Lịch sử vấn đề Là một trong những tác giả hàng đầu, có những đóng góp lớn lao cho nền văn học Việt Nam hiện đại, do vậy Chế Lan Viên cùng sự nghiệp sáng tác của ông đã trở thành đối tượ
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH KHOA ĐỊA LÝ
- -
ĐÀO THỊ THỦY
THỂ THƠ, VẦN THƠ TRONG TẬP ÁNH SÁNG VÀ PHÙ
SA CỦA CHẾ LAN VIÊN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: NGÔN NGỮ
Giảng viên hướng dẫn: TS Đăng Lưu
Trang 2Nghệ an - 2012
Trang 3Do trình độ bản thân còn hạn chế, hơn nữa đây là lần đầu tiên tham gia nghiên cứu khoa học nên khoá luận này của chúng tôi không tránh khỏi những sai sót, rất mong nhận đuợc ý kiến đóng góp từ quý thầy cô và các bạn Xin chân thành cảm ơn
Vinh, ngày 08 tháng 5 năm 2012
Tác giả
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 5
4 Nhiệm vụ nghiên cứu 5
5 Phương pháp nghiên cứu 5
6 Cấu trúc khóa luận 5
Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ THUYẾT LIÊN QUAN 6
1.1 Chế Lan Viên và tập thơ Ánh sáng và phù sa 6
1.1.1 Chế Lan Viên tác gia và tác phẩm 6
1.1.2 Ánh sáng và phù sa - Con đường từ ‘‘thung lũng đau thương’’ ra ‘‘cánh đồng vui’’ 10
1.2 Vấn đề thể thơ 13
1.2.1 Thể thơ là gì ? 13
1.2.2 Các thể thơ được sử dụng chủ yếu của thơ ca Việt Nam hiện đại 16
1.2.3 Vai trò của thể thơ trong việc tổ chức một văn bản thơ 24
1.3 Vấn đề vần thơ 26
1.3.1 Vần thơ là gì? 26
1.3.2 Cách phân loại vần thơ và các loại vần trong thơ Việt Nam 27
1.3.3 Vai trò, chức năng của vần trong thơ 32
Chương 2 THỂ THƠ TRONG TẬP ÁNH SÁNG VÀ PHÙ SA CỦA CHẾ LAN VIÊN 35
2.1 Thể thơ trong tập Ánh sáng và phù sa - kết quả thống kê phân loại 35
2.2 Các thể thơ được sử dụng trong tập Ánh sáng và phù sa 36
2.2.1 Thể thơ tứ tuyệt 36
2.2.2 Thể tự do 43
2.2.3 Thể thơ lục bát 47
Trang 52.2.4 Thể song thất lục bát 50
2.2.5 Thể thơ bốn chữ 51
2.2.6 Thể thơ năm chữ 53
2.2.7 Thể thơ sáu chữ 54
2.2.8 Thể thơ bảy chữ 55
2.3 Đặc sắc về sử dụng thể thơ trong tập Ánh sáng và phù sa của Chế Lan Viên 56
Chương 3 VẦN THƠ TRONG TẬP ÁNH SÁNG VÀ PHÙ SA CỦA CHẾ LAN VIÊN 61
3.1 Vần thơ trong tập Ánh sáng và phù sa của Chế Lan Viên - Kết quả thống kê phân loại 61
3.2 Vần thơ trong tập Ánh sáng và phù sa xét theo vị trí hiệp vần 62
3.2.1 Vần chân 62
3.2.2 Vần lưng 68
3.3 Vần thơ trong tập Ánh sáng và phù sa xét theo mức độ hoà âm 73
3.3.1 Vần chính 73
3.3.2 Vần thông 76
3.3.3 Vần ép 78
3.4 Đặc sắc trong việc hiệp vần thơ của Chế Lan Viên trong tập thơ Ánh sáng và phù sa 79
Kết luận 82
Tài liệu tham khảo 85
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
1.1 Chế Lan Viên là một nhà thơ tài năng, nhà hoạt động văn học có
vị trí quan trọng trong nền văn học Việt Nam hiện đại Trong hành trình hơn nửa thế kỉ cầm bút, Chế Lan Viên đã để lại một khối lượng tác phẩm đồ sộ trên nhiều thể loại khác nhau: trên 10 tập thơ, hàng chục tập bút kí, tiểu luận, phê bình đã xuất bản, hàng ngàn trang Di cảo mới được tập hợp buổi đầu in thành 3 tập Di cảo Và ở bất cứ một lĩnh vực nào Chế Lan Viên cũng có những đóng góp lớn cho nền văn học Việt Nam Tuy nhiên nhắc đến Chế Lan Viên người ta vẫn nhắc đến ông nhiều nhất trong tư cách nhà thơ, bởi lẽ
ở lĩnh vực này ông đã ghi tên mình vào danh sách những nhà thơ hàng đầu của nề văn học dân tộc với những đóng góp lớn cho việc phát triển nền thơ Việt Nam
1.2 Vấn đề thể thơ, nhịp thơ là những vấn đề cơ bản của việc nghiên cứu thơ ca từ xưa đến nay, bởi đây là những yếu tố đặc trưng, yếu tố mang tính truyền thống và thậm chí có phần khuôn mẫu của thơ ca Bất cứ nhà thơ nào khi sáng tác thơ ca đều ít hay nhiều bị chi phối bởi việc tuân thủ quy tắc của các thể thơ và vần thơ Nói như vậy không có nghĩa là coi việc làm thơ chỉ đơn thuần là việc bắt chước theo khuôn mẫu, mà ngược lại còn cho thấy
sự khó khăn của tác giả khi phải sáng tạo vượt lên trên khuôn mẫu để tạo nên cái riêng của mình trong thơ Chế Lan Viên là một nhà thơ như vậy Ông sáng tạo không ngừng, không bằng lòng với những gì có sẵn Chính yếu tố đó trong con người ông đã thôi thúc ông liên tục tìm tòi, cách tân hình thức thơ ca Việt Nam Và Chế Lan Viên đã thành công Việc vận dụng các yếu tố hình thức trong các sáng tác của ông khá linh hoạt và sáng tạo Điều này được thể hiện trong tất cả 15 tập thơ lớn nhỏ trong sự nghiệp sáng tác của ông Trong số đó phải nhắc đến sự cách tân, sáng tạo trong việc sử
dụng thể thơ, vần thơ trong tập Ánh sáng và phù sa - tập thơ đánh dấu sự
Trang 7trưởng thành về tư tuởng cũng như nghệ thuật trên con đường sáng tác của tác giả
Vì những lí do trên, ở khoá luận này, chúng tôi lựa chọn đề tài nghiên
cứu “Thể thơ, vần thơ trong tập Ánh sáng và phù sa của Chế Lan Viên” Với
đề tài này, chúng tôi hi vọng sẽ góp phần làm rõ hơn những cái mới, những cách tân, những sáng tạo của Chế Lan Viên trong hai lĩnh vực thể thơ và vần thơ Qua đó khẳng định thêm một lần nữa công lao của Chế Lan Viên trong việc phát triển nền thơ ca dân tộc
2 Lịch sử vấn đề
Là một trong những tác giả hàng đầu, có những đóng góp lớn lao cho nền văn học Việt Nam hiện đại, do vậy Chế Lan Viên cùng sự nghiệp sáng tác của ông đã trở thành đối tượng nghiên cứu của rất nhiều đề tài khoa học
lớn nhỏ Theo thống kê chưa đầy đủ của cuốn Chế Lan Viên tác gia và tác
phẩm từ trước Cách mạng đến nay, đã có 165 công trình nghiên cứu về Chế
Lan Viên và thơ ca ông Trong phạm vi đề tài này chúng tôi chỉ điểm qua một số công trình, bài viết tiêu biểu về thơ của Chế Lan Viên
Trước Cách mạng có thể xem bài viết của Hoài Thanh về thơ Chế Lan
Viên trong cuốn Thi nhân Việt Nam là bài viết tiêu biểu nhất Trong bài viết
này Hoài Thanh đưa ra những đặc sắc về thơ của Chế Lan Viên và vị thế của ông trong phong trào thơ mới Hoài Thanh dự báo tầm vóc của Chế Lan Viên: “Con người này quả là con người của trời đất, của bốn phương, không thể lấy kích thước thường mà hòng đo được” [17; 224]
Sau Cách mạng thơ Chế Lan Viên liên tục được bạn đọc, các nhà phê bình quan tâm và trở đối tượng thảo luận trong rất nhiều Hội thảo khoa học Tháng 12 năm 1995, Phong Lan đã biên soạn sưu tầm các bài viết, các công
trình nghiên cứu có giá trị về thơ Chế Lan Viên và in thành tập sách Chế
Lan Viên - Người làm vườn vĩnh cửu Công trình này đã đánh giá khá toàn
diện về Chế Lan Viên trong việc cách tân hình thức thơ ca dân tộc từ thể thơ, thi tứ, đề tài cho đến vần và nhịp thơ Tuy nhiên, công trình mới chỉ
Trang 8đánh giá ở mặt tổng thể, mặt lớn, chứ chưa đi sâu vào khảo sát một cách tỉ
mỉ trong từng tác phẩm cụ thể
Năm 2001, Nhà xuất bản Giáo dục ấn hành cuốn sách Chế Lan Viên
về tác gia và tác phẩm Đây là công trình tham khảo hệ thống nhất về tác giả
Chế Lan Viên, có giá trị thâu tóm đầy đủ những nhận định về văn học trong thế kỉ XX, sát thềm thế kỉ XXI về sự nghiệp Chế Lan Viên Cuốn sách tập trung khá đầy đủ các bài nghiên cứu phê bình, các ý kiến chuyên sâu về nhiều phương diện khác nhau trong thơ Chế Lan Viên
Nguyễn Lộc trong bài viết Chế Lan Viên và những tìm tòi trong nghệ
thuật thơ cũng đã cố gắng đi sâu khai thác những yếu tố đặc sắc, điển hình
trong thơ Chế Lan Viên như: tính triết lí trong thơ, hình ảnh thơ, cảm xúc thơ Tác giả chủ yếu đi sâu nghiên cứu những tìm tòi của Chế Lan Viên trên phương diện nội dung
Trong việc nghiên cứu phong cách thơ Chế Lan Viên, từ trước đến nay, chúng ta cũng đã có rất nhiều công trình lớn nhỏ đề cập đến vấn đề này
Tiêu biểu nhất phải kể đến cuốn sách Thơ Chế Lan Viên với phong cách suy
tưởng của tác giả Nguyễn Bá Thành (1999) Có thể xem đây là một công
trình đã đem đến cái nhìn toàn diện, chuyên sâu về một vấn đề nổi bật, đặc sắc trong sự nghiệp thơ Chế Lan Viên - phong cách suy tưởng
Ngoài các công trình kể trên còn có hàng trăm công trình nghiên cứu khác về Chế Lan Viên và thơ ông mà trong phạm vi khoá luận này chúng tôi chưa thể khảo sát hết
