1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Tín hiệu thẩm mĩ trong thơ chế lan viên

134 4 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tín hiệu thẩm mĩ trong thơ chế lan viên
Tác giả Nguyễn Thị Trinh
Người hướng dẫn PGS. TS. Nguyễn Thị Vân Anh
Trường học Trường Đại Học Quy Nhơn
Chuyên ngành Ngôn ngữ học
Thể loại Luận văn
Năm xuất bản 2023
Thành phố Quy Nhơn
Định dạng
Số trang 134
Dung lượng 1,49 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƢỜNG ĐẠI HỌC QUY NHƠN NGUYỄN THỊ TRINH TÍN HIỆU THẨM MĨ TRONG THƠ CHẾ LAN VIÊN Chuyên ngành Ngôn ngữ học Mã số 8229020 Ngƣời hƣớng dẫn PGS TS Nguyễn Thị Vân Anh LỜI CAM ĐOAN T[.]

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC QUY NHƠN

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi dưới sự

hướng dẫn khoa học của PGS TS Nguyễn Thị Vân Anh Các số liệu, kết

quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được công bố trên bất kì công trình nào

Tác giả luận văn

Nguyễn Thị Trinh

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin trân trọng cảm ơn PGS TS Nguyễn Thị Vân Anh - người đã tận tình hướng dẫn, đóng góp những ý kiến quý báu giúp tôi hoàn thành luận văn Xin chân thành cảm ơn quý thầy cô giáo Khoa Khoa học Xã hội và Nhân văn, Phòng Sau đại học Trường Đại học Quy Nhơn đã quan tâm, tạo mọi điều kiện cho tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn

Xin được gửi lời cảm ơn sâu sắc đến gia đình, cơ quan, đồng nghiệp, những người luôn động viên, khuyến khích, giúp đỡ tôi trong suốt thời gian thực hiện luận văn

Tác giả luận văn

Nguyễn Thị Trinh

Trang 4

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

DANH MỤC CÁC BẢNG, HÌNH

MỞ ĐẦU 1

1 Lí do chọn đề tài 1

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài 3

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 6

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 6

5 Phương pháp nghiên cứu 7

6 Bố cục của luận văn 8

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG 9

1.1 Tín hiệu thẩm mĩ 9

1.1.1 Tín hiệu 9

1.1.2 Tín hiệu ngôn ngữ 12

1.1.3 Tín hiệu thẩm mĩ 14

1.2 Cơ sở phân chia các trường tín hiệu thẩm mĩ 22

1.2.1 Khái niệm về trường nghĩa và các tiêu chí phân lập trường nghĩa 22

1.2.2 Các loại trường nghĩa 23

1.2.3 Ngữ nghĩa của trường nghĩa 24

1.2.4 Một số vấn đề về ngữ cảnh của các tín hiệu thẩm mĩ 25

1.3 Chế Lan Viên – cuộc đời và sự nghiệp 26

1.3.1 Cuộc đời Chế Lan Viên 26

1.3.2 Sự nghiệp – con đường thơ Chế Lan Viên 28

Tiểu kết Chương 1 30

Chương 2 BIỂU HIỆN HÌNH THỨC CỦA CÁC TÍN HIỆU THẨM MĨ TRONG THƠ CHẾ LAN VIÊN 32

2.1 Dẫn nhập 32

2.2 Biểu hiện hình thức của các tín hiệu thẩm mĩ trong các trường nghĩa 36

2.2.1 Biểu hiện hình thức của các tín hiệu thẩm mĩ thuộc trường nghĩa hiện tượng tự nhiên 36

Trang 5

2.2.2 Biểu hiện hình thức của các tín hiệu thẩm mĩ thuộc trường nghĩa vật thể nhân tạo 42 2.2.3 Biểu hiện hình thức các tín hiệu thẩm mĩ thuộc trường nghĩa thực vật 49 2.2.4 Biểu hiện hình thức các tín hiệu thẩm mĩ thuộc trường nghĩa động vật 54 2.2.5 Biểu hiện hình thức các tín hiệu thẩm mĩ thuộc trường nghĩa con người 58 Tiểu kết Chương 2 66

Chương 3 BIỂU HIỆN Ý NGHĨA CỦA CÁC TÍN HIỆU THẨM MĨ TRONG THƠ CHẾ LAN VIÊN 67

3.1 Ý nghĩa – cái được biểu đạt của tín hiệu thẩm mĩ 67 3.2 Ý nghĩa của các tín hiệu thẩm mĩ trong thơ Chế Lan Viên 69 3.2.1 Ý nghĩa của các tín hiệu thẩm mĩ điển hình thuộc trường nghĩa hiện

tượng tự nhiên 69 3.2.2 Ý nghĩa của các tín hiệu thẩm mĩ điển hình thuộc trường nghĩa vật thể nhân tạo 81 3.2.3 Ý nghĩa của các tín hiệu thẩm mĩ thuộc trường nghĩa thực vật 90 3.2.4 Ý nghĩa của các tín hiệu thẩm mĩ điển hình thuộc trường nghĩa động vật 98 3.2.5 Ý nghĩa của các tín hiệu thẩm mĩ điển hình thuộc trường nghĩa con người 105

3.3 Ứng dụng nguyên lí tín hiệu học vào phân tích tác phẩm Tiếng hát con tàu

của Chế Lan Viên 112 Tiểu kết Chương 3 119

KẾT LUẬN 120 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI LUẬN VĂN THẠC SĨ (BẢN SAO)

Trang 7

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1: Bảng thống kê các tín hiệu thẩm mĩ của 5 trường nghĩa trong thơ

Chế Lan Viên 33

Bảng 2.2 Bảng thống kê các tín hiệu thẩm mĩ thuộc trường nghĩa hiện tượng tự nhiên 37 Bảng 2.3 Bảng thống kê các THTM thuộc trường nghĩa vật thể nhân tạo 43

Bảng 2.4 Bảng thống kê các THTM thuộc trường nghĩa thực vật 49

Bảng 2.5 Bảng thống kê các THTM thuộc trường nghĩa động vật 54

Bảng 2.6 Bảng thống kê các THTM thuộc trường nghĩa con người 59

Trang 8

DANH MỤC CÁC HÌNH

Hình 2.1 Biểu đồ tỉ lệ các bài thơ xuất hiện các THTM trong thơ Chế Lan Viên 33Hình 2.2 Sơ đồ khái quát về hình thức ngữ biểu đạt của THTM thuộc các trường

nghĩa 34Hình 2.3 Biểu đồ tỉ lệ xuất hiện của 3 THTM điển hình thuộc trường nghĩa hiện

tượng tự nhiên 39Hình 2.4 Biểu đồ tỉ lệ xuất hiện của 3 THTM điển hình thuộc trường nghĩa vật

thể nhân tạo 45Hình 2.5 Biểu đồ tỉ lệ xuất hiện của 3 THTM điển hình thuộc trường nghĩa thực vật 51Hình 2.6 Biểu đồ xuất hiện của 3 THTM điển hình thuộc trường nghĩa động vật 56Hình 2.7 Biểu đồ tỉ lệ xuất hiện của 3 THTM điển hình thuộc trường nghĩa con người 62Hình 3.1 Mô hình giao tiếp cơ bản 67Hình 3.2 Mô hình khái quát về ý nghĩa thẩm mĩ của các tín hiệu 68

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Ngày nay, Ngôn ngữ học đang trên đà phát triển mạnh mẽ nhằm đáp ứng nhu cầu khám phá cốt lõi bản chất của ngôn ngữ để chinh phục những quy luật phát triển và vận dụng hiệu quả, đắc lực chúng vào mọi miền lĩnh vực đời sống xã hội của con người Cùng với xu thế khám phá ngôn ngữ của nhiều nước trên thế giới, ở nước Việt Nam, ngành Ngôn ngữ học cũng đã được chú trọng quan tâm và mở ra nhiều chiều hướng phát triển Đặc biệt, đối với lĩnh vực văn chương, loại hình nghệ thuật dùng chất liệu ngôn ngữ để sáng tạo nghệ thuật, thì khả năng vận dụng ngôn ngữ vào sáng tác văn chương của các nhà văn, nhà thơ là một trong những tiêu chí quan trọng được đề cao trong việc làm nên phong cách, khẳng định tài năng và thậm chí là tên tuổi của họ Thật vậy, nếu một nhà văn, nhà thơ biết cách sử dụng ngôn ngữ, có biệt tài vận dụng ngôn ngữ linh hoạt trong sáng tác, thì quá trình truyền đạt tư tưởng, tình cảm đến người đọc sẽ diễn ra dễ dàng và đạt hiệu quả cao; đồng thời tác phẩm sẽ mang chiều sâu ý nghĩa bởi độ sâu sắc và thâm thúy của ngôn

từ Ở phương diện này, đóng góp lớn nhất của ngành Ngôn ngữ học là vai trò hỗ trợ đắc lực việc định hình các quy tắc ngữ âm, từ vựng, ngữ nghĩa, ngữ pháp sao cho đem đến giá trị biểu đạt hiệu quả nhất cho cả hai quá trình sáng tác và tiếp nhận văn chương trong đời sống văn học

Về bản chất, ngôn ngữ là một hệ thống tín hiệu, phát triển có quy luật, mang bản chất xã hội, được tạo ra để thực hiện hai chức năng cơ bản: công cụ nhận thức,

tư duy và phương tiện giao tiếp quan trọng nhất của con người Không những là hệ thống tín hiệu, ngôn ngữ còn là hệ thống tín hiệu đặc biệt, bởi khác với những hệ thống tín hiệu thông thường khác, ngôn ngữ là một hệ thống tín hiệu phức tạp, chứa đựng nhiều hệ thống và hệ thống con; các đơn vị ngôn ngữ làm thành những cấp độ khác nhau và có tính đa trị Nhờ tính đặc biệt ấy của hệ thống tín hiệu ngôn ngữ mà với ngành Văn học – sử dụng chất liệu ngôn ngữ, ngôn ngữ đã được trao cho sứ mệnh là tạo nên tín hiệu thẩm mĩ (THTM), đem đến chức năng thẩm mĩ, một trong những chức năng đặc biệt quan trọng và đặc trưng của văn chương THTM là một khái niệm có tính chất liên ngành Đây là một thuật ngữ dùng trong nhiều lĩnh vực nghệ thuật, nhưng quen thuộc hơn cả là người ta thường nói đến THTM như sự thể hiện của tín hiệu (TH) ngôn ngữ đặt trong mối quan hệ với tác phẩm văn chương Không dừng lại ở đó, một TH ngôn ngữ thông thường khi đi vào thế giới thi ca thì

Trang 10

đã được chuyển hóa thành TH nghệ thuật, THTM ngôn ngữ hay TH văn chương Ngày nay, vấn đề tiếp cận văn chương dưới góc nhìn ngôn ngữ học đã và đang nhận được sự quan tâm rất lớn từ các nhà nghiên cứu cả trên lĩnh vực Văn học lẫn Ngôn ngữ học Bởi tiếp cận văn học bằng con đường THTM được đánh giá là một trong những con đường đi từ cái hay của ngôn từ, và là con đường hữu hiệu để khám phá giá trị thẩm mĩ của tác phẩm văn học Ở nước ta, đã có nhiều công trình nghiên cứu

về các hình thức thẩm mĩ cụ thể của văn học như: những “mẫu đề” (mô-típ), những biểu tượng, biểu trưng, những ẩn dụ, hoán dụ… Và những công trình nghiên cứu ngôn ngữ học văn học, nhất là trên lĩnh vực thơ ca từ góc nhìn THTM, đặc biệt là từ phía các nhà nghiên cứu văn học đã và đang được chú trọng, trở thành hướng

nghiên cứu tiềm năng trong việc khám phá thế giới thơ ca của văn học

Chế Lan Viên là một trong những tên tuổi hàng đầu của nền thơ Việt Nam thế kỉ XX Với trên 50 năm lao động nghệ thuật, trải qua cả ba chặng đường văn học 1930 – 1945, 1945 – 1975 và sau 1975, ông đã để lại 13 tập thơ gồm hơn một nghìn bài thơ, trong đó có những thi phẩm gây được tiếng vang lớn, trở thành những hiện tượng nổi bật trong đời sống văn học đương thời Bên cạnh đó, Chế Lan Viên còn là nhà thơ có quan niệm và phong cách nghệ thuật độc đáo, có ảnh hưởng đáng

kể đến nền thơ Việt Nam hiện đại Đặc điểm nổi bật của phong cách thơ ông là chất trí tuệ, sự suy tư, chiêm nghiệm ở chiều sâu triết lí Do vậy, mặc dù đã có khá nhiều công trình nghiên cứu về thơ Chế Lan Viên nhưng thơ ông vẫn còn là một bí ẩn lớn đối với công cuộc tìm tòi, “khai quật” của những người đam mê vẻ đẹp của nghệ thuật ngôn từ thơ ca ông Như vậy, thơ Chế Lan Viên đến nay vẫn còn là một đề tài lớn, khá mới mẻ cho việc nghiên cứu ngôn ngữ văn học, đem đến cho ta nhiều miền khám phá thú vị, để từ đó có được những trải nghiệm sâu sắc về con người cũng như sự nghiệp thơ ca mà cả một đời người nghệ sĩ tài hoa chân chính ấy đã tâm

huyết miệt mài tỉ mẩn “chưng cất” và để lại cho đời

Đã có nhiều công trình nghiên cứu về thơ Chế Lan Viên dưới các góc độ văn học, ngôn ngữ học, trên các phương diện nội dung và nghệ thuật, nhưng THTM trong thơ ông, với những biểu hiện phong phú, cụ thể, sinh động và giàu giá trị thẩm mĩ lại ít được nói đến, hoặc có thì chỉ giới hạn ở vài THTM nổi bật Như vậy cùng với sự nghiệp sáng tác phong phú của Chế Lan Viên, thế giới THTM trong thơ ông vẫn là nguồn nghiên cứu mới mẻ và việc tiếp cận thơ Chế Lan Viên ở góc nhìn THTM hứa hẹn đem đến nhiều những khám phá mới, những góc nhìn mới và cận cảnh về đời sống thơ ca cũng như thế giới tâm hồn của chính tác giả Đó là lí do

