1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Sử dụng phương pháp dạy học e learning vào dạy học thông qua phần mềm e learning adobe presenter

70 32 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 70
Dung lượng 5,35 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Với điều kiện học tập của học sinh, SV, nhất là SV học hệ liên thông vừa học vừa làm không có nhiều thời gian nghiên cứu, với E-learning các em có thể tự học vào những lúc rảnh và chủ độ

Trang 1

Khoa công nghệ thông tin

Khoá luận tốt nghiệp đại học

CHUYÊN NGÀNH: PHƯƠNG PHÁP GIẢNG DẠY TIN HỌC

VINH - 2012

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH Khoa công nghệ thông tin

===  ===

Sử dụng phương pháp dạy học E-learning vào dạy học thông qua phần mềm E-learning

Adobe Presenter

Khoá luận tốt nghiệp đại học

CHUYÊN NGÀNH: PHƯƠNG PHÁP GIẢNG DẠY TIN HỌC

GV hướng dẫn: ThS TRƯƠNG TRỌNG CẦN

Trang 3

VINH - 2012 LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành khóa luận này, ngoài sự cố gắng của bản thân, tôi đã nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình của thầy giáo, cô giáo, của gia đình và bạn bè

Xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới Thạc sỹ Trương Trọng Cần người đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ và chỉ bảo trong suốt quá trình thực hiện khóa luận

Xin chân thành cảm ơn các thầy giáo, cô giáo trong tổ bộ môn phương pháp dạy học của Khoa Công Nghệ Thông Tin - Trường Đại học Vinh đã hướng dẫn và góp ý để tôi hoàn thành khóa luận này

Chân thành cảm ơn tất cả các thầy cô giáo trong tổ Tin của trường THPT Quảng Xương 3 - Quảng Xương - Thanh Hóa đã tạo mọi điều kiện giúp đỡ và đóng góp ý kiến để tôi thực hiện khóa luận này

Xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới những người thân và bạn bè luôn động viên, giúp đỡ để tôi hoàn thành khóa luận này

Mặc dù đã có nhiều cố gắng tiếp thu ý kiến của các thầy giáo, cô giáo hướng dẫn và nỗ lực trong nghiên cứu, song khóa luận này chắc chắn không thể tránh khỏi những sai sót Vì vậy, rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của các thầy giáo, cô giáo và các bạn để tôi có được cái nhìn sâu sắc hơn về vấn đề nghiên cứu

Xin chân thành cảm ơn!

Vinh, tháng 5 năm 2012

Sinh viên

Lê Thị Thương

Trang 4

Trang

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Mục đích nghiên cứu 2

3 Giả thuyết khoa học 2

4 Nhiệm vụ nghiên cứu 2

5 Đối tượng nghiên cứu 2

6 Phương pháp nghiên cứu 3

7 Cấu trúc khóa luận 3

Chương 1 ĐỔI MỚI PPDH Ở TRƯỜNG THPT 4

1.1 Cơ sở lý luận của việc đổi mới PPDH 4

1.1.1 Sơ lược về đổi mới PPDH 4

1.1.2 Những yêu cầu của sự phát triển kinh tế xã hội đối với giáo dục 5

1.1.3 Vai trò của phương tiện, thiết bị dạy học 9

1.2 Thực trạng của việc đổi mới PPDH hiện nay 11

1.2.1 Những vấn đề chung về văn hóa học tập 11

1.2.2 Vị trí của môn tin trong hệ thống giáo dục 12

1.2.3 Thực trạng dạy và học Tin học hiện nay 13

1.2.4 Yêu cầu sử dụng phương tiện, thiết bị dạy học 15

1.2.5 Các kĩ năng cần thiết của học sinh, sinh viên 15

1.3 Một số phương pháp dạy học theo hướng đổi mới 17

1.3.1 PPDH nêu vấn đề 17

1.3.2 PPDH thảo luận nhóm 19

1.3.3 PPDH WebQuest 22

1.3.4 PPDH E-learning 23

Chương 2 SỬ DỤNG PPDH E-LEARNING VÀO DẠY HỌC THÔNG QUA PHẦN MỀM ELEARNING ADOBE PRESENTER 25

2.1 Giới thiệu PPDH E-learning 25

2.1.1 Các khái niệm cơ bản trên E-learning 25

2.1.2 Lý thuyết chung về bài giảng E-learning 26

2.1.3 Tầm quan trọng của E-learning 27

2.1.4 Kỹ năng của người dạy khi thực hiện PPDH E-learning 29

Trang 5

học Tin học THPT 31

2.2.1 Giới thiệu về phần mềm Adobe Presenter 31

2.2.2 Cài đặt Adobe Presenter 32

2.2.3 Các bước cơ bản để sử dụng Adobe Presenter 34

2.2.4 Một số kinh nghiệm khi tạo slides: 35

2.2.5 Thiết lập ban đầu cho trình diễn 35

2.2.6 Thiết lập các thông số ban đầu của giáo viên 38

2.2.7 Chèn hình ảnh vào bài giảng 39

2.2.8 Tạo câu hỏi trắc nghiệm, tương tác, vấn đáp (quizze) 39

2.2.9 Thiết lập bố trí mặt bằng 49

2.3 Xuất bản thành bài giảng điện tử 50

2.4 Xuất bài giảng trực tiếp lên mạng qua Adobe Connect 51

2.5 Một số giáo án minh họa 53

KẾT LUẬN 62

TÀI LIỆU THAM KHẢO 64

Trang 6

CNTT Công nghệ thông tin GD&DT Giáo dục và đào tạo

GV Giáo viên GV- HS Giáo viên - Học sinh

HS Học sinh PPDH Phương pháp dạy học

SV Sinh viên THPT Trung học phổ thông WTO Tổ chức thương mại thế giới

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Trong bối cảnh chung của nền kinh tế tri thức toàn cầu và những yêu cầu của công cuộc xây dựng đất nước trong bước đường hội nhập WTO, Nghị quyết Đại hội X của Đảng Cộng Sản Việt Nam đã định hướng phát triển giáo dục và đào tạo 5 năm 2006 - 2010: “Đổi mới tư duy giáo dục một cách nhất quán, từ mục tiêu, chương trình, nội dung, phương pháp đến cơ cấu và hệ thống tổ chức, cơ chế quản lý để tạo được chuyển biến cơ bản và toàn diện của nền giáo dục nước nhà, tiếp cận với trình độ giáo dục của khu vực và thế giới; khắc phục cách đổi mới chắp vá, thiếu tầm nhìn tổng thể, thiếu kế hoạch đồng bộ Phấn đấu xây dựng nền giáo dục hiện đại, của dân, do dân và vì dân, đảm bảo công bằng về cơ hội học tập cho mọi người, tạo điều kiện để toàn xã hội học tập và học tập suốt đời, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Ưu tiên hàng đầu cho việc nâng cao chất lượng dạy và học Đổi mới chương trình, nội dung, phương pháp dạy và học, nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên và tăng cường cơ sở vật chất của nhà trường, phát huy khả năng sáng tạo và độc lập suy nghĩ của học sinh …” Cụ thể là công cuộc đổi mới phương pháp dạy học Tin học ở trường phổ thông và trường cao đẳng, đại học đã đặt ra cho giáo viên và học sinh, SV nhiều thách thức và nhiệm vụ Vai trò mới của người giáo viên với tư cách người thiết kế, ủy thác, điều khiển và thể chế hóa trong các hoạt động dạy Từ đó vai trò và trách nhiệm của giáo viên bây giờ trở nên quan trọng hơn, nặng nề hơn và tế nhị hơn Học sinh, SV học tập phải tích cực, chủ động và sáng tạo hơn, khả năng tự học và học suốt đời phải được phát huy Nhằm đạt được mục đích trên, người giáo viên bên cạnh phải có nền tảng tri thức vững chắc còn phải luôn luôn tìm tòi học hỏi, sáng tạo trong bài giảng nhằm đạt kết quả cao nhất

Ngày nay, việc sử dụng các phương tiện kỹ thuật dạy học và ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học nói chung và trong day học Tin học nói riêng đã trở nên phổ biến rộng rãi Trong đó, công nghệ đa phương tiện (multimedia), bao gồm các công cụ hỗ trợ việc trình diễn, sự mô phỏng nhờ máy tính và các lớp học ảo, học tập điện tử (E-learning) đã dần dần quen thuộc với người học Với E-learning, thực hiện theo một quan điểm rộng nhất

về việc học - các giải pháp học tập không còn bị ràng buộc bởi các mô hình

Trang 8

đào tạo truyền thống E-learning là một dạng của học tập từ xa nhưng học tập

từ xa không phải là E-learning Việc chuẩn bị cho phương hướng này không chỉ ở hạ tầng internet và các trang bị kỹ thuật khác mà còn ở công nghệ dạy

và học, đánh giá tương ứng với loại hình dạy và học đó

Xây dựng chương trình E-learning cho học sinh, SV là một việc làm thiết thực Với điều kiện học tập của học sinh, SV, nhất là SV học hệ liên thông vừa học vừa làm không có nhiều thời gian nghiên cứu, với E-learning các em có thể tự học vào những lúc rảnh và chủ động được thời gian

Tất cả những phân tích trên là lí do để tôi chọn đề tài nghiên cứu của

khóa luận là: “Sử dụng PPDH E-learning vào dạy học thông qua phần mềm E-learning Adobe Presenter” Việc lựa chọn đề tài này nhằm góp phần vào

việc đổi mới phương pháp dạy học và nâng cao chất lượng dạy và học

2 Mục đích nghiên cứu

Xây dựng bài giảng điện tử E-learning nhằm nâng cao hiệu quả dạy học theo hướng phát huy tính tích cực, chủ động tìm tòi, tự học và sáng tạo của học sinh, sinh viên

