1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Từ chỉ thời gian trong thơ chế lan viên qua di cảo thơ (3 tập)

65 5 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 65
Dung lượng 486,57 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Anh là nhà thơ của thế kỉ, ng-ời có công đầu tiên trong việc tạo dựng nên khuôn mặt và tầm vóc thơ Việt Nam hiện đại Nguyễn Văn Hạnh Chế Lan Viên trực tiếp sống và làm việc ngay trên mả

Trang 1

Tr-ờng đại học vinh

Trang 2

Tr-ờng đại học vinh

Trang 3

Lời cảm ơn

nhận đ-ợc sự h-ớng dẫn tận tình, chu đáo của thầy giáo Th.s Trần Anh Hào

- giảng viên khoa Ngữ văn Đại học Vinh Đồng thời, tôi cũng nhận đ-ợc những ý kiến chỉ bảo, giúp đỡ tận tình của các thầy cô giáo trong tổ ngôn ngữ và đông đảo bạn bè

Nhân dip này, tôi xin đ-ợc bày tỏ lòng chân thành cảm ơn tới thầy giáo Th.s Trần Anh Hào, các thầy cô giáo, bạn bè và gia đình đã giúp tôi hoàn thành khóa luận này

Vì những điều kiện khách quan và chủ quan, khóa luận không thể tránh khỏi những thiếu sót Bởi vậy, chúng tôi rất mong đ-ợc sự đóng góp ý kiến của quý thầy cô và các bạn để có thể phát triển đề tài, hoàn thiện hơn vào dịp khác

Vinh, tháng 5 - 2008 Ng-ời thực hiện

Hoàng Thị Bích Liên

Lớp 45B1 - Ngữ Văn

Trang 4

Mục lục

Trang

Mở đầu 1

1 Lí do chọn đề tài 1

2 Lịch sử vấn đề 2

3 Đối t-ợng và nhiệm vụ nghiên cứu 5

4 Ph-ơng pháp nghiên cứu 5

5 Cái mới của đề tài 5

6 Cấu trúc khóa luận 6

Ch-ơng 1: Một số vấn đề chung 7

1.1 Thơ và đặc tr-ng ngôn ngữ thơ 7

1.1.1 Thơ là gì? 7

1.1.2 Những đặc tr-ng cơ bản của ngôn ngữ thơ 8

1.2 Vài nét về tiểu sử và sự nghiệp sáng tác của Chế Lan Viên 11

1.2.1 Tiểu sử 11

1.2.2 Sự nghiệp sáng tác 12

1.3 Vị trí thơ Chế Lan Viên trong nền văn học Việt Nam hiên đại 13

1.4 Ba tập Di cảo thơ 16

1.5 Vấn đề thời gian và thời gian trong thơ Chế Lan Viên 17

1.5.1 Khái niệm thời gian nhìn từ các góc độ khác nhau 17

1.5.2 Thời gian trong Di cảo thơ Chế Lan Viên 18

Ch-ơng 2: Đặc điểm của lớp từ chỉ thời gian trong thơ Chế Lan Viên 20

2.1 Về số l-ợng 20

2.2 Về nguồn gốc 23

2.2.1 Từ Hán Việt 23

2.2.2 Từ thuần Việt 24

2.3 Về cấu tạo 24

2.3.1 Từ đơn tiết 24

2.3.2 Từ đa tiết 25

Trang 5

2.4 Về từ loại 27

2.4.1 Thực từ 27

2.4.2 H- từ 30

2.5 Về ý nghĩa 32

2.5.1 Từ chỉ thời gian thể hiện cái nhìn h-ớng về quá khứ 34

2.5.2 Từ chỉ thời gian gắn với thời hiện tại và t-ơng lai 37

Ch-ơng 3: Sự kết hợp và chức năng của từ chỉ thời gian trong cụm và trong câu 42

3.1 Trong cụm 42

3.1.1 Bổ ngữ của cụm động từ và cụm tính từ 42

3.1.2 Định ngữ của cụm danh từ 44

3.2 Trong câu 46

3.2.1 Các thành phần câu 46

3.2.2 Các kiểu cấu trúc câu điển hình 48

Kết Luận 57

Tài liệu tham khảo 59

Trang 6

mở đầu

1 Lí do chọn đề tài

Chế Lan Viên là một hiện t-ợng kiệt xuất trong thơ ca dân tộc ngót một

thế kỉ Đời thơ của Chế Lan Viên gần nh- bao trùm lên cả thế kỉ XX trong

chiều dài và bề sâu của nó Anh là nhà thơ của thế kỉ, ng-ời có công đầu tiên trong việc tạo dựng nên khuôn mặt và tầm vóc thơ Việt Nam hiện đại (Nguyễn

Văn Hạnh)

Chế Lan Viên trực tiếp sống và làm việc ngay trên mảnh đất có nhiều biến động dữ dội của lịch sử dân tộc, sáng tác của ông tiêu biểu cho thời đại mình dang sống Mỗi chặng đ-ờng lịch sử, Chế Lan Viên lại đánh dấu một đỉnh cao trong sự nghiệp thơ của mình Tr-ớc cách mạng tháng Tám với tập “Điêu tàn” (1937) ông đã gây nên một “niềm kinh dị” (Hoài Thanh) trên thi đàn

Tiếp theo, thời kì 1945-1985 hàng loại tập thơ ra đời: ánh sáng và phù

sa (1960), Hoa ngày th-ờng, Chim báo bão (1967), Những bài thơ đánh giặc (1972) đánh dấu b-ớc chuyển biến về t- t-ởng, tình cảm tr-ớc những v ấn

đề bức thiết của thời đại Đặc biệt thời kì đổi mới với sự xuất hiện của ba tập

Di cảo thơ vào năm 1992, 1993, 1996 đã gây xôn xao d- luận trên văn đàn,

khẳng định một hồn thơ ch-a bao giờ chịu hạ cánh tr-ớc bất cứ một trở lực nào của cuộc sống Ba tập thơ có vị trí quan trọng đ-ợc nhiều ng-ời quan

Quả thật, Chế Lan Viên đã lần l-ợt đi từ “niềm kinh dị” này đến “niềm kinh dị” khác Ông đã để lại cho thế hệ độc giả hôm nay và mai sau một khối l-ợng thơ đồ sộ với một phong cách thơ đa dạng, giàu cảm xúc Chế Lan Viên còn góp phần không nhỏ vào việc làm phong phú hồn thơ dân tộc

Với phong cách thơ đa dạng, Chế Lan Viên còn để lại hàng nghìn trang

Di cảo mà trong đó có nhiều thi phẩm gây tiếng vang lớn, in đậm dấu ấn cá nhân - dấu ấn của một tài năng đầy cá tính, sắc sảo trong nền văn học Việt Nam hiện đại

Trang 7

Cuộc đời và sự nghiệp thơ Chế Lan Viên vẫn là đề tài hấp dẫn cho không

ít ng-ời đọc, các nhà lí luận, phê bình, nghiên cứu Đã có nhiều bài báo, tạp chí tuyển tập, công trình nghiên cứu phê bình, tiểu luận, luận văn, luận án viết về

sự nghiệp sáng tác của ông với cả niềm say mê, ng-ỡng mộ Đặc biệt gần đây

có một số công trình tập trung nghiên cứu về ba tập Di cảo thơ

Nhà thơ Chế Lan Viên mất đã mấy chục năm Có thể nói sự ra đi của

ông đã để lại một khoảng trống không gì bù đắp đ-ợc của nền thơ ca Việt Nam hiện đại Rất may việc làm có ý nghĩa của nhà văn, ng-ời bạn đời Vũ Thị

