1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Bài thảo luận dân sự 1 lần thứ hai

20 3,2K 24

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 20
Dung lượng 136,84 KB
File đính kèm Bài thảo luận dân sự 2.rar (129 KB)

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

bài thảo luận thứ hai (cá nhân) về giao dịch dân sựbao gồm bìa, mục lục, danh mục viết tắt, nội dung chính Vấn đề 1: NĂNG LỰC PHÁP LUẬT DÂN SỰ CỦA CHỦ THỂ TRONG XÁC LẬP GIAO DỊCH Vấn đề 2: GIAO DỊCH XÁC LẬP BỞI NGƯỜI KHÔNG CÓ KHẢ NĂNG NHẬN THỨC Vấn đề 3: GIAO DỊCH XÁC LẬP DO CÓ LỪA DỐI Vấn đề 4: HẬU QUẢ CỦA GIAO DỊCH DÂN SỰ VÔ HIỆU

Trang 1

KHOA LUẬT THƯƠNG MẠI

LỚP LUẬT THƯƠNG MẠI 44.A

BÀI THẢO LUẬN THỨ HAI

GIAO DỊCH DÂN SỰ

Bộ môn : Những quy định chung về luật dân sự

Họ và tên : NGUYỄN THỊ THANH HÂN MSSV : 1953801011057

Lớp : TM44A.2

Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 07 tháng 03 năm 2020

Trang 2

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

- BLDS: Bộ luật dân sự

- CNQSD: Chứng nhận quyền sử dụng

- TAND: Tòa án nhân dân

- UBND: Ủy ban nhân dân

Trang 3

MỤC LỤC

Vấn đề 1: NĂNG LỰC PHÁP LUẬT DÂN SỰ CỦA CHỦ THỂ TRONG XÁC LẬP GIAO DỊCH 1

1.1 So với BLDS năm 2005, BLDS năm 2015 có gì khác về điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự? Suy nghĩ của anh/chị về sự thay đổi trên 1 1.2 Đoạn nào của bản án trên cho thấy ông T và bà H không có quyền sở hữu nhà ở tại Việt Nam? 2 1.3 Đoạn nào của bản án trên cho thấy giao dịch của ông T và bà H với bà Đ

đã bị Tòa án tuyên bố vô hiệu? 3 1.4 Suy nghĩ của anh/chị (trong mối quan hệ với năng lực pháp luật của chủ thể) về căn cứ để Tòa án tuyên bố giao dịch trên vô hiệu? 3

Vấn đề 2: GIAO DỊCH XÁC LẬP BỞI NGƯỜI KHÔNG CÓ KHẢ NĂNG NHẬN THỨC 4

2.1 Những điểm mới của BLDS 2015 (so với BLDS 2005) về điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự và suy nghĩ của anh/chị về những điểm mới này 4 2.2 Từ thời điểm nào ông Hội thực chất không còn khả năng nhận thức và từ thời điểm nào ông Hội bị Tòa án tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự? 5 2.3 Giao dịch của ông Hội (với vợ là bà Hương) được xác lập trước hay sau khi ông Hội bị tuyên mất năng lực hành vi dân sự? 6 2.4 Theo Tòa án nhân dân tối cao, phần giao dịch của ông Hội có vô hiệu không? Vì sao? Trên cơ sở quy định nào? 6 2.5 Trong thực tiễn xét xử, có vụ việc nào giống hoàn cảnh của ông Hội không? Tòa án đã giải quyết theo hướng nào? Cho biết tóm tắt vụ việc mà anh chị biết 6 2.6 Suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết của Tòa án nhân dân tối cao trong vụ việc trên (liên quan đến giao dịch do ông Hội xác lập)? Nêu cơ sở pháp

lý khi đưa ra hướng xử lý 7 2.7 Nếu giao dịch có tranh chấp là giao dịch tặng cho ông Hội thì giao dịch đó

có bị vô hiệu không? Vì sao? 7

Vấn đề 3: GIAO DỊCH XÁC LẬP DO CÓ LỪA DỐI 8

3.1 Điều kiện để tuyên bố một giao dịch dân sự vô hiệu do có lừa dối theo BLDS 2005 và BLDS 2015 8 3.2 Đoạn nào của Quyết định số 521 cho thấy thỏa thuận hoán nhượng đã bị tuyên vô hiệu do có lừa dối? 8 3.3 Hướng giải quyết trên đã có tiền lệ chưa? Nếu có tiền lệ, nêu vắn tắt tiền lệ anh/chị biết 9

