, quạnh quẽ, quạnh hiu, tê liệt, khổ sở, cô hồn, u tối, kinh hồn, hốt hoảng, bơ vơ, hoang tàn, u ám, vắng vẻ, trơ vơ, phôi phai, nức nở … cầu nguyện những Điêu tàn là tiếng
Trang 34thơ đợc sinh ra từ một cái tôi “buồn dữ dội”, “đau mênh mang”, một hồn thơ
“cô đơn nh một cái Tháp Chàm lẻ loi đang rạn vỡ bên trong” [42, 51] Nếu so
với nỗi buồn êm đềm trong Thơ mới thì cái đau buồn ở Điêu tàn dữ dội, quyết
liệt hơn, chán nản, găy gắt và não nùng hơn Cảm xúc trong thơ Chế Lan Viênluôn đợc đẩy đến cao trào của đớn đau, “anh không hát mà hét, không mơ mà
mê, không khóc mà gào thét” [42, 53]
Thoát ly hiện thực để đi vào siêu hình, ảo ảnh, h vô cái tôi Chế LanViên đã rơi vào cùng tận của cô đơn, tuyệt vọng nhng cuối cùng nó lại népmình lẩn trốn vào cái tôi cô đơn của chính nó, đi vào khám phá những vỉa tầngthăm thẳm trong thế giới tâm hồn mình để nhận ra mình Đó là biểu hiện củamột cái tôi hớng nội, cái tôi cô đơn không tìm đợc niềm giao cảm, rất đặc trngcủa Chế Lan Viên
Trong quá trình sáng tạo thơ ca nội cảm của chủ thể trữ tình đợc xem làyếu tố quan trọng nhất, đảm bảo cho bài thơ có đợc sự thống nhất cao độ giữanội dung và hình thức Sự khác biệt giữa các loại hình thơ ca suy đến cùng là
sự khác biệt của kiểu nhà thơ mà rõ nhất là sự khác nhau của dạng thức cái tôitrữ tình trong thơ Tơng ứng với mỗi loại hình thơ, mỗi bài thơ là một kiểu cáitôi trữ tình nhất định nào đó Điều này làm nên sự phong phú, đa dạng của cáitôi trữ tình trong thi ca Cái tôi trữ tình chính là hạt nhân của tác phẩm trữtình, là trung tâm mọi hoạt động của thế giới nghệ thuật thơ, làm nên tínhthống nhất của tác phẩm Dù không đồng nhất nhng cái tôi trữ tình trong thơthờng là sự hiện diện của bản thân nhà thơ, nó vừa có sự thống nhất với nhàthơ “văn nh kỳ nhân”, hay “phẩm chất của thơ bắt nguồn từ phẩm chất của ng-ời” (Lu Hy Tái) vừa là “một hình tợng vợt ra khỏi nhà thơ” (R Becher) Cáitôi trữ tình là phẩm chất, nội dung, đối tợng của tác phẩm trữ tình
Trong Điêu tàn và Thơ không tên, cái tôi trữ tình đóng vai trò nh một
chủ thể phát ngôn cho những cảm nghĩ, suy t, mộng ớc của nhà thơ trớc cuộc
đời Cái tôi trữ tình trong thơ có nhiều hình thức biểu hiện Dù phong phú, đadạng trong cách thức tồn tại nhng bản chất của nó không thay đổi Điều đó chỉchứng minh rằng thế giới tâm hồn phong phú của nhà thơ đợc thể hiện dớinhiều góc độ khác nhau Cái tôi trữ tình luôn là cái cầu giao nối giữa cái tôinhà thơ với cuộc đời, thể hiện t duy nghệ thuật của nhà thơ Cái tôi trữ tìnhChế Lan Viên là sự thống nhất giữa thi nhân và tín đồ Nói cách khác thi nhân
và tín đồ là những dạng thức đặc biệt của cái tôi trữ tình nhà thơ, là sự hóa
Trang 35thân của cái tôi trữ tình Trong thế giới nghệ thuật thơ ông giai đoạn này, ẩnsau những hình ảnh thơ “kinh dị”, “lạ lùng” đợc thoát thai bởi một t duy siêuhình là hình bóng con ngời cô đơn mang nỗi bi kịch của mình và thời đại, ýthức sâu xa về nỗi đau tinh thần của bản thân Con ngời đó đang đắm chìmtrong suy tởng, mộng ớc và luôn khao khát hớng tới cái vĩnh hằng tuyệt đối.Trong dáng dấp của một thi sĩ đang hớng vọng về quá khứ tang thơng của mộtdân tộc, ngời thơ đó đã gom nhặt tất cả những cái rơi rụng, tàn phai để dệt nênnhững vần thơ ảo não, sầu đau, da diết lòng ngời Đó là những vần thơ nhuốmmột màu đỏ của máu, màu vàng của chết chóc và thấm đẫm vị mặn đắng của
