Tính cấp thiết của đề tài Lí thuyết hàm ngôn là một trong những nội dung cơ bản, là một trong những đối tượng chủ yếu của ngữ dụng học và về lí thuyết, các phương diện của hàm ngôn tiền
Trang 1ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
Trang 2ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
ĐÀ NẴNG - 2021
Trang 6MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
TÓM TẮT ii
MỤC LỤC iv
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT vi
DANH MỤC CÁC HÌNH vii
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ viii
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề 2
3 Mục đích nghiên cứu 8
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 8
5 Phương pháp nghiên cứu 8
6 Dự kiến đóng góp của đề tài 9
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ LIÊN QUAN 10
1.1 Tiền giả định trong quan niệm của Ngữ dụng học 10
1.1.1 Một số quan niệm về tiền giả định 10
1.1.2 Phân loại tiền giả định 12
1.2 Hàm ý trong quan niệm của ngữ dụng học 21
1.2.1 Khái niệm 21
1.2.2 Phân loại hàm ý 24
1.3 Chế Lan Viên và Di cảo thơ - tập 2 27
1.3.1 Giới thiệu khái quát về Chế Lan Viên 27
1.3.2 Về Di cảo thơ - tập 2 của Chế Lan Viên 28
CHƯƠNG 2 TIỀN GIẢ ĐỊNH TRONG DI CẢO THƠ - TẬP 2 CỦA CHẾ LAN VIÊN 30
2.1 Tiền giả định ngôn ngữ trong Di cảo thơ - tập 2 của Chế Lan Viên 30
2.1.1 Tiền giả định tồn tại 30
2.1.2 Tiền giả định điểm nhấn 37
2.2 Tiền giả định bách khoa trong Di cảo thơ - tập 2 của Chế Lan Viên 44
2.2.1 Kết quả khảo sát 44
2.2.2 Phạm vi biểu vật của TGĐ bách khoa trong Di cảo thơ - tập 2 của Chế Lan Viên 45
CHƯƠNG 3 HÀM Ý TRONG DI CẢO THƠ - TẬP 2 CỦA CHẾ LAN VIÊN 51
Trang 73.2 Giá trị biểu đạt của các hàm ý đối với ngôn ngữ thơ Chế Lan Viên trong Di cảo
thơ - tập 2 54
3.2.1 Góp phần tạo lập một dạng ngôn ngữ thơ được mã hóa bởi nhiều lớp nghĩa 54 3.2.2 Khả năng xây dựng thành những tứ thơ mới lạ, sâu sắc 60 3.2.3 Góp phần hình thành một phong cách nghệ thuật giàu tính triết lí của Chế Lan Viên 71
KẾT LUẬN 79 TÀI LIỆU THAM KHẢO 81 PHỤ LỤC
QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI LUẬN VĂN (Bản sao)
Trang 9DANH MỤC CÁC HÌNH
Số hiệu
1.2: Cách phân loại của Nguyễn Thiện Giáp và George Yule 13
1.5: Nghĩa của phát ngôn theo quan niệm của Hoàng Phê 22 1.6: Nghĩa của phát ngôn theo quan niệm của Nguyễn Đức Dân 23 1.7: Nghĩa của phát ngôn theo quan niệm của Đỗ Hữu Châu 24 1.8: Quan hệ giữa hiển ngôn, hàm ngôn, hàm ý của Nguyễn Đức
Trang 10DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
Số hiệu
2.1: Tần suất xuất hiện của các phạm vi TGĐ tồn tại trong Di cảo thơ
2.2: Tần suất sử dụng TGĐ điểm nhấn trong Di cảo thơ - tập 2 37
2.3: Biểu đồ tần suất xuất hiện của các phạm vi biểu vật của TGĐ
3.1: Biểu đồ tần suất sử dụng các loại hàm ý trong Di cảo thơ - tập 2 51
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Lí thuyết hàm ngôn là một trong những nội dung cơ bản, là một trong những đối tượng chủ yếu của ngữ dụng học và về lí thuyết, các phương diện của hàm ngôn (tiền giả định và hàm ý) đã được các công trình ngữ dụng học miêu tả một cách cụ thể với tất cả những khía cạnh cốt lõi nhất của lí thuyết này Đồng thời, sự thể hiện của hàm ngôn trong các loại văn bản, nhất là văn bản nghệ thuật cũng đã được một
số công trình đề cập
Tuy nhiên, hàm ngôn trong thơ và hàm ngôn trong thơ của từng tác giả cụ thể thì vẫn còn không ít khoảng trống Do đó, tìm hiểu về hàm ngôn trong sáng tác của một nhà thơ có tính đại diện cho một giai đoạn văn học cũng là một cách nhận diện riêng về một đặc điểm ngôn ngữ của tác giả đó; một mặt cũng là một cách để nhận diện sâu sát hơn về nghĩa hàm ngôn trong các loại diễn ngôn
Có nhà phê bình đã dựa vào ý kiến của Hoài Thanh trong Thi nhân Việt Nam
để phát biểu rằng Di cảo thơ của Chế Lan Viên chính là “niềm sửng sốt thứ ba” mà
nhà thơ để lại cho hậu thế Cũng vì vậy, thế giới nghệ thuật của Chế Lan Viên đã được không ít nhà nghiên cứu như Đoàn Trọng Huy, Nguyễn Khánh Thành… dùng làm đối tượng nghiên cứu của những công trình lớn Nhưng về phương diện ngôn ngữ, đó đây chỉ mới là những công trình tìm hiểu về ẩn dụ, so sánh trong thơ Chế Lan Viên mà chưa có những công trình chuyên sâu về hàm ngôn trong thơ Chế Lan Viên Trong khi đó, Chế Lan Viên vốn nổi bật với đặc trưng thơ suy tưởng, triết lí,
ý thức cao vai trò của hình thức, ngôn ngữ thơ, cầu kỳ tìm tòi, sáng tạo thơ trên bình
diện ngôn ngữ Nhà thơ từng ví mình như kẻ “đi dây” trên “vực ngôn từ” (Sổ tay
thơ), bộc lộ một lao động nghệ thuật nghiêm túc, nỗ lực vươn tới những chân trời
mới mẻ của thi ca, của ngôn ngữ của một thi nhân giàu trí tuệ Chế Lan Viên chú trọng vai trò của của các lớp nghĩa hàm ẩn trong thơ, nên thơ ông thường xuất phát
từ những cái cụ thể, bình dị của cuộc sống nhưng không nhằm đề diễn tả cái cụ thể,
mà khai thác những liên tưởng, tưởng tượng vô cùng phong phú để từ cái cụ thể mà tạo ra biểu tượng
Từ thực tế đó chúng tôi quan niệm rằng, nhận diện về hàm ngôn trong “Di
cảo thơ - tập 2” của Chế Lan Viên là một nghiên cứu có ý nghĩa thiết thực, có thể
góp phần khám phá những thế giới thơ muôn mặt, tràn đầy khát khao vươn tới những giá trị đích thực của thi ca
Trang 122 Lịch sử vấn đề
2.1 Hàm ngôn
Thế kỷ 20 chứng kiến bước chuyển mình nhanh chóng của ngôn ngữ học với
sự ra đời lí thuyết cấu trúc của F.de Saussure, nhưng phải đến thập niên 80, 90, ngôn ngữ mới được chú ý nghiên cứu trong bối cảnh sử dụng của nó; đây cũng là lúc ngữ dụng học phát triển Dù “sinh sau đẻ muộn” so với các nhánh khác của ngôn ngữ học, ngữ dụng học vẫn có cho mình một hệ thống lí thuyết đầy đặn, chặt chẽ Xuất phát từ đối tượng nghiên cứu là “lời nói”, các lí thuyết về hàm ngôn là một trong những điểm cốt lõi của ngữ dụng học Ngay từ buổi đầu hình thành, nghĩa hàm ẩn đã là luận điểm chính trong nhiều bài viết của các nhà ngôn ngữ học
Đầu tiên có thể kể đến Paul Grice, người được xem là có những đóng góp lớn lao và có tầm ảnh hưởng sâu rộng đến sự phát triển của ngữ dụng học Ngay từ
năm 1957, trong bài viết Meaning [40], kết hợp ngôn ngữ học và logic học, Grice
đề xuất hai kiểu nghĩa của từ: Ý nghĩa tự nhiên (natural meaning) và ý nghĩa không
tự nhiên (non-natural meaning) Hai kiểu nghĩa này đặt nền tảng cho sự hình thành
các khái niệm về hiển ngôn (explicit) và hàm ngôn (implicit) về sau Cũng chính
Grice, trong bài viết xuất bản năm 1967 [41], đã hoàn thiện các luận điểm sơ khai
trên và giới thiệu thuật ngữ “implicature”, và thuật ngữ này được Việt hóa là hàm
ngôn (Đỗ Hữu Châu) hoặc hàm ý (Nguyễn Thiện Giáp, Nguyễn Đức Dân) Tuy
nhiên, những cách Việt hóa đó được tạo thành khi thuật ngữ “implicature” đã được bồi đắp thêm rất nhiều qua quá trình nghiên cứu của các nhà ngôn ngữ khác nữa Nếu chỉ dựa trên các phân tích ban đầu của Grice, thì “(nghĩa) hàm ẩn” lại có phần thích đáng hơn Với ông, nghĩa hàm ẩn được đính kèm trong các nguyên tắc cộng tác hội thoại, đó vừa là cái nôi sinh ra vừa là môi trường hoạt động của nghĩa hàm
ẩn Những ý nghĩa không nằm trong ý định của người nói là ý nghĩa tự nhiên - không thuộc phạm vi nghiên cứu của ngôn ngữ học; ngược lại, khi người nói ngầm
ám chỉ, ngầm thể hiện một mục đích nào đó thì sẽ nảy sinh ý nghĩa không tự nhiên, tức nghĩa hàm ẩn
Từ thực tế hiện nay có thể thấy, nghiên cứu hàm ngôn trong ngữ dụng học không thể không nhắc đến các nguyên tắc cộng tác hội thoại của Grice; nhưng nếu chỉ dựa vào nhận định ý nghĩa không tự nhiên thì không thể nào phân tích được các lớp nghĩa hàm ẩn trong diễn ngôn
Cuốn Ngữ nghĩa học dẫn luận [23] do John Lyon chắp bút, một mặt tiếp thu
các quan điểm của Grice, mặt khác có sự phát triển về cách lí giải và phân chia các
loại hàm ngôn Tuy vẫn giữ cách phân loại hàm ngôn thành hai loại là: hàm ngôn
Trang 13quy ước (convention implicature) và hàm ngôn hội thoại (conversation implicature),
nhưng John Lyon cho rằng, việc Grice chỉ phân tích trường hợp “and”, “therefore”
là một sự thiếu sót trong việc xem xét các hàm ngôn quy ước Thêm vào đó, qua phân tích ví dụ, tác giả cũng còn chỉ ra thêm một khuyết điểm khác trong quan điểm hàm ý của Grice, đó là - khác với Grice - không phải lúc nào ý nghĩa tự nhiên (hiển ngôn) và ý nghĩa không tự nhiên (hàm ngôn) cũng có thể phân tích một cách rõ ràng; và nếu chỉ xét các liên từ “and”/”therefore” thì theo quan niệm hàm ngôn quy ước, sẽ rất khó để hiểu chính xác hàm ý của người nói Xuất phát từ các lập luận này, John Lyon “mở rộng một cách đáng kể danh sách các dạng thức thỏa mãn tiêu