Về tập Ánh sáng và phù sa - tác phẩm được Chế Lan Viên hoàn
thành và cho ra mắt vào năm 1960, ngay từ khi ra đời, tác phẩm đã nhận được nhiều ý kiến đánh giá khác nhau, và ngay lập tức trở thành đối tượng nghiên cứu của rất nhiều các đề tài khoa học
Xuân Diệu là một trong những tác giả đầu tiên đưa ra những ý kiến
phê bình về tập thơ này Trong bài viết Đọc Ánh sáng và phù sa, ông đã đưa
ra những ý kiến của mình về ưu, nhược điểm của tập thơ trên tinh thần
Trang 9khách quan, qua đó khẳng định vị trí của Chế Lan Viên và vị thế của Ánh
sáng và phù sa trên thi đàn thi ca bấy giờ
Lê Đình Kỵ trong bài viết Một phong cách thơ: Ánh sáng và phù sa
đã tập trung nghiên cứu, làm rõ chất trữ tình của tập thơ Tác giả đã giúp người đọc khám phá thế giới thơ với trí tưởng tượng bay bổng của Chế Lan
Viên qua tập thơ Ánh sáng và phù sa
Bài viết Ánh sáng và phù sa - sự kết hợp những rung cảm tế nhị với ý
tưởng trong thơ của tác giả Hà Minh Đức đi sâu nghiên cứu những cung bậc
cảm xúc, tâm trạng của Chế Lan Viên biểu hiện qua tập thơ Tác giả bài viết cũng đã đề cập đến một số vấn đề hình thức độc đáo trong tập thơ cũng như việc sử dụng tứ thơ, những hình ảnh thơ đẹp, những ý thơ độc đáo
Rất nhiều luận văn thạc sĩ, khoá luận tốt nghiệp đại học của các
tác giả khác nhau đi sâu vào một khía cạnh nào đó trong tập Ánh sáng và
phù sa
Về phương diện thể thơ, vần thơ trong sáng tác thơ của Chế Lan Viên,
từ trước đến nay cũng có nhiều công trình nghiên cứu đề cập ở những mức
độ khác nhau, có khi nghiên cứu thành hệ thống hoặc có khi chỉ điểm qua Tác giả Trần Thị Hằng đã nghiên cứu một cách hệ thống 1 thể thơ được Chế Lan Viên sử dụng nhiều trong sáng tác - thể thơ tứ tuyệt - trong công trình
Thơ tứ tuyệt Chế Lan Viên Đề tài khảo sát thơ tứ tuyệt được Chế Lan Viên
sử dụng trong 15 tập thơ của mình Tuy nhiên, đề tài chỉ khảo sát một thể trong rất nhiều thể thơ của Chế Lan Viên sử dụng và trên phạm vi rộng chứ không dừng lại ở một tác phẩm cụ thể
Như vậy có thể thấy, bằng cách này hay cách khác, các tác giả khác nhau khi nghiên cứu về Chế Lan Viên đã cố gắng làm rõ những thành công, những điểm đặc sắc trong thơ Chế Lan Viên, góp phần khẳng định vị thế của ông trong nền văn học dân tộc Nhưng cho đến nay, chưa có một công trình nào đi sâu tìm hiểu về phương diện thể thơ, vần thơ trong một tác phẩm cụ thể của Chế Lan Viên Vì vậy chúng tôi thực hiện đề tài này hi
Trang 10vọng sẽ góp phần mình vào việc là rõ thêm những thành công của Chế Lan Viên trong việc sử dụng thể thơ, vần thơ khi sáng tác thơ ca
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đề tài khảo sát thể thơ và vần thơ trong tập Ánh sáng và phù sa của
Chế Lan Viên
4 Nhiệm vụ nghiên cứu
Đề tài đi sâu nghiên cứu thể thơ và vần thơ trong tập Ánh sáng và phù
sa của Chế Lan Viên Qua đó làm rõ một số vấn đề:
- Về vấn đề thể thơ và các thể thơ chủ yếu được sử dụng trong nền thơ
ca Việt Nam hiện đại
- Vấn đề vần và vai trò của vần trong thơ ca
- Thể thơ, vần thơ trong tập Ánh sáng và phù sa của Chế Lan Viên, và
đóng góp của ông cho nền thơ ca hiện đại Việt Nam trong hai lĩnh vực thể thơ, vần thơ qua tác phẩm này
5 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện nhiệm vụ đã đề ra, ở khoá luận này chúng tôi sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:
- Phương pháp thống kê phân loại
- Phương pháp phân tích miêu tả
- Phương pháp khái quát tổng hợp
6 Cấu trúc khoá luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, nội dung của khoá luận gồm ba chương:
Chương 1: Những vấn đề lý thuyết liên quan
Chương 2: Thể thơ trong tập Ánh sáng và phù sa của Chế Lan Viên Chương 3: Vần thơ trong tập Ánh sáng và phù sa của Chế Lan Viên
Trang 11
Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ THUYẾT LIÊN QUAN
1.1 Chế Lan Viên và tập thơ Ánh sáng và phù sa
1.1.1 Chế Lan Viên tác gia và tác phẩm
1.1.1.1 Chế Lan Viên và những chặng đường thơ
Chế Lan Viên tên thật là Phan Ngọc Hoan sinh ngày 14 tháng 1 năm
1920 trong một gia đình viên chức nhỏ, quê ở Cam An, huyện Cam Lộ, tỉnh Quảng Trị, nhưng suốt thời trẻ lại sống ở Bình Định Quy Nhơn (Bình Định) được coi như quê hương thứ hai của nhà thơ Chế Lan Viên học ở Quy Nhơn, rồi Hà Nội, sau đó đi dạy học tư và làm báo ở các tỉnh miền Trung và Sài Gòn
Trong những năm học trung học, sống ở Quy Nhơn, trong bối cảnh đen tối ngột ngạt của xã hội thực dân nửa phong kiến, Chế Lan Viên lâm vào khủng hoảng bế tắc như bao tri thức trẻ đương thời Chế Lan Viên tìm đến các triết học duy tâm siêu hình và các tôn giáo khác mong một lối thoát
“Nỗi buồn ghê gớm ấy, những hư vô sâu thẳm nhất để lại cho tôi, chính do cái nền tôn giáo Mở đầu tôi yêu Chúa rồi tôi yêu Phật Tôi tìm Chúa qua các giáo lý của đạo Cơ Đốc, của Tin lành Và tôi tìm Phật nơi bàn phật của
cha tôi, ở kinh các chùa, và ở ngoài chùa nữa” ( Chế Lan Viên- Mất nỗi đau
riêng, được niềm vui chung, Báo văn nghệ- số 39, 1976)
Cách mạng tháng 8 thành công đã xóa tan bức màn ngột ngạt của xã hội, khai thông sự bế tắc tù túng cho nhiều văn nghệ sĩ trong đó có Chế Lan Viên Chế Lan Viên hăng hái tham gia phong trào Việt Minh ở Thị xã Quy Nhơn, rồi ra Huế làm báo Quyết Thắng của Việt Minh Trung Bộ Suốt cuộc kháng chiến chống Pháp Chế Lan Viên hoạt động văn nghệ và làm báo ở liên khu 4, là thường vụ Chi hội Văn nghệ liên khu IV Ông đã có hai chuyến đi vào chiến trường Bình Trị - Thiên ác liệt, tại đó năm 1949 ông đã được kết nạp vào Đảng cộng sản sau chuyến đi cùng bộ đội sau một chuyến
Trang 12dịch Sau 1951, Chế Lan Viên ra Hà Nội, làm biên tập viên báo văn học, công tác ở Hội nhà văn, tham gia ban chấp hành và ban thường vụ Hội Từ năm 1938 ông là uỷ viên ban thư kí của ban chấp hành Hội nhà văn khoá III Chế Lan Viên còn là nhà hoạt động xã hội tích cực Ông là đại biểu quốc hội
từ khoá III đến khoá VII, tham gia các uỷ ban văn hoá đối ngoại, có mặt ở nhiều diễn đàn văn hoá quốc tế, nhất là trong những năm chống Mĩ cứu nước
Chế Lan Viên mất ngày 19 tháng 6 năm 1989 (tức ngày 16 tháng 5 năm Kỷ Tỵ) tại bệnh viện Thống Nhất, lễ truy điệu và hoả táng được tổ chức vào ngày 26 tháng 6 năm 1989
Tiến trình sáng tác thơ ca của Chế Lan Viên phản ánh tiến trình vận động chung của thơ ca Cách mạng đương thời Con đường thơ của Chế Lan Viên trải qua nhiều biến động, thăng trầm với những trăn trở, tìm tòi, sáng tạo không ngừng
Trước Cách mạng, Chế Lan Viên cho ra đời tập Điêu tàn Tập thơ
được viết khi nhà thơ mới 17 tuổi, và lập tức gây một tiếng vang lớn trên thi đàn thơ Việt Nam đương thời, khi phong trào thơ mới đang ở giai đoạn cực thịnh với nhiều tài năng kiệt xuất Tập thơ “đã đột ngột xuất hiện giữa làng
thơ Việt Nam như một niềm kinh dị” (Hoài Thanh, Hoài Chân - Thi nhân
Việt Nam) Trong Điêu tàn Chế Lan Viên đã thể hiện cái chán nản gay gắt
của người thanh niên tri thức với hiện tại:
Với tôi tất cả như vô nghĩa Tất cả không ngoài nghĩa khổ đau
(Xuân)
Cách mạng tháng Tám thành công, Chế Lan Viên chia tay với những niềm kinh dị, với không khí u uất của những bóng ma Hời để đón chào Cách mạng và sống gắn bó với đời sống kháng chiến, đời sống nhân dân Chế Lan Viên lần lượt cho ra đời các tập ghi lại những giai đoạn khác nhau trong hành trình sáng tạo, hành trình phục vụ Cách mạng phục vụ nhân dân của
Trang 13mình Đó là: Gửi các anh (1955) trong kháng chiến chống Pháp, đó là: Ánh
sáng và phù sa (1960), Hoa ngày thường - Chim báo bão (1967), Những bài thơ đánh giặc (1972), Đối thoại mới (1975), Ngày vĩ đại (1975) trong kháng
chiến chống Mĩ Nhìn chung, thơ Chế Lan Viên trong giai đoạn này đã kịp thời phản ánh đời sống kháng chiến của nhân dân, giải quyết tốt các nhiệm
vụ mà nước nhà đặt ra trong thời chiến tranh
Sau 1975, thơ Chế Lan Viên tiếp tục phương hướng đã mở ra trong giai đoạn chống Mĩ, lúc này thơ ông có phần lắng xuống hướng về những