Trang 11

chúng tôi chọn Tín hiệu thẩm mĩ trong thơ Chế Lan Viên làm đề tài luận văn nghiên cứu Với đề tài Tín hiệu thẩm mĩ trong thơ Chế Lan Viên, chúng tôi mong muốn góp

vào một cách tiếp cận các tác phẩm thơ Chế Lan Viên từ góc nhìn tín hiệu học của ngôn ngữ học Từ đó, có thể thấy được các tín hiệu thẩm mĩ trong thơ Chế Lan Viên chính là “chìa khóa” mở ra cánh cửa khám phá nội dung, nghệ thuật của các tác

phẩm, ứng dụng sâu rộng vào việc tiếp nhận các tác phẩm thơ ca của ông

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài

2.1 Tình hình nghiên cứu THTM trong ngôn ngữ học và trong văn học

Từ lâu, lí thuyết về THTM là vấn đề đã được các nhà nghiên cứu ngôn ngữ

từ lâu đặt nền móng, chú trọng nghiên cứu

Thuật ngữ tín hiệu thẩm mĩ ra đời gắn với khuynh hướng cấu trúc trong

nghiên cứu mĩ học và nghệ thuật những năm giữa thế kỉ XX, được đưa vào sử dụng

ở nước ta từ những năm 70 của thế kỉ trước qua các bản dịch các công trình của Iu

A Philipiep, M B với bản dịch và đánh máy Những tín hiệu thông tin thẩm mĩ, NXB Khoa học (1971); và Khrapchenko với cuốn Sáng tạo nghệ thuật, hiện thực,

con người (tập 2), NXB Khoa học xã hội (1986)

Sự tiếp cận các lí thuyết về THTM trong thời gian này đã thổi vào đời sống nghiên cứu ngôn ngữ ở nước ta một làn gió mới, hàng loạt những công trình, bài viết của của các nhà nghiên cứu ngôn ngữ nối tiếp nhau ra đời, có thể kể đến các tên tuổi:

Hoàng Tuệ với bài viết Tín hiệu và biểu trưng đăng trên báo văn nghệ ngày

12.03.1977 Với bài viết này, Hoàng Tuệ đã đặt ra mối quan hệ giữa hình thức tín hiệu và ý nghĩa biểu trưng của ngôn ngữ, đặt nền móng đầu tiên cho việc việc nghiên cứu tín hiệu ngôn ngữ thẩm mĩ ở nước ta

Đỗ Hữu Châu với bài viết Những luận điểm về cách tiếp cận ngôn ngữ học

các sự kiện văn học in trên tạp chí Ngôn ngữ, số 2 (1990) Có thể nói, đó là công

trình đầu tiên ở nước ta đề cập một cách khá đầy đủ và có hệ thống về khái niệm, những đặc trưng của THTM cùng cách tiếp cận ngôn ngữ - THTM trong tác phẩm văn học Trong bài viết này, Đỗ Hữu Châu cho rằng, xét theo nguồn gốc, có hai loại tín hiệu thẩm mĩ: những tín hiệu thẩm mĩ rút ra từ hiện thực và những tín hiệu thẩm

mĩ có nguồn gốc ngôn ngữ Nhưng hai loại này khác nhau như thế nào, cơ chế biểu hiện ý nghĩa thẩm mĩ ra sao thì vì mới là một trong những công trình đầu tiên, nên bài viết này chưa bàn luận đến Một số những đặc tính của THTM còn có tính đẳng cấu Vấn đề tín hiệu thẩm mĩ được tác giả lí giải bằng một số ý kiến quan trọng và chỉ dừng lại ở mức độ gợi mở, mang tính lí luận

Trang 12

Trần Đình Sử với bài viết Ngôn ngữ học nghệ thuật, mã và phê bình văn học

hôm nay, in trên Thông báo khoa học, Đại học Sư phạm Hà Nội, số 6 (1991) Bài

viết đã đặt ra vấn đề đánh giá và phê bình tác phẩm văn học dưới góc nhìn ngôn ngữ một cách khoa học, khách quan, đi từ phát hiện kí hiệu, kiến tạo kí hiệu và giải mã

kí hiệu ngôn ngữ…thay vì theo cảm nhận chủ quan của các nhà phê bình như cách tiếp nhận và khám phá tác phẩm văn học ở giai đoạn trước Nhìn chung, bài viết đã nêu lên một quan điểm mới trong việc chỉ ra tầm quan trọng của kí hiệu ngôn ngữ hay TH ngôn ngữ trong việc tiếp nhận văn chương và phê bình văn học đương thời

Không lâu sau đó, Hoàng Trinh cho xuất bản cuốn sách Từ kí hiệu học đến thi

pháp học (1992) Trong cuốn này, Hoàng Trinh có hai bài viết có liên quan đến

THTM Bài viết thứ nhất là Chủ nghĩa cấu trúc, một biến dạng của chủ nghĩa duy

tâm hiện đại Nhìn chung, trong bài viết này Hoàng Trinh đã chạm đến vấn đề tín

hiệu ngôn ngữ, nhưng chủ yếu là dùng để nêu lên những ý kiến phê bình về chủ nghĩa cấu trúc trong mối tương quan giữa các trường phái triết học chứ chưa đi sâu nghiên cứu và nêu lên được những vấn đề tín hiệu thẩm mĩ Cho nên ở bài viết thứ hai -

Ngôn ngữ và cuộc sống, cuộc sống và ngôn ngữ trong tác phẩm văn học, tác giả đã

nêu lên một cách cụ thể và tiệm cận với lí thuyết THTM hơn Ở bài viết này, tác giả tập trung làm rõ ba vấn đề: mối quan hệ giữa hai mặt biểu hiện và cái được biểu hiện trong tín hiệu thẩm mĩ; khả năng phán ánh ý nghĩa hiện thực của những tín hiệu thẩm mĩ; và sự chuyển hóa bên trong của các kí hiệu để tạo ra ngôn ngữ văn học

Nguyễn Lai với cuốn Ngôn ngữ với sáng tạo và tiếp nhận văn học (1998) đã

chỉ rõ rằng việc tiếp nhận văn học phải thông qua “cơ chế chuyển mã từ mã ngôn ngữ sang mã hình tượng” tức là nói đến lý luận tiếp nhận văn học theo hướng ngôn ngữ học Với cuốn sách này, ông đã nhấn mạnh mối liên hệ khăn khít giữa ngôn ngữ với văn chương trong tiếp nhận văn học Theo đó, ngôn ngữ chính là những tín hiệu, cần được giải mã, chuyển hóa thành mã hình tượng để hoàn tất quá trình tiếp nhận văn chương Ở góc độ này, ông cũng nêu lên được sự tiếp cận tác phẩm văn học từ góc độ TH ngôn ngữ

Nhìn chung, vấn đề THTM đã được chú trọng quan tâm từ thế kỉ trước Hầu hết các công trình nghiên cứu, các bài viết trên đều cho thấy sự nhận thức rõ vai trò của TH ngôn ngữ nói chung và THTM nói riêng trong tiếp nhận văn học Đồng thời, khẳng định tiếp nhận văn chương từ góc nhìn TH ngôn ngữ là một phương pháp tiếp cận đúng đắn, khoa học

Trong nhiều năm trở lại đây, đã có nhiều luận án, luận văn nghiên triển khai

Trang 13

theo hướng ngôn ngữ học đi vào phân tích THTM trong tác phẩm văn học, nhất là thơ ca, có thể kể đến:

Luận văn Một số tín hiệu thẩm mĩ trong thơ tình Xuân Diệu (1990) của tác

giả Lê Thị Tuyết Hạnh

Luận án Sự biểu đạt bằng ngôn ngữ các tín hiệu thẩm mĩ – không gian trong

ca dao (1995) của tác giả Trương Thị Nhàn, bảo vệ tại Đại học Sư phạm Hà Nội 1

Luận văn Khảo sát các tín hiệu thẩm mĩ “mùa xuân” và “trái tim” trong thơ

Xuân Diệu (2008) của Đỗ Ngọc Thư, bảo vệ tại Đại học Thái Nguyên

Luận văn Tín hiệu thẩm mĩ trong tác phẩm văn học Việt Nam ở trường trung

học phổ thông (2021) của Hồ Lê Pháp, bảo vệ tại Đại học Quy Nhơn

2.2 Tình hình nghiên cứu THTM trong thơ của Chế Lan Viên

Hiện nay, vấn đề nghiên cứu về THTM trong thơ của Chế Lan Viên dường như vẫn còn bỏ ngỏ Hầu hết các đề tài, công trình nghiên cứu về thơ Chế Lan Viên

mà chúng tôi tìm thấy chỉ tập trung khai thác các vấn đề thuộc về lĩnh vực văn học như: phong cách nghệ thuật, hay những đặc trưng nội dung và nghệ thuật của thơ ông Số lượng các công trình nghiên cứu thơ Chế Lan Viên trên lĩnh vực ngôn ngữ

học còn rất khiêm tốn, có thể kể đến luận văn Tín hiệu thẩm mĩ trong tập Di cảo thơ

(phần 3) của Chế Lan Viên (2013) của tác giả Đỗ Hà Quỳnh Luận văn đã nghiên

cứu trên tổng số 127 bài thơ, chọn ra 93 bài thơ có sử dụng biện pháp ẩn dụ tượng trưng để khảo sát hệ thống THTM Qua việc lập bảng thống kê hệ thống THTM, luận văn đã cho thấy được sự đa dạng, phong phú đến bất ngờ của kho từ vựng mà Chế Lan Viên sử dụng trong phép ẩn dụ tượng trưng để tạo nên các THTM trong thơ ông Luận văn còn chỉ ra vai trò của các THTM đối với sự thành công của tập thơ cũng như việc khẳng định phong cách nghệ thuật của nhà thơ Chế Lan Viên

Nhìn chung, theo tiến trình lịch sử nghiên vấn đề, ta nhận thấy các công trình nghiên cứu đã từng bước tiến sâu vào trong bản chất của vấn đề THTM từ góc độ lí thuyết đến tính ứng dụng vào việc tiếp nhận văn học Dù bước đi bắt đầu từ đâu thì cũng đều để lại những giá trị rất lớn đối với hoạt động nghiên cứu về THTM trong tương lai, nhất là khi đời sống văn chương luôn tồn tại và phát triển song hành cùng với đời sống ngôn ngữ Những công trình nghiên cứu ấy cũng chính là “những viên gạch đầu tiên”, là tiền đề để hôm nay chúng tôi viết tiếp về người nghệ sĩ tài hoa Chế Lan Viên, về sức sống bất tuyệt của những tác phẩm thơ mà ông đã để lại cho

đời với đề tài Tín hiệu thẩm mĩ trong thơ Chế Lan Viên

Trang 14

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Luận văn tiến hành khảo sát, nghiên cứu hệ thống THTM trong thơ Chế Lan Viên, nhằm phát hiện những ý nghĩa biểu trưng trong cách sử dụng THTM của thơ ông Từ đó, thấy được giá trị và vai trò của những TH đó trong việc kiến tạo những giá trị nội dung, nghệ thuật của các sáng tác thơ ca Đồng thời, khẳng định những đóng góp của thơ ca Chế Lan Viên đối với nền văn học Hiện đại Việt Nam nói riêng

và nền văn học dân tộc nói chung

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được mục đích nghiên cứu trên, chúng tôi đã đặt ra và thực hiện

những nhiệm vụ chính dưới đây:

Trước hết, chúng tôi hệ thống các lí thuyết về tín hiệu, tín hiệu ngôn ngữ, tính hiệu ngôn ngữ thẩm mĩ, các nội dung về nghĩa, trường nghĩa, ngữ cảnh, mối quan hệ giữa trường nghĩa với các vấn đề văn học, ngôn ngữ học và tín hiệu thẩm mĩ

Tiếp đến, tiến hành khảo sát một cách hệ thống tần số xuất hiện của các TH thuộc trường nghĩa tự nhiên, động vật, thực vật; các TH thuộc trường nghĩa vật thể nhân tạo; và các TH thuộc trường nghĩa con người

Trên cơ sở đó, chúng tôi đặt ra là phân tích những biểu hiện về mặt hình thức và ý nghĩa của các THTM trong các tác phẩm thơ Chế Lan Viên nhằm chỉ ra được mối quan hệ gắn bó giữa con người với môi trường cũng như vai trò tự nhiên trong tư duy nghệ thuật của nhà thơ

Sau cùng, luận văn đặt ra nhiệm vụ nghiên cứu biểu hiện ý nghĩa của những tín hiệu thẩm mĩ điển hình trong các tác phẩm thơ của Chế Lan Viên Trên cơ sở đó, xác định dấu ấn văn hóa, lịch sử, xã hội dân tộc

4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Từ góc nhìn ngôn ngữ học, đối tượng nghiên cứu của luận văn là hệ thống THTM trong thơ Chế Lan Viên Do số lượng các tác phẩm thơ Chế Lan Viên khá lớn và các tín hiệu khảo sát có tính chất đa dạng, phức tạp nên chúng tôi chỉ đi sâu nghiên cứu những tín hiệu thẩm mĩ điển hình, tiêu biểu, những tín hiệu có tần suất cao và có giá trị biểu trưng phong phú, đại diện cho mỗi trường nghĩa trong các tác phẩm thơ Chế Lan Viên: các TH tiêu biểu thuộc trường nghĩa tự nhiên; TH tiêu biểu thuộc trường nghĩa động vật; TH tiêu biểu thuộc trường nghĩa thực vật; các TH tiêu biểu thuộc trường nghĩa vật thể nhân tạo; và các TH tiêu biểu thuộc trường nghĩa