Th-ờng mà chúng ta có trên tay ba tập Di cảo thơ của ông Những bài thơ gửi

gắm bao nhiêu tâm huyết, bao nỗi niềm của nhà thơ tr-ớc cuộc đời, tr-ớc ng-ời, tr-ớc thơ, tr-ớc mình Chúng ta đến kinh ngạc và bàng hoàng khi có thêm hàng trăm bài thơ nữa, cả những bài còn dang dở hay những bài ở dạng phác thảo để góp vào di cảo vốn đã đồ sộ mà ông để lại tr-ớc lúc dời khỏi thế gian, bàng hoàng để rồi r-ng r-ng một nỗi xúc động khôn xiết

Đọc Di cảo thơ, ng-ời đọc cảm nhận đ-ợc những suy t-, trăn trở bộn

bề của nhà thơ về thế sự và cuộc đời Nh-ng trên hết vẫn là một tình yêu

đời thiết tha mà cho đến phút cuối cùng ông vẫn giữ trọn tình cảm chân thành, sâu sắc

Tuy nhiên, bàn về Di cảo thơ Chế Lan Viên lúc này là không đơn giản, hiện nay trong đời sống văn học còn ch-a đi đến đánh giá thốn g nhất về Di

cảo thơ - những giá trị, vị trí, những đóng góp của tác phẩm

Với dung l-ợng một khóa luận tốt nghiệp, chúng tôi lựa chọn đề tài Từ

chỉ thời gian trong thơ Chế Lan Viên qua Di cảo thơ nhằm góp phần nhỏ vào

việc nghiên cứu, tìm hiểu phong cách nghệ thuật thơ Chế Lan Viên ở giai

đoạn sau này Thực tế nghiên cứu Di cảo thơ mới chỉ ở giai đoạn đầu Do điều kiện khách quan, chủ quan và do trình độ có hạn, chúng tôi rất mong sự cảm thông và đóng góp của độc giả

2 Lịch sử vấn đề

Chế Lan Viên thành công ở cả thơ lẫn văn xuôi, đ-ợc in và xuất bản trong hơn một nửa thế kỉ Sau khi nhà thơ mất (1989), ng-ời bạn đời Vũ Thị

Trang 8

Th-ờng đã góp nhặt và tuyển chọn, đ-ợc Nxb Thuận Hóa ấn hành thành ba

tập Di cảo thơ trong ba năm 1992, 1993, 1996 Sự xuất hiện lần l-ợt ba tập Di

cảo thơ Chế Lan Viên có thể xem nh- một “cơn địa chấn nhỏ” trong đời sống

văn học dân tộc Di cảo thơ giúp ta hiểu hơn về một hồn thơ Chế Lan Viên -

một tài năng nghệ thuật thế kỉ XX- một tài năng đã đạt đỉnh cao ở mọi giai

đoạn, cống hiến trọn đời cho thơ ca Ngay khi mới ra đời, Di cảo thơ đã thu

hút sự chú ý của đông đảo ng-ời đọc và giới nghiên cứu, phê bình văn học Đã

có không ít bài viết luận bàn về Di cảo thơ với những cách nhìn, cách nghĩ

khác nhau, thậm chí là đối lập nhau Chúng tôi xin điểm lại một số ý kiến tiêu biểu sau đây:

Đoàn Trọng Huy trong diễn đàn băn nghệ VN, 10, 11, 12/19992 đã có

nhận định: Là một ng-ời quan niệm sáng tác rõ rệt từ khi cầm bút, Chế Lan

Viên có cảm thụ nhạy bén về không gian cũng nh- thời gian Cảm thụ thời gian là cả một quá trình Từ cảm thụ về thời gian gắn liền với ý thức mới về ý nghĩa cuộc đời, Chế Lan Viên đã xây dựng một hình t-ợng thời gian sinh

động, đầy gợi cảm, giàu suy t- [7, tr -159]

Trần Mạnh Hảo trong bài Ng-ời làm v-ờn vĩnh cửu, Nxb Hội nhà văn,

H, 1995 đã xem Di cảo thơ là sự hòa hợp giữa cảm xúc và lí trí, và với Di cảo

thơ Chế Lan Viên mãi là cây đại thụ thế kỉ XX trong lịch sử văn học n-ớc nhà

[4, tr -148] ở cái nhìn bao quát hơn, Nguyễn Bá Thành trong cuốn Thơ Chế

Lan Viên và phong cách suy t-ởng, Nxb Giáo dục, H, 1999, viết: Thơ Chế Lan Viên từ một tiếng thơ “ đập bàn, quát tháo, lo toan” tiếng thơ nhân danh lịch

sử, nhân danh dân tộc để đối thoại với kẻ thù Thơ Chế Lan Viên giờ là lời độc thoại nội tâm để tự trấn an [22, tr - 367] Tác giả đã đề cập đến sự chuyển đổi

trong t- duy nghệ thuật của Chế Lan Viên Ông khẳng định: Với Di cảo thơ

Chế Lan Viên trở về với thuở Điêu tàn [22, tr - 369]

Tác giả Nguyễn Thái Sơn trong bài viết Chế Lan Viên và Di cảo thơ, Báo văn nghệ số 4 ngày 11/3/1995 nhận xét: Có những tình cảm, những nỗi

niềm, những giá trị nhân văn và nghệ thuật mà chỉ đến khi đọc Di cảo của

Trang 9

ông, ng-ời đọc mới nhận ra Ta càng hiểu ông, kính trọng ông và th-ơng Chế Lan Viên hơn [4, tr - 344]

Khi bàn về Di cảo thơ 2, tác phẩm duy nhất lọt vào vòng chung khảo giải th-ởng Hội nhà văn, Ban chấp hành Hội nhà văn khẳng định: Di cảo thơ

giúp ng-ời đọc hiểu quá trình lao động, sáng tạo nghiêm túc, những trăn trở của một nhà thơ đến với cách mạng bằng nghệ thuật (Thông báo về giải

Ngoài ra, còn nhiều ý kiến khác bàn về Di cảo thơnh-ng nhìn chung,

các tác giả đều tập trung khẳng định một số vấn đề:

1 Đánh giá cao vai trò quan trọng của Di cảo thơ trong sự nghiệp sáng

tác của Chế Lan Viên

2 Khẳng định b-ớc chuyển biến cơ bản về cảm xúc, t- duy nghệ thuật của nhà thơ vào những năm cuối đời Sự chuyển biến này đ-ợc xem nh- một

sự tiếp nối trong mạch t- duy thơ Chế Lan Viên

3 Xem con đ-ờng nghệ thuật của Chế Lan Viên nh- một vòng trò n khép kín đi từ cái tôi đến cái ta và cuối cùng trở lại cái tôi

Theo sức khai phá mở đ-ờng của các nhà nghiên cứu, phê bình văn học

đã có một số luận văn thạc sỹ, luận văn tốt nghiệp tiến hành khảo sát thế giới nghệ thuật thơ Chế Lan Viên d-ới góc độ ngôn ngữ học nh- luận văn thạc sỹ

của Ngô Văn Huỳnh, Đặc điểm ngôn ngữ thơ Chế Lan Viên qua Di cảo thơ ,

2004 Phạm Thị Bích Hằng với So sánh tu từ trong thơ Chế Lan Viên qua 3

tập Di cảo thơ, 2006

Tuy nhiên, viết về Di cảo thơ Chế Lan Viên, vấn đề thời gian trong Di

cảo là một vấn đề nổi bật cũng đã có nhiều ng-ời nghiên cứu, đề cập nh-ng ch-a có bài viết nào đi sâu khảo sát lớp từ chỉ thời gian d-ới góc độ ngôn

Trang 10

ngữ học Do vậy nghiên cứu Di cảo thơ mãi còn là một đề tài hấp dẫn cho

nhiều nhà nghiên cứu, phê bình văn học và những ng-ời quan tâm, yêu thích thơ ông

