1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Thảo luận dân sự 2 lần 3

24 3,5K 47

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 24
Dung lượng 80,46 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Buổi thảo luận thứ ba: Vấn đề chung của hợp đồng Vấn đề 1: Hợp đồng vi phạm quy định về hình thức: Câu 1: Hợp đồng trong hai vụ việc trên có phải công chứng, chứng thực không? Nêu cơ sở pháp lý khi trả lời. Hợp đồng trong hai vụ trên phải có công chứng, chứng thực. Theo quy định của pháp luật hiện hành thì hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất (mua bán đất đai) bắt buộc phải công chứng hoặc chứng thực. Cơ sở pháp lý: + BLDS 2015 Điều 502: ‘‘Hình thức, thủ tục thực hiện hợp đồng về quyền sử dụng đất 1. Hợp đồng về quyền sử dụng đất phải được lập thành văn bản theo hình thức phù hợp với quy định của Bộ luật này, pháp luật về đất đai và quy định khác của pháp luật có liên quan. 2. Việc thực hiện hợp đồng về quyền sử dụng đất phải đúng trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật về đất đai và quy định khác của pháp luật có liên quan.’’ + Điểm a Khoản 3 Điều 167 Luật Đất đai 2013: ‘‘3. Việc công chứng, chứng thực hợp đồng, văn bản thực hiện các quyền của người sử dụng đất được thực hiện như sau: a) Hợp đồng chuyển nhượng, tặng cho, thế chấp, góp vốn bằng quyền sử dụng đất, quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất phải được công chứng hoặc chứng thực, trừ trường hợp kinh doanh bất động sản quy định tại điểm b khoản này.’’ Câu 2: Đoạn nào của các bản án cho thấy hợp đồng không được công chứng, chứng thực theo quy định? Bản án 41/ 2011 ngày 25/4/2011: Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất chưa được công chứng, chứng thực: ‘‘Về hình thức hợp đồng : Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Nguyễn Đức Diêu và ông Bùi Quang Ngọc được ký vào ngày 27/10/2017, mặc dù không đảm bảo về hình thức do không được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền xác nhận nhưng đến ngày 02/11/2009 (theo dấu công văn đến của Tòa án), ông Nguyễn Đức Thành mới có đơn khởi kiện đề ngày 29/10/2009 yêu cầu tòa án công bố hợp đồng vô hiệu là đã quá 2 năm kể từ ngày hợp đồng được xác lập. Vì vậy, đến thời điểm ông Thành khởi kiện, hợp đồng này không vô hiệu về hình thức.’’

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Trang 2

Buổi thảo luận thứ ba: Vấn đề chung của hợp đồng 3

41 có thuyết phục không? Vì sao ? 5

Câu 6 Theo BLDS, hệ quả pháp lý của việc hết thời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng vô hiệu về hình thức .6

Câu 7: Việc Toá án công nhận hợp đồng chuyển nhượng sau khi xác định có vi phạm quy định và hết thời hiệu yêu cầu Toá án tuyên bố hợp đồng vô hiệu có thuyết phục không? Vì sao? 6

Vấn đề 2: Đơn phương chấm dứt, hủy bỏ do không thực hiện đúng hợp đồng 7

Câu 1: Điểm giống nhau và khác nhau giữa hợp đồng vô hiệu và hủy bỏ hợp đồng

do có vi phạm .7

Câu 2: Theo Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long, hợp đồng vô hiệu hay bị hủy bỏ? 9

Câu 3: Suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết trên của Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long (về hủy bỏ hay vô hiệu hợp đồng) .9

Câu 4: Nếu Hợp đồng bị vô hiệu thì có áp dụng phạt vi phạm không ? Vì sao? 10

Câu 5 Hướng giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long đối với câu hỏi trên như thế nào và suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết này của Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long .10

Câu 6: Điểm giống nhau và khác nhau giữa đơn phương chấm dứt hợp đồng và huỷ bỏ hợp đồng do có vi phạm .11