Trang 15

con người Chúng tôi xem đó là các “tiêu điểm”, các TH trung tâm, TH điển hình của một trường nghĩa cụ thể để nghiên cứu về các mặt ngôn ngữ, văn hóa, văn học

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Với dung lượng của một luận văn, chúng tôi chỉ tập trung khảo sát, nghiên

cứu THTM trong hai tập thơ: Điêu tàn (1937), in trong cuốn Điêu tàn, tác phẩm và

dư luận (NXB Văn học, 1967, với 36 bài thơ); Ánh sáng và phù sa (1960) in trong

cuốn Ánh sáng và phù sa (NXB Đại học Quốc gia 2006, với 70 bài thơ) Cụ thể với

105 bài thơ, chúng tôi thu được 235 THTM và phân chia thành các trường nghĩa

Từ hệ thống THTM này, chúng tôi tập trung phân tích giá trị thẩm mĩ của các THTM điển hình ở mỗi trường nghĩa

5 Phương pháp nghiên cứu

Việc nghiên cứu đề tài luận văn dựa trên sự kết hợp các phương pháp:

- Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các tín hiệu thẩm mĩ trong thơ Chế Lan Viên: các tín hiệu thẩm mĩ này tồn tại luôn luôn gắn chặt với môi trường văn hóa,

gắn liền với những yếu tố về địa lí, lịch sử…Vì vậy, cần sử dụng phương pháp

nghiên cứu liên ngành: Ngôn ngữ học, Văn học,… Nghiên cứu tổng kết những vấn

đề lí luận của Ngôn ngữ học truyền thống và hiện đại về các lĩnh vực: từ vựng, ngữ pháp, phân tích văn bản ngữ dụng học, tín hiệu học…kết hợp với thành tựu liên ngành về lí thuyết tín hiệu thẩm mĩ, lí thuyết tri nhận, thi pháp học, lí luận văn học…chúng tôi đi đến tiếp cận, luận giải đối với đối tượng nghiên cứu

- Chúng tôi vận dụng phương pháp miêu tả ngôn ngữ học với các thủ pháp nghiên cứu ngôn ngữ đặc thù: thống kê, phân loại Phương pháp này cho phép đề tài

tính toán được số lần xuất hiện của các tín hiệu thẩm mĩ; phân loại các tín hiệu thẩm

mĩ theo các nhóm tín hiệu…Kết quả của việc thống kê khách quan cho phép người nghiên cứu đi đến kết luận, những khái quát khoa học, tránh được những suy luận chủ quan, gò ép

- Từ những dữ liệu thống kê, đề tài vận dụng phương pháp miêu tả ngôn ngữ

học với các thủ pháp: miêu tả, phân tích để miêu tả các hình thức biểu hiện ngôn

ngữ, các bình diện ý nghĩa; phân tích ngữ nghĩa, ngữ cảnh, phân tích mối quan hệ biện chứng hữu cơ giữa các mặt của từng đơn vị, tìm ra sự đồng nhất và đối lập giữa các nghĩa trong hệ thống và nghĩa trong hoạt động, nghĩa từ điển và nghĩa nghệ thuật của các tín hiệu thẩm mĩ đang nghiên cứu Để làm rõ hơn cái hay, cái đẹp trong khả năng thể hiện nghĩa của các tín hiệu thẩm mĩ, chúng tôi vận dụng thủ

pháp nghiên cứu phân tích ngữ cảnh

Trang 16

6 Bố cục của luận văn

Ngoài các phần: Mở đầu, Kết luận, Mục lục và Phụ lục, Nội dung của đề tài được triển khai thành ba chương:

Trang 17

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG

1.1 Tín hiệu thẩm mĩ

1.1.1 Tín hiệu

1.1.1.1 Khái niệm tín hiệu

Trong thực tế cuộc sống của mình, loài người đã phát hiện, làm quen, xây dựng và sử dụng nhiều kiểu loại tín hiệu (TH) khác nhau như: âm thanh, hệ thống đèn hay biển báo (giao thông), các kí hiệu (toán học, vật lí học),… để đại diện, ám chỉ, báo hiệu cho một thông tin nào đó vốn đã được cộng đồng ngầm quy ước, thừa nhận với nhau Đó là cách ta dùng “một cái gì đó” làm TH thay thế cho đối tượng

cụ thể hay một khái niệm trừu tượng Trên cơ sở ra đời ấy của TH, đã có nhiều quan niệm khác nhau về khái niệm TH

Khái niệm TH được nhắc đến lần đầu tiên trong học thuyết tín hiệu ngôn ngữ

của de Saussure Theo ông, TH có hai mặt, bao gồm cái biểu đạt (cbđ – hình thức vật chất cảm tính) và cái được biểu đạt (cđbđ – nội dung ý nghĩa) Hai mặt này gắn

bó khắng khít với nhau và đã có cái này là có cái kia [7, tr.121] Sau này,

Ch.S.Pierce đã đưa thêm vào cấu trúc nhị diện nhân tố thứ ba là cái lí giải

(interpretant) [8, tr.712] Nhưng phải đến khi Ch.W.Morris hệ thống hóa và xây dựng một lí thuyết tổng quát về TH thì ba chiều của TH mới thực sự có nghĩa trong nhiều lĩnh vực nghiên cứu khoa học và đặc biệt với ngành tín hiệu học [8, tr.702]

Cả Ch.W.Morris cũng như Ch.S.Pierce chia ra ba chiều của TH ngôn ngữ: thứ nhất

là chiều kết học nghiên cứu các TH trong mối quan hệ với các TH khác, thứ hai là chiều nghĩa học nghiên cứu các TH trong mối quan hệ với các sự vật ở bên ngoài hệ thống TH, thứ ba là chiều dụng học nghiên cứu các TH trong những mối quan hệ với người sử dụng nó

Theo F.Guiraud: Một TH…là một kích thích mà tác dụng của nó đến cơ thể

gợi ra hình ảnh kí ức của một kích thích khác [8, tr.706] Đây là một quan niệm

rộng bởi TH được hiểu bao gồm cả những TH hiểu theo nghĩa hẹp, cả những TH

“nhận biết” và TH “giao tiếp” có tính chất bản năng của loài vật Vì thế, một đám mây đen báo hiệu trời sắp mưa, đám khói bay lên cho biết ở đó có lửa, dấu chân người trên cát chứng tỏ có người vừa đi qua…đều có khả năng trở thành TH

Còn A.Shaff định nghĩa TH theo nghĩa hẹp: Một vật vật chất hay thuộc tính

của nó, một hiện tượng thực tế sẽ trở thành TH nếu như trong quá trình giao tiếp,

Trang 18

nó được nhân vật giao tiếp sử dụng trong khuôn khổ của một ngôn ngữ để truyền đạt một tư tưởng nào đó về thực tế, tức về thế giới bên ngoài hay về những cảm thụ nội tâm [8, tr.707] Như vậy, A.Schaff chỉ thừa nhận là TH khi nó mang chức năng

giao tiếp, được con người sử dụng nhằm trao đổi tư tưởng, tình cảm của mình trong đời sống

Dù TH được hiểu theo nghĩa hẹp hay nghĩa rộng thì các ý kiến đều được thống nhất cho rằng TH là khái niệm quan hệ, không phải là khái niệm tự thân, muốn một cái gì đó trở thành TH thì nó phải nằm trong một hệ thống nhất định và có mối quan

- TH phải có tính vật chất Vật chất là một sự vật hoặc một thuộc tính vật chất

như ánh sáng, màu sắc, âm thanh, vật thể…Nghĩa là, người ta có thể tri nhận được chúng bằng các giác quan Cho nên các thuộc tính vật chất ấy của TH phải có khả năng kích thích vào các giác quan của con người và được con người cảm nhận, đáp ứng quá trình phát sinh TH và tiếp nhận TH Khác với TH của loài vật, vốn là quá trình tiếp nhận theo hướng phản xạ có điều kiện, quá trình tiếp nhận TH của con người là quá trình tiếp nhận có ý thức, cấp cao

- TH phải gợi ra, đại diện cho một cái gì đó khác với chính nó Nói cách khác,

TH phải mang nghĩa “được gán”, “được quy ước” khác với bản thân ý nghĩa vật chất của nó Định nghĩa của Guiraud cũng đã chỉ rõ: Ý nghĩa của cái chỉ ra trong

TH bao giờ cùng là một thực thể tâm lí thuộc tinh thần Chẳng hạn, hệ thống đèn giao thông màu đỏ, màu vàng, màu xanh đóng vai trò là cbđ Nó mang chức năng gợi ra ý nghĩa về mặt tinh thần, cụ thể là truyền tải nội dung “đứng lại”, “chuẩn bị”,

“được phép đi”

- TH phải được chủ thể tiếp nhận và lí giải được Nói rõ hơn là chủ thể tiếp

nhận phải có năng lực tri thức và lĩnh hội được mối quan hệ giữa cbđ và cđbđ của

TH Muốn thế, quan hệ giữa lớp vỏ vật chất của TH và nội dung của TH phải dựa trên quy ước có ý thức của con người hoặc cộng đồng, xã hội được con người duy trì sự thừa nhận, tri thức và lĩnh hội như một điều tất yếu

Ví dụ 1: Một hồi chuông dài đối với học sinh là báo hiệu hết giờ học nhưng có thể là TH tập hợp quân đối với các quân binh

Trang 19

Ví dụ 2: Tia sáng lọt qua khe cửa vào phòng của một đứa trẻ sơ sinh chưa phải

là TH bởi vì đứa trẻ chưa lí giải được cđbđ từ tia sáng, mặc dù tia sáng vẫn kích thích cảm quan của đứa trẻ và gây được những phản ứng nhất định Nhưng đối với người lớn, tia sáng là TH bởi vì học có thể rút ra một ý nghĩa nào đó, như “trời sáng”, “sắp đến giờ đi làm”…

- TH phải nằm trong một hệ thống nhất định và có đặc điểm khác biệt với các

yếu tố khác có cùng hệ thống Đây là điều kiện bắt buộc một cách hiển nhiên đối

với những TH giao tiếp do con người đặt ra TH sẽ không còn là TH khi tách khỏi

hệ thống, bởi giá trị của nó có được là nhờ vào mối quan hệ của nó với các TH khác trong hệ thống Mặt khác, một điều kiện hiển nhiên là hệ thống phải là một tổng thể bao gồm nhiều yếu tố, và các yếu tố đó nằm trong quan hệ đối lập nhằm tạo ra giá trị khu biệt của TH trong hệ thống

1.1.1.2 Phân loại tín hiệu

Đã có nhiều nhiều cách phân loại khác nhau đối với TH Các nhà nghiên cứu

TH học đã phân các TH thành những phạm trù (hay loại) khác nhau K.Buhler chia

các TH thành: Symbole (TH chỉ ra sự vật, đối tượng), Symptome (TH bộc lộ trong thái tâm sinh lí, tư tưởng, tình cảm của người nói), Signal (TH gây tác động tâm

sinh lí cho người nghe [8, tr.711]

Ch.S.Pierce phân chia TH thành ba loại chính: Hình hiệu (icones), chỉ hiệu (index), và ước hiệu (symbol) dựa theo tiêu chuẩn quan hệ giữa cbđ và cđbđ mà

F.de Saussure đã đưa ra Theo đó, đại đa số TH ngôn ngữ là thuộc loại ước hiệu, loại TH mà mối quan hệ giữa cbđ và cđbđ là hoàn toàn võ đoán, không giải thích được nguyên do Loại TH này sẽ mất tư cách là TH nếu không có người lí giải [8, tr.711]

Morris dựa vào mối quan hệ giữa TH với các loại sự vật mà chúng biểu thị đẻ

chia TH thành hai loại: các chỉ hiệu (Single indexes) và định hiệu (Signes caracterisant) Tiếp theo, ông lại phân chía các định hiệu ra thành hình hiệu và biểu

trưng (symbole) [8, tr.712]

A.Shaff xuất phát từ cơ sử chỉ xem TH gắn liền với chức năng giao tiếp, nên

ông tiến hành phân loại như sau: đầu tiên ông phân TH thành TH nhân tạo và TH tự

nhiên (TH đích thực) TH tự nhiên lại được chia thành TH từ và TH thực có khả

năng bộc lộ nhất định lại được chia thành lệnh hiệu và định hiệu Các định hiệu lại được chia thành định hiệu đích thực và symbole [8, tr.713]

F.Guiraud từ năm 1950 đã đưa ra bảng phân loại TH Ông phân chia TH dựa

Trang 20

trên mối quan hệ giữa thực tế với nhận thức của con người Trong đó, tác giả quan tâm tới những TH biểu hiện (TH không giao tiếp) Những TH biểu hiện về bản chất

là các hình hiệu và chức năng của chúng không phải là công cụ giao tiếp mà là công

cụ để phản ánh, miêu tả thực tế khách quan Ví dụ như: bức ảnh, bản nhạc, tranh vẽ…Chúng là sản phẩm của các loại hình nghệ thuật và thuộc đối tượng nghiên cứu

của nghệ thuật học F.Guiraud tiếp tục phân chia TH thành TH tự nhiên và TH nhân

tạo Trong TH nhân tạo ông lại phân chia thành TH giao tiếp và TH không giao tiếp

Ông còn dựa theo đặc tính thể chất của TH mà phân chia các TH thành TH thị

giác, TH thính giác, TH xúc giác Theo đặc tính chuyển mã hay chưa chuyển mã,

ông chia các TH thành TH thứ cấp (còn gọi là kí hiệu) và TH sơ cấp…F.Guiraud

cũng chỉ ra sự xâm nhập lẫn nhau của các loại TH [8, tr.714]