3 Đối t-ợng và nhiệm vụ nghiên cứu

- Di cảo thơ- tập 1, Nxb Thuận Hóa, Huế, 1992

- Di cảo thơ- tập 2, Nxb Thuận Hóa, Huế, 1993

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Nhiệm vụ của chúng tôi khi nghiên cứu đề tài này nhằm:

- Thống kê và miêu tả lớp từ chỉ thời gian trong các tập Di cảo thơ của

- Ph-ơng pháp miêu tả, đối chiếu

5 Cái mới của đề tài

Đây là đề tài lần đầu tiên đi tìm hiểu, khảo sát đặc điểm ngữ pháp và ngữ nghĩa của lớp từ chỉ thời gian trong thơ Chế Lan Viên, từ đó rút ra một vài nhận xét về phong cách nghệ thuật của tác giả

Trang 11

6 Cấu trúc của khóa luận

Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, nội dung chính của khóa luận đ-ợc chia thành ba ch-ơng:

Ch-ơng 1: Một số vấn đề chung

Ch-ơng 2: Đặc điểm của lớp từ chỉ thời gian trong thơ Chế Lan Viên Ch-ơng 3: Sự kết hợp và chức năng của từ chỉ thời gian trong cụm và

trong câu

Trang 12

Một số vấn đề chung

1.1 Thơ và đặc tr-ng ngôn ngữ thơ

1.1.1 Thơ là gì?

Đi tìm lời giải đáp cho câu hỏi: Thơ là gì và thơ từ đâu mà có? nhân loại

đã trải qua chặng đ-ờng dài và đầy vất vả X-a aritxtôt (384-322 TCN) trong

“nghệ thuật thơ ca” đã bàn đến thơ ca và khẳng định: Thơ ca là nghệ thuật Tào Phi (187-226) khi đánh giá đặc tr-ng thể loại văn học đã nhấn mạnh: Văn

viết về tấu phải tao nhã, về th- và nghị luận phải cho chặt, về bia và văn tế phải cho thật, về thơ phú phải cho đẹp Bốn thể loại đó không giống nhau cho nên khó mà giỏi hết cả” (Điếm luận luận văn) Nh- vậy ngay từ buổi đầu,

thơ đã đ-ợc xem là một loại hình nghệ thuật về cái đẹp

Thơ là một thể loại nảy sinh từ rất sớm trong đời sống con ng-ời Nó thể hiện cảm xúc, tình cảm, rung động một cách trực tiếp của chủ thể trữ tình tr-ớc những biến thái đa dạng, phức tạp của cuộc sống Thơ tác động đến ng-ời đọc (ng-ời nghe) bằng khả năng nhận thức cuộc sống và khả năng gợi tả sâu sắc Nó vừa tác động trực tiếp vừa gián tiếp Tác động trực tiếp với nhiều cảm xúc, suy nghĩ lại, tác động gián tiếp qua liên t-ởng, t-ởng t-ợng Những tình cảm, cảm xúc mạnh mẽ đ-ợc thơ thể hiện bằng ngôn từ hàm súc, giàu hình ảnh và có nhịp điệu Chính những đặc tính phong phú đó của thơ mà

đã có nhiều cách định nghĩa, quan niệm, lí giải thơ khác nhau

Quan niệm thứ nhất cho thơ ca là một cái gì đó siêu nhiên, thần linh huyền bí Có nghĩa là, họ thần thánh hóa thơ ca và xem nhà thơ là ng-ời có năng lực cảm nhận đặc biệt có thể biểu đạt chúng Platon xem bản chất thơ thể hiện trong “linh cảm”

Quan niệm thứ hai xem bản chất của thơ mang yếu tố hình thức Ngôn ngữ thơ ca có khả năng bộc lộ một cách trực tiếp không thông qua sự hỗ trợ

Trang 13

của sự kiện hay cốt truyện Từ đó họ đi đến khẳng định: Thơ là sự sáng tạo ngôn từ, là tổ chức kết cấu

Quan niệm thứ ba, họ cho rằng: Không có cuộc sống, không có thơ ca

Họ đã gắn sứ mệnh và bản chất thơ với xã hội cuộc sống, hoạt động thơ ca là hoạt động t- t-ởng Thơ vừa là tiếng nói của tình cảm, cảm xúc nh-ng mặt khác thơ cũng gắn trực tiếp với một t- t-ởng, chủ đề nào đó T- t-ởng chủ đề

ấy là t- duy của nhà thơ, nhà văn về tính cách xã hội

Các quan niệm ở trên có khác nhau nh-ng cơ bản là đều làm rõ bản chất của thơ và vai trò sáng tạo của con ng-ời trong sáng tác thơ Tuy nhiên ta thấy rằng, những quan niệm này ch-a nêu lên đ-ợc đặc tr-ng riêng của thơ ca

Bạch C- Dị (772 - 846) đã đ-a ra nhận định: Cái cảm hóa đ-ợc lòng

ng-ời chẳng gì gần gũi bằng âm thanh, chẳng gì sâu sắc bằng ý nghĩa Nh-

vậy, theo Bạch C- Dị thơ có sự t-ơng ứng giữa nội dung và hình th ức Nội dung (tình cảm, ý nghĩa) và hình thức (ngôn ngữ, âm thanh) có mối quan hệ chặt chẽ làm nên chỉnh thể sống động

Nh- đã nói, có nhiều định nghĩa khác nhau về thơ nh-ng theo chúng tôi cách định nghĩa chung nhất, phổ biến nhất là của nhóm tác giả Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi:

Thơ là hình thức sáng tác văn học phản ánh cuộc sống, thể hiện những tâm trạng, những xúc cảm mạnh mẽ bằng ngôn ngữ hàm súc, giàu hình ảnh và nhất là có nhịp điệu [6, tr - 309].

1.1.2 Những đặc tr-ng cơ bản của ngôn ngữ thơ

Thơ là một hình thái nghệ thuật cao quý, tinh vi của sáng tạo văn học nghệ thuật Vì vậy, ngôn ngữ thơ tr-ớc hết phải là ngôn ngữ văn học, đó là

ngôn ngữ mang tính nghệ thuật đ-ợc dùng trong văn học và mang những đặc

tr-ng chung là tính chính xác, tính hàm súc, tính đa nghĩa, tính tạo hình và

biểu cảm [6, tr - 215]

Là một thể loại văn học, cũng nh- ngôn ngữ của các tác phẩm trữ tình khác, ngôn ngữ thơ đ-ợc tổ chức trên cơ sở nhịp điệu, hết sức cô đọng, hàm súc và đặc biệt gợi cảm Cụ thể hơn, nó đ-ợc hiểu là một đặc tr-ng về ngữ âm,

Trang 14

từ vựng, ngữ pháp nhằm biểu tr-ng, khái quát hóa hiện thực khách quan theo cách thức tổ chức riêng của thơ ca

1.1.2.1 Đặc tr-ng về ngữ âm

Ngôn ngữ thơ khác với văn xuôi Đặc điểm nổi bật nhất của ngôn ngữ thơ là tính nhạc Trong thơ việc tổ chức các ph-ơng tiện ngữ âm rất đ-ợc chú

ý Thế giới nội tâm của nhà thơ không chỉ biểu hiện bằng ý nghĩa của từ ngữ

mà còn bằng cả âm thanh và nhịp điệu Nếu nh- văn xuôi rất ít lặp lại các câu chuyện ngữ âm thì trong thơ lặp trở thành một biện pháp hữu hiệu Các thủ pháp nghệ thuật, biện pháp tu từ nh-: đối, điệp, láy, lặp tạo nên tính nhạc cho ngôn ngữ thơ - nét khu biệt giữa ngôn ngữ thơ so với văn xuôi