Trang 3

Câu 7: Ông Minh có được quyền huỷ bỏ hợp đồng chuyển nhượng nêu trên

không? Vì sao? Nếu có, nêu rõ văn bản cho phép huỷ bỏ .11

Vấn đề 6: Đứng tên giùm mua bất động sản: 13

Câu 1: Theo văn bản và theo thực tiễn xét xử, Tòa án có tuyên bố vô hiệu hợp đồng mua bán nhà đất với ông Hải hay không? Nêu rõ cơ sở khi trả lời .13

Câu 2: Nếu bà Lâm vẫn không đủ điều kiện để đứng tên sở hữu nhà đất nêu trên

và chị Hồng muốn là chủ sở hữu của nhà đất này thì phải xử lí như thế nào? Nêu

rõ cơ sở khi trả lời .14

Câu 3: Nếu nay bà Lâm đủ điều kiện để đứng tên sở hữu nhà đất nêu trên thì Tòaán có được để bà Lâm đứng tên sở hữu nhà đất đó không? Nêu rõ CSPL khi trả lời 15

Câu 4: Câu trả lời cho câu hỏi trên có khác không khi chị Hồng cũng muốn đứng tên sở hữu nhà đất nêu trên? Nêu rõ cơ sở khi trả lời .15

Câu 5 Đối với khoản tiền chênh lệch giữa đầu tư và giá trị hiện tại của nhà đất cótranh chấp (1,4 tỷ đồng), Tòa án phải xử lý như thế nào, Tòa án có được tịch thu sung quỹ Nhà nước không? Nêu rõ cơ sở khi trả lời .16

Câu 6: Hướng giải quyết trên về tiền chênh lệch của Toà án nhân dân tối cao đã

có án lệ chưa? Nếu có, nêu án lệ đó .18

Câu 7: Suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết trên của Tòa án nhân dân tối cao 18

Vấn đề 4: Tìm Kiếm Tài Liệu 19

Câu 1: Liệt kê những bài viết liên quan đến pháp luật hợp đồng được công bố 19

trên các Tạp chí chuyên ngành Luật từ đầu năm 2015 đến nay Khi liệt kê, yêu cầu 19

viết theo trật tự theo tên tác giả và liệt kê phải thỏa mãn những thông tin theo trật

19

tự sau: 1) Họ và tên tác giả, 2) Tên bài viết in nghiêng, 3) Tên Tạp chí, 4) Số và năm 19

của Tạp chí, 5) Số trang của bài viết (ví dụ: từ tr 41 đến 51) .19

Câu 2 Cho biết làm thế nào để biết được những bài viết trên .21

Trang 4

Buổi thảo luận thứ ba: Vấn đề chung của hợp đồng

2 Việc thực hiện hợp đồng về quyền sử dụng đất phải đúng trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật về đất đai và quy định khác của pháp luật có liên quan.’’

+ Điểm a Khoản 3 Điều 167 Luật Đất đai 2013:

‘‘3 Việc công chứng, chứng thực hợp đồng, văn bản thực hiện các quyền của người

sử dụng đất được thực hiện như sau:

a) Hợp đồng chuyển nhượng, tặng cho, thế chấp, góp vốn bằng quyền sử dụng đất, quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất phải được công chứng hoặc chứng thực, trừ trường hợp kinh doanh bất động sản quy định tại điểm b khoản này.’’

Câu 2: Đoạn nào của các bản án cho thấy hợp đồng không được công chứng, chứng thực theo quy định?

Bản án 41/ 2011 ngày 25/4/2011: Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất chưađược công chứng, chứng thực:

‘‘Về hình thức hợp đồng : Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Nguyễn Đức Diêu và ông Bùi Quang Ngọc được ký vào ngày 27/10/2017, mặc dù không đảm bảo về hình thức do không được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền xác nhận nhưng đến ngày 02/11/2009 (theo dấu công văn đến của Tòa án), ông Nguyễn Đức Thành mới

có đơn khởi kiện đề ngày 29/10/2009 yêu cầu tòa án công bố hợp đồng vô hiệu là đã quá

2 năm kể từ ngày hợp đồng được xác lập Vì vậy, đến thời điểm ông Thành khởi kiện, hợp đồng này không vô hiệu về hình thức.’’