chí của ông [Grice] về hàm ngôn quy ước”: however, moreover, nevertheless,
yet,…; hoặc tiểu từ tình thái như: even, well, just, [23, tr.285] Qua đó, Lyon
khẳng định, “không có lí do gì để hạn chế khái niệm hàm ngôn quy ước trong phạm
vi liên từ và tiểu từ”, cũng như “không có lí do gì để giới hạn việc áp dụng hàm ngôn quy ước trong việc sử dụng ngôn ngữ chỉ để biện luận ít nhiều mang tính hình thức” hay “giới hạn nó trong phạm vi nghĩa mệnh đề, hoặc nghĩa miêu tả” [23,
tr.286-287]
Cho đến nay, về cơ bản, lí thuyết ngữ dụng học vẫn xoay quanh các khái niệm cơ bản, thế hệ các nhà ngôn ngữ sau này chủ yếu bổ sung thêm vào “khung xương” này những lớp da thịt mới Điển hình như George Yule, từ các quan điểm
của Grice và Lyon, ông xuất bản cuốn Pragmatics [39] năm 1996 Tác giả giữ
nguyên các loại hàm ý quen thuộc như: hàm ý quy ước, hàm ý hội thoại - bao gồm: Hàm ý hội thoại khái quát (generalized conversation implicatures) và hàm ý hội thoại cụ thể (particularized conversation implicatures); đồng thời, đề xuất một tiểu
loại mới, mà chúng tôi tạm dịch là hàm ý vô hướng (scalar implicatures) Tác giả
mô tả loại hàm ý này như là một hàm ý liên quan đến phương châm về lượng trong giao tiếp, khi mà người nói muốn diễn đạt một thông tin cụ thể, từ ngữ mà anh ta chọn sẽ diễn tả một giá trị nào đó từ thang giá trị của nó Nói một cách đơn giản,
trọng tâm của hàm ý vô hướng là nằm ở các lượng từ (all, most, many, some, few, ) hoặc các từ chỉ tần suất (always, usually, sometime,…) trong một diễn ngôn [39,
tr.41] Ông cũng khẳng định hàm ý quy ước không bị chi phối bởi các phương châm hội thoại bởi chúng không phụ thuộc vào ngữ cảnh, nhưng nhận định này đã được
Grice nhắc đến qua các phân tích ở bài viết Logic and Conversation, khi ông chỉ ra
sự khác biệt giữa hàm ý quy ước và hàm ý hội thoại
Ngoài ra còn có thể kể đến một số tác giả khác như Stalneker, Karttunen và Keenan… Nhưng nhìn chung phần nhiều các công trình nghiên cứu lí thuyết ngữ
Trang 14dụng thường xoay quanh khái niệm tiền giả định Các tác giả mà chúng tôi vừa giới thiệu khái quát trên đây có thể nói là quan tâm hơn cả đến yếu tố hàm ngôn của lời nói; và có ảnh hưởng đối với các nhà ngôn ngữ học ở nước ta
So với tuổi đời của ngữ dụng học, có thể nói lí thuyết của phân nhánh ngôn ngữ học này được giới thiệu ở Việt Nam từ rất sớm; vào khoảng những năm 80 của thế kỷ trước Nhưng những lí thuyết này được xây dựng và phân tích chủ yếu dựa trên hệ ngôn ngữ Ấn - Âu, loại hình ngôn ngữ hòa kết khác hẳn với tiếng Việt thuộc loại hình ngôn ngữ đơn lập Chính vì thế, nói đến lịch sử nghiên cứu hàm ngôn, mà nhất là hàm ngôn trong tiếng Việt, không thể không nhắc đến các nhà Việt ngữ tiêu biểu như Hoàng Phê, Đỗ Hữu Châu, Hồ Lê, Nguyễn Đức Dân,… Họ không chỉ giới thuyết mà còn vạch ra mối quan hệ, cơ chế hình thành hàm ngôn trên cứ liệu tiếng Việt
Sớm nhất trong số đó phải kể đến Hoàng Phê với bài viết Ngữ nghĩa của lời
(1981) Ở đây, tác giả đã nhận ra sự thiếu quan tâm của các nhà nghiên cứu ngôn ngữ đối với hàm ngôn dù cho “ý hàm ngôn mới là ý chính”, “có khi hiển ngôn chỉ là dùng để nói hàm ngôn.” Bài viết còn đề cập đến tiền giả định và quan hệ của nó với
hàm ngôn Cá nhân Hoàng Phê cho rằng tiền giả định thuộc cái không nói ra của lời
nói, chứ không phải thuộc phạm vi của hàm ngôn như ý kiến của G.J.Fillmore và O.Ducrot [36, tr.39] Nhưng điều đáng nói ở đây lại là việc tác giả đề xuất việc gọi
hoạt động tư duy tìm ra ý hàm ngôn ở lời nói là suy ý; rồi dựa vào mức độ tin cậy của suy ý mà chia hàm ngôn thành 2 cấp bậc: Hàm ý và ngụ ý Điểm này về sau sẽ
là một sự gặp gỡ với quan niệm của giáo sư Nguyễn Đức Dân Tựu trung lại, với Hoàng Phê, hàm ý và hàm ngôn là khác nhau, chính hàm ngôn mới bao hàm hàm ý Nằm sâu nhất trong cấu trúc ngữ nghĩa của lời và phụ thuộc vào ngữ huống là ngụ ý
- đây cũng là cái đích mà trong giao tiếp chúng ta thường hướng đến Không dừng lại ở đó, Hoàng Phê tiếp tục làm rõ các quan điểm này qua các bài viết khác như
Tiền giả định và hàm ý trong ngữ nghĩa của từ (1982) [36]; 6 năm sau, ông dành
trọn một bài viết về hàm ngôn với tiêu đề: Ý nghĩa hàm ngôn trong lời nói [36]
Như vậy, hàm ngôn với Hoàng Phê là “điều kì diệu của ngôn ngữ là cho phép có thể nói ít mà làm cho người nghe lại có thể hiểu nhiều”; nhất là trong sáng tác văn học nghệ thuật, hàm ngôn không chỉ kích thích người đọc nâng cao hiểu biết ngôn ngữ, rèn luyện tư duy logic, tư duy nghệ thuật Đối với người nói/người viết cũng là một điều có lợi khi có thể viết ít mà gợi nhiều, khiến người nghe/người đọc phải suy nghĩ, gây được ấn tượng khó phai
Nguyễn Đức Dân cũng đồng ý với cách gọi cũng như cách phân loại này của
Trang 15Hoàng Phê, tuy nhiên có khác biệt đôi chút, và được tác giả trình bày trong cuốn
Logich - Ngữ nghĩa - Cú pháp xuất bản vào năm 1987, sau đó các khái niệm cùng
cách phân loại được điểu chỉnh lần nữa trong cuốn Logic và Tiếng Việt (1996) Về
cơ bản, Nguyễn Đức Dân coi ngụ ý của Hoàng Phê thuộc hàm ý hội thoại đồng thời dựa trên hoạt động suy ý hay hiểu ngầm mà đưa ra định nghĩa về hàm ý ngôn ngữ của mình Một điểm khác nữa trong quan điểm của 2 nhà nghiên cứu đó là, theo Nguyễn Đức Dân, ông xem tiền giả định như là một nhánh của hàm ngôn (Xem hình 1.6 hoặc 1.8), mà với Hoàng Phê, tiền giả định và hàm ngôn là hoàn toàn tách bạch, tiền giả định chỉ là một trong những cơ sở để hiểu được hàm ngôn mà thôi
Nói đến vấn đề nghiên cứu hàm ngôn theo hướng ngữ dụng, còn cần nói đến
Đại cương ngôn ngữ học của Đỗ Hữu Châu Cách gọi tên của Đỗ Hữu Châu có
phần khác biệt so với 2 tác giả trên, với ông, hiển ngôn là nghĩa tường minh mà hàm
ngôn là một phần của nghĩa hàm ẩn Các luận điểm của Đại cương ngôn ngữ học
chủ yếu được xây dựng trên các lí thuyết do Paul Grice đề xuất, và có sự thay đổi nhất định Nếu “ý nghĩa không tự nhiên” của Grice bỏ ngoài tai những ý nghĩa hàm
ẩn vô tình, ngẫu nhiên, không thuộc ý định của người nói, thì với Đỗ Hữu Châu, những trường hợp này đều thuộc nghĩa hàm ẩn Trong nghĩa hàm ẩn, tác giả chia thành tiền giả định và hàm ngôn; mỗi nhánh lại phân thành các tiểu loại khác nhau
Bỏ qua cách gọi và chỉ xét về cơ chế hình thành và lí giải thì hàm ngôn của Đỗ Hữu Châu với hai tiểu loại: Hàm ngôn ngữ nghĩa và hàm ngôn hội thoại, về cơ bản khá tương đồng với quan niệm của Nguyễn Đức Dân Điểm khác biệt là ở chỗ, bên cạnh các nguyên tắc hội thoại, Đỗ Hữu Châu còn đưa ra cơ chế tạo hàm ẩn ngữ dụng dựa vào các hoạt động ngữ dụng: Chiếu vật chỉ xuất, hành vi ngôn ngữ,…; mà không dùng suy ý như Hoàng Phê và Nguyễn Đức Dân
Ngoài ra, Nguyễn Thiện Giáp với Dụng học Việt ngữ [18] cũng có nhiều
đóng góp trong việc giới thuyết về hàm ngôn dưới cái nhìn ngữ dụng học Nguyễn Thiện Giáp cho nghĩa của lời gồm hiển ngôn và nghĩa hàm ẩn Nghe như một sự kết hợp giữa Nguyễn Đức Dân và Đỗ Hữu Châu, nhưng không phải vậy; tác giả không
chọn cách dịch hàm ngôn mà gọi là hàm ý Thay vì Grice, O Ducrot,… tác giả dựa
theo các quan niệm của George Yule mà đưa ra cách phân loại nghĩa hàm ẩn, ông
cũng cho rằng “presupposition” nên gọi là tiền đề, hơn là tiền giả định Cũng như
các nhà nghiên cứu khác, Nguyễn Thiện Giáp cũng khẳng định, muốn hiểu được hàm ngôn cần nắm được tiền giả định cũng như hiển ngôn của lời nói; nhưng đây dường như là điểm chung duy nhất mà chúng tôi thấy được Bởi nếu xét kỹ, ta sẽ thấy, Nguyễn Thiện Giáp không nhắc đến cơ chế tạo nghĩa hàm ẩn bằng thao tác
Trang 16suy ý; cách phân loại hàm ý hội thoại của ông cũng rất khác biệt, và chỉ phân tích một hàm ý duy nhất là hàm ý hội thoại
Các luận điểm ở trên sẽ được chúng tôi trình bày rõ hơn ở những phần tiếp theo; lúc này, với cái nhìn khái quát, có thể thấy, yếu tố hàm ngôn dần được quan tâm và có nhiều cách định nghĩa cũng như phân chia khác nhau Và chỉ với các công trình lí thuyết, chúng ta đã có thể thấy được giá trị của việc vận dụng nghiên cứu hàm ngôn trong phân tích các tác phẩm văn chương; đó sẽ là một công cụ hữu ích giúp cho việc khám phá các tầng nghĩa trong thơ ca được logic và thuyết phục hơn Chính vì thế mà trong hơn 20 năm trở lại đây, theo hướng ứng dụng lí thuyết này vào thực tiễn tiếng Việt đã có một số luận án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ được thực hiện ở một số cơ sở đào tạo của cả nước Có thể kể đến như: Luận văn thạc sĩ của
Nguyễn Thị Thu Hiền, 2009, Hàm ý trong phóng sự trên báo Tuổi trẻ và Lao động