Tạo nên tính nhạc cho thơ phải kể đến hai yếu tố quan trọng là vần và nhịp Vần tạo nên nhịp, liên kết các dòng thơ, tạo sự hòa âm trong thơ ca Vần

điệu, tiết tấu đ-ợc tạo thành bởi các nguyên âm, phụ âm, thanh điệu bằng - trắc, bổng - trầm làm cho câu thơ, dòng thơ, đoạn thơ và cả trong bài thơ đều ngân vang tiếng nhạc diệu kì Quả thật là “thi trung hữu nhạc”, điều đó lí giải tại sao ngôn ngữ thơ đã trở thành nguồn cảm hứng vô tận cho các nhạc sỹ phổ nhạc Nhiều bài thơ đ-ợc phổ nhạc rất thành công và trở thành những ca khúc đi cùng năm tháng Đó là sự kết hợp ăn ý giữa nhạc của thơ và nhạc của âm nhạc tạo nên rung động kì diệu, lay động hàng triệu trái tim độc giả, thính giả

1.1.2.2 Đặc tr-ng về ngữ nghĩa

Nếu nh- văn xuôi hay văn bản khoa học, ngôn ngữ đòi hỏi phải nghĩa

đen, chính xác, không mang tính hình ảnh, trừu t-ợng thì trong địa hạt ngôn ngữ thơ ngoài giá trị biểu niệm, ngoài nghĩa đen, nghĩa gốc còn có ý nghĩa mới nhờ sự biến cải, chế tác của nhà thơ làm cho nó trở nên tinh tế hơn, đa dạng, hấp dẫn hơn Đó là nghĩa bóng, nghĩa ẩn dụ hay còn gọi là nghĩa biểu tr-ng của ngôn ngữ thơ Và vì thơ bị giới hạn bởi số l-ợng câu chữ, cấu trúc,

thể loại chi phối sự lựa chọn câu chữ lời ít ý nhiều cho nên trong thơ mỗi từ,

ngữ đ-ợc sử dụng linh hoạt, đa dạng

Quá trình chuyển nghĩa này trong thơ diễn ra nh- một đặc tr-ng khu biệt nó với các loại hình nghệ thuật khác, làm cho thơ ca có một sức cuốn hút

Trang 15

kì lạ đối với ng-ời đọc, ng-ời nghe ở mọi thời đại khác nhau Sự tiếp nhận văn học, đặc biệt là tiếp nhận thơ không phải là sự tiếp nhận bằng mắt, bằng tai mà còn bằng cảm xúc, tình cảm, trí t-ởng t-ợng phong phú Tức là ng-ời đọc, ng-ời nghe không chỉ để nghe, để đọc mà còn cả tâm thế của ng-ời tiếp nhận tạo nên một văn bản thơ cụ thể Điều này chứng tỏ ngôn ngữ thơ không chỉ là ph-ơng tiện để giao tiếp, giãi bày đơn thuần mà ở đó ng-ời sáng tạo và ng-ời tiếp nhận có thể gặp nhau ở một tầng nghĩa cao hơn

Thơ ca là ý tại ngôn ngoại (ý ở ngoài lời), là sự dồn nén chữ và nghĩa

Trong thơ có sự đan xen, xâm nhập, chuyển hóa giữa cái biểu đạt và cái đ-ợc biểu đạt tạo cho thơ có tầng nghĩa cao hơn Đi tìm hiểu, khảo sát thơ không phải là vấn đề đơn giản, chúng ta phải huy động trí t-ởng t-ợng phong phú, kinh nghiệm dồi dào để đào sâu vào “khoảng lặng” ở trong thơ Chính vì vậy, ngôn ngữ thơ luôn đ-ợc sáng tạo mới mẻ, t-ơi tắn làm cho cuộc hành trình của loài ng-ời thâm nhập vào địa hạt thơ trở nên thú vị, hấp dẫn

1.1.2.3 Đặc tr-ng về ngữ pháp

Thơ có sự bất bình th-ờng, có ng-ời nói thơ là tổ chức “quái đản” Tại sao? Vì trong thơ không có sự giới hạn câu chữ, không bị áp chế giữa dòng thơ và câu thơ Có khi những câu thơ có nhiều dòng thơ, lại có những dòng thơ gồm nhiều câu, các thành phần trong dòng thơ, câu thơ bị đảo lộn trật tự ng-ợc với văn xuôi Đây còn gọi là hiện t-ợng vắt dòng trong thơ ca Việt Nam hiên đại

Thơ ca nhiều khi giữa các dòng, các vế câu, các ý không có mối liên hệ lôgíc gì với nhau thậm chí phi lí, nh-ng ng-ời đọc, ng-ời nghe vẫn ngầm hiểu

đ-ợc các ý ở trong câu, sự ẩn náu của ngữ nghĩa sau bề mặt câu chữ Tầng nghĩa đằng sau cấu trúc ngữ pháp t-ởng nh- không lí giải đ -ợc, là bất hợp lí bỗng trở nên hợp lí, chấp nhận đ-ợc mà chỉ có thể có đ-ợc ở trong thơ

Từ sự kết hợp bất bình th-ờng trong dòng thơ, câu thơ dẫn đến khả năng sáng tạo nên những kiểu câu rất đa dạng Có câu thơ chỉ một âm tiết, có câu nhiều âm tiết, câu vắt dòng, câu đảo cú pháp, câu trùng lặp Làm nên sự đa dạng đó phụ thuộc vào bàn tay tài hoa của thi sĩ Nó không những ảnh h-ởng

Trang 16

đến quá trình tiếp nhận ngữ nghĩa của văn bản mà còn mở ra những chân trời ngữ nghĩa mới

Qua những đặc điểm về ngữ âm, ngữ nghĩa, ngữ pháp nh- vậy, ta thấy ngôn ngữ thơ quả là một thứ ngôn ngữ nghệ thật rất đặc thù, bởi nó không chỉ là sản phẩm thể hiện tài năng của ng-ời sáng tác mà còn là đối t-ợng đ-ợc lựa chọn để tiếp tục sáng tạo của ng-ời th-ởng thức Ngôn ngữ thơ có k hả năng diễn đạt những ý sâu xa không chỉ qua việc lựa chọn từ ngữ mà còn cả cách kết hợp chúng tạo nên những khả năng vô cùng trong việc sáng tạo cũng nh- khám phá những trạng thái tình cảm, tinh thần phong phú, bí ẩn của con ng-ời

1.2 Vài nét về tiểu sử và sự nghiệp sáng tác của Chế Lan Viên

1.2.1 Tiểu sử

Chế Lan Viên tên thật là Phan Ngọc Hoan, sinh năm 1920 trong một gia đình viên chức nhỏ Bố Chế Lan Viên là một ng-ời theo đạo Phật nên trong nhà có bàn thời Phật và lúc nhỏ Chế Lan Viên cũng đã chịu ảnh h-ởng khá sâu sắc thứ tôn giáo này

Ông quê ở Cam An - Cam Lộ - Quảng Trị Đây là một vùng quê nghèo

điều kiện tự nhiên khắc nghiệt với đất cằn, đá sỏi Chế Lan Viên chỉ ở quê h-ơng một thời gian ngắn, bảy tuổi (1927) ông theo gia đình vào lập nghiệp ở Quy Nhơn, Bình Định Đây có thể xem là quê h-ơng thứ hai của Chế Lan Viên, nơi đã để lại những dấu ấn sâu sắc trong tâm hồn nhà thơ Là trung tâm trong đất n-ớc Chiêm Thành, những dấu tích của một quốc gia phong kiến từng có một thời kì huy hoàng nay đã bị tan vong Ta vẫn còn bắt gặp nhiều nơi những dấu tích đó, mà tiêu biểu là những tháp Chàm cổ kính

