Bài thảo luận dân sự 1 lần thứ 5: Vấn đề 1: DI SẢN THỪA KẾVấn đề 2: NGHĨA VỤ TÀI SẢN CỦA NGƯỜI ĐỂ LẠI DI SẢNVấn đề 3: THỜI HIỆU TRONG LĨNH VỰC THỪA KẾ Khóa 2020 đh luật tphcm Bài mang tính chất tham khảo không nên sao chép lại
Trang 1LỚP LUẬT THƯƠNG MẠI 44.A
BUỔI THẢO LUẬN THỨ NĂM QUY ĐỊNH CHUNG VỀ THỪA KẾ
Giảng viên hướng dẫn : ThS Nguyễn Tấn Hoàng Hải
Bộ môn : Những quy định chung về luật dân sự
Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 04 tháng 04 năm 2020
Trang 2Vấn đề 1: DI SẢN THỪA KẾ 1
1.1) Di sản là gì và có bao gồm cả nghĩa vụ của người quá cố không? Nêu cơ sở pháp lý khi trả lời 1
1.2) Khi tài sản do người quá cố để lại ở thời điểm mở thừa kế bị thay thế bởi một tài sản mới sau đó thì tài sản mới có thành di sản không? Vì sao? 1
1.3) Trong Quyết định số 30, theo Viện kiểm sát, 02 tài sản tranh chấp có là di sản của cố Thái Anh và cố Liêng không? Vì sao? 2
1.4) Suy nghĩ của anh/chị về hướng xác định trên của Viện Kiểm sát 2
1.5) Trong Quyết dịnh số 30, theo Hội đồng thẩm phán, 02 tài sản tranh chấp có là
di sản của cố Thái Anh và cố Liêng không? Vì sao? 2
1.6) Suy nghĩ của anh/chị về hướng xác định trên của Hội đồng thẩm phán 3
1.7) Ở án lệ số 16/2017/AL , trong diện tích 398m2 đất, phần di sản của ông Phùng Văn N là bao nhiêu? Vì sao? 3
1.8) Theo Án lệ trên, phần diện tích đất đã chuyển nhượng cho ông Phùng Văn K có được coi là di sản để chia không? Vì sao? 3
1.9) Suy nghĩ của anh chị về hướng giải quyết trong Án lệ trên liên quan đến phần diện tích đã chuyển nhượng cho ông Phùng Văn K 3
1.10) Nếu bà Phùng Thị G bán đất trên không để lo cho cuộc sống của các con mà dùng tiền đó cho cá nhân bà Phùng thị G thì số tiền đó có được coi là di sản để chia
không? Vì sao? 4
1.11) Ở thời điểm bà Phùng Thị G chết di sản của bà Phùng Thị G trong diện tích đất trên là bao nhiêu? Vì sao? 5
1.12) Việc Tòa án xác định phần còn lại của di sản của bà Phùng Thị G là 43,5m²
có thuyết phục không? Vì sao? Đây có là nội dung của Án lệ 16 không? Tại sao? 5
1.13) Việc Tòa án quyết định “còn lại là 43,5m² chia cho 5 kỷ phần còn lại” có thuyết phục không? Vì sao? Đây có là nội dung của án lệ số 16 không? Vì sao? 6
Vấn đề 2: NGHĨA VỤ TÀI SẢN CỦA NGƯỜI ĐỂ LẠI DI SẢN 7
2.1) Theo BLDS, nghĩa vụ nào của người quá cố sẽ đương nhiên chấm dứt và những nghĩa vụ nào của người quá cố sẽ không đương nhiên chấm dứt? Nêu cơ sở pháp lý khi trả lời. 7
2.2) Theo BLDS, ai là người phải thực hiện nghĩa vụ về tài sản của người quá cố? Nêu cơ sở pháp lý 8
2.3) Nghĩa vụ của bà Loan đối với ngân hàng có là nghĩa vụ về tài sản hay không?