vấn đề lịch sử hàng ngày Cụ thể như những tập: Hoa trước lăng Người (1976), Hái theo mùa (1977), Hoa trên đá 1 (1984), Ta gửi cho người
(1986), Hoa trên đá 2 (1988) và đáng kể nhất là 3 tập Di cảo thơ 1, 2, 3
(1992, 1993, 1996) với khoảng 600 bài thơ và gần 800 trang sách được xuất bản sau khi Chế Lan Viên qua đời Và theo nhận định của Đoàn Trọng Huy
“Nếu trước 1975, thế giới của Chế Lan Viên hiện ra với không gian của chiến trường, của những chiến luỹ, chiến hào, những trận tuyến, thì Chế Lan Viên sau 1975 lại nhường chỗ cho không gian đời thường Giờ đây, Chế Lan Viên chuyển sang khuynh hướng khai thác chính con người với những diễn biến trong cuộc sống đời thường Trước đây nét nổi bật trong thơ Chế Lan Viên là nét chính luận thì dần dà nó chuyển thành chính luận - triết luận”
(Chế Lan Viên - một ngọn cờ cách tân thơ ca, văn nghệ số 25) Giọng điệu
thơ ông cũng đổi mới, giọng xưa kia hợp với những trường ca, những khúc
bi hùng, những khẩu lệnh thấm đượm chất sử thi anh hùng, thì giờ đây ông lại hát ca với tiếng thơ sâu lắng hơn:
Giọng cao bao nhiêu năm, giờ anh hát giọng trầm Tiếng hát lẫn vào im lìm của đất
(Giọng trầm, Di cảo thơ 1)
Có thể nói, Chế Lan Viên sau chiến tranh đã kịp thời chuyển ngòi bút, tìm tòi hướng đi mới cho thơ, phục vụ những vấn đề bức thiết của xã hội
Trang 14Đó là bước chuyển của con người thực sự có lương tâm, trách nhiệm của
người cầm bút
Không bằng lòng với những gì đã có, liên tục tìm tòi sáng tạo, đó
chính là con người, con đường thơ của Chế Lan Viên Nhờ vậy thơ ông cho
đến ngày nay và mãi mai sau vẫn chứa đựng những giá trị lớn lao không thể
mai một
1.1.1.2 Các tác phẩm chính
Hơn nửa thế kỉ cầm bút, Chế Lan Viên đã để lại 15 tập thơ, 7 tập văn
xuôi, 8 tập tiểu luận phê bình Cụ thể:
Về thơ:
1/ Điêu tàn (1937) 2/ Gửi các anh, NXB Hội nhà văn, 1955
3/ Ánh sáng và phù sa, NXB Văn học, 1960
4/ Hoa ngày thường - Chim báo bão, NXB Văn học
1967
5/ Những bài thơ đánh giặc, NXB Thanh niên, 1972
6/ Đối thoại mới, NXB Văn học, 1973
7/ Ngày vĩ đại, NXB Văn học giải phóng, 19767
8/ Hoa trước lăng Người, NXB Thanh niên, 1976
9/ Hái theo mùa,NXB Tác phẩm mới, 1977
10/ Hoa trên đá 1, NXB Văn học, 1984
11/ Ta gửi cho mình, NXB Tác phẩm mới, 1986
12/ Hoa trên đá 2, NXB Văn học, 1988 13/ Di cảo thơ Chế Lan Viên, Tập 1, NXB Thuận Hoá
Trang 15Về văn xuôi :
1/ Vàng sao, 1942
2/ Thăm Trung Quốc (Bút kí), NXB Văn học, 1963
3/ Những ngày nổi giận (Bút kí), NXB Văn học, 1966
4/ Bác về quê ta (Tạp văn), NXB Nghệ An, 1972
5/ Bay theo đường dân tộc đang bay, NXB Văn nghệ giải
phóng 1976
6/ Giờ của số thành (Bút kí), NXB Lao động, 1977
7/ Nàng tiên trên mặt đất, NXB Kim Đồng 1985
Về tiểu luận phê bình:
1/ Kinh nghiệm tổ chức sáng tác, NXB Thép mới, 1952
2/ Nói chuyện thơ văn (Làng văn), NXB Văn học, 1960
3/ Vào nghề (Chàng văn), NXB Văn học, 1962
4/ Phê bình văn học, NXB Văn học, 1962
5/ Suy nghĩ và bình luận, NXB Văn học, 1971
6/ Nghĩ cạnh dòng thơ, NXB Văn học, 1981
7/ Từ gác Khuê văn đến quán trung tâm, NXB Tác phẩm mới,
1981
8/ Ngoại vi thơ, NXB Thuận Hoá, 1987
Chế Lan Viên là nhà thơ tài năng, nhà văn hoá đã có những đóng góp
to lớn cho nền thơ văn Việt Nam và văn hoá Việt Nam Ông được nhà nước tặng giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật năm 1996 (Đợt 1)
1.1.2 Ánh sáng và phù sa - Con đường từ ‘‘thung lũng đau thương’’ ra
‘‘cánh đồng vui’’
Ánh sáng và phù sa được Chế Lan Viên sáng tác vào giai đoạn từ
1955 - 1960, giai đoạn mà cả nước đang ở trong tư thế làm chủ, hăng hái xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và đấu tranh thống nhất nước nhà ở miền Nam Tập thơ ra đời lập tức trở thành một hiện tượng văn học Nó được in với số lượng lớn nhất vào lúc bấy giờ bán hết trong vòng hai tháng
Trang 16Tác phẩm này được xem là đỉnh cao thứ hai trong sự nghiệp sáng tác của
Chế Lan Viên sau Điêu tàn
Ánh sáng và phù sa ghi lại những cố gắng, những phấn đấu trong tâm
hồn và tư tưởng nhà thơ để ‘‘vượt qua những nỗi đau riêng, hoà niềm vui chung’’ Hành trình đó quả thật không hề đơn giản, nó không tiến nhanh mà chầm chậm từng bước một, nó đòi hỏi sự kiên trì và lòng quyết tâm của con người :
Ta lấn từng nỗi đau như mùa chim lấn vành đai trắng Lấn bệnh tật mà đi, màu đỏ lấn da xanh
Bốn bức tường vôi chận lấy đời mình
Qua Ánh sáng và phù sa Chế Lan Viên đã thực sự ‘‘từ chân trời của một
người đến chân trời của mọi người’’, hay nói đúng hơn đó là sự vượt thoát,
sự chiến thắng của sự sống chiến thắng bệnh tật, chiến thắng cái chết :
Nhìn nước mắt tạnh màu nước mắt Nhìn tay gân xanh bay mất
Nhìn bắp chân thịt căng rồi Nhìn mặt đỏ hồng như da mặt Soi gương hồng cả gương soi
(Ngoảnh lại mùa đông)
Vượt qua nỗi đau riêng, tìm đến niềm vui chung, tập thơ thấm nhuần niềm tin yêu, lòng biết ơn và sự gắn bó sâu sắc của nhà thơ với nhân dân, với đất nước và Đảng Tâm hồn nhà thơ mở rộng đón lấy cái tha thiết của tình người, của tình đời và nhà thơ đã thật gắn bó máu thịt với nhân dân :
Trang 17Con gặp lại nhân dân như nai về suối cũ
Cỏ đón giêng hai, chim én gặp mùa Như đứa trẻ thơ, đói lòng gặp sữa Chiếc nôi ngừng bỗng gặp cánh tay đưa
(Tiếng hát con tàu)
Khép lại thế giới đau thương, cô đơn, bi luỵ trước Cách mạng, bây giờ nơi đâu Chế Lan Viên cũng thấy đó là quê hương, đó là đồng bào, đó là ruột thịt :
Khi ta ở chỉ là nơi đất ở
Khi ta đi đất đã hoá tâm hồn
(Tiếng hát con tàu) Ánh sáng và phù sa không chỉ đặc sắc về nội dung tư tưởng mà còn
ghi nhận những bước tiến vững vàng của Chế Lan Viên về nghệ thuật thơ
Nếu Gửi các anh còn để lại ấn tượng về một sự cố gắng đổi mới nhưng chưa đạt đến độ chắc chắn, thì ở Ánh sáng và phù sa những đổi mới về nội dung
đã đi liền với một nghệ thuật biểu hiện đa dạng và nhuần nhuyễn Bút pháp Chế Lan Viên đến đây đã đạt đến sự linh hoạt, biến hoá đa dạng Có những
bài dạt dào cảm xúc như Kết nạp Đảng trên quê mẹ, Tiếng hát con tàu Có
những bài có giọng trầm tư chứa chất những suy ngẫm triết lí rút ra từ cuộc
đấu tranh nội tâm thầm lặng mà quyết liệt : Nhật kí người chữa bệnh, Nay
đã phù sa, Ngoảnh lại mùa đông Có những tình ca : Tình ca ban mai, Hoa đào nở sớm Lại có những vần thơ đả kích kẻ thù một cách sâu cay : Ngô thuốc độc ngợi ca máy chém, Tiếng hát thằng điên trong dinh độc lập Hồn
thơ ấy có khi cô đọng, hàm súc trong khuôn khổ ngắn gọn của thơ tứ tuyệt,
có khi lại bay bổng phóng khoáng, thả sức tưởng tượng qua những bài thơ tư
do với những câu thơ mở rộng : Cành phong lan bể, Tàu đến, Tàu đi Qua
Ánh sáng và phù sa, Chế Lan Viên đã thực sự vượt khỏi bóng tối dày đặc
của quá khứ trong tâm tưởng của mình để đón nhận ánh sáng lí tưởng của cách mạng và bồi đắp bằng phù sa của nhân dân
Trang 18Như vậy, một Chế Lan Viên ở Ánh sáng và phù sa nhiệt tình sôi nổi
đã khác với một Chế Lan Viên cô đơn tù túng ở Điêu tàn Như Lê Đình Kị
đã đánh giá ‘‘Trước kia anh viết về những chiêm nương, bóng tháp, thì ngày nay anh viết về Đảng, về lãnh tụ… Trước kia chủ nghĩa siêu hình trùm lên
thơ anh, thì nay anh viết về những chủ đề thời đại ’’ (Một phong cách thơ :
Ánh sáng và phù sa ) Nếu Điêu tàn là u uất đau khổ, thì Ánh sáng và phù sa
là hạnh phúc hoan ca Nếu Điêu tàn là cái chết, là thế giới của những bóng
ma, thì Ánh sáng và phù sa là sự sống, là thế giới của những người yêu lao
động hăng say chiến đấu Cái khác đó là cái khác của sự thay đổi, của sự tiến lên của con người được ánh sáng của lí tưởng chiếu soi Và theo nhà
nghiên cứu Ngô Văn Phú thì ‘‘Ánh sáng và phù sa đã trở thành niềm sửng
sốt thứ hai mà Chế Lan Viên đem lại cho thi đàn Việt Nam Có thể xem đây
là tập thơ hay nhất của ông Sự thành công này đã đưa Chế Lan Viên đứng
ngang hàng với những nhà thơ cùng thế hệ như Huy Cận với Trời mỗi ngày
lại sáng, Xuân Diệu với Mũi Cà Mau, Tế Hanh với Gửi Miền Bắc’’ (Từ Điêu tàn đến Hoa trên đá, văn nghệ số 15) Ánh sáng và phù sa chính là một