nớc mắt Điêu tàn và Thơ không tên là sự thể hiện cho t tởng này: “Trong thơ
ta dân Chàm luôn sống mãi/ Trong thơ ta xơng máu khóc không thôi (Tựa”
Điêu tàn) Hay: Lời thơ ta đầy những điệu sầu bi“ / Đầy hơi thịt, ý ma, cùng sắc chết (Tiết trinh)” Quá khứ đau thơng của nớc non Chàm trở thành nguồn
cảm xúc dạt dào tuôn chảy những vần thơ rớm máu trong Điêu tàn: “Một chiều kia máu đào dâng lênh lámg/ Theo bút cùn huyết thắm nhẹ nhàng tuôn/
Đẩy những cảnh u huyền hay xán lạn/ Mà chiều kia ngời thấy ở Điêu tàn (Nguồn thơ của tôi).
” Tại sao nhà thơ lại tìm đến một miền thi liệu nh thế Bởivì, thi nhân quá đau buồn, cô đơn trong hiện tại mới tìm về quá khứ đau thơng
để mong đợc an ủi, sẻ chia, vỗ về Điều này là hợp với quy luật tình cảm củacon ngời Bằng trí tởng tợng phóng túng thi nhân đã vực dậy từ đống đổ nát,
điêu tàn một cõi tha ma mang dáng dấp của sự sống để giao hòa, đồng cảmvới tiền nhân Kỳ thực là thi nhân đang tự đối thoại với lòng mình, đang tâm
sự với chính mình Bởi bãi tha ma là một thế giới siêu thực, h vô đợc sinh ra từ
h cấu, tởng tợng, đó là thế giới tồn tại trong tâm linh thi sĩ Tìm đến quá khứ
buồn đau, để triền miên trong u hoài, buồn bã: “Bên tháp vắng còn ngời thi sĩ hỡi,/ Sao không lên tiếng hát đi ngơi ơi?/ Mà buồn bã, âu sầu trong đêm tối,/ Ngơi vẫn nằm há miệng đớp sao rơi.? (Đêm xuân sầu) Hình ảnh ngời thi sĩ
héo sầu bên tháp vắng, chìm lịm trong khổ đau, miên man với bóng tối đêmdài là hóa thân của cái tôi trữ tình nhà thơ Một cái tôi cô đơn, sầu não, dadiết, đau thơng Cái tôi đó xuất hiện dới hình dáng một thi nhân ý thức rất rõ
về bản thân, trong cơn đau sáng tạo nó đã dốc hết nỗi đau trong lòng mình lên
từng trang thơ, thành những khúc buồn thơng xúc động lòng ngời: “Và hồn, máu, óc tim trong suối mực/ Đua nhau trào lên giấy khúc buồn thơng (Tiết”
trinh), khiến cho những vần thơ thoát thai từ cái tôi kinh dị cũng trở nên rùng rợn, thê lơng, ảm đạm hơn: “Nền giấy trắng nh xơng trong bãi chém/ Bỗng
Trang 36run lên kinh hãi dới tay điên/ Tiếng bút đa rợn mình nh tiếng kiếm,/ Nạo những thành sọ trắng của ma thiêng (Tiết trinh)” Cái tôi thi nhân là một cái
tôi chìm lịm trong đau thơng sầu não, ngay từ khúc dạo đầu của Điêu tàn, nó
đã muốn nuốt cả khối xơng khô, say sa uống huyết trong sọ dừa, lang thang
trong cõi chết chỉ để thấy cảnh Đầu rơi, Xơng vỡ máu trào và để nghe tiếng
than khóc của ma hời, tiếng gào thét của quỷ không đầu… cầu nguyện những Cứ thế thi nhân đã
trôi đi trong điêu linh, tàn tạ, tang thơng: “Ta sẽ uống máu lan cùng tủy chảy/
Ta sẽ nhai thịt nát với xơng khô/ Lấy hơi ma nuôi sống tấm hồn mơ/ Luyện âm khí chuyển rung bao mạch máu (Máu x” ơng) Tồi tệ hơn nữa cái tôi thi sĩ đã
rơi vào trạng thái mê man, điên cuồng trong đau thơng tuyệt vọng, hãy xemnhà thơ khẩn khoản van lơn chiếc xơng khô:
Hãy về đây! Về bên ta mi hỡi!