Trang 4

3.4 Hướng giải quyết trên có còn phù hợp với BLDS năm 2015 không? Vì sao?

………9

3.5 Trong Quyết định số 210, theo Tòa án, ai được yêu cầu và ai không được yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng có tranh chấp vô hiệu? 9 3.6 Trong Quyết định số 210, theo Tòa án, thời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng vô hiệu do lừa dối có còn không? Vì sao? 9 3.7 Trong trường hợp hết thời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng vô hiệu

do lừa dối, Tòa án có công nhận hợp đồng không? Vì sao? 10 3.8 Câu trả lời cho các câu hỏi trên có khác không nếu áp dụng các quy định tương ứng của BLDS 2015 vào tình tiết như trong Quyết định số 210? 10 3.9 Quay trở lại vụ việc trong phần nhầm lẫn, vì sao Tòa án tuyên hợp đồng vô hiệu do nhầm lẫn mà không tuyên hợp đồng vô hiệu do lừa dối? 10 3.10 Suy nghĩ của anh/chị về hướng tuyên nêu trên của Tòa án 10

Vấn đề 4: HẬU QUẢ CỦA GIAO DỊCH DÂN SỰ VÔ HIỆU 12

4.1 Giao dịch dân sự vô hiệu có làm phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa các bên

không? Nêu cơ sở pháp lý để trả lời 13 4.2 Trên cơ sở BLDS, khi xác định Hợp đồng dịch vụ vô hiệu thì Công ty Phú

Mỹ có phải thanh toán cho Công ty Orange phần giá trị tương ứng với khối lượng công việc mà Công ty Orange đã thực hiện không? Vì sao? 13 4.3 Hướng giải quyết của Hội đồng thẩm phán về khối lượng công việc mà Công ty Orange đã thực hiện như thế nào? 13 4.4 Suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết trên của Hội đồng thẩm phán liên quan tới khối lượng công việc mà Công ty Orange đã thực hiện khi xác định hợp đồng vô hiệu 13

4.5 Hướng xử lý của Hội đồng thẩm phán đối với khối lượng công việc mà

Công ty Orange đã thực hiện như thế nào khi xác định hợp đồng dịch vụ không

vô hiệu? Nội dung xử lý khác với trường hợp xác định hợp đồng dịch vụ vô hiệu như thế nào? Suy nghĩ của anh/chị về chủ đề này như thế nào? 14 4.6 Trong Quyết định số 75, vì sao Tòa dân sự Tòa án nhân dân tối cao xác định hợp đồng vô hiệu? 14 4.7 Suy nghĩ của anh/chị về việc Tòa dân sự Tòa án nhân dân tối cao xác định hợp đồng vô hiệu trong quyết định trên 14 4.8 Với thông tin trong Quyết định số 75 và pháp luật hiện hành, ông Sanh sẽ được bồi thường thiệt hại bao nhiêu? Vì sao? Nêu cơ sở pháp lý khi trả lời 14 4.9 Trong bản án số 133, Tòa án quyết định hủy giấy chứng nhận cấp cho anh Đậu và ghi nhận cho ông Văn, bà Tằm quyền liên hệ với cơ quan có thẩm quyền

để được cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có là hệ quả của giao dịch dân sự không? Vì sao? 15

Trang 6

Vấn đề 1: NĂNG LỰC PHÁP LUẬT DÂN SỰ CỦA CHỦ THỂ TRONG XÁC LẬP GIAO DỊCH

Tóm tắt Bản án số: 32/2018/DS-ST về “V/v Tranh chấp HĐCN Quyền sử dụng đất” của Toà án nhân dân tỉnhVĩnh Long:

Nguyên đơn là J Ph T (ông T) và A Th Ph (bà H) là hai người nước ngoài Bị đơn là

bà Đồng, người Việt Nam Năm 2004, vợ chồng nguyên đơn có mua đất của bị đơn

2 lần: ngày 31/5/2004, mua nền thổ cư 200m2, bị đơn đã lập giấy cho nền thổ cư cho nguyên đơn; ngày 02/06/2004, bị đơn làm giấy nhường đất thổ cư cho nguyên đơn (phần đất vườn diện tích 1.051,8m2) Bà Đồng đã làm giấy cam kết về việc chuyển nhượng nhà và đất cho nguyên đơn vào ngày 16/3/2011 Phía nguyên đơn khởi kiện

và yêu cầu bà Đồng phải trả toàn bộ phần đất và nhà như đã thỏa thuận, sau đó bên nguyên đơn thay đổi yêu cầu để bà Đồng trả lại giá trị nhà và đất là 550.000.000 đồng, phía bà Đồng chỉ đồng ý trả 350.000.000 đồng Trong phiên xét xử, Tòa án chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn

1.1 So với BLDS năm 2005, BLDS năm 2015 có gì khác về điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự? Suy nghĩ của anh/chị về sự thay đổi trên.

