1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Thảo luận dân sự buổi 5

14 2,8K 90

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 14
Dung lượng 36,11 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thảo luận dân sự buổi 5 quy định chung về thừa kế. Bao gồm di sản thừa kế, nghĩa vụ của người để lại di sản, thời hiệu trong lĩnh vực thừa kế và tìm kiếm tài liệu. Ngày 2442013, tại trụ sở Tòa án nhân dân tối cao mở phiên tòa xét xử giám đốc thẩm vụ án dân sự “Tranh chấp về thừa kế tài sản” giữa nguyên đơn là các con cụ Thái Tri và bị đơn là các con, cháu cụ Thái Thuần Hy. Vụ việc cụ thể như sau, cố Thái Anh và cố Nguyễn Thị Liêng tạo lập được hai tài sản ở hai nơi khác nhau là nhà 122 Nguyễn Hùng Sơn và nhà số 5 Hoàng Hoa Thám. Khi còn sống, đối với nhà số 5 Hoàng Hoa Thám hai cố đã cho cụ Thái Tri sử dụng. Cụ Tri đã hoàn thành thủ tục đứng tên chủ sở hữu từ 951967. Đối với căn nhà 122 Nguyễn Hùng Sơn là nơi vợ chồng cụ Hy (trai trưởng) ở cùng hai cố, nuôi dưỡng vợ chồng cố An (anh ruột cố Anh) và nuôi em là cụ Lượng bị bệnh tâm thần. Sau khi hai cố chết và không để lại di chúc, tại nhà số 122 Nguyễn Hùng Sơn, cụ Hy phá nhà chính xây dựng nhà mới nên trên đất chỉ còn lại nhà phụ của hai cố. Nên các đồng nguyên đơn, tức các con cụ Thái Tri khởi kiện yêu cầu chia thừa kế di sản của ông, bà nội là giá trị quyền sử dụng đất, giá trị nhà phụ, không yêu cầu chia giá trị nhà chính. Cuối cùng, Hội đồng giám đốc thẩm đưa ra quyết định giữu nguyên bản án dân sự phúc thẩm, tức xác định cố Thái Anh, cố Nguyễn Thị Liêng đã chia cho cụ Thái Tri căn nhà số 5 Hoàng Hoa Thám, chia cho cụ Thái Thuần Hy căn nhà 122 Nhuyễn Hùng Sơn; từ đó bác bỏ yêu cầu chia thừa kế của các nguyên đơn (là các con cụ Thái Tri).

Trang 1

VẤN ĐỀ 1: DI SẢN THỪA KẾ

Tóm tắt quyết định 30/2013/DS-GĐT ngày 24/4/2013 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao:

Ngày 24/4/2013, tại trụ sở Tòa án nhân dân tối cao mở phiên tòa xét xử giám đốc thẩm vụ án dân sự “Tranh chấp về thừa kế tài sản” giữa nguyên đơn là các con cụ Thái Tri

và bị đơn là các con, cháu cụ Thái Thuần Hy Vụ việc cụ thể như sau, cố Thái Anh và cố Nguyễn Thị Liêng tạo lập được hai tài sản ở hai nơi khác nhau là nhà 122 Nguyễn Hùng Sơn và nhà số 5 Hoàng Hoa Thám Khi còn sống, đối với nhà số 5 Hoàng Hoa Thám hai cố

đã cho cụ Thái Tri sử dụng Cụ Tri đã hoàn thành thủ tục đứng tên chủ sở hữu từ 9/5/1967 Đối với căn nhà 122 Nguyễn Hùng Sơn là nơi vợ chồng cụ Hy (trai trưởng) ở cùng hai cố, nuôi dưỡng vợ chồng cố An (anh ruột cố Anh) và nuôi em là cụ Lượng bị bệnh tâm thần Sau khi hai cố chết và không để lại di chúc, tại nhà số 122 Nguyễn Hùng Sơn, cụ Hy phá nhà chính xây dựng nhà mới nên trên đất chỉ còn lại nhà phụ của hai cố Nên các đồng nguyên đơn, tức các con cụ Thái Tri khởi kiện yêu cầu chia thừa kế di sản của ông, bà nội là giá trị quyền sử dụng đất, giá trị nhà phụ, không yêu cầu chia giá trị nhà chính Cuối cùng, Hội đồng giám đốc thẩm đưa ra quyết định giữu nguyên bản án dân sự phúc thẩm, tức xác định cố Thái Anh, cố Nguyễn Thị Liêng đã chia cho cụ Thái Tri căn nhà số 5 Hoàng Hoa Thám, chia cho cụ Thái Thuần Hy căn nhà 122 Nhuyễn Hùng Sơn; từ đó bác bỏ yêu cầu chia thừa kế của các nguyên đơn (là các con cụ Thái Tri)

Câu 1: Di sản là gì và có bao gồm cả nghĩa vụ của người quá cố không? Nêu cơ

sở pháp lý khi trả lời.