Vì sao? 8
Trang 3trả nợ trên của bà Loan? Vì sao? 8
2.5) Trong Quyết định số 26, ai là người có công chăm sóc, nuôi dưỡng người quá
cố khi họ còn sống? 9
2.6) Trong Quyết định trên, theo Toà giám đốc thẩm, công sức chăm sóc, nuôi
dưỡng cha mẹ của ông Vân, ông Vi được xử lý thế nào? 9
2.7) Suy nghĩ của anh/chị về hướng xử lý trên của Toà giám đốc thẩm (trong mối quan hệ với các quy định về nghĩa vụ của người quá cố) 9
Vấn đề 3: THỜI HIỆU TRONG LĨNH VỰC THỪA KẾ 11
3.2) Pháp luật nước ngoài có áp đặt thời hiệu đối với yêu cầu chia di sản không? 12
3.3) Thời điểm mở thừa kế đối với di sản của cụ T là năm nào? Đoạn nào của Quyết định tạo lập thành Án lệ số 26/2018/AL cho câu trả lời? 12
3.4) Việc Án lệ số 26/2018/AL áp dụng thời hiệu 30 năm của BLDS 2015 cho di sản của cụ T có cơ sở văn bản nào không? Có thuyết phục không? Vì sao? 12
3.5) Việc Án lệ số 26/2018/AL áp dụng thời hiệu 30 năm của BLDS 2015 cho di sản của cụ T với thời điểm bắt đầu từ thời điểm Pháp lệnh thừa kế 1990 được công bố có cơ sở văn bản nào không? Có thuyết phục không? Vì sao? 13
3.6) Suy nghĩ của anh/chị về Án lệ số 26/2018/AL nêu trên 13
TÀI LIỆU THAM KHẢO 16
Trang 4Vấn đề 1: DI SẢN THỪA KẾ
Tóm tắt bản án:
Quyết định số 30/2013/DS-GĐT ngày 24/04/2013 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.
Vợ chồng cố Thái Anh, cố Liêng có tạo lập được hai căn nhà Sau khi chết, họ không để
lại di chúc Căn nhà số 5, hai cố cho con thứ- Thái Tri, cón nhà số 122 cho con trưởng- Thuần Hy Về sau, có sự tranh chấp căn nhà số 122 giữa các cháu và con của cụ Thái Tri và
cụ Thuần Hy, bên nguyên đơn yêu cầu chia thừa kế di sản
Quyết định của các cấp xét xử:
Tòa án sơ thẩm lần 1 bác yêu cầu của nguyên đơn; Tòa phúc thẩm lần nhất hủy bản án sơ thẩm lần 1
Tòa sơ thẩm lần 2 xác định căn nhà số 122 là di sản; Tòa án phúc thẩm lần 2 xác định căn nhà số 122 của cụ Hy
VKS kháng nghị bản án sơ thẩm lần 2; yêu cầu hội đồng thẩm phán chấp thuận theo hướng giải quyết của VKS
Tòa án Nhân dân tối cao không chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng VKS; giữ nguyên bản án dân sự phúc thẩm lần 2
1.1) Di sản là gì và có bao gồm cả nghĩa vụ của người quá cố không? Nêu cơ sở pháp
lý khi trả lời.
Điều 612 BLDS năm 2015 quy định: “Di sản bao gồm tài sản riêng của người chết, phần tài sản của người chết trong tài sản chung với người khác.”
Theo Điều 612 và các Điều 613,614 BLDS năm 2015 thì di sản không bao gồm cả nghĩa
vụ của người quá cố
1.2) Khi tài sản do người quá cố để lại ở thời điểm mở thừa kế bị thay thế bởi một tài sản mới sau đó thì tài sản mới có thành di sản không? Vì sao?
Khi tài sản do người quá cố để lại ở thời điểm mở thừa kế bị thay thế bởi một tài sản mới sau đó thì tài sản mới không thành di sản vì:
Theo Điều 612 BLDS năm 2015 quy định: “Di sản bao gồm tài sản riêng của người chết, phần tài sản của người chết trong tài sản chung với người khác” Nên tại thời điểm mở thừa
kế, tài sản mới đó không được người quá cố đồng ý và trái với ý chí của người quá cố nên tài sản mới không thể thành di sản
Trang 5 1.3) Trong Quyết định số 30, theo Viện kiểm sát, 02 tài sản tranh chấp có là di sản của cố Thái Anh và cố Liêng không? Vì sao?