Chế Lan Viên học ở Quy Nhơn đỗ bằng Thành Chung thì thôi học đi dạy t- kiếm sống

Năm 1939, ông ra học tại Hà Nội, sau vào Sài Gòn làm báo rồi ra

Thanh Hóa dạy học Năm 1942, ông cho ra đời tập văn Vàng sao, triết luận về

đời với màu sắc siêu hình, huyền bí Khi cách mạng tháng Tám bùng nổ, Chế Lan Viên tham gia phong trào Việt Minh Trong kháng chiến chống Pháp ông hoạt động văn nghệ và làm báo ở vùng liên khu IV, chủ yếu là ở chiến tr-ờng

Trang 17

Bình Trị Thiên Năm 1949 ông đ-ợc kết nạp Đảng (sau này ông có nhắc đến

sự kiện này trong bài thơ Kết nạp Đảng trên quê mẹ-1960)

Năm 1954, Chế Lan Viên tập kết ra Bắc làm biên tập viên báo văn học,

từ 1956 - 1958 ông công tác ở phòng văn nghệ, Ban tuyên huấn TW

Từ 1975, ông chuyển vào sống ở thành phố Hồ Chí Minh

Trong cuộc đời hoạt động của minh, ngoài c-ơng vị là một nhà thơ ông còn là một nhà hoạt động xã hội tích cực Ông là đại biểu Quốc hội từ khóa III

đến khóa VII và đã từng tham gia diễn đàn văn hóa Quốc tế (ông là một ng-ời giỏi nhiều ngoại ngữ: Trung Quốc, Nga, Anh )

Chế Lan Viên qua đời vào ngày 18/6/1989 tại Bệnh viện Thống Nhất, thành phố Hồ Chí Minh Nhà thơ Tố Hữu trong bài điếu văn có viết:

Mai sau những cánh đồng thơ lớn Chắc có tro anh bón sắc hồng

Chế Lan Viên mất và đã đ-ợc hỏa táng trong sự th-ơng tiếc, trân trọng của hàng vạn ng-ời

Năm 1996, nhà thơ Chế Lan Viên đã vinh dự đ-ợc nhà n-ớc trao giải th-ởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật (đợt I)

1.2.2 Sự nghiệp sáng tác

Chế Lan Viên bắt đầu sự nghiệp sáng tác rất sớm, từ 12-13 tuổi ông đã

bắt đầu làm thơ Năm 17 tuổi, ông xuất bản tập thơ đầu tay Điêu tàn với bút

danh Chế Lan Viên mà lời tựa đồng thời là lời tuyên ngôn nghệ thuật của

“Tr-ờng Thơ Loạn” (tiêu biểu với Hàn Mặc Tử) Từ đây cái tên Chế Lan Viên trở nên nổi tiếng trên thi đàn Việt Nam Ông cùng Hàn Mặc Tử, Quách Tấn, Yến Lan sáng lập nhóm thơ Bình Định gọi là Bàn Thành tứ hữu của Bình

Định, tạo dấu ấn cho thơ Mới đ-ơng thời

Trong sự nghiệp sáng tác, Chế Lan Viên để lại trên 10 tập thơ, hàng chục tập bút kí và tiểu luận phê bình cùng hàng ngàn trang Di cảo

Từ 1954 -1975 ông có các tập thơ: Gửi các anh (1955), ánh sáng và

phù sa (1960), Hoa ngày th-ờng (1967), Chim báo bão (1967), Những bài thơ

Trang 18

đánh giặc (1972), Đối thoại mới (1973), Hoa tr-ớc lăng Ng-ời (1976), Hái theo mùa (1977)

Khi cuộc đời đã xế bóng, ng-ời ta cứ ngỡ bút lực Chế Lan Viên đã kiệt cùng thể lực, nh-ng trong thực tế lại có một sự hồi sinh kì diệu, hồi sinh của một con ng-ời, một tâm hồn tha thiết yêu cuộc sống Những tập thơ tiêu biểu

sau thời kì đổi mới đã chứng minh điều đó: Hoa trên đá (1984), Ta gửi cho

mình (1986), Di cảo thơ I, II, III (1992, 1993, 1996)

Bên cạnh sáng tác thơ Chế Lan Viên còn là cây viết văn xu ôi sắc sảo với nhiều tập tùy bút, bút kí và phê bình văn học Tr-ớc Cách mạng tháng

Tám, Chế Lan Viên có tập văn xuôi triết lí Vàng sao (1942) bộc lộ những tìm

tòi, những bế tắc của nhà thơ về t- t-ởng nghệ thuật, lạc xa vào những suy nghiệm siêu hình, h- vô về bản thể Trong kháng chiến chống Pháp, Chế Lan Viên viết một số bút kí, phóng sự ghi lại những hình ảnh kháng chiến ở Liên

Khu 4 Sau tập bút kí Thăm Trung Quốc (1963), Chế Lan Viên ít viết bút kí

mà chuyển sang thể tài tùy bút - chính luận Tùy bút của ông đ-ợc tập hợp

trong các tập: Những ngày nổi dậy (1966), Giờ của số thành (1977), và rải rác trong các tập Suy nghĩ và bình luận (1972), Bay theo đ-ờng dân tộc đang bay

(1977), Nghĩ cạnh dòng thơ (1981)

Khao khát sống hết mình cùng thời đại, cộng với tài năng thiên phú và lao động sáng tạo không ngừng trong suốt cuộc đời, Chế Lan Viên đã để lại phía sau con đ-ờng nghệ thuật của mình những tác phẩm đỉnh cao, đứng vào

những thành tựu hàng đầu của văn học Việt Nam hiện đại

1.3 Vị trí thơ Chế Lan Viên trong nền văn học Việt Nam hiện đại

Lịch sử văn học Việt Nam đã từng xuất hiện ít nhất một đỉnh cao chót vót, cao đến mức mấy chục thế hệ các nhà thơ Việt Nam chạy tiếp sức đến hụt

hơi vẫn không tiếp cận đ-ợc ấy là Nguyễn Du, ấy là Đoạn tr-ờng tân thanh

Thơ Chế Lan Viên với độ sâu, tầm cao, tầm xa đã đạt đ-ợc cũng là một

đỉnh cao khắc nghiệt đối với những ai muốn v-ơn tới

Là một g-ơng mặt tiêu biểu của thơ ca Việt Nam, Chế Lan Viên đ-ợc

đông đảo bạn đọc công nhận là cây đại thụ của nền văn học Việt Nam thế kỉ

Trang 19

XX Trong tiến trình thơ ca hiện đại Việt Nam hiếm có một nhà thơ nào chiếm lĩnh đ-ợc cả ba đỉnh cao ở ba thời kì tiêu biểu nhất nh- Chế Lan Viên Cuộc

đời thơ Chế Lan Viên trải dài theo tiến trình phát triển của lịch sử văn học dân tộc Ông là ng-ời sống và sáng tác vắt qua cái mốc lịch sử của cách mạng tháng Tám - 1945 Nằm trong một giai đoạn văn học dân tộc có những b-ớc tiến triển theo yêu cầu, phù hợp thực tiễn cuộc sống đáp ứng yêu cầu thời đại Nhà thơ Chế Lan Viên đã có những đóng góp đáng kể góp phần cách tân nền thơ dân tộc, tạo nên diện mạo mới cho thơ ca giai đoạn 15 năm tr-ớc cách mạng đến việc xây dựng nền văn học mới sau cách mạng

Tr-ớc cách mạng, Chế Lan Viên sáng tác còn ít nh-ng cá tính sáng tạo

của một tài năng thơ đã đ-ợc bộc lộ Tập thơ đầu tay Điêu tàn (1937) ra đời đã

đánh dấu thành công b-ớc đầu của Chế Lan Viên, đ-a ông trở thành kiện t-ớng của phong trào thơ Mới, nh-ng sau đó lắng lại trong “niềm kinh dị” đối với giới nghiên cứu phê bình văn học và sự ng-ỡng vọng của hàng n gàn độc giả yêu thơ