Bản án 189/2019 ngày 04/7/2019: Hợp đồng số 14 đã được công chứng, chứng thực:

Trang 5

+ ‘‘ Ông Kết xác nhận có việc mua đất của ông Trinh, bà Bé khoảng 10.000 m 2 , đã lập Hợp đồng chuyển nhượng Quyền sử dụng đất số 14 Quyển số 01TP/CC-SCC/HĐGD (Hợp đồng số 14) được Văn phòng Công chứng Huỳnh Thị Nào (VPCC) công chứng ngày 05/01/2018 và đang tiếp tục thực hiện thủ tục tách bộ sang tên theo quy định ’’ + ‘‘Do đó, VPCC đã công chứng Hợp đồng số 14.’’

Câu 3: Trong bản án số 189, đoạn nào của bản án cho thấy Tòa án công nhận hợp đồng không được công, chứng thực?

Đối với “Hợp đồng vay tài sản” và “Hợp đồng mua bán tài sản” có liên quan thì cóthể thấy tòa án đã công nhận hợp đồng không được công chứng chứng thực qua các đoạnsau:

“Xét thấy tại Khoản 2 Điều 129 BLDS 2015 có quy định: “Giao dịch dân sự đã được xác lập bằng văn bản nhưng vi phạm quy định bắt buộc về công chứng, chứng thực

mà một bên hoặc các bên đã thực hiện ít nhất hai phần ba nghĩa vụ trong giao dịch thì theo yêu cầu của một bên hoặc các bên, Tòa án ra quyết định công nhận hiệu lực của giao dịch đó Trong trường hợp này, các bên không phải thực hiện việc công chứng, chứng thực.” Đối chiếu quy định cho thấy chỉ cần các bên thực hiện ít nhất hai phần ba nghĩa vụ trong giao dichh theo yêu cầu của một hoặc các bên, Tòa án ra quyết định công nhận hiệu lực của giao dịch đó mà không cần phải thực hiện việc công chứng chứng thực.Như vậy, ông Kết, bà Trang với ông Trinh bà Bé đều đã thực hiện xong nghĩa vụ trong giao dịch chuyển nhượng QSDĐ với nhau (hơn hai phần ba) …”.

Đây là cách hiểu gián tiếp việc công nhận hợp đồng trên không được công chứng,chứng thực và khi thu thập tài liệu chứng cứ bên phía ông Tuấn, bà Tiên đã cung cấpchứng cứ (Giấy nhận nợ) để được Phòng kỹ thuật hình sự công an tỉnh An Giang giámđịnh lại phục vụ cho quá trình giải quyết vụ án

“Về quan hệ Hợp đồng mua bán tài sản và Hợp đồng vay tài sản giữa nguyên đơn và

bị đơn Nguyên đơn cung cấp Giấy nhận nợ đề nghị ngày 06/9/2017 được phong kỹ thuật hình sự công an tỉnh An Giang kết luận tại kết luận giám định số 883/KLGT-PC09 ngày 16/02/2019 khẳng định họ tên “Nguyễn Hữu Trinh” ghi trong giấy là ông Trinh viết ra thể hiện nội dung ông Trinh, bà Bé thừa nhận còn nợ vợ chồng ông Tuấn, bà Tiên số tiền là 336.030.000 đồng hứa đến ngày 15/09/2017 sẽ trả tiền đủ nhưng vẫn không trả nên yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ và phù hợp với quy định tại Điều

430, Điều 463 và Điều 466 tại BLDS 2015.”