3 Giả thuyết khoa học

Nếu xây dựng thành công bài giảng điện tử E-learning thông qua phần mềm E-learning Adobe Presenter thì sẽ mang lại các kết quả sau:

- Rèn luyện cho học sinh, SV tính tự giác học hỏi, chủ động và sáng tạo

- Học sinh, SV có nhiều thời gian tự nghiên cứu bài học, được tự kiểm tra kiến thức, từ đó có hứng thú trong việc học

- Nâng cao kết quả học tập của học sinh, SV

4 Nhiệm vụ nghiên cứu

 Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn của việc đổi mới PPDH

 Tìm hiểu một số hình thức tổ chức dạy học theo hướng đổi mới

 Sử dụng PPDH E-learning vào dạy học thông qua phần mềm Elearning Adobe Presenter

5 Đối tượng nghiên cứu

- Hoạt động dạy và học môn Tin ở các trường THPT, Đại học và Cao đẳng

Trang 9

- Phương pháp dạy học E-learning vận dụng vào dạy học cho học sinh,

SV các trường THPT, Đại học và Cao Đẳng

6 Phương pháp nghiên cứu

a Nghiên cứu lý thuyết

- Nghiên cứu các văn kiện của Đảng và Nhà nước cũng như của Bộ giáo dục và đào tạo về việc nâng cao chất lượng giáo dục và vấn đề đưa Tin học vào trường phổ thông, đại học, cao đẳng

- Nghiên cứu các tài liệu bài giảng về PPDH môn Tin ở trường THPT, Đại học và Cao Đẳng

- Nghiên cứu các tài liệu giáo dục học, tâm lý học, các tài liệu về dạy học môn Tin, các tài liệu về đổi mới PPDH (đặc biệt là sử dụng các phương tiện và thiết bị vào dạy học) … để từ đó áp dụng vào giảng dạy Tin học

b Đúc kết kinh nghiệm

Qua quá trình nghiên cứu lí luận đúc kết được các kinh nghiệm quý báu

để triển khai áp dụng trong thực tế, nhằm đưa ra các biện pháp học tập thực sự

bổ ích cho người học

7 Cấu trúc khóa luận

Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, khóa luận gồm hai chương:

Chương 1: Đổi mới PPDH ở trường THPT

Chương 2: Sử dụng PPDH E-learning vào dạy học thông qua phần

mềm Elearning Adobe Presenter

Trang 10

Chương 1

ĐỔI MỚI PPDH Ở TRƯỜNG THPT

1.1 Cơ sở lý luận của việc đổi mới PPDH

1.1.1 Sơ lược về đổi mới PPDH

Chương trình giáo dục phổ thông ban hành kèm theo Quyết định số 16/2006/QĐ - BGDĐT ngày 5/6/2006 của Bộ truởng Bộ GD&ĐT đã nêu:

“Phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh; phù hợp với đặc trưng môn học, đặc điểm đối tượng học sinh, điều kiện của từng lớp học; bồi dưỡng cho học sinh phương pháp tự học, khả năng hợp tác; rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn; tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú và trách nhiệm học tập cho học sinh”

a Quan điểm dạy học

Quan điểm dạy học là những định hướng tổng thể cho các hành động phương pháp, trong đó có sự kết hợp giữa các nguyên tắc dạy học làm nền tảng, cơ sở lí thuyết của lí luận dạy học, những điều kiện, hình thức tổ chức dạy học, những định hướng về vai trò của giáo viên và học sinh trong quá trình dạy học

b Phương pháp dạy học

Phương pháp dạy học là những hình thức và cách thức hoạt động của giáo viên và học sinh trong những điều kiện dạy học xác định nhằm đạt được mục đích dạy học (những hình thức và cách thức, thông qua đó và bằng cách

đó, giáo viên và học sinh lĩnh hội những hiện thực tự nhiên và xã hội xung quanh những điều kiện học tập cụ thể)

c Kĩ thuật dạy học

Kĩ thuật dạy học là những động tác, cách thức hành động của giáo viên

và học sinh trong các tình huống hành động nhỏ, cụ thể nhằm thực hiện và điều khiển quá trình dạy học

Quan điểm dạy học định hướng việc lựa chọn các phương pháp dạy học

cụ thể Phương pháp dạy học đưa ra mô hình hoạt động Kĩ thuật dạy học thực hiện các tình huống cụ thể của hoạt động

d Định hướng đổi mới phương pháp dạy học

Cốt lõi của đổi mới PPDH là hướng tới hoạt động học tập tích cực, chủ động, chống lại thói quen học tập thụ động Đổi mới nội dung và hình thức

Trang 11

hoạt động của giáo viên và học sinh, đổi mới hình thức tổ chức dạy học, đổi mới hình thức tương tác xã hội trong dạy học với định hướng:

 Bám sát mục tiêu giáo dục phổ thông

 Phù hợp với nội dung dạy học cụ thể

 Phù hợp với đặc điểm lứa tuổi học sinh

 Phù hợp với cơ sở vật chất, các điều kiện dạy học của nhà trường

 Phù hợp với việc đổi mới kiểm tra, đánh giá kết quả dạy - học

 Kết hợp giữa việc tiếp thu và sử dụng có chọn lọc, có hiệu quả các phương pháp dạy học tiên tiến, hiện đại với việc khai thác những yếu tố tích cực của phương pháp dạy học truyền thống

 Tăng cường sử dụng các phương tiện dạy học, thiết bị dạy học và đặc biệt lưu ý đến những ứng dụng của công nghệ thông tin

e Mục đích của đổi mới PPDH

Mục đích của việc đổi mới phương pháp dạy học ở trường phổ thông là thay đổi lối dạy học truyền thụ một chiều sang dạy học theo “Phương pháp dạy học tích cực” nhằm giúp học sinh phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo, rèn luyện thói quen và khả năng tự học, tinh thần hợp tác, kĩ năng vận dụng kiến thức vào những tình huống khác nhau trong học tập và trong thực tiễn; tạo niềm tin, niềm vui, hứng thú học tập Làm cho “Học” là quá trình kiến tạo; học sinh tìm tòi, khám phá, phát hiện, luyện tập, khai thác

và xử lý thông tin, tự hình thành hiểu biết, năng lực và phẩm chất Tổ chức nhận thức cho học sinh, dạy học sinh cách tìm ra chân lí Chú trọng hình thành các năng lực (tự học, sáng tạo, hợp tác) dạy phương pháp và kĩ thuật lao động khoa học, dạy cách học Học để đáp ứng những yêu cầu của cuộc sống hiện tại và tương lai Những điều đã học cần thiết, bổ ích cho bản thân học sinh và cho sự phát triển xã hội

1.1.2 Những yêu cầu của sự phát triển kinh tế xã hội đối với giáo dục

Giáo dục được thực hiện trong những hoàn cảnh kinh tế - xã hội cụ thể

và phục vụ cho các mục tiêu phát triển kinh tế xã hội Vì thế những yêu cầu của nền kinh tế - xã hội đối với giáo dục, đối với đội ngũ lao động là những

cơ sở quan trọng cho việc xác định phương hướng phát triển giáo dục Sự phát triển kinh tế - xã hội đặt ra những yêu cầu đối với giáo dục trên nhiều phương diện

Trang 12

Sự phát triển kinh tế - xã hội hiện nay đặt ra những yêu cầu nào cho việc đổi mới giáo dục và đổi mới PPDH ở trường THPT?

1.1.2.1 Hội nhập quốc tế: Cơ hội hay thách thức đối với giáo dục?

Bối cảnh phát triển kinh tế xã hội của đất nước và quốc tế đặt ra những yêu cầu mới cho giáo dục Việt Nam đang ở trong giai đoạn công nghiệp hóa nền kinh tế và xã hội Mặt khác Việt Nam đã gia nhập WTO ngày 15.11.2006 (Trở thành thành viên chính thức ngày 11.01.2007), tức là đã trực tiếp tham gia tích cực vào quá trình toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế Điều đó có ý nghĩa

là vấn đề toàn cầu hóa và những yêu cầu của nền kinh tế tri thức và xã hội tri thức cũng trực tiếp tác động đến kinh tế, xã hội cũng như thị trường lao động của Việt Nam

Tổ chức thương mại thế giới WTO được thành lập từ ngày 15.04.1994,

có hiệu lực từ ngày 01.01.1995 với mục tiêu tháo gỡ những cản trở, nhằm tự

do hóa thương mại quốc tế WTO quy định những quy tắc trong quan hệ kinh tế và thương mại quốc tế WTO là một tổ chức quốc tế góp phần quyết định trong việc mở rộng quá trình toàn cầu hóa Như vậy gia nhập WTO là

sự tham gia trực tiếp vào quá trình toàn cầu hóa, nhằm tận dụng những cơ hội và lợi ích, mặt khác cũng phải chấp nhận những thách thức của toàn cầu hóa

Khái niệm toàn cầu hóa được sử dụng lần đầu tiên năm 1961 trong một

từ điển toàn thư tiếng Anh Từ sau 1990, với sự kết thúc chiến tranh lạnh thì quá trình toàn cầu hóa nền kinh tế phát triển nhanh chóng, khái niệm toàn cầu

hóa trở thành một khái niệm được đề cập đến ngày một nhiều Khái niệm toàn

cầu hóa mô tả quá trình đa diện của sự tăng cường trao đổi, hòa nhập mang tính toàn cầu về kinh tế, văn hóa và xã hội, đặc biệt trong lĩnh vực tự do hóa thương mại quốc tế, vượt ra phạm vi quốc gia và khu vực

Gia nhập tổ chức thương mại thế giới WTO và toàn cầu hóa tạo ra những cơ hội lớn, đồng thời đặt ra những thách thức cho sự phát triển kinh tế,

xã hội và giáo dục:

 Hỗ trợ sự tăng trưởng kinh tế và sự đa dạng của hàng hóa

 Thông qua trao đổi quốc tế, nhiều hàng hóa nhập khẩu trở nên tốt và

rẻ hơn sản xuất tại nội địa, có lợi cho người tiêu dùng Từ đó hình thành sự phân công lao động quốc tế;

Trang 13

 Thông qua tăng cường cạnh tranh trong quan hệ thương mại và phân công lao động trong phạm vi quốc tế sẽ làm tăng cường sức sản xuất trên phạm vi toàn thế giới, tăng mức tăng trưởng của các bên tham gia sản xuất;

 Toàn cầu hóa làm tăng tốc độ của phát triển kĩ thuật và công nghệ;

 Vấn đề đói nghèo trên thế giới đã được cải thiện đáng kể trong vài chục năm gần đây;

 Thông qua trao đổi văn hóa và kinh tế, con người học tập lẫn nhau và tăng cường xu hướng chung sống và cộng tác;

 Thách thức cơ bản của việc gia nhập toàn cầu hóa là sự cạnh tranh quốc tế gay gắt mà chỉ có những thị trường có sức cạnh tranh cao mới có khả năng phát triển, và ngược lại sẽ bị đào thải;

Đối với giáo dục, toàn cầu hóa cũng đặt ra những cơ hội và thách thức lớn:

 Tạo khả năng mở rộng các dịch vụ và đầu tư quốc tế trong giáo dục;

 Tạo khả năng tăng cường trao đổi kinh nghiệm và khoa học giáo dục, tăng cường cộng tác quốc tế trong giáo dục và đào tạo;

 Bản thân giáo dục cũng mang tính toàn cầu hóa Dịch vụ giáo dục, mặc dù còn nhiều tranh cãi, nhưng đã trở thành dịch vụ mang tính hàng hóa trong trao đổi quốc tế nên đặt ra những thách thức đối với giáo dục và đào tạo, đặc biệt là những vấn đề quản lý giáo dục như chủ quyền giáo dục, quản lý mục tiêu, chất lượng giáo dục, kinh tế giáo dục…;

 Toàn cầu hóa giáo dục tạo ra sự cạnh tranh về chất lượng giáo dục và đào tạo;

 Toàn cầu hóa đặt ra những yêu cầu mới đối với người lao động Giáo dục cần đào tạo con người đáp ứng những đòi hỏi mới này của xã hội Đây chính là thách thức cơ bản nhất của việc gia nhập WTO và toàn cầu hóa đối với giáo dục

1.1.2.2 Xã hội tri thức và giáo dục

Toàn cầu hóa là kết quả của những tiến bộ của loài người về đổi mới công nghệ, đặc biệt là công nghệ thông tin Vì vậy khái niệm toàn cầu hóa cũng gắn liền với khái niệm nền kinh tế tri thức hay xã hội tri thức Dưới góc

độ kinh tế - xã hội, loài người hiện nay đang ở giai đoạn quá độ từ xã hội công nghiệp sang xã hội tri thức

Trang 14

Xã hội tri thức là một hình thái xã hội - kinh tế, trong đó tri thức trở thành yếu tố quyết định đối với nền kinh tế hiện đại bao gồm các quá trình sản xuất và quan hệ sản xuất của nó, cũng như đối với sự phát triển và các nguyên tắc tổ chức của xã hội

Khái niệm xã hội tri thức và khái niệm nền kinh tế là hai khái niệm có mối quan hệ chặt chẽ Nền kinh tế tri thức là nền kinh tế trong đó tri thức trở thành yếu tố quyết định của lực lượng sản xuất Khái niệm xã hội tri thức ở đây không phải chỉ một hình thái phát triển cao hơn nền kinh tế tri thức mà là một khái niệm rộng, chỉ một hình thái xã hội, trong đó nền kinh tế của nó là nền kinh tế tri thức Khái niệm xã hội tri thức có ý nghĩa quan trọng trong giáo dục, vì khi đề cập đến xã hội tri thức thì không chỉ nhấn mạnh đến nền kinh tế mà còn đề cập đến các lĩnh vực xã hội khác, trong đó có giáo dục Xã hội tri thức có những đặc điểm cơ bản sau:

 Tri thức là yếu tố then chốt của lực lượng kiến tạo xã hội hiện đại, của lực lượng sản xuất và tăng trưởng kinh tế;

 Thông tin và tri thức tăng lên một cách nhanh chóng về số lượng và tốc độ, kéo theo sự lạc hậu nhanh của tri thức, công nghệ cũ;

 Thay đổi tổ chức và tính chất lao động nghề nghiệp Người lao động luôn phải thích nghi với những tri thức và công nghệ mới Những nghề nghiệp yêu cầu đào tạo với trình độ cao ngày càng tăng;

 Xã hội tri thức là xã hội toàn cầu hóa

Sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam và những tác động của xã hội tri thức và toàn cầu hóa sẽ dẫn đến sự thay đổi trong cơ cấu thị trường lao động nghề nghiệp Xu hướng cơ bản là lao động trong lĩnh vực công nghiệp và dịch vụ, đặc biệt lao động có trình độ cao sẽ tăng nhanh trong tương quan với lao động nông nghiệp Mặt khác thị trường lao động và nghề nghiệp cũng như cuộc sống trong điều kiện của xã hội tri thức và toàn cầu hóa cũng đặt ra những yêu cầu mới cho người lao động Bên cạnh những năng lực chuyên môn, người lao động cần có những năng lực chung, đặc biệt là:

 Năng lực hành động;

 Tính tự lực và trách nhiệm;

 Tính năng động và sáng tạo;

Trang 15

 Năng lực cộng tác và làm việc;

 Năng lực giải quyết các vấn đề phức hợp;

 Khả năng học tập suốt đời;

 Khả năng sử dụng phương tiện mới, đặc biệt là công nghệ tin học;

 Khả năng sử dụng ngoại ngữ trong giao tiếp và làm việc

Tóm lại, sự phát triển kinh tế xã hội của Việt Nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế với những ảnh hưởng của xã hội tri thức và toàn cầu hóa tạo ra những cơ hội nhưng đồng thời cũng đặt ra những yêu cầu mới đối với giáo dục trong việc đào tạo đội ngũ lao động Giáo dục đứng trước một thử thách

là tri thức của loài người tăng ngày càng nhanh nhưng cũng lạc hậu ngày càng nhanh Mặt khác thị trường lao động luôn đòi hỏi ngày càng cao ở đội ngũ lao động về năng lực hành động, khả năng sáng tạo, linh hoạt, tính trách nhiệm, năng lực cộng tác làm việc, khả năng giải quyết các vấn đề phức hợp trong những tình huống thay đổi Trong xã hội tri thức, việc phát triển kinh tế - xã hội dựa vào tri thức Vì vậy giáo dục đóng vai trò then chốt trong việc phát triển kinh tế xã hội thông qua việc đào tạo con người, chủ thể sáng tạo và sử dụng tri thức Việc gia nhập WTO của Việt Nam trước hết sẽ làm tăng nhu cầu của thị trường lao động đối với đội ngũ nhân lực có trình độ cao

Từ những đòi hỏi trên đây của sự phát triển kinh tế xã hội trong điều kiện toàn cầu hóa và xã hội tri thức có thể khẳng định rằng mô hình giáo dục

“hàn lâm viện” đào tạo ra những con người thụ động, chạy theo bằng cấp, chú trọng việc truyền thụ những kiến thức lí thuyết xa rời thực tiễn, còn gọi là

“kiến thức chết” không còn thích hợp với những yêu cầu mới của xã hội và thị trường lao động Giáo dục cần đổi mới để đáp ứng được những yêu cầu của

sự phát triển kinh tế, xã hội và thị trường lao động

1.1.3 Vai trò của phương tiện, thiết bị dạy học

Giáo dục và đào tạo đang là vấn đề thách thức của toàn cầu Hiện nay các quốc gia trên thế giới đang nỗ lực đổi mới nội dung và phương pháp giáo dục - đào tạo với nhiều mô hình, biện pháp khác nhau nhằm mở rộng quy mô, nâng cao tính tích cực trong dạy học và học một cách toàn diện, dạy làm sao

để giúp người học hướng tới việc học tập chủ động, chống lại thói quen học tập thụ động Muốn vậy cần phải nâng cao, cải tiến đồng bộ các thành tố liên quan, trong đó phương tiện, thiết bị dạy và học là một thành tố quan trọng

Trang 16

Các phương tiện, thiết bị dạy học giúp cho học sinh tiếp thu kiến thức một cách thuận lợi Có được các phương tiện, thiết bị thích hợp, người giáo viên sẽ phát huy được hết năng lực của mình trong công tác giảng dạy, làm cho hoạt động nhận thức của học sinh trở nên nhẹ nhàng và hấp dẫn hơn, tạo

ra cho học sinh những tình cảm tốt đẹp với môn học Do đặc điểm của quá trình nhận thức, mức độ tiếp thu kiến thức mới của học sinh tăng dần theo các cấp độ của tri giác: nghe - thấy - làm được (những gì nghe được không bằng những gì nhìn thấy và những gì nhìn thấy thì không bằng những gì tự tay làm), nên khi đưa những phương tiện, thiết bị vào quá trình dạy học, giáo viên

có điều kiện để nâng cao tính tích cực, độc lập của học sinh và từ đó nâng cao hiệu quả của quá trình tiếp thu, lĩnh hội kiến thức và hình thành kĩ năng, kĩ xảo của các em

Sử dụng phương tiện, thiết bị dạy học không chỉ là phương tiện của việc dạy học mà còn là phương tiện của việc học Phương tiện dạy học, thiết

bị dạy học không chỉ minh hoạ, còn là nguồn tri thức, là một cách chứng minh bằng quy nạp