bước đi, một nấc thang mới của hồn thơ Chế Lan Viên
1.2 Vấn đề thể thơ
1.2.1 Thể thơ là gì ?
Tác phẩm văn học là sự thống nhất trọn vẹn cuả các yếu tố đề tài, chủ
đề, tư tưởng nhân vật, kết cấu, cốt truyện, lời văn, là sự thống nhất giữa nội dung và hình thức Trong đó tương ứng với mỗi một nội dung nhất định có một loại hình thức nhất định, tạo cho tác phẩm một hình thức tồn tại chỉnh thể Trên thực tế, số lượng tác phẩm văn học mà con người có được từ trước đến nay là vô cùng đồ sộ và khó có thể định lượng Cùng với sự đồ sộ về khối lượng ấy là sự phức tạp, muôn hình vạn trạng của các yếu tố nội dung cũng như hình thức của các tác phẩm văn học
Đứng trước sự đa dạng, phức tạp của các sáng tác văn học, để thưởng thức, nghiên cứu, phê bình, nắm bắt các quy luật của văn học, người ta nảy
Trang 19sinh nhu cầu phân loại các tác phẩm văn học, tìm điểm chung giữa các sáng tác văn học khác nhau Từ đó, đề xuất các cách tiếp cận, phương hướng tiếp cận hiệu quả
Nhu cầu phân loại tác phẩm nảy sinh cùng lúc với việc sáng tác chúng Do vậy từ trước đến nay đã có rất nhiều cách phân loại tác phẩm văn
học khác nhau được đưa ra Giáo trình Lí luận văn học của nhà xuất bản Đại
học sư phạm do giáo sư Trần Đình Sử chủ biên đã đưa ra ba hướng phân loại tác phẩm văn học tiêu biểu từ trước đến nay :
Hướng thứ nhất là cách chia ba truyền thống của văn học phương Tây Theo đó các tác phẩm văn học được chia thành 3 loại : tự sự, trữ tình, kịch Cách chia này chú trọng yếu tố của chủ thể và đặc trưng nội dung của thể loại
Hướng thứ hai là cách chia các tác phẩm văn học thành 4 loại : thơ ca, văn xuôi, tiểu thuyết, và kịch của các nhà nghiên cứu văn học Trung Quốc Cách chia này kết hợp các tiêu chí nội dung và tiêu chí hình thức khi phân loại Chính vì lẽ đó mà nhiều kết quả phân loại không thuyết phục
Hướng thứ ba là cách phân loại tác phẩm văn học của Việt Nam Giáo
sư Hà Minh Đức trong công trình lí luận của mình vào những năm 60 đã chia tác phẩm văn học thành 4 loại : thi ca, tiểu thuyết, kịch, kí
Ngoài ba cách phân loại tiêu biểu trên, giáo trình này con đề cập đến nhiều cách chia đáng chú ý khác Các cách phân loại đều chứa đựng những
ưu và nhược điểm, nhìn chung là đều có tính chất tương đối
Trên cơ sở tiếp thu kế thừa những thành tựu đã đạt được trước đó trong việc phân loại tác phẩm văn học, các tác giả của giáo trình đã đề xuất cách chia văn học thành 5 loại : thơ ca, kịch, kí và văn chính luận Cách phân loại này dựa vào thể thức cấu tạo của văn bản Đây là cách phân loại đáp ứng được nhu cầu nghiên cứu giảng dạy văn học ở các khoa Ngữ văn Trong khoá luận này chúng tôi đồng ý với cách phân loại đó
Trang 20Ở trên là sự phân loại sáng tác văn học thành các ‘‘loại’’ lớn Đây là bước đầu tiên để nhận diện thể loại tác phẩm văn học chứ chưa phải là tất
cả Trong mỗi ‘‘loại’’ lớn ấy, để tiếp cận được với hình thức thể loại tác phẩm văn học cần tiến hành thêm một bước nữa đó là phân loại thành các
‘‘thể loại’’ nhỏ hơn của các ‘‘loại’’ lớn, tức là phân chia ở mức độ nhỏ hơn nữa Thực tế văn học cho thấy, cùng một ‘‘loại’’ văn học nhưng các thể văn học lại khác nhau rất sâu sắc Trong phạm vi đề tài này chúng tôi tìm hiểu cách phân chia ‘‘loại’’ thơ thành các thể loại khác nhau
Nếu sáng tác văn học nói chung muôn hình vạn trạng thì thơ ca cũng phức tạp và phong phú không kém Bởi so với các ‘‘loại’’ còn lại của sáng tác văn học, thơ ca là loại hình nghệ thuật ra đời sớm nhất và cho đến nay đây vẫn là loại hình được chú ý, quan tâm nhiều nhất Do đó, trong việc tiến hành phân loại thơ cũng đã có rất nhiều các ý kiến khác nhau Dựa vào những tiêu chí không giống nhau Mỗi tiêu chí đưa ra để phân loại thơ đều nhận được một kết quả phù hợp
Nếu dựa vào tiêu chí nội dung thì ta có thể phân chia thơ thành các loại : thơ tình, thơ phong cảnh, thơ vịnh sử, thơ điền viên
Nếu dựa vào tiêu chí phương thức phản ánh thì có thể chia thơ ra làm : thơ tự sự, thơ trữ tình
Nếu dựa vào tiêu chí cách luật thì có thể chia thơ thành các loại : thơ
Trang 21như các tác giả của Giáo trình lí luận văn học nhận định : ‘‘Khi nói đến thể
thơ : như hai chữ, ba chữ, bốn chữ, năm chữ, sáu chữ, bảy chữ, tám chữ, thể
lục bát, song thất lục bát, hát nói, thơ tự do là nói đến phương diện thể văn của thể thơ đó’’ [16; 246]
1.2.2 Các thể thơ được sử dụng chủ yếu của thơ ca Việt Nam hiện đại
Từ rất sớm, văn học Việt Nam đã hình thành và phát triển nhiều hình thức, nhiều thể thơ rất độc đáo do vậy các thể thơ được vận dụng sáng tác nhìn chung rất đa dạng Không có điều kiện đi sâu vào tất cả các thể thơ của văn học Việt Nam từ trước đến nay, chúng tôi chỉ đi vào tìm hiểu một số thể được sử dụng nhiều trong giai đoạn thơ ca Việt Nam hiện đại (được tính từ phong trào Thơ mới)
1.2.2.2 Thể tứ tuyệt
Trong văn học trung đại, tứ tuyệt là một thể thơ vay mượn từ Trung Quốc Khi vận dụng thể thơ này vào trong sáng tác, các tác giả Việt Nam đã tuân thủ nghiêm ngặt các quy tắc được đặt ra như ở Trung Quốc Sang nền văn học hiện đại thể thơ tứ tuyệt tiếp tục được sử dụng với nhiều cách tân mới mẻ khiến cho thể loại này có hình thức tồn tại đa dạng hơn rất nhiều so với trung đại Chính sự đa dạng này của thơ tứ tuyệt hiện đại đã dẫn đến rất nhiều quan niệm khác nhau về nó
Quan niệm thứ nhất cho rằng thơ tứ tuyệt cắt lấy bốn câu trong bát cú
mà tạo thành Giáo sư Dương Quảng Hàm trong Văn học Việt Nam sử yếu
cho rằng : ‘‘tứ có nghĩa là bốn, tuyệt có nghĩa là đứt, ngắt Lối này gọi thế vì
‘‘thơ tứ tuyệt là ngắt lấy bốn câu trong bát cú mà thành’’ Ý kiến này được giáo sư Hà Minh Đức và Bùi Văn Nguyên tán thành và còn giải thích thêm
‘‘tuyệt là cắt đứt, nhưng là đứt câu, dừng bút để trọn một ý bài thơ, sau khi viết câu thứ bốn Bởi vì, một câu chưa thành thơ, hai câu mới thành một vế đối liên, ít nhất bốn câu mới có vần, khi đó mới thành bài thơ’’ [5 ;178]
Các tác giả cuốn Từ điển văn học cũng có ý kiến định nghĩa thơ tứ
tuyệt về cơ bản cũng trên tinh thần trên, tức là cho rằng thơ tứ tuyệt phải cố
Trang 22định số chữ trong mỗi dòng thơ Các tác giả cho rằng : tứ tuyệt ‘‘là những bài thơ bốn câu, mỗi câu có năm hoặc bảy chữ Loại câu năm chữ còn gọi là
‘‘ngũ ngôn tứ tuyệt’’ hay ‘‘ngũ tuyệt’’ Loại bảy chữ còn gọi là ‘‘thất ngôn tuyệt cú’’ hay ‘‘thất tuyệt’’ Theo nghĩa hẹp là một dạng của thơ Đường luật loại này cũng còn gọi ‘‘luật tuyệt’’ Luật tuỵêt (còn gọi là tuyệt ngôn luật thi) là do luật của bài bát cú quy định, giống như được ‘‘cắt’’ từ bài bát
Trọng Kim trong cuốn Đường thi cho rằng : ‘‘tứ tuyệt là một khái niệm khá
co dãn, bao hàm nhiều nghĩa,chỉ được nhiều hiện tượng, miễn là bài thơ có 4 câu luật tuyệt, cổ tuyệt Tứ tuyệt về vần có thể bằng hoặc trắc ,về số chữ trong mỗi câu có thể là 5,6,7 hoặc có thể là tạp ngôn’’ Nguyễn Sĩ Đại trong
Một số đặc trưng nghệ thuật của thơ tứ tuyệt đời Đường cho rằng : ‘‘Tứ
tuyệt trước hết là một bài thơ bốn câu, không nhất thiết là ngũ ngôn hay thất ngôn, không nhất thiết là niêm luật chặt chẽ, nhưng phải vận dụng tối đa các thủ pháp nghệ thuật, phát huy thế mạnh của âm vận, đặc biệt là cách tổ chức hình ảnh để vừa tạo một cấu trúc đa chiều vừa mang tính khái quát cao ’’
Quan niệm ba, giáo trình lí luận văn học của nhà xuất bản Đại học sư phạm do giáo sư Trần Đình Sử chủ biên đã phân biệt tứ tuyệt trong văn học Trung Quốc và tứ tuyệt theo quan niệm của Việt Nam Theo đó thì thơ tứ tuyệt Trung Quốc có ‘‘hai loại : cổ tuyệt là thể tứ tuyệt không theo theo luật
và luật tuyệt là tuân theo luật Thơ tứ tuyệt Đường luật nhỏ gọn, xinh xắn và cũng thể hiện các yêu cầu về luật như bài thất luật (thất ngôn bát cú)’’ Còn
ở Việt Nam ‘‘người ta thường hiểu thơ tứ tuyệt theo cái nghĩa là thơ bốn câu ngắn gọn, ít lời nhiều ý’’ Quan niệm này mang tính chất trung gian giữa hai quan niệm trên về thơ tứ tuyệt