Trong Quyết định số 30, theo Viện kiểm sát, 02 tài sản tranh chấp không là di sản của cố Thái Anh và cố Liêng vì: Tại Quyết định số 100/QĐ-KNGĐT ngày 16/8/2011 được trích trong Quyết định 30, Viện kiểm sát nhận định: “Sinh thời cố Thái Anh và cố Nguyễn Thị Liêng có tài sản là căn nhà số 5 Hoàng Hoa Thám diện tích 19m2, căn nhà số 13 Đường Thiệu Trị (nay là 122 Nguyễn Hùng Sơn) tọa lạc trên diện tích 270,5m2, cố Thái Anh chết năm 1975, cố Liêng chết năm 1977 không để lại di chúc” Đến thời điểm cố Thái Anh và cố Liêng chết thì nhà đất chưa chuyển dịch sang tên cho ai Như vậy căn nhà số 122 là tài sản chung của cố Thái Anh và cố Liêng nên sau khi hai cố mất căn nhà là di sản của hai cố thỏa mãn Điều 634 BLDS 2005 Đối với căn nhà số 5 Hoàng Hoa Thám thì Viện kiểm soát cho rằng khi cố Thái Anh và cố Liêng còn sống thì đã chọn cụ Thái Tri đứng tên là chủ sở hữu từ năm 1967 do vậy căn nhà số 5 Hoàng Hoa Thám không là di sản của cố Thái Anh và cố Liêng
1.4) Suy nghĩ của anh/chị về hướng xác định trên của Viện Kiểm sát.
Hướng xác định trên của Viện kiểm sát đối với căn nhà số 5 Hoàng Hoa Thám là có căn
cứ pháp luật vì căn nhà số 5 Hoàng Hoa Thám hai cố Thái Anh và cố Liêng đã cho cụ Thái Tri sử dụng riêng và cụ Thái Tri đã hoàn thành thủ tục đứng tên sở hữu từ ngày 09/5/1967
Do đó, căn nhà này Viện Kiểm sát nhận định đó không phải là di sản của cố Thái Anh và cố Liêng là có căn cứ
Còn đối với căn nhà số 122 Nguyễn Hùng Sơn, hướng giải quyết xác định căn nhà số 122
là di sản của cố Thế Anh và cố Liêng của Viện Kiểm sát là chưa thoả đáng và không có cơ
sở Vì ăn nhà số 122 Nguyễn Hùng Sơn hai cố Thái Anh và cố Liêng đã cho cụ Hy vì cụ Hy
là con trai trưởng và có công chăm sóc hai cố, bác ruột và em ruột bị tâm thần, còn có trách nhiệm thờ cúng tổ tiên sau này Thêm vào đó, cụ Thái Tri đã không có phản đối, tôn trọng quyết định của cha mẹ Do vậy, việc Viện Kiểm sát xác định căn nhà số 122 Nguyễn Hùng Sơn là di sản của cố Thái Anh và cố Liêng là không có cơ sở
1.5) Trong Quyết dịnh số 30, theo Hội đồng thẩm phán, 02 tài sản tranh chấp có là di sản của cố Thái Anh và cố Liêng không? Vì sao?
Trong Quyết dịnh số 30, theo Hội đồng thẩm phán, 02 tài sản tranh chấp không là di sản của cố Thái Anh và cố Liêng Vì đối với căn nhà số 5 Hoàng Hoa Thám thì cố Thái Anh và
cố Liêng còn sống thì đã cho cụ Thái Tri đứng tên là chủ sở hữu từ năm 1967, do vậy, căn nhà số 5 Hoàng Hoa Thám không là di sản của cố Thái Anh và cố Liêng Đối với căn nhà số
122 Nguyễn Hùng Sơn thì hai cố dành cho cụ Thái Thuần Hy căn nhà vì cụ Hy là con trai trưởng, ở cùng và có công chăm sóc hai cố, chăm sóc bác ruột và em ruột là cụ Lượng bị bệnh tâm thần và có còn có trách nhiệm thờ cúng tổ tiên sau này Thực tế, khi cụ Hy phá nhà
cũ của hai cố, xây dựng nhà mới thì cụ Thái Tri còn sống và không phản đối, điều này chứng
Trang 6tỏ cụ Thái Tri tôn trọng định đoạt của cha Do đó, căn nhà 122 Nguyễn Hùng Sơn không còn
là di sản của cố Thái Anh và cố Nguyễn Thị Liêng
1.6) Suy nghĩ của anh/chị về hướng xác định trên của Hội đồng thẩm phán.