Đảm bảo tính đồng bộ, hệ thống và có chất lượng cao của phương tiện dạy học, thiết bị dạy học, tạo điều kiện đẩy mạnh hoạt động của học sinh trên

cơ sở tự giác, tự khám phá kiến thức thông qua hoạt động thực hành, làm thí nghiệm

Như vậy phương tiện, thiết bị dạy học có ý nghĩa to lớn đối với quá trình dạy học:

- Giúp học sinh dễ hiểu bài, hiểu bài sắc hơn và nhớ bài lâu hơn

+ Phương tiện, thiết bị dạy học tạo điều kiện thuận lợi nhất cho sự nghiên cứu dạng bề ngoài của đối tượng và các tính chất có thể tri giác trực tiếp của chúng

+ Phương tiện, thiết bị dạy học giúp cụ thể hoá những cái quá trừu tượng + Phương tiện, thiết bị dạy học làm sinh động nội dung học tập, nâng cao hứng thú học tập bộ môn, nâng cao lòng tin của học sinh vào khoa học

+ Phương tiện, thiết bị dạy học còn giúp học sinh phát triển năng lực nhận thức, đặc biệt là khả năng quan sát, tư duy (phân tích, tổng hợp các hiện tượng, rút ra những kết luận có độ tin cậy, ), giúp học sinh hình thành cảm

Trang 17

giác thẩm mĩ, được hấp dẫn bởi cái đẹp, cái đơn giản, tính chính xác của thông tin chứa trong phương tiện, thiết bị

- Giúp giáo viên tiết kiệm được thời gian trên lớp trong mỗi tiết học Giúp giáo viên điều khiển được hoạt động nhận thức của học sinh, kiểm tra và đánh giá kết quả học tập của học sinh được thuận lợi và có hiệu suất cao

1.2 Thực trạng của việc đổi mới PPDH hiện nay

Để xác định phương hướng và những biện pháp đổi mới PPDH thì trước hết cần nhận biết và đánh giá những vấn đề chung có liên quan cũng như những vấn đề về PPDH và những cản trở trong việc đổi mới PPDH

1.2.1 Những vấn đề chung về văn hóa học tập

Khái niệm văn hóa học tập chỉ hệ thống toàn thể các thể chế, hoạt động, đặc điểm tâm lí và truyền thống ở một cộng đồng trong lĩnh vực giáo dục, chúng có chức năng định hướng cho những hành động của người học trong cộng đồng, truyền thụ những thái độ và nhận thức về việc học tập, được hình thành và được chia sẻ trong tập thể cộng đồng với những hệ thống và quy chế Khái niệm văn hóa học tập bao gồm nhiều yếu tố như quan niệm về việc học, chương trình, mục tiêu, nội dung, phương pháp dạy học, động cơ học tập, đặc điểm tâm lí, truyền thống, quan hệ GV- HS trong dạy học…

Đánh giá thực trạng giáo dục Việt Nam, tài liệu chiến lược phát triển giáo dục 2001-2010 (2002, tr.14) đã khẳng định: “Chương trình, giáo trình,

phương pháp giáo dục chậm đổi mới Chương trình giáo dục còn nặng tính

hàn lâm, kinh viện, nặng về thi cử,chưa chú trọng đến tính sáng tạo, năng lực

thực hành và hướng nghiệp, chưa gắn bó chặt chẽ với thực tiễn phát triển kinh

tế - xã hội cũng như nhu cầu của người học; chưa gắn bó chặt chẽ với nghiên cứu khoa học - công nghệ và triển khai ứng dụng”

Từ đó có thể nêu ra hai vấn đề lớn thuộc về văn hóa học tập trong giáo dục ở Việt Nam nói chung và giáo dục trung học phổ thông nói riêng là:

 Nền giáo dục mang tính “hàn lâm, kinh viện”: Khái niệm “hàn lâm, kinh viện” chỉ một nền giáo dục định hướng vào việc truyền thụ một hệ thống tri thức được quy định sẵn dựa trên cơ sở các môn khoa học chuyên ngành, nhưng ít chú ý đến việc rèn luyện tính tích cực nhận thức, tính độc lập, sáng tạo cũng như khả năng vận dụng những tri thức đó trong thực tiễn Trong nền

Trang 18

giáo dục mang tính “hàn lâm, kinh viện” thì phương pháp dạy học chủ yếu dựa trên quan điểm GV là trung tâm, trong đó người thầy đóng vai trò chính trong việc truyền thụ tri thức cho HS PPDH chủ yếu là các phương pháp thông báo tri thức, HS tiếp thu tri thức một cách thụ động Các PPDH phát huy tính tích cực nhận thức của HS cũng như việc rèn luyện phương pháp tự học ít được chú trọng

 Nền giáo dục “ứng thí”: Việc học tập của HS mang tính chất đối phó với các kì thi, chạy theo bằng cấp mà ít chú ý đến việc phát triển nhân cách toàn diện cũng như năng lực vận dụng kiến thức đã học trong thực tiễn Đối với cấp THPT, vấn đề này càng nặng nề vì tâm lí chung của HS là muốn học lên đại học, trong khi đó chỉ tiêu vào học hàng năm chỉ chiếm tỷ lệ nhỏ so với tổng số HS tốt nghiệp THPT Từ đó dẫn tới xu hướng học lệch, học tủ nhằm mục đích đối phó với các kì thi Trong khi đó các kì thi tuyển sinh hiện nay chỉ giới hạn ở một số môn học, cũng như không thể kiểm tra toàn diện tri thức

và có nhiều hạn chế trong việc kiểm tra năng lực vận dụng tri thức một cách sáng tạo trong các tình huống gắn với thực tiễn

1.2.2 Vị trí của môn tin trong hệ thống giáo dục

Một con người phát triển toàn diện trong xã hội hiện đại không thể thiếu hiểu biết về Tin học Tin học ảnh hưởng đến hầu hết các hoạt động trên mọi lĩnh vực của xã hội và các thành tựu của Tin học mang lại nhiều hiệu quả

to lớn đối với cuộc sống của con người Nhiều quốc gia, trong đó có Việt Nam đã ý thức được tầm quan trọng của Tin học và có những đầu tư lớn trong lĩnh vực này đặc biệt là trong giáo dục Tin học

Môn Tin học là môn học công cụ Do tính trừu tượng cao độ, Tin học

có tính thực tiễn phổ dụng Những tri thức và kĩ năng Tin học cùng với những phương pháp làm việc trong Tin học đã trở thành công cụ để học tập những môn học khác trong nhà trường, là công cụ của nhiều ngành khoa học khác, là công cụ để hoạt động trong đời sống thực tế và vì vậy là một thành phần không thể thiếu của trình độ văn hoá phổ thông của con người mới Về mặt tri thức và kĩ năng, môn Tin học trong nhà trường cần làm cho tất cả mọi học sinh tốt nghiệp phổ thông trung học đều nắm được những yếu tố cơ bản của Tin học, có khả năng ứng dụng công nghệ thông tin như công cụ học tập và hoạt động, có thể nhanh chóng bước vào những ngành nghề đòi hỏi sử dụng

Trang 19

công nghệ này Cụ thể là học sinh có những hiểu biết về Tin học và máy tính điện tử, có khái niệm về thuật giải và làm quen với tư duy thuật giải Học sinh biết lập trình để giải những bài toán đơn giản, trước hết là những bài toán trong sách giáo khoa Toán, Lí, Hoá, từ đó chuẩn bị những tri thức kĩ năng và phong cách làm việc cần thiết để sau này có thể đi sâu hơn về lĩnh vực lập trình Học sinh biết làm việc với một số hệ điều hành, một số phần mềm như soạn thảo văn bản, bảng tính điện tử, hệ quản trị cơ sở dữ liệu

Ngoài việc tạo điều kiện cho học sinh chiếm lĩnh những tri thức và kĩ năng Tin học cần thiết, môn Tin học còn có tác dụng góp phần phát triển năng lực trí tuệ chung như phân tích, tổng hợp, trừu tượng hoá, khái quát hoá, rèn luyện những đức tính, phẩm chất của người lao động mới như tính cẩn thận, chính xác, tính kỉ luật, tính phê phán, tính sáng tạo Học sinh thấy rõ hiệu lực mạnh mẽ của công nghệ thông tin và nhận thức được cần có những phẩm chất nào của con người lao động trong thời đại mới

Như vậy, trong hệ thống kiến thức phổ thông môn Tin học chiếm một

vị trí quan trọng và nó cũng ảnh hưởng hầu hết đến các môn học khác GV,

HS cần nhận thức được tầm quan trọng của môn Tin học, để từ đó có những biện pháp dạy và học Tin học một cách hợp lý, đúng đắn để có thể đào tạo ra nguồn nhân lực dồi dào với trình độ cao đáp ứng yêu cầu đổi mới của xã hội hiện nay

1.2.3 Thực trạng dạy và học Tin học hiện nay

Hiện nay, môn Tin học đã trở thành môn bắt buộc trong nhà trường THPT và có tăng thêm thời lượng Nhiều kỳ thi học sinh giỏi Tin học cho các khối phổ thông đã thu hút đông đảo học sinh cả nước tham gia, các trường đại học CNTT, các trung tâm Tin học mở ra ngày càng nhiều Qua đợt thực tập ở trường THPT Quảng Xương 3, tôi được tìm hiểu về thực trạng dạy và học Tin học cũng như thực trạng đổi mới PPDH Tin học có những thuận lợi và khó khăn sau:

Trang 20

có một học sinh thì việc tổ chức thảo luận nhóm trong giờ dạy rất thuận tiện)

+ Phòng máy nói chung là quá tải nên việc tổ chức và thực hiện các buổi thực hành cũng gặp nhiều khó khăn Mỗi tiết thực hành được tiến hành trong 45 phút nên việc chia nhóm và tổ chức các hoạt động gặp rất nhiều khó khăn, ngoài ra nếu tổ chức không tốt sẽ có nhiều học sinh không làm việc trong giờ thực hành