Trang 23Trong đề tài này, để khảo sát thơ tứ tuyệt Chế Lan Viên sử dụng trong
tập Ánh sáng và phù sa chúng tôi quan niệm thơ tứ tuyệt là :
- Những bài thơ có bốn dòng thơ
- Vần gieo có thể bằng hoặc trắc, số chữ trong dòng thơ có thể ít hoặc nhiều
- Không có quy định về niêm luật nhưng phải súc tích, ‘‘tổ chức hợp
lí các hình ảnh để tạo một cấu trúc đa chiều mang tính khái quát cao’’
Ví dụ bài Canh cá tràu của Chế Lan Viên :
Canh cá tràu mẹ thường hay nấu khế Khế trong vườn thêm một chút rau thơm
Ừ mới thế mà một đời xa cách mẹ
Ba mươi năm trở lại nhà nước mắt xuống mâm cơm Thơ tứ tuyệt thường gieo vần chân Có khi vần được gieo vào chữ cuối của câu thứ 1,2,4 như thơ tứ tuyệt truyền thống.Ví dụ :
Từ buổi chiều đưa khách thuận dằm Trông chừng bến cũ biệt mù tăm Cảm thương chiếc lá bay theo gió Kiêng nhớ tình xưa ghé đến thăm
(Tình xưa - Quách Tấn)
Có khi vần được theo kiểu ôm nhau:
Ngã xuống ở Mường Pồn anh đâu biết có mùa cam
Anh chỉ thấy dây thép gai đồn giặc Tôi yêu những người chửa hình dung ra hạnh phúc
Lúc đồng đội cần dẫu chết chẳng từ nan
(Nhớ Bế Văn Đàn - Chế Lan Viên)
1.2.2.2 Thơ lục bát
Lục bát là thể thơ thuần dân tộc, không vay mượn từ nước ngoài Thể lục bát đã được các tác giả sử dụng rộng rãi xưa nay, đạt đến đỉnh cao là kiệt
Trang 24tác Truyện Kiều Trong nền thơ ca hiện đại thể lục bát tiếp tục được các tác
giả ‘‘tin dùng’’ trong các sáng tác của mình Nếu định nghĩa về thơ tứ tuyệt
có nhiều ý kiến khác nhau thì định nghĩa vè thơ lục bát các ý kiến lại khá
thống nhất Từ điển thuật ngữ văn học định nghĩa về thể thơ lục bát: “Một
thể câu thơ cách luật mà các thể thức được tập trung thể hiện trong một khổ gồm hai dòng với số tiếng cố định: dòng sáu tiếng (câu lục) và dòng tám tiếng (câu bát)”[7; 190, 191]
Lục bát kết hợp gieo cả vần chân và vần lưng, đó là những vần bằng, vần được gieo giữa tiếng thứ 6 của câu lục, tiếng thứ 6, thứ 8 của câu bát Theo Hà Minh Đức và Bùi Văn Nguyên thì ‘‘Sự kết hợp giữa hai loại vần chân và vần lưng và thường được gieo ở số từ chẵn đã tạo cho thể lục bát một âm hưởng và một nhịp điệu riêng, đặc biệt là vần chân cũng như vần lưng bao giờ cũng hiệp vần với thanh bằng nên nhịp điệu chung của câu thơ lục bát thường nhẹ nhàng, uyển chuyển và ngân vang’’ [5; 315 ] Ví dụ:
Sầu thu lên vút song song Với cây hiu quạnh với lòng quạnh hiu
Non xanh ngày cả buồn chiều Nhân gian nghe cũng tiêu điều dưới kia
(Huy Cận) Nhịp điệu lục bát cơ bản là mô hình 2/2/2; 2/2/2/2 Nhưng cũng có thể
có những cách biến hoá bất ngờ với các cách ngắt nhịp 3/3; 5/1; 1/5; 4/4, cho nên hoàn toàn có thể diễn tả được mọi hoạt động tinh vi của đời sống
Nói chung lục bát là một thể thơ có khả năng phản ánh mọi trạng thái khác nhau trong đời sống của con người Khả năng tự sự và khả năng trữ tình của thể thơ lục bát đều hoàn hảo
1.2.2.3 Thể song thất lục bát
Giống như lục bát, song thất lục bát là thể thơ dân tộc Nó có những đặc điểm sau:
Trang 25- Mỗi khổ thơ gồm bốn câu Hai câu đầu bảy tiếng, câu thứ ba sáu tiếng, câu thứ tư tám tiếng Ví dụ:
Chốn Hàm Dương chàng còn ngoảnh lại Bến Tiêu Tương thiếp hằng trông sang Khói Tiêu Tương cách Hàm Dương Cây Hàm Dương cách bến Tiêu Tương mấy trùng
(Chinh phụ ngâm - Đoàn Thị Điểm )
- Song thất lục bát có vần lưng kết hợp với vần chân: chữ thứ 5 của câu 2 vần với chữ thứ 7 của câu 1 (vần lưng), chữ thứ 7 của câu 2 vần với chữ thứ 6 của câu 3 (vần chân), chữ thứ 6 của câu 3 vần cới chữ thứ 6 của câu 4 (vần lưng)
- Nhịp điệu: Hai câu bảy chữ thường có nhịp 3/4 hoặc 3/2/2
Câu sáu chữ có nhịp 3/3 hoặc 2/2/2
Câu tám chữ thường nhịp 4/4 hoặc 2/2/2/2
Song thất lục bát thích hợp nhất với việc diễn tả tâm trạng lặp đi lặp lại của con người Đây là thể loại mà văn học hiện đại ít sử dụng Tuy nhiên cũng có nhiều tác giả thành công với việc vận dụng nó vào trong sáng tác
1.2.2.4 Thể bốn chữ
Là thể thơ mà mỗi dòng thơ gồm bốn chữ, không quy định chặt chẽ về
số lượng dòng thơ trong một bài Trong thơ ca dân gian thể bốn chữ thường được sử dụng trong vè dưới hình thức nói lối, kể chuyện Thơ bốn chữ trong nền thơ hiện đại không dùng vần lưng hoặc gieo vần nối đuôi nhau của thể nói lối mà dùng vần chân hoặc gián cách, hoặc liên tiếp, hoặc ôm nhau theo những cách hiệp vần phổ biến của thơ mới.Ví dụ:
Xuân gợi tràn đầy Giữa lòng hoan lạc Trên mình hoa cây
Nắng vàng lạt lạt Ngày đi chầy chầy
(Chiều xuân - Huy Cận)
Trang 26Thơ bốn chữ chủ yếu ngắt nhịp 2/2 Do số chữ trong một dòng thơ ít, lại có lối ngắt nhịp chẵn nhịp nhàng nên thơ bốn chữ khiến người đọc dễ nghe dễ thuộc hơn các thể thơ khác, đặc biệt là thơ tự do và thơ văn xuôi
1.2.2.5 Thể năm chữ
Thơ năm chữ là thể thơ mà mỗi dòng thơ gồm năm chữ Bài thơ có thể dài hoặc ngắn tuỳ tác giả, tức là không hạn định số câu thơ trong một bài thơ Thể năm chữ vốn đã có trong thơ ca dân gian (phổ biến là lối hát dặm
Hà Tĩnh) và trong các loại thơ cổ phong, thơ Đường (Ngũ ngôn cổ phong và ngũ ngôn Đường luật)
Sang nền thơ hiện đại, rất nhiều nhà thơ mới đã dùng thể thơ năm chữ
để sáng tác, trong đó có các tác giả như Vũ Đình Liên, Hàn Mặc Tử, Nguyễn Nhược Pháp, Huy Cận, Xuân Diệu v v Thể thơ năm chữ hiện đại không cô đúc một cách gò bó như ngũ ngôn Đường luật, mạch thơ mở rộng hơn tứ thơ bay bổng và tình ý thiết tha hơn Thanh điệu ở đây nhịp nhàng và lối diễn đạt ở đây nhuần nhị hơn nhờ sự vận dụng nhiều vần bằng cũng như cách sắp xếp hài hoà giữa các tiêt tấu thanh điệu Vần của thơ năm chữ thường là vần chân Vần được gieo một cách linh hoạt, khi thì chéo nhau, khi thì ôm nhau, khi thì gián cách, khi thì xen kẽ từng đôi một Ví dụ:
Hôm qua đi chùa Hương Hoa cỏ mờ hơi sương Cùng thầy me em dậy
Em vấn đầu soi gương
(Chùa Hương - Nguyễn Nhược Pháp)
Hay:
Mây lạc hình xa xôi
Gió than niềm trách móc
Mây ôi và gió ôi
Chớ nên làm họ khóc
(Viễn khách - Xuân Diệu)
Trang 271.2.2.6 Thể bảy chữ
Thơ bảy chữ hay là thất ngôn là thể thơ được sử dụng khá phổ biến trong thơ ca hiện đại và đạt đến đỉnh cao trong phong trào Thơ mới Thể này quy định số chữ trong mỗi dòng thơ là bảy chữ Hầu như các tác giả thơ mới nào cũng sử dụng thể thơ này trong sáng tác
Thể bảy chữ đựơc sử dụng trong thơ hiện đại không dừng ở loại thất ngôn bát cú Đường luật như trong văn học trung đại mà phát triển thành những bài thơ thất ngôn dài ngắn khác nhau, không hạn định về số câu trong một bài thơ Tuy vậy một bài thất ngôn trong thơ hiện đại thường được chia thành nhiều khổ khác nhau, mỗi khổ gồm bốn câu thơ và mỗi khổ gần như là một bài thất ngôn tứ tuyệt tuy ý không tập trung và trọn vẹn bằng Ví dụ:
Này lắng nghe em khúc nhạc thơm Say như người rượu tối tân hôn Như hương thấm đượm qua xương tuỷ
Âm điệu thần tiên thấm tận hồn
Hãy tự buông cho khúc nhạc hường Dẫn vào thế giới của Du Dương Ngừng hơi thở lại, xem trong ấy Hiển hiện hoa và phảng phất hương
(Huyền Diệu - Xuân Diệu)
Vần thơ của thơ bảy chữ chủ yếu là vần chân với lối gieo vần linh hoạt, khi xen kẽ, khi gián cách, khi liên tiếp, khi ôm nhau Trong nền thơ
mới có rất nhiều bài thơ bảy chữ đặc sắc có thể kể đến như: Đây mùa thu
tới, Buồn trăng, Đơn sơ, Với bàn tay ấy của Xuân Diệu; Áo trắng, Tràng Giang của Huy Cận; Mùa xuân chín, Đây thôn Vĩ Dạ, Trăng mờ của
Hàn Mặc Tử; Đêm tàn, Hồn trôi của Chế Lan Viên.v v
Trang 281.2.2.7 Thể tám chữ
Thể tám chữ là thể thơ mà mỗi dòng thơ gồm tám chữ đây là thể thơ hoàn toàn mới so với thơ ca trung đại Một bộ phận quan trọng của thơ mới được viết bằng thể thơ này Bài thơ tám chữ không hạn định về số câu, vần gieo có thể là vần chân hoặc vần lưng Tuy nhiên phần lớn những bài thơ tám chữ thường không gieo vần lưng mà chỉ gieo vần chân Vần chân thường được gieo từng cặp theo các dạng liên tiếp, gián cách, ôm nhau, hỗn hợp
Rồi cả một thời xưa tan tác đổ
Dấu oai linh hùng vĩ thấy gì đâu ?