năm 2008 - 2009, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn - Đại học Quốc
gia TP Hồ Chí Minh [20]; luận văn thạc sĩ của Châu Thị Mỹ Duyên, 2009, Hàm ý
và vấn đề dạy hàm ý ở nhà trường phổ thông, Trường Đại học Khoa học Xã hội và
Nhân văn - Đại học Quốc gia TP Hồ Chí Minh [14]; luận văn thạc sĩ của Thạch Văn
Việt, 2011, Hàm ý qua các câu chứa cặp nếu…thì và if…then, Trường Đại học
Khoa học Xã hội và Nhân văn - Đại học Quốc gia TP Hồ Chí Minh [37]; luận án
tiến sĩ của Nguyễn Thị Tố Ninh, 2014, Hàm ý và phương thức biểu thị hàm ý trong
tiếng Việt, Học viện Khoa học Xã hội - Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam
[25]; luận án tiến sĩ của Trịnh Thị Thơm, 2015, Nghiên cứu phương thức chuyển
dịch phát ngôn có hàm ý từ tiếng Anh sang tiếng Việt, Trường Đại học Khoa học Xã
hội và Nhân văn - Đại học Quốc gia TP Hà Nội [34]…
Tuy nhiên, hướng nghiên cứu của các luận án, luận văn đã được thực hiện cho thấy, các đề tài thường nghiêng về hàm ý trong văn bản báo chí hoặc là cách thức chuyển dịch hàm ý hoặc là giảng dạy hàm ý trong nhà trường, chứ chưa thực
sự chú ý đến hàm ý trong văn học
Về nghiên cứu trên hướng ngôn ngữ học, có thể kể đến một số công trình
như luận văn thạc sĩ của Đoàn Thị Tâm, 2006, Một số phương thức tạo hàm ngôn
trong truyện cười Tiếng Việt, Trường Đại học Sư phạm TP Hồ Chí Minh; hoặc luận
văn thạc sĩ Hàm ngôn trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp, 2012, của Nguyễn Thị
Tú Anh, Trường Đại học Sư phạm TP Hồ Chí Minh; luận văn thạc sĩ của Nguyễn
Thị Mai Hà, Hàm ý hội thoại trong một số truyện cười Việt Nam hiện đại, 2015, Trường Đại học Tây Bắc… Ngoài ra có công trình Hàm ý hội thoại trong truyện
cười dân gian Việt Nam, 2011, của Nguyễn Hoàng Yến, NXB Từ điển Bách khoa
Trang 17Chúng tôi cho rằng bên cạnh việc nghiên cứu về hàm ngôn nói chung và hàm ngôn trong tiếng Việt nói riêng, cũng cần có một cái nhìn nghiên cứu ngôn ngữ văn chương của một số tác giả văn học quan trọng của Việt Nam, đặc biệt là thi ca Như
thế, nghiên cứu về Chế Lan Viên cùng tập Di cảo thơ dưới góc độ ngôn ngữ, đặc
biệt là hàm ngôn, gần như là một khoảng trống, cần được lấp đầy
2.2 Chế Lan Viên và Di cảo thơ - tập 2
Di cảo thơ của Chế Lan Viên cũng được nhiều nhà nghiên cứu, phê bình
quan tâm Phạm Xuân Quyên từng nhận xét “Chế Lan Viên với Di cảo thơ là hành
trình tìm lại chính mình, hiện diện đầy đủ gương mặt của mình” Nguyễn Quốc Khánh, trong bài “Di cảo thơ Chế Lan Viên - hành trình tìm lại chính mình”, đã nhấn mạnh “nỗi đau có tính triết học” trong cảm thức nghệ thuật của Chế Lan Viên; xem việc nhà thơ “lộn trái” mình ra là “bản lĩnh dám sống tận cùng của một cá tính” [24] Vũ Quần Phương thừa nhận “Chế Lan Viên là một tài năng lớn, có thể nói, là một thiên tài, nên sự chiêm nghiệm lại cuộc đời trước cái chết có ý nghĩa lớn lắm,
nó dạy ta nhiều lắm.” Nhà thơ họ Vũ cũng khẳng định “Chỉ bằng mấy tập Di cảo
thôi, ông đã dạy chúng ta bao nhiêu điều về thơ, về nhận thức, về yêu thương”
(“Chế Lan Viên trong Di cảo thơ”, Báo Tài Hoa Trẻ, số 8/1999) Ngoài ra có thể kể
đến Nguyễn Thái Sơn với “Chế Lan Viên và Di cảo thơ”, Nguyễn Bá Thành với
“Đọc hai tập Di cảo thơ”, Đoàn Trọng Huy với “Khuynh hướng vận động thơ Chế Lan Viên từ sau 1975”, Trần Mạnh Hảo với “Người làm vườn vĩnh cửu”…
Một số nhận xét điển hình trên cho chúng ta thấy được dấu ấn độc đáo của
Chế Lan Viên trong Di cảo thơ là tính hiện đại hóa hoàn thiện cao độ Với Di cảo
thơ, Chế Lan Viên được xem là một gương mặt tiêu biểu cho thơ ca Việt Nam thế
kỷ XX
Dẫu được xem là một bậc thầy chữ nghĩa nhưng ngôn ngữ thơ Chế Lan Viên
cơ bản chưa được khảo sát một cách toàn diện Xét ở một góc độ nào đó, mối quan
hệ giữa phương tiện ngôn ngữ và thế giới nghệ thuật thơ Chế Lan Viên cũng đã được một số nhà nghiên cứu quan tâm Trong luận án “Những nét đặc sắc cơ bản của hình thức nghệ thuật thơ Chế Lan Viên từ sau 1945”, (1994, ĐHSP I Hà Nội), Đoàn Trọng Huy đã đề cập về ngôn ngữ nghệ thuật trong thơ Chế Lan Viên Theo tác giả luận án này, đó là việc sử dụng các biện pháp tu từ một cách rất riêng của nhà thơ Trong luận án “Thi pháp thơ Chế Lan Viên” (1999, ĐHSP Hà Nội), Nguyễn Quốc Khánh đã trình bày một cách tương đối đầy đủ các đặc điểm thi pháp
Chế Lan Viên Tác giả luận án nhấn mạnh “Di cảo thơ một mặt vẫn là quá trình tiếp
nối những đặc điểm về thi pháp của thơ Chế Lan Viên những chặng đường trước
Trang 18đó, mặt khác có sự biến đổi với nhiều đặc điểm mới lạ, từ quan niệm nghệ thuật đến nội dung tư tưởng và hình thức biểu hiện” Nguyễn Lâm Điền trong luận án “Đặc trưng nghệ thuật thơ Chế Lan Viên” (2001, ĐHKHXH&NV- ĐHQGTPHCM) cũng khẳng định “Hơn ai hết, Chế Lan Viên rất dày công trong việc lựa chọn và sử dụng ngôn ngữ nghệ thuật nhằm tạo nên vẻ đẹp riêng mang đậm dấu ấn sáng tạo của ông” Lê Thị Thanh Tâm trong luận văn thạc sĩ “Trí tuệ và cảm xúc trong thơ Chế Lan Viên” (1999, ĐHKHXH&NV-ĐHQGTPHCM) đã ghi nhận về vai trò của ngôn ngữ đối với tư duy thơ Chế Lan Viên
Đến đây có thể nói, mặc dù đã có không ít công trình nghiên cứu về ngôn ngữ nghệ thuật Chế Lan Viên ở những mức độ nông sâu khác nhau nhưng các nhà nghiên cứu chỉ xoay quanh lối viết triết lí và một số biện pháp tu từ nổi bật của Chế Lan Viên mà chưa có sự quan tâm đến các phương diện dụng học trong thơ ông Vì
vậy, nghiên cứu về lí thuyết hàm ngôn trong Di cảo thơ - tập 2 là một đề tài mới
3 Mục đích nghiên cứu
- Nghiên cứu về hàm ngôn (tiền giả định và hàm ý) trong “Di cảo thơ - tập
2” của Chế Lan Viên, mục đích của luận văn này là khảo sát một cách chi tiết và
đầy đủ bình diện nghĩa hàm ẩn của các văn bản thơ trong tập này
- Trên cơ sở kết quả khảo sát đó, thêm một lần, luận văn cung cấp một cái nhìn trực quan về các loại tiền giả định (tiền giả định ngôn ngữ và tiền giả định bách khoa); các loại hàm ý (dẫn ý, ngụ ý) trong thơ của một tác giả cụ thể và trong thơ nói chung
- Đây cũng là một cơ hội để người viết hướng tới nhận diện về khả năng tác động của nghĩa hàm ẩn đối với hình tượng nghệ thuật trong thơ Chế Lan Viên và đối với phong cách nghệ thuật của ông
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu: Các khía cạnh thuộc về nghĩa hàm ẩn trong tập
“Di cảo thơ - tập 2” của Chế Lan Viên Cụ thể là tìm hiểu về các loại tiền giả định,
các loại hàm ý trong tập di cảo thơ này
4.2 Phạm vi nghiên cứu: Văn bản nghệ thuật Di cảo thơ - tập 2 của Chế
Lan Viên trong mối quan hệ với toàn bộ các tập di cảo và toàn bộ sự nghiệp thơ của Chế Lan Viên
5 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp miêu tả được sử dụng như là phương pháp chủ đạo của luận
văn Chủ yếu chúng tôi dựa vào thủ pháp phân tích văn cảnh, thủ pháp phân tích vị
từ - tham tố để xác định và phân tích tiền giả định cũng như hàm ý trong ngữ liệu
Trang 19được khảo sát
- Ngoài ra chúng tôi cũng sử dụng thủ pháp thống kê toán học để khảo sát
tần số, tần suất cũng như sự phổ biến của các sự vật, hình ảnh, hiện tượng xuất hiện
ở tiền giả định, hàm ý trong Di cảo thơ - tập 2 Từ đó xác định được đề tài và cảm
hứng chủ đạo của tập Di cảo, đồng thời thấy được phần nào phong cách sáng tác
của Chế Lan Viên
6 Dự kiến đóng góp của đề tài
Thông qua luận văn này chúng tôi hi vọng góp thêm một cái nhìn chi tiết và
đầy đủ về bình diện nghĩa hàm ẩn của văn bản nghệ thuật Chế Lan Viên; hi vọng
góp thêm một cái nhìn trực quan về các loại tiền giả định, các loại hàm ý trong ngôn
ngữ thơ của một tác giả nói riêng và trong ngôn ngữ thơ nói chung; đồng thời góp
phần nhận diện về khả năng tác động của nghĩa hàm ẩn đối với hình tượng nghệ
thuật trong thơ Chế Lan Viên và đối với phong cách nghệ thuật của ông
Trang 20
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ LIÊN QUAN
Trong bài viết Meaning (1957), Paul Grice đã nhắc đến ý nghĩa không tự
nhiên (non-natural meaning) của ngôn từ khi giao tiếp, làm nền tảng cho sự phát triển
khái niệm hàm ngôn (implication/implicature) về sau [40] Ý nghĩa không tự nhiên hay nghĩa hàm ẩn [7, tr.360] bao gồm: Tiền giả định và hàm ý Như vậy, hàm ý, về cơ
bản, là một trong hai nhánh được lưỡng phân từ nghĩa hàm ẩn khi ta xem xét một phát ngôn nào đó Và, muốn hiểu được hàm ý thì việc khai thác tiền giả định là một điều không thể thiếu
1.1 Tiền giả định trong quan niệm của Ngữ dụng học
1.1.1 Một số quan niệm về tiền giả định
Những khái niệm khoa học luôn có nhiều cách định nghĩa khác nhau, phụ
thuộc vào quan điểm cá nhân của người nghiên cứu, tiền giả định cũng vậy Ngay