Theo em, hướng xác định trên của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao là có căn
cứ, phù hợp với các quy định của pháp luật dân sự hiện hành
Về tranh chấp thừa kế liên quan đến nhà 122 Nguyễn Hùng Sơn, Viện kiểm sát khẳng định
“cố Anh là chủ sở hữu, hồ sơ vụ án không có bất cứ tài liệu nào xác định cố Anh đã chuyển quyền sở hữu căn nhà cho cụ Hy Đến thời điểm cố Anh và cố Liêng chết thì nhà đất chưa chuyển dịch sang tên cho ai, vì vậy căn nhà số 122 Nguyễn Hùng Sơn là di sản của cố Anh
và cố Liêng để lại chưa chia Thực tế, Toà án cấp sơ thẩm theo hướng nên trên của Viện kiểm sát và xác định căn nhà số 122 Nguyễn Hùng Sơn là di sản thừa kế của cố Anh và cố Liêng Tuy nhiên, Hội đồng thẩm phán đã theo hướng tài sản này không còn là di sản của hai
cố nữa nên không thể chấp nhận yêu cầu chia di sản Thực vậy, theo Hội đồng thẩm phán,
“căn cứ các tài liệu trên có cơ sở xác định vợ chồng cố Anh và cố Liêng tạo lập được hai căn nhà, cụ Tri là con Thứ nên hai cố cho căn nhà số 5 Hoàng Hoa Thám (nhỏ hơn);
còn căn nhà 122 Nguyễn Hùng Sơn (lớn hơn) thì hai cố dành cho cụ Hy vì cụ Hy là con trai trưởng” và “Toà án cấp phúc thẩm xác định cố Anh, cố Liêng đã chia cho cụ Tri căn nhà số 5 Hoàng Hoa Thám, chia cho cụ Hy căn nhà 122 Nguyễn Hùng Sơn; từ đó bác yêu cầu chia thừa kế của các nguyên đơn (là con cụ Tri) là có căn cứ”
Xét về lý, hướng giải quyết nêu trên là chưa ổn vì: “Đến thời điểm cố Thái Anh và cố Liêng chết thì nhà đất chưa chuyển dịch sang tên cho ai, vì vậy căn nhà 122 Nguyễn Hùng Sơn là di sản của cố Thái Anh và cố Nguyễn Thị Liêng để lại chưa chia” Ngoài ra cũng không có văn bản nào cho thấy cố Anh và cố Liêng đã chính thức cho cụ Hy, nên tài sản này vẫn thuộc hai cố; do đó là di sản nên khi hai cố chết không để lại di chúc thì phải chia theo pháp luật Tuy nhiên, khi xét về tình thì đây lại là hướng giải quyết hoàn toàn thuyết phục và nên được phát triển đối với các vụ việc tương tự Bởi lẽ khi còn sống, cố Thái Anh và cố Liêng đã cho căn nhà số 5 Hoàng Hoa Thám cho cụ Tri nên trong thâm tâm của
1.7) Ở án lệ số 16/2017/AL , trong diện tích 398m2 đất, phần di sản của ông Phùng Văn N là bao nhiêu? Vì sao?
Thời điểm ông N mất là năm 1984 thì thời điểm mở thừa kế là năm 1984, khi đó tài sản là mảnh đất 398m2 là tài sản chung của vợ chồng trong thời kì hôn nhân nên sẽ được chia đôi, tức phần di sản của ông N để lại là ½ của 398m2 Còn đến năm 1991 khi bà G bán đất cho ông K mảnh đất 131m2 và Tòa án công nhận giao dịch dân sự này có hiệu lực là dựa trên sự đồng ý của các đồng thừa kế
Trang 7 1.8) Theo Án lệ trên, phần diện tích đất đã chuyển nhượng cho ông Phùng Văn K có được coi là di sản để chia không? Vì sao?
Phần diện tích đất đã chuyển nhượng cho ông Phùng Văn K không được coi là di sản để chia
Vì ông Phùng Văn K đã được nhà nước cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, do đó có cơ
sở để xác định các con bà Phùng Thị G đã đồng ý để bà Phùng Thị G chuyển nhượng diện tích 131m2 nêu trên cho ông Phùng Văn K Tòa án cấp phúc thẩm không đưa diện tích đất bà Phùng Thị G đã bán cho ông Phùng Văn K vào khối tài sản để chia là có căn cứ Tòa án cấp
sơ thẩm xác định di sản là tổng diện tích 398m2 để chia là không đúng
1.9) Suy nghĩ của anh chị về hướng giải quyết trong Án lệ trên liên quan đến phần diện tích đã chuyển nhượng cho ông Phùng Văn K.