Đỗ Hữu Châu cũng đã đưa bảng phân loại TH theo quan điểm riêng của mình Theo ông, TH là một thực tế đa diện cho nên căn cứ vào các phương diện khác nhau

có thể định ra các tiêu chí phân loại khác nhau Mỗi lần vận dụng một tiêu chí phân loại là có một kết quả phân loại Những tiêu chí phân loại mà Đỗ Hữu Châu đưa ra là: 1/ Dựa vào đặc tính thể chất của cái biểu hiện, 2/ Dựa vào nguồn gốc của TH, 3/ Dựa vào mối quan hệ giữa cái hiểu hiện và cái được biểu hiện, 4/ Căn cứ vào chức năng xã hội của TH [8, tr.716-717]

Dựa vào mặt thể chất của TH có thể phân chia ra được các loại TH như: tín hiệu màu sắc, tín hiệu âm thanh…trong đó, TH ngôn ngữ được coi là một loại TH đặc biệt

1.1.2 Tín hiệu ngôn ngữ

Ngôn ngữ cũng là một TH bởi ngôn ngữ đáp ứng đầy đủ các điều kiện của một TH Trong thực tế giao tiếp, ngôn ngữ bao gồm ba mối quan hệ chính: quan hệ giữa TH với TH, quan hệ giữa TH với thực tế và quan hệ giữa TH với nhân vật giao tiếp Ba quan hệ này lập thành ba bình diện tạo nên bản chất của TH ngôn ngữ: kết học, nghĩa học và dụng học Ba bình diện này luôn được đặt trong mối quan hệ khăng khít với nhau

F.de Saussure xác định TH ngôn ngữ như sau: Tín hiệu ngôn ngữ kết liền

thành một không phải một sự vật với một tên gọi mà là một khái niệm với một bình diện hình ảnh, âm thanh, hai yếu tố này gắn bó khăng khít với nhau và đã có cái này thì phải có cái kia Trong đó khái niệm được gọi là cái được biểu đạt (cđbđ) và hình ảnh âm thanh gọi là cái biểu đạt (cbđ) [8, tr.118] Như vậy, mối quan hệ giữa

cái được biểu đạt và cái biểu đạt như hai mặt của một tờ giấy, hễ mất mặt này thì

Trang 21

mặt kia không thể tồn tại, hay nói cách khác, TH ngôn ngữ là một tổng thể hai mặt không thể tách rời Từ đó, F.de Saussure đã chỉ ra hai đặc điểm của TH ngôn ngữ: tính võ đoán và tính hình tuyến Tính võ đoán, hiểu theo F.de Saussure là mối quan

hệ giữa cbđ và cđbđ hoàn toàn không có một lí do xác đáng nào Nghĩa là, nếu không có cbđ này thì có thể cbđ khác làm vỏ cho các đơn vị ngôn ngữ mà người ta vẫn có thể hiểu nếu như cấp cho chúng các thể đối lập cần thiết nhằm xác định giá trị của đơn vị đó

Ch.S Pierce cũng có quan niệm tương tự Ông cho rằng đại đa số TH ngôn ngữ thuộc loại ước hiệu, loại TH mà mối quan hệ giữa cbđ và cđbđ là hoàn toàn võ đoán, không giải thích được nguyên do Loại TH này sẽ mất tư cách là TH nếu không có cái lí giải

F.de Sausure chỉ rõ rằng: Thương người ta không nói bằng TH riêng lẻ, mà

bằng từng nhóm TH, từng khối có tổ chức, vồn cũng là TH [8, tr.221] Sau này, Ch

W Morris cũng đồng tình với F.de Saussure về quan điểm cho rằng tất cả các TH

đều nằm trong quan hệ với các TH khác và quy định lẫn nhau [8, tr.712] Do đó,

các TH luôn nằm trong một hệ thống nhất định Ngôn ngữ là một loại TH đặc biệt nên nó cũng lập thành một hệ thống với những cấp độ và quan hệ đặc thù của ngôn ngữ

Trong cuốn Cơ sở ngữ nghĩa học từ vựng, Đỗ Hữu Châu coi ngôn ngữ là hệ

thống TH sơ cấp được xây dựng với những thể chất tinh thần và vật chất Đó là những âm thanh do bộ máy cấu âm của con người tạo ra Ông đặc biệt lưu ý vấn đề chức năng và đặc tính đa chức năng của các TH ngôn ngữ so với các hệ thống TH nói chung và TH mang chức năng giao tiếp nói riêng Nếu như các TH khác ở từng

hệ thống chỉ thực hiện được một chức năng TH học thì ngôn ngữ không chỉ thuần túy mang chức năng giao tiếp mà đồng thời còn là công cụ để tư duy, để tổ chức xã hội, để duy trì sự sống của con người và để còn mang chức năng thi pháp…Trong

đó, chức năng giao tiếp được coi là chức năng xã hội quan trọng nhất của ngôn ngữ

Vì vậy, TH ngôn ngữ vừa là TH giao tiếp, vừa có thể là TH nhận thức, TH tư duy, TH hiểu hiện…Riêng đối với chức năng giao tiếp, cũng có sự phân biệt các chức năng khác nhau có liên quan đến các nhân tố khác nhau của hoạt động giao tiếp: chức năng miêu tả, chức năng dụng học, chức năng phát ngôn, chức năng cú pháp học

Từ các phương diện chức năng khác nhau của ngôn ngữ có thể xác định ý nghĩa TH của chúng trên tất cả những đơn vị mang ý nghĩa (tức các đơn vị có hai

Trang 22

mặt): từ, cụm từ, câu, đoạn văn, văn bản Một từ, ngữ hay một câu nói nào đó có thể mang thông tin về sự vật, hiện tượng được nói đến, vừa bộc lộ những đặc điểm về địa phương, về nghề nghiệp, về trạng thái tâm lí của người nói…

Ở bất kì cấp độ nào, mỗi TH ngôn ngữ đều phải bao hàm một hình thức ngữ

âm (cái biểu đạt – cbđ) tương ứng với một nội dung ngữ nghĩa (cái được biểu đạt – cđbđ), và giá trị của TH ngôn ngữ cũng do những mối quan hệ thuộc hệ thống ngôn ngữ quy định Vậy những mối quan hệ hệ thống của TH ngôn ngữ là những quan hệ nào? F.de Saussure đã nêu hai loại quan hệ chung nhất, đó là: 1/ Quan hệ đồng nhất

- đối lập và quan hệ khác biệt; 2/ Quan hệ hình tuyến và quan hệ trực tuyến [17, tr.145]

Trong ngôn ngữ học hiện đại, các nhà nghiên cứu còn đề cập đến các loại hình quan hệ như: quan hệ tôn ti (giữa các cấp độ của ngôn ngữ) và quan hệ hiện thực hóa (giữa bình diện trừu tường và bình diện cụ thể, giữa điển dạng và hiện dạng)

Chính các nguyên tắc đồng nhất và đối lập, kết hợp (hay hình tuyến) và liên tưởng (hay trực tuyến), điển dạng (hay hằng thể) và hiện dạng (hay biến thể) trong

hệ thống ngôn ngữ sẽ là những cơ sở lí thuyết quan trọng giúp ta lí giải về các TH ngôn ngữ trong quá trình hoạt động thực hiện các chức năng của ngôn ngữ trong giao tiếp, trong đó có giao tiếp nghệ thuật (giao tiếp của văn học) có liên quan đến những nhiệm vụ cần giải quyết

Chính vì vậy, mối quan hệ giữa hai mặt của TH ngôn ngữ đã được Đỗ Hữu Châu đặt trong chức năng xã hội của ngôn ngữ Sự hiện thực hóa chức năng xã hội của ngôn ngữ được biểu hiện trong hoạt động của toàn bộ hệ thống; qua những mối quan hệ ngang (tuyến tính, ngữ đoạn, tiếp đoạn, cú đoạn: khả năng kết hợp của các yếu tố ngôn ngữ với nhau để tạo thành một đơn vị cao hơn) và mối quan hệ giữa các cấp độ của hệ thống ngôn ngữ Trong các kết hợp cụ thể, mối quan hệ giữa hình thức ngôn ngữ (cbđ) và ý nghĩa (cđbđ) rất khác nhau [18, tr.763-764]

1.1.3 Tín hiệu thẩm mĩ

1.1.3.1 Khái quát về tín hiệu thẩm mĩ

Mỗi ngành nghệ thuật sẽ có một cách thức riêng để tạo ra những sản phẩm mang giá trị nghệ thuật Nếu tác phẩm điêu khắc là tổ chức hài hòa của các hình khối; tác phẩm hội họa là sự kết hợp hài hòa của những đường nét, màu sắc; tác phẩm âm nhạc

là sự hòa thanh của những nốt nhạc trầm bổng…thì tác phẩm văn học là sự tổ chức sắp xếp của ngôn từ Bước vào thế giới nghệ thuật, các TH thông thường sẽ chuyển hóa thành TH thẩm mĩ (THTM), mang những đặc thù của nghệ thuật

Trang 23

Đã có nhiều tác giả định nghĩa về THTM:

- Ch Morris cho rằng THTM là: Một thuật ngữ của tín hiệu để phân biệt nó

với tín hiệu khác ở chức năng thẩm mĩ và đặc trưng miêu tả hoặc tạo hình Theo

Ch Morris, một số THTM có ba đặc điểm: tính cấu trúc, tính phổ quát và tính

tương ứng với các quan hệ giá trị [8, tr.218]

- Tác giả Lại Nguyên Ân trong cuốn “150 thuật ngữ văn học” quan niệm về

THTM như sau: Là những hệ thống vật chất truyền tải các thông báo, đại diện cho

các hình thái hoạt động vật chất và các mối quan hệ của con người, các hệ thống ngôn ngữ kí hiệu ở nghệ thuật trở thành “vật tải” các nội dung khách quan can dự vào quá trình phản ánh thực tại bằng nghệ thuật [2, tr.127]

- Theo tác giả Bùi Minh Toán: Tín hiệu thẩm mĩ là loại tín hiệu có chức năng thẩm mĩ: hiểu hiện cái đẹp, truyền đạt và bồi dưỡng cảm xúc về cái đẹp Nó cũng như mọi loại tính hiệu khác, cần có hai mặt: cái biểu đạt (cái biểu hiện) và cái được biểu đạt (cái được biểu hiện), nhưng cái được biểu đạt là ý nghĩ thẩm mĩ [45,

tr.151]

Từ đó có thể hiểu, THTM chính là toàn bộ những yếu tố hiện thực, những chi tiết, những sự vật, hiện tượng của đời sống được đưa vào tác phẩm vì mục đích biểu hiện ý nghĩa thẩm mĩ nhất định

Từ sự phân tích ý nghĩa thực sự của phương tiện nghệ thuật, Đỗ Hữu Châu đã

có những kiến giải cụ thể về THTM ngôn ngữ: THTM là phương tiện sơ cấp

(primaire) của văn học Ngôn ngữ thực sự của văn học là ngôn ngữ - THTM, cú pháp – THTM TH ngôn ngữ tự nhiên trong văn học chỉ là hình thức – cbđ của THTM [17, tr.18] Để trả lời cho câu hỏi thế nào là một THTM? Đỗ Hữu Châu chủ

trương căn cứ vào sự tương ứng của THTM với các vật quy chiếu thuộc thế giới

hiện thực: THTM phải tương ứng với một vật quy chiếu nào đấy trong thế giới hiện

thực Chẳng hạn như một con thuyền, một dòng sông, hay một nỗi buồn nào đó [8,

tr.576]

Mặc dù có khá nhiều định nghĩa về THTM song chúng tôi chưa tìm thấy một định nghĩa hoàn chỉnh, thống nhất Tuy nhiên có thể hiểu một cách chung nhất, THTM là yếu tố thuộc hệ thống các phương tiện biểu hiện của nghệ thuật Nói đến phương tiện nghệ thuật là nói đến hai mặt thể chất và tinh thần Mặt thể chất chính

là những hình thức vật chất được sử dụng trong mỗi ngành nghệ thuật (như đường nét, màu sắc trong hội họa; hình khối trong kiến trúc; âm thanh, tiết tấu trong âm

nhạc; ngôn ngữ trong văn học) Mặt tinh thần bao gồm nhiều loại nội dung ý nghĩa,

Trang 24

nhiều tầng khái quát hóa, trừu tượng hóa có tính thẩm mĩ [8, tr.755]

Trong tác phẩm “Bàn về văn học nghệ thuật”, Lê-nin đã viết: Văn học ở mức

độ khách quan nhất là phương tiện đồng hóa hiện thực về mặt thẩm mĩ, một nghệ thuật ngôn từ làm phương tiện thể hiện [6, tr.363] Và có thể khẳng định một trong

những nghệ thuật sử dụng ngôn từ làm biện pháp thể hiện hiệu quả nhất chính là việc xây dựng hệ thống THTM trong các tác phẩm văn học

Khái niệm THTM khác với TH và TH ngôn ngữ ở chỗ: THTM vừa là quan hệ vừa là khái niệm vật tự thân, có nghĩa là bản thân nó đã mang tính thẩm mĩ

Từ những điều đã được trình bày trên đây, mối quan hệ giữa TH ngôn ngữ và THTM được chúng tôi biểu hiện bằng sơ đồ sau:

Từ sơ đồ này, chúng ta có thể thấy rằng cả cái hợp thể cbđ và cđbđ tạo thành

TH ngôn ngữ đã trở thành cbđ cho một cđbđ mới, chính là ý nghĩa thẩm mĩ của THTM trong tác phẩm văn học Hay nói một cách khác, THTM là tổng hòa tính hai mặt của TH ngôn ngữ

Theo quan niệm của chúng tôi, trong một tác phẩm văn học, hình thức là tất cả các phương tiện ngôn ngữ được tổ chức thành văn bản văn học Hình thức ở đây liên quan chặt chẽ với hình tượng nghệ thuật và tư tưởng, quan niệm của tác giả