Thời gian chảy, đá mòn, sông núi lở
Lòng ta luôn còn mãi vết thương đau!
(Thời oanh liệt - Chế Lan Viên)
Câu thơ tám chữ thường được ngắt nhịp theo hai hoặc ba tiết tấu Theo GS Hà Minh Đức và Bùi Văn Nguyên thì thơ tám chữ có nguồn gốc từ thể hát nói, tuy nhiên “Thể tám tám chữ có nhiều điểm khác với hát nói Cấu tạo của toàn bài thơ tám từ không có hạn định về số câu, số thể thơ như bài hát nói, không có những thành phần như mưỡu đầu, mưỡu cuối và hai câu thơ theo cách luật riêng giữa bài Về cú pháp thơ, thể thơ tám từ cũng có nhiều đỉêm mới trong vận dụng ngôn ngữ so với thể hát nói” [5; 309] Đây
là ý kiến nhận được sự đồng tình thống nhất của giới nghiên cứu
1.2.2.8 Thể tự do
Theo các tác giả của giáo trình Lí luận văn học - NXB Đại học sư
phạm thì thơ tự do “là loại thơ không có quy định bắt buộc về số câu, số chữ trong câu, về vần bằng trắc và nhịp điệu Tất cả các yếu tố hình thức đó đều
có thể thay đổi tuỳ thuộc cảm xúc” [16; 280]
Theo định nghĩa của Từ điển thuật ngữ văn học thì “thơ tự do là loại
thơ phân dòng nhưng không có thể thức nhất định Nó có thể là hợp thể, phối xen các đoạn thơ làm theo các thể khác nhau hoặc hoàn toàn tự do” [7;
Trang 29318] Vần và nhịp trong thơ tự do cũng khá linh hoạt không tuân theo một nguyên tắc cụ thể nào Thơ tự do không đòi hỏi phải phân thành các khổ trong bài Bài thơ có thể kéo dài liên tiếp mà không ngắt thành các khổ khác nhau Thơ tự do ra đời đáp ứng nhu cầu diễn đạt không ràng buộc, không giới hạn của con người hiện đại, giải phóng cảm xúc khỏi sự ràng buộc chặt chẽ bởi các quy tắc hình thức Thơ tự do thường để cảm xúc chi phối mạch thơ, do vậy mạch thơ hầu như vận động theo mạch cảm xúc
Thơ ca Việt Nam hiện đại rất phong phú về nội dung cũng như hình thức biểu hiện Do vậy, trong phạm vi đề tài này chúng tôi chỉ điểm qua một
số thể tiêu biểu chứ không phải khảo sát tất cả những thể thơ được sử dụng trong nền thơ hiện đại Việt Nam Công việc thông kê, mô tả tất cả những thể thơ được sử dụng trong nền thơ Việt Nam hiện đại phải chờ ý kiến chuyên sâu của các chuyên gia
1.2.3 Vai trò của thể thơ trong việc tổ chức một văn bản thơ
Có thể nói, thể thơ là yếu tố quan trọng nhất trong việc tổ chức một văn bản thơ Vai trò đó được biểu hiện trên các mặt sau:
Thứ nhất, thể thơ quy định số lượng dòng thơ, số lượng câu chữ trong một văn bản thơ Khi sáng tác theo một thể theo nhất định các tác giả buộc phải tuân theo nguyên tắc về dòng thơ, số lượng câu chữ mà thể thơ quy định Sự quy định này có khi khắt còn khắt khe hơn cả “luật hình” Điển hình cho điều này là các thể thơ trung đại Trong sáng tác thơ trung đại, các tác giả buộc phải tuân theo yêu cầu nghiêm ngặt về số lượng câu chữ trong một bài thơ: thơ thất ngôn bát cú thì nhất nhất phải là năm sáu chữ chia đều cho tám dòng thơ, thơ thất ngôn tứ tuyệt thì phải hai mươi chữ chia đều cho bốn dòng thơ v v Sang nền thơ hiện đại việc quy định số dòng thơ câu thơ không còn khắt khe như thơ trung đại Tuy nhiên việc sáng tác thơ vẫn
bị các quy định của thể thơ chi phối Đã là thể thơ tứ tuyệt thì số lượng dòng thơ trong bài phải là bốn dòng Thơ lục bát, song thất lục bát, thơ bốn chữ, thơ năm chữ không bị quy định về số lượng dòng thơ trong bài thơ, nhưng
Trang 30lại chịu sự quy đinh số câu chữ trong một dòng thơ là 4,5,6,7 hay 8 Nói như vậy không có nghĩa là không có trường hợp ngoại lệ, tuy nhiên trường hợp ngoại lệ là rất ít Về cơ bản số lượng câu chữ, dòng thơ trong môt văn bản thơ vẫn nằm trong sự quy định của thể thơ Duy chỉ có thể thơ tự do là
có sự thoải mái trong cả dòng thơ và số chữ trong dòng thơ, do vậy nó được xếp thành một thể riêng
Thứ hai, thể thơ quy định cách gieo vần ngắt nhịp trong một văn bản thơ Mỗi thể thơ khác nhau quy định cách gieo vần ngắt nhịp không giống nhau Ví dụ thơ thất ngôn bát cú Đường luật quy định gieo vần ở các tiếng cuối của dòng thơ thứ 1, 2, 4, 6, 8, và vần phải là vần bằng, thơ tứ tuyệt gieo vầnở tiếng cuối của dòng thơ thứ 1, ,2, 4 Trong thơ hiện đại việc quy định cách gieo vần, ngắt nhịp của các thể thơ có phần thoải mái hơn, nhưng do đặc trưng thể loại, sự gieo vần ngắt nhịp ở các thể thơ khác nhau là tương đối ổn định Ví dụ: các thể thơ bốn chữ, năm chữ, sáu chữ, bảy chữ đa số đều gieo vần chân, thơ lục bát, song thất lục bát kết hợp gieo cả vần chân và vần lưng Thể thơ cũng quy đinh cách ngắt nhịp của bài thơ, ví dụ thể thơ lục bát thường ngắt nhịp 2/2/2, 2/2/2/2, song thất lục bát ngắt nhịp 3/4 hoặc 3/2/2 ở hai câu thất, câu lục có nhịp 3/3 hoặc 2/2/2, câu bát có nhịp 4/4 hoặc 2/2/2/2 Tất nhiên mọi sự quy định đều có trường hợp ngoại lệ, tuỳ thuộc các tính sáng tác của từng tác giả cụ thể Tuy nhiên sáng tạo này nếu có được cung là nhờ vào vào việc so sánh với cái ổn định của thể thơ
Trong nhiều trường hợp, thể thơ còn quy định cách tiếp cận, tạo một kênh giao tiếp với người đọc Người đọc thơ luôn có tâm thế khác nhau khi đối diện với những tác phẩm thơ ở những thể loại khác nhau Ví dụ đứng trước một bài thơ tứ tuỵêt tâm thế tiếp nhận của người đọc khác hẳn khi đứng trước một bài thơ song thất lục bát Người đọc chờ ở bài thơ tứ tuyệt
sự cô đọng hàm súc và ý tứ sâu xa toát ra từ toàn bộ tác phẩm Còn khi tiếp cận với song thất lục bát người đọc chờ đợi cái trữ tình sâu đậm toát lên từ trong đó
Trang 31Như vậy, chúng ta có thể khẳng định thể thơ có vai trò rất lớn trong việc tổ chức văn bản thơ và trong việc tiếp nhận tác phẩm thơ của người đọc