Đang bế tắc thì cách mạng tháng Tám đem đến cho cuộc đời và thơ ông

một luồng sinh khí mới Chính tác giả cũng từng tâm sự: Cách mạng đã thay

đổi đời tôi, thay đổi thơ tôi (Đối thoại mới) Chế Lan Viên nhiệt thành đến với

cách mạng, hòa quyện tâm hồn thơ mình vào cuộc sống của nhân dân và của thời đại:

Con gặp lại nhân dân nh- nai về suối cũ

Cỏ đón giêng hai chim én gặp mùa Nh- đứa trẻ thơ đói lòng gặp sữa Chiếc nôi ngừng bỗng gặp cánh tay đ-a

(Tiếng hát con tàu)

Từ chỗ Ta là ai?nh- ngọn gió siêu hình đến khi gặp ánh sáng của Đảng

Trang 20

Cánh thơ Chế Lan Viên từng bay chạng vạng trong tháp Chàm lở lói, giờ đây nh- gặp ngọn gió lành bay lên, bay cao đến tận cùng của sự sáng tạo Hàng loạt tập thơ ra đời trong giai đoạn này chứng minh cho sự hồi sinh kì

diệu của Chế Lan Viên Năm 1955, ông cho ra đời tập thơ Gửi các anh đánh dấu một mốc bản lề của hai giai đoạn nh-ng phải đến ánh sáng và phù sa

(1960) Chế Lan Viên mới thực sự nổi bật với phong cách mới Lúc này Chế

Lan Viên đã thực sự v-ợt qua những “nỗi đau riêng” để hòa nhập với “niềm vui chung”, đã thực sự “từ chân trời của một ng-ời đến chân trời của mọi ng-ời” Từ đây, ông đã hoàn toàn từ bỏ cái lốt cảm xúc siêu hình cũ, để đón nhận ánh sáng mới làm vũ khí, phù sa của cuộc sống làm mật ngọt nuôi thơ

Ông đã kết hợp đ-ợc xúc cảm thơ và ý t-ởng, hài hòa cái đẹp bên ngoài và của tâm hồn để chế tác thơ Do vậy tài năng Chế Lan Viên có thêm điều kiện để phát huy Ông trở thành trụ cột của nền văn học mới trên nhiều ph-ơng diện: sáng tác, khảo cứu, phê bình văn học Chỉ tính riêng tác phẩm, trong hơn 50 năm sáng tác ông đã cống hiến vào nền thơ chung của dân tộc 14 tập thơ, trong đó có những tập thơ đạt giải th-ởng lớn của Hội nhà văn Việt Nam Thành công ấy không phải bất cứ nhà thơ nào cũng có đ-ợc

Thời kì sau 1975, Chế Lan Viên là đại biểu -u tú cho dòng văn học

cách mạng 1975 với các tập thơ: Dải đất vùng trời 1976, Hái theo mùa 1977,

Hoa trên đá 1984, Ta gửi cho mình 1986 Đặc biệt là những bài thơ in trong

Di cảo thơ I, I, III, ông lại thể hiện thêm sự phong phú trong phong cách nghệ

thuật của mình Thơ ông giai đoạn này mang chiều sâu một nhân cách ngày càng tha thiết với cuộc đời, với nghệ thuật Do đó thơ Chế Lan Viên sau 1975 mang vẻ đẹp thẩm mĩ mới, đại diện cho dàn đồng ca về thế sự của thơ ca Việt Nam sau 75

Chế Lan Viên là một tài năng chín sớm, ông đã kế thừa tinh hoa của thơ

ca ph-ơng Đông nh- thơ Đ-ờng, thơ Tống rồi thi ca ph-ơng Tây nh- thơ lãng mạn, thơ hiên thực Ông có ý thức sâu sắc về vai trò của nhà thơ trong đời sống hiện thực Chế Lan Viên chính luận, Chế Lan Viên triết lí, Chế Lan Viên

Trang 21

trữ tình nh-ng tất cả đều thống nhất từ nguồn cảm xúc lớn là cảm xúc trách nhiệm với cộng đồng, dân tộc của ông

Với những cống hiến trên, Chế Lan Viên xứng đáng là một cây đại thụ trong nền văn học n-ớc nhà

1.4 Ba tập Di cảo thơ

Những gì ta biết, ta đọc của ông chỉ mới là một phần nhỏ trong số thơ Chế Lan Viên đã viết Sau khi nhà thơ mất, ngay những ng-ời ruột thịt trong gia đình ông cũng bất ngờ bởi số l-ợng thơ Di cảo đồ sộ mà khi còn sống hình nh- ông vẫn giữ kín Mấy trăm bài thơ Di cảo đã hoàn chỉnh hoặc ở dạng phác thảo đ-ợc ông viết trong nhiều năm Tất cả những bài Di cảo đó đã đ-ợc ng-ời bạn đời, bạn văn thân thiết Vũ Thị Th-ờng góp nhặt, tuyển chọn và Nxb Thuận Hóa ấn hành thành ba tập, tập 1 - 1992, tập2 - 1993, tập3 -1996 Ba tập với 567 bài thơ ở dạng hoàn chỉnh và phác thảo mà phần lớn đ -ợc sáng tác trong 2 năm 1987-1988 (287 bài), đây là những năm cuối đời nhà thơ phải đối diện trực tiếp với thời gian gấp gáp của một cõi trần thế

Sự xuất hiện ba tập Di cảo của Chế Lan Viên đã tạo ra một sự thật: Di

cảo thơ đã tạo ra giá trị tổng thể v-ợt trội của tập thơ trong năm 1993 nói lên tính nhất quán trong toàn bộ sự nghiệp thơ ca của nhà thơ lớn Chế Lan Viên,

do đó cần đ-ợc đánh giá bằng giải th-ởng quốc gia (Trích “Thông báo về giải

th-ởng Hội nhà văn Việt Nam 1994” của Ban chấp hành Hội nhà văn Việt Nam, ngày25/09/1994) [4, tr - 394] Theo các nhà nghiên cứu văn học, chỉ riêng Di cảo cũng đủ làm nên một tầm vóc thơ ca lớn

Ba tập Di cảo thơ liên tiếp ra đời đã đ-ợc bạn đọc cả n-ớc nồng nhiệt

đón nhận Họ phát hiện ra nhiều điều thú vị mà Chế Lan Viên ch-a có dịp bộc

lộ Tuy nhiên, Di cảo thơ không phải là những sáng tác tái hiện một con ng-ời

Chế Lan Viên hoàn toàn khác so với Chế Lan Viên thời chống Mỹ mà ng-ợc lại rất thống nhất, bổ sung cho một hồn thơ vốn đã sâu sắc và tinh tế Đây cũng không phải là sự quay trở về của cái tôi cô đơn, tuyệt vọng nh- thuở

Điêu tàn, có thể nói Di cảo thơ là bản tổng kết cả một cuộc đời thơ miệt mài

sáng tạo, tổng kết cuộc đời con ng-ời thăng trầm của Chế Lan Viên Di cảo

Trang 22

thơ là phần đ-ợc sáng tác gần nh- suốt dọc chiều dài cuộc đời văn học của

Chế Lan Viên Nó bao gồm cả những bài thơ ông sáng tác từ tr-ớc cách mạng

tháng Tám cho đến lúc ông trút hơi thở cuối cùng Chính vì thế Di cảo thơ khá

phong phú và đa dạng, nó góp phần làm rõ quá trình chuyển biến, vận độ ng

của thơ Chế Lan Viên qua các giai đoạn Xét cho cùng, Di cảo thơ vẫn nằm trong mạch thống nhất của đời thơ, hồn thơ Chế Lan Viên, tuy nhiên có những

tình cảm, những nỗi niềm, những giá trị nhân văn và nghệ thuật mà chỉ khi

đọc Di cảo của ông, ta mới nhận ra (Nguyễn Thái Sơn)