Hình thức của tác phẩm văn học bao gồm: (1) hình thức bên ngoài là sự thể

hiện bằng vật chất các khách thể thẩm mĩ bên trong Đó là hình thức khi ấn loát chiếm một số lượng trang giấy, khi đọc chiếm một thời gian vật chất, chỗ ngừng dày hoặc thưa, âm thanh trầm hay bổng Hình thức bên ngoài là cơ sở khách quan của tác phẩm: không có hình thức này thì tác phẩm không thể tồn tại; (2) hình thức

bên trong là sự thể hiện cá tính thẩm mĩ…là hình thức của cái nhìn nghệ thuật, là sự

hiện diện của con mắt nghệ sĩ, yếu tố quy định cách tạo hình cho tác phẩm [7,

tr.25]

Trang 25

Như vậy: Các đơn vị ngôn ngữ và các dấu hiệu ngôn ngữ, các từ diễn đạt nội

dung và các mối liên hệ nội dung được gọi là các đơn vị hình thức Mạng các đơn vị

và các dấu hiệu ngôn ngữ của một văn bản được gọi là cấu trúc hình thức của văn bản đó [20, tr.745]

Trong cbđ của THTM có nhân tố nội dung (ý nghĩa) Như vậy, THTM là TH bậc 2 mang đặc tính biểu trưng Chính vì thế, không nên đồng nhất THTM và TH ngôn ngữ thông thường được sử dụng làm chất liệu của tác phẩm văn học Sự khác biệt có tính vượt cấp này có được là nhờ vai trò quyết định của chủ thể sáng tạo

Điều đó khiến cho Ch Bally khẳng định giữa cách dùng ngôn ngữ hàng ngày và

ngôn ngữ của nhà văn có một vực thẳm không vượt qua được [17, tr.9]

Điều đáng chú ý ở đây nếu mối quan hệ giữa cbđ và cđbđ trong ngôn ngữ tự nhiên có thể là võ đoán, thì mối quan hệ giữa cbđ và cđbđ trong THTM lại là luôn

có lí do và là lí do liên hội TH ngôn ngữ tự nhiên muốn trở thành THTM trong tác phẩm phải trải qua một quá trình khái quát hóa nghệ thuật mang tính biểu trưng để đạt đến ý nghĩa thẩm mĩ nhất định

Trong ngôn ngữ văn chương, THTM cũng tồn tại ba mối quan hệ chính: quan hệ giữa các TH với nhau trong ngôn ngữ văn học, quan hệ giữa các TH trong ngôn ngữ văn học với thực tế, quan hệ giữa TH với các nhân vật giao tiếp trong tác phẩm Trong cách gọi THTM đã bao hàm đủ cả hai khái niệm TH và TH ngôn ngữ Việc xác định thế nào là một THTM hiện vẫn đang là vấn đề mở đối với các nhà nghiên cứu

Thẩm mĩ có nghĩa là “xem xét cái đẹp” Theo quan niệm mĩ học, nói đến tính thẩm mĩ của ngôn ngữ văn chương là nói đến chức năng biểu hiện của cái đẹp Mác

– Lê-nin cho rằng Cái đẹp là sự tác động qua lại giữa đối tượng thẩm mĩ và chủ thể

thẩm mĩ tạo nên hứng thú phổ biến cho chủ thể từ tính hình tượng, tính hoàn thiện, toàn vẹn, cân xứng, hài hòa [8, tr.90]

Từ quan niệm này, chúng ta thấy rằng sự cân xứng hài hòa là sự phù hợp, sự

“ăn khớp” trong bản thân sự vật và giữa sự vật với hoàn cảnh Hình tượng hài hòa là

sự tổng hợp các tác động qua lại giữa các giá trị thẩm mĩ

Trên cơ sở các ý kiến nêu trên cùng với những điểm đã trình bày, chúng tôi đề

xuất định nghĩa về THTM như sau: Tín hiệu thẩm mĩ là tín hiệu thuộc hệ thống các

phương tiện được lựa chọn và sáng tạo trong tác phẩm nghệ thuật nhằm biểu hiện nội dung thẩm mĩ Tính thẩm mĩ của các tính hiệu thẩm mĩ biểu hiện ở sự thống nhất biện chứng giữa nội dung và hình thức, giá trị nghệ thuật và giá trị tư tưởng nằm ở cả nội dung và hình thức của tín hiệu

Trang 26

1.1.3.2 Đặc tính của tín hiệu thẩm mĩ

Hệ thống THTM được sử dụng để làm công cụ thể hiện tình cảm của người tạo lập văn bản (người viết) Còn người lĩnh hội văn bản (người đọc) giải mã hệ thống THTM đó như thế nào phụ thuộc nhiều vào đặc tính của THTM Vì vậy, chúng ta cần lưu ý các đặc tính sau đây:

+ Đặc tính về nguồn gốc: Việc chỉ ra nguồn gốc của THTM là bước đầu xác

định hai phương diện quan trọng của nó về mặt tinh thần

THTM được sinh ra từ nhiều nguồn Trước hết là thế giới hiện thực đa sắc

màu với những sự vật, hiện tượng phong phú, tồn tại một cách khách quan không phụ thuộc vào ý thức của con người, được người nghệ sĩ góp nhặt gửi vào trong tác

phẩm với những ý nghĩa đặc biệt Nguồn thứ hai kiến tạo nên THTM chính là thế

giới nội tâm của con người – thế giới mang màu sắc chủ quan rõ nét – thế giới của cảm xúc, suy tư, những buồn vui, trăn trở…được người nghệ sĩ khám phá, phát hiện

trên nhiều phương diện, và mang chính sự nhạy cảm của mình trải nghiệm để chắt lọc đưa vào trong tác phẩm

THTM còn có nguồn gốc từ những tưởng tượng logic hoặc phi logic của người nghệ sĩ Đó là những phút giây thăng hoa trong nghệ thuật đã kiến tạo nên những tín hiệu thật đặc biệt mà những tri thức thông thường của đời sống thường ngày khó lòng lí giải nổi

THTM còn có nguồn gốc từ các sự kiện ngôn ngữ như từ địa phương, đoạn đối thoại, những yếu tố ngôn ngữ như âm,vần, thanh; cấu trúc ngữ pháp câu; cách trình bày ngôn bản…trong tác phẩm

+ Đặc tính về cấp độ: Tùy theo từng nhà nghiên cứu mà quan điểm về phân chia

cấp độ THTM cũng khác nhau Đỗ Hữu Châu phân biệt THTM ở hai cấp độ cơ bản:

Cấp độ cơ sở (TH đơn): THTM ứng với một chi tiết, một sự vật, hiện tượng

thuộc thế giới khách quan: biển, mặt trời, con thuyền,…Đó là những THTM đơn, hay THTM cơ sở có chức năng tham gia cấu tạo nên những THTM ở cấp độ cao hơn trong tác phẩm THTM đơn được tạo nên bằng các từ hay cụm từ, cớ thể là những từ ngữ, thành ngữ, điển cố hay những hình ảnh đơn lẻ, mang ý nghĩa thẩm

mĩ Đỗ Hữu Châu có viết trong cuốn Tuyển tập (tập một): Phương tiện sơ cấp của

văn học là THTM Rồi cái THTM đó mới được thể hiện bằng các THTM ngôn ngữ thông thường… [8, tr.564]

Cấp độ xây dựng (TH phức): là loại THTM ứng với nhiều sự vật, hiện tượng

được xây dựng từ những THTM đơn Loại TH phức dược tạo ra để biểu hiện những

Trang 27

ý nghĩa thẩm mĩ mới trong tác phẩm văn chương

THTM được xét đến trong công trình này là những TH đơn Mỗi TH ứng với

một yếu tố hiện thực (yếu tố của các hiện tượng tự nhiên), yếu tố của các vật thể nhân tạo và được cụ thể, đa dạng, phức tạp hóa bằng các hình thức ngôn ngữ nhất định Nghiên cứu các hình thức biểu đạt này sẽ là cách thức để phát hiện ra các ý nghĩa thẩm mĩ của các THTM này

+ Đặc tính tác động: Đặc tính này có cơ sở từ bản chất của TH như ý kiến

của F Guiraud mà chúng tôi đã dẫn ở trên: Một tín hiệu là một kích thích mà tác

động của nó đến cơ thể gợi ra hình ảnh kí ức của một kích thích khác Hiệu quả tác

động của THTM trước hể là hình thành nên những hình tượng nghệ thuật Như vậy

có thể hiểu, hình tượng nghệ thuật là sản phẩm của thế giới tinh thần được THTM làm đầy lên trong thế giới chủ thể tiếp nhận

Đặc tính tác động của THTM còn được thể hiện ở chức năng giao tiếp nghệ thuật mang tính đối thoại đặc thù của nó Khi đó, THTM là TH đặc biệt có khả năng kích thích mạnh mẽ thế giới tư tưởng, tình cảm của chúng ta, do đó nó trở thành yếu

tố kích thích của sử điều chỉnh sống động những tâm trạng xã hội khác nhau [8, tr.17]

+ Đặc tính biểu hiện: Đây là đặc tính quan trọng liên quan đến sự thực hiện

chức năng chung của nghệ thuật – đó là chức năng phản ánh hiện thực THTM phải mang nội dung hiện thực nhất định, phải gắn với hiện thực Điều này có nghĩa là mỗi THTM ứng với sự vật, hiện tượng thuộc thế giới vật chất hay tinh thần

Theo F.de Saussure: …Tín hiệu là một thực thể có hai mặt nội dung và hình

thức không thể tách rời nhau; trong đó dấu hiệu vật thể có vai trò rất quan trọng đối với người tiếp nhận Nếu không có nội dung thì không có gì để truyền đạt; và nếu có nội dung nhưng không qua lời nói, chữ viết thì người tiếp nhận cũng không thể biết được nội dung mà người nói muốn truyền đạt [25, tr.105]

M.B Khrapchenco cho rằng: THTM phải có chức năng thay thế [5, tr.572]

Theo Đỗ Hữu Châu, THTM phải ứng với một sự vật, hiện tượng nào đó trong thế giới hiện thực, phải có vật quy chiếu trong thế giới hiện thực…Sự biểu hiện (hay tái hiện) hiện thực của THTM trong những ngành nghệ thuật khác nhau nói chung đều dựa trên năng lực miêu tả, thay thế, tái hiện, dẫn các sự vật, hiện tượng, các phạm vi khác nhau của đời sống vào trong tác phẩm, vào những phượng tiện vật chất được

sử dụng Trong hội họa, đó là những đường nét, màu sắc… Trong âm nhạc, đó là những âm thanh, nhịp điệu, tiết tấu…có khả năng khơi gợi những hiện thực của đời

Trang 28

sống trong tâm hồn Trong văn học, đó là những từ ngữ, kết cấu mang nội dung biểu vật, biểu niệm nhất định, gắn với hiện thực…phản ánh trình độ nhận thức, năng lực còn liên quan đến quá trình liên tưởng ở chủ thể tiếp nhận, bởi vậy lượng thông tin biểu hiện trong THTM cũng không phải là bất biến

+ Đặc tính biểu cảm (bộc lộ): Đặc tính này thể hiện chức năng thông báo của

THTM trong mối quan hệ của nó với các nhân tố người viết (hay tác giả) Để đạt đến một giá trị thẩm mĩ nhất định, THTM không thể chỉ dừng ở nội dung đơn thuần tái tạo hiện thực mà THTM còn thông tin về những cảm xúc, tâm trạng nhất định của người nghệ sĩ với bạn đọc Chính vì vậy, nằm trong cấu trúc của THTM, tính biểu cảm là một đặc tính quan trọng, mang dấu ấn chủ quan của người sáng tác

M.B Khrapchenco đã nghiên cứu và chỉ ra rằng: Có một hệ số cảm xúc nhất định,

một cơ cấu cảm xúc thuộc cấu trúc THTM Theo tác giả, cảm xúc vừa là cái để truyền đạt trong THTM, vừa là cái xác định gián tiếp các đối tượng và hiện thực làm cơ sở cho việc hiểu một THTM [8, tr.23]

+ Đặc tính biểu trƣng: Tính biểu trưng là đặc tính của THTM khi xét trong

mối quan hệ giữa cái biểu đạt và cái được biểu đạt Đây là mối quan hệ có lí do, liên quan đến hiện tượng được đưa vào làm THTM trong tác phẩm Tính biểu trưng là khả năng gợi ra một đối tượng khác ngoài sự thể hiện cụ thể của dấu hiệu đó và được cộng đồng chấp nhận

Ch.S Pierce cho rằng: Biểu trưng có quan hệ với đối tượng của nó chỉ qua

một nghĩa có tính chất ước lệ mà người ta gán cho nó trong một hoàn cảnh nào đó…Nghĩa đó là do con người trong cộng đồng đặt ra mà thôi [25, tr.186] Biểu

trưng một mặt có tính hình tượng cụ thể, nghĩa là cái biểu hiện nó là một đối tượng nào đó được quy chiếu từ hiện thực Mặt khác, đó là ý nghĩa xã hội nào đó được cả cộng đồng chấp nhận Tính chất ước lệ chung cho cái biểu hiện này chính là tính có

lí do trong THTM nói chung Đặc tính này còn cho thấy lối tư duy, quan niệm xã hội…gắn với đặc trưng văn hóa – xã hội của một cộng đồng

+ Tính hệ thống: tính hệ thống biểu hiện ở chỗ TH nói chung và THTM nói

riêng bao giờ cũng thuộc về một hệ thống nhất định Bởi vậy, nó chịu sự chi phối của những yếu tố khác trong cùng hệ thống thông qua những quan hệ nhất định

F.de Saussure đã chỉ ra rằng: Thường người ta không nói bằng tín hiệu riêng

lẻ, mà bằng từng nhóm tín hiệu, từng khối có tổ chức vốn cũng là tín hiệu [25,

tr.107] Và khi nói đến vấn đề tính có tổ chức ở lĩnh vực này, ta không thể không nói đến tính hệ thống – một đặc tính làm nên bản chất TH của ngôn ngữ Theo