+ Giáo viên chưa quan tâm nhiều đến việc học sinh đạt được những kĩ năng gì qua các giờ thực hành Đặc biệt, nếu tổ chức chia nhóm học sinh trong giờ thực hành mà giáo viên chuẩn bị bài chưa kĩ hoặc chưa dự kiến hết các tình huống có thể xảy ra thì hiệu quả của buổi thực hành sẽ không cao

+ Hơn nữa, mục đích lớn nhất của học sinh hiện nay là vào đại học nên việc đầu tư nghiên cứu vào môn Tin học hầu như ít được quan tâm Nhiều học sinh có máy, hay tiếp xúc với máy chỉ sử dụng nhiều vào mục đích chơi các trò chơi

+ Ứng dụng CNTT và các phương tiện hiện đại vào quá trình dạy học

là một trong các biện pháp nhằm nâng cao chất lượng giáo dục và đổi mới PPDH theo quan điểm hiện đại nhưng hiện tại vẫn còn một số giáo viên vì trình độ ứng dụng CNTT còn hạn chế, hoặc chưa sử dụng thành thạo các thiết

bị hiện đại nên còn lúng túng hoặc có tâm lí “e ngại” khi đổi mới PPDH Thực tế cho thấy, kiến thức, kĩ năng về CNTT ở một số giáo viên còn hạn chế, chưa đủ vượt ngưỡng để đam mê và sáng tạo; thậm chí còn né tránh, tâm

lí ngại khó khi phải soạn bằng giáo án điện tử Bởi muốn soạn giảng một giáo

án điện tử, người giáo viên phải vất vả gấp nhiều lần, tốn khá nhiều thời gian, công sức để cắt ghép, chụp phim, ghi hình Vì thế tuy việc ứng dụng CNTT vào giảng dạy đem lại hiệu quả cao nhưng mức độ ứng dụng trong nhà trường

và bản thân giáo viên chưa cao, chưa rộng rãi và chưa thể trở thành một hệ thống ứng dụng đồng bộ trong môi trường giáo dục hiện nay

Trang 21

1.2.4 Yêu cầu sử dụng phương tiện, thiết bị dạy học

Phương tiện dạy học, thiết bị dạy học rất cần sử dụng khi sự vật, hiện tượng không thể mô tả được: quá lớn, quá nhỏ, khó tìm trên thực tế, không thể biểu diễn được quá trình biến đổi (phản ứng hoá học, hoạt động của các động cơ )

Cơ sở vật chất, phương tiện dạy học, thiết bị dạy học của nhà trường phải hỗ trợ đắc lực cho việc tổ chức dạy học linh hoạt, dễ dàng thay đổi, phù hợp với dạy học cá thể, dạy học hợp tác

Tăng cường sử dụng phương tiện, thiết bị dạy học phải coi đó là phương tiện để nhận thức, không chỉ thuần tuý là sự minh hoạ Đây là nguồn thông tin cực kì quan trọng giúp học sinh có hứng thú tìm tòi, phát hiện kiến thức mới Coi trọng quan sát, phân tích, nhận xét, dẫn đến hình thành khái niệm

Sử dụng phương tiện dạy học, thiết bị dạy học để hình thành khái niệm, chưa được hiểu đúng Yêu cầu giáo viên phải nắm rất vững tư tưởng này để truyền đạt kiến thức đầy đủ, đúng yêu cầu về mức độ nhận thức Có nội dung được “hình thành” nhờ phương tiện dạy học, thiết bị dạy học thì không nên sa

đà vào giải thích, lạm dụng ngôn ngữ khoa học hàn lâm thay cho mô tả bởi phương tiện, thiết bị dạy học hiện đại trong điều kiện có thể sẽ có tác động rất sâu vào nhận thức

Tận dụng phương tiện dạy học, thiết bị dạy học đã có, chỉnh sửa, cải tiến cho phù hợp Phát động phong trào giáo viên, học sinh tự làm và sưu tập (tranh ảnh, các mẫu vật )

Cần hết sức lưu ý là: dùng không hợp lí phương tiện, thiết bị dạy học sẽ phản tác dụng, do vậy cần phải phối hợp linh hoạt, phù hợp

1.2.5 Các kĩ năng cần thiết của học sinh, sinh viên

a Các kĩ năng nói chung

Con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển xã hội Việc phát huy nhân tố con người không chỉ phụ thuộc vào nội dung giáo dục

mà còn phụ thuộc phần lớn vào phương pháp, cách thức truyền thụ tri thức của người thầy

Trong thời kì hội nhập với tốc độ phát triển nhanh của đất nước nếu không có sự giúp đỡ của người thầy trong việc hình thành các kĩ năng học tập

tự giác độc lập và tích cực sẽ là một trở ngại lớn trong việc hoàn thiện các

Trang 22

phẩm chất, năng lực đáp ứng nhu cầu phát triển của xã hội Do vậy cần phải hình thành ở học sinh, sinh viên những kĩ năng cơ bản sau:

- Kĩ năng đọc sách

- Kĩ năng tự đặt và giải quyết vấn đề trong cuộc sống

- Kĩ năng tự chịu trách nhiệm thuộc lĩnh vực ngành mình hoạt động

- Kĩ năng khái quát hoá tài liệu - kĩ năng tư duy độc lập, sáng tạo

- Kĩ năng nghiên cứu khoa học

- Kĩ năng phân tích, phê phán, đánh giá đánh giá tri thức và các vấn đề nảy sinh trong thực tiễn thuộc phạm vi ngành học

- Kĩ năng tự nhận thức, tự giám sát, tự điều chỉnh, tự quản lý bản thân

b Các kĩ năng đối với môn Tin học

Hệ thống tri thức Tin học của nhân loại rất phong phú, đa dạng và ngày càng được phát triển Do tính trừu tượng nhiều bình diện của Tin học, trong dạy học Tin học cần rèn luyện cho học sinh, sinh viên những kĩ năng trên những bình diện khác nhau:

- Kĩ năng vận dụng tri thức vào bộ môn Tin học

- Kĩ năng vận dụng tri thức Tin học vào những môn học khác

- Kĩ năng vận dụng Tin học vào đời sống

Kĩ năng vận dụng tri thức trong nội bộ môn Tin học là một sự thể hiện mức độ thông hiểu tri thức Tin học Chỉ khi thông hiểu những tri thức Tin học mới có thể vận dụng chúng để làm Tin học

Kĩ năng vận dụng tri thức Tin học vào những môn học khác thể hiện vai trò công cụ của Tin học đối với những môn học khác, thường là những môn khoa học tự nhiên

Kĩ năng vận dụng Tin học vào đời sống là mục tiêu quan trọng của môn Tin, nó cũng giúp học sinh thấy được mối liên hệ giữa Tin học với thực tiễn đời sống

Chính vì vậy dạy học môn Tin học không chỉ dừng lại ở việc truyền thụ những tri thức lẻ tẻ, rèn luyện những kĩ năng riêng biệt cho học sinh, sinh viên mà phải thường xuyên chú ý những hệ thống tri thức, kĩ năng tạo thành những mạch xuyên suốt chương trình, phải khai thác các tiến bộ trong Tin học, cần phải chuẩn bị kĩ lưỡng bài giảng của mình trước khi lên lớp

Trang 23

1.3 Một số phương pháp dạy học theo hướng đổi mới

1.3.1 PPDH nêu vấn đề

1.3.1.1 Giới thiệu PPDH nêu vấn đề

Từ đầu thế kỉ 20, sự thúc bách của xã hội đòi hỏi nhà trường phải cải tiến phương pháp dạy học Và các phương pháp dạy học truyền thống dần dần được chuyển hoá trở thành các phương pháp dạy học tích cực trên cơ sở vận dụng các thành tựu của triết học và tâm lí học về lí thuyết hoạt động và điều khiển của nhà trường Tổng kết những sự cải tiến phương pháp dạy học trong nhà trường theo xu hướng đó, vào giữa thế kỉ này đã xuất hiện thuật ngữ:

“dạy học gợi vấn đề”, “dạy học giải quyết vấn đề”, “dạy học nêu vấn đề”, Lúc đầu đã có ý kiến cho đây là phương pháp dạy học vạn năng Về sau người

ta cho rằng dạy học nêu vấn đề cần được coi như tên gọi để chỉ cơ sở của các phương pháp dạy học có khả năng kích thích học sinh tham gia vào hoạt động nhận thức một cách liên tục và tích cực

Phương pháp này ra đời và được áp dụng rộng rãi dựa trên những lập luận sau:

- Sự phát triển như vũ bão của KHCN trong những thập niên gần đây, trái ngược với nó là khả năng không thể dạy hết cho người học mọi điều

- Kiến thức của người học thì ngày càng hao mòn từ năm này qua năm khác, cộng thêm là sự chênh lệch giữa kiến thức thực tế và kiến thức thu được

1.3.1.2 Ưu và nhược điểm của PPDH nêu vấn đề

a Ưu điểm

- Phát huy tính tích cực, chủ động trong học tập

Trang 24

Vì PPDH nêu vấn đề dựa trên cơ sở tâm lí kích thích hoạt động nhận thức bởi sự tò mò và ham hiểu biết cho nên thái độ học tập của HS, SV mang nhiều yếu tố tích cực Năng lực tư duy của HS, SV một khi được khơi dậy sẽ giúp họ cảm thấy thích thú và trở nên tự giác hơn trên con đường tìm kiếm tri thức

- HS, SV được rèn luyện kĩ năng cần thiết

Thông qua hoạt động tìm kiếm thông tin và giải quyết vấn đề HS, SV được rèn luyện kỹ năng đọc tài liệu, phương pháp tư duy khoa học, tranh luận khoa học, làm việc tập thể Đây là những kĩ năng rất quan trọng đối với HS,

SV sau này

- HS, SV sớm được tiếp cận với những vấn đề thực tiễn

Phương pháp này có thể giúp HS, SV tiếp cận sớm với những vấn đề đang diễn ra trong thực tế có liên quan chặt chẽ với chuyên ngành đang học; đồng thời họ cũng được trang bị những kiến thức, kĩ năng để giải quyết các vấn đề đó

- Bài học được tiếp thu vừa rộng, vừa sâu, được lưu giữ lâu trong trí nhớ HS, SV

Do được chủ động tìm kiếm kiến thức và vận dụng kiến thức để giải quyết vấn đề, HS, SV có thể nắm bắt bài học một cách sâu sắc và vì vậy họ nhớ bài rất lâu so với trường hợp tiếp nhận thông tin một cách thụ động thông qua nghe giảng thuần tuý

- Đòi hỏi GV không ngừng vươn lên

Việc điều chỉnh vai trò của GV từ vị trí trung tâm sang hỗ trợ cho hoạt động học tập đòi hỏi nhiều nỗ lực từ phía GV Đồng thời theo phương pháp này, GV cần tìm tòi, xây dựng những vấn đề vừa lý thú vừa phù hợp với môn học và thời gian cho phép; biết cách xử lý khéo léo những tình huống diễn ra trong thảo luận Có thể nói rằng PPDH nêu vấn đề tạo môi trường giúp GV không ngừng tự nâng cao trình độ và các kĩ năng sư phạm tích cực

b Nhược điểm

- Khó vận dụng ở những môn học có tính trừu tượng cao

Phương pháp này không cho kết quả như nhau đối với tất cả các môn học, mặc dù nó có thể áp dụng một cách rộng rãi Thực tế cho thấy những

Trang 25

môn học gắn bó càng nhiều với thực tiễn thì càng dễ xây dựng vấn đề, và vì vậy khả năng ứng dụng của phương tiện ngày càng cao

- Khó vận dụng cho lớp đông

Lớp càng đông thì càng có nhiều nhóm nhỏ vì vậy việc tổ chức, quản lý

sẽ càng phức tạp Một GV rất khó theo dõi và hướng dẫn thảo luận cho cả chục nhóm HS, SV

1.3.2 PPDH thảo luận nhóm

1.3.2.1 Giới thiệu PPDH thảo luận nhóm

Thảo luận nhóm là hình thức dạy học, trong đó học sinh của một lớp được chia thành các nhóm nhỏ trong khoảng thời gian giới hạn, mỗi nhóm tự lực hoàn thành các nhiệm vụ học tập trên cơ sở phân công và hợp tác làm việc Kết quả làm việc của nhóm sau đó được trình bày và đánh giá trước toàn lớp

Với phương pháp này, người học được làm việc cùng nhau theo các nhóm nhỏ và mỗi một thành viên trong nhóm đều có cơ hội tham gia vào nhiệm vụ đã được phân công sẵn Hơn nữa với phương pháp này người học thực thi nhiệm vụ mà không cần sự giám sát trực tiếp, tức thời của giáo viên

Một nhiệm vụ mang tính cộng tác là nhiệm vụ mà người học không thể giải quyết một mình mà cần thiết phải có sự cộng tác thực sự giữa các thành viên trong nhóm tuy nhiên vẫn phải đảm bảo tính độc lập giữa các

thành viên Hơn nữa người dạy cần phải có yêu cầu rõ ràng và tạo điều kiện thuận lợi cho việc hợp tác giữa người học

Tầm quan trọng của nhiệm vụ được phân công và vai trò của nhiệm vụ

sẽ quyết định động cơ học tập của người học Người học sẽ có động cơ thực hiện nhiệm vụ của mình nếu họ biết rõ được vai trò của các nguồn thông tin ban đầu, của các nguồn lực sẵn có, biết được ý nghĩa của vấn đề, của các yếu

tố đầu vào

Để có được một nhiệm vụ hấp dẫn, có khả năng kích thích động cơ học tập của người học, một nhiệm vụ hay cần có các đặc trưng sau:

a Các đặc trưng của một nhiệm vụ hay:

Nhiệm vụ hay có khả năng kích thích thích động cơ học tập của người học là nhiệm vụ được tóm lược trong 4C sau:

 Choice (sự lựa chọn): Sự tự do trong lựa chọn nhiệm vụ của người học sẽ thúc đẩy động cơ nội tại của họ, dẫn đến giải phóng họ hoàn toàn và

Trang 26

thúc đẩy họ tham gia vào nhiệm vụ một cách sâu sắc hơn Bản chất và thời điểm lựa chọn cũng rất đa dạng: lựa chọn một nhiệm vụ riêng trong tổng thể các nhiệm vụ, lựa chọn các bước tiến hành, các nguồn lực cần huy động, Cuối cùng, tuỳ thuộc vào mục tiêu sau đó mà người dạy quyết định nhân sự cho nhiệm vụ đã được lựa chọn

 Challenge (thách thức): Thách thức chính là ở mức độ khó khăn của nhiệm vụ Một nhiệm vụ có tính phức tạp trung bình sẽ mang tính thúc đẩy hơn bởi lẽ nếu nó quá dễ sẽ dẫn đến sự nhàm chán, ngược lại nếu nó quá khó thì người học dễ nản lòng Thách thức đối với người dạy là ở chỗ xác định được đúng mức độ khó khăn của nhiệm vụ

 Controlle (Kiểm soát): Điều quan trọng là người học phải đánh giá được kết quả mong đợi, khả năng cần huy động và cần phát triển đối với chính bản thân mình Việc kiểm soát là rất quan trọng để thiết lập nên mối quan hệ giữa tính tự chủ của người học và động cơ cho các nhiệm vụ còn lại Đối với người dạy thì điều quan trọng là biết đưa ra các chỉ dẫn, các mục tiêu cần đạt được, khuôn khổ hoạt động cũng như là mức độ đòi hỏi đối với người học

 Cooperation (Hợp tác): Nhằm phát triển kĩ năng giao tiếp xã hội Việc cộng tác sẽ làm tăng động cơ học tập của người học

Phương pháp thảo luận nhóm được đánh giá cao hay thấp tuỳ thuộc vào nội dung mà giáo viên muốn truyền đạt Một nhiệm vụ càng gần với kinh nghiệm cá nhân hoặc với công việc sau này của người học sẽ có nhiều cơ hội khích lệ người học tham gia hơn

b Các đặc trưng của nhóm

Số lượng người học trong mỗi nhóm thường vào khoảng từ 5 đến 10 Thực tế thì mục tiêu của ppdh thảo luận nhóm là giúp người học thảo luận, trao đổi ý kiến và chất vấn lẫn nhau

Một nhóm lý tưởng là nhóm cho phép mọi thành viên tham gia diễn đạt

ý kiến của mình, bình luận và chất vấn ý kiến của người khác Sự không đồng nhất giữa các thành viên trong nhóm cũng là một chỉ tiêu đáng được quan tâm, nó cho phép sản sinh ra nhiều ý kiến đa dạng hơn một nhóm đồng nhất

Sự không đồng nhất biểu hiện ở các khía cạnh:

 Đặc trưng của từng cá nhân (tuổi, giới tính, đạo đức xã hội, )

Trang 27

 Kiến thức, trình độ học vấn, trình độ nghề nghiệp

 Khả năng nhận thức

 Kiến thức hiểu biết về xã hội

Tuy nhiên trong một vài trường hợp tuỳ thuộc vào chủ đề của nhóm, vào hoàn cảnh công việc của nhóm

Trong bất kì trường hợp nào người dạy luôn phải tổ chức tốt việc chất vấn ý kiến vì chính việc này sẽ làm thay đổi về nhận thức của người học Người dạy không nên can thiệp quá sâu vào nội dung mà chỉ giữ vai trò chỉ dẫn thực sự trong các nhóm về các vấn đề:

- Tổ chức lấy ý kiến

- Hướng dẫn thảo luận

- Cung cấp những thông tin cần thiết

- Theo dõi ý kiến, quan điểm của mỗi một thành viên

- Duy trì hướng đi cho các nhóm theo đúng nhiệm vụ được giao

1.3.2.2 Ưu và nhược điểm của PPDH thảo luận nhóm

a Ưu điểm

PPDH thảo luận nhóm có những tác động tích cực về mặt nhận thức sau:

- Người học ý thức được khả năng của mình

- Nâng cao niềm tin của người học vào việc học tập

- Nâng cao khả năng ứng dụng khái niệm, nguyên lý, thông tin về sự việc vào giải quyết các tình huống khác nhau

Ngoài ra phương này còn có tác động cả về quan điểm xã hội như:

- Cải thiện mối quan hệ xã hội giữa các cá nhân

- Dễ dàng trong làm việc theo nhóm

- Tôn trọng các giá trị dân chủ

- Chấp nhận được sự khác nhau về cá nhân và văn hoá

- Có tác dụng làm giảm lo âu và sợ thất bại

- Tăng cường sự tôn trọng chính bản thân mình

b Nhược điểm

Nếu như có quá ít người trong một nhóm thì chúng ta không chắc chắn

là sẽ thu thập được các quan điểm đa dạng và khác nhau Ngược lại, nếu số lượng người trong nhóm quá lớn thì khó có thể cho phép từng thành viên tham gia trình bày quan điểm của mình, hoặc khó có thể quản lý được hết các

ý kiến khác nhau

Trang 28

Sự không đồng nhất giữa các thành viên cũng có thể có những nhược điểm như: quá nặng đối với một vài thành viên dẫn đến chậm trễ trong công việc, hoặc khó thực thi

1.3.3 PPDH WebQuest

1.3.3.1 Giới thiệu PPDH WebQuest

WebQuest là một phương pháp dạy học, trong đó HS, SV tự lực thực hiện trong nhóm một nhiệm vụ về một chủ đề phức hợp, gắn với tình huống thực tiễn Những thông tin cơ bản về chủ đề được truy cập từ những trang liên kết (Internet links) do GV chọn lọc từ trước Việc học tập theo định hướng nghiên cứu và khám phá, kết quả học tập được HS, SV trình bày và đánh giá

1.3.3.2 Định nghĩa PPDH WebQuest

Năm 1995 Bernie Dodge ở trường đại học San Diego State University (Mỹ) đã xây dựng WebQuest trong dạy học Các đại diện tiếp theo là Tom March (Úc) và Heinz Moser (Thụy Sĩ)

Ý tưởng của họ là đưa ra cho HS một tình huống thực tiễn có tính thời

sự hoặc lịch sử, dựa trên cơ sở những dữ liệu tìm được, HS cần xác định quan điểm của mình về chủ đề đó trên cơ sở lập luận HS tìm được những thông tin, dữ liệu cần thiết thông qua những trang kết nối Internet links đã được GV lựa chọn từ trước

Ngày nay WebQuest được sử dụng rộng rãi trên thế giới, trong giáo dục phổ thông cũng như đại học Có nhiều định nghĩa cũng như cách mô tả khác nhau về WebQuest Theo nghĩa hẹp, WebQuest được hiểu như một phương pháp dạy học, theo nghĩa rộng, WebQuest được hiểu như một mô hình, một quan điểm về dạy học có sử dụng mạng Internet

Với tư cách là một phương pháp dạy học, có thể định nghĩa WebQuest như sau:

WebQuest là một phương pháp dạy học, trong đó HS, SV tự lực thực hiện trong nhóm một nhiệm vụ về một chủ đề phức hợp, gắn với tình huống thực tiễn Những thông tin cơ bản về chủ đề được truy cập từ những trang liên kết (Internet links) do GV chọn lọc từ trước Việc học tập theo định hướng nghiên cứu và khám phá, kết quả học tập được HS, SV trình bày và đánh giá

Trang 29

WebQuest là một PPDH mới, được xây dựng trên cơ sở phương tiện dạy học mới là công nghệ thông tin và internet Trong tiếng Việt chưa có cách dịch hoặc cách dùng thuật ngữ thống nhất cho khái niệm này Trong tiếng Anh, Web ở đây nghĩa là mạng, Quest là tìm kiếm, khám phá Dựa trên thuật ngữ và bản chất của khái niệm có thể gọi WebQuest là phương pháp “Khám phá trên mạng” WebQuest là một dạng đặc biệt của dạy học sử dụng truy cập mạng Internet

1.3.3.3 Phân loại WebQuest

WebQuest có thể được chia thành các WebQuest lớn và các WebQuest nhỏ:

- WebQuest lớn: Xử lý một vấn đề phức tạp trong một thời gian dài, có thể coi như một dự án dạy học

- WebQuest nhỏ: Trong một vài tiết học, HS, SV xử lý một đề tài chuyên môn

bằng cách tìm kiếm thông tin và xử lý chúng cho bài trình bày, tức là các thông tin chưa được sắp xếp sẽ được lập cấu trúc theo các tiêu chí và kết hợp vào các kiến thức đã có trước của các em

1.3.3.4 Kết luận

WebQuest có thể được sử dụng ở tất cả các loại hình trường học Điều kiện cơ bản là HS, SV phải có kỹ năng đọc cơ bản và có thể tiếp thu, xử lý các thông tin dạng văn bản Bên cạnh đó, HS, SV cũng phải có những kiến thức cơ bản trong thao tác với máy và internet

WebQuest có thể sử dụng trong mọi môn học Ngoài ra, WebQuest rất thích hợp cho việc dạy học liên môn

1.3.4 PPDH E-learning

Phương pháp giáo dục truyền thống mà chúng ta vẫn thường sử dụng là đăng ký tham dự một lớp học hay một khoá học nào đó Sau khi hoàn thành thủ tục đăng ký, chúng ta đến lớp học và được giáo viên truyền thụ cho những nội dung theo một chương trình định trước Việc học truyền thống đã bộc lộ

ra một số yếu điểm sau:

- Chúng ta phải sắp xếp thời gian để đến lớp học

- Chúng ta không có quyền lựa chọn nội dung học tập

- Chúng ta không được học một cách liên tục, có nghĩa là nếu bạn muốn nâng cao trình độ về một lĩnh vực nào đó, nhiều khả năng chúng ta sẽ phải đợi một thời gian để có thể đăng ký một lớp tiếp theo

Trang 30

- Nội dung bài giảng thường lạc hậu, ít được cập nhật

Sự xuất hiện của đầu video, đầu đĩa CD, rồi các đĩa CD hướng dẫn tự học, các bài giảng được “Powerpoint hoá” với sự trợ giúp của máy tính và máy chiếu chuyên dụng đã hình thành nên một phương pháp học mới: Học tập - đào tạo dựa trên sự hỗ trợ của các thiết bị điện tử, mà đỉnh cao của nó là

“Học tập trên máy tính” (Computer Based Training) Thuật ngữ E-learning ban đầu được xuất hiện để ám chỉ hình thức học tập này

Sự phát triển của công nghệ thông tin và truyền thông đã nâng learning lên một tầm cao mới, đó là quá trình học tập, đào tạo thông qua hệ thống mạng máy tính và internet; ở đó người học tương tác với các hệ thống quản lý thông tin để trang bị kiến thức cho mình mà gần như không cần phải đến lớp học

E-Xu hướng dạy học theo PPDH E-learning đang phát triển ngày càng mạnh mẽ để đáp ứng với yêu cầu của thời đại, khi con người không có đủ thời gian để đến lớp, và cũng không có đủ thời gian để học những môn học

“không cần thiết” khi phải học đại trà ở các lớp học với khung chương trình cứng nhắc, khó thay đổi Không như ở các lớp học thông thường, người học

có thể tham gia vào bất kỳ thời điểm nào (không phải phụ thuộc vào giáo viên), học tại bất kỳ nơi nào (miễn là có internet) và có thể tự chọn chương trình học phù hợp với yêu cầu cũng như khả năng của mình

Trang 31

Chương 2

SỬ DỤNG PPDH E-LEARNING VÀO DẠY HỌC THÔNG QUA

PHẦN MỀM ELEARNING ADOBE PRESENTER

2.1 Giới thiệu PPDH E-learning

Hình thức giáo dục điện tử và đào tạo từ xa gọi chung là E-learning, dựa trên công cụ máy tính và môi trường Web, ra đời như là một hình thức học tập mới đã mang đến cho người học một môi trường học tập hiệu quả với tinh thần tự giác và tích cực Tuy nhiên, việc áp dụng E-learning vào tình hình thực tế giảng dạy ở các trường Đại học, Cao đẳng, các trường THPT vẫn còn nhiều khó khăn do cơ sở hạ tầng về CNTT còn thiếu; hệ thống bài giảng chưa

đa dạng và chưa đúng chuẩn; tài liệu tham khảo chưa nhiều, thói quen giảng dạy với phương pháp dạy - học truyền thống lâu nay chậm thích nghi với những yêu cầu thay đổi

Luận văn nhằm giới thiệu những đặc điểm và lợi ích của E-learning, đồng thời cho thấy rằng phương pháp này có thể hỗ trợ phương pháp dạy học truyền thống nhằm làm tăng hiệu quả trong quá trình dạy - học

2.1.1 Các khái niệm cơ bản trên E-learning

- Khái niệm E-learning: E-learning là quá trình giáo dục và đào tạo có

sử dụng công nghệ thông tin và mạng truyền thông

- Bài giảng điện tử (Courseware): Trên E-learning, các bài giảng điện

tử được đóng gói lại thành các gói học liệu (Courseware)

Courseware là khái niệm để chỉ một bài giảng điện tử được sử dụng cho một khoá học trong E-learning Tương tự như khái niệm bài giảng điện tử trong dạy học truyền thống, bài giảng điện tử trên E-learning là sự ánh xạ các hoạt động dạy học của thầy giáo sang các hoạt động hiển thị trên máy tính (như: viết bảng ↔ hiển thị văn bản, bài giảng ↔ đoạn âm thanh, các đoạn video mô phỏng )

- Hệ quản trị đào tạo trực tuyến (LMS): LMS (Learning Management System)

hay hệ quản trị đào tạo trực tuyến là một phần mềm chạy trên các máy chủ có nhiệm vụ điều hành các khoá học được cài đặt trên đó Hệ LMS sẽ có nhiệm vụ quản lý các bài giảng điện tử và hỗ trợ giáo viên dạy học trên mạng

Trang 32

như: Ra đề thi, xây dựng ngân hàng câu hỏi, quản lý các diễn đàn thảo luận, theo dõi mức độ chuyên cần của người học, đánh giá người học

- Gói nội dung SCORM: Là một chuẩn được sử dụng để đóng gói các học liệu điện tử Nhờ có một cấu trúc đã chuẩn hoá, các gói học liệu tuân thủ chuẩn SCORM sẽ có thể dễ dàng được tái sử dụng trên các hệ thống LMS khác nhau

- Công cụ soạn thảo nội dung (Authoring Tools): là các phần mềm cho phép chúng ta tổng hợp các nội dung (học liệu) thành một bài giảng điện tử rồi đóng gói học liệu thành chuẩn SCORM để đưa lên mạng Một số công cụ soạn thảo nội dung như: Lecture Maker, Adobe Presenter, Exe,

2.1.2 Lý thuyết chung về bài giảng E-learning

E-learning là loại hình đào tạo mà HS, SV là chủ đạo Quá trình đào tạo này được thực hiện bởi HS, SV và một hệ thống đào tạo từ xa mà không có sự xuất hiện của người giáo viên Người tham gia vào loại hình đào tạo E-learning tự kiểm soát tốc độ học, công cụ học tập, địa điểm học cũng như khối lượng kiến thức muốn thu nhận, họ được tự mình quyết định cách thức thu nhận kiến thức, kĩ năng và khả năng phù hợp với phong cách học của chính mình Điều này gắn liền với khả năng tự học của mỗi cá nhân

Bài giảng E-learning là một phần nhỏ trong hệ thống đào tạo E-learning, nhưng là phần quan trọng nhất tác động đến kết quả học tập của người học Bài giảng E-learning vừa có nhiệm vụ truyền tải nội dung cho người học, vừa như một người giáo viên để tạo vấn đề, gợi mở, dẫn dắt, đưa ra kiến thức, khắc sâu, củng cố Vì vậy, khi tạo bài giảng E-learning, cần chú ý:

- Môi trường học tập: E-learning là loại hình học tập online Các hoạt động học tập thông thường được thực hiện trên mạng Internet Tuy nhiên, hiện nay chúng ta chưa xây dựng được môi trường học tập này, mà đang vận dụng linh hoạt bằng cách áp dụng ngay trong tiết dạy hoặc học sinh mang về nhà xem lại

- Hướng dẫn học tập: Trong bài giảng nhất thiết phải có lời hướng dẫn của giáo viên GV có thể tạo lời hướng dẫn bằng File Audio hoặc File Video Chú ý: Lời hướng dẫn phải chậm rãi, rõ ràng đủ để người học nghe và chép được Lời giảng và nội dung của bài khớp với nhau

Trang 33

- Thời gian bài giảng: Một bài giảng E-learning 45 phút là quá dài Nên

bố trí thời gian cho bài giảng phù hợp với từng nội dung, từng đối tượng HS

- Do các phần mềm tạo bài giảng thường của nước ngoài nên trong bài giảng cần Việt hoá các từ tiếng Anh để dễ đọc

- Sau khi học xong kiến thức nào đó thì nên có hướng dẫn để chuyển bài Nếu không có hướng dẫn thì người học có thể sẽ làm theo thói quen và như vậy sẽ dễ có những trường hợp làm mất kiến thức

- Nên có các câu hỏi để tạo vấn đề, để củng cố Các câu hỏi phải rõ ràng, hướng đến câu trả lời, tránh các câu hỏi mở

- Không nên để người học phải lắng nghe một cách quá nhiều, dễ nảy sinh cảm giác nhàm chán Nên tạo ra các đoạn ngắt quãng

- Nhìn vào các bài giảng của các giáo viên có uy tín cung cấp trên mạng, tôi nhận thấy cái hay, chất lượng của bài giảng chính là sự truyền cảm của người thầy và sự minh hoạ rõ nét của các tư liệu Vì vậy giọng nói, ngữ điệu khi giảng bài là rất quan trọng đối với bài giảng E-learning

- Nếu một bài giảng nào đó có nhiều các tư liệu của các nhà khoa học

và những lời phân tích sâu sắc đi kèm thì bài giảng sẽ rất hay Đây là lợi thế của E-learning

2.1.3 Tầm quan trọng của E-learning

Tại sao E-learning lại trở nên quan trọng? Bởi vì đây chính là chất xúc tác đang làm thay đổi toàn bộ mô hình học tập trong thế kỉ này E-learning dành cho bất cứ ai mong muốn được học tập dù dưới hình thức chính thống hay không chính thống

Dưới đây là 8 lí do khiến E-learning là một cuộc cách mạng trong học tập:

- E-learning giúp bạn không còn phải đi những quãng đường dài để theo học một lớp học truyền thống; bạn hoàn toàn có thể học tập bất cứ khi nào bạn muốn, ban ngày hay ban đêm, tại bất cứ đâu - tại nhà, tại công sở, tại thư viện nội bộ Theo một nghĩa khác, E-learning đã xoá nhoà các ranh giới địa lý Mang giáo dục đến với mọi người chứ không phải là mọi người đến với giáo dục Ví dụ, nếu bạn muốn tham dự một bài giảng tại Đại học Gresham tại Luân Đôn, bạn chẳng cần phải đến đó, đơn giản chỉ cần theo dõi

Trang 34

trực tiếp qua internet hay nếu không có thời gian bạn có thể theo dõi lại bản ghi hình khi bạn muốn

- E-learning khiến cho việc học tập dạng thụ động như trước đây được giảm bớt HS, SV không cần phải tập trung trong các lớp học kiểu học “đọc

và ghi” thông thường, giúp cho việc học tập trở nên rất chủ động Điều cốt yếu là tập trung vào sự tương tác, “học đi đôi với hành”

- E-learning giúp việc học trở nên thú vị hơn, hấp dẫn hơn và thuyết phục hơn Các môn học khó hoặc nhàm chán có thể trở nên dễ dàng hơn, thú

vị hơn với giáo dục điện tử

- Học tập là một hoạt động xã hội, E-learning có thể giúp chúng ta thu được những kết quả chắc chắn và lâu dài, không chỉ thông qua nội dung mà đồng thời bằng cả cộng đồng mạng trực tuyến.Tại đây người học được khuyến khích giao tiếp, cộng tác và chia sẻ kiến thức Theo cách này, E-learning có thể hỗ trợ “học tập thông qua nhận xét và thảo luận”

- E-learning cho phép người học tự quản lí được tiến trình học tập của mình theo cách phù hợp nhất Chúng ta có nhiều cách học khác nhau như đọc, xem, khám phá, nghiên cứu, tương tác, thực hành, giao tiếp, thảo luận, chia sẻ kiến thức E-learning đồng nghĩa với việc người học có thể truy cập tới rất nhiều nguồn tài nguyên phục vụ cho học tập: cả tư liệu và con người, và theo cách này mỗi người đều có quyền chọn lựa hình thức học tập phù hợp nhất với khả năng và điều kiện của mình

- E-learning đồng thời giúp cho việc học tập vẫn có thể tiến hành được đồng thời trong khi làm việc, khi mà các doanh nghiệp đã bắt đầu nhận thấy học tập không chỉ có thể diễn ra lớp học Thực tế, 70% của dung lượng học tập diễn ra trong quá trình làm việc, không ở dạng giáo dục và đào tạo chính thống mà là trong công việc hàng ngày như tìm kiếm thông tin, đọc tài liệu và trao đổi với đồng nghiệp Đó chính là các hình thức học tập không chính thống được E-learning hỗ trợ và khuyến khích trong các tổ chức

- Với E-learning chúng ta trở nên năng động hơn

- E-learning đã giúp đỡ cách tổ chức giải quyết những vấn đề chính yếu nhất

Trang 35

 So sánh lớp học truyền thống và lớp học E-learning

Yếu tố liên quan Lớp học truyền thống Lớp học E-learning

Lớp học - Phải có phòng học,

không gian và kích thước phòng giới hạn

- Lớp học phải đồng

bộ, cách học cũng phải đồng bộ

- Không gian lớp học không giới hạn

- Học ở mọi lúc, mọi nơi

Số lượng Có giới hạn, phải đến

lớp, học ở một giờ nhất định, trực tiếp lên lớp

Không giới hạn, không phải trực tiếp đến lớp

Nội dung, phương tiện

dạy học

- Giáo viên có thể tổ chức nội dung dạy học thông qua:

+ SGK, thư viện + Trình chiếu, bản trong

+ Máy chiếu, máy tính

+ Video

+ Hợp tác (Làm việc theo nhóm)

- Giáo viên có thể dùng: + Các công cụ đa phương tiện, mô phỏng + Thư viện số hoá

+ Dạy học theo yêu cầu + Phương tiện truyền thông

+ Giáo án điện tử,

Cá nhân người học Một cách học tập trung

cho mọi người học là phải trực tiếp đến lớp

Cách học tập và tốc độ học tập phụ thuộc vào từng người học

2.1.4 Kỹ năng của người dạy khi thực hiện PPDH E-learning

Một khoá học sử dụng thành công PPDH E-learning đòi hỏi người dạy phải biết kết hợp cả hai PPDH: E-learning và dạy học truyền thống để đem lại hiệu quả cao nhất cho người học

Ngày đăng: 16/09/2021, 17:50

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Lí luận dạy học Tin học ở trường phổ thông - Trương Trọng Cần - Tủ sách Đại học Vinh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lí luận dạy học Tin học ở trường phổ thông
2. Sách giáo khoa Tin học 10, 11 - NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sách giáo khoa Tin học 10, 11
Nhà XB: NXB Giáo dục
3. Sách giáo viên Tin học 10, 11 - NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sách giáo viên Tin học 10, 11
Nhà XB: NXB Giáo dục
4. Tâm lí học đại cương - Nguyễn Quang Uẩn, Trần Hữu Luyến, Trần Quốc Thành - NXB Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lí học đại cương
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia Hà Nội
5. Tâm lí học lứa tuổi và tâm lí học sư phạm - Lê Văn Hồng, Lê Ngọc Lan, Nguyễn Văn Thành - NXB Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lí học lứa tuổi và tâm lí học sư phạm
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia Hà Nội
6. Giáo dục học II - Thái Văn Thành, Chu Thị Lực - Đại học Vinh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục học II
7. Phương pháp dạy học truyền thống và hiện đại - Thái Duy Tiên - NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp dạy học truyền thống và hiện đại
Nhà XB: NXB Giáo dục
8. Thiết kế bài giảng Tin học 10, 11 - Trần Doãn Vinh, Trương Thị Thu Hà - NXB Đại học sư phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thiết kế bài giảng Tin học 10, 11
Nhà XB: NXB Đại học sư phạm
9. Ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học tích cực - PGS, TS. Phó Đức Hòa, TS. Ngô Quang Sơn - NXB Giáo Dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học tích cực
Nhà XB: NXB Giáo Dục

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w