Đối với “Hợp đồng chuyển nhượng Quyền sử dụng đất số 14 Quyển số SCC/HĐGĐ” giữa ông Nguyễn Hữu Trinh, bà Đào Thị Bé với ông Phan Văn Kết và bà

01TP/CC-Phạm Thị Thùy Trang được Văn phòng công chứng Huỳnh Thị Nào công chứng ngày05/01/2018,thì tòa án đã công nhận hợp đồng này được công chứng theo đúng quy định

Trang 6

của pháp luật, mặc dù chưa có hiệu lực pháp luật do chưa đăng ký tại cơ quan đăng ký đấtđai Thể hiện ở đoạn:

“Về yêu cầu công nhận Hợp đồng số 14 của ông Kết, bà Trang: Nhận thấy, ông Kết,

bà Trang với ông Trinh bà Bé đều đã thực hiện xong nghĩa vụ giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng đất với nhau, một bên đã trả đủ tiền và một bên đã giao đủ đất, đồng thời hợp đồng cũng được công chứng, chứng thực theo quy định”.

Câu 4: Trong bản án số 189, việc Tòa án công nhận hợp đồng không được công chứng chứng thực có thuyết phục không? Vì sao?

Trong bản án số 189, việc Tòa án công nhận Hợp đồng số 14 là thuyết phục vì Hợpđồng giữa Nguyên đơn và Bị đơn là một giao dịch dân sự và đã tuân thủ các điều kiện cóhiệu lực của giao dịch dân sự quy định tại Điều 117 BLDS 2015; các quy định của Luậtcông chứng theo lời khai của Văn phòng Công Chứng Huỳnh Thị Nào như đã được nêutrong phần “Nhận định của Tòa án” Bên cạnh đó, về điều kiện về hình thức thì Hợp đồng

số 14 đã được công chứng theo quy định của pháp luật tại khoản 2 Điều 119 Ngoài ra,Hợp đồng số 14 cũng không bị vô hiệu theo quy định tại các Điều 122, 123, 124, 125,

126, 127, 128, 129 BLDS 2015

Bên cạnh đó, hợp đồng sinh ra không để bị tuyên bố vô hiệu mà là để được thực hiệnnhằm đem lại cho các bên lợi ích mà các bên mong muốn khi xác lập hợp đồng Do đó,cần hạn chế tối đa việc tuyên bố hợp đồng vô hiệu, nhất là khi hợp đồng chỉ vi phạm quyđịnh về hình thức1 Các bên trong hợp đồng đã thực hiện hết các nghĩa vụ của mình, mộtbên đã trả tiền và một bên đã giao đủ đất Việc chưa ghi nhận tại cơ quan đăng ký đất đaithì việc chuyển nhượng chưa có hiệu lực pháp luật và các bên có thể tiến hành đăng ký tại

cơ quan có thẩm quyền để pháp lý hóa quyền sở hữu của mình và việc chưa có hiệu lựcpháp luật do chưa đăng ký tại cơ quan nhà nước này không đồng nghĩa với việc hợp đồng

vô hiệu

Chính bởi các lẽ trên, phán quyết của Tòa án là thuyết phục

Câu 5 Việc Tòa án xác định hợp đồng chuyển nhượng quyền vi phạm về hình thức

và hết thời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng vô hiệu trong bản án số 41 có thuyết phục không? Vì sao ?

Việc Tòa án xác định hợp đồng chuyển nhượng quyền vi phạm về hình thức và hếtthời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng vô hiệu trong bản án số 41 hoàn toàn thuyếtphục vì căn cứ theo quy định của pháp luật:

Thứ nhất, theo quy định tại điểm b khoản 3 Điều 167 Luật đất đai 2013 về hợp đồngchuyển nhượng quyền sử dụng đất phải có công chứng, chứng thực còn hợp đồng giữa

1 Đồ Văn Đại, Luật Hợp đồng Việt Nam-bản án và bình luận bản án, Nxb Hồng Đức-Hội Luật Gia Việt Nam, tr.865.