Trả lời:

“Hiện nay chúng ta chưa có quy định cho biết di sản là gì mà chỉ có quy định cho biết di sản bao gồm nhũng gì Theo Thông tư 81/TL-TANDTC ngày 24-7-1981 của Tòa án

nhân dân tối cao: “Di sản thừa kế bao gồm các tài sản thuộc quyền sở hữu của người để thừa kế (…), các quyền về tài sản (…) Các nghĩa vụ về tài sản của người để thừa kế phát sing theo quan hệ hợp đồng do việc gây thiệt hại hoặc do quy định của cơ quan có thẩm quyền” Như vậy, Thông tư quy định theo hướng nghĩa vụ tài sản do người chết để lại là

một bộ phận của di sản Tương tự, theo Thông tư số 594-NCPL ngày 27-8-1986 của Tòa án

nhân dân tối cao: “Di sản thừa kế bao gồm không những quyền sở hữu cá nhân về những tài sản mà người mất đó để lại, mà còn gổm cả những quyền tài sản và nghĩa vụ tài sản phát sinh do quan hệ hợp đồng hoặc do việc gây thiệt hại mà người chết để lại” Đến Pháp

lệnh thừa kế nghĩa vụ tài sản do người chết để lại không còn là một bộ phận của di sản nữa

và theo Điều 634 BLDS 2005: “Di sản bao gồm tài sản riêng của người chết, phần tài sản của người chết trong tài sản chung với người khác” (quy định này đã tồn tại trong BLDS

1995 tại khoản 1 Điều 637) Trong quá trình sửa đổi BLDS 2015, cũng có quan điểm cho rằng cần đưa nghĩa vụ tài sản của người chết vào di sản nhưng ý kiến này không được chấp

nhận và quy định trên được giữ lại tại Điều 612 BLDS 2015 theo đó “Di bao gồm tài sản riêng của chết, phần tài sản của người chết trong tài sản chung với người khác”.

Trang 2

Với quy định trên, di sản tồn tại khi người chết để lại tài sản và khi tài sản này là của người chêt.”

(Đỗ Văn Đại- Luật thừa kế Việt Nam-Bản án và bình luận bản án, Nxb.Hồng

Đức-Hội Luật gia Việt Nam 2019 (xuất bản lần thứ tư), Bản án số 4-7, trang 52)

Câu 2: Khi tài sản do người quá cố để lại ở thời điểm mở thừa kế bị thay thế bởi một tài sản mới sau đó thì tài sản mới có là di sản không? Vì sao?

Trả lời:

Đối với những di sản bị thay thế, xuất hiện sau thời điểm mở thừa kế BLDS các năm không có quy định nào về vấn đề tài sản thay thế có được xem là di sản hay không “Thực tiễn, tài sản thay thế di sản là “di sản thừa kế” Hướng giải quyết này chưa quy định trong văn bản nhưng rất thuyết phục (án lệ của Pháp cũng giải quyết theo hướng này và ngày nay

án lệ này đã được luật hóa tại Điều 815-10 Bộ luật Dân sự Pháp) và được áp dụng đối với trường hợp di sản được thay thế bằng một khoản tiền như tiền đền bù (đây là hướng giải quyết của Bản án số 98/2006/DSPT ngày 20-1-2006 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh), tiền bảo hiểm tài sản được bảo hiểm…Thực tế con cho thấy khi di sản bị bán cho người khác, Tòa án nhân dân tối cao cũng giải quyết theo hướng tiền từ việc bán (chuyển nhượng) là di sản (Quyết định số 02/2011 ngày 23-02-2011 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao) và, trong trường hợp Tòa án đã giao di sản cho một người không được hưởng (và bản án đã có hiệu lực pháp luật), người được giao sở hữu tài sản phải thanh toán giá trị tài sản và giá trị này cũng được chia di sản (Quyết định số 141/DS-GĐT ngày 19-3-2012 của Tòa dân sự Tòa án nhân tối cao) Tương tự như vậy khi Tòa án quyết định bán đấu giá di sản và di sản đã được bán hợp pháp cho người khác (Quyết định số 31/2014/DS-GĐT ngày 10-07-2014 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao giải quyết theo hướng vừa nêu) hay Tòa án giao di sản cho cho một người thừa kế và người thừa

kế chuyển nhượng di sản cho người khác nhưng sau đó quyết định giao di sản bị hủy thì di sản được chuyển thành tiền và người nhận tiền phải chia cho những người thừa kế tiền đã nhận (Hướng giải quyết tại Quyết định số 03/2011/ DS-GĐT ngày 23-2-2011 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; Quyết định số 129/2011/DS-GĐT ngày 22-2-2012 của Tòa dân sự Tòa án nhân dân tối cao)

(Đỗ Văn Đại- Luật thừa kế Việt Nam-Bản án và bình luận bản án, Nxb.Hồng

Đức-Hội Luật gia Việt Nam 2019 (xuất bản lần thứ tư), Bản án số 8-10, trang 113)

Câu 3: Trong Quyết định số 30, theo Viện kiểm sát, 02 tài sản tranh chấp có là

di sản của cố Thái Anh và cố Liêng không? Vì sao?

