1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Lịch sử văn hoá làng đan nê(yên định thanh hoá)

128 1,7K 14
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Lịch Sử - Văn Hóa Làng Đan Nê (Yên Định – Thanh Hóa)
Tác giả Nguyễn Thị Ái
Người hướng dẫn Tiến Sĩ: Trần Văn Thức
Trường học Trường Đại Học Vinh
Chuyên ngành Lịch Sử Việt Nam
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2010
Thành phố Vinh
Định dạng
Số trang 128
Dung lượng 12,1 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Cách Đan Nê không xa về phía Đông Nam là di tích khảo cổ núi Quân Yên Định Công, núi Nuông Định Thành, cùng với núi Đọ của Thiệu