1.3 Vấn đề vần thơ
1.3.1 Vần thơ là gì?
Để phân biệt thơ ca với các loại hình văn học khác, từ trước đến nay, chúng ta đã sử dụng đến nhiều tiêu chí khác nhau Trong đó, tiêu chí lớn nhất là vần, vần được xem là điểm mạnh “độc quyền” của thơ ca Chính nhờ điểm mạnh này mà thơ ca so với các thể loại khác dễ đi vào lòng người, khiến người đọc dễ nhớ, dễ thuộc Vần là yếu tố quyết định tạo nên tính nhạc, tạo nên sức hấp dẫn của thơ ca, do vậy bát cứ nền thơ nào trên thế giới đều sử dụng vần trong sáng tác thơ
Là một vấn đề thu hút sự quan tâm hàng đầu của giới nghiên cứu trong lĩnh vực thơ ca, do vậy từ trước đến nay đã có rất nhiều định nghĩa khác nhau về vần thơ Ở đây, xin đưa ra một vài định nghĩa về vần thơ ở Việt Nam đã được công bố
Dương Quảng Hàm trong Việt Nam văn học sử yếu và Việt Nam giáo
khoa thư đã định nghĩa: “Vần ( chữ nho là vận) là những tiếng thanh âm hòa
hiệp đặt vào hai hoặc nhiều câu văn để hưởng ứng nhau” (dẫn theo Mai
Ngọc Chừ- Vần thơ Việt Nam dưới ánh sáng ngôn ngữ học) [2; 18] Nguyễn
Lương Ngọc cũng đưa ra định nghĩa về vần trong Mấy vấn đề nguyên lý văn
học, theo ông vần là: “Sự lặp lại những thanh đọc theo một âm ở cuối hay
quãng giữa dòng thơ để tăng tiết tấu và sự thể hiện của từ gọi là vần” (Ngọc
dẫn theo Mai Chừ- Vần thơ Việt Nam dưới ánh sáng ngôn ngữ học) [2; 18]
Hai định nghĩa này đã chú ý đến đặc điểm hòa âm của vần nhưng lại không chú ý đến vai trò liên kết của vần
Từ điển thuật ngữ văn học định nghĩa về vần khá đầy đủ như sau:
“Một phương tiện tổ chức văn bản thơ dựa trên cơ sở sự lặp lại không hoàn
Trang 32toàn các tiếng ở những vị trí nhất định của dòng thơ nhằm tạo tính hài hòa
và liên kết của dòng thơ và giữa các dòng thơ” [7; 292]
Tiếp thu những thành tựu trước đó về việc định nghĩa vần thơ, tác giả
Mai Ngọc Chừ trong Vần thơ Việt Nam dưới ánh sáng ngôn ngữ học đã đưa
ra định nghĩa khá đầy đủ về vần: “Vần là sự hòa âm, sự cộng hưởng nhau theo những quy luật ngữ âm nhất định giữa hai từ hoặc hai âm tiết ở trong hay cuối dòng thơ và thực hiện những chức năng nhất định như liên kết các dòng thơ, gợi tả, nhấn mạnh sự ngừng nhịp [2; 16] Cùng quan điểm này có hai tác giả Đinh Trọng Lạc và Lê Xuân Thoại, theo hai tác giả này thì: “Vần
là sự hòa âm, sự cộng hưởng âm thanh giữa các đơn vị ngôn ngữ trên những
vị trí nhất định nhằm liên kết các vấn đề tương đương: Bước thơ, dòng thơ,
khổ thơ Vần có tác dụng liên kết tạo nên hiện tượng hòa âm” (dẫn theo
Mai Ngọc Chừ- Vần thơ Việt Nam dưới ánh sáng ngôn ngữ học) [2; 19]
Như vậy, chúng ta có thể thấy vấn đề định nghĩa về vần là một vấn đề rất phức tạp, nhận được nhiều ý kiến khác nhau của các chuyên gia Mặc dù nghiên cứu, nhìn nhận vần ở nhiều góc độ khác nhau nhưng các tác giả hầu hết đều thống nhất rằng: Vần là yếu tố thẩm mỹ không thể thiếu trong thơ,
nó tạo nên sự liên kết âm thanh giữa các câu thơ, khổ thơ, bài thơ, và cũng chính vần là yếu tố tạo nên sự khác biệt, đặc trưng riêng biệt của thơ ca
1.3.2 Cách phân loại vần thơ và các loại vần trong thơ Việt Nam
Các sáng tác thơ ca của Việt Nam từ xưa đến nay là vô cùng phong phú và đa dạng, cùng với đó là sự phức tạp của việc gieo vần khi sáng tác thơ Chính vì vậy, từ trước đến nay đã có rất nhiều các ý kiến khác nhau xoay quanh việc phân loại thơ Ở khoá luận này, chúng tôi xin điểm qua một
số cách phân loại thơ được nhiều nhà nghiên cứu thống nhất và phổ biến rộng rãi từ trước đến nay như sau
1.3.2.1 Phân loại thơ xét theo vị trí hiệp vần
a) Xét theo vị trí hiệp vần, thơ ca Việt Nam có hai loại vần: vần chân
và vần lưng
Trang 33Vần chân
Theo định nghĩa của Từ điển thuật ngữ văn học thì vần chân là loại
vần “được gieo vào cuối vần thơ và tạo nên mối liên kết giữa các dòng thơ” [7; 424] Hình thức gieo vần của vần chân khá đa dạng linh hoạt
Vần được gieo liên tiếp theo lối tứ tuyệt:
Trăng vừa đủ sáng để gây mơ Gió nhịp theo đêm không vội vàng Khí trời quanh tôi làm bằng tơ Khí trời quanh tôi làm bằng thơ
(Nhị hồ - Xuân Diệu)
Vần được gieo liên tiếp từng cặp một:
Nén đau thương ngậm ngùi sẽ kể Niềm ngao ngán vô biên như trời bể
Ôi tấm gan bền chặt như Thái Sơn Bao nhiêu thu cay đắng chẳng hề sờn
(Tiếng địch sông Ô - Huy Thông)
Vần gián cách:
Từ ngày nào chẳng biết
Thuyền nghe lời biển khơi
Cánh Hải Âu sóng biếc
Đưa thuyền đi muôn nơi
(Thuyền và biển - Xuân Quỳnh)
Vần ôm nhau:
Một con tàu chuyển bánh vào ga
Làn nước mới trời xanh và mây trắng Ngô non mướt bãi cát vàng đầy nắng
Như chưa hề có mùa lũ đi qua
(Lại bắt đầu - Xuân Quỳnh)
Vần chân là hình thức gieo vần phổ biến nhất trong thơ ca
Trang 34Vần lưng
Vần lưng (còn gọi là yêu vận), đựơc gieo vào giữa dòng thơ Đây là cách gieo vần khá đặc biệt của thơ ca Việt Nam Cách gieo vần này có yêu thế đặc biệt trong việc tạo nhạc tính cho thơ, có khả năng tối đa cho việc trữ tình Ví dụ:
Mình về với Bác đường xuôi Thưa giùm Việt Bắc không nguôi nhớ Nguời
âm hưởng dồi dào, diễn tả được những rung động trong tâm hồn nhà thơ
b) Xét theo mức độ hoà âm vần thơ Việt Nam có ba loại: Vần chính, vần thông và vần ép
Vần chính
Theo định nghĩa của Thuật ngữ văn học thì vần chính là vần có “sự
hoà phối âm thanh ở mức cao giữa các tiếng được gieo vần, trong đó bộ phận vần cái (kể từ nguyên âm chính đến cuối âm tiết) hoàn toàn trùng hợp Phụ âm đầu của các tiếng trong vần phải khác nhau” [7; 424, 425] Ví dụ:
Em đẹp bàn tay ngón ngón thon
Em duyên đôi má nắng hoe tròn
Em lùa gió biếc vào trong tóc Thổi lại phòng anh cả núi non
(Lửa thiêng - Huy Cận)
Trang 35Theo Mai Ngọc Chừ, vần chính có bốn kiểu như sau:
Kiểu 1: “loan - hoan”, “tuyết - nguyệt”, hàn - màn”, ta - là”, “ai
- hai” (Khác nhau âm đầu, đồng nhất ở thanh điệu và các thành phần khác)
Kiểu 2: “loan - han”, “hoa - ha”, “tuyệt - tiết”, “quán - cạn”,
“hoài - hài” (chỉ khác nhau ở âm đệm, các thành phần khác đồng nhất)
Kiểu 3: “toàn - toan”, “quất - quật”, “đôi - hồi”, “vần - vân”,
“cồ - cô”, “là - la” (hoàn toàn đồng nhất ở các bộ phận, chỉ khác nhau về thanh điệu nhưng phải đồng nhất cùng bằng cùng trắc)
Kiểu 4: “quan - tan”, “quế - thể’’, ‘‘quét - chẹt’’, ‘‘hoa - xa’’,
“oan - lan” (chỉ khác nhau ở âm đầu và âm đệm, thanh điệu có thể đồng nhất hoặc khác nhau, phải cùng bằng hoặc trắc, các thành phần khác đồng nhất hoàn toàn)
Trong bốn kiểu hiệp vần trên đây thì kiểu 1 hay gặp hơn cả
Vần thông
Theo Mai Ngọc Chừ, vần thông có những đặc điểm sau:
Thanh điệu trong cặp vần đồng nhất hoàn toàn hoặc đồng nhất đặc trưng tuyền điệu (cùng bằng hoặc cùng trắc)
Âm chính trong cặp vần hoặc đồng nhất đặc trưng âm sắc (cùng bổng, cùng trầm vừa, hoặc cùng trầm) hoặc cùng đồng nhất đặc trưng âm lượng (cùng âm lượng lớn, cùng âm lượng trung bình, hoặc cùng âm lượng nhỏ)
Âm cuối trong hai âm tiết hiệp vần hoặc đồng nhất hoàn toàn, hoặc đồng nhất đặc trưng vang (cùng nhóm mũi) Hoặc đồng nhất đặc trưng vô thanh (cùng nhóm vô thanh) Ví dụ:
Ôi chim én có bay không chim én Đến những đảo xa đến những đảo mờ
Ở đâu chưa đi thì lòng ta sẽ đến Lúc trở về, lòng ngậm những cành thơ
(Qua Hạ Long - Chế Lan Viên)
Trang 36Ngoài trường hợp trên, khi khảo sát vần thơ trong tập Ánh sáng và
phù sa, chúng tôi còn xếp những cặp vần có đặc điểm sau đây vào vần
thông:
Âm chính giống nhau hoàn toàn
Âm cuối, âm đệm, thanh điệu khác nhau (nhưng phải cùng bằng hoặc cùng trắc)
Ví dụ:
Phải rằng xê xích thời gian Vần gương bên ấy mọc sang bên này
(Hoa đào nở sớm - Chế Lan Viên)