Tòa án nhận định việc bà Phùng Thị G chuyển nhượng đất cho ông Phùng Văn K các con
bà Phùng Thị G đều biết, nhưng không ai có ý kiến phản đối gì, các con của bà Phùng Thị G
có lời khai bà Phùng Thị G bán đất để lo cuộc sống của bà và các con Nay ông Phùng Văn K cũng đã được cơ quan nhà nước cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất Vì vậy, có cơ sở để xác định các con bà Phùng Thị G đã đồng ý để bà Phùng Thị G chuyển nhượng diện tích 131m2 nêu trên cho ông Phùng Văn K
Căn cứ Điều 500 Bộ luật Dân sự 2015 quy định: “Hợp đồng về quyền sử dụng đất là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó người sử dụng đất chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, tặng cho, thế chấp, góp vốn quyền sử dụng đất hoặc thực hiện quyền khác the quy định của Luật đất đai cho bên kia; bên kia thực hiện quyền, nghĩa vụ theo hợp đồng với người sử dụng đất.”; Điều 223 Bộ luật Dân sự 2015 quy định:”Người được giao tài sản thông qua hợp đồng mua bán, trao tặng, trao đổi, cho vay hoặc hợp đồng chuyển quyền sở hữu khác theo quy định của pháp luật thì có quyền sở hữu tài sản đó.”
Việc Tòa án công nhận hợp đồng do một người thừa kế xác lập mà không có sự tham gia trực tiếp của những người thừa kế khác Đây là nội dung tôi cho là hoàn toàn thuyết phục bởi
vì tài sản đó ở thời điểm mở thừa kế nó là di sản, tuy nhiên phần di sản đó đã được bán với
sự đồng ý của những người thừa kế vì họ biết và họ không phản đối đồng thời người mang tài sản đi giao dịch họ mang về phần tiền và phần tiền đó lo cho cuộc sống của các đồng thừa
kế Cho nên nó không còn là di sản của những người thừa kế nữa mà nó là tài sản đã chuyển giao sở hữu cho người khác Nó không nằm trong khối tài sản được coi là di sản còn lại và do
đó tòa án không đem ra để chia là hoàn toàn thuyết phục phù hợp với các quy định về định đoạt tài sản cho người khác, phù hợp với các quy điịnh về di sản thừa kế
1.10) Nếu bà Phùng Thị G bán đất trên không để lo cho cuộc sống của các con mà dùng tiền đó cho cá nhân bà Phùng thị G thì số tiền đó có được coi là di sản để chia không? Vì sao?
Nếu bà Phùng Thị G bán đất trên không để lo cuộc sống của các con mà dùng tiền đó cho cá nhân bà Phùng Thị G thì số tiền đó phải được coi là di sản để chia Thực tế thì Án lệ vẫn còn bỏ ngỏ về vấn đề này Theo em, nếu xảy ra vấn đề trên, cần lấy khoảng tiền thu về từ việc chuyển nhượng quyền sử dụng 131m2 đất cho ông
K thay vào vị trí của di sản đã được định đoạt Do đó khoảng tiền ấy vẫn được đem vào khối tài sản để chia thừa kế Hướng giải quyết này đã được Toà án nhân dân tối cao giải quyết thông qua một số vụ án, tuy nhiên vẫn chưa được phát triển thành án lệ.
Trang 8Hoặc phần diện tích đất đã được chuyển nhượng sẽ được trừ vào phần tài sản riêng của bà G trong phần tài sản chung Tức là 398m2 đất là tài sản chung, sẽ được chia đôi cho ông N và bà G mỗi người 199m2 Như vậy, sau khi chuyển nhượng cho ông K 131m2 quyền sử dụng đất thì phần còn lại của bà G sẽ là 68m2, còn phần của ông N trong di sản chia thừa kế là 199m2.
1.11) Ở thời điểm bà Phùng Thị G chết di sản của bà Phùng Thị G trong diện tích đất trên là bao nhiêu? Vì sao?