cả cách gọi “tiền giả định” (TGĐ) cũng chỉ là tương đối, nhưng bởi nó phổ biến hơn
cả, vì vậy chúng tôi chọn cách gọi này để việc trình bày được thuận tiện
Giữa rất nhiều các quan niệm về cách cắt nghĩa thuật ngữ “presupposition”,
tiêu biểu có thể kể đến những nhận định của Stalnaker trên tạp chí Philosophical
Logic 2 (1973) Từ các diễn giải về hai loại TGĐ: TGĐ ngữ dụng (pragmatic
presupposition) và TGĐ nghĩa học (semantic presupposition) - sẽ được chúng tôi trình bày ở phần phân loại - có thể thấy, với Stalnaker, “mối liên hệ TGĐ không chỉ
ở giữa các mệnh đề hoặc các câu, mà còn là giữa người nói với một mệnh đề TGĐ
của một người là những mệnh đề mà anh ta, thường vô thức, cho là hiển nhiên đúng trong cuộc thoại, tham vấn hoặc tranh luận ” [42, tr.447]
Tương tự như Stalneker, Karttunen và Keenan cũng cho rằng có 2 loại TGĐ trong ngôn ngữ tự nhiên (natural language): TGĐ logic (thực chất cũng là TGĐ
nghĩa học) và TGĐ ngữ dụng Keenan định nghĩa như sau: “Mệnh đề S tiền giả định
câu P một cách hợp lí chỉ khi S bao hàm P và phủ định của S cũng bao hàm P một cách logic.” [38, tr.247] Quan niệm của Karttunen lại thiên về TGĐ ngữ dụng: “từ góc nhìn ngữ dụng học, tiền giả định một phát ngôn là khi cho rằng sự thật của nó
là hiển nhiên và người nghe cũng nghĩ tương tự.” [38, tr.247]
Thêm một cách cắt nghĩa nữa có thể lấy từ quyển Ngữ dụng học của George Yule: “TGĐ là cái gì đó mà người nói giả định trước khi nói”, tác giả nhấn mạnh thêm: “Chính người nói mới có TGĐ chứ không phải phát ngôn của người đó [39,
tr.25] George Yule cho ví dụ như sau:
Trang 21(a) Mary’s dog is cute (mệnh đề p)
Dùng ký hiệu >> để biểu thị tiền giả định (presuppose) thì ta có: p >> q Khi
ta thay đổi mệnh đề p bằng phủ định của nó (NOT p) tức: Mary’s dog isn’t cut thì biểu thức p >> q vẫn giữ nguyên Do vậy, TGĐ còn được xem là hằng số dưới sự
phủ định (constancy under negation) bởi các ví dụ chỉ ra rằng, TGĐ của một mệnh
đề sẽ giữ nguyên bất kể mệnh đề đó khẳng định hay phủ định [39, tr.26]
Có thể thấy, các nhà ngôn ngữ học quốc tế không tập trung đưa ra một cách định nghĩa TGĐ mạch lạc mà quan tâm nhiều đến từng loại TGĐ và đưa ra phân tích riêng Những mô tả TGĐ như một khái niệm chung nhất (không phân biệt nghĩa học hay ngữ dụng) thường phải lượm lặt rải rác trong một công trình nghiên cứu Nhưng thông qua kết hợp với viện dẫn một số diễn giải của Đỗ Hữu Châu, Nguyễn Đức Dân, hay Nguyễn Thiện Giáp, chúng tôi cho rằng có thể đem đến một cái nhìn rõ nét hơn về tiền giả định
Trong quyển Đại cương ngôn ngữ học tập 2, Đỗ Hữu Châu nhận định, TGĐ,
“được xem là bất tất phải bàn cãi, bất tất phải đặt lại thành vấn đề, đã được các
nhân vật giao tiếp mặc nhiên thừa nhận”, “là những căn cứ cần thiết để người nói tạo ra ý nghĩa tường minh trong phát ngôn của mình” [7, tr.362, 365]
Dưới cái nhìn của Nguyễn Đức Dân, TGĐ vẫn là cơ sở để người nói xây
dựng phát ngôn của mình, và có khi “được coi như là điều kiện dùng chuẩn xác của
câu đó.” [12, tr.196] Nguyễn Đức Dân đã phân tích nhiều kiểu TGĐ khác nhau, mỗi tiểu loại đều được cắt nghĩa một cách cụ thể Trong số đó, tác giả tập trung chủ yếu vào TGĐ ngữ dụng và TGĐ ngữ nghĩa Theo Nguyễn Đức Dân, TGĐ ngữ dụng
là “cái nền cho cuộc hội thoại được tiến hành bình thường và câu nói được chấp nhận” [12, tr.197], TGĐ ngữ nghĩa là “điều kiện cần để A (một phát ngôn) có giá trị đúng hoặc sai” (mà chưa cần xét đến ngữ huống giao tiếp của nó) [12, tr.195]
Trong cuốn Dụng học Việt ngữ, Nguyễn Thiện Giáp cho rằng
“presupposition” nên được dịch là tiền đề sẽ sát nghĩa hơn là “tiền giả định”
Nguyễn Thiện Giáp viết: “Tiền đề là những mệnh đề (proposition) mà tính chân thực của chúng được dùng làm đảm bảo cho phát ngôn của ngôn bản, những mệnh
đề mà thiếu chúng thì phát ngôn không thể được coi là có giá trị.” [18, tr.117]
Qua một số quan điểm vừa trình bày, nói một cách khái quát: Tiền giả định
là những cơ sở thiết yếu để người nói tạo lập ý nghĩa cho phát ngôn của anh ta Tiền giả định (đúng) của một mệnh đề không thay đổi ngay cả khi ta phủ định mệnh
đề đó
Trang 221.1.2 Phân loại tiền giả định
Có nhiều cách định nghĩa khác nhau, dĩ nhiên sẽ có những cách phân loại khác nhau với các tiêu chí cũng không hoàn toàn trùng khớp
a) Trước hết là 5 loại TGĐ theo cách phân loại của Pochepstop đưa ra vào
năm 1977 [11, tr.75]
Hình 1.1: Cách phân loại của Pochepstop (1977)
Chúng tôi sử dụng lại các ví dụ mà của giáo sư Nguyễn Đức Dân để việc giải
thích các kiểu loại TGĐ sẽ nêu dưới đây được rõ ràng hơn [11, tr.75-77]
+ TGĐ lặp lại sự phân đoạn thực tại
+ TGĐ kiểu ‘thông tin bách khoa’
Phân tích câu mệnh lệnh sau: (3) “Đóng cửa lại!” Theo Fillmore (1970) có một loạt các điều kiện dùng cần thỏa mãn, trong đó có:
(a) Người nói và người nghe có quan hệ “ra lệnh - nhận lệnh”,
(b) Người nghe trong tình trạng đóng được cửa
(c) Người nói nghĩ tới một cái cửa nào đó và có lí do để tin rằng người nghe cũng hiểu cái cửa đó [là cái nào]
(d) Cái cửa nói tới đang mở
(e) Người nói muốn người nghe đóng cái cửa đó lại
Như chúng đã thấy, TGĐ bất biến trong phép phủ định, do đó nếu chuyển câu (3) thành mệnh đề phủ định “Đừng đóng cửa lại” thì các điều kiện dùng từ (a) - (d) vẫn giữ nguyên, chỉ thay đổi diều kiện (e) Từ (a) đến (d) được gọi là TGĐ thông tin
Tiền giả định
TGĐ lặp lại phân đoạn thực tại TGĐ kiểu 'thông tin bách khoa' TGĐ từ vị - bề mặt
TGĐ từ vị - bề sâu TGĐ ngữ dụng
Trang 23bách khoa
+ TGĐ từ vị - bề mặt
Ví dụ: (4) Ba lại gọi Năm
Do từ “lại” mà chúng ta biết được câu trên có TGĐ là: (5) (Trước đó) Ba đã gọi Năm Vậy, câu (4) vẫn truyền đi nội dung của câu (5), do đó kiểu TGĐ này được gọi là TGĐ từ vị - bề mặt
+ TGĐ từ vị - bề sâu:
Ví dụ: (6) Ba đã phê bình Năm về sáng tác bài thơ đó
Câu này có TGĐ là:
(a) Ba và Năm là người
(b) Năm đã sáng tác bài thơ đó
(c) Ba đang đánh giá rằng sáng tác bài thơ đó là một việc làm không tốt
+ TGĐ ngữ dụng
Ví dụ: Ba biết rằng 2 x 2 = 5
Ba không biết rằng 2 x 2 = 5
Ta thấy, cả hai câu đều có TGĐ “Người nói cho rằng 2 x 2 = 5”
b) Sáu kiểu tiền đề/tiền giả định của Nguyễn Thiện Giáp [18, tr.118-121] và George Yule [39, tr.27-30] thì khá tương đồng, về cơ bản bao gồm:
Hình 1.2: Cách phân loại của Nguyễn Thiện Giáp và George Yule
Tiền giả định
TGĐ tồn tại Existential presupposition
TGĐ thực hữu Factive presupposition
TGĐ phi thực Non-factive presupposition
TGĐ phản thực Counter-factive presupposition
TGĐ kết cấu Structural presupposition TGĐ từ vựng Lexical presupposition
Trang 24+ TGĐ tồn tại (existential presupposition)
TGĐ tồn tại là TGĐ thể hiện trong những cấu trúc sở hữu và những danh ngữ xác định Ví dụ như các cấu trúc “anh của Trà My, vợ của Trang, người yêu của Huyền” Hay khi sử dụng những danh ngữ xác định như: “Ông chủ nhiệm già,
cô nhân viên trẻ, người thiếu phụ dựa bên cửa sổ,…” người nói cũng cam kết sự tồn tại của những thực thể được gọi tên Ví dụ:
- Người thiếu phụ dựa bên cửa sổ mơ màng nhìn ông chủ nhiệm già
- Cô nhân viên trẻ khúc khích cười [18, tr.118-119]
+ TGĐ thực hữu (factive presupposition)
Theo ví dụ của Nguyễn Thiện Giáp thì TGĐ thực hữu thường xuất hiện trong
các câu có vị từ: biết, nhận thấy, hiểu ra, vỡ lẽ ra, giác ngộ, tiếc, thú thật,… Tác giả
đưa ra ví dụ sau:
- Tôi mới vỡ lẽ ra là em giận tôi (TGĐ “em giận tôi là có thật”)
- Rất tiếc là anh đã đến muộn (TGĐ “anh đến muộn là có thật”)
- Ngàn không nhận thấy Huyền đang bận sao! (TGĐ “Huyền đang bận là có thật”) [18, tr.119-120]
+ TGĐ phi thực (non-factive presupposition)
Ngược lại với TGĐ thực hữu, TGĐ phi thực là TGĐ được xác nhận không phải là có thực Thí dụ:
- Anh tưởng nước giếng sâu, anh nối sợi dây dài
Ai ngờ giếng nước cạn anh tiếc hoài sợi dây
Vị từ “tưởng” được dùng với TGĐ là điều tiếp theo nó là không có thật:
“Giếng nước sâu là không thực” [18, tr.120]
+ TGĐ phản thực (counter-factual presupposition) được thể hiện ở những
cấu trúc có từ “nếu”:
- Nếu mọi cái ở đời mà vĩnh cửu, bền lâu
Thì chẳng đến lượt anh được sinh trên trái đất (Omar Khayma)
- Nếu anh là bạn tôi, anh sẽ giúp tôi (Xem [18, tr.120-121])
Những điều được xem là TGĐ trong các câu trên chẳng những không có thực
mà còn đối lập với điều có thực Cụ thể như: Trong thời điểm phát ngôn, rõ ràng tôi không phải bạn anh, cũng như mọi sự ở đời không ngừng biến đổi Đó mới là sự thật
+ TGĐ kết cấu (structural presupposition)
TGĐ kết cấu thể hiện ở những câu như:
- Bao giờ anh đi ?