Trang 29

Nguyễn Lai, khi nói đến tính hệ thống của ngôn ngữ, bên cạnh cách nhìn theo hướng lịch đại dĩ nhiên ta còn phải nhìn nó theo hướng đồng đại, đối lập trong bản thân nó và đối lập với cái xung quanh nó

Tính hệ thống của THTM được xem xét từ hai khía cạnh: khía cạnh nội tại (cấu trúc), với những quy luật cấu trúc tác phẩm: khía cạnh ngoại tại (chức năng) với những quy luật về sự hoạt động thực hiện các chức năng giao tiếp của sáng tạo nghệ thuật Riêng về khía cạnh cấu trúc tác phẩm, cần phân biệt hai bình diện: bình diện trừu tượng và bình diện cụ thể của hệ thống Bình diện trừu tượng của hệ thống

là những điển dạng làm nên cấu trúc bề sâu, bất biến của tác phẩm Bình diện cụ thể của hệ thống là những hiển dạng (hay biến thể) của THTM cũng những mối quan hệ giữa các hiện dạng làm nên cấu trúc bề mặt, mang tính cụ thể biểu kiến của tác phẩm Nghiên cứu THTM thực chất là nghiên cứu những biến thể của nó qua mỗi lần xuất hiện, nghiên cứu cấu trúc hình thức, mang tính cụ thể, biểu kiến của tác phẩm nghệ thuật

+ Tính trừu tƣợng và cụ thể: Đây cũng chính là vấn đề hằng thể và biến thể

của THTM Trong TH học, người ta phân biệt điển dạng (hay hằng thể) và hiện dạng (hay biến thể) của mỗi TH Điển dạng là TH trong tính trừu tượng bất biến của

nó, còn gọi là các biên thể TH với những biểu hiện không hoàn toàn giống nhau trong nhiều lần xuất hiện

Đối với THTM cũng vậy, nghiên cứu các THTM trên thực tế chính là nghiên cứu các biến thể của chúng Như vậy, có thể hiểu biến thể của THTM là THTM trong các lần xuất hiện của nó Ở mỗi lần xuất hiện, THTM được biểu đạt bằng một hình thức cbđ – biến thể, mang một nội dung cđbđ – biến thể đồng thời có những mối quan hệ mới với những yếu tố cùng xuất hiện trong hệ thống mà THTM tham gia, và được cảm nhận với cảm xúc mới…

Ngoài ra, có thể xác định mối quan hệ hằng thể - biến thể giữa các THTM – sự vật, hiện tượng mang tính khái quát chung, với các THTM – sự vật, hiện tượng mang tính cụ thể riêng so với các THTM khái quát, chung ấy

Biến thể của TH nói chung và THTM nói riêng được thể hiện ở hai dạng sau: biến thể từ vựng (BTTV): đây là tập hợp những từ ngữ gần nghĩa hoặc cùng trường nghĩa có thể thay thế cho nhau; biến thể kết hợp (BTKH): cùng là một TH nhưng nó

có sự biến đổi ít nhiều do kết hợp với những TH khác nhau đứng trước và sau nó Trong ngôn ngữ, đây là kết quả của tính hình tuyến; khi trở thành THTM, từ ngữ đó cũng biến đổi ít nhiều trong quan hệ với từ ngữ đi trước và đi sau Có thể nói,

Trang 30

BTKH là các biến thể của các TH cùng hiện diện trong lời nói Khi xuất hiện trong những tổ hợp khác nhau

1.2 Cơ sở phân chia các trường tín hiệu thẩm mĩ

1.2.1 Khái niệm về trường nghĩa và các tiêu chí phân lập trường nghĩa

1.2.1.1 Khái niệm về trường nghĩa

Lý thuyết về trường nghĩa bắt nguồn từ những tiền đề duy tâm của trường phái W.Humbodt và phần nào từ những tư tưởng của F de Saussure về tính cấu trúc của ngôn ngữ, đặc biệt là những vấn đề quan hệ liên tưởng và quan hệ ngữ đoạn trong ngôn ngữ

Ở nước ta, lý thuyết trường nghĩa được giới thiệu vào những năm 1970 Đến nay, vấn đề về lý thuyết ngôn ngữ vẫn được coi là một trong những công trình nghiên cứu chiếm ưu thế của ngữ nghĩa học cấu trúc và miêu tả

Bởi vì thế giới luôn vận động, phát triển và biến đổi không ngừng, nên ngôn ngữ phản ánh thế giới ấy cũng không ngừng sinh sôi và phát triển trong lòng xã hội loài người với sự ra đời của một lượng lớn từ vựng đa dạng và phức tạp Ngôn ngữ mới nảy sinh từ mầm mống của lớp ngôn ngữ cũ, và vì thế chúng có mối quan hệ

gắn bó chặt chẽ với nhau, cho nên: yếu tố của nó sẽ không phải trực tiếp là từng

đơn vị từ vựng nữa mà là từng hệ thống con, và quan hệ trong hệ thống từ vựng biểu hiện giữa các hệ thống con đó Mỗi một hệ thống con là một trường từ vựng

[17, tr.34]

Xét về quan niệm trường nghĩa, chúng tôi dựa trên các định nghĩa sau: Mỗi

tiểu hệ thống ngữ nghĩa được gọi là một trường nghĩa Đó là tập hợp đồng nhất với nhau về ngữ nghĩa [17, tr.72]; Trường nghĩa là một tổ chức các từ và các biến thể

sử dụng từ có quan hệ với nhau làm thành hệ thống Hệ thống này cho thấy mối liên kết của chúng dựa theo một cái gì đó là nét nghĩa chung có tính phạm trù [9, tr.9]

Như vậy, ta có thể hiểu: Trường nghĩa là một tập hợp các từ có mối quan hệ

nào đó với nhau về ngữ nghĩa làm thành một tiểu hệ thống trong hệ thống từ vựng của một ngôn ngữ

1.2.1.2 Các tiêu chí phân lập trường nghĩa

Chúng tôi dựa trên quan niệm của Đỗ Hữu Châu để đưa ra các tiêu chí phân loại trường nghĩa như sau:

- Tiêu chí ngôn ngữ - những ý nghĩa ngôn ngữ

Ý nghĩa ngôn ngữ chính là ý nghĩa của từ, là cơ sở để phân lập các từ vào một trường Từ mang tư cách từ vị (lexème), được xét trong những mối quan hệ: quan

Trang 31

hệ hệ hình, quan hệ cú đoạn, quan hệ phái sinh ngữ nghĩa

- Tiêu chí đặc trưng từ vựng – ngữ nghĩa

Dựa vào tiêu chí này trước hết phải tìm ra được các trường hợp điển hình – từ điển hình (từ trung tâm), tức là những trường hợp chỉ mang đặc trưng từ vựng – ngữ nghĩa được coi là cơ sở Chính nó sẽ tạo ra một “lực hút ngữ nghĩa” các từ khác vào trong cùng một trường Theo tiêu chí này, trường nghĩa có ranh giới tương đối, có thể độc lập hoặc giao nhau, bao hàm lẫn nhau Có những trường hợp là điển hình,

có những trường hợp kém điển hình hơn

- Tiêu chí dựa vào lớp ý nghĩa biểu vật, biểu niệm của từ

Theo tiêu chí này, có thể chia từ vào các trường nghĩa biểu vật và trường nghĩa biểu niệm dựa vào ý nghĩa biểu vật và ý nghĩa biểu niệm của từ

- Tiêu chí nét nghĩa

Với trường biểu vật, tiêu chí xác lập chỉ là sự đồng nhất ở một nét nghĩa biểu vật Với trường nghĩa biểu niệm, tiêu chí xác lập là sự đồng nhất một nét nghĩa biểu niệm nào đó trong tập hợp cấu trúc nét nghĩa biểu niệm của từ

1.2.2 Các loại trường nghĩa

Theo các tiêu chí nêu trên, hệ thống từ vựng ngữ nghĩa của một ngôn ngữ có thể được phân lập ra thành các loại trường nghĩa sau:

- Trường nghĩa biểu vật: Một trường nghĩa biểu vật (trường biểu vật) là tập

hợp những từ đồng nghĩa về ý nghĩa biểu vật (denotative meanings) Từ điển hình của trường thường là các danh từ có tính khái quát cao, gần như là tên gọi của các phạm trù biểu vật Một trường biểu vật lớn có thể chia thành nhiều trường biểu vật nhỏ hơn dựa vào sự đồng nhất và khác biệt ở nét nghĩa biểu vật nào đó Vì vậy số lượng từ ở các trường biểu vật là rất khác nhau Vì từ có nhiều nghĩa biểu vật, nên

Trang 32

một từ có thể nằm trong nhiều trường khác nhau, các trường đó có thể “giao thoa” với nhau khi một số từ ở trường này cũng nằm trong trường kia

- Trường nghĩa biểu niệm: Một trường nghĩa biểu niệm (trường biểu niệm)

là một tập hợp các từ có cùng chung cấu trúc biểu niệm Cũng giống như trường biểu vật, trường biểu niệm lớn có thể phân thành các trường biểu niệm nhỏ hơn với những “miền”, những mật độ khác nhau Do từ cũng có nhiều nghĩa biểu niệm, nên một từ có thể đi vào những trường biểu niệm khác nhau Các trường biểu niệm cũng

“giao thoa” với nhau, cũng có lõi trung tâm là các từ điển hình và các lớp ngoại vi

là các từ kém điển hình hơn

- Trường nghĩa tuyến tính: Để xác lập trường nghĩa tuyến tính (trường nghĩa

ngang), chúng ta chọn một từ làm gốc rồi tìm tất cả những từ có thể kết hợp với nó thành chuỗi tuyến tính chấp nhận được trong ngôn ngữ Như vậy, cơ sở xác lập trường

là mối quan hệ trên trục ngữ đoạn (syntagmatical axits) của các đơn vị ngôn ngữ Các

từ lập thành trường tuyến tính – quan hệ cú pháp với từ trung tâm sẽ tường minh hóa các nét nghĩa có tính tiềm ẩn trong cấu trúc ngữ nghĩa của từ này Thực tế những mối liên hệ kết hợp có tính hình tuyến này của từ trung tâm đều chịu sự chi phối và quy định chặtchẽ của các ý nghĩa từ vựng – ngữ pháp, những “ngữ trị” của từ

- Trường nghĩa liên tưởng: Theo Ch.Bally, mỗi từ đều có thể trở thành trung

tâm của một trường liên tưởng Các từ trong một trường liên tưởng trước hết là những từ cùng nằm trong một trường biểu vật, trường biểu niệm và trường tuyến tính, tức là những từ có quan hệ cấu trúc đồng nhất và đối lập về ngữ nghĩa với từ

trung tâm Như vậy cơ sở xác lập trường liên tưởng là hệ thống ngữ nghĩa mới của

từ nảy sinh do liên tưởng khi từ đi vào hoạt động hành chức Trong quá trình hành

chức, các ý nghĩa mới được hình thành từ bên ngoài do sự sử dụng ấy sẽ bổ sung,

“làm đầy” thêm thành ý nghĩa liên hội (ý nghĩa được hình thành do liên tưởng, trong quá trình sử dụng, có tính chất lâm thời, chưa đi vào cấu trúc của từng đơn vị ngôn ngữ) cho từ bên cạnh những ý nghĩa đã cố định trong hệ thống cấu trúc của từ Trường liên tưởng thường không ổn định, trong một trường liên tưởng có nhiều từ

có thể cùng được liên tưởng tới do xuất hiện đồng thời với từ trung tâm trong những ngữ cảnh có chủ đề tương đối đồng nhất, lặp đi lặp lại Điều này khiến cho các trường liên tưởng có tính dân tộc, tính thời đại và tính cá nhân [17, tr.263]

1.2.3 Ngữ nghĩa của trường nghĩa

Ngữ nghĩa của trường nghĩa được xem là ngữ nghĩa chung, khái quát nhất của

các từ trong trường Qua việc phân loại các trường nghĩa nêu trên, chúng tôi thấy

Trang 33

rằng các nghĩa của từ trung tâm đều chi phối ngữ nghĩa của các từ “thành viên” trong trường Như vậy, trường trung tâm sẽ thể hiện những đặc tính phổ quát của trường, là tâm điểm để tập hợp các từ vào một trường

Các nghĩa vị trong hệ thống cấu trúc của từ đều bị chi phối bởi nghĩa vị là những thuộc tính thường trực thuộc nghĩa cơ bản Thành tố nghĩa này, lí luận TH điển hình gọi là nghĩa hạt nhân mang đặc trưng ngữ nghĩa cơ bản của TH Nó xuyên suốt hệ thống ngữ nghĩa, nó tồn tại trong mọi dạng thức kết hợp của TH

Vậy, ngữ nghĩa trường nghĩa thực chất là cấu trúc nghĩa vị và đặc điểm ngữ pháp đặc hữu của trường, tất cả đều do từ trung tâm, điển hình cho trường đại diện Như vậy dựa theo nghĩa hạt nhân, ta sẽ biết từ được xét thuộc trường nghĩa nào, biết chiều hướng chuyển nghĩa của nó và hướng chuyển nghĩa của cả trường chứa nó

Chúng tôi quan niệm rằng: ngữ nghĩa trường nghĩa chính là ngữ nghĩa của từ

trung tâm, điển hình của trường Nói cụ thể hơn, ngữ nghĩa của trường hiện tượng

tự nhiên, trường vật thể nhân tạo, trường thực vật, trường động vật, trường nghĩa con người trong thơ ca bao gồm nhiều trường nhỏ, trong mỗi trường nhỏ sẽ có một

từ đóng vai trò là hạt nhân nghĩa của trường này

Ngữ nghĩa trường nghĩa còn là vấn đề quan hệ ngữ nghĩa trong một trường, là

sự phân hóa nó thành những tiểu trường và những nhóm nhỏ hơn Đó là sự phân loại cấp bậc quan hệ thành bậc 1, bậc 2, bậc 3,… khi phân tích cấu trúc của trường Việc xem xét cấu trúc ngữ nghĩa trong nội bộ trường như vậy nhằm hướng tới định

vị các từ trong trường và xác định tương đối đầy đủ ý nghĩa từng từ trong một trường