Di cảo thơ có 32 bài đ-ợc viết trong thời kì 1937 - 1947 Một số bài bắc

cầu qua hai giai đoạn tr-ớc và sau 1975, phần lớn là những bài sáng tác vào những năm cuối đời 1986-1987-1988 Đây là những năm ông nh- nhìn thấy

cái chết và chạy đua với nó Quả vậy trong Di cảo thơ chủ yếu là ông viết cho

riêng mình Về kết cấu bài có thể ch-a hoàn chỉnh, đôi câu, đôi đoạn còn non lép hoặc trùng chất liệu với các bài khác nh-ng chủ để, ý tứ đã rõ và chúng nh- có một giọng thơ, một cách nói Cái cách nói nh- đang chuyện trò, đang lập luân, bình dị, bình dân

Tiếng thơ của Chế Lan Viên trong Di cảo là những tiếng lòng trung thành và chân thực đến mức muốn “lộn trái tâm hồn mình” ra cùng bạn đọc Tiếng thơ của ông cất lên t-ởng chỉ cho mình ông nh -ng thực chất cũng là những thông điệp của nhà thơ gửi đến với độc giả, với cuộc đời

1.5 Vần đề thời gian và thời gian trong thơ Chế Lan Viên

1.5.1 Khái niệm thời gian nhìn từ các góc độ khác nhau

Khái niệm thời gian luôn đi liền với không gian, đã có nhiều quan điểm nhìn từ các góc độ khác nhau về thời gian

Theo quan điểm triết học, thời gian là một ph-ơng thức tồn tại của vật chất, mọi sự vật, hiện t-ợng trong cuộc sống kể cả con ng-ời cũng đều tồn tại, vận động, phát triển trong không gian và thời gian nhất định , không một vật chất nào tồn tại ngoài thời gian, phi thời gian

Trong khoa học tự nhiên (vật lí học), thời gian đ-ợc dùng làm th-ớc đo chuyển động (tr-ớc đó - trong lúc đó - sau đó) và đo tốc độ (hơn - bằng - kém)

Trang 23

Theo Từ điển tiếng Việt, thời gian đ-ợc định nghĩa là hình thức tồn tại

cơ bản của vật chất (cùng với không gian), trong đó vật chất vận động và phát triển liên tục, không ngừng [12, tr - 939]

Thời gian và không gian theo cái nhìn thi pháp học là hình thức tồn tại

của thế giới nghệ thuật là sản phẩm sáng tạo của nghệ sỹ nhằm biểu hiện con

ng-ời và thể hiện một quan niệm nhất định về cuộc sống ở đây thời gian và

không gian thể hiện quan niệm về trật tự thế giới, về sự lựa chọn của con ng-ời thông qua những mô hình không gian, thời gian và cách sử dụng ngôn ngữ tạo nên nó Vì vậy, không gian, thời gian theo quan niệm thi pháp học mang đầy tính biểu tr-ng và tính quan niệm Các cặp đối lập thời gian và cả không gian trong thế giới đều có nội hàm của nó

Tóm lại, thời gian là đối t-ợng của nhiều ngành khoa học, mỗi ngành có những ph-ơng pháp, mục đích nghiên cứu khác nhau nên kết quả nghiên cứu cũng đa dạng Ngôn ngữ học xem xét thời gian với t- cách là phạm trù nghệ thuật, vì vậy nó mang đầy tính quan niệm và biểu tr-ng

1.5.2 Thời gian trong Di cảo thơ Chế Lan Viên

Thời gian tự nhiên tồn tại một cách tuyến tính theo trật tự tr-ớc sau liên tục Còn trong nghệ thuật, thời gian đ-ợc khúc xạ qua lăng kính chủ quan của

tác giả và đó là thời gian nghệ thuật Thời gian nghệ thuật không chỉ là quan

điểm của tác giả về thời gian mà là một hình t-ợng thời gian sinh động, gợi cảm, là sự cảm thụ, ý thức về thời gian đ-ợc dùng, là hình thức nghệ thuật để phản ánh hiện thực, tổ chức tác phẩm [14, tr - 273]

Thời gian trong văn học đ-ợc dùng làm ph-ơng tiện nghệ thuật để phản

ánh đời sống, thể hiện t- t-ởng Vì thế nó đã rất quan trọng góp phần tạo nên giá trị tác phẩm

Trong Di cảo thơ Chế Lan Viên, thời gian vừa là một mặt của tồn tại

khách quan đ-ợc phản ánh, vừa là công cụ nghệ thuật Song xét cho cùng, dẫu

là thời gian đ-ợc nhắc đến, đ-ợc gọi tên ra hay đ-ợc phản ánh nh- một mảng

đề tài thì nó cũng thể hiện một tâm trạng, một ý thức theo cách riêng biệt hay chính là tri giác chủ quan của nhà thơ về thời gian mà thôi

Trang 24

Thời gian trong Di cảo thơ là dòng thời gian khách quan đã in dấu ấn

một cá tính sáng tạo độc đáo khi nó đi vào ý thức chủ quan của nhà thơ Thời

gian hiện lên không chỉ qua những từ ngữ chỉ thời gian cụ thể, trực tiếp ngày,

tháng, năm, phút mà còn bởi những từ gián tiếp, những kết hợp từ độc đáo

có khả năng biểu thị thời gian: chóng vánh, chạy thục mạng, tóc xanh đã điểm

s-ơng ở Di cảo thơ thời gian đ-ợc sử dụng nh- một công cụ nghệ thuật và

nó trở thành một đề tài sáng tạo của nhà thơ Chế Lan Viên

Tiểu kết ch-ơng 1: Trong ch-ơng này, chúng tôi khái quát một số vấn

đề chung có liên quan đến đề tài: thơ và đặc tr-ng ngôn ngữ thơ, một vài nét

về tác giả Chế Lan Viên và tập thơ cuối đời của ông, vấn đề thời gian trong

Di cảo thơ Từ đó cho ta thấy, Chế Lan Viên - một tài năng nghệ thuật, cây

đại thụ của văn học Việt Nam thế kỉ XX Ông đã có những cống hiến to lớn

cho nền văn học dân tộc Di cảo thơ có thể coi là tập thơ đặc biệt thể hiện cảm

nhận về thời gian của nhà thơ

Trang 25

Ch-ơng 2

đặC điểm CủA lớp Từ CHỉ THờI GIAN

TRONG THƠ CHế LAN VIÊN

Trong ch-ơng này, chúng tôi chỉ đi vào khảo sát đặc điểm của lớp từ chỉ thời gian trong thơ Chế Lan Viên trên các mặt: Số l-ợng, nguồn gốc, cấu tạo,

Học bảy ngày triết học

Đi m-ời năm chiến tr-ờng

Đánh giặc ngoài trăm trận Tóc xanh giờ điểm s-ơng

(Chính ủy - Di cảo thơ 1,tr.146)

Cái vòng tròn của bánh xe, của vầng trăng Làm anh khổ

Nh-ng thời gian nh- thạch nhũ Thời gian ùa n-ớc lũ

Thời gian triệu năm cho uranium phóng xạ hóa ra chì Thì ích nỗi chi?

