Vì những lí do trên nên tôi chọn và nghiên cứu đề tài “Sử dụng phương pháp dạy học theo góc trong dạy học Ngữ văn ở trường trung học phổ thông Người dịch Đỗ Thị Trang, Nguyễn Ngọc Quan
Trang 1
TRẦN THỊ DIÊN
SỬ DỤNG PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC THEO GÓC
TRONG DẠY HỌC NGỮ VĂN
Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
TP HỒ CHÍ MINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Trang 2TRẦN THỊ DIÊN
SỬ DỤNG PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC THEO GÓC
TRONG DẠY HỌC NGỮ VĂN
Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
TP HỒ CHÍ MINH
Chuyên ngành: Lý luận và phương pháp dạy học bộ môn Ngữ văn
Mã số: 60.14.01.11
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Người hướng dẫn khoa học:
PGS TS NGUYỄN VĂN TỨ
NGHỆ AN - 2016
Trang 3Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến PGS.TS Nguyễn Văn Tứ đã định hướng, tận tình hướng dẫn tôi hoàn thành luận văn này
Tôi cũng xin trân trọng cảm ơn Ban giám hiệu, khoa Sư phạm Ngữ văn Trường Đại học Vinh, Phòng Đào tạo Sau Đại học trường Đại học Sài Gòn cùng quý thầy cô trường THPT Nguyễn Hiền đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt thời gian học tập, nghiên cứu hoàn thành chương trình đào tạo trình độ thạc sĩ
Tôi cũng xin gởi lời cảm ơn đến gia đình, bè bạn đã động viên và tạo nhiều điều kiện thuận lợi để tôi yên tâm học tập và hoàn thành luận văn
Tác giả
Trần Thị Diên
Trang 4Mục lục
Danh mục các chữ viết tắt và các bảng biểu, đồ thị
Trang
MỞ ĐẦU 01
1 Lý do chọn đề tài 01
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 04
3 Mục đích nghiên cứu 10
4 Nhiệm vụ nghiên cứu 10
5 Phương pháp nghiên cứu 11
6 Đóng góp của luận văn 12
7 Cấu trúc của luận văn 12
Chương 1 CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA VIỆC SỬ DỤNG PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC THEO GÓC TRONG DẠY HỌC NGỮ VĂN Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 13
1.1.Một số khái niệm cơ bản liên quan đến đề tài nghiên cứu 13
1.1.1 Dạy học tích cực 13
1.1.2 Phương pháp dạy học tích cực 16
1.1.3 Phương pháp dạy học theo góc 17
1.2 Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc sử dụng phương pháp dạy học theo góc trong dạy học môn Ngữ văn ở trường THPT 19
1.2.1 Cơ sở nhận thức 19
1.2.2 Cơ sở Văn học, Việt ngữ học 20
1.2.3 Cơ sở tâm lý, hứng thú học tập của học sinh THPT 21
1.2.4 Cơ sở pháp lý trong sử dụng phương pháp dạy học theo góc trong dạy học hiện nay 24
1.2.5 Thực trạng việc sử dụng phương pháp dạy học theo góc trong dạy học môn Ngữ văn ở trường THPT TP HCM 25
Tiểu kết chương 1 30
Trang 5Chương 2 SỬ DỤNG PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC THEO GÓC
TRONG DẠY HỌC NGỮ VĂN Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ
THÔNG TP HỒ CHÍ MINH 32 2.1 Nội dung chương trình và đặc điểm kiến thức môn Ngữ văn ở
Trung học phổ thông 32 2.2 Quy trình dạyhọc theo góc trong bộ môn Ngữ văn ở Trung học
2.4 Ưu điểm và hạn chế của phương pháp dạy học theo góc trong dạy học Ngữ văn 65
2.4.1.Ưu điểm của phương pháp dạy học theo góc trong dạy học Ngữ văn 65 2.4.2 Hạn chế của phương pháp dạy học theo góc trong giờ dạy Ngữ văn 72
2.5 Các điều kiện đảm bảo việc sử dụng phương pháp dạy học theo góc
trong dạy học môn Ngữ văn ở các trường THPT TP Hồ Chí Minh 74
2.5.1 Điều kiện về chủ trương, mục tiêu đổi mới phương pháp dạy học
của ngành giáo dục 74 2.5.2 Điều kiện về năng lực, kỹ năng sử dụng phương pháp học theo
góc của đội ngũ cán bộ và giáo viên 75 2.5.3 Điều kiện về cơ sở vật chất, thiết bị và đồ dùng dạy học trong
việc sử dụng phương pháp học theo góc 77 Tiểu kết chương 2 77
Trang 6Chương 3 THIẾT KẾ MỘT SỐ BÀI GIẢNG SỬ DỤNGPHƯƠNG
PHÁP DẠY HỌC THEO GÓC TRONG DẠY HỌC NGỮ VĂN Ở
TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG TP HỒ CHÍ MINH 79
3.1 Những yêu cầu chung về thiết kế bài giảng sử dụng phương pháp dạy học theo góc 79
3.1.1.Yêu cầu đảm bảo thực hiện mục tiêu của môn Ngữ văn ở trường trung học phổ thông 79
3.1.2 Yêu cầu đảm bảo tính khoa học, tính vừa sức đối với hoạt động dạy học môn Ngữ văn ở trườngtrung học phổ thông 81
3.1.3 Yêu cầu đảm bảo tính khả thi với điều kiện thực tiễn của các trường trường trung học phổ thông ở TP Hồ Chí Minh hiện nay 82
3.2.Thiết kế các bài giảng sử dụng phương pháp dạy học theo góc trong dạy học Ngữ văn ở trường THPT Tp Hồ Chí Minh 82
3.2.1 Bài giảng thứ nhất 82
3.2.2 Bài giảng thứ hai 89
3.2.3 Bài giảng thứ ba 98
3.3.Thăm dò hiệu quả của việc sử dụng phương pháp dạy học theo góc trong dạy học Ngữ văn ở trường THPT Tp Hồ Chí Minh 100
3.3.1 Mục đích thăm dò 101
3.3.2 Đối tượng thăm dò 101
3.3.3 Nội dung thăm dò 102
3.3.4 Phân tích và đánh giá kết quả thực nghiệm 103
Tiểu kết chương 3 114
KẾT LUẬN 116
TÀI LIỆU THAM KHẢO 118 PHỤ LỤC
Trang 7CT Chương trình DHTG Dạy học theo góc
GV Giáo viên
HS Học sinh PHT Phiếu học tập PPDH Phương pháp dạy học SGK Sách giáo khoa
THCS Trung học cơ sở THPT Trung học phổ thông TNSP Thực nghiệm sư phạm TTC Tính tích cực
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Hiện nay, nước ta đang trong quá trình hội nhập và phát triển.Theo đó
hệ thống giáo dục cũng đặt ra yêu cầu cần phải đổi mới.Trong đó, đổi mới phương pháp dạy học là hết sức cần thiết Luật giáo dục công bố năm 2005, Điều 28.2 có ghi: “Phương pháp dạy học phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh; phù hợp với đặc điểm của từng lớp học; bồi dưỡng phương pháp tự học, khả năng làm việc theo nhóm, rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh” Như vậy, đổi mới giáo dục đòi hỏi nhà trường không chỉ trang bị cho học sinh những kiến thức đã có của nhân loại mà còn phải bồi dưỡng, hình thành ở học sinh tính năng động, óc tư duy sáng tạo và kĩ năng thực hành áp dụng, tức là đào tạo những người lao động không chỉ có kiến thức mà phải có năng lực hành động, kĩ năng thực hành
Yêu cầu về đổi mới phương pháp dạy học còn nhằm mục đích thực hiện những mục tiêu giáo dục của nhà trường các cấp Điều 2, Luật Giáo dục 2005 (bổ sung 2009) đã quy định mục tiêu của giáo dục như sau: Mục tiêu của giáo dục là đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện, có đạo đức, tri thức, sức khỏe, thẩm mĩ và nghề nghiệp, trung thành với lí tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; hình thành và bồi dưỡng nhân cách; phẩm chất và năng lực của công dân, đáp ứng nhu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
Chiến lược phát triển giáo dục từ năm 2011 – 2020, được Thủ tướng Chính phủ phê chuẩn đã cụ thể hoá đường lối phát triển giáo dục của Đảng và Nhà nước, xác định mục tiêu, nhiệm vụ, các giải pháp về giáo dục trong giai đọan 2011 đến 2020 với mục tiêu tổng quát: “Đến năm 2020, nền giáo dục
Trang 9nước ta được đổi mới căn bản và toàn diện theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa, dân chủ hóa và hội nhập quốc tế; chất lượng giáo dục được nâng cao một cách toàn diện, gồm: giáo dục đạo đức, kỹ năng sống, năng lực sáng tạo, năng lực thực hành, năng lực ngoại ngữ và tin học; đáp ứng nhu cầu nhân lực, nhất là nhân lực chất lượng cao phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và xây dựng nền kinh tế tri thức; đảm bảo công bằng xã hội trong giáo dục và cơ hội học tập suốt đời cho mỗi người dân, từng bước hình thành xã hội học tập”
Như vậy, đổi mới giáo dục, trong đó có đổi mới PPDH thực sự là một yêu cầu cấp bách của ngành giáo dục Nhà trường và người dạy phải giúp cho các em học sinh có thể làm chủ, tự lực chiếm lĩnh kiến thức, tích cực, chủ động, sáng tạo, có kĩ năng giải quyết những vấn đề nảy sinh trong cuộc sống
Xuất phát từ yêu cầu và mục tiêu của đổi mới, ngành giáo dục trong những năm gần đây đã có nhiều đổi mới về chương trình, sách giáo khoa và phương pháp dạy học Trong đó, nhiều phương pháp dạy học tích cực phát huy tính chủ động và sáng tạo của học sinh đã được vận dụng đem lại hiệu quả cao như: Phương pháp dạy học trực quan, Dạy học đặt và giải quyết vấn
đề, Dạy học hợp tác, Học theo dự án, Dạy học theo góc…
Bên cạnh đó, để thực hiện sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong bối cảnh hội nhập quốc tế, đòi hỏi đất nước cần có nguồn nhân lực năng động, sáng tạo, có kiến thức và kĩ năng mang tính chuyên nghiệp Yêu cầu đối với người lao động không chỉ đơn thuần là kiến thức mà còn là năng lực giải quyết vấn đề Bởi vậy nên người dạy phải quan tâm đến đổi mới phương pháp dạy học để đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế xã hội
Hơn thế, công nghệ số đang có ảnh hưởng lớn tới cuộc sống xã hội của
Trang 10tiện,…đang ngày càng có ảnh hưởng lớn đến sự truyền đạt thông tin Từ đó dẫn tới việc trẻ em ngày có thể thu lượm thông tin rất nhanh và chia sẻ thông tin trong xã hội với tốc độ chóng mặt và mỗi trẻ có khả năng tìm kiếm thông tin theo các cách khác nhau Điều này cho thấy mỗi học sinh có một cách học theo sở thích riêng hay còn gọi là phong cách học Có học sinh thích học theo cách nghiên cứu tài liệu, phân tích dựa trên lí thuyết, có học sinh thích học qua trải nghiệm, khám phá, làm thử, có học sinh thích học qua quan sát…Như vậy, giáo viên buộc phải đổi mới phương pháp để tránh việc hạn chế khả năng tiếp thu của người học
Ngoài những nguyên nhân trên ta còn nhận thấy TP Hồ Chí Minh là một trong những thành phố lớn của cả nước Cùng với sự phát triển của đất nước, Tp Hồ Chí Minh nói chung và các trường học trong thành phố nói riêng đã trang bị nhiều cơ sở vật chất hiện đại phục vụ cho việc dạy và học nhằm giúp các em thuận lợi hơn trong việc tìm kiếm tri thức, rèn luyện kĩ năng
Vì những lí do trên nên tôi chọn và nghiên cứu đề tài “Sử dụng phương
pháp dạy học theo góc trong dạy học Ngữ văn ở trường trung học phổ thông
Người dịch Đỗ Thị Trang, Nguyễn Ngọc Quang trong cuốn Phát huy
tính tích cực học tập của học sinh như thế nào đã trình cho thấy quan điểm
của Kharlamôp I.F về dạy học tích cực: “Sự thành công của việc dạy học phụ
Trang 11thuộc vào mức độ mà nhà trường áp dụng toàn bộ hệ thống những phương tiện sư phạm nhằm duy trì tính nhận thức cao của học sinh ở trên lớp cũng như khi học tập ở nhà.” [23]
Phan Trọng Ngọ (2005), trong cuốn Dạy học và phương pháp dạy học
trong nhà trường, Nxb Đại học sư phạm Hà Nội đã giới thiệu quan điểm dạy
học của Deway.J và Claparet E Theo Deway J, một phương pháp dạy học phải đáp ứng những nhu cầu sau:
-Học sinh phải được đưa vào tình huống thử nghiệm xác thực, một hành động mà trẻ thấy hứng thú
- Xuất hiện vấn đề từ tình huống thực nghiệm, có tác dụng kích thích tư duy của học sinh
- Học sinh được cung cấp đầy đủ thông tin, cần được quan sát để giải quyết vấn đề
- Khi đã có giải pháp tạm thời, học sinh có trách nhiệm xây dựng nó một cách đầy đủ theo quy trình chặt chẽ
- Phải cho học sinh khả năng và cơ hội ứng dụng những ý tưởng đó nhằm xác định và khám phá những giá trị của nó.[32]
Các dịch giả cũng dẫn ra quan niệm của Claparet E Claparet E đã nhấn mạnh ba đặc điểm lớn trong dạy học.Một là khơi dậy một nhu cầu, một hứng thú bằng cách đặt đứa trẻ vào tình huống có thể khơi dậy những mong muốn
đó Hai là khơi dậy nhu cầu hay mong muốn đó Ba là tiếp nhận những hiểu biết phù hợp để kiểm tra những phản ứng ấy và điều khiển chúng đến mục đích đề ra
Như vậy cả hai quan niệm của Deway J và Claparet E đều nhấn mạnh đến mục tiêu của việc dạy học là phải phát huy được tính tích cực và hứng thú của học sinh Dạy học theo hai tác giả trên là phải đưa học sinh vào tình
Trang 12Dịch giả Phan Tấn Đắc cũng cho ta biết thêm một quan niệm của Lecne L.IA Lecne L.IA cho rằng: “Bất cứ nơi nào và bất cứ ở đâu năng lực sáng tạo đều nảy sinh và phát triển trong quá trình giải quyết vấn đề.”[17]
Việc nghiên cứu các giải pháp dạy học nhằm phát huy tính tích cực, tự chủ và sáng tạo của học sinh trong quá trình học tập đã xuất hiện trong các tài liệu của các nhà nghiên cứu như Mazano R.J, Z Verena N.M, hay của Hunten trong những năm gần đây Và hiện nay các phương pháp dạy học như: Dạy học theo dự án, Dạy học theo hợp đồng,…vẫn đang được triển khai và đem lại hiệu quả cao ở các nước như Úc, Bỉ, Singapo…
Ở Việt Nam, các phương pháp dạy học tích cực cũng được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm từ những năm cuối của thế kỉ XX và những năm đầu của thế kỉ XXI
Theo quan điểm của các tác giả như Trần Bá Hoành, Nguyễn Cảnh Toàn, Vũ Văn Tảo, Nguyễn Kì thì dạy học theo hướng hiện đại là phải chú trọng đến vai trò của người học Chức năng chính của giáo viên trong dạy học hiện đại chỉ là người tổ chức, hướng dẫn, hướng dẫn để học sinh lĩnh hội tri thức [37]
Phương pháp dạy học tích cực ấy còn được đề cấp đến ở nhiều tác giả khác Trong đó phải kể đến dự án Việt – Bỉ, dự án xuất hiện trong những năm đầu của thế kỉ 21 Dự án này đã đề cập đến nhiều phương pháp dạy học theo hướng tích cực Những nghiên cứu này đã giúp cho người dạy ở các cấp học
có được những kiến thức cở bản, cần thiết cho quá trình dạy học [10]
2.2 Những kết quả nghiên cứu về việc sử dụng phương pháp dạyhọc theo góc trên thế giới và Việt Nam
Phương pháp dạy học theo góc có liên quan mật thiết đến các phong cách học khác nhau tại các góc Mỗi góc đáp ứng các nhu cầu, các phong cách
Trang 13khác nhau của người học.Các nhà nghiên cứu trên thế giới đã đề cập đến các phong cách học này Có thể kể đến tiêu biểu như các nhà nghiên cứu sau:
Quan điểm của Antoine de La Grandlie được Nguyễn Hữu Lương giới thiệu nói về thói quen hoạt động trí óc khác nhau của con người có ảnh hưởng đến việc học tập Theo Antoine de La Grandlie, con người có những thói quen
đó là: thói quen gợi lại cái gì cụ thể đã gặp trong cuộc sống, thói quen tái hiện những gì đã học thuộc long, thói quen suy luận logic, thói quen tưởng tượng sáng tạo [27]
Các phong cách học khác nhau cũng được đề cập đến trong quan niệm của Kolb.D.A, Fleming Các tác giả này cùng phân chia phong cách của người học theo các kiểu khác nhau Trong số những quan niệm này chúng ta phải chú ý đến quan niệm của Kolb D.A Kolb.D.A đã đưa ra chu trình của người học Theo tác giả này trình tự của việc học tập thực nghiệm cần tuân thủ trình tự của chu trình nhưng không nhất thiết phải khởi đầu từ bước nào trong chu trình Kolb D.A đã đưa ra sơ đồ của việc học như sau:
Thử nghiệm áp dụng vào tình huống mới
Kinh nghiệm cụ thế
Hình thành quan điểm và khái quát hóa
ánh
Chu trình học tập của Kolb
Cũng giống như Kolb, Lewin đã đưa ra mô hình học tập theo trải nghiệm Lewin cho rằng nghiên cứu ứng dụng và phương pháp thực nghiệm, học tập, thay đổi và phát triển được kết hợp thông qua là từ những liên kết bắt
Trang 14và cuối cùng quan sát về kinh nghiệm đó Số liệu đã thu thập sẽ được phân tích và các kết luận sau đó sẽ được phản hồi với đương sự của kinh nghiệm đó
để họ điều chỉnh hành vi và lựa chọn kinh nghiệm mới Học tập, vì vậy, được phân chia thành bốn giai đoạn trong chu trình như trong hình sau: [28]
Quan niệm dạy học nêu trên còn được đề cập đến ở nhiều nhà nghiên cứu khác trên thế giới như Deway, Piaget, Jerome Brumer… Quan niệm dạy học của các nhà sư phạm nêu trên đã đáp ứng được nhu cầu dạy học hiện đại theo hướng phân hóa Những cách học như vậy sẽ phát huy được năng lực học tập cũng như sự khác biệt của học sinh
Cùng với xu hướng phát triển các hình thức dạy họctheo hướng phân hóa ở trên thế giới, ở Việt Nam cũng xuất hiện nhiều nhà nghiên cứu về các phương pháp dạy học theo hướng phân hóa đặc biệt là các nghiên cứu về dạy học theo góc Có thể kể đến các nghiên cứu sau:
- Nguyễn Lăng Bình (chủ biên), Đỗ Hương Trà, Nguyễn Phương Hồng,
Cao Thị Thặng (2010), Dạy và học tích cực, Một số phương pháp và kĩ thuật
dạy học (Dự án Việt – Bỉ), NXB Đại học sư phạm đã đưa ra khái niệm về
phương pháp dạy học theo góc và đã đưa ra một số chu trình học tập theo góc chung cho tất cả các môn học [10]
- Nguyễn Tuyết Nga (2010), Modul phương pháp dạy học theo góc, Dự
án VVOB, Bộ giáo dục và đào tạo đã đưa ra khái niệm dạy học theo góc, đặc
Trang 15điểm, quy trình, các mức độ (hình thức) và ví dụ minh họa, thiết kế các phiếu học tập, nhiệm vụ tại các góc Tài liệu này đã bổ sung thêm một số nội dung mang tính thực hành để giáo viên có thể vận dụng cho các môn học khác nhau Tuy nhiên, tài liệu chưa đưa ra quy trình dạy học của một môn học cụ thể, chưa đưa ra loại kiến thức có thể áp dụng được phương pháp và cũng chưa đưa ra cách thiết kế các phiếu học tập và phiếu hỗ trợ cho học sinh tại mỗi góc [30]
Ngoài ra ta có thể tìm thấy vấn đề dạy học theo góc được đề cập đến trên một số bài viết và các luận văn như:
- “Phát huy tính tích cực của học sinh qua PP học theo góc trong giáo dục Mĩ thuật ở trường phổ thông” của tác giả Nguyễn Thị Đông, tạp chí Giáo dục, số 303 Nguyễn Thị Đông đã đưa ra một số ví dụ về học theo góc trong môn Mĩ thuật để tăng hứng thú của học sinh
- Nhóm tác giả Nguyễn Thị Phú, Nguyễn Lâm Đức, trong bài viết
“Khai thác thiết bị để triển khai dạy học theo góc ở nhà trường phổ thông” trên tạp chí giáo dục số 71, 2011 đã đánh giá những khó khăn của việc sử dụng thiết bị khi áp dụng PP DHTG và đề xuất một số biện pháp khắc phục
- “Bước đầu nghiên cứu và vận dụng PP HTG trong môn Hóa học ở trường THPT – phần phi kim – Hóa học 10 nâng cao”, Đỗ Quỳnh Mai, tạp chí Khoa học ĐHSP Hà Nội, số 6, 2011.Tác giả Đỗ Quỳnh Mai đã dẫn lại khái niệm dạy học theo góc và bước đầu vận dụng phương pháp này vào môn Hóa học
- “ DHTG một số kiến thức chương chất lỏng trong sách giáo khoa vật
lí 10 nâng cao và kết quả thu được”, Đỗ Hương Trà, Trần La Giang, tạp chí Khoa học ĐHSPHN, số 4, 2011.Trong tài liệu, các tác giả đã vận dụng phương pháp HTG vào một số kiến thức vật lí 10, đánh giá những thuận lợi
Trang 16- Nguyễn Trung Thành (2011), “Thiết kế tiến trình dạy học theo góc một số kiến thức chương “Từ trường” (Vật lí 11 – ban cơ bản) theo hướng phát huy tính tích cực, tự lực nhận thức của học sinh THPT miền núi”, luận văn thạc sĩ
- Trần La Giang (2010), Tổ chức DHTG nội dung kiến thức (chất lỏng), chương (Chất rắn và chất lỏng, sự chuyển thể), Sách giáo khoa Vật lý
10, nâng cao”, luận văn thạc sĩ
- Tác giả Vũ Đình Việt (2010), Tổ chức dạy học theo góc kiến thức chương các định luật bảo toàn, luận văn thạc sĩ
Nói chung các công trình nghiên cứu đã hướng tới phát huy tính chủ động, tích cực và sáng tạo của người học, đều đề cập khái quát về các vấn đềHTG và vận dụng thiết kế HTG vào một số bài học cụ thể Đây sẽ là những tài liệu hỗ trợ đắc lực cho quá trình viết luận văn của người viết Tuy nhiên chưa có công trình nghiên cứu nào đề cập đến việc vận dụng phương pháp dạy học theo góc trong dạy học môn Ngữ văn ở trường THPT Vì vậy đây sẽ
là điều kiện để người viết có thể đóng góp thêm cách áp dụng phương pháp dạy học theo góc trong dạy học Ngữ văn ở trường THPT
3 Mục đích nghiên cứu
- Tổng hợp, khái quát hóa những vấn đề lý luận về phương pháp, phương tiện dạy học và phương pháp dạy học theo góc ở trường Trung học phổ thông
- Từ việc khảo sát thực trạng, luận văn đề xuất một số vấn đề liên quan đến việc sử dụng phương pháp dạy học theo góc trong dạy học bộ môn Ngữ văn ở trường Trung học phổ thông TP Hồ Chí Minh
4 Nhiệm vụ nghiên cứu
4.1 Tìm hiểu cơ sở lý luận về phương pháp dạy học theo góc trong dạy học môn Ngữ văn ở trường Trung học phổ thông
Trang 174.2 Khảo sát, phân tích, đánh giá thực trạng về sử dụng phương pháp dạy học theo góc trong dạy học môn Ngữ văn ở các trường Trung học phổ thông ở TP Hồ Chí Minh
4.3 Đề xuất một số vấn đề về việc sử dụng phương pháp dạy học theo góc nhằm nâng cao hiệu quả dạy và học môn Ngữ văn ở trường Trung học phổ thông TP Hồ Chí Minh
5 Phương pháp nghiên cứu
5.1 Phương pháp nghiên cứu lý thuyết
- Nghiên cứu, tìm tòi, tổng hợp các tư liệu làm cơ sở lý luận cho đề tài nghiên cứu
- Nghiên cứu các lí thuyết về sử dụng phương pháp dạy học theo góc trong dạy học môn Ngữ văn
- Nghiên cứu tài liệu về tổ chức các hoạt động dạy và học sử dụng phương pháp dạy học theo góc trong dạy học Ngữ văn
5.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Phương pháp quan sát: thu thập trực tiếp thông tin về quá trình dạy và học đang diễn ra ở trường Trung học phổ thông tại TP.HCM và ghi chép trung thực những nhân tố có liên quan đến đối tượng và mục đích nghiên cứu
- Phương pháp điều tra: thu thập, nghiên cứu, phân tích tổng hợp các tài liệu đã có ở các trường Trung học phổ thông tại TP.HCM, để làm tư liệu cho bài luận văn
- Phương pháp tổng kết kinh nghiệm dạy học: qua nhiều năm bản thân
đã trực tiếp đứng lớp giảng dạy môn Ngữ văn ở trường Trung học phổ thông Nguyễn Hiền nên đã có những kinh nghiệm trong công tác Từ những kiến thức lí thuyết đã tiếp thu và những bài học thực tiễn, tôi đúc kết lại thành những ý kiến tham gia xây dựng vào bài luận văn
Trang 18Sau khi thu thập các phiếu thăm dò ý kiến, dựa vào kết quả điều tra, xử
lý số liệu, tính tần số xuất hiện và tỉ lệ phần trăm các nội dung trong phiếu khảo sát nhằm đánh giá thực trạng sử dụng phương pháp dạy học theo góc trong dạy học môn Ngữ văn ở các trường Trung học phổ thông tại TP.HCM nhằm nâng cao chất lượng dạy học ở các trường
6 Đóng góp của luận văn
- Luận văn góp phần tìm hiểu cơ sở lý luận của việc sử dụng phương pháp dạy học theo góc trong dạy học nói chung và trong dạy học môn Ngữ văn ở Trung học phổ thông nói riêng
- Luận văn góp phần đánh giá một cách toàn diện việc sử dụng phương pháp dạy học theo góc trong giảng dạy môn Ngữ văn ở trường Trung học phổ thông TP Hồ Chí Minh
- Luận văn đề xuất một số nội dung về phương pháp thiết kế, cách thức
sử dụng phương pháp dạy học theo góc trong dạy học môn Ngữ văn trong trường Trung học phổ thông TP.HCM
7 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và tài liệu tham khảo, luận văn có
3 chương:
Chương 1: Những cơ sở khoa học của vấn đề sử dụng phương pháp dạy
học theo góc trong dạy học môn Ngữ văn ở trường trung học phổ thông
Chương 2: Sử dụng phương pháp dạy học theo góc trong dạy học môn
Ngữ văn ở trường trung học phổ thông TP Hồ Chí Minh
Chương 3 Thiết kế một số bài giảng sử dụng phương pháp dạy học
theo góc trong dạy học môn Ngữ văn ở trường trung học phổ thông TP Hồ Chí Minh
Trang 191.1.1.1 Khái niệm dạy học tích cực
Tính tích cực là một phẩm chất của con người trong đời sống xã hội Hình thành và phát triển tính tích cực là một trong các nhiệm vụ chủ yếu của giáo dục, nhằm đào tạo những con người năng động, thích ứng và góp phần phát triển cộng đồng.Tính tích cực là điều kiện, đồng thời là kết quả của sự phát triển nhân cách trong quá trình giáo dục.Muốn hiểu được khái niệm dạy
và học tích cực, trước hết ta phải hiểu được khái niệm thế nào là “tích cực”?Đây là một khái niệm rất quan trọng trong dạy học và đã được rất nhiều tác giả đề cập: V.L.Lênin: TTC được xác định như là tổng các dấu hiệu đặc trưng cho sức mạnh bên trong với thành tích đã thành hiện thực Theo I.F Kharlamôp, “TTC là trạng thái hoạt động của chủ thể, nghĩa là người hành động…” V.Ôkôn quan niệm TTC là lòng mong muốn không chủ định và tạo nên những biểu hiện bên ngoài hoặc bên trong của hoạt động Theo từ điển Tiếng Việt (Hoàng Phê - chủ biên), “Tích cực là: có ý nghĩa, có tác dụng khẳng định, tác dụng thúc đẩy sự phát triển; tỏ ra chủ động, có những hoạt động nhằm tạo ra sự biến đổi theo hướng phát triển; hăng hái, tỏ ra nhiệt tình đối với nhiệm vụ, với công việc” [33, tr 981 ] Từ những quan niệm trên, chúng ta có thể hiểu rằng, TTC là sự biểu hiện nỗ lực cá nhân (bằng thái độ, tình cảm, ý chí…) trong quá trình tác động đến đối tượng nhằm thu được kết
Trang 20Dựa trên những quan niệm trên ta có thể đưa ra một cách hiểu khái quát
về khái niệm dạy học tích cực: Dạy và học tích cực là một hoạt động giáo dục không xoay quanh trọng tâm là giáo viên nữa mà xoay quanh trọng tâm và nhu cầu người học Học sinh được thách thức tham gia tích cực trong xây dựng sự hiểu biết và quan niệm của học (tự suy nghĩ và tìm hiểu bên cạnh việc chăm chú nghe giảng, làm bài tập và ghi nhớ thông tin).Còn giáo viên chỉ
là người đóng vai trò tổ chức, hướng dẫn cho học sinh học, tổ chức cho các
em tìm ra kiến thức
1.1.1.2 Sự khác nhau giữa dạy học tích cực và dạy học thụ động
Theo tài liệu “Dạy và học tích cực” (Dự án Việt Bỉ, NXB sư phạm, 2010), trang 31 có phân biệt học tích cực và học thụ động được phân biệt dựa vào cách thức hướng dẫn của giáo viên và mức độ tích cực học tập của học sinh trong quá trình dạy học [10,tr 31]
- Hướng dẫn của giáo viên - Hướng dẫn của giáo viên mang tính định hướng mang tính áp đặt
- Học sinh tự lực và tích cực hơn - Học sinh ít cực hơn
Sự khác biệt giữa dạy học tích cực và dạy học thụ động có thể cụ thể hóa bằng mô hình sau đây:
Dạy học thụ động Dạy học tích cực
Trang 21Theo mô hình trên, dạy học thụ động là sự truyền thụ một chiều mang tính thông báo đồng loạt, giáo viên là chủ thể của hoạt động, là người truyền đạt “mang” kiến thức, “đổ” kiến thức cho người học Phương tiện dạy học là bảng, phấn, cách dạy phổ biến là đọc – chép.Người học lĩnh hội kiến thức một cách thụ động, một chiều Phương pháp dạy học này kèm theo cách đánh giá với yêu cầu ghi nhớ, tái hiện lại, nhắc lại kiến thức nhận được từ giáo viên Điều đó dẫn người học đến cách học phù hợp đó là học thuộc lòng, học “vẹt”, học đối phó, học để thi… Giáo viên giữ vai trò độc quyền trong đánh giá Ảnh hưởng bởi lối học này nên người học ít có cơ hội phát triển cũng như thể hiện năng lực sáng tạo của mình
Khác với lối học thụ động trên, dạy và học tích cực là sự tương tác đa chiều không chỉ giữa người dạy và người học mà còn là giữa người học và người học trong môi trường học tập an toàn Giáo viên không giữ vai trò “độc quyền” hay là chủ thể của hoạt động dạy học nữa mà người học mới là chủ thể của hoạt động Người học không bị “đổ”, “rót” kiến thức từ bên ngoài vào nữa mà được tạo điều kiện để chủ động khám phá, tìm kiếm kiến thức thông qua những tình huống, những nhiệm vụ thực tiễn cụ thể, đa dạng, sinh động Thay cho học thiên về lí thuyết, người học được trải nghiệm, khám phá kiến thức qua hành động, học qua “làm”, kiến thức sẽ được khắc sâu bền vững Thông qua các hoạt động đọc, nghe, nhìn, thảo luận, người học có thể thu nhận được kinh nghiệm bằng hành động Thậm chí người học còn có thể dạy lại những điều mình thu nhận được cho người khác
Như vậy dạy và học tích cực là một hoạt động hướng vào học sinh.Giáo viên chỉ là người định hướng, tổ chức và là trọng tài trong các hoạt động thảo luận, đồng thời là người đưa ra các kết luận và đánh giá trên cơ sở tự đánh giá, đánh giá lẫn nhau của người học
Trang 22Dạy và học theo hướng tích cực giúp cho cả người dạy và người học đều có cơ hội nhìn nhận lại chính mình để nhận ra những điều làm tốt và những điều làm chưa tốt, từ đó điều chỉnh cách dạy, cách học cho phù hợp, thúc đẩy kết quả dạy học ngày một tốt hơn đáp ứng các nhu cầu của người học và nhu cầu của chính xã hội
1.1.2 Phương pháp dạy học tích cực
1.1.2.1 Phương pháp dạy học
Phương pháp dạy học là cách thức để tối ưu hóa trong việc hướng dẫn học sinh nhận thức đối tượng Nhận thức được thực hiện thông qua hai con đường cách thức, phương pháp: phương pháp nghiên cứu (nhận thức phát hiện) và phương pháp dạy học (nhận thức tái hiện, phát hiện lại)
1.1.2.2 Phương pháp dạy học tích cực
Phương pháp dạy học tích cực (PPDH tích cực) là một thuật ngữ rút gọn, được dùng ở nhiều nước để chỉ những phương pháp giáo dục, dạy học theo hướng phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của người học."Tích
cực" trong PPDH - tích cực được dùng với nghĩa là hoạt động, chủ động, trái
nghĩa với không hoạt động, thụ động chứ không dùng theo nghĩa trái với tiêu cực
Theo “Giáo trình giáo dục học, tập 1”, PPDH tích cực là những phương pháp dạy học theo hướng phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo, hướng tới hoạt động hóa, tích cực hóa hoạt động nhận thức của người học [2]
Bản chất của dạy học tích cực đó là đề cao chủ thể nhận thức, người học được đặt lên vị trí đầu tiên trong quá trình dạy học
PPDH tích cực hướng tới việc hoạt động hóa, tích cực hóa hoạt động nhận thức của người học, nghĩa là tập trung vào phát huy tính tích cực của người học chứ không phải là tập trung vào phát huy tính tích cực của người
Trang 23dạy, tuy nhiên để dạy học theo phương pháp tích cực thì giáo viên phải nỗ lực nhiều so với dạy theo phương pháp dạy học thụ động
1.1.2.3 Phân biệt phương pháp dạy học và kĩ thuật dạy học
Ngoài khái niệm phương pháp dạy học, trong giáo dục ngày nay người
ta còn quan tâm đến khái niệm kĩ thuật dạy học Hai khái niệm này có những điểm khác nhau:
- Phương pháp là những cách thức, con đường dẫn đến mục tiêu của bài học
- Kĩ thuật dạy học là những biện pháp, cách thức hành động của giáo viên và học sinh trong các tình huống/ hoạt động nhằm thực hiện giải quyết một nhiệm vụ/ nội dung cụ thể
Tuy nhiên việc phân định trên chỉ mang tính chất tương đối Sự phân biệt giữa quan điểm dạy học và phương pháp dạy học và kĩ thuật dạy học nhiều khi không thật rõ ràng [10,tr 45]
1.1.3 Phương pháp dạy học theo góc
1.1.3.1 Khái niệm phương phápdạy học theo góc
Ngày nay, trong dạy học xuất hiện nhiều phương pháp dạy học tích cực như: dạy học theo dự án, dạy học theo hợp đồng, dạy học theo hợp đồng, dạy học hợp tác… Trong đó phương pháp dạy học theo góc là một phương pháp phù hợp với mục tiêu dạy học hiện đại ngày nay, đáp ứng nhu cầu phát triên tích tích cực của người học
Phương pháp dạy học theo góc là một phương pháp học tập mới xuất hiện những năm gần đây ở Việt Nam Theo Nguyễn Lăng Bình (chủ biên)-
Đỗ Hương Trà- Nguyễn Phương Hồng – Cao Thị Thặng trong cuốn Dạy và
học tích cực (Dự án Việt Bỉ) đã đưa ra khái niệm về phương pháp học tập
này: Dạy học theo góc là một phương pháp dạy học theo đó học sinh thực
Trang 24nhưng cùng hướng tới chiếm lĩnh một nội dung học tập theo các phong cách học khác nhau [ 10, tr 116]
Như vậy theo khái niệm trên dạy học theo góc được gọi là “trạm học tập” hay “trung tâm học tập” Trong lớp học học sinh sẽ được chia thành các góc học tập và thực hiện nhiệm vụ chiếm lĩnh kiến thức ở các góc.Gọi là trạm nên học sinh chỉ có thể dừng ở đó một thời gian nhất định sau đó phải luân chuyển qua các góc khác để tìm hiểu kiến thức một cách toàn diện Mỗi góc
sẽ có tác dụng riêng, có cách tác động riêng trong việc hình thành và chiếm lĩnh tri thức của học sinh Phương pháp này vừa giúp các em lĩnh hội đủ dung lượng kiến thức, vừa đảm bảo cho các em có thể học sâu ở các góc, vừa kích thích được hứng thú học tập của các em vì nó đáp ứng các nhu cầu học tập theo các phong cách khác nhau của các em
1.1.3.2 Quy trình dạy học theo góc
Để phương pháp dạy học theo góc đem lại hiệu quả cao, chúng ta phải lưu ý tuân thủ các quy trình học theo góc cơ bản như:
- Giáo viên giới thiệu bài học, phương pháp học theo góc, nhiệm vụ tại các góc, thời gian tối da để thực hiện nhiệm vụ cụ thể tại mỗi góc và cho học sinh chọn góc xuất phát
- Học sinh lắng nghe, tìm hiểu và quyết định chọn góc theo sở thích, tuy nhiên giáo viên có sự điều chỉnh nếu như có số học sinh cùng chọn một góc quá đông
- Học sinh thực hiện nhiệm vụ tại các góc, giáo viên quan sát, hỗ trợ
- Hết thời gian hoạt động tại mỗi góc, giáo viên yêu cầu học sinh luân chuyển góc
- Kết thúc giờ học tại các góc, giáo viên yêu cầu đại diện các góc trình bày kết quả, các học sinh khác nhận xét, đánh giá Cuối cùng là nhận xét của
Trang 25giáo viên về kết quả học tập của học sinh, chốt lại kiến thức trọng tâm của bài học
- Tại mỗi góc, nếu nhiệm vụ giao cho nhóm, thì yêu cầu học sinh phải bầu nhóm trưởng, thư kí
- Trong quá trình học sinh hoạt động, giáo viên thường xuyên theo dõi, phát hiện khó khăn của học sinh để hỗ trợ kịp thời
- Sau một thời gian hoạt động, trước khi hết thời gian tối đa cho mỗi góc, giáo viên thông báo cho nhóm học sinh nhanh chóng hoàn thành nhiệm
vụ để chuẩn bị luân chuyển góc Học sinh có thể chuyển góc theo chiều nhất định, theo vòng tròn luân chuyển để đảm bảo học sâu
- Cuối bài học, mỗi học sinh sẽ chọn báo cáo kết quả tại góc cuối cùng,
có thể treo, trình bày kết quả tại góc hoạt động Các nhóm khác bổ sung ý kiến, giáo viên nhận xét, đánh giá [10, tr 119]
Có thể nói quy trình học theo góc gồm rất nhiều các bước, các giai đoạn khác nhau Chính vì thế trước khi tổ chức giờ dạy học theo góc, giáo viên phải nắm chắc các bước học theo góc để đảm bảo thực hiện được đúng yêu cầu và mục tiêu phương pháp học theo góc
1.2 Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc sử dụng phương pháp dạy học theo góc trong dạy học môn Ngữ văn ở trường THPT
1.2.1 Cơ sở nhận thức
Phương pháp dạy học theo góc có cơ sở lí luận đầu tiên đó là cơ sở nhận thức Con người có khả năng nhận thức thế giới Nhận thức đó là sự phản ánh hiện thực khách quan vào bộ óc con người Nhận thức đó là một quá trình biện chứng tích cực, sáng tạo Cơ sở chủ yếu và trực tiếp của nhận thức
là thực tiễn “Nhận thức là quá trình phản ánh biện chứng, tích cực và sáng tạo thế giới khách quan vào bộ óc con người trên cơ sở thực tiễn”
Trang 26Con đường biện chứng của nhận thức chân lí đó là từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng, từ tư duy trừu tượng đến thực tiễn Lênin nói:
“Từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng, và từ tư duy trừu tượng đến thực tiễn – đó là con đường biện chứng của nhận thức chân lí, của sự nhận thức hiện thực khách quan” [4, tr37] Nhận thức cảm tính (trực qua sinh động)
là sự phản ánh trực tiếp thế giới khách quan và được thực hiện qua ba hình thức: Cảm giác, tri giác và biểu tượng Nhận thức lí tính (tư duy trừu tượng)
là cấp độ cao của quá trình nhận thức, được thực hiện thông qua ba hình thức
cơ bản: khái niệm, phán đoán và suy luận Nhận thức cảm tính là cơ sở cho nhận thức lí tính Nhận thức lí tính bổ sung, làm sâu sắc hơn nhận thức cảm tính Quá trình nhận thức phải trở về thực tiễn Nhận thức trở về thực tiễn nhằm kiểm nghiệm, khẳng định những tri thức thu nhận được có đúng đắn hay không Nhận thức phục vụ thực tiễn, đáp ứng những đòi hỏi của thực tiễn
Cơ sở lí luận trên cho thấy sự học của học sinh cũng diễn ra qua quá trình như vậy.Trên cơ sở đó, ta thấy được dạy học theo góc cũng giúp các em trải qua các bước nhận thức từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng Khi vận dụng phương pháp dạy học theo góc, giáo viên thiết kế các góc cũng dựa trên cơ sở nhận thức này Khi thiết kế các góc, giáo viên thiết kế nhiệm vụ tại các góc vừa phải giúp học sinh có thể thu nhận được kiến thức qua các hình nhả trực quan, vừa thu nhận được kiến thức qua khái niệm, phán đoán và suy luận, vừa thu nhận được kiến thức qua thực tiễn áp dụng Đây cũng là con đường biện chứng của nhận thức chân lí mà Lênin đã đề cập Như vậy, có thể thấy, dạy học theo góc tác động các em về mặt cảm tính, tri giác, cảm giác lẫn
về mặt lí tính với những khái niệm, phán đoán và suy luận
1.2.2 Cơ sở Văn học, Việt ngữ học
Có thể nói, mỗi môn học đều mang trong mình những vai trò và nhiệm
vụ khác nhau.Trong các môn học đó thì môn Ngữ Văn mang trong mình một
Trang 27sứ mệnh vô cùng to lớn mà không một bộ môn nào có thể thay thế được.Bên cạnh mục tiêu cung cấp kiến thức, rèn luyện kĩ năng thì môn văn còn phải góp phần bồi dưỡng nhân cách cho học sinh Nghe – nói – đọc – viết, đó là những
kĩ năng cơ bản nhất trong quá trình dạy học môn Ngữ văn mà người dạy trước tiên cần hình thành cho học sinh Qua những kĩ năng cơ bản đó học sinh đồng thời được rèn luyện tư duy và hình thành những nhận thức đúng đắn về các sự vật, sự việc và hiện tượng.Đó có thể là nhận thức về các tri thức về tiếng Việt hoặc có thể là tri thức về các sự kiện lịch sử, các vấn đề về cuộc sống được đưa vào văn học.Trên cơ sở những nhận thức ấy các em có ý thức sử dụng tiếng Việt trong sáng hơn, từ đó mà làm cho các em thêm yêu quý tiếng Việt
và góp phần bỗi dưỡng tính yêu đối với tiếng Việt Không chỉ vậy, các em còn được hình thành và phát triển bồi dưỡng nhân cách tình cảm: các em biết đồng cảm, sẻ chia, biết yêu thương, gắn bó hay là căm thù, giận dữ … trước những sự vật, sự việc, hiện tượng mà văn học phản ánh
Văn học là một bộ môn đặc thù, nó mang những đặc trưng riêng khác với các bộ môn khoa học khác Ở văn học chúng ta có thể nhận thấy đó là một bức tranh tổng quát về các mối liên hệ tác động qua lại của nhiều lĩnh vực khác nhau như tâm lý học, giáo dục học và ngôn ngữ học Người dạy văn không chỉ khô cứng dạy giáo dục kiến thức, ngôn ngữ trong sách vở, trong nhà trường mà còn phải liên hệ đến những kiến thức ngoài xã hội
Cơ sở Văn học, Việt ngữ học này góp phần giúp người dạy hoạch định những hướng triển khai và phương pháp dạy học cụ thể phù hợp với đặc trưng
bộ môn.Đồng thời người dạy phải căn cứ vào nội dung chương trình và tùy từng đối tượng học sinh mà lựa chọn những phương pháp dạy học cho phù hợp.Khi vận dụng các phương pháp, người dạy phải chú ý đến đặc trưng loại hình, đặc trưng ngôn ngữ Dạy học theo góc không chỉ cung cấp cho các em
Trang 28nghe – nói – đọc – viết Thông qua các quá trình dạy học theo góc, học sinhđược phát triển kiến thức, các kĩ năng giao tiếp, hình thành, phát triển nhân cách Giáo viên phải chọn các ngữ liệu tại các góc làm sao cho học sinh
có thể vừa liên hệ được kiến thức sách vở với kiến thức xã hội, vừa phát triển được tình cảm của các em với các hiện tượng đề cập đến trong các ngữ liệu Như vậy, cơ sở Văn học, Việt ngữ học chi phối nhiều đến việc thiết kế nhiệm
vụ tại các góc và việc lựa chọn ngữ liệu phân tích cho học sinh tại các góc
1.2.3 Cơ sở tâm lý họcvà hứng thú học tập của học sinh THPT
Đặc điểm tâm sinh lí của học sinh trung học phổ thông có nhiều điểm khác so với học sinh Tiểu học và Trung học cơ sở.Ở từng lứa tuổi (THCS hoặc THPT), có một số lĩnh vực thể hiện nét riêng, đặc thù của lứa tuổi, chi phối sự phát triển của các lĩnh vực khác và toàn bộ nhân cách học sinh
Lứa tuổi học sinh THPT có tính mất cân đối tạm thời, tính mâu thuẫn
và tính không đồng đều của sự phát triển
Học sinh THPT có những đặc điểm riêng về sinh lý và tâm lý
Về mặt sinh lý: Tuổi đầu thanh niên là thời kì đầu đạt được sự tăng trưởng về mặt thể lực.Nhịp độ tăng trưởng về chiều cao và trọng lượng đã chậm lại
Về mặt tâm lý: Sự phát triển của hệ thần kinh có những thay đổi quan trọng do cấu trúc bên trong của não phức tạp và các chức năng của não phát triển.[16]
Sự thay đổi về mặt tâm lí này đòi hỏi phương pháp dạy học phải có những cách thức mới và phù hợp để não bộ của học sinh phát triển.Các em ở lúa tuổi này đã đủ trưởng thành về mặt tâm lí, não bộ đã gần như hoàn thiện
Vì vậy các em hoàn toàn có thể tư duy phát hiện, sáng tạo, nghiên cứu chứ không chỉ đơn giản là tư duy tái hiện kiến thức như ở lứa tuổi cấp một và cấp hai
Trang 29Học sinh THPT còn có những đặc điểm riêng trong phát triển trí tuệ: Tri giác có mục đích đã đạt tới mức rất cao.Ghi nhớ có chủ định giữ vai trò chủ đạo trong hoạt động trí tuệ, đồng thời vai trò của ghi nhớ logic trừu tượng, ghi nhớ ý nghĩa ngày một tăng rõ rệt.Các em đã tạo được tâm thế phân hoá trong ghi nhớ
Ở lứa tuổi này các em có sự thay đổi về tư duy: các em có khả năng tư duy lý luận, tư duy trừu tượng một cách độc lập, chặt chẽ có căn cứ và mang tính nhất quán.Đặc điểm về sự phát triển trí tuệ trên của học sinh trung học phổ thông là do cấu trúc của não phức tạp và chức năng của não phát triển, do
sự phát triển của quá trình nhận thức
Đặc điểm về sự phát triển trí tuệ này giúp cho người dạy có thể tìm ra phương pháp dạy học phù hợp với đặc điểm của các em Dạy học với đối tượng học sinh trung học phổ thông mà chỉ thiên về cung cấp những kiến thức hàm lâm theo kiểu áp đặt sẽ không phát huy được khả năng của các em Hơn nữa còn dẫn các em tới những cảm giác nhàm chán, không hứng thú với việc hình thành và tiếp thu kiến thức Dạy học theo góc là một phương pháp có thể giải đáp những khó khăn, vướng mắc trên Phương pháp này hoàn toàn phù hợp với đặc điểm phát triển trí tuệ của các em Giáo viên vận dụng được phương pháp này trong dạy học sẽ phát triển được khả năng tư duy trừu tượng, tư duy lí luận một cách độc lập ở các em
Đặc điểm của hoạt động học tập của học sinh THPT cũng có những khác biệt với học sinh THCS.Hoạt động học tập của học sinh THPT đòi hỏi tính tích cực, năng động cao, đòi hỏi sự phát triển mạnh của tư duy lý luận.Ở học sinh THPT hình thành hứng thú học tập liên quan đến xu hướng nghề nghiệp.Hứng thú học tập được thúc đẩy, bồi dưỡng bởi động cơ mang ý nghĩa thực tiễn, sau đó mới đến ý nghĩa xã hội của môn học
Trang 30Qua đặc điểm trên, ta thấy rằng, phương pháp học tập theo lối truyền thống, “đổ” và “ rót” kiến thức cho học sinh dường như đã không còn phù hợp với phong cách học của các em học sinh thời hiện đại ngày nay Các em năng động, tích cực hơn rất nhiều Vì vậy phương pháp giảng chép, ghi nhớ
đã không còn thích hợp nên người giáo viên cần áp dụng một phương pháp dạy học theo lối hiện đại để kích thích hứng thú học tập của các em
Đặc thù mang tính quy luật trong sự phát triển tâm lí của học sinh lứa tuổi trung học gây ra những khó khăn nhất định cho giáo viên trong việc nhận diện, đánh giá để có tác động phù hợp đến học sinh.Điều này đòi hỏi phải có những cách thức phù hợp, khoa học, để có thể tìm hiểu học sinh một cách khách quan, đúng đắn
Cơ sở tâm lí học này đòi hỏi các nhà giáo dục cần giúp các em có thể phát huy hết năng lực độc lập suy nghĩ của mình, nhìn nhận và đánh giá các vấn đề một cách khách quan.Trong đó đổi mới phương pháp dạy học là một điều kiện tiên quyết
Như vậy phương pháp dạy học theo góc có cơ sở vững chắc từ đặc điểm tâm lý và hứng thú học tập của học sinh ở THPT
1.2.4 Cơ sở pháp lý trong sử dụng phương pháp dạy học theo góc trong dạy học hiện nay
Nhằm đáp ứng nhu thế hội nhập và phát triển của đất nước, ngành giáo dục và đào tạo đã nỗ lực đổi mới giáo dục nói chung và phương pháp học tập nói chung Như vậy việc sử dụng phương pháp dạy học theo góc có cơ sở pháp lý vững chắc vì nó phù hợp với yêu cầu và nguyên tắc của đổi mới giáo dục Điều 28.2 của Luật Giáo dục đã ghi: “Phương pháp giáo dục của trung học phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động sáng tạo của từng học sinh, phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học, bồi dưỡng
Trang 31phương pháp tự học, rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh.”
Phương pháp dạy học theo góc là một phương pháp học tập mới, hiện đại đang được nhiều nước trên thế giới áp dụng Phương pháp học tập này hoàn toàn phù hợp với mục tiêu của dạy học theo hướng hiện đại mà ngành giáo dục đã đề ra những năm gần đây Qua việc tìm hiểu và vận dụng phương pháp dạy học theo góc, các giáo viên áp dụng phương pháp này đã nhận thấy:
Phương pháp này đã tác động đến tình cảm đem lại niềm vui và hứng thú học tập cho các em đúng như luật giáo dục đã đề ra Việc áp dụng phương pháp dạy học theo góc đã làm cho các em không còn cảm giác nặng nề trong mỗi giờ học Ngữ Văn như trước đây nữa Phương pháp này đã “kéo” các em trở về với bộ môn mà bấy lâu nay các em cứ nghĩ là nhàn chán.Từ đó, các em mới có thể thưởng thức, chiêm ngưỡng, yêu thích các giá trị của Ngữ và Văn nước nhà
Không chỉ thế phương pháp dạy học theo góc còn phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động sáng tạo của từng học sinh, bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn như luật giáo dục đã
đề ra Dạy học theo góc bắt buộc mỗi cá nhân phải làm việc thì mới có thể hình thành được kiến thức Vì vậy các em không thể ỷ lại vào giáo viên hay tập thể Đồng thời trong quá trình làm việc ấy các em được rèn luyện luôn về
kĩ năng, vận dụng những kiến thức đã có vào giải quyết một tình huống thực tế.Bởi vậy nên phương pháp này có ích rất nhiều trong việc bồi dưỡng cho các
em khả năng tự học, tự giải quyết vấn đề của các em
1.2.5 Thực trạng việc sử dụng phương pháp dạy học theo góc trong dạy học môn Ngữ văn ở trường THPT
Phương pháp dạy học theo góc đã xuất hiện từ những năm cuối của thế
Trang 32ở trường THPT ở Việt Nam nói chung và TP Hồ Chí Minh nói riêng vẫn còn hạn chế Đặc biệt trong bộ môn Ngữ Văn, có rất ít giáo viên áp dụng được phương pháp dạy học theo góc này trong giảng dạy Một số phương pháp dạy học tích cực đã được triển khai như: Dạy học theo dự án, dạy học theo hợp đồng… Trong đó, phương pháp dạy học theo góc vẫn còn là một phương pháp mới còn lạ lẫm với nhiều giáo viên và học sinh Nhiều giáo viên chưa được phổ cập kiến thức về phương pháp mới này, hoặc khi đã được phổ cập biết đến lý thuyết chung về phương pháp nhưng trên thực tế vẫn chưa mạnh dạn áp dụng vào giảng dạy trên lớp Thực tế đó đã làm lãng phí đi một phương pháp dạy học mới có nhiều ưu điểm nhằm phát huy tính tích cực của học sinh.Bên cạnh yếu tố từ phía giáo viên thì yếu tố học sinh cũng làm cản trở nhiều trong việc áp dụng phương pháp mới này.Nhiều đối tượng học sinh còn quá yếu, khả năng tự tìm kiếm và lĩnh hội kiến thức còn hạn chế nên giáo viên chưa có điều kiện thuận lợi để áp dụng.Cuối cùng cũng phải kể đến yếu
tố về cơ sở vật chất ở các trường phổ thôngTP Hố Chí Minh là một thành phố lớn tuy nhiên không phải trường nào cũng có những cơ sở vật chất đầy đủ và phù hợp với đặc thù của bộ môn để áp dụng phương pháp mới này Chính vì vậy mà tuy phương pháp dạy học theo góc đã xuất hiện từ cuối thế kỉ XIX, đầu thế kỉ XX nhưng không được áp dụng lâu dần nó đã trở thành một thứ kho báu bị lớp bụi thời gian che lấp Chính vì những thực trạng trên nên người viết muốn khai thác hiệu quả của phương pháp học theo góc trong giảng dạy bộ môn Ngữ Văn Việc làm này giúp cho giáo viên có thể hình dung được một bài giảng Ngữ Văn dạy theo góc sẽ phải làm như thế nào để tránh những lúng túng, bỡ ngỡ khi áp dụng về sau Đồng thời việc áp dụng phương pháp phương pháp này còn làm tăng sự hứng thú của các em trong quá trình học tập, tiếp thu kiến thức
Trang 33Để có cơ sở đánh giá thực trạng dạy học theo góc ở trường THPT thành phố Hồ Chí Minh, chúng tôi đã đi sâu khảo sát, điều tra tình hình giáo viên ở
3 trường khác nhau trên địa bàn thành phố với phiếu điều tra Phiếu điều tra là
ba câu hỏi có tính chất trắc nghiệm, với những phương án trả lời khác nhau Sau quá trình điều tra chúng tôi thu được kết quả như sau:
Câu 1:
Trong dạy học Ngữ Văn, thầy cô đã áp dụng phương pháp nào sau đây
để phát huy tính tích cực của học sinh?
A Phương pháp phân tích ngôn ngữ
B Phương pháp rèn luyện theo mẫu
C Phương pháp giao tiếp
D Phương pháp dạy học theo dự án
E Phương pháp học theo góc
Bảng 1.1 Kết quả điều tra thực trạng áp dụng các phương pháp dạy học trong
dạy học Ngữ Văn ở trường THPT:
Số người
được hỏi
Phương án trả lời A
Phương án trả lời B
9 25%
8 22.22%
5 13.9%
3 8.3%
Phương pháp dạy học luôn là vấn đề thu hút sự quan tâm hàng đầu của ngành giáo dục nói chung và của giáo viên nói riêng Việc áp dụng các phương pháp dạy học sao cho phù hợp luôn là khâu mà giáo viên luôn gặp những khó khăn.Bảng điều tra trên đây đã cho ta thấy những kết quả cụ thể về vấn đề này Trên khảo sát 36 giáo viên của ba trường khác nhau trên địa bàn
Trang 34chọn nhiều nhất Sở dĩ như vậy là bởi, các bài học của sách giáo khoa hiện nay phần lớn đều được biên soạn theo hướng quy nạp Ở phân môn Tiếng Việt và Tập Làm Văn, đều từ các ngữ liệu đến khái quát các vấn đề lí thuyết.Còn ở phân môn Văn học, học sinh sẽ tiếp cận các trực tiếp các văn bản, từ đó hình thành những nhận thức liên quan đến văn bản.Vì vậy, người dạy không thể không phân tích các ngữ liệu.Phương pháp rèn luyện theo mẫu
và phương pháp giao tiếp cũng được sử dụng nhiều và gần như tương đương với nhau Có 9 người chọn phương án B và 8 người lựa chọn phương án C (chiếm tỉ lệ 25% và 22.22%) Vì đây là những phương pháp dạy học rất phổ biến và dễ áp dụng Phương pháp dạy học theo dự án là một trong những phương pháp mới nhưng cũng đã được áp dụng tuy không nhiều Có 5 giáo viên trong những người được hỏi đã sử dụng phương pháp này (chiếm tỉ lệ 8.3%).Các giáo viên đã áp dụng phương pháp này vì nó đã được phổ biến rất nhiều ở TP HCM Rất nhiều công trình nghiên cứu đã làm về đề tài sử dụng phương pháp dạy học dự án trong dạy học Ngữ Văn này Hơn nữa một số trường đã áp dụng và mời giáo viên các trường khác đến tham dự, học hỏi Tiêu biểu là trường Bùi Thị Xuân – Quận 1- TP HCM đã có dự án “Dạy văn
từ cuộc sống”thu hút nhiều giáo viên đến tham dự Trong số những phương pháp trên thì phương pháp dạy học theogóc là áp dụng ít nhất Chỉ có 5 giáo viên trong số những người được hỏi chọn phương án D Câu trả lời này phản ánh thực trạng việc sử dụng phương pháp học theo góc ở trường THPT hiện nay Sở dĩ chúng tôi có kết quả này vì các giáo viên chưa có cứ liệu cụ thể để
áp dụng phương pháp này Những người đã áp dụng được vì họ đã được trang
bị những kiến thức về phương pháp học theo góc qua chương trình tập huấn của nhà trường
Câu 2:Theo thầy (cô), hiệu quả của việc áp dụng phương pháp học theo góc
trong dạy học Ngữ Văn hiện nay là:
Trang 35A Không hấp dẫn với học sinh, khó dạy, khó học
B Bình thường
C Hấp dẫn, tạo được hứng thú cho học sinh, phát huy tính tích cực của học sinh
D Ý kiến khác
Bảng 1.2: Kết quả điều tra thái độ của giáo viên đối với việc áp dụng
phương pháp trong dạy học Ngữ Văn:
Số người
được hỏi
Phương án trả lời A
Phương án trả lời B
Phương án trả lời C
Phương án trả lời D
36
100%
3 8.33%
10 27.78%
19 52.78%
4 11.11%
Phiếu số 2 điều tra về nhận thức của giáo viên đối với hiệu quả sử dụng phương pháp học theo góc Chỉ có 3 người chọn phương án trả lờicho rằng phương pháp này ít hấp dẫn, ít tạo hứng thú cho người học, khó dạy và khó học vì chưa được tiếp cận với phương pháp này (chiếm tỉ lệ 8.33%) Số người chọn phương án B là 10 người(chiếm tỉ lệ 27.78%) và những người chọn ý kiến khác là 4 người (chiếm tỉ lệ 11.11%) Có đến 19 người chọn chọn phương án trả lời C (chiếm tỉ lệ 52.78%) Đây là tỉ lệ đánh giá khá cao Điều này là một tất yếu, phản ánh sự đổi mới phương pháp hoàn toàn phù hợp với nhu cầu giáo dục hiện đại nhằm phát huy tính tích cực, sáng tạo của học sinh
Câu 3: Theo các thầy (cô), những khó khăn khi áp dụng phương pháp
học tập theo góc trong dạy Ngữ Văn là:
A Số học sinh quá đông trong một lớp
B Thiếu thốn về cơ sở vật chất
C Khó khăn ở khâu chọn bài vận dụng
Trang 36Bảng 1.3:Kết quả điều tra nhận thức của giáo viên về những khó khăn khi áp
dụng phương pháp học theo góc:
Việc nhất thiết phải đổi mới phương pháp học tập là một điều tất yếu Song thực tế áp dụng phương pháp học theo góc ở thành phố Hồ Chí Minh vẫn còn là một vấn đề nan giải Những khó khăn nêu ra ở bảng điều tra trên
đã cho thấy điều đó Số người chọn phương án A và phương án B chiếm tỉ lệ gần ngang nhau (13.89% và 19.44%).Điều này cũng phản ánh đúng thực trạng của việc áp dụng phương pháp này Ở một thành phố lớn nhưng không phải các trường nào cũng đầu tư những cơ sở vật chất đầy đủ cho mỗi phòng học, nhiều trường chỉ có bảng, phấn theo lối truyền thống nên việc áp dụng phương pháp học theo góc càng trở nên xa vời Thêm vào đó, lượng học sinh đông, có lớp sĩ số lên tới 45 hoặc hơn 50 em thì vấn đề áp dụng phương pháp mới này càng khó khăn hơn Số người chọn phương án C khá cao, chiếm tỉ lệ 25%, điều này cũng hợp lí vì phương pháp mới này không phải là vạn năng, bài nào cũng có thể áp dụng được mà thành công của người áp dụng phương pháp là phải chọn cho được bài phù hợp Chọn được bài phù hợp là thành công đã đến một nửa Số người chọn phương án trả lời D là cao nhất (chiếm tỉ
lệ 41.67%) Điều này cho thấy việc vận dụng một phương pháp thành công là phải nhờ sự kết hợp của nhiều yếu tố khách quan khác nhau.Câu trả lời này khiến cho những người hoạch định chương trình mới và những nhà quản lí chuyên môn và quản lí cơ sở vật chất phải nắm bắt được thực tế này để tạo điều kiện cho các thầy (cô) áp dụng phương pháp
Số người
được hỏi
Trả lời phương án A
Trả lời phương án B
Trả lời phương án C
Trả lời phương án D
36
100%
5 13.89%
7 19.44%
9 25%
15 41.67%
Trang 37đã có những cuộc điều tra, khảo sát để nắm được tình hình sử dụng phương pháp dạy học theo góc và kết quả đã được phản ánh trong những thống kê Những số liệu thống kê đã giúp cho chúng tôi có những cơ sở cụ thể để đề xuất những giải pháp, khắc phục những hạn chế để đem lại hiệu quả cao cho việc sử dụng phương pháp dạy học theo góc ở trường THPT
Trang 38Chương 2
SỬ DỤNG PHƯƠNG PHÁP DẠYHỌC THEO GÓC
TRONG DẠY HỌC NGỮ VĂN
Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNGTP HỒ CHÍ MINH
2.1 Nội dung chương trình và đặc điểm kiến thức môn Ngữ văn ở Trung học phổ thông
Trong chương trình cũ (Chỉnh lý hợp nhất 2000), môn Văn gồm ba phân môn tồn tại độc lập là Văn học, Tiếng Việt và Làm văn.Tương ứng với mỗi phân môn là cuốn SGK riêng Nay theo chương trình mới, ba phân môn độc lập là Văn học (đọc hiểu văn bản, lí luận văn học và văn học sử); Tiếng Việt và Tập làm văn được tích hợp lại trong một môn học thống nhất mang tên Ngữ văn Sự thay đổi này thể hiện quan điểm giảm tải, tăng tính thực hành, tăng tính thực hành tích hợp trong nội bộ môn Ngữ văn PGS.TS Đỗ
Ngọc Thống cho rằng tên gọi là Ngữ văn vì cho rằng nó có thể bao quát
chung cho cả ngữ và văn Tuy nhiên Trong thực tế từ trước tới nay, dù các
văn bản chương trình có nhiều cách gọi như Văn học, Ngữ văn hay Văn học
và Tiếng Việt…thì nó vẫn thường được gọi tắt là môn Văn Và cho dù tên gọi
thế nào thì cấu trúc nội dung của môn học này vẫn là 3 phần: tiếng Việt, văn
học và làm văn Trong đó tiếng Việt là phần cung cấp những kiến thức công
cụ nền tảng để hình thành và phát triển năng lực đọc văn (Tiếp nhận văn bản)
và năng lực làm văn (tạo lập văn bản)
Nhìn một cách tổng quát, môn Ngữ Văn có những đặc điểm cơ bản sau đây:
Về mụctiêu môn học, chương trình Ngữ văn hiện hành nêu lên 03 mục tiêu, trong đó mục tiêu đầu tiên là “cung cấp cho HS những kiến thức phổ thông, cơ bản, hiện đại, có tính hệ thống về ngôn ngữ (trọng tâm là tiếng Việt)
Trang 39và văn học (trọng tâm là văn học Việt Nam), phù hợp với trình độ phát triển của lứa tuổi và yêu cầu đào tạo nguồn nhân lực trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” Mục tiêu thứ hai là hình thành và phát triển năng lực sử dụng tiếng Việt, tiếp nhận văn học, cảm thụ thẩm mĩ… Mục tiêu thứ
ba là bồi dưỡng tinh thần, tinh cảm như tình yêu tiếng Việt, yêu thiên nhiên, gia đình, lòng tự hào dân tộc…Có thể thấy rõ cấu trúc nội dung của mục tiêu môn học này gồm 3 yếu tố: kiến thức, năng lực (kĩ năng) và thái độ Đây chính là cấu trúc “kinh điển” của mục tiêu GD trong nhà trường PT từ trước đến nay
Tuy nhiên, so với yêu cầu và xu thế mới có thể thấy một số bất cập
trong cách xác định mục tiêu trên.Thứ nhất: việc cung cấp kiến thức được coi
là mục tiêu số một cho thấy chương trình tập trung nhấn mạnh kiến thức chứ
không phải kĩ năng, năng lực Thứ hai: các khái niệm “cơ bản, hiện đại” và nhất là “tính hệthống về ngôn ngữ và văn học”đã tạo điều kiện cho các tác giả
chương trình và sách giáo khoa nghiêng về trang bị các tri thức mang tính hàn lâm và xây xựng môn Ngữ văn trong nhà trường tương ứng với toàn bộ khoa
học Ngữ văn Kết quả là HS được học tất cả từ ngôn ngữ học, Việt ngữ học, lí
luận văn học, lịch sử văn học…trong đó có một số kiến thức quá cao sâu chưa
cần đối với HS phổ thông.Mục tiêu môn Ngữ văn sau 2015, cần điều chỉnh sự bất cập vừa nêu trên, theo hướng:
- Đề cao mục tiêu hình thành và phát triển năng lực ngữ văn, mà trước
hết là năng lực giao tiếp với việc sử dụng thành thạo 4 kĩ năng cơ bản: đọc,
viết, nghe, nói Sau đó mới là các kĩ năng khác…Cũng cần chú ý đến mục tiêu
giúp HS hình thành và phát triển các năng lực chung
- Việc lựa chọn kiến thức (văn học, tiếng Việt…) tất nhiên cần cơ bản,
hiện đại nhưng phải hướng tới phục vụ cho yêu cầu phát triển năng lực, tránh
Trang 40kinh viện, không thiết thực và không quá chú trọng tính hệ thống (hệ thống lịch sử văn học, hệ thống ngôn ngữ…)
- Vừa chú ý mục tiêu GD theo yêu cầu của xã hội; vừa quan tâm đến nhu cầu, sở thích của cá nhân người học và người dạy để xác định nội dung chương trình học tập (GV và HS mong đợi dạy và học những gì?) [36]
Về cấu trúc nội dung chương trình môn Ngữ văn có những đặc điểm sau:
Cấu trúc chương trình Ngữ văn hiện hành được thực hiện theo nguyên tắc tích hợp Với môn Tiếng Việt ở Tiểu học, chương trình tập trung vào hai
thành phần: kiến thức và kĩ năng, trong đó kiến thức gồm tiếng Việt và văn
học; kĩ năng gồm đọc, viết, nghe, nói Đến THCS và THPT chương trình lại
được cấu trúc theo ba phần: Tiếng Việt, Tập làm văn và Văn học Mỗi phần có
các nội dung riêng, theo hệ thống của mỗi phân môn khá độc lập… Cho nên nhiều nội dung rất khó tích hợp
Nhìn chung cấu trúc của CT và nhất là SGK Ngữ văn hiện hành vẫn chủ yếu lấy trục nội dung (Tiểu học theo hệ thống chủ đề, còn Trung học lấy lịch sử văn học) Thêm vào đó, do làm CT tách rời các cấp nên cấu trúc CT các cấp thiếu tính thống nhất; một số đơn vị kiến thức lặp lại, một số nội dung không cần thiết phải học cả 3 cấp, hoặc lặp lại không phát triển, nâng cao…Văn bản đọc hiểu còn nhiều, một số văn bản dài, chưa chọn lọc, thiếu hấp dẫn…
Có thể nói xây dựng CT và SGK Ngữ văn theo hướng tích hợp là đúng,
là một bước tiến trong việc phát triển CT, nhưng vẫn còn bất cập Chương trình Ngữ văn sau 2015 đòi hỏi nhiều vấn đề cần thay đổi, trước hết là xác định trục chính của CT Cấu trúc nội dung CT phải tập trung vào mục tiêu phát triển năng lực và vì thế trục chính của CT ngữ văn, như nhiều nước đã
làm phải là trục kĩ năng: đọc, viết, nghe, nói Việc trang bị kiến thức văn học