Trả lời:

Điều 612 BLDS 2015 quy định về di sản, theo đó “Di bao gồm tài sản riêng của chết, phần tài sản của người chết trong tài sản chung với người khác”.

Trong Quyết định số 30, Viện kiểm sát nhận định 2 tài sản tranh chấp gồm: căn nhà số 5 Hoàng Hoa Thám và căn nhà số 122 Nguyễn Hùng Sơn, trong đó chỉ có căn nhà 122

Trang 3

Tại Quyết định số 100/QĐ-KNGĐT –V5 ngày 16/8/2011 được trích trong Quyết định số 30, Viện kiểm sát nhận định: “Sinh thời cố Thái Anh và cố Nguyễn Thị Liêng có tài sản là căn nhà số 5 Hoàng Hoa Thám (…), căn nhà 122 Nguyễn Hùng Sơn (…) căn nhà số 5 Hoàng Hoa Thám các bên đều thừa nhận Cố Anh đã cho cụ Tri và không tranh chấp, nên tòa án không xem xét là đúng” Cụ Tri đứng tên là chủ sở hữu từ năm 1967, do vậy, căn nhà

số 05 Hoàng Hoa Thám không phải là di sản của cố Thái Anh và cố Liêng

Còn đối với căn nhà số 122 Nguyễn Hùng Sơn thì Viện kiểm sát cho rằng đây là di sản của hai cố vì: “Theo bằng khoán điền thổ số 320 ngày 25/6/1935 thì cố Thái Anh là chủ

sở hữu, hồ sơ vụ án không có bất cứ tài liệu nào xác định cố Thái Anh đã chuyển sở hữu căn nhà cho cụ Hy Đến thời điểm cố Thái Anh và cố Liêng chết thì nhà đất chưa chuyển dịch sang tên cho ai” Vì vậy căn nhà số 122 Nguyễn Hùng Sơn là tài sản của hai cố và sau khi hai cố mất hai căn nhà là di sản của hai cố

Câu 4: Suy nghĩ của anh/chị về hướng quyết định trên của Viện kiểm sát.

Trả lời:

Hướng giải quyết trên của Viện kiểm sát chưa hoàn toàn thỏa đáng

Đối với nhận định về căn nhà số 5 Hoàng Hoa Thám không phải là di sản của cố Thái Anh và cố Nguyễn Thị Liêng là hợp lý, có căn cứ pháp luật Vì: khi còn sống, hai cố Thái Anh và Nguyễn Thị Liêng đã chia cho cụ Thái Tri căn nhà số 5 Hoàng Hoa Thám, và

cụ Thái Tri đã hoàn thành thủ tục đứng tên là chủ sở hữu từ năm 1967 Điều này được các bên thừa nhận và không tranh chấp Như thế, căn nhà số 5 Hoàng Hoa Thám được Viện kiểm sát xác định không phải di sản là thỏa đáng

Tuy nhiên, hướng xác định của Viện kiểm sát về việc căn nhà số 122 Nguyễn Hùng Sơn là di sản của cố Thái Anh và cố Nguyễn Thị Liêng là chưa hợp lý Nếu theo hướng nhận định của Viện Kiểm sát thì có nghĩa là người con cùng sống với cha mẹ bị thiệt thòi:

do họ không được cha mẹ tạo dựng tài sản khi còn sống và phần tài sản cuối cùng cha mẹ để lại phải chia thừa kế cho các đồng thừa kế (dù các thừa kế đã được cha mẹ tạo dựng tài sản riêng lúc còn sống) Xét về “lý” hướng giải quyết của Viện Kiểm Sát cũng như Tòa sơ thẩm

là phù hợp, có cơ sở Vì trong hồ sơ vụ án không có bất cứ tài liệu nào xác định cố Thái Anh

đã chuyển sở hữu căn nhà cho cụ Hy, đến thời điểm hai cố chết thì nhà đất chưa chuyển sang tên cho ai Nhưng xét về “tình” liệu hướng giải quyết này co thỏa đáng? Cụ Hy đã có công bảo quản, gìn giữ di sản, đồng thời nuôi cố Liếng, cố Thái Anh, cụ Lượng bị khiếm khuyết về mặt thể chất và có công sức trong việc thờ cúng tổ tiên Bên cạnh đó, khi cụ Hy phá nhà cũ của hai cố, xây dựng nhà mới thì cụ Thái Tri còn sống nhưng không phản đối, điều này chứng tỏ cụ Thái Tri tôn trọng định đoạt của cha mẹ, thừa nhận căn nhà số 122 Nguyễn Hùng Sơn được sở hữu bởi cụ Hy