Trang 7

ông Nguyễn Đức Diêu và ông Bùi Quang Ngọc lại không có công chứng, chứng thực vìvậy hợp đồng đó đã vi phạm về hình thức giao kết hợp đồng quy định tại Khoản 2 Điều

117 BLDS 2015

Thứ hai, hợp đồng giữa ông Nguyễn Đức Diêu và ông Bùi Quang Ngọc được kí kếtngày 27/10/2007 nhưng đến ngày 02/11/2009 (theo dấu công văn của Tòa án), ôngNguyễn Đức Thành mới có đơn khởi kiện có nghĩa là thời điểm khởi kiện đã quá hạn hainăm kể từ ngày xác lập giao dịch Căn cứ theo điểm d khoản 1 Điều 132 BLDS 2015 thì

đã hết thời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu

Câu 6 Theo BLDS, hệ quả pháp lý của việc hết thời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng vô hiệu về hình thức.

Điều 132 BLDS 2015 Thời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu

1 Thời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu quy định tại các Điều

125, 126, 127, 128 và 129 của Bộ luật này là 02 năm, kể từ ngày:

a) Người đại diện của người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự biết hoặc phải biết người được đại diện tự mình xác lập, thực hiện giao dịch; b) Người bị nhầm lẫn, bị lừa dối biết hoặc phải biết giao dịch được xác lập do bị nhầm lẫn, do bị lừa dối;

c) Người có hành vi đe dọa, cưỡng ép chấm dứt hành vi đe dọa, cưỡng ép;

d) Người không nhận thức và làm chủ được hành vi của mình xác lập giao dịch; đ) Giao dịch dân sự được xác lập trong trường hợp giao dịch dân sự không tuân thủ quy định về hình thức.

2 Hết thời hiệu quy định tại khoản 1 Điều này mà không có yêu cầu tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu thì giao dịch dân sự có hiệu lực.

Như vậy, căn cứ theo Khoản 1 và Khoản 2 Điều 132 BLDS 2015 thời hiệu yêu cầuTòa án tuyên bố hợp đồng vô hiệu về hình thức là 2 năm kể từ ngày luật quy định nên khihết thời hiệu đó hệ quả pháp lý xảy ra là các bên trong hợp đồng sẽ không được quyềnyêu cầu Tòa án tuyên vô hiệu đối với hợp đồng vi phạm về hình thức đó

Câu 7: Việc Toá án công nhận hợp đồng chuyển nhượng sau khi xác định có vi phạm quy định và hết thời hiệu yêu cầu Toá án tuyên bố hợp đồng vô hiệu có thuyết phục không? Vì sao?

Việc Toà án công nhận hợp đồng chuyển nhượng sau khi xác định có vi phạm quyđịnh và hết thời hiệu yêu cầu Toà án tuyên bố hợp đồng vô hiệu là có thuyết phục, vì:Tại thời điểm xác lập Hợp đồng 14, tài sản giao dịch không bị cấm giao dịch của bất

kỳ cơ quan nhà nước có thẩm quyền nào, sau khi Hợp đồng được công chứng thì mới cóQuyết định ADBPKCTT số 01

Trang 8

Và ngoài ra, không có quy định của luật nào bắt buộc ông Kết và bà Trang phải tìmhiểu việc ông Trinh, bà Bé có hay không có nợ người thứ ba bất kỳ trước khi chuyểnnhượng.

Đồng thời ông Kết và bà Trang chỉ là quan hệ cùng xóm của ông Trinh, bà Bé và sốtiền mà ông Kết bà Trang bỏ ra thanh toán để nhận quyền chuyển nhượng trong đó cóhơn một nữa là phải trả cho ngân hàng để giải chấp các khoản vay nhận, do đó việc ôngTuấn cho rằng các bên chuyển nhượng nhằm mục đích tẩu tán tài sản là không có căn cứ.Mặt khác, VPCC còn xác nhận tại thời điểm các bên xác lập Hợp đồng chuyểnnhượng, VPCC đã có kiểm tra hồ sơ theo yêu cầu công chứng đều đảm bảo đầy đủ nộidung theo quy định tại Điều 117 BLDS 2015 và Luật công chứng, đồng thời không bịcấm giao dịch hoặc hạn chế quyền giao dịch của bất kỳ cơ quan nhà nước nào