*BLDS 2005 quy định :

Điều 122 Điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự:

1 Giao dịch dân sự có hiệu lực khi có đủ các điều kiện sau đây:

a) Người tham gia giao dịch có năng lực hành vi dân sự;

b) Mục đích và nội dung của giao dịch không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội;

c) Người tham gia giao dịch hoàn toàn tự nguyện

2 Hình thức giao dịch dân sự là điều kiện có hiệu lực của giao dịch trong trường hợp pháp luật có quy định

*BLDS 2015 quy định:

Điều 117 Điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự:

1 Giao dịch dân sự có hiệu lực khi có đủ các điều kiện sau đây:

a) Chủ thể có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự phù hợp với giao dịch dân sự được xác lập;

b) Chủ thể tham gia giao dịch dân sự hoàn toàn tự nguyện;

c) Mục đích và nội dung của giao dịch dân sự không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội

2 Hình thức của giao dịch dân sự là điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự trong trường hợp luật có quy định

Trang 7

Như vậy, điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự trong Bộ luật dân sự 2015 có những điểm mới và tiến bộ hơn so với Bộ luật dân sự 2005:

- Thứ nhất, về điều kiện chủ thể xác lập giao dịch:

Điểm a khoản 1 Điều 122 BLDS 2005 quy định “Người tham gia giao dịch có năng

lực hành vi dân sự” còn ở BLDS 2015, tại điểm a khoản 1 Điều 117 đã thay

bằng “Chủ thể có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự phù hợp với giao dịch dân sự được xác lập” Như vây, Bộ luật dân sự 2015 không chỉ đề cập đến năng lực hành vi dân sự mà còn đề cập đến năng lực pháp luật của chủ thể Quy định như vậy chặt chẽ hơn so với Bộ luật dân sự 2005 vì có những trường hợp năng lực pháp luật của chủ thể có thể bị hạn chế do đó không thể mặc nhiên cho rằng mọi chủ thể đều có năng lực pháp luật như nhau khi xác lập giao dịch dân sự

- Thứ hai, Bộ luật dân sự 2015 quy định cụ thể về năng lực hành vi dân sự của chủ thể khi tham gia giao dịch dân sự Trong BLDS 2005, chủ thể chỉ cần có năng lực hành vi dân sự thì đã xác lập được giao dịch, nhưng BLDS 2015 quy định thêm “năng lực hành vi dân sự này phải phù hợp với giao dịch dân sự đã xác lập”

Sự thay đổi này là phù hợp vì trên thực tế có rất nhiều loại giao dịch dân sự khác nhau và mỗi giao dịch cụ thể lại liên quan đến năng lực hành vi dân sự cụ thể của chủ thể Pháp luật quy định người không có năng lực hành vi dân sự thì không được xác lập giao dịch dân sự, người có năng lực hành vi dân sự nhưng không đầy đủ có thể thực hiện một số giao dịch nhất định (thường là giao dịch nhằm phục vụ nhu cầu sinh hoạt hằng ngày), người có năng lực hành vi dân sự được xác lập mọi giao dịch dân sự Như vậy, tùy vào từng giao dịch dân sự cụ thể mà điều kiện về năng lực của chủ thể cũng có sự khác nhau (hợp lý và chặt chẽ hơn so với quy định của Bộ luật dân sự 2005)

- Thứ ba, về điều cấm của luật, ở điểm b khoản 1 Điều 122 BLDS 2005 quy định: “Mục đích và nội dung của giao dịch không vi phạm điều cấm của pháp luật,

không trái đạo đức xã hội”, còn điểm b khoản 1 Điều 117 BLDS 2015 thay “pháp

luật” thành “luật” Việc thay đổi này nhằm làm hẹp lại điều cấm mà cá nhân có thể mắc phải

- Thứ tư, về hình thức của giao dịch dân sự, ở khoản 2 Điều 122 BLDS 2005 quy định: “Hình thức của giao dịch dân sự là điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự trong trường hợp pháp luật có quy định” còn ở khoản 2 Điều 117 BLDS 2015 đã

đổi “pháp luật” thành “luật”.