Tòa án nhận định: “Việc bà Phùng Thị G chuyển nhượng đất cho ông Phùng Văn K các con bà Phùng Thị G đều biết, nhưng không ai có ý kiến phản đối gì, các con của bà Phùng Thị G có lời khai bà Phùng Thị G bán đất để lo cuộc sống của bà và các con Nay ông Phùng Văn K cũng đã được cơ quan nhà nước cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất Vì vậy, có
cơ sở để xác định các con bà Phùng Thị G đã đồng ý để bà Phùng Thị G chuyển nhượng diện tích 131m2 nêu trên cho ông Phùng Văn K Tòa án cấp phúc thẩm không đưa diện tích đất bà Phùng Thị G đã bán cho ông Phùng Văn K vào khối tài sản để chia là có căn cứ Tòa án cấp
sơ thẩm xác định di sản là tổng diện tích đất 398m2 (bao gồm cả phần đất đã bán cho ông Phùng Văn K) để chia là không đúng.” Do đó tại thời điểm bà Phùng Thị G chết thì di sản của bà Phùng Thị G để lại là 1/2 khối tài sản còn lại (tức 133.5m²)
Theo quy định tại Điều 29 Luật Hôn nhân và gia đình 2014, vợ, chồng bình đẳng với nhau
về quyền, nghĩa vụ trong việc tạo lập, chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung; không phân biệt giữa lao động trong gia đình và lao động có thu nhập Vì vậy diện tích 267m² đất đứng tên bà Phùng Thị G nhưng được hình thành trong thời gian hôn nhân nên phải được xác định là tài sản chung của ông Phùng văn N và bà Phùng Thị G chưa chia Bà Phùng Thị G chỉ có quyền định đoạt 1/2 diện tích đất trong tổng diện tích 267m2 đất chung của vợ chồng bà
nhân với 1/7
1.12) Việc Tòa án xác định phần còn lại của di sản của bà Phùng Thị G là 43,5m² có thuyết phục không? Vì sao? Đây có là nội dung của Án lệ 16 không? Tại sao?
Theo nhận định của Tòa án: trước khi chết bà đã để lại di chúc lập ngày 05-3-2009 có nội dung để lại cho chị Phùng Thị H1 (con gái bà Phùng Thị G) diện tích 90m2 đất trong tổng diện tích 267m2 đất trên, di chúc có chứng thực của Ủy ban nhân dân phường M ngày
7-3-2009 Đồng thời bà phùng chỉ được định đoạt 1/2 diện tích đất trong tổng diện tích 267m² đất chung của vợ chồng ông bà Do đó sau khi chia thừa kế theo di chúc cho chị Phùng Thị H1 thì phần còn lại của di sản của bà Phùng Thị G là 43,5m² là hoàn toàn thuyết phục theo quy định về định đoạt di sản thừa kế
Đây chính là một phần nội dung của Án lệ số 16, thể hiện rõ trong đoạn trích sau: “Bà Phùng Thị G chỉ có quyền định đoạt 1/2 diện tích đất trong tổng diện tích 267m2 đất chung của vợ chồng bà Do đó, phần di sản của bà Phùng Thị G để lại là 1/2 khối tài sản (133,5m2) được chia theo di chúc cho chị Phùng Thị H1 (con gái bà Phùng Thị G) là 90m2, còn lại là 43,5m2 được chia cho 5 kỷ phần còn lại (trong đó chị N2 nhường kỷ phần thừa kế cho anh Phùng Văn T; chị Phùng Thị H2, chị Phùng Thị N1 và chị Phùng Thị P nhường kỷ phần cho chị Phùng Thị H1) Đối với 1/2 diện tích đất trong tổng diện tích 267m2 đất chung của vợ chồng là phần di sản của ông Phùng Văn N để lại nay đã hết thời hiệu chia thừa kế, anh Phùng Văn T là một trong các thừa kế không đồng ý chia, theo quy định tại tiểu mục 2.4 mục
Trang 92 phần I của Nghị quyết số 02/2004/NQ- HĐTP ngày 10-8-2004 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thì không đủ điều kiện để chia tài sản chung nên phần diện tích đất này ai đang quản lý, sử dụng thì được tiếp tục quản lý, sử dụng.” Qua đó ta thấy phiên tòa Giám đốc thẩm nhận định vụ việc và đưa ra hướng giải quyết như trên là hoàn toàn thuyết phục theo quy định của pháp luật
1.13) Việc Tòa án quyết định “còn lại là 43,5m² chia cho 5 kỷ phần còn lại” có thuyết phục không? Vì sao? Đây có là nội dung của án lệ số 16 không? Vì sao?