Như vậy, Hợp đồng trên không vi phạm quy định về hình thức và cũng không có dấuhiệu vô hiệu tại các Điều 122, 123, 124, 125, 126, 127, 128, 129 BLDS 2015 mà chỉ làchưa đăng ký quyền sở hữu tại cơ quan có thẩm quyền, nhưng điều đó không đồng nghĩavới việc hợp đồng vô hiệu do đó việc Tòa án công nhận Hợp đồng chuyển nhượng quyền

sử dụng đất là hoàn toàn thuyết phục Bên cạnh đó, pháp luật đã đặt ra cho các bên tronghợp đồng một thời hạn 2 năm để có thể khởi kiện nếu quyền lợi của mình bị xâm phạm,hết thời hạn đó thì quyền của người đó cũng tự nhiên chấm dứt Do đó, việc Tòa án xácđịnh đã hết thời hạn khởi kiện yêu cầu Tòa án tuyên vô hiệu đối với hợp đồng trên làhoàn toàn hợp lý

Vấn đề 2: Đơn phương chấm dứt, hủy bỏ do không thực hiện đúng hợp đồng

Câu 1: Điểm giống nhau và khác nhau giữa hợp đồng vô hiệu và hủy bỏ hợp đồng

do có vi phạm

Giống nhau:

+ Đều là các hình thức chấm dứt hiệu lực của hợp đồng

+ Trách nhiệm hoàn trả (Hệ quả pháp lý): Các bên hoàn trả cho nhau tài sản đã nhận,nếu không hoàn trả được bằng hiện vật thì hoàn trả bằng tiền (Khoản 2 Điều 131 vàKhoản 2 Điều 427 BLDS 2015)

+ Việc giải quyết hậu quả liên quan đến quyền nhân thân: do Bộ luật này, luật khác

có liên quan quy định (Khoản 5 Điều 131 và Khoản 4 Điều 427 BLDS 2015)

+ Trách nhiệm bồi thường: Bên có lỗi/ bên kia gây thiệt hại thì phải bồi thường.(Khoản 4 Điều 131 và Khoản 3 Điều 427 BLDS 2015)

Khác nhau:

BLDS

2015

Hợp đồng vô hiệu Điều 407

Hủy bỏ hợp đồng do có vi phạm

Điều 423

Trang 9

- Hợp đồng vô hiệu do vi phạm một trong các

điều kiện để hợp đồng có hiệu lực qui định tại

Điều 117

- Hợp đồng vô hiệu do có đối tượng không thể

thực hiện được tại Điều 408

- Khoản 1 Điều 407: ‘‘Quy định về giao dịch

dân sự vô hiệu từ Điều 123 đến Điều 133 của Bộ

luật này cũng được áp dụng đối với hợp đồng vô

hiệu.’’ Suy ra:

+ Hợp đồng vô hiệu do vi phạm vi phạm điều

cấm của luật, trái đạo đức xã hội (Điều 123)

+ Hợp đồng vô hiệu do giả tạo (Điều 124)

+ Hợp đồng vô hiệu do người chưa thành niên,

người mất năng lực hành vi dân sự, người hạn

chế năng lực hành vi dân sự đã xác lập, thực hiện

(Điều 125)

+ Hợp đồng vô hiệu do nhầm lẫn (Điều 126)

+ Hợp đồng vô hiệu do bị lừa dối, đe dọa, cưỡng

- Khoản 1 Điều 423: Hợp đồngcũng có thể bị hủy bỏ do một bênyêu cầu

- Điều 424: Hủy bỏ hợp đồng dochậm thực hiện nghĩa vụ

- Điều 425: Hủy bỏ hợp đồng dokhông có khả năng thực hiện

- Điều 426: Hủy bỏ hợp đồngtrong trường hợp tài sản bị mất, bị

- Hợp đồng vô hiệu toàn bộ không có hiệu lực

nên không phát sinh quyền, nghĩa của vụ các

bên

- Hợp đồng vô hiệu từng phần thì phần nào

- Khoản 1 Điều 427:‘‘Khi hợp đồng bị hủy bỏ thì hợp đồng không có hiệu lực từ thời điểm giao kết, các bên không phải thực

Trang 10

không bị vô hiệu vẫn có hiệu lực, vẫn được giữ

nguyên và tiếp tục thực hiện (Điều 130)

hiện nghĩa vụ đã thỏa thuận, trừ thỏa thuận về phạt vi phạm, bồi thường thiệt hại và thỏa thuận về giải quyết tranh chấp.’’