- Anh đã mua quyển sách này ở đâu? (Xem [18, tr.121])
Trang 25Trong câu hỏi có từ hỏi về thời gian và địa điểm như trên, các thông tin đi kèm từ để hỏi được coi là sự thật Người nói có thể dùng cấu trúc như thế để coi cái thông tin ấy là TGĐ và do đó được người nghe chấp nhận là sự thật
+ TGĐ từ vựng (lexical presupposition)
Trong TGĐ từ vựng, việc dùng một hình thức với ý nghĩa nào đó được người
ta giải thích một cách ước định như là có một TGĐ là một ý nghĩa khác cũng được hiểu Ví dụ: “Chị Thuận nay đã làm mẹ” Trong câu này, qua từ “mẹ”, người nói chỉ
muốn thông báo cho người nghe rằng chị Thuận đã có con Đó là ý nghĩa đã xác
định của từ “mẹ” Điều này chỉ phụ nữ mới đẻ con, nên mặc nhiên người nghe phải
hiểu mẹ phải là phụ nữ
Những từ thôi, bắt đầu, lại, mãi, dưới đây đều có TGĐ từ vựng:
- Tôi thôi hút thuốc rồi TGĐ: Tôi đã hút thuốc
- Sinh viên bắt đầu phàn nàn về vấn đề chỗ ở TGĐ: Trước đó, họ không
phàn nàn
- Nó lại cười TGĐ: Trước đó nó đã cười [18, tr.122-123]
c) Trong cuốn Logic và Tiếng Việt, Nguyễn Đức Dân đưa ra nhiều kiểu phân
loại khác nhau, nhưng về phần mình, tác giả tập trung vào hai dạng chính: TGĐ ngữ nghĩa và TGĐ ngữ dụng
Hình 1.3: Cách phân loại của Nguyễn Đức Dân [12, tr.194]
+ TGĐ ngữ nghĩa:
Nguyễn Đức Dân định nghĩa TGĐ ngữ nghĩa bằng cách đưa ra những định nghĩa từ các nhà nghiên cứu khác nhau từ đó giúp độc giả có cái nhìn đầy đủ về loại TGĐ này Ông cho rằng, TGĐ ngữ nghĩa trong câu trần thuật và câu hỏi cần có cách mô tả khác nhau Ta xét ví dụ sau:
(1) Con anh Ba đang bệnh
(2) Con anh Ba không bệnh
Cả hai phát ngôn này đều có TGĐ: (3) Anh Ba đã có con
TGĐ ngữ nghĩa (Trong câu trần thuật và trong
câu hỏi)
TGĐ ngữ dụng Tiền giả định
Trang 26TGĐ (3) luôn có giá trị đúng, dù câu (1) có giá trị đúng hay sai Như vậy:
“Câu A có TGĐ là B nếu giá trị đúng của B là điều kiện cần cho A có giá trị đúng hoặc sai” [12, tr.194]
Nghĩa là trong câu trần thuật, quan hệ giữa phát ngôn A và TGĐ B của nó có
quan hệ giá trị chân lí được phát biểu khái quát như sau: Dù A có giá trị đúng hay
sai thì TGĐ B của nó vẫn luôn có giá trị đúng [12, tr.194]
Thế nhưng, đặt vấn đề ngược lại, nếu TGĐ B có giá trị sai thì lúc đó A có giá trị gì? Từ đây, Nguyễn Đức Dân viện dẫn nhận định của Keenan để thấy rằng, trong câu hỏi, định nghĩa về TGĐ sẽ khác một chút Để giải thích tình huống này, tác giả
sử dụng đến logic 3 trị: A có giá trị đúng kí hiệu là (đ); A có giá trị sai kí hiệu là (s);
và A có giá trị trung gian hay giá trị rỗng kí hiệu là (#) Vậy mối quan hệ giữa A và TGĐ B của nó sẽ như bảng sau:
A B
Vậy là khi giá trị chân lí không tồn tại thì TGĐ cần phải định nghĩa khác đi,
Keenan viết: “Một câu hỏi Q sẽ có một TGĐ logic là một câu tường thuật B, nếu
câu trả lời thực sự của Q có một TGĐ là B” [12, tr.196]
+ TGĐ ngữ dụng:
TGĐ ngữ dụng được Nguyễn Đức Dân gắn vào ngữ cảnh hội thoại, bởi trong hội thoại, một câu có thể đúng nhưng lại sai về TGĐ, nói cách khác “câu đúng nhưng không chuẩn xác” Với ông, TGĐ ngữ dụng là những điều kiện “dùng chuẩn xác câu đó” Định nghĩa về TGĐ ngữ dụng của Nguyễn Đức Dân có hai điều kiện:
“a) Khi phát ngôn A thì người nói đã giả định rằng B và tin rằng người nghe cũng nghĩ là B, b) B đã được chấp nhận.” [12, tr.197] Tác giả đưa ra hai phát ngôn mâu
thuẫn nhưng có thể chấp nhận được bởi chúng có 2 TGĐ ngữ dụng khác nhau:
(9a) Anh Ba tuy giàu nhưng vẫn tốt bụng
(9b) Anh Ba tuy nghèo nhưng vẫn tốt bụng
Câu (9a) có 1 TGĐ ngữ dụng là “người giàu thường xấu bụng” Trong khi đó
câu (9b) có 1 TGĐ ngữ dụng khác hẳn, đó là “người nghèo thường xấu bụng” Như
thế, TGĐ ngữ dụng giúp cho cuộc hội thoại được tiến hành bình thường và câu nói được chấp nhận [12, tr.197] Bên cạnh đó, Nguyễn Đức Dân cũng đưa ra hai lưu ý
về TGĐ ngữ dụng: 1) TGĐ ngữ dụng được coi là đúng ở thời điểm phát ngôn; 2)
TGĐ ngữ dụng còn được xác định qua ngữ cảnh Một câu ở những ngữ cảnh khác
Trang 27nhau có thể có những TGĐ ngữ dụng khác nhau Qua đó, TGĐ ngữ dụng là TGĐ
gắn liền với ngữ huống giao tiếp, khác với TGĐ ngữ nghĩa vốn chỉ dựa vào từ ngữ
và cấu trúc của lời nói
d) Đỗ Hữu Châu chỉ chia TGĐ thành 4 loại và có phần khác biệt hơn
So sánh với một số cách phân loại khác mà Nguyễn Đức Dân giới thiệu trong
Logich - Ngữ nghĩa - Cú pháp, ta sẽ gặp lại một số tiểu loại ở cách chia của Đỗ Hữu
Châu Điển hình như: TGĐ tồn tại [11, tr.76]; TGĐ từ vựng [11;78] và TGĐ điểm nhấn [11, tr.85]
Hình 1.4: Cách phân loại của Đỗ Hữu Châu
Mặc dù có nhiều cách phân loại khác nhau, nhưng trong luận văn chúng tôi chỉ trình bày chi tiết những loại TGĐ mà chúng tôi cho là có liên quan, bao gồm: TGĐ ngôn ngữ và TGĐ bách khoa
1.1.2.1 Tiền giả định ngôn ngữ
TGĐ ngôn ngữ là “những TGĐ được diễn đạt bởi các tổ chức hình thức của
phát ngôn” TGĐ ngôn ngữ lại chia làm 2 nhóm lớn: TGĐ ngữ dụng và TGĐ nghĩa
học; TGĐ từ vựng và TGĐ cú pháp Đỗ Hữu Châu cho những nhân tố quy tắc dụng học (chỉ xuất, mối quan hệ lập luận, hay một tham thoại) được sử dụng để tiền đề cho một phát ngôn, thì chúng sẽ trở thành TGĐ ngữ dụng của phát ngôn đó Trong
khi đó, TGĐ nghĩa học lại có “quan hệ với tổ chức hình thức ngôn ngữ diễn đạt nội
dung miêu tả (khẳng định, xác tín) tường minh của phát ngôn.” Điều này đúng cho
Trang 28mọi biểu thức ngữ vi, nên ta thấy rằng, TGĐ ngữ dụng bị phụ thuộc vào ngữ cảnh giao tiếp, còn bản thân TGĐ nghĩa học không những không bị lệ thuộc vào ngữ cảnh mà còn có liên hệ mật thiết với hình thức của phát ngôn, rất phù hợp trong vận dụng nghiên cứu thơ ca nghệ thuật Vì thế chúng tôi chỉ nhắc đến TGĐ ngữ dụng ở mức độ nêu khái niệm, và tập trung hơn vào các nhánh con của TGĐ nghĩa học
a) Tiền giả định tồn tại
Nguyễn Đức Dân ví dụ về TGĐ tồn tại như sau:
(1) Kepler đã chết trong cảnh nghèo khó
(2) Ba đồng ý (nhận lời) tới dự hội nghị
Câu (1) có một TGĐ là “Tồn tại một người tên là Kepler”; đây là kiểu TGĐ tồn tại Nhưng câu (2) lại không đơn giản như vậy Câu (2) có hai TGĐ:
(2a) Có một người tên là Ba TGĐ tồn tại
(2b) Người ta đã đề nghị Ba tới dự hội nghị Không phải TGĐ tồn tại Nguyễn Đức Dân cho rằng, (2b) không phải TGĐ tồn tại bởi quan niệm như vậy sẽ khiến khái niệm TGĐ tồn tại mở rộng quá mức, trong nhiều trường hợp có thể dẫn đến chồng chéo, hoặc mơ hồ so với khái niệm [11, tr.77]
Quan niệm của Đỗ Hữu Châu về TGĐ tồn tại cũng tương tự như vậy, tức là khi giao tiếp, bất kì khi nào chúng ta xác tín về một sự vật, hiện tượng nào đó thì mặc nhiên chúng ta thừa nhận sự tồn tại của chúng, nói khác đi là chúng ta đã tiền giả định sự tồn tại của chúng Tác giả không chỉ đề cập đến TGĐ của các phát ngôn
có hệ quy chiếu là thế giới thực, mà còn đề cập đến các “phát ngôn ảo tưởng” như:
- Dũng sĩ đã giết chết con quái vật chín đầu!
Câu này có TGĐ sự tồn tại của con quái vật chín đầu, TGĐ này có thể không
đúng với thế giới thực, nhưng trong hệ quy chiếu của thế giới huyền ảo, thần thoại thì TGĐ này là chấp nhận được Nói cách khác, nghĩa của phát ngôn không mặc định là được xác định bởi hệ quy chiếu của thế giới thực, mà còn có liên quan đến các “thế giới phát ngôn khả hữu”, “phát ngôn tìm được nghĩa là tìm được nghĩa trong thế giới phát ngôn của mình.” [7, tr.401]
b) Tiền giả định đề tài
TGĐ đề tài, theo Đỗ Hữu Châu, là “đề tài của cuộc thoại hay đoạn thoại
trong đó có phát ngôn đang xem xét Nó cũng là cái thế giới phát ngôn của diễn ngôn…Là căn cứ để từ đó nhân vật xác định chiếu vật, tìm ra ý nghĩa biểu vật thích hợp cho các từ ngữ.” [7, tr.401] Nếu không nắm được TGĐ đề tài thì chúng ta khó
mà hiểu được hiển ngôn và các hàm ý của phát ngôn Như trong lời đối thoại của các cô phát thanh viên đài truyền hình sẽ dễ bị hiểu sai nếu không nắm được TGĐ
Trang 29đề tài của nó:
- Cho em ra một tí nữa…
- Vào một tí…
- Cho em thêm một tí nữa…
Đây là khẩu ngữ nghề nghiệp được các cô phát thanh viên sử dụng trong giao tiếp người quay phim để căn chỉnh hình ảnh của bản thân đẹp một chút khi ghi hình Ngược lại, nếu người nghe không nắm được điều này sẽ khó hiểu, thậm chí hiểu sai các phát ngôn trên
c) Tiền giả định điểm nhấn
Để nói về TGĐ điểm nhấn, cần nhắc lại đôi chút về khái niệm tiêu điểm Nguyễn Đức Dân viết: “Trong một câu khi điểm nhấn mạnh rơi vào từ nào thì trọng tâm thông báo sẽ rơi vào từ đó Điểm nhấn này trở thành tiêu điểm của câu đã cho.” [11, tr.85] Như thế, một câu có thể được nhấn mạnh vào những điểm khác nhau
Đỗ Hữu Châu cho rằng hiện tượng tiêu điểm gắn liền với trọng âm của phát ngôn Cùng một ngôn bản, nhưng khi phát ngôn, chữ in hoa thể hiện những tiêu điểm khác nhau, dẫn đến TGĐ cũng sẽ khác nhau Ví dụ của Đỗ Hữu Châu như sau: [7, tr.402-403]
(i) Có phải JOHN đi xem chiếu bóng không?
Trong câu (i) với tiêu điểm là JOHN thì TGĐ là: Có ai đó đi xem chiếu bóng Nhưng khi thay đổi tiêu điểm:
(ii) Có phải John ĐI XEM chiếu bóng không?
thì TGĐ của câu (ii) lại là: John đã làm gì đó
Xuất phát từ việc một phát ngôn có thể có nhiều tiêu điểm khác nhau tùy vào ngữ huống và không do từ vựng tạo nên, do đó Nguyễn Đức Dân còn gọi TGĐ điểm nhấn là TGĐ ngữ dụng phi từ vựng Dù vậy, khi nói đến TGĐ điểm nhấn ta
biết rằng: Hiển ngôn nằm ở tiêu điểm, các ý nghĩa của các phần còn lại của câu trở
thành TGĐ điểm nhấn cho tiêu điểm đó
1.1.2.2 Tiền giả định bách khoa:
Đỗ Hữu Châu nhận định TGĐ bách khoa “bao gồm tất cả những hiểu biết về
hiện thực bên trong và bên ngoài tinh thần con người mà các nhân vật giao tiếp cùng có chung, trên nền tảng đó mà nội dung giao tiếp hình thành và tiếp diễn” [7,
tr.395] Ví dụ như phát ngôn sau:
- Đã 12 giờ rồi, ăn nhanh lên rồi còn nghỉ trưa nữa
Đối với các quốc gia có giờ làm việc bắt đầu từ 9 giờ sáng cho đến chiều thì phát ngôn này sẽ gây khó hiểu, nhưng đặt trong văn hóa Việt Nam thì ngược lại:
Trang 30Người Việt Nam có thói quen bắt đầu công việc từ sáng sớm (6 - 7 giờ), khoảng thời gian từ 12 giờ đến 13 giờ là quãng nghỉ ngắn để bắt đầu phiên làm việc buổi chiều Vì thế nghỉ trưa đối với người Việt rất quan trọng
Đỗ Hữu Châu cũng trích dẫn ví dụ liên quan đến TGĐ về thời gian của Nguyễn Đức Dân:
- Nó lại đi Hà Nội rồi!
Do sự xuất hiện của từ “lại” mà ở đây, chúng ta có TGĐ “khoảng cách thời gian giữa lần đi trước với lần đi này là quá ngắn so với bình thường” Qua ví dụ này, Đỗ Hữu Châu cho các TGĐ về thời gian, về không gian hay TGĐ về tính chất cần yếu của sự đi cũng là TGĐ bách khoa [7, tr.397]
1.1.2.3 Tiền giả định từ vựng
Một phát ngôn bình thường được tạo ra khi người nói tôn trọng các điều kiện
sử dụng của các từ - vốn do ý nghĩa và chức năng của từ tạo nên Vì thế, “khi từ đã xuất hiện trong phát ngôn, những ý nghĩa, chức năng quy định điều kiện sử dụng
nói trên được thực hiện hóa, trở thành tiền giả định từ vựng của phát ngôn.” [7, tr.403] TGĐ từ vựng chia làm hai nhóm: TGĐ từ thực và TGĐ từ hư Ở đây chúng
tôi trình bày cách chia của Đỗ Hữu Châu; Nguyễn Đức Dân cũng có nhắc đến TGĐ
từ vựng, nhưng lại chia thành: TGĐ đại cương và TGĐ đặc thù [11, tr.79]
a) Tiền giả định từ thực
TGĐ từ thực gồm hai loại TGĐ hạn chế lựa chọn và TGĐ khái quát
- TGĐ hạn chế lựa chọn là những TGĐ “tương ứng với các nét nghĩa đặc
hữu của cấu trúc nghĩa biểu niệm của từ.” Thí dụ: Từ “sủa” có TGĐ hạn chế lựa
chọn: (nói về) chó; từ “nhắm” TGĐ hạn chế lựa chọn: (nói về) mắt;… Như vậy, TGĐ hạn chế lựa chọn đòi hỏi những từ kết hợp với nó trong câu phải có nét nghĩa đồng nhất với nó mới cho được những kết hợp bình thường [7, tr.404]
- TGĐ khái quát, ngược lại, tương ứng với các nét nghĩa khái quát, phạm trù của cấu trúc biểu niệm Những nét nghĩa này quy định điều kiện tổng quát để một từ
có thể được dùng một cách bình thường trong câu Ví dụ: Các từ chạy, bò, lăn,
trườn,… có chung TGĐ khái quát là “vận động dời chỗ: trạng thái tĩnh” [7, tr.404]
b) Tiền giả định từ hư
Như tên gọi của nó, TGĐ từ hư là những TGĐ được tạo thành bởi các hư từ trong phát ngôn Đỗ Hữu Châu cho ví dụ như sau:
(1) Cô ấy xinh
(2) Cô ấy cũng xinh
Từ “cũng” trong (2) đem lại cho (1) ít nhất 2 TGĐ sau đây:
Trang 31- Nếu (2) là câu trả lời cho câu hỏi Cô ấy thế nào? thì TGĐ hư từ là “đối
chiếu với phạm trù “xinh”, kết hợp với nghĩa tường minh cho ta hàm ý: “cố gắng
lắm thì cô ấy chỉ xếp được vào phạm trù „xinh‟ mà thôi”
- Hoặc nếu (2) là một phát ngôn sau một phát ngôn khác, ví dụ như “Cô này
xinh, cô ấy cũng xinh” thì câu (2) có TGĐ hư từ là “đối chiếu với cô này”[7, tr.405]
1.1.2.4 Tiền giả định cú pháp
TGĐ cú pháp hay TGĐ phi từ vựng “để chỉ những tiền giả định do tổ chức
của phát ngôn diễn đạt (trừ ý tường minh) và không gắn với ý nghĩa hoặc chức năng của từ.” [5, tr.407]
Ví dụ: “Anh ta đi lấy thuốc cho vợ.”