Việc Toà án xác định phần còn lại của di sản của bà Phùng Thị G là 43,5m2 đất là không thuyết phục Vì:
Căn cứ vào quy định tại Điều 651 Bộ luật dân sự 2015 quy định về “Người thừa kế theo pháp luật”:
1 Những người thừa kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự sau đây:
a) Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;
Theo đó, phần di sản mà ông N để lại sẽ được chia đều cho 7 phần bao gồm bà G và 6 người con Phần di sản của ông N là ½ diện tích đất còn lại 267m2 (sau khi đã trừ đi phần 131m2 đất đã được chuyển nhượng cho ông K), tức là 133.5m2 Phần này sẽ được chia đều cho 7 đồng thừa kế, như vậy mỗi người sẽ được nhận 19,07m2 đất Do đó, tổng diện tích đất mà bà
G sở hữu sau khi nhận thừa kế là 152,57m2 Theo di chúc, bà G để lại cho chị H1 90m2 đất thì phần đất còn lại của di sản phải là 62,57m2.Đây không phải là nội dung của Án lệ số 16, vì:
Nội dung Án lệ số 16 là công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất là di sản thừa kế do một trong các đồng thừa kế chuyển nhượng
Trang 10Vấn đề 2: NGHĨA VỤ TÀI SẢN CỦA NGƯỜI ĐỂ LẠI DI SẢN
Tóm tắt bản án:
Quyết định số 26/2013/GĐT ngày 22/04/2013 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về "Tranh chấp di sản thừa kế"
Gia đình cụ Phúc có 6 người con là ông Vũ, bà Oanh, bà Dung là nguyên đơn, ông Vân là
bị đơn, bà Thu và ông Vi là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, sau khi cụ Phúc mất không để lại di chúc thì có xảy ra tranh chấp tài sản thừa kế Theo bản án dân sự sơ thẩm bác yêu cầu kiện đòi thừa kế của bà Oanh, bà Dung, không chấp nhận yêu cầu chia hiện vật của ông Vũ, giao cho ông Vân quyền sử dụng toàn thửa đất và tài sản trên thửa đất nhưng phải trả phần thừa kế cho ông Vi và ông Vũ Theo bản án dân sự phúc thẩm, chấp nhận yêu cầu thừa kế của bà Oanh, bà Dung, không chấp nhận yêu cầu chia hiện vật của ông Vũ, giao cho ông Vân quyền sử dụng toàn thửa đất và tài sản trên thửa đất nhưng phải trả thừa kế cho ông
Vi, ông Vũ, bà Oanh, bà Dung Theo Quyết định của Tòa án nhân dân, xác định có sự không thống nhất phần diện tích nào là của cụ Phúc, phần nào của vợ chồng ông Vân, cũng như chưa xác định rõ công sức chăm sóc cha mẹ và quản lý di sản mà ông Vân, ông Vi được hưởng, yêu cầu hủy bản án sơ thẩm và phúc thẩm, xét xử lại theo quy định
2.1) Theo BLDS, nghĩa vụ nào của người quá cố sẽ đương nhiên chấm dứt và những nghĩa vụ nào của người quá cố sẽ không đương nhiên chấm dứt? Nêu cơ sở pháp lý khi trả lời.
Theo BLDS, nghĩa vụ của người quá cố sẽ được đương nhiên chấm dứt Căn cứ Khoản 8 Điều 372 BLDS 2015 quy định về Căn cứ chấm dứt nghĩa vụ:
“8 Bên có nghĩa vụ là cá nhân chết hoặc là pháp nhân chấm dứt tồn tại mà nghĩa vụ phải do chính cá nhân, pháp nhân đó thực hiện;”
Điều 375 Chấm dứt nghĩa vụ theo thỏa thuận
Các bên có thể thỏa thuận chấm dứt nghĩa vụ bất cứ lúc nào, nhưng không được gây thiệt hại đến lợi ích quốc gia, dân tộc, lợi ích công cộng, quyền và lợi ích hợp pháp của người khác.
Theo BLDS, nghĩa vụ của người quá cố sẽ không bị đương nhiên chấm dứt Căn cứ Điều
615 BLDS 2015 quy định về Thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại:
“1 Những người hưởng thừa kế có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ tài sản trong phạm vi di sản do người chết để lại, trừ trường hợp có thỏa thuận khác
2 Trường hợp di sản chưa được chia thì nghĩa vụ tài sản do người chết để lại được người quản lý di sản thực hiện theo thỏa thuận của những người thừa kế trong phạm vi di sản do người chết để lại