Hệ

quả

pháp

Các bên khôi phục lại tình trạng ban đầu khi hợp

đồng vô hiệu (Khoản 2 Điều 131 BLDS 2015)

Khoản 1 Điều 427: Các bên phảithực hiện nghĩa vụ đã thỏa thuận

về giải quyết tranh chấp khi hủy

bỏ hợp đồng => Các bên cóquyền đòi lại lợi ích do việc đãthực hiện phần nghĩa vụ theo hợpđồng

Khoản 3 Điều 133: Bảo vệ quyền lợi của người

thứ ba ngay tình khi giao dịch dân sự (hợp đồng)

vô hiệu: ‘‘Chủ sở hữu yêu cầu chủ thể có lỗi

dẫn đến việc giao dịch được xác lập với người

thứ ba phải hoàn trả những chi phí hợp lý và bồi

thường thiệt hại.’’

Khoản 3 Điều 423: "Bên hủy bỏ hợp đồng phải thông báo ngay cho bên kia biết về việc hủy bỏ, nếu không thông báo mà gây thiệt hại thì phải bồi thường."

Trách

nhiệm

thông

báo

- Khoản 1 Điều 125: Theo yêu cầu của người đại

diện của người chưa thành niên, người mất năng

lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong

Trang 11

được xác lập tại các điều này các bên có quyền

yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng vô hiệu

- Điều 128: Người có năng lực HVDS nhưng xác

lập giao dịch vào thời điểm không nhận thức và

làm chủ được hành vi của mình thì có quyền yêu

cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng vô hiệu

Thẩm

quyền

quyết

định

Tòa án tuyên bố hợp đồng vô hiệu (Điều 132)

Hợp đồng bị hủy theo quyết định:+ Một trong các bên (Khoản 1Điều 423)

+ Tòa án hoặc Trọng tài (Điều429)

Câu 2: Theo Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long, hợp đồng vô hiệu hay bị hủy bỏ?

Theo Toà án nhân dân tỉnh Vĩnh Long hợp đồng vô hiệu

Tòa án nhận định: “Xét thấy hợp đồng mua bán xe ngày 26/5/2012 nêu trên là vô hiệu theo quy định tại các điều 122 của BLDS 2015 nên không có căn cứ tuyên hủy hợp đồng cũng không xét yêu cầu phạt vi phạm hợp đồng của nguyên đơn và bị đơn vì hợp đồng vô hiệu không làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên ngay từ thời điểm giao kết, không ràng buộc trách nhiệm các bên đã giao kết trong hợp đồng mà phải tuyên hợp đồng vô hiệu và xử lý hậu quả theo điều 131 của BLDS.”

Câu 3: Suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết trên của Tòa án nhân dân tỉnh

Vĩnh Long (về hủy bỏ hay vô hiệu hợp đồng).

Theo em, hướng giải quyết trên của Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long khi tuyên hợpđồng trên vô hiệu là hợp lý

Với hướng giải quyết của Toà, bà Dệt không phải là người đại diện cho công ty trangtrí nội thất Thành Thảo mà thực chất phải là ông Thành-giám đốc đại diện công tyTNHH-SX-TM Thành Thảo Tuy hợp đồng ghi tên ghi đại diện bên mua là bà Dệt nhưngkhi đứng ra giao dịch ký kết lại là ông Liêm là không đúng quy định của pháp luật tại

điểm a khoản 1 Điều 117 BLDS “Chủ thể có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành

vi dân sự phù hợp với giao dịch dân sự được xác lập;” Từ đó, ta thấy rằng đây là trường

hợp vi phạm về chủ thể, nên hợp đồng bị vô hiệu là hoàn toàn hợp lý và do đó các bênkhông phát sinh quyền và nghĩa vụ theo hợp đồng mà các bên đã kí kết

Trang 12

Câu 4: Nếu Hợp đồng bị vô hiệu thì có áp dụng phạt vi phạm không ? Vì sao?