Do đó, ta có thể xác định mặc dù hai cố chết không để lại di chúc nhưng di sản của hai cố vẫn có thể được chia theo thỏa thuận giữa các đồng thừa kế theo quy định tại Điểm a

Tiểu mục 2.4 Mục 2 Phần I Nghị quyết 02/2004/NQHĐTP của HĐTP TANDTC: “Trường hợp không có di chúc mà các đồng thừa kế thảo thuận về phần mỗi người được hưởng khi

Trang 4

có nhu cầu chia tài sản, thì việc chia tài sản chung đó được thực hiện theo thoả thuận của họ”.

Câu 5: Trong Quyết định số 30, theo Hội đồng thẩm phán, 02 tài sản tranh chấp

có là di sản của cố Thái Anh và cố Liêng không? Vì sao?

Trả lời:

Trong Quyết định số 30, theo Hội đồng thẩm phán, 02 tài sản tranh chấp gồm căn nhà số 5 Hoàng Hoa Thám và căn nhà số 122 Nguyễn Hùng Sơn đều không phải là di sản của cố Thái Anh và cố Liêng

Ghi nhận tại đoạn cuối phần Xét thấy của Quyết định: “Như vậy, căn cứ các tài liệu trên có cơ sở xác định vợ chồng cố Thái Anh cố Nguyễn Thị Liêng tạo lập được 2 căn nhà,

cụ Thái Tri là con thứ nên hai cố cho căn nhà số 5 Hoàng Hoa Thám (nhỏ hơn); còn căn nhà

122 Nguyễn Hùng Sơn (lớn hơn) thì hai cố dành cho cụ Thái Thuần Hy vì cụ Hy là con trai trưởng, ở cùng và có công chăm sóc hai cố, chăm sóc bác ruột và em ruột là cụ Lượng bị bệnh tâm thần và còn có trách nhiệm thờ cúng tổ tiên sau này Thực tế, khi cụ Thái Thuần

Hy phá nhà cũ của hai cố, xây dựng nhà mới thì cụ Thái Tri còn sống nhưng không phản đối, điều này chứng tỏ cụ Thái Tri tôn trọng định đoạt của cha mẹ Do đó, Tòa án cấp phúc thẩm xác định cố Thái Anh, cố Nguyễn Thị Liêng đã chia cho cụ Thái Tri căn nhà số 5 Hoàng Hoa Thám, chia cho cụ Thái Thuần Hy căn nhà 122 Nguyễn Hùng Sơn; từ đó bác yêu cầu chia thừa kế của các nguyên đơn (là con cụ Thái Tri) là có căn cứ Vì vậy, kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao cho rằng nhà 122 Nguyễn Hùng Sơn vẫn là di sản của cố Thái Anh và cố Nguyễn Thị Liêng là không có cơ sở.”

Câu 6: Suy nghĩ của anh/chị về hướng quyết định trên của Hội đồng thẩm phán.

Trả lời:

Xét về “lý” hướng giải quyết của Hội đồng thẩm phán có chút bất ổn vì vốn không có bất cứ tài liệu nào xác định cố Anh đã chuyển sở hữu căn nhà cho cụ Hy Tuy nhiên xét về

“tình” đây là giải pháp hoàn toàn thuyết phục Giải pháp này tôn trọng ý chí chí của người quá cố và một phần là sự công bằng cho người sống chung và nuôi cha mẹ Đây cũng là hướng giải quyết của Tòa trong Quyết định số 27/2007/DS-GĐT Tòa dân sự Tòa án nhân dân tối cao

Trong phần bình luận án của mình PGS.TS.Đỗ Văn Đại cũng đổng tình với quan điễm của Hội đồng thẩm phán:

“Hội đồng thẩm phán đã theo hướng tài sản không còn là di sản của cụ Thái Anh và

cụ Liêng nữa nên không thể chấp nhận yêu cầu chia di sản Thực vậy, căn cứ các tài liệu trên có căn cứ xác định vợ chồng cụ Thái Anh và cụ Liêng đã cho cụ Tri là con trai thứ hai căn nhà số 5 Hoàng Hoa Tám; còn căn nhà 122 Nguyễn Hùng Sơn (lớn hơn) thì cho cụ Hy

vì cụ Hy là con trưởng và nuôi dưỡng hai cụ lúc về già Theo đó, Tòa án phúc thẩm bác yêu cầu chia thừa kế chia thừa kế của các nguyên đơn là có căn cứ

Trang 5

Xét về “lý” hướng giải quyết nếu trên là chưa ổn như đã nêu nhưng xét về “tình” thì đây là hướng giải quyết thuyết phục, cần được chấp nhận và phát triển.”