Câu này có TGĐ cú pháp “anh ta đã có vợ” TGĐ này sẽ mất đi nếu từ “vợ”
ở một phát ngôn khác Như vậy ta thấy, TGĐ từ vựng thường gắn với ý nghĩa và chức năng của từ, do đó vẫn giữ được giá trị khái quát khi từ đi vào những phát ngôn khác nhau Nhưng TGĐ cú pháp không như thế, nó được quyết định bởi tổ chức cú pháp của phát ngôn, nên nếu phát ngôn thay đổi thì TGĐ cú pháp cũng thay đổi theo [7, tr.407]
Ngoài các cách phân loại và định nghĩa TGĐ mà chúng tôi vừa nêu trên, dĩ nhiên vẫn còn rất nhiều các quan điểm khác nữa; nhưng đây là những quan điểm tiêu biểu, được đa số chấp nhận trong nghiên cứu ngữ dụng học Thêm vào đó, với rất nhiều tiểu loại TGĐ như thế, trong luận văn chúng tôi chỉ lựa chọn trình bày
chọn lọc các nội dung liên quan, đặc biệt là về TGĐ bách khoa, TĐG tồn tại và
TGĐ điểm nhấn
Tuy nói tiền giả định là cơ sở để xây dựng phát ngôn, nhưng đó không phải
là cái đích của giao tiếp, mà chính hàm ý mới là cái đích sau cùng của người nói -
và cũng là đối tượng chính mà luận văn chúng tôi hướng đến
1.2 Hàm ý trong quan niệm của ngữ dụng học
1.2.1 Khái niệm
Quay trở lại với Paul Grice, ngay đầu Chương 1, chúng tôi đã nhắc đến vai trò tiên phong của Grice trong việc đưa ra khái niệm ý nghĩa không tự nhiên (các nhà ngôn ngữ học nước ta hay gọi là nghĩa hàm ẩn) và đặc biệt là thuật ngữ
“implicature/implication” hay hàm ý Trong bài viết Logic and Conversation, qua ví
dụ của mình, Grice cho thấy, hàm ý xuất hiện khi một người ám chỉ điều gì đó khác
biệt (distinct) với cái mà anh ta đã nói [41, tr.24] “Trong một số trường hợp, nghĩa quy ước (convention meaning) của những từ ngữ được sử dụng sẽ định hình hàm ý,
và quyết định cái được nói.” [41, tr.25]
Trang 32Cũng như Grice, George Yule gắn hàm ngôn với hội thoại qua cách đặt tên chương: “Cộng tác và hàm ý” (Coooperation and Implicature) [39, tr.35] Khái niệm hàm ý được mô tả như sau: Đó là những ý nghĩa bổ sung, những ý nghĩa ấy vượt ra ngoài những điều mà ngôn từ thể hiện Nhưng ông cũng nói thêm rằng, dù
“hàm ý là một trong những ví dụ tiêu biểu cho việc giao tiếp nhiều hơn những gì
được nói ra, nhưng để giải thích được nó, cần phải gắn với các quy tắc cộng tác hội thoại.” [39, tr.36]
Mở đầu Ngữ nghĩa của lời, Hoàng Phê viết: “Mọi người đều biết rằng, lắm
khi chúng ta nói ra một điều này nhưng lại muốn cho người nghe từ đó hiểu ra một điều khác, hoặc hiểu thêm một điều khác nữa Điều nói gián tiếp đó, chúng tôi đề nghị gọi là hàm ngôn.” [36, tr.34] Nghĩa là, đối với Hoàng Phê, hàm ngôn là những
gì được nói ra một cách gián tiếp hoặc không được nói ra nhưng người nghe vẫn có
sự hiểu ngầm, đối lập với hiển ngôn - là điều được nói ra trực tiếp, tương đương với
nghĩa tường minh (Đỗ Hữu Châu) Từ hiển ngôn, kết hợp với “cái không nói ra vì
bất tất phải nói (tiền giả định) cùng với các nhân tố của ngữ huống sẽ là cơ sở để chúng ta nắm bắt hàm ngôn trong phát ngôn của người nói Bởi Hoàng Phê không xếp TGĐ vào hàm ngôn, nên về bản chất, cách gọi hàm ngôn này cũng chính là hàm
ý Bởi về sau, tác giả chia hàm ngôn thành hàm ý dựa trên ngữ nghĩa và hàm ý suy
ra từ hội thoại Ta được sơ đồ như sau:
Hình 1.5: Nghĩa của phát ngôn theo quan niệm của Hoàng Phê
ngữ cảnh)
Ngụ ý (là hàm ý suy ra từ ngữ cảnh giao tiếp)
Trang 33Thời điểm Hoàng Phê công bố bài viết đó, các thuật ngữ của ngữ dụng học hầu như chưa được bàn luận và lựa chọn như sau này Vì vậy, ông dùng khái niệm hàm ngôn cho hàm ý và dùng khái niệm hàm ý cho cái mà sau này chúng ta sẽ gọi
là dẫn ý
Quan niệm của Nguyễn Đức Dân về hàm ngôn thể hiện từ Logich Ngữ nghĩa
- Cú pháp cho đến Logich và Tiếng Việt, về cơ bản là tương đồng với quan điểm
của Hoàng Phê; Nguyễn Đức Dân còn đồng nhất khái niệm ngụ ý của Hoàng Phê
với khái niệm hàm ý hội thoại của Paul Grice; và cho TGĐ là một phần của hàm
ngôn Như vậy sơ đồ biểu thị nghĩa của phát ngôn lúc này sẽ như sau:
Hình 1.6: Nghĩa của phát ngôn theo quan niệm của Nguyễn Đức Dân
Khác với Hoàng Phê và Nguyễn Đức Dân, xuất phát từ khái niệm ý nghĩa không tự nhiên của Grice, Đỗ Hữu Châu cho hàm ngôn lẫn TGĐ đều là ý nghĩa hàm
ẩn không tự nhiên Như thế, “hàm ngôn” của Đỗ Hữu Châu sẽ tương ứng với hàm ý theo quan điểm của Nguyễn Đức Dân Tuy nhiên nhận định của Đỗ Hữu Châu về
hàm ý cũng không quá khác biệt so với 2 tác giả trên: “Hàm ngôn (hay hàm ý) là tất
cả những nội dung có thể suy ra từ một phát ngôn cụ thể nào đó; từ ý nghĩa tường minh cùng với tiền giả định của nó” [7, tr.362] Bên cạnh đó, ông nhận ra rằng, các
nguyên tắc hội thoại là nền tảng của cơ chế tạo nghĩa hàm ẩn; và quan hệ giữa hàm ngôn hay hàm ý với TGĐ và nghĩa tường minh gần với mối quan hệ giữa kết luận
và các luận cứ Ta được sơ đồ sau:
Trang 34Hình 1.7: Nghĩa của phát ngôn theo quan niệm của Đỗ Hữu Châu
Cái gọi là “hàm ngôn” trong quan điểm của Nguyễn Thiện Giáp là khác biệt
hơn cả Với ông, nghĩa của một phát ngôn bao gồm: Nghĩa hiển ngôn và “những ý
nghĩa vô hình không có sẵn trong những mối quan hệ cú pháp của câu” [18, tr.115]
“Những ý nghĩa vô hình” này ông không gọi là “hàm ngôn” mà là “nghĩa hàm ẩn” (implicit meaning) Trong nghĩa hàm ẩn này lại có tiền đề hay TGĐ và kéo theo
(entailment) Ngoài ra, Nguyễn Thiện Giáp còn nhắc đến hàm ý hội thoại (bao gồm: hàm ý hội thoại đặc thù và hàm ý hội thoại khái quát) Xét theo định nghĩa kéo theo,
có thể hàm ý hội thoại là một tập hợp con của kéo theo; nhưng dù vậy thì nó cũng thuộc phạm vi của nghĩa hàm ẩn
Tựu trung lại, cũng giống như tiền giả định, hàm ý trong quan niệm của mỗi nhà nghiên cứu lại được cắt nghĩa và xếp loại khác nhau Thế nhưng, dù cách diễn giải khác nhau, nhưng về cơ bản, vẫn có nét nghĩa tương đồng, giữa các quan điểm
vừa nêu, rằng: Hàm ý xuất hiện khi người nói muốn truyền đạt nhiều hơn những gì
ở bề mặt phát ngôn Và điều nằm dưới lớp nghĩa tường minh đó, bên cạnh tiền giả định, sẽ là hàm ý - mục đích sau cùng của giao tiếp
1.2.2 Phân loại hàm ý
Hoàng Phê đã dựa vào mức độ tin cậy của suy ý mà chia hàm ngôn thành:
Hàm ý và ngụ ý Suy ý hoạt động tư duy của con người, “từ những điều đã nghe,
trong những điều kiện nhất định, suy ý để biết ý của người nói.” [37, tr.46] Theo tác
giả, suy ý không chỉ diễn ra ở người nghe (dựa vào TGĐ và hiển ngôn để hiểu hàm ngôn) mà còn diễn ra ở cả người nói Tuy nhiên, do suy ý không phải là phép suy diễn logic thông thường nên “mức độ trực tiếp cũng như độ tin cậy của suy ý khác
nhau khá nhiều” Từ đây, Hoàng Phê gọi hàm ý là “phần nội dung hàm ngôn có thể
Trang 35suy ý trực tiếp và không khó khăn, vì không hoặc ít phụ thuộc vào ngữ huống, độ tin cậy vì thế tương đối cao.” Ngược lại, ngụ ý là “nội dung hàm ngôn thường phụ thuộc nhiều vào ngữ huống vào phải suy ý gián tiếp, độ tin cậy của suy ý không cao.” [37, tr.51] Hoàng Phê biểu diễn cấu trúc ngữ nghĩa của lời như sau:
[X] (Tiền giả định
Y (Hiển ngôn)
= Z (Hàm ý)
= Z’ (Ngụ ý) Vậy cấu trúc ngữ nghĩa của câu: “Mẹ thằng bé mà còn thì nó đã không đến nỗi khổ.” có thể biểu diễn như sau: [37, tr.52]
Đứa bé mồ côi mẹ và nó khổ và nó có mẹ kế
Nếu nó còn mẹ thì nó không khổ
Nó sở dĩ khổ vì mồ côi mẹ
Mẹ kế đối xử không tốt
Như vậy, ta thấy rằng, hàm ý so với ngụ ý khách quan hơn bởi nó ít phụ
thuộc vào các yếu tố ngữ cảnh giao tiếp khác Ngụ ý lại mang tính chủ quan nhiều hơn, không hiếm những trường hợp, người nghe không nắm được ngụ ý, hoặc hiểu sai; thậm chí có khi, người nói không có ngụ ý nhưng người nghe lại cho là có ngụ
ý Thế nhưng, Hoàng Phê khẳng định, nếu một phát ngôn có hàm ngôn, thì phần
thông tin quan trọng, cái đích sau cùng của người nói là nằm ở ngụ ý chứ không
phải hàm ý Sơ đồ sau thể hiện cách phân loại của Hoàng Phê:
Nguyễn Đức Dân lại chia hàm ngôn hay hàm ý thành: Dẫn ý, suy ý và ngụ ý
Nếu dẫn ý là hàm ý có thể được phát hiện từ suy luận logic trên cơ sở các yếu tố tường minh của phát ngôn; thì suy ý được suy luận từ quan hệ giữa phát ngôn với
diễn ngôn (văn bản) Khi hàm ý bị lệ thuộc hoàn toàn vào hoàn cảnh giao tiếp thì đó
là ngụ ý Tuy nhiên, vì sự không phân biệt suy ý và ngụ ý không hẳn đã có những
Hàm ngôn
Hàm ý
Ngụ ý
Trang 36đường ranh thực sự minh bạch nên có những tác giả không phân chia các loại hàm ý (Đỗ Hữu Châu) hoặc nhập suy ý và ngụ ý vào một loại chung là ngụ ý
Đỗ Hữu Châu chia hàm ngôn thành: Hàm ngôn ngữ nghĩa và hàm ngôn dụng học Nguyễn Đức Dân lại là hàm ý ngôn ngữ và hàm ý hội thoại Nhưng đó chỉ là sự khác biệt về tên gọi, về cơ bản, hàm ngôn ngữ nghĩa và hàm ý ngôn ngữ là một;
cũng tương tự như thế: hàm ngôn dụng học chính là hàm ngôn hội thoại Hàm ý
ngôn ngữ “là hàm ý độc lập với ngữ cảnh”; hàm ý hội thoại thì ngược lại, nó được
hình thành trong những tình huống cụ thể, gắn chặt với ngữ huống giao tiếp và các nguyên tắc hội thoại [12, tr.193]
Ta xét ví dụ sau: “Anh ta không yêu cô ta vì cô ta giàu” Phát ngôn này có các hàm ý:
- Hàm ý 1: “Anh ta không yêu cô ta, lí do của sự “không yêu” là do sự giàu
có của cô ta” - nếu trường tác động của từ không rơi vào vị ngữ yêu
- Hàm ý 2: “Anh ta yêu cô ta” nhưng lí do yêu không phải là “sự giàu có” -
nếu trường tác động của từ không rơi vào bổ ngữ vì cô ta giàu có
Vậy, hàm ý ngôn ngữ (hay hàm ngôn nghĩa học theo Đỗ Hữu Châu) có cơ sở
là các lẽ thường, “căn cứ vào mệnh đề được diễn đạt để được diễn đạt bởi một cách
tường minh trong phát ngôn.” [7, tr.394]
Như thế, mối quan hệ giữa hiển ngôn, hàm ngôn, hàm ý trong một phát ngôn được nhà nghiên cứu Nguyễn Đức Dân quan niệm như sau:
Hình 1.8: Quan hệ giữa hiển ngôn, hàm ngôn, hàm ý của Nguyễn Đức Dân
Đây cũng chính là cách phân loại mà chúng tôi sử dụng để nghiên cứu trong luận văn này
Nghĩa của phát ngôn
Hiển ngôn
Hàm ngôn
Tiền giả định
Hàm ý
Trang 371.3 Chế Lan Viên và Di cảo thơ - tập 2
1.3.1 Giới thiệu khái quát về Chế Lan Viên
Chế Lan Viên được sinh ra ở vùng đất Cam Lộ - Quảng Trị (1920 - 1989),
bố mẹ đặt cho tên cúng cơm là Phan Ngọc Hoan Được biết, họ Chế trong bút danh
là do Hàn Mặc Tử đặt khi viết bài Thi sĩ Chàm tặng Chế Bồng Hoan Còn chữ Lan
Viên lấy ý tưởng từ người bạn thơ Yến Lan và ấn tượng vườn lan nhiều hoa nhà bạn Với bút danh này, người yêu thơ đã khá quen thuộc với cái tên Chế Lan Viên
Điểm qua đôi nét về cuộc đời nhà thơ, 7 tuổi (1927), nhà thơ đã theo gia đình
vào Bình Định Vì vậy, ông rất gắn bó với “thành Đồ Bàn xưa”, xem đây là quê
hương thứ hai của mình Và chính quê hương thứ hai ấy đã là “ám tượng nghệ thuật” trong thơ Chế Lan Viên những năm đầu sáng tác Thi sĩ rất nổi tiếng trên cả
ba chặng đường thơ của dân tộc: Trước năm 1945 là Điêu tàn (thi sĩ - lãng mạn),
1945 - 1975 là Ánh sáng và phù sa (thi sĩ - chiến sĩ), và sau năm 1975 là Di cảo thơ
(thi sĩ - triết nhân) với sự nghiệp sáng tác gồm 1025 bài thơ Giai đoạn 15, 16 tuổi,
Chế Lan Viên với tập Điêu tàn - “đột ngột hiện ra như một niềm kinh dị giữa làng
thơ Việt Nam” (Hoài Thanh) Không “kinh dị” sao được khi chính Chế Lan Viên đã
từng ưu tư với quan niệm rằng: “Thi sĩ không phải là người Nó là người Mơ, người
Say, người Điên Nó là Tiên, là Ma, là Quỉ, là Tinh, là Yêu Nó thoát hiện tại Nó xáo trộn dĩ vãng Nó ôm trùm tương lai” (Tựa Điêu tàn) Thế giới hình ảnh trong
thơ ông đầy quái đản và ma mị với không gian âm phủ và thời gian dĩ vãng đã mấy trăm năm với những tiếng khóc hờn ai oán, não nùng Chừng như, nhà thơ từ bỏ cõi đau thương của cuộc đời thực tại nhưng lại tìm đến một cõi đau thương khác Trong chính cõi ấy, nhà thơ đã thăng hoa với cảm xúc, trí tuệ tưởng chừng như chạm đến
sự vô cùng, không giới hạn
Đến giai đoạn sau Cách mạng, nhà thơ ra Huế tham gia “Đoàn xây dựng” với Hoài Thanh, Lưu Trọng Lư, Đào Duy Anh Trong thời kì kháng chiến chống Pháp, Chế Lan Viên tham gia hoạt động văn nghệ và báo chí ở Liên khu Bốn và chiến
trường Bình Trị Thiên Chính tại thời gian này, nhà thơ cho xuất bản tập Gửi các
anh (1955) gồm 14 bài Đây được xem như sản phẩm sau hơn 10 năm theo Đảng
của nhà thơ
Đến năm 1960, sau một thời gian phôi thai, Ánh sáng và phù sa - đứa con
tinh thần được mọi người yêu mến và ngưỡng mộ của Chế Lan Viên - ra đời Hội tụ
trong Ánh sáng và phù sa là những vần thơ hòa nhập vào cuộc sống hiện tại, vào đời
sống kháng chiến, với đất nước, với nhân dân, với Bác Hồ…; là những vần thơ tràn đầy niềm tin yêu tha thiết, niềm vui khấp khởi trong mỗi lời thơ
Trang 38Sau Ánh sáng và phù sa là các tập Hoa ngày thường - Chim báo bão (1967),
Những bài thơ đánh giặc (1972), Đối thoại mới (1973) và Ngày vĩ đại (1975) kết tụ
khuynh hướng sử thi hào hùng, chất chính luận và tính thời sự của những năm nhà thơ tham gia kháng chiến chống Mĩ, tham gia Ban lãnh đạo Hội nhà văn Việt Nam, tham dự nhiều diễn đàn văn hóa quốc tế trên thế giới…
Sau năm 1975, âm hưởng hùng tráng của những ngày chống Mỹ cứu nước vẫn
còn vang vọng trong các tập thơ: Hoa trước lăng Người (1976), Hái theo mùa (1977)
Và vào những năm cuối đời, khi đã trải qua biết bao nhiêu bể dâu của cuộc đời, cái tôi
thi sĩ lại trăn trở thế sự trong những vần thơ Hoa trên đá (1984) và Ta gửi cho mình
(1986)
Sau khi nhà thơ mất, người vợ Vũ Thị Thường cùng con gái Phan Thị Vàng Anh tập hợp những bài thơ chưa công bố của nhà thơ và cho in thành 3 tập, gọi là
Di cảo thơ, xuất bản trong các năm 1992, 1993 và 1996
Ngoài thơ, Chế Lan Viên còn viết văn xuôi và văn phê bình: Nói chuyện văn
thơ (1960), Vào nghề (1962), Những ngày nổi giận (1996), Bay theo đường dân tộc đang bay (1977), Từ gác Khuê Văn đến quán Trung Tân (1981), Nghĩ cạnh dòng thơ (1982), Ngoại vi thơ (1987)… Và trên những trang viết của ông, dù là thơ hay là
văn xuôi, bao giờ ta cũng bắt gặp một cái tôi sáng tạo rất độc đáo mang tên Chế Lan
Viên Giải thưởng Hồ Chí Minh 1996 là phần thưởng tinh thần cao quí dành cho
người nghệ sĩ đi hết một đời với thi ca ấy
Thơ Chế Lan Viên có thể nói là một mạch suy tưởng từ những gì lớn lao nhất đến những gì giản dị nhất trong cuộc sống bình thường, là sự quan sát, cảm nhận, nhìn nhận và lí giải bằng chiều sâu của trí tuệ; là màu sắc của những thân phận tình yêu, là những hóa thân sau cõi chết, là những biểu tượng nghệ thuật, là cả quá trình xây dựng những hình ảnh thơ đối lập vừa thể hiện sự mạnh mẽ trong ý tưởng, vừa khẳng định sự sắc sảo của trí tuệ, tính triết lí của nhà nhơ
Với sự nghiệp sáng tác đồ sộ của mình, Chế Lan Viên đã thực sự để lại dấu
ấn độc đáo theo thời gian, điều này đã được khẳng định: “Lịch sử văn học Việt Nam
đã từng xuất hiện ít nhất là một đỉnh cao chót vót, cao đến mức mấy chục thế hệ các nhà thơ Việt Nam chạy tiếp sức đến hụt hơi vẫn không sao tiếp cận được Ấy là Nguyễn Du Ấy là Đoạn trường tân thanh Thơ Chế Lan Viên, với độ sâu, tầm cao, tầm xa đã đạt được, cũng là một đỉnh cao khắc nghiệt với những ai muốn vươn đến”
[1, tr.412]
1.3.2 Về Di cảo thơ - tập 2 của Chế Lan Viên
Di cảo thơ gồm 3 tập với 461 bài thơ Di cảo I (65 bài) là Các bài đã hoàn
Trang 39chỉnh, Di cảo II (196 bài) với Các bài mới ở dạng phác thảo, và Di cảo III (200
bài) gồm các thi phẩm Nghĩ về thơ và nghĩ ngoài thơ (mới ở dạng phác thảo)
Ngoài mười tập thơ đã xuất bản rộng rãi với bạn đọc, Chế Lan Viên còn để lại cho hậu thế một “gia tài” với hàng nghìn bài thơ được chép trong hàng chục cuốn sổ tay nghề nghiệp khác nhau Sau khi ông mất, vợ ông là nhà văn Vũ Thị
Thường đã góp nhặt, tuyển chọn và giới thiệu Di cảo thơ Di cảo thơ, phần nào
đã khái quát nên chân dung của một thi sĩ đằng sau ngôn ngữ và sau cả khuôn
mặt xã hội, là “hành trình đầy thử thách của một thi sĩ lớn có bản lĩnh, dám sống
tận cùng với cá tính của mình” [1, tr.433] Nếu Điêu tàn có giọng than, Ánh sáng
và phù sa như một giọng hát vang, thì giọng điệu của Di cảo thơ là sự tâm tình,
sự đối thoại thủ thỉ với chính mình một cách sâu sắc và đầy tính trí tuệ Và điều này, đã được khẳng định thêm một lần nữa khi Giải thưởng văn học năm 1994
được trao cho cuốn Di cảo thơ - tập 2
* Tiểu kết: Trong Chương 1, luận văn chủ yếu đưa ra các cơ sở lí thuyết làm
tiền đề cho việc khảo sát phân loại ở các chương sau Tiền giả định và hàm ý trong ngôn ngữ học là các thuật ngữ có nhiều cách định nghĩa cũng như cách phân loại khác nhau Bên cạnh việc trình bày khái quát quan điểm của một số nhà nghiên cứu trong và ngoài nước, chúng tôi chủ yếu đi sâu vào định nghĩa cũng như cách phân loại của Đỗ Hữu Châu và Nguyễn Đức Dân Qua đó, xác định luận văn tập trung
khảo sát các phát ngôn trong Di cảo thơ - tập 2 ở các khía cạnh: TGĐ ngôn ngữ
(TGĐ tồn tại, TGĐ điểm nhấn) và TGĐ bách khoa; dẫn ý và ngụ ý
Trang 40CHƯƠNG 2
TIỀN GIẢ ĐỊNH TRONG DI CẢO THƠ - TẬP 2
CỦA CHẾ LAN VIÊN
Tiền giả định được xét trên từng phát ngôn, vì thế, chúng tôi dựa vào dấu chấm câu của tác giả để phân tách thành các phát ngôn Đối với những bài thơ không có dấu chấm câu, phát ngôn sẽ được chúng tôi chia tách theo cấu trúc cú pháp và ý nghĩa biểu đạt của câu đó Tại Phụ lục 1 đã phản ảnh kết quả sau khi thống kê, phân tích một số tiểu loại TGĐ mà chúng tôi quan tâm trong 60 bài thơ của Chế Lan Viên
2.1 Tiền giả định ngôn ngữ trong Di cảo thơ - tập 2 của Chế Lan Viên 2.1.1 Tiền giả định tồn tại
2.1.1.1 Kết quả khảo sát
Chỉ với 60 bài thơ, nhưng dựa trên kết quả khảo sát TGĐ tồn tại bước đầu giúp ta thấy được một thế giới thơ nhiều màu sắc, phong phú bởi sự tồn tại của nhiều trạng thái tâm lí cũng như sự vật hiện tượng khác biệt Các sự vật hiện tượng được xác nhận tồn tại trong số 190 phát ngôn được khảo sát, xuất hiện đa dạng nhưng cũng có những chồng chéo nhất định, do đó, khi thống kê TGĐ tồn tại, chúng tôi chia chúng vào các nhóm nhất định như bảng sau:
TGĐ tồn tại Tần số xuất hiện
Con người (với tư cách là đối tượng được nói đến hoặc
Các sự vật hiện tượng trong thiên nhiên 67 lần
Các trạng thái tâm lí, tình cảm của con người 56 lần
Các sự vật, hiện tượng và không gian huyền ảo 47 lần