Nếu Hợp đồng bị vô hiệu thì không áp dụng phạt vị phạm vì phạt vi phạm2 là mộtđiều khoản được các bên thỏa thuận trong hợp đồng, theo đó thì bên vi phạm phải trả mộtkhoản tiền phạt vi phạm cho bên bị vi phạm Từ góc độ văn bản, có thể rút ra được cáccăn cứ áp dụng phạt vi phạm như: 1) Hợp đồng phải có hiệu lực; 2) Chỉ áp dụng khi cóhành vi vi phạm hợp đồng; 3) Có thỏa thuận áp dụng phạt vi phạm3 Xét thấy, khi hợpđồng bị vô hiệu thì đã vi phạm ngay điều kiện áp dụng đầu tiên nêu trên, qua đó, các bên

sẽ không có bất cứ quyền và nghĩa vụ nào phát sinh từ hợp đồng vô hiệu đó Phạt viphạm là một điều khoản được thỏa thuận trong hợp đồng quy định về quyền của bên bị viphạm và nghĩa vụ của bên vi phạm Như vậy, khi hợp đồng vô hiệu cũng đồng nghĩa vớiviệc điều khoản phạt vi phạm trong Hợp đồng cũng bị vô hiệu Do đó, khi Hợp đồng vôhiệu thì không áp dụng phạt vi phạm

Câu 5 Hướng giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long đối với câu hỏi trên như thế nào và suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết này của Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long.

Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long cho rằng hợp đồng vô hiệu thì không áp dụng phạt

vi phạm hợp đồng

Cơ sở đoạn hai phần Nhận định của Tòa án:“ Xét hợp đồng mua bán xe ngày 26/5/2012 nêu trên là vô hiệu theo qui định tại các điều 122 của Bộ luật dân sự nên không có căn cứ tuyên hủy hợp đồng cũng không xét yêu cầu phạt vi phạm hợp đồng của

cả nguyên đơn và bị đơn vì hợp đồng vô hiệu không làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên ngay từ thời điểm giao kết”.

Hướng giải quyết trên của toà là hợp lý vì hợp đồng bị tuyên vô hiệu thì đương nhiênkhông ràng buộc trách nhiệm các bên đã giao kết trong hợp đồng theo khoản 1 Điều 131

BLDS 2015 “Giao dịch dân sự vô hiệu không làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền và

2 Điều 418 Thỏa thuận phạt vi phạm

1 Phạt vi phạm là sự thỏa thuận giữa các bên trong hợp đồng, theo đó bên vi phạm nghĩa vụ phải nộp một khoản tiền cho bên bị vi phạm.

2 Mức phạt vi phạm do các bên thỏa thuận, trừ trường hợp luật liên quan có quy định khác.

3 Các bên có thể thỏa thuận về việc bên vi phạm nghĩa vụ chỉ phải chịu phạt vi phạm mà không phải bồi thường thiệt hại hoặc vừa phải chịu phạt vi phạm và vừa phải bồi thường thiệt hại.

Trường hợp các bên có thỏa thuận về phạt vi phạm nhưng không thỏa thuận về việc vừa phải chịu phạt vi phạm và vừa phải bồi thường thiệt hại thì bên vi phạm nghĩa vụ chỉ phải chịu phạt vi phạm.

3 Lê Thị Diễm Phương, Sách tình huống Pháp luật hợp đồng và bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, Nxb.Hồng Đức-Hội Luật gia Việt Nam 2017, vấn đề 23.

Ngày đăng: 28/03/2020, 00:25

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w