(Đỗ Văn Đại- Luật thừa kế Việt Nam-Bản án và bình luận bản án, Nxb.Hồng

Đức-Hội Luật gia Việt Nam 2019 (xuất bản lần thứ tư), Bản án số 4-7)

Nội dung Án lệ số 16/2017/AL về công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất là di sản thừa kế do một trong các đồng thừa kế chuyển nhượng:

Ông Phùng Văn N và bà Phùng Thị G có 06 người con chung là chị Phùng Thị H1, chị Phùng Thị N1, chị Phùng Thị H2, anh Phùng Văn T, chị Phùng Thị P, chị Phùng Thị N2 Ngày 07-7-1984 ông Phùng Văn N chết không để lại di chúc, bà Phùng Thị G và anh Phùng Văn T quản lý và sử dụng nhà đất trên Năm 1991, bà Phùng Thị G chuyển nhượng cho ông Phùng Văn K diện tích 131m2 trong tổng diện tích 398m2 của thửa đất trên; phần diện tích đất còn lại của thửa đất là 267,4m2 Năm 1999 bà Phùng Thị G đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, diện tích 267,4m2, bà Phùng Thị G cùng vợ chồng anh Phùng Văn T vẫn quản lý sử dụng nhà đất này Việc bà Phùng Thị G chuyển nhượng đất cho ông Phùng Văn K các con bà Phùng Thị G đều biết, nhưng không ai có ý kiến phản đối

gì, các con của bà Phùng Thị G có lời khai bà Phùng Thị G bán đất để lo cuộc sống của bà

và các con Nay ông Phùng Văn K cũng đã được cơ quan nhà nước cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất Ngày 19-12-2010 bà Phùng Thị G chết, trước khi chết bà đã để lại di chúc lập ngày 05-3-2009 có nội dung để lại cho chị Phùng Thị H1 (con gái bà Phùng Thị G) diện tích 90m2 đất trong tổng diện tích 267m2đất trên, di chúc có chứng thực của Ủy ban nhân dân phường M ngày 7-3-2009 Nay các nguyên đơn yêu cầu Tòa án giải quyết phân chia di sản thừa kế theo di chúc bà Phùng Thị G để lại cho chị Phùng Thị H1 là 90m2, phần còn lại là 177m2 đề nghị chia theo pháp luật Cuối cùng, Tòa án ra quyết định bà Phùng Thị

G chỉ có quyền định đoạt 1/2 diện tích đất trong tổng diện tích 267m2 đất chung của vợ chồng bà Do đó, phần di sản của bà Phùng Thị G để lại là 1/2 khối tài sản (133,5m2) được chia theo di chúc cho chị Phùng Thị H1 (con gái bà Phùng Thị G) là 90m2, còn lại là 43,5m2 được chia cho 5 kỷ phần còn lại Đối với 1/2 diện tích đất trong tổng diện tích 267m2 đất chung của vợ chồng là phần di sản của ông Phùng Văn N để lại nay đã hết thời hiệu chia thừa kế nên phần diện tích đất này ai đang quản lý, sử dụng thì được tiếp tục quản

lý, sử dụng

Câu 7: Ở Án lệ số 16/2017/AL, trong diện tích 398 m 2 đất, phần di sản của Phùng Văn N là bao nhiêu? Vì sao?

Trả lời:

Theo nhận định của Tòa án thì diện tích 398m2 đất là tài sản chung của vợ chồng ông

N và bà G Năm 1991 bà G chuyền nhượng cho ông K 131 m2 đất nhằm trả nợ và nuôi gia đình Căn cứ vào khoản 2 Điều 33 Luật hôn nhân gia đình 2014 về tài sản chung của vợ chổng thì phần đất chuyển nhượng trên được xem như là tài sản chung:

“2 Tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất, được dùng để bảo đảm nhu cầu của gia đình, thực hiện nghĩa vụ chung của vợ chồng.”

Trang 6

Như vậy, tài sản chung của vợ chồng ông N và bà G lúc này còn 267 m2 Phần di sản của ông N là một nửa diện tích 267 m2 đất chung của vợ chồng ông và bà G, tức là 133,5 m2

Các văn bản pháp luật hiện nay không quy định rõ phần của vợ/ chồng trong khối tài sản chung Theo khoản 2 Điều 59 Luật hôn nhân gia đình 2014, tài sản chung của vợ chông được chia đôi, tức là mỗi người được 1/2 khối tài sản chung nhưng nếu có chứng cứ chứng minh có sự đóng góp khác nhau thì phần mỗi người không nhất thiết là ngang nhau

“…2 Tài sản chung của vợ chồng được chia đôi nhưng có tính đến các yếu tố sau đây:

a) Hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng;

b) Công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung Lao động của vợ, chồng trong gia đình được coi như lao động có thu nhập;

c) Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp

để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập;

d) Lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng.”

Tuy nhiên, quy định này quy định trong trường hợp vợ chồng ly hôn Một điều luật khác cũng ghi nhận về vấn đề phân chia tài sản chung của vợ chồng là: khoản 2 Điều 66 Luật hôn nhân và gia đình 2014 quy định về giải quyết tài sản vợ chồng khi một bên chết:

“…2 Khi có yêu cầu về chia di sản thì tài sản chung của vợ chồng được chia đôi, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận về chế độ tài sản Phần tài sản của vợ, chồng chết hoặc bị Tòa án tuyên bố là đã chết được chia theo quy định của pháp luật về thừa kế…”

Như vậy, phần diện tích đất của ông N sẽ là 133.5 m2 Mặc dù ông N chết và phần diện tích 267 m2 được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên bà G (phần đất chỉ còn 267 m2 là vì bà đã chuyển nhượng cho ông Phùng Văn K vào năm 1991 một phần diện tích đất trên là 131 m2 và năm 1999 bà mới được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất) nhưng phần đất được hình thành trong thời kỳ hôn nhân, là tài sản chung của vợ chồng Cho nên phần di sản của ông N sẽ được tính là ½ tổng diện tích đất chung của vợ chồng ông và

bà G theo Điều 612 BLDS 2015:

“Di sản bao gồm tài sản riêng của người chết, phần tài sản của người chết trong tài sản chung với người khác”.

Câu 8: Theo án lệ trên, phần diện tích đất đã chuyển nhượng cho ông K có phải

là di sản để chia không? Vì sao?

Trả lời:

Theo án lệ trên, phần diện tích đất đã chuyển nhượng cho ông K không phải là di sản

để chia Vì bà Phùng Thị G đã chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho ông Phùng Văn K và ông K cũng đã được cơ quan nhà nước cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất Việc bà Phùng Thị G chuyển nhượng đất cho ông Phùng Văn K các con bà Phùng Thị G đều biết,

Trang 7

nhưng không ai có ý kiến phản đối gì Vì vậy có cơ sở để xác định các con bà Phùng Thị G

đã đồng ý để bà Phùng Thị G chuyển nhượng diện tích 131m2 nêu trên cho ông Phùng Văn

K Phần diện tích đất này đã thuộc quyền sử dụng của ông K nên không phải là di sản đề chia thừa kế của gia đình bà Phùng Thị G

Câu 9: Suy nghĩ của anh chị về hướng giải quyết của Án lệ trên.

Trả lời:

Hướng giải quyết của Án lệ khi quyết định không đưa 131 m2 đất đã bán cho ông K vào phần di sản của ông N là hợp lý Như đã phân tích ở trên, bà G chuyển nhượng đất nhằm đảm bảo cuộc sống cho gia đình Mặc khác, theo Điều 651 BLDS 2015 quy định về người thừa kế theo pháp luật thì cả bà G và 6 người con đều thuộc hàng thừa kế thứ nhất, đồng thời những người thừa kế cùng hàng sẽ được hưởng phần di sản bằng nhau Trong trường hợp bà G chuyển nhượng 131 m2 đất cho ông K phải được sự đồng ý của tất cả các đồng thừa kế Trên thực tế, các đồng thừa kế đã biết việc chuyển nhượng và không có ý kiến phản đối Nên có thể xem hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng 131 m2 đất của bà G cho ông K là hoàn toàn hợp pháp Căn cứ theo Điều 223 BLDS 2015 về căn cứ xác lập quyền sở hữu theo hợp đồng, ông K có quyền sở hữu tài sản trong hợp đồng là 131 m2 đất

Điều 651 Người thừa kế theo pháp luật

“1 Những người thừa kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự sau đây:

a) Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;

2 Những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau.”

Điều 223 Xác lập quyền sở hữu theo hợp đồng

“Người được giao tài sản thông qua hợp đồng mua bán, tặng cho, trao đổi, cho vay hoặc hợp đồng chuyển quyền sở hữu khác theo quy định của pháp luật thì có quyền sở hữu tài sản đó.”

Câu 10: Nếu bà Phùng Thị G bán đất trên không để lo cuộc sống của các con mà dùng chỗ tiền đó cho cá nhân bà Phùng Thị G thì số tiền đó có được coi là di sản để chia không? Vì sao?

Trả lời:

Nếu việc bán đất trên mà không để lo cho cuộc sống của các con mà dùng tiền đó cho

cá nhân thì số tiền đó không được xem là tài sản chung vợ chồng Căn cứ vào khoản 2 Điều

33 Luật hôn nhân gia đình 2014 về tài sản chung của vợ chổng thì phần đất chuyển nhượng trên được xem như là tài sản riêng:

“2 Tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất, được dùng để bảo đảm nhu cầu của gia đình, thực hiện nghĩa vụ chung của vợ chồng.”

Trang 8

Như vậy, khi chia di sản phần đất đã chuyển nhượng sẽ không được tính vào tài sản chung của vợ chồng Tài sản của ông N là 199 m2 đất trong 398 m2 đất, bà G sẽ có 68 m2 đất trong 398 m2 đất (do bà G đã chuyển nhượng 131 m2 đất cho ông K) Căn cứ Điều 612

BLDS 2015: “Di sản bao gồm tài sản riêng của người chết, phần tài sản của người chết trong tài sản chung với người khác.” Phần tài sản của ông N được xem là di sản để chia là

199 m2 đất

Câu 11: Ở thời điểm bà Phùng Thị G chết, di sản của bà Phùng Thị G trong diện tích đất trên là bao nhiêu? Vì sao?

Trả lời:

Ở thời điểm bà Phùng Thị G chết, di sản của bà Phùng Thị G trong diện tích đất trên

là 133,5 m2 Theo khoản 2 Điều 66 Luật hôn nhân và gia đình 2014 quy định về giải quyết tài sản vợ chồng khi một bên chết:

“…2 Khi có yêu cầu về chia di sản thì tài sản chung của vợ chồng được chia đôi, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận về chế độ tài sản Phần tài sản của vợ, chồng chết hoặc bị Tòa án tuyên bố là đã chết được chia theo quy định của pháp luật về thừa kế…”

Diện tích 267m2 đất đứng tên bà Phùng Thị G, nhưng được hình thành trong thời gian hôn nhân nên phải được xác định là tài sản chung của vợ chồng ông Phùng Văn N và

bà Phùng Thị G chưa chia Bà Phùng Thị G chỉ có quyền định đoạt 1/2 diện tích đất trong tổng diện tích 267m2 đất chung của vợ chồng bà Do đó, phần di sản của bà Phùng Thị G để lại là 1/2 khối tài sản (133,5m2)

Câu 12: Việc Toà án xác định phần còn lại của di sản của bà Phùng Thị G là 43,5m 2 có thuyết phục không? Vì sao? Đây có là nội dung của án lệ số 16 không? Vì sao?

Trả lời:

Việc Tòa án xác định phần còn lại của di sản của bà Phùng Thị G là 43,5m2 là chưa thuyết phục

Căn cứ Điều 651 BLDS 2015 quy định về chia thừa kế:

“1 Những người thừa kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự sau đây:

a) Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;

2 Những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau.”

Theo đó, di sản mà ông N để lại sẽ chia đều cho 7 người bao gồm: bà G và 6 người con Phần di sản của ông N là ½ của diện tích 267m2 đất còn lại (sau khi trừ bỏ 131m2 mà bà

đã bán cho ông Phùng Văn K) tức là 133,5 m2 đất, khi chia thừa kế mỗi người sẽ được hưởng 19.07 m2 đất Do đó tổng diện tích đất mà bà G sở hữu sau khi nhận thừa kế là

Trang 9

152,57 m2, theo di chúc bà G để cho chị H1 là 90m2 đất thì phần đất còn lại của di sản phải

là 62,57 m2 đất

Đây không phải là nội dung của Án lệ số 16 vì nội dung Án lệ số 16/2017/AL là công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất là di sản thừa kế do một trong các đồng thừa kế chuyển nhượng Hay nói cách khác án lệ thừa nhận hợp đồng chuyển nhượngdiện tích 131m2 đất mà bà Phùng Thị G đã bán cho ông Phùng Văn K là hợp pháp

và không còn thuộc phần di sản thừa kế còn lại phải chia

Câu 13: Việc Tòa án quyết định “còn lại là 43.5m 2 được chia cho 5 kỷ phần còn lại” có thuyết phục không? Vì sao? Đây có là nội dung của án lệ số 16 không? Vì sao?

Trả lời:

Việc Tòa án quyết định “còn lại là 43.5m2 được chia cho 5 kỷ phần còn lại” không thuyết phục Vì vốn dĩ phần di sản còn lại của bà G không phải là 43,5 m2 mả còn lại là 62,57 m2 đất Do đó, việc Tòa quyết định như trên là không thuyết

Đây không là nội dung của án lệ số 16 Vì nội dung của án lệ được quy định nằm tại đoạn 2 phần “Nhận định của Tòa án”:

“[2] Năm 1991, bà Phùng Thị G chuyển nhượng cho ông Phùng Văn K diện tích 131m 2 trong tổng diện tích 398m 2 của thửa đất trên; phần diện tích đất còn lại của thửa đất

là 267,4m 2 Năm 1999 bà Phùng Thị G đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, diện tích 267,4m 2 , bà Phùng Thị G cùng vợ chồng anh Phùng Văn T vẫn quản lý sử dụng nhà đất này Việc bà Phùng Thị G chuyển nhượng đất cho ông Phùng Văn K các con bà Phùng Thị G đều biết, nhưng không ai có ý kiến phản đối gì, các con của bà Phùng Thị G

có lời khai bà Phùng Thị G bán đất để lo cuộc sống của bà và các con Nay ông Phùng Văn

K cũng đã được cơ quan nhà nước cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất Vì vậy, có cơ

sở để xác định các con bà Phùng Thị G đã đồng ý để bà Phùng Thị G chuyển nhượng diện tích 131m 2 nêu trên cho ông Phùng Văn K Tòa án cấp phúc thẩm không đưa diện tích đất

bà Phùng Thị G đã bán cho ông Phùng Văn K vào khối tài sản để chia là có căn cứ Tòa án cấp sơ thẩm xác định di sản là tổng diện tích đất 398m 2 (bao gồm cả phần đất đã bán cho ông Phùng Văn K) để chia là không đúng.”

VẤN ĐỀ 2: NGHĨA VỤ TÀI SẢN CỦA NGƯỜI ĐỂ LẠI DI SẢN.

Câu 1: Theo BLDS, nghĩa vụ nào của người quá cố sẽ đương nhiên chấm dứt và những nghĩa vụ nào của người quá cố sẽ không đương nhiên chấm dứt? Nêu cơ sở pháp lý khi trả lời

Trả lời:

Theo BLDS, nghĩa vụ mang tính nhân thân của người quá cố đương nhiên chấm dứt Căn cứ vào Khoản 8, Điều 374, BLDS 2005 quy định về Căn cứ chấm dứt nghĩa vụ dân sự:

“8 Bên có nghĩa vụ là cá nhân chết hoặc là pháp nhân, chủ thể khác chấm dứt mà nghĩa vụ phải do chính cá nhân, pháp nhân, chủ thể đó thực hiện;”

Trang 10

Theo BLDS, nghĩa vụ về tài sản của người quá cố thì không đương nhiên chấm dứt Căn cứ vào Điều 637, BLDS 2005 quy định về Thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại:

“1 Những người hưởng thừa kế có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ tài sản trong phạm vi di sản do người chết để lại, trừ trường hợp có thoả thuận khác

2 Trong trường hợp di sản chưa được chia thì nghĩa vụ tài sản do người chết để lại được người quản lý di sản thực hiện theo thoả thuận của những người thừa kế

3 Trong trường hợp di sản đã được chia thì mỗi người thừa kế thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại tương ứng nhưng không vượt quá phần tài sản mà mình đã nhận, trừ trường hợp có thoả thuận khác

4 Trong trường hợp Nhà nước, cơ quan, tổ chức hưởng di sản theo di chúc thì cũng phải thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại như người thừa kế là cá nhân.”

Câu 2: Theo BLDS, ai là người phải thực hiện nghĩa vụ về tài sản của người quá cố? Nêu cơ sở pháp lý khi trả lời.

Trả lời:

Căn cứ vào Điều 637, BLDS 2005 về Thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại

thì: “1 Những người hưởng thừa kế có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ tài sản trong phạm

vi di sản do người chết để lại, trừ trường hợp có thoả thuận khác

2 Trong trường hợp di sản chưa được chia thì nghĩa vụ tài sản do người chết để lại được người quản lý di sản thực hiện theo thoả thuận của những người thừa kế

3 Trong trường hợp di sản đã được chia thì mỗi người thừa kế thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại tương ứng nhưng không vượt quá phần tài sản mà mình đã nhận, trừ trường hợp có thoả thuận khác

4 Trong trường hợp Nhà nước, cơ quan, tổ chức hưởng di sản theo di chúc thì cũng phải thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại như người thừa kế là cá nhân.”

Câu 3: Nghĩa vụ của bà Loan đối với Ngân hàng có là nghĩa vụ về tài sản không? Vì sao?

Trả lời:

Nghĩa vụ của bà Loan đối với Ngân hàng là nghĩa vụ về tài sản

Vì nghĩa vụ của bà Loan đối với Ngân hàng không là nghĩa vụ đối với nhân thân – là những nghĩa vụ do chính bản thân thực hiện Do đó, nghĩa vụ đó là nghĩa vụ tài sản

Câu 4: Nếu ngân hàng yêu cầu được thanh toán, ai là người phải thực hiện nghĩa vụ trả nợ trên của bà Loan? Vì sao?

Trả lời:

Nếu ngân hàng yêu cầu được thanh toán thì những người thừa kế của bà Loan là người phải thực hiện nghĩa vụ trả nợ trên của bà Loan

Ngày đăng: 15/07/2019, 17:05

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w