=>Điểm mới của BLDS 2015 so với BLDS 2005 về điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự đã thể hiện tư duy tiến bộ, mới mẻ của các nhà làm luật

1.2 Đoạn nào của bản án trên cho thấy ông T và bà H không có quyền sở hữu nhà ở tại Việt Nam?

Ông T và bà H là người Việt Nam ở nước ngoài đã nhập quốc tịch Mỹ thì theo quy định Luật đất đai 2003 và Điều 121 của Luật nhà ở năm 2005 thì người Việt Nam

2

Trang 8

định cư ở nước ngoài được quyền sở hữu nhà ở Việt Nam khi thỏa mãn các điều kiện sau: “Người Việt Nam định cư ở nước ngoài về đầu tư lâu dài tại Việt Nam, người có công đóng góp với đất nước, nhà hoạt động văn hóa, nhà khoa học có nhu cầu về hoạt động thường xuyên tại Việt Nam nhằm phục vụ sự nghiệp xây dựng đất nước, người được phép về sống ổn định tại Việt Nam và các đối tượng khác do Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định được sở hữu nhà ở tại Việt Nam”, “Người Việt Nam định cư ở nước ngoài không thuộc diện quy định này đã về Việt Nam cư trú với thời hạn được phép từ sáu tháng trở lên được sở hữu một nhà ở riêng lẻ hoặc một căn hộ” do đó ông T và bà H không được quyền sở hữu quyền sử dụng đất ở nông thôn và đất trồng cây lâu năm tại Việt Nam

1.3 Đoạn nào của bản án trên cho thấy giao dịch của ông T và bà H với bà Đ

đã bị Tòa án tuyên bố vô hiệu?

Đoạn của bản án trên cho thấy giao dịch của ông T và bà H với bà Đ đã bị Tòa án tuyên bố vô hiệu: Vô hiệu giấy cho nền thổ cư ngày 31/05/2004, giấy nhường đất thổ cư ngày 02/06/2004, giấy cam kết ngày 16/03/2004 mà các bên đã xác lập do vi phạm điều cấm của pháp luật

1.4 Suy nghĩ của anh/chị (trong mối quan hệ với năng lực pháp luật của chủ thể) về căn cứ để Tòa án tuyên bố giao dịch trên vô hiệu?

Năng lực chủ thể bao gồm năng lực pháp luật và năng lực hành vi Ông T, bà H là người nước ngoài nên năng lực pháp luật sẽ khác so với bà Đồng (công dân Việt Nam) Với Điều 5 Luật đất đai 2013 có thể thấy: người nước ngoài không có quyền

sở hữu về nhà ở nên không được phép mua bán nhà ở tại Việt Nam, trừ trường hợp quy định tại Điều 125 Luật nhà ở 2014 Nên giao dịch trên, Tòa án tuyên bố vô hiệu

là hợp lý

Trang 9

Vấn đề 2: GIAO DỊCH XÁC LẬP BỞI NGƯỜI KHÔNG CÓ KHẢ NĂNG NHẬN THỨC

Tóm tắt Quyết định Giám đốc thẩm số: 329/2013/DS-GĐT ngày 25/7/2013 về: “Vụ

án Tranh chấp hợp đồng mua bán nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất” của Tòa dân sự Tòa án nhân dân tối cao:

Chị Ánh (nguyên đơn) có cha là ông Hội, mẹ là bà Hương (bị đơn) Cha mẹ chị có một ngôi nhà gắn liền với quyền sử dụng 167,3m2 đất Năm 2007, ông Hội bị tai biến nằm liệt một chỗ không nhận thức được Ngày 08/02/2010, bà Hương đã bán căn nhà và diện tích đất như trên cho vợ chồng ông Hùng Ngày 10/08/2010, Tòa án tuyên bố cha chị Ánh mất năng lực hành vi dân sự Ngày 7/3/2011, Chị Ánh khởi kiện yêu cầu Tòa án hủy hợp đồng mua bán giữa cha mẹ chị với vợ chồng ông Hùng Tòa án cấp sơ thẩm hủy toàn bộ hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất còn Tòa án cấp phúc thẩm công nhận toàn bộ hợp đồng mua bán nhà gắn liền quyền

sử dụng đất Xét thấy sai sót, Tòa án nhân dân tối cao hủy cả 2 bản án sơ thẩm và phúc thẩm nêu trên để giao hồ sơ vụ án về TAND thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên xét xử lại

2.1 Những điểm mới của BLDS 2015 (so với BLDS 2005) về điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự và suy nghĩ của anh/chị về những điểm mới này.

*BLDS 2005 quy định :

Điều 122 Điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự:

1 Giao dịch dân sự có hiệu lực khi có đủ các điều kiện sau đây:

a) Người tham gia giao dịch có năng lực hành vi dân sự;

b) Mục đích và nội dung của giao dịch không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội;

c) Người tham gia giao dịch hoàn toàn tự nguyện

2 Hình thức giao dịch dân sự là điều kiện có hiệu lực của giao dịch trong trường hợp pháp luật có quy định

*BLDS 2015 quy định:

Điều 117 Điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự:

1 Giao dịch dân sự có hiệu lực khi có đủ các điều kiện sau đây:

a) Chủ thể có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự phù hợp với giao dịch dân sự được xác lập;

b) Chủ thể tham gia giao dịch dân sự hoàn toàn tự nguyện;

c) Mục đích và nội dung của giao dịch dân sự không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội

2 Hình thức của giao dịch dân sự là điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự trong trường hợp luật có quy định

4

Trang 10

Như vậy, điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự trong Bộ luật dân sự 2015 có những điểm mới và tiến bộ hơn so với Bộ luật dân sự 2005:

- Thứ nhất, về điều kiện chủ thể xác lập giao dịch:

Điểm a khoản 1 Điều 122 BLDS 2005 quy định “Người tham gia giao dịch có năng

lực hành vi dân sự” còn ở BLDS 2015, tại điểm a khoản 1 Điều 117 đã thay

bằng “Chủ thể có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự phù hợp với giao dịch dân sự được xác lập” Như vây, Bộ luật dân sự 2015 không chỉ đề cập đến năng lực hành vi dân sự mà còn đề cập đến năng lực pháp luật của chủ thể Quy định như vậy chặt chẽ hơn so với Bộ luật dân sự 2005 vì có những trường hợp năng lực pháp luật của chủ thể có thể bị hạn chế do đó không thể mặc nhiên cho rằng mọi chủ thể đều có năng lực pháp luật như nhau khi xác lập giao dịch dân sự

- Thứ hai, Bộ luật dân sự 2015 quy định cụ thể về năng lực hành vi dân sự của chủ thể khi tham gia giao dịch dân sự Trong BLDS 2005, chủ thể chỉ cần có năng lực hành vi dân sự thì đã xác lập được giao dịch, nhưng BLDS 2015 quy định thêm “năng lực hành vi dân sự này phải phù hợp với giao dịch dân sự đã xác lập”

Sự thay đổi này là phù hợp vì trên thực tế có rất nhiều loại giao dịch dân sự khác nhau và mỗi giao dịch cụ thể lại liên quan đến năng lực hành vi dân sự cụ thể của chủ thể Pháp luật quy định người không có năng lực hành vi dân sự thì không được xác lập giao dịch dân sự, người có năng lực hành vi dân sự nhưng không đầy đủ có thể thực hiện một số giao dịch nhất định (thường là giao dịch nhằm phục vụ nhu cầu sinh hoạt hằng ngày), người có năng lực hành vi dân sự được xác lập mọi giao dịch dân sự Như vậy, tùy vào từng giao dịch dân sự cụ thể mà điều kiện về năng lực của chủ thể cũng có sự khác nhau (hợp lý và chặt chẽ hơn so với quy định của Bộ luật dân sự 2005)

- Thứ ba, về điều cấm của luật, ở điểm b khoản 1 Điều 122 BLDS 2005 quy

định: “Mục đích và nội dung của giao dịch không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội”, còn điểm b khoản 1 Điều 117 BLDS 2015 thay “pháp

luật” thành “luật” Việc thay đổi này nhằm làm hẹp lại điều cấm mà cá nhân có thể mắc phải

- Thứ tư, về hình thức của giao dịch dân sự, ở khoản 2 Điều 122 BLDS 2005 quy định: “Hình thức của giao dịch dân sự là điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự trong trường hợp pháp luật có quy định” còn ở khoản 2 Điều 117 BLDS 2015 đã đổi “pháp luật” thành “luật”

=>Điểm mới của BLDS 2015 so với BLDS 2005 về điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự đã thể hiện tư duy tiến bộ, mới mẻ của các nhà làm luật

2.2 Từ thời điểm nào ông Hội thực chất không còn khả năng nhận thức và từ thời điểm nào ông Hội bị Tòa án tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự?

- Năm 2007, ông Hội bị tai biến nằm liệt một chỗ không nhận thức được

- Ngày 07/05/2010, ông Hội bị Tòa án tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự

Ngày đăng: 09/03/2020, 14:43

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w