Trang 26

Phút nào anh cũng có thể hóa ra đất ra chì tức khắc

(Thời gian n-ớc xiết - Di cảo thơ 1, tr.66)

Chỉ là kỷ niệm ngày hôm nay xóa ngày qua

Kỷ niệm ngày qua phủ rêu phong lên ngày tr-ớc

Ai nói ngày mai không thành kỷ niệm

Và ngày mai kia lại xóa

Sáng mai này

Trong tổng số 1872 từ ngữ chỉ thời gian thì danh từ chiếm tỉ lệ cao nhất

là 341 từ với tần số xuất hiện 765 l-ợt từ đó là các từ: ngày, đêm, năm, tháng, lúc, khi

Tôi đi ng-ợc con sông thời gian đã mất Tìm lại cái tài năng đắm chìm ngày m-ời sáu tuổi Con sông x-a, nay đã cạn dòng trơ cát sỏi

Nh-ng đời đã cho tôi cái không gì sánh nổi Cái cuộc đời là bể - cứ gì sông

Khi anh gần chạng vạng Thì có ng-ời bình minh

Đừng lấy hoàng hôn anh ngăn cản Ban mai của họ sinh thành

Sau danh từ, động từ biểu thị thời gian cũng chiếm số l-ợng khá cao với

180 từ và 309 l-ợt từ xuất hiện

(Gửi ông Trạng Thông họ Hoàng -Di cảo thơ 1, tr.42)

Trang 27

Thời gian không phải năm tháng, phút giây

Mà bằng nháy mắt, chặc l-ỡi, đ-a tay Nháy mắt nhảy vào cái chết

Giờ anh đi

à quên, chính là gọi anh về

Về quê

Về cái gì nh- tiền thân mà anh đánh mất

Trong Di cảo thơ có nhiều tr-ờng hợp một từ xuất hiện nhiều lần chẳng

(Chiêm quốc u sầu -Di cảo thơ 2, tr.19)

Ngày vàng đã năm phen dong nắng l-ớt

Đất đã tịnh Mây đã buồn mây n-ớc

Thơ nghìn câu không nói hết một đời ng-ời đã vỡ Nghìn trang thơ không nói hết một cuộc đời đã vỡ

Trang 28

Từ “thời gian” xuất hiện khá nhiều trong ba tập “Di cảo thơ” lên tới hơn

60 l-ợt từ, riêng hai tập Di cảo 1, Di cảo 2 đã có 45 l-ợt từ: thời gian, sông thời gian, trọng tài thời gian, giặc giữ thời gian, sóng thời gian, thời gian trôi chảy, thời gian ùa n-ớc lũ,

Nh- vậy, có thể nói Chế Lan Viên đã sử dụng vốn từ biểu thị thời gian với dung l-ợng lớn trong thơ của mình

Số l-ợng từ Hán Việt trong Di cảo thơ chiếm tỉ lệ thấp chỉ 6,9% Chế

Lan Viên đã sử dụng từ Hán Việt nh- sau:

Xe son chậm một vành hoa ảo t-ởng Chói thiên thu Man mác tháng năm bay Mạch thời gian dâng trọn sóng sông đầy Trong một phút: lòng ta lên vĩnh viễn

Anh c-a nỗi buồn thiên niên kỉ ấy thành ra nhiều mảnh

Cơ nghiệp Tây Sơn hóa gạch ngói Con ng-ời thơ ấy đi về Hồng Lĩnh hay về đâu?

Có lẽ cả thời đại còn trong đầu thơ ấy

Trang 29

Thế mà hôm nay bỗng hoa râm

Và bạc trắng mái đầu!

2.2.2 Từ thuần Việt

Trong vốn từ chỉ thời gian trong thơ Chế Lan Viên từ thuần Việt chiếm

tỉ lệ rất cao 93,1% Ta thấy Chế Lan Viên sử dụng phần lớn các từ thuần Việt trong thơ tạo nên sự gần gũi, quen thuộc phù hợp với đông đảo công chúng,

độc giả Ngôn ngữ bình dân làm nên tính hấp dẫn dễ đi vào lòng ng-ời

Mà làm thơ hay không đ-ợc một ngày

Hơn đời anh chật chội Dài lâu hơn chớp nhoáng một tiếng c-ời Ngày mai, ng-ời ta nhặt nó tình cờ từ bụi đất

(Lệ ngọc - Di cảo thơ 2, tr.85)

Anh vẫn còn nguyên trái đất Anh tồn tại mãi

Không bằng tuổi tên mà nh- tro bụi Nh- ngọn cỏ tàn đến tiết lại chồi lên

Trang 30

Trong Di cảo thơ từ chỉ thời gian là đơn tiết có 271/735 từ chiếm 36.9%

chúng đ-ợc sử dụng đan xen rất phong phú trong câu thơ, dòng thơ

Hết năm hết năm rồi Những năm làm ra đời Câu thơ đang viết dở

2.3.2 Từ đa tiết

Số l-ợng từ đa tiết chiếm 63,1% (464/735 từ) hầu hết là những từ đ-ợc kết hợp từ hai âm tiết có nghĩa tạo sự kết dính, hòa quyện: năm tháng, bây giờ, quá khứ, muôn thuở, thế kỉ, cuộc đời, tr-ờng sinh, tồn tại, dồn dập,

Cái không đáng khóc bây giờ, ta sẽ khóc mai sau Mai sau mai sau khi chẳng còn ta nữa

Một chút nắng xao ở đầu ngọn gió

Là ta đấy mà, ai có biết đâu?

Họ ngỡ chỉ là mùa xuân trong v-ờn của họ

Có biết đâu đấy là ng-ời x-a về trong gió còn đau

Trong vở kịch nghìn đời, những ngôi sao nh- các diễn viên

đêm đêm về nguyên tại chỗ

Đóng vai trò ấy cho ng-ời các thế kỉ tiếp nhau xem

Trang 31

Ta buồn, vui, khóc, c-ời đâu phải vì vở kịch kia mà vì góc độ

Ta đứng trong cuộc đời sóng gió để nhìn lên

(Kịch sao - Di cảo thơ 2, tr.119)

Hạt s-ơng mong vĩnh cửu, tr-ờng tồn trên mạng nhện mong manh

Nh-ng cả hai đều có một kẻ thù chung,

Nh- vậy, trong tổng số những từ biểu thị thời gian thì số l-ợng từ đa tiết nhiều hơn từ đơn tiết 464 từ/271 từ Trong đó có một số từ đa tiết đ-ợc Chế Lan Viên sử dụng nhiều lần nh- từ “cuộc đời” 28 l-ợt xuất hiện, “thế kỉ” 19 l-ơt xuất hiện,

- Cuộc đời chả ba lơn nh- một chú hề

- Cuộc đời là trò chơi

- Nghìn trang thơ không nói hết một cuộc đời đã vỡ

- Phía bên này lá sen là cuộc đời quá cũ

Mà bên kia lá sen cũng là cuộc đời

Tôi cùng thế kỉ này già nh- nhau

Tôi chết tr-ơc Thế kỉ chết rồi, đẻ ra thế kỉ non hơn, 21

Và chắc chi thế kỉ sau còn yêu thơ nữa?

Cầu cho đừng dại dột nh- thế kỉ này thơ ít mà nhiều bom Cầu cho đừng khôn vặt nh- thế kỉ này

Để nuôi sống xác thân, đem làm thịt linh hồn

Trang 32

Bảng 2: Bảng tổng hợp về từ loại chỉ thời gian

Danh từ biểu thị thời gian chiếm số l-ợng lớn nhất trong thơ Chế Lan

Viên Chúng tôi đã khảo sát trong 2 tập Di cảo thơ có tới 341 từ với tần số 765 lần xuất hiện Danh từ chiếm tỉ lệ rất cao 46,4% (số l-ợng) và 40,9% (l-ợt từ)

Họ Ngô x-a để lại Rồi ngày mai lại về thế kỉ của ta

Ngày đăng: 03/12/2021, 00:00

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w