Chúng tôi tiến hành phân lập các THTM của các tác phẩm thơ trong hai tập

thơ Điêu tàn và Ánh sáng và phù sa của Chế Lan Viên thành những trường nghĩa:

hiện tượng tự nhiên, vật thể nhân tạo, thực vật, động vật và con người

1.2.4 Một số vấn đề về ngữ cảnh của các tín hiệu thẩm mĩ

Những vấn đề về trường nghĩa là những yếu tố thuộc cấu trúc ngôn ngữ Trường nghĩa vừa là một thực thể ngôn ngữ, vừa là một thực thể thuộc bình diện xã hội – văn hóa – tư duy Cho nên trong trường nghĩa ngoài yếu tố ngôn ngữ, còn có những thông tin lịch sử, văn hóa…được biểu thị trong các từ Những thông tin này

sẽ bổ sung, làm đầy nét nghĩa Như vậy, có một bộ phân ngữ nghĩa của trường nghĩa nằm ngoài hệ thống cấu trúc song vẫn liên hệ mật thiết với hệ thống cấu trúc,

giúp lí giải ngữ nghĩa các yếu tố trong cấu trúc và ngược lại Đó chính là ngữ cảnh

(context)

Trang 34

Ngữ cảnh được hiểu theo nhiều cách khác nhau Theo Đỗ Hữu Châu, ngữ cảnh là bối cảnh ngoài ngôn ngữ góp phần tạo nên nghĩa [17, tr.97] Nguyễn Văn

Khang trong “Ngôn ngữ học xã hội: những vấn đề cơ bản” thì cho rằng: ngữ cảnh

là vật chất và hoàn cảnh xã hội mà hành vi nói năng dựa vào đó để thể hiện Ngữ cảnh bao gồm hai loại: ngữ cảnh ngôn ngữ và ngữ cảnh ngoài ngôn ngữ [28,

tr.261] Trong bối cảnh như vậy, việc đưa ra một khái niệm thống nhất về ngữ cảnh

là rất khó

Để phù hợp với đối tượng nghiên cứu, chúng tôi quan niệm như sau: ngữ cảnh

là thế giới môi trường chi phối đến hoạt động cả bên ngoài lẫn bên trong của hệ thống TH ngôn ngữ Nó là cái không hạn định, liên tục mở ra về không gian và thời gian Tùy từng trường hợp xem xét, nó có thể rộng, bao gồm các đối ngôn và các hợp phần hiện thực ngoài diễn ngôn Nó có thể hẹp, là những từ đứng gần hay kèm một từ tạo cho nó tính xác định về nghĩa

1.3 Chế Lan Viên – cuộc đời và sự nghiệp

1.3.1 Cuộc đời Chế Lan Viên

Chế Lan Viên tên thật là Phan Ngọc Hoan, sinh ngày 23 tháng 10 năm 1920 (tức ngày 12 tháng 9 năm Canh Thân), mất ngày 29 tháng 6 năm 1989 (tức ngày 16 tháng 5 năm Kỷ Tỵ) Ông sinh ra trong một gia đình viên chức nghèo ở Cam Lộ, Quảng Trị Năm 1927, khi Chế Lan Viên vừa lên 7, gia đình ông chuyển vào An Nhơn, Bình Định Bén duyên với Bình Định, mảnh đất được mệnh danh là “Đất võ trời văn”, cùng với tâm hồn nhạy cảm, tài năng thơ ca của ông có điều kiện được nảy nở và phát triển từ rất sớm Đất mẹ Bình Định như chiếc nôi đầu đời nuôi dưỡng tâm hồn nghệ sĩ trong Chế Lan Viên, đem đến hành trang kĩ lưỡng, đưa ông vững bước trên con đường nghệ thuật nước nhà qua bao nhiêu đoạn hành trình của cuộc đời dài Chế Lan Viên được tạo điều kiện theo học ở Quy Nhơn rồi năm 1939

ra Hà Nội học đến hết bậc trung học, sau đó đi dạy học ở các tỉnh miền Trung và làm báo ở Sài Gòn

Vùng đất Bình Định – Quy Nhơn đã để lại nhiều ấn tượng sâu đậm trong tâm trí của người thiêu niên giàu trí tưởng tượng Chế Lan Viên Thành Bình Định xưa từng là kinh đô Đồ Bàn của vương quốc Chiêm Thành, một vương quốc nay đã tàn vong nhưng đã tững có một thời kì phát triển rực rỡ, hùng mạnh Hằng ngày, từ ngôi nhà ở trong thành Bình Định và trên con đường ra Quy Nhơn học, Chế Lan Viên đã nhìn thấy tháp Chăm, đi qua những bãi tha ma hoang vắng, lắng nghe những câu chuyện bí ẩn lưu truyền trong vùng về thành Đồ Bàn Những điều đó đã

Trang 35

kích thích trí tưởng tượng và gợi lên sự đồng cảm đặc biệt trong tâm hồn vừa nhạy

cảm, vừa suy tư của Chế Lan Viên Tập thơ đầu tay Điêu tàn được viết lúc nhà thơ

mới 16 – 17 tuổi, được xuất bản năm 1937 khi nhà thơ đang là học sinh năm thứ ba trung học ở Quy Nhơn, đã gây được sự chú ý đặc biệt và đưa Chế Lan Viên vào trong số những nhà thơ Mới hàng đầu bấy giờ

Sau tập thơ Điêu tàn, chế Lan Viên có tập văn xuôi triết lí Vàng sao (1942)

Vào những năm 1940 – 1945, xã hội Việt Nam hết sức ngột ngạt và đen tối dưới ách thống trị của Pháp, Nhật Cũng như nhiều tri thức nghệ sĩ đương thời, Chế Lan Viên rơi vào sự khủng hoảng, hầu như không tìm thấy cảm hứng sáng tác Ông tìm đến triết học duy tâm siêu hình và tôn giáo, mong tìm thấy con đường giải thoát cho

tâm hồn Sau này nhà thơ nghĩ lại: Nỗi buồn ghê gớm nhất, những hư vô sâu thẳm

nhất để lại cho tôi, chính do các tôn giáo Mở đầu tôi yêu Chúa Rồi tôi yêu Phật Tôi tìm Chúa trong các giáo lí của đạo Cơ đốc, của Tin lành Và tôi tìm Phật nơi bàn Phật của cha tôi, ở kinh chùa, và ở ngoài chùa nữa [54]

Giữa lúc nhà thơ đang chìm sâu trong sự bế tắc ấy thì Cách mạng tháng Tám bùng lên Mặc dù chưa hiểu nhiều về cách mạng, Chế Lan Viên hăng hái tham gia phong trào Việt Minh ở thị xã Quy Nhơn, rồi ra Huế làm báo Quyết Thắng của Việt Minh Trung Bộ Suốt cuộc kháng chiến chống Pháp, Chế Lan Viên hoạt động văn nghệ và làm báo ở liên khu IV, là thường vụ Chi hội liên khu Ông đã có hai chuyến

đi vào vùng chiến trường Bình – Trị – Thiên ác liệt Tại đó, năm 1949 ông đã được kết nạp vào Đảng Cộng sản Việt Nam ngay trên đất quê mẹ Quảng Trị Sau năm

1954, Chế Lan Viên ra Hà Nội làm biên tập viên ở Nhà xuất bản rồi ở báo Văn nghệ của Hội nhà văn Ông từng có thời gian phải đi điều trị bệnh dài ngày ở Trung Quốc Trở về, nhà thơ được hòa mình trong không khí sôi nổi của công cuộc xây dựng miền Bắc sau chiến tranh, như một sự hồi sinh kì diệu: “Sự sống ngỡ vùi lấp

đất, giờ về cuộc sống nhân đôi” (Ngoảnh lại mùa đông) Chế Lan Viên nhiều năm là

ủy viên Ban Chấp hành, Ban Thường vụ, Ban thư kí Hội Nhà văn Việt Nam Từ sau năm 1975, ông chuyển vào ở thành phố Hồ Chí Minh Chế Lan Viên còn là một nhà hoạt động xã hội tích cực Ông là đại biểu Quốc hội từ khóa III đến khóa VII, tham gia các ủy ban văn hóa quốc tế, nhất là trong những năm chống Mĩ cứu nước

Chế Lan Viên mất ngày 19/06/1989 tại thành phố Hồ Chí Minh Sau khi ông qua đời, những người thân trong gia đình đã chọn lọc, sắp xếp các bản thảo thơ

chưa công bố của nhà thơ để in thành ba tập Di cảo thơ Chế Lan Viên (1992, 1993,

1996) Giới văn học và công chúng lại bất ngờ sửng sống trước một Chế Lan Viên

Trang 36

hết sức đa dạng, sâu sắc, phức tạp, vừa quen thuộc mà vừa mới lạ trong các tập thơ

Di cảo này Năm 1996, ông được truy tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học

nghệ thuật

Chế Lan Viên là nghệ sĩ lớn, luôn trăn trở tìm tòi trên con đường nghệ thuật Hơn nửa thế kỉ miệt mài sáng tạo, ông đã tìm đến nhiều khuynh hướng nghệ thuật

và ở chặng đường nào cũng ghi được những thành công nổi bật, nhưng nhà thơ vẫn

luôn không tự bằng lòng với mình, bởi: Cái trang mơ ước một đời chưa với tới và khắc khe với chính mình khi nhìn lại đời thơ: Một nghìn câu thơ thì chín trăm câu

dang dở/ Ai đón đợi thơ tôi ở cuối con đường

Chế Lan Viên cũng là nhà thơ có quan niệm thơ rất rõ ràng và được ông phát

biểu trực tiếp nhiều lần, đặc biệt là dưới hình thức những bài thơ về thơ, như Nghĩ

về thơ, Sổ tay thơ hay Nghĩ về nghề, nghĩ về thơ, nghĩ…Quan niệm thơ của Chế Lan

Viên có sự vận động phù hợp với mỗi chặng đường sáng tác của nhà thơ và với từng thời đại, những vẫn có những yếu tố ổn định, nhất quán Chế Lan Viên là nhà thơ không chỉ nổi trội ở chất trí tuệ với những suy nghĩ sắc sảo, thông minh, mà còn

là nhà thơ sở hữu vốn tri thức văn hóa phong phú, kết hợp nhuần nhuyễn giữa truyền thống và hiện đại, giữa phương Đông và phương Tây

1.3.2 Sự nghiệp – con đường thơ Chế Lan Viên

Con đường thơ của Chế Lan Viên với hơn nửa thế kỉ đã đi qua bốn chặng

đường chính Trước Cách mạng tháng Tám, Chế Lan Viên chỉ có tập thơ Điêu Tàn (1937) và một số bài thơ viết sau Điêu tàn, dự định in thành tập Thơ không tên Bước chuyển của thơ Chế Lan Viên sau Cách mạng được ghi nhận bằng tập Gửi

các anh (1954) và thật sự thành công với tập thơ Ánh sáng và phù sa (1960) Những

năm cả nước chống Mĩ là một giai đoạn sáng tác dồi dào và đầy hào hứng của nhà

thơ, với các tập Hoa ngày thường – Chim báo bão (1967), Những bài thơ đánh giặc (1972), Đối thoại mới (1973), và còn được tiếp tục sau năm 1975 với Hai theo mùa (1977) và một tập thơ về Bác Hồ: Hoa trước lăng người (1976) Chặng đường cuối của thơ Chế Lan Viên được bắt đầu từ tập Hoa trên đá (1984), tiếp đó là Ta gửi cho

mình (1986) và khép lại với các tập Di cảo thơ (tập I, 1992; tập 2, 1993; tập 3,

1996), mà phần lớn các bài được viết trong vài năm cuối đời

Do giới hạn của luận văn, và đối tượng nghiên cứu của luận văn đã xác định

là hệ thống THTM trong hai tập thơ Điêu tàn (1937) và Ánh sáng và phù sa (1960),

nên sau khi khái quát về con đường thơ của Chế Lan Viên, ở phần này chúng tôi tập

trung trình bày rõ hai chặng đường thơ đầu tiên với hai tập thơ tiêu biểu là Điêu tàn

Trang 37

để lại nỗi ám ảnh lớn, in sâu vào tiềm thức của ông, khiến cho không gian nghệ thuật xuất hiện trong tập thơ với khung cảnh tươi đẹp thì ít mà khung cảnh máu – xương thì nhiều, đồng thời ở đó còn có cả không gian vũ trụ bao la rợn ngợp khắc họa nỗi cô đơn giữa cảnh cũ phai mờ dưới lớp bụi quên lãng của thời gian Chỉ có một mình Chế Lan Viên lọt thõm giữa không gian đó, đắm mình trong nỗi đau thương, tiếc nuối, bởi di tích còn sót lại phản ánh một thời đại đã từng phát triển rất thịnh vượng với nền văn hóa đặc sắc đáng ngưỡng mộ được khắc họa qua nghệ thuật điêu khắc và kiến trúc độc đáo đương thời còn sót lại, nay bị tàn phá trở thành đống đổ nát tàn hoang Cho nên, điều khác biệt dễ thấy ở Chế Lan Viên so với các nhà thơ đương thời trong phong trào Thơ Mới đó là ông đã tạo cho mình một thế giới khác, thế giới nghiêng về cõi âm với những yêu ma, đầu lâu, sọ dừa, máu xương… rùng rợn được ngụy trang bằng nỗi niềm bi hận mang vẻ thần bi, siêu hình