Độ hoà âm của vần thôn tuy không bằng vần chính nhưng nó cũng góp phần tạo nên âm hưởng cho thơ ca
Vần ép
Cho đến nay, đã có rất nhiều ý kiến khác nhau về sự tồn tại của vần
ép Có ý kiến cho rằng có sự tồn tại của vần ép trong thơ ca Việt Nam nhưng cũng có ý kiến phủ nhận sự tồn tại của nó Trên thực tế, thơ ca Việt Nam tồn tại một loại vần mà mức độ hoà âm rất thấp không thể xếp nó vào vần chính hay vần thông Chính vì vậy, chúng tôi đồng tình với quan niệm cho rằng có tồn tại hiên tượng vần ép trong thơ ca Việt Nam
Các tác giả khi nghiên cứu vần ép đều có cùng quan điểm cho rằng vần ép là vần gần giống vần thông nhưng ở mức độ hoà âm thấp hơn Tác giả Dương Quảng Hàm cho rằng vần ép là vần cưỡng áp “vần gieo gượng
không được hiệp lắm” (Dẫn theo Mai Ngọc Chừ- Vần thơ Việt Nam dưới
ánh sáng ngôn ngữ học) [2; 186] Có hai trường hợp hiệp vần có thể xếp vào
loại vần ép:
Trường hợp thứ nhất: âm chính khác nhau cả về đặc trưng âm sắc lẫn đặc trưng âm lượng, còn âm cưối có thể trùng nhau hoặc trùng nhóm phụ âm(mũi hay tắc), thanh điệu có thể giống nhau hoàn toàn hoặc cùng tuyền điệu (cùng bằng hoặc cùng trắc) Ví dụ:
Trang 37Xe trên mặt nước mênh mông Buông mình cô gái nghiêng mình hái sen
(Bên Hồ- Nguyễn Bính)
Truờng hợp thứ hai: âm chính có giống nhau ở một nét nào đó ,hoặc cùng âm sắc hoặc cùng âm lượng nhưng âm cuối khác nhau hoàn toàn, thanh điệu giống nhau hoặc cùng tuyền điệu (cùng bằng hoặc cùng trắc) Ví dụ:
Nhớ lúc bé thơ nằm quấy khóc Hỏi trăm lần hỏi “mặt trăng ai”
Mắt lẫn vầng trăng cùng mặt mẹ
Qua nôi từng vói mặt trăng cười
Trong thơ ca truyền thống,vần ép không được phổ biến lắm Hiện nay trong thơ ca hiên đại vần ép được sử dùng nhiều hơn Có người đã xem vần
ép là một loại vần chính trong thơ
Ngoài hai các phân loại tiêu biểu trên, còn có nhiều cách phân loại khác nữa như: dựa vào đường nét thanh điệu, dựa vào độ mở của vần, dựa vào vị trí của các dòng thơ chứa vần tuỳ theo mục đích nghiên cứu người nghiên cứu chọn cách thích hợp Vần khi đi vào các thể thơ cụ thể được thể hiện khác nhau theo những quy luật nhất định tuỳ theo yêu cầu của thể thơ
1.3.3 Vai trò, chức năng của vần trong thơ
Vần thơ có vai trò quan trọng trong thơ ca Vai trò đầu tiên, vai trò quan trọng nhất phải nhắc đến của vần thơ là vai trò liên kết Vần thơ khiến các câu thơ, các khổ thơ liên kết với nhau tạo thành tác phẩm thơ hoàn chỉnh Mayakovxkiy đã khẳng định chức năng này của vần như sau: “không
có vần câu thơ sẽ tan ra; vần thơ làm cho ta quay lai dòng thơ trước, bắt ta nhớ lại nó, bắt tất cả các dòng vốn trình bày một tư tưởng gắn lại với nhau” Giáo sư Nguyễn Nhã Bản nhận xét: “Vần như sợi dây nhịp cầu bắc qua
dòng thơ” Còn tác giả Mai Ngọc Chừ trong Vần thơ Việt Nam dưới ánh
Trang 38sáng ngôn ngữ học thì cho rằng “Vần như là sợi dây ràng buộc các dòng thơ
lại với nhau, do đó giúp cho cho việc đọc được thuận miệng, nghe được thuận tai và làm cho người đọc người nghe dễ thuộc dễ nhớ” [2; 31]
Như vậy có thể nói vai trò liên kết của vần đã nhận được ý kiến thống nhất đề cao của hầu hết các tác giả nghiên cứu về nó Trong nhiều bài thơ truyền thống vần thể hiện khá rõ vai trò liên kết của mình Vì vậy việc gieo vần là bắt buộc đối với tất cả các sáng tác thơ ca truyền thống Trong thơ hiện đại, do không yêu cầu về số câu thơ, khổ thơ trong một tác phẩm, đã dẫn đến việc có nhiều ý kiến cho rằng vần thơ không còn quan trọng Nhưng tình hình lại ngược lại, chức năng liên kết của vần luôn quan trọng hơn bao giờ hết Chính nhờ vần mà những câu thơ cách rất xa nhau vẫn có thể liên kết với nhau tạo thành một thể thống nhất Ví dụ:
Xuân hãy xem cuộc chiến binh hùng vĩ
Ba mươi môt triệu nhân dân Tất cả hành quân
Tất cả thành dũng sĩ Hiện đại và thô sơ Của ngày xưa, bây giờ Với cách mạng đều là vũ khí
(Xuân 67 - Tố Hữu)
Ví dụ trên cho thấy, ở thơ tự do vai trò liên kết của vần cũng thể hiện
rõ Đúng như V Sirmunxkiy nhận xét: “Cấu trúc âm luật của bài thơ càng tự bao nhiêu thì sự có mặt của vần thơ càng như một phương thức tổ chức âm
luật càng quan trọng bấy nhiêu” (Dẫn theo Bùi Công Hùng - Góp phần tìm
hiểu nghệ thuật thơ ca, 1998) Vai trò thứ hai của vần trong thơ là vai trò
nhấn mạnh sự ngừng nhịp và xác lập mối quan hệ của vần và nhịp Nhịp được ngắt ở chỗ gieo vần, sẽ được dừng lâu hơn, ngâm lâu hơn Chính sự kết hợp đó của vần và nhịp đã tạo nên tính nhạc cho thơ
Trang 39Vần còn có vai trò quan trọng trong việc thể hiện cảm xúc của nhân vật trữ tình trong thơ Cách gieo vần hoàn toàn không đơn thuần là một thao tác kĩ thuật khi làm thơ mà đó chính là cảm xúc của nhân vật trữ tình trong tác phẩm Ví dụ:
Em ơi Ba Lan mùa tuyết tan
Đường Bạch Dương sương trắng nắng tràn
(Em ơi Ba Lan - Tố Hữu)
Ba cặp vần tham gia hiệp chỉ trong hai dòng thơ với phụ âm kết thúc
là phụ âm mũi vang đã diễn tả cảm xúc đắm say ngất ngây của nhân vật trữ tình trước cảnh sắc thiên nhiên đời sống
Giai đoạn thơ hiện đại, nhiều hình thức cách tân thơ đã được thử nghiệm vì vậy xoay quanh vấn đề vai trò của vần và yêu cầu gieo vần trong thơ ca đã có rất nhiều ý kiến khác nhau Không phải tác giả nào cũng cho rằng vần là yếu tố quan trọng bậc nhất của thơ Bùi Văn Nguyên và Hà
Minh Đức trong Thơ ca với hình thức và thể loại cho rằng: “Đối với thơ,
vần là quan trọng, nhưng không thể nói được rằng vần quyết định cái gì là thơ và cái gì không phải là thơ Thơ có nhiều yếu tố nội dung cũng như là hình thức Riêng về hình thức, vần chỉ là một yếu tố của hình thức thơ, góp phần tạo nhịp điệu cho thơ” [5; 343]
Từ những dẫn chứng, phân tích ở trên chúng tôi cho rằng dù là thơ hiện đại hay thơ truyền thống, thì vần vẫn có một vai trò quan trọng trong việc sáng tạo hình thức thơ ca, làm cho thơ có giai điệu hài hoà Đúng như
tác giả Bùi Công Hùng trong Sự cách tân của thơ văn hiện đại đã khẳng
định: “Ở nước ta, có người cho rằng thơ nhất thiết phải có vần, có người cho
là trong thơ nhất thiết phải có vần Theo chúng tôi, trong từng giai đoạn thơ, trong từng bài thơ cụ thể, vần có thể có hoặc không Nhưng xét chung toàn
bộ thơ ca Việt Nam từ quá khứ đến hiện tại vần vẫn chiếm một vị trí quan trọng”[10; 195, 196] Điều này đã được khẳng định trong chính toàn bộ lịch
sử phát triển thơ ca Việt Nam từ xưa đến nay
Trang 40Chương 2
THỂ THƠ TRONG TẬP ÁNH SÁNG VÀ PHÙ SA
CỦA CHẾ LAN VIÊN
2.1 Thể thơ trong tập Ánh sáng và phù sa - kết quả thống kê phân loại
Nếu như ở Điêu tàn, Chế Lan Viên viết 36 bài thơ thuần tuý theo hai thể bảy chữ và tám chữ, thì trong tập Ánh sáng và phù sa Chế Lan Viên đã
vận dụng các thể thơ phong phú hơn nhiều: thể bốn chữ, thể năm chữ, thể sáu chữ, thể bảy chữ, thể lục bát, thể song thất lục bát, thể tự do, và tác giả
đã tỏ ra khá thành thục trong chừng ấy thể loại Sau đây là bảng thống kê
các thể loại thơ được Chế Lan Viên sử dụng trong tập Ánh sáng và phù sa
Bảng thống kê cho thấy, hai thể thơ được sử dụng nhiều nhất trong
tập Ánh sáng và phù sa là thể tứ tuyệt và thể tự do Tứ tuyệt là sở trường của
Chế Lan Viên và tự do là thể phổ biến của thơ ca hiện đại Tuy nhiên sự phân loại trên chỉ mang tính chất tương đối vì nhiều bài thơ cùng lúc mang
trong nó đặc điểm của hai thể loại Ví dụ như ba bài thơ: Đêm ra trận, Từ xa
rừng bản, Ngủ rừng Lào 1952, vừa mang đặc điểm của thể thơ tứ tuyệt (có
bốn dòng thơ), vừa mang đặc điểm của thơ lục bát (một khổ gồm hai dòng với số tiếng cố định: dòng sáu tiếng, dòng tám tiếng) Nhưng xét ở đặc điểm