Đem cho ta những phút rởn kinh hồn Những phút mộng điên cuồng mơ dữ dội!
(Xơng khô)
Dờng nh Chế Lan Viên đã tâm niệm ý tởng của Musset khi viết nênnhững vần thơ đau thơng nh thế này Musset cho là “không có gì làm cho tacao quý hơn là một nỗi đau thơng lớn” Phải chăng vì thế mà thi nhân đã dồnnén bao đau thơng trong lòng mình thành một tập thơ đầy kinh dị và lạ lùng
nh Điêu tàn Quả là, “Đau thơng ở đây đã lên đến tột cùng để trở thành thú vui
hởng thụ, đợc bộc lộ nh một thứ khoái cảm vật chất” [4, 37] Miên man tronggiấc mộng điên cuồng, chìm đắm trong một thế giới đầy máu xơng Cái tôi thi
sĩ thực chất đã rơi vào trạng thái đau thơng vô cùng tận Nỗi đau đó đợc cất
lên từ cõi lòng tan nát, vỡ vụn của thi nhân: “Và rót mau trong hồn ta tê liệt/ Những nguồn mơ rồ dại, hỡi yêu tinh/ … cầu nguyện những Để máu cạn, hồn tàn, tim tan vỡ/ Để trôi đi ngày tháng nặng u phiền (Điệu nhạc điên cuồng).” Đó là suy t của mộthồn thơ bế tắc, siêu hình Thi nhân cho rằng vũ trụ sẽ hóa ra h không, muôn
loài rồi tan rã kể cả khối yêu đơng ôm ấp ở trong hồn T duy siêu hình thi sĩ đã
lớn lên trong bối cảnh đất nớc đang rên xiết dới gót dày thực dân, không khíngột ngạt oi bức của những cuộc khủng hoảng kinh tế, khủng bố của Pháp,những tháp Chàm điêu linh, đổ nát ngày ngày đập vào mắt chàng thi sĩ đa sầunhạy cảm Tất cả cùng cộng hởng với nhau làm nên một cái tôi đau thơng, sầunão vào loại bậc nhất trong phong trào Thơ mới Cũng có lúc cái tôi siêu hình
đó đã thoát ra khỏi tổ kén của mình để lớt qua cuộc đời bằng đôi mắt hiệnthực, đó là lúc nhà thơ cảm nhận lối sống của một số thanh niên đang rơi vào
Trang 37vực thẳm của cuộc đời: “Những linh hồn cứ theo nhau sa ngã/ Trong tanh hôi
ô trọc của dơ bùn (Trứng thằn lằn)” Cái tôi thi nhân vừa chìm lịm trong đauthơng tuyệt vọng vừa vùng vẫy cố thoát ra khỏi đau thơng của cuộc đời Vì thế
ở Điêu tàn, ta còn gặp một cái tôi khát khao tự do, mong ớc hớng tới cái vĩnh
hằng tuyệt đối
Cái tôi trữ tình Điêu tàn còn hóa thân vào một tín đồ đang hớng tới đức
Phật linh thiêng Nếu trong cuộc đời Phan Ngọc Hoan không là tín đồ của mộttôn giáo nào thì ở trong thơ ta lại bắt gặp một Phật tử Chế Lan Viên ngoan
đạo, rất thành tâm, tha thiết, đang quỳ lạy trớc phật đài với một tấm lòngthành kính, tin tởng tuyệt đối vào phép màu nhiệm của Nh Lai:
Nh Lai ơi! Con góp hết lòng tin Xin quỳ đây nô lệ trớc chân thiêng
(Sôi nổi)
Chế Lan Viên nguyện làm nô lệ của Phật, khát khao đợc dâng hiến,
đem hết lòng tin, tấm chân tình lên tế lễ đấng linh thiêng Trong khoảnh khắcnày cái tôi thi nhân đang lẫn khuất dới bóng dáng một đức tin đang nghiêngmình kính cẩn trớc chân thiêng phật đài Hớng vọng về Nh Lai nh một đức tinsùng đạo nhng với thi nhân tìm đến cõi phật cũng không ngoài mục đích đợc
giải thoát khỏi bể khổ trầm luân của cuộc đời: “Rất nhiệm màu, ôi Đấng Cả Mâu Ni!/ Xin từng thác từng nguồn mau rộng mở/ Lòng thơng cao xuống lòng con đau khổ (Say ).” Phật tử Chế Lan Viên đang chân thành khẩn cầu lòngkhoan dung độ lợng, từ bi hỉ xả của Đức Nh Lai hãy đoái thơng đứa con lạcloài của Ngời đang đau khổ rên xiết dới cõi nhân gian Không chỉ thành tâmcầu nguyện nh một tín đồ ngoan đạo, Phật tử – thi sĩ tiền chiến nhà thơ Chế Lan Viên còntìm đến Phật để giải bày, mong tìm đợc niềm cảm thông, sẻ chia từ Ngời:
Giã từ lâu m
“ ời tám tuổi tơ non/ Tình ái chết và hồn con băng giá/ Chán ngán hết rồi khinh khi tất cả (Sôi nổi).” Không phải là lời sám hối trớc phật mà đứacon của Phật đang chia sẻ nỗi bất hạnh của mình với Ngời Không tìm thấyhạnh phúc trong cuộc đời, đau khổ trong tình yêu, chán ngán sự đời đứa concủa Phật lại quay trở về với Phật mong đợc sự yêu thơng, che chở trong vòngtay nhân ái của Ngời:
Hãy nắm lấy tay con, hãy ôm con vào ngực, Hãy để trong lòng cao, lòng thơ con thổn thức
(Sôi nổi)
Trang 38Tuy cõi niết bàn, Đức Phật chỉ là một thế giới siêu hình, mộng ảo nhngthi nhân đã đặt hết niềm tin và hy vọng vào đó, chỉ mong thoát khỏi kiếp nhânsinh khổ đau Thoát ly vào tôn giáo là một đặc điểm của cái tôi trữ tình ChếLan Viên giai đoạn này Dù lối thoát ấy chỉ mang lại “hạnh phúc h ảo” chocon ngời nhng đó là con đờng cứu rỗi linh hồn thi nhân không “sa ngã” vào
“tanh hôi”, “dơ bùn” của cuộc đời Xem chừng lối thoát vào tôn giáo của cáitôi Chế Lan Viên vẫn còn mực thớc và trong sáng hơn lối thoát tiêu cực, tựhủy hoại mình của một số thi sĩ lúc bấy giờ
Nh vậy, con đờng đi về với Phật của tín đồ Chế Lan Viên là xuất phát từnhu cầu đợc giải thoát của cái tôi thi sĩ Cõi Phật là lối thoát tâm linh, tinhthần của cái tôi đau thơng, tuyệt vọng Dù hiện tồn dới nhiều dạng thức khácnhau nhng luôn có sự thống nhất giữa thi nhân và tín đồ trong cái tôi trữ tìnhChế Lan Viên – thi sĩ tiền chiến một cái tôi đau thơng, sầu não, luôn khao khát hớng tới cõivô cùng
Đau khổ, cô đơn, bế tắc là tâm bệnh của thi sĩ Thơ mới Trong nỗi buồn
đau thế hệ, mỗi cái tôi thi nhân đã tìm cho mình một lối thoát Riêng tác giả
Điêu tàn đã chọn cái vô cùng của càn khôn vũ trụ làm đích đến cho một hồn
thơ Vũ trụ là nơi thi nhân khao khát, mơ ớc, mơ đợc Tắm trăng, Ngủ trong sao Trong thực tế cuộc sống, loài ngời dù đang bớc qua ngỡng của nền văn
minh hậu công nghiệp nhng ai trong chúng ta đã không một lần từng rơi vàocô đơn, bi kịch và mấy ai sống mà không nghĩ về kiếp nhân sinh hữu hạn đểxót xa cho chính mình Cũng vì thế con ngời luôn mang một khát vọng tộtcùng là đợc giải thoát khỏi mọi đau khổ, mọi bất định, mong manh của kiếpngời Giải pháp mà tiền nhân đã lựa chọn là hòa mình vào vũ trụ Đối với cácthi gia Đờng – thi sĩ tiền chiến Tống cũng nh các thi hào trung đại Việt Nam luôn ý thức đợc
sự cô đơn, bé nhỏ của con ngời trớc cái bao la của vũ trụ, nên họ thờng đăngcao, thớng sơn để hòa nhập vào đại vũ trụ Còn các nhà thơ thiền s luôn xemvạn vật trong vũ trụ biến đổi vô thờng, con ngời dù là sinh linh vĩ đại nhấtcũng không thoát khỏi lẽ vô thờng của tự nhiên với những thăng trầm biếndịch, bởi thế họ chấp nhận sự cô đơn nh một lẽ tự nhiên trong cuộc đời trầnthế Và họ đi tìm con đờng giải thoát, vợt cả giới hạn sinh tử bằng cách đa linhhồn cá thể hội nhập vào linh hồn bất diệt của vũ trụ Nh vậy khát vọng hòanhập vào vũ trụ là mạch nguồn truyền thống của văn học Phơng Đông, ChếLan Viên cũng là dòng chảy trong văn mạch đó Có khác chăng với ông,
Trang 39mong ớc đợc hòa mình vào vũ trụ là để chạy trốn cuộc đời, thoát khỏi mọi sầu
não, khổ đau của trần gian Đọc Điêu tàn ta thấy thi nhân hay tâm niệm về
một miền không gian cùng thẳm của trăng sao, lúc nào ngời cũng ám ảnh bởi
có ai đang réo gọi, mong đợi mình ở đó:
Ai kêu ta trong cùng thẳm H Vô
Ai réo gọi trong muôn sao chới với
(Ngủ trong sao) Ngay trong lời tựa Điêu tàn đã lộ diện chân tớng một cái tôi đang nằm
ngủ trong sao và cái tôi thi nhân không chỉ chiếm lĩnh đợc tầm cao của không
giới mà còn làm chủ nhân của vơng quốc đó nữa: “Tôi nằm ngủ ở trong sao … tung mây ngồi dậy … vỗ lên đầu sao khuê, Sao Đẩu, lên cả Nguyệt Cầu … và vênh vang, kiêu ngạo, ta lấy mây làm bút, lấy trăng làm mực đề lên nền trời xanh ” (Tựa Điêu tàn) Vũ trụ là nơi an ủi cho tấm lòng đau thơng của Chế
Lan Viên, là chốn nơng náu cho linh hồn cô đơn, sầu tủi của thi nhân Có lẽthế mà thi sĩ luôn khao khát đợc chiếm lĩnh, khám phá vũ trụ bao la, chứa đầy
bí ẩn kia Đó là một thế giới khác hẳn với hiện tại tù túng, ngột ngạt Chỉ ở đó
con ngời mới mong thoát khỏi vòng tục lụy của cuộc đời Chơi vơi lên khoảng
biếc thi nhân đã tìm đợc sự giao hòa, đồng điệu, đồng cảm với con ngời mà cụthể là một nàng Chiêm nơng trong mộng tởng Nhà thơ đã say mê, đắm đuốitận hởng niềm vui bất tận trong một không gian đậm đặc mộng mơ, ánh trăngbao la của vũ trụ không chỉ lan tỏa, thấm đẫm khắp đất trời mà còn lắng đọng,dát vàng dát bạc lên thân thể thi nhân, linh hồn bé nhỏ của thi nhân dờng nh
đã hòa đồng với cái mênh mông vô tận của đất trời, để vui say, chìm đắm,miên man trong cùng thẳm càn khôn vũ trụ Chính trong miền không gian này
ta nhận ra cái tôi say đắm, mơ màng, hạnh phúc khác xa với cái tôi u uất, đaubuồn, sầu tủi ở dới xa kia Dù đã lên tận xứ Hoa Trăng – thi sĩ tiền chiến nơi không còn nghetiếng động của trần gian nữa, nghĩa là nó hoàn toàn cách biệt với cõi trần Thếnhng đây chỉ mới là một trạm dừng chân trên con đờng đến cõi vô cùng Thinhân vẫn ấp ủ khát vọng hớng tới vô cùng, ngời vẫn hớng vọng lên chốn xa
xanh, thăm thẳm bao la kia, hãy xem nhà thơ tha thiết, khẩn cầu: “Có ai không trên tận đảo mây trôi?/ Quăng xuống đây dải lụa, hỡi ai ơi!/ Để mau
đem hồn ta đi cõi khác ( ” ánh sáng) Cõi khác mà thi nhân hớng vọng là một
thế giới ngào ngạt hơng hoa, miên man trăng sáng, thứ ánh sáng bao la huyền
hoặc vô biên tan chảy khắp không gian: “Trăng là trăng ngoài kia thôi chan chứa/ Thôi tràn trề ngây ngất những là trăng (Vo lụa).” ở đó con ngời không
Trang 40chỉ lăn lộn, tắm trong ánh sáng miên viễn, diệu kỳ của trăng mà còn vui say,
đắm đuối tận hởng bao tinh hoa, tinh túy của đất trời: Trăng ch“ a lấp đầy
x-ơng cha ngấm tủy/ Hồn vẫn còn cha uống hết hx-ơng hoa (Tắm trăng)” Mong
-ớc cháy bỏng của nhà thơ vẫn là muốn làm một ánh trăng trong để đợc siêu
thoát vào vô cùng: “Tôi là kết tinh của ánh trăng trong/ Sao không cho tôi đến chốn H Không? (Tắm trăng)” Khát vọng đợc hòa nhập, tan chảy vào ánh sánghuyền ảo của đất trời là khát vọng luôn thờng trực trong tâm thức nhà thơ, nó
đau đáu cuộn trào trong cõi lòng thi sĩ Nỗi khát khao mong chờ, nhớ thơng vũtrụ quá lớn lao, mãnh liệt cứ thôi thúc dục giã thi nhân phải khẩn trơng gấp
gáp: “Khát lắm rồi! Hãy mau cho tôi uống/ Cho nguôi đi nhớ tiếc với trông mong (Tắm trăng).” Hãy xem thi nhân đang say sa uống từng nguồn trăng,suối sao lung linh, rực rỡ Vậy mà hồn ngời vẫn thấy thiếu vắng Sự ham
muốn ấy ngày một táo bạo, mãnh liệt hơn: “Còn rất nhiều những suối vàng rực rỡ/ Múc ào đi trút cả xuống hầu tôi (Tắm trăng)” Đối với Chế Lan Viên
hớng đến cõi vô cùng là để thoát khỏi Cõi ta âm u tăm tối, nguồn gốc của
mọi khổ đau, tang thơng, phiền não trong cuộc đời để đi tìm chân lí giải thoát,siêu phóng cho chính mình, cho hồn thơ đợc tự do bay bổng, phiêu du trong
mênh mang mây trời, bát ngát trăng sao: “Cho linh hồn vụt đến xứ trăng sao/ Cho ta là không phải ta đây/ Mà sáp nhập vào tuổi tên cây cỏ! (Cõi ta)” ở
đó nhà thơ không phải là mình, không còn cảm giác cô đơn, lạc loài, khổ đaunữa mà thi nhân đã hóa thân, tan biến vào thiên nhiên, vào bao la đất trời, linhhồn thi sĩ cũng không phải đi hoang, bơ vơ không chốn nơng tựa nữa mà say
đắm, chìm lịm trong mộng ảo, trong h vô siêu hình: “Hồn say sa vào khắp cõi Trời Mơ (Ngủ trong sao).”
Với Chế Lan Viên đợc giao hòa, tan chảy trong bao la, vô cùng của đấttrời là để thoát khỏi những tù túng bế tắc trong cuộc đời, để đợc tự do tận h-ởng niềm vui say ở một thế giới khác nhng siêu thoát cũng chỉ để nguôi sầunhân gian Đó chỉ là cứu cánh để con ngời tạm quên đi nỗi sầu đau trong lòng
Dù cho thi nhân đã siêu thoát lên tận cõi trời mơ nhng tình đời trong Chế LanViên hãy còn nặng lắm, ngời vẫn cảm nhận đợc cái lao xao của sự sống trên
tận chín tầng trời: “Tiếng lao xao dội thấu đến cung Hằng (Ngủ trong sao)” Thế mới biết cuộc đời dẫu có “tang thơng dâu bể ”, con ngời dẫu có mơ mộng,lãng mạn đến đâu cũng không thể cắt đứt mạch nguồn sự sống luôn gắn vớicuộc đời Niềm khát vọng hớng tới cõi vô cùng hay đó là sự thể hiện của một