để than khóc cho một dân tộc bị chinh phục đến mức tan tành thành tàn tro Mở ra

trong thế giới Điêu tàn là những mảng màu xanh, trắng và đen như màu của thước

phim hiện về từ quá khứ cũ kĩ, dẫn dắt chúng ta đi vào câu chuyện của thế giới vừa thực và có phần mộng ảo hoang đường được tác giả phản ánh qua những bài thơ

tiêu biểu: Trên đường về, Nắm mai, Xương khô,… với đầy rẫy những ám ảnh ảo não

về cái chết vẫn còn rền rỉ tiếng gào thét oán hờn vọng về từ quá khứ, bủa vây và giăng mắc khắp không gian Đồ Bàn Đó là câu chuyện không riêng gì cho đất nước Chiêm Thành, mà là câu chuyện chung về nỗi đau của một người dân nô lệ, một khát vọng thoát khỏi niềm u hận trước thời cuộc nhưng không thành

Chặng đường thơ thứ hai được đánh dấu bằng hai tập thơ Gửi các anh (1954)

và Ánh sáng và phù sa (1960) Nếu như tập thơ Gửi các anh có ý nghĩa về mặt nhận

diện đường đi trong văn chương của Chế Lan Viên trong giai đoạn này, thì tập thơ

Ánh sáng và phù sa là bước ngoặt đánh dấu sự cách tân quan trọng không chỉ của

Trang 38

riêng ông mà còn với cả nền thơ ca Hiện đại đương thời Đó là sự chuyển biến dứt khoát và mạnh mẽ từ bế tắc sang sự kết nối diệu kì giữa nghệ thuật với cuộc sống, với nhân dân, với lí tưởng cách mạng và Đảng Đó là hành trình của một nghệ sĩ đi

từ thung lũng đau thương đến cánh đồng vui, từ chân trời của một người đến chân trời của tất cả mọi người Về với nhân dân, Chế Lan Viên tìm về với nguồn sáng của lẽ sống mới Khác với tinh thần “đắm chìm trong dĩ vãng buồn thương” thuở

trước, Chế Lan Viên trong Ánh sáng và phù sa đã cố gắng hướng sáng tác vào

những chủ đề của hiện tại với một tâm hồn dễ xúc cảm trước những đổi thay của đất nước Sự nhạy cảm ấy có được là bởi bắt nguồn từ tình cảm rất tự nhiên mà cũng rất thiêng liêng – tình yêu nước gắn chặt với lí tưởng cách mạng Tình yêu quê hương được nhân rộng ra trở thành tình yêu đất nước nảy nở khắp các trang thơ, cho nên

không gian thơ ca xuất hiện trong tập thơ Ánh sáng và phù sa của Chế Lan Viên là

Tổ quốc trăm miền diễm lệ Bên cạnh đó, nổi trội lên trong muôn vàn những hình ảnh ông gửi vào tập thơ thì Đảng, quê hương và mẹ luôn chiếm một vị trí đặc biệt quan trọng Thêm nữa, màu sắc trong tập thơ này của ông đa dạng hơn với những gam màu tươi mới, gợi sự sinh sôi, căng tràn của sức sống mới; song hành với đó là hình ảnh những chiến sĩ cách mạng mang bầu nhiệt huyết lớn, lấy trái tim ngoan cường làm kim chỉ nam cho lẽ sống, là thiên nhiên tươi đẹp rất riêng của dân tộc nhưng ít nhiều vẫn in hằn dấu vết đau thương của chiến tranh, hay những hình ảnh phản ánh bức tranh đời sống chiến đấu gian khổ mà anh hùng của dân tộc như giặc thù, máu, lửa và cả những dấu hiệu sự sống, cái chết bủa vây khắp nơi Chế Lan Viên dường như đem thơ để kể lại thời đại mình với đầy đủ những cung bậc cảm xúc khác nhau, đau thương có, tự hào có, một cách rất hiện thực, rất bi hùng và rất tài tình

Tiểu kết Chương 1

Ở chương I, luận văn đã nghiên cứu và làm rõ những vấn đề chung về khái niệm tín hiệu, khái niệm tín hiệu ngôn ngữ, khái niệm tín hiệu thẩm mĩ và tín hiệu văn chương – tín hiệu thơ ca Bên cạnh đó, những vấn đề cơ bản về trường nghĩa, những vấn đề chung về ngữ cảnh cũng được tổng hợp Các nội dung ấy là tiền đề lí

thuyết cơ bản để chúng tôi triển khai nghiên cứu đề tài Tín hiệu thẩm mĩ trong thơ

Chế Lan Viên

Dựa vào lí thuyết về trường nghĩa trên, chúng tôi tiến hành phân chia tín hiệu

thẩm mĩ của các tác phẩm thơ Chế Lan Viên thành các tiểu trường nghĩa: trường

nghĩa hiện tượng tự nhiên, trường nghĩa vật thể nhân tạo, trường nghĩa thực vật,

Trang 39

trường nghĩa động vật và trường nghĩa con người Từ đó, chúng tôi xem xét sự biểu

hiện của các tín hiệu thẩm mĩ đó trên cả hai bình diện: cái biểu đạt – hình thức, cái được biểu đạt – nội dung ý nghĩa

Bên cạnh đó, luận văn đã khái quát những nét chính về cuộc đời và sự nghiệp thơ ca của nhà thơ Chế Lan Viên Đó là cơ sở nền tảng để quy chiếu vào, xác lập ý nghĩa của các tín hiệu thẩm mĩ nói riêng và các nhóm tín hiệu thẩm mĩ nói chung về sau

Những nội dung lí thuyết của chương 1 chính là nền tảng quan trọng và rất cần thiết để giải quyết những nhiệm vụ nghiên cứu đã đặt ra ở các chương 2 và chương

3

Trang 40

Chương 2 BIỂU HIỆN HÌNH THỨC CỦA CÁC TÍN HIỆU THẨM MĨ

TRONG THƠ CHẾ LAN VIÊN

2.1 Dẫn nhập

Nội dung và hình thức là một cặp phạm trù cơ bản của chủ nghĩa duy vật biện chứng, là hai mặt thống nhất của mọi sự vật, gắn bó hữu cơ với nhau Không có nội dung và hình thức tách rời nhau, tồn tại bên ngoài nhau Nội dung của hiện tượng đời sống luôn gắn liền với hình thức tồn tại của nó, còn hình thức tồn tại thì luôn gắn với nội dung Nội dung và hình thức của văn học cũng vậy Đó là hai phương diện cơ bản thống nhất hữu cơ, không thể tách rời nhau của tác phẩm văn học nghệ thuật Nếu sự thống nhất giữa nội dung và hình thức ở sự vật nói chung còn ở mức

độ thấp, ở dạng tự phát, còn có sự sai biệt, chưa thật phù hợp thì trong văn học nghệ thuật, sự thống nhất này là kết quả của một hành vi sáng tạo hoàn toàn tự giác, cho nên có thể và cần phải đạt tới sự thống nhất cao độ, hài hòa

Nội dung không phải là cái gì khác mà là hình thức chuyển hóa thành nội dung

và hình thức không phải là cái gì khác mà là nội dung chuyển hóa ra hình thức Hình thức nghệ thuật nếu được hiểu đúng thì nó không tạo hình thức cho một nội dung đã có sẵn và đã được tìm thấy mà là cái hình thức cho phép lần đầu tiên tìm thấy và nhận ra nội dung ấy Các đặc điểm về nội dung làm nảy sinh các đặc điểm

về hình thức Do đó, việc làm rõ đặc điểm hình thức của các THTM sẽ góp phần làm sáng tỏ nội dung thẩm mĩ của các TH

Sự hài hòa giữa hình thức và nội dung của các TH trong những tác phẩm thơ Chế Lan Viên là một biểu hiện cho tính thẩm mĩ của THTM Biểu hiện hình thức của các THTM được tập trung khai thác ở các phương diện ngôn ngữ làm thành bình diện hình thức vật chất biểu đạt gồm các đơn vị biểu đạt, các đơn vị kết hợp với cái biểu đạt

Số lượng THTM trong các tác phẩm thơ Chế Lan Viên khá phong phú và đa dạng Để quá trình khảo sát và nghiên cứu được thuận lợi và chính xác, rõ ràng,

chúng tôi phân chia các THTM theo năm trường nghĩa: trường nghĩa hiện tượng tự

nhiên, trường nghĩa vật thể nhân tạo, trường nghĩa động vật, trường nghĩa thực vật,

và trường nghĩa con người Ở mỗi trường nghĩa, chúng tôi khảo sát sự xuất hiện của

các THTM (số lượng, tần suất, tỉ lệ) Đó là cơ sở để chọn lọc, tìm hiểu, nghiên cứu những THTM điển hình – những THTM có tần suất xuất hiện cao Bởi vì theo

Ngày đăng: 21/11/2022, 20:22

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
9. Phạm Thị Kim Anh. Sự biểu đạt bằng ngôn ngữ tín hiệu thẩm mĩ “lúa” trong Thơ mới, Tạp chí Ngôn ngữ, 2000, 6, 9 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sự biểu đạt bằng ngôn ngữ tín hiệu thẩm mĩ “lúa” trong Thơ mới
Tác giả: Phạm Thị Kim Anh
Nhà XB: Tạp chí Ngôn ngữ
Năm: 2000
10. Nguyễn Thị Vân Anh. Tín hiệu ngôn ngữ thẩm mĩ trong ca dao Nam Trung Bộ, NXB Đại học Sư phạm, 2016 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tín hiệu ngôn ngữ thẩm mĩ trong ca dao Nam Trung Bộ
Tác giả: Nguyễn Thị Vân Anh
Nhà XB: NXB Đại học Sư phạm
Năm: 2016
11. Lại Nguyên Ân. Sống với văn học cùng thời, NXB Văn học, Hà Nội, 1997 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sống với văn học cùng thời
Nhà XB: NXB Văn học
12. Lại Nguyên Ân. 150 thuật ngữ văn học, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, 2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: 150 thuật ngữ văn học
Tác giả: Lại Nguyên Ân
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2004
13. Diệp Quang Ban. Ngữ pháp tiếng Việt, 2 tập, NXB Đại học Quốc gia và Trung học chuyên nghiệp, Hà Nội, 1989 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ pháp tiếng Việt, 2 tập
Tác giả: Diệp Quang Ban
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia và Trung học chuyên nghiệp
Năm: 1989
14. Diệp Quang Ban. Ngữ pháp Việt Nam, NXB Giáo dục, 2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ pháp Việt Nam
Tác giả: Diệp Quang Ban
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2009
15. Nguyễn Tài Cẩn. Từ loại danh từ tiếng Việt hiện đại, NXB Khoa học Xã Hội, Hà Nội, 1975 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ loại danh từ tiếng Việt hiện đại
Tác giả: Nguyễn Tài Cẩn
Nhà XB: NXB Khoa học Xã Hội
Năm: 1975
16. Nguyễn Tài Cẩn (Chủ biên). Một số vấn đề về Ngôn ngữ học Việt Nam, NXB Đại Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề về Ngôn ngữ học Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Tài Cẩn
17. Đỗ Hữu Châu. Cơ sở ngữ nghĩa học từ vựng, NXB Đại học và Trung học chuyên nghiệp, Hà Nội, 1987 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở ngữ nghĩa học từ vựng
Nhà XB: NXB Đại học và Trung học chuyên nghiệp
18. Đỗ Hữu Châu. Cơ sở ngữ dụng học, tập một, NXB Đại học Sư Phạm Hà Nội, 2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở ngữ dụng học
Nhà XB: NXB Đại học Sư Phạm Hà Nội
19. Đỗ Hữu Châu. Tuyển tập, tập một, NXB Giáo dục, Hà Nội, 2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tuyển tập, tập một
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2005
20. Đỗ Hữu Châu. Tuyển tập, tập hai, NXB Giáo dục, Hà Nội, 2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tuyển tập, tập hai
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Nhà XB: NXB Giáo dục, Hà Nội
Năm: 2005
21. Đỗ Hữu Châu. Tìm hiểu văn hóa qua ngôn ngữ, Tạp chí ngôn ngữ 2009, 10 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu văn hóa qua ngôn ngữ
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Nhà XB: Tạp chí ngôn ngữ
Năm: 2009
22. Hà Minh Đức. Chế Lan Viên – Khảo luận văn chương, NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1997 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chế Lan Viên – Khảo luận văn chương
Tác giả: Hà Minh Đức
Nhà XB: NXB Khoa học Xã hội
Năm: 1997
23. Hà Minh Đức. Chế Lan Viên người trồng hoa trên đá, NXB Văn học, Hà Nội, 2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chế Lan Viên người trồng hoa trên đá
Tác giả: Hà Minh Đức
Nhà XB: NXB Văn học
Năm: 2010
24. Nguyễn Thiện Giáp. Từ vựng học tiếng Việt, NXB Giáo dục, Hà Nội, 1999 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ vựng học tiếng Việt
Nhà XB: NXB Giáo dục
25. Nguyễn Thiện Giáp. Dụng học Việt Ngữ, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, 2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dụng học Việt Ngữ
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia Hà Nội
26. Nguyễn Thiện Giáp. 777 khái niệm ngôn ngữ học, NXB Đại học Quốc gia Hà nội, Hà Nội, 2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: 777 khái niệm ngôn ngữ học
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia Hà nội
27. Nguyễn Thiện Giáp. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu ngôn ngữ, NXB Giáo dục, Hà Nội, 2012 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu ngôn ngữ
Nhà XB: NXB Giáo dục
28. Nguyễn Văn Khang. Ngôn ngữ học xã hội: Những vấn đề cơ bản, NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1999 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngôn ngữ học xã hội: Những vấn đề cơ bản
Tác giả: Nguyễn Văn Khang
Nhà XB: NXB Khoa học Xã hội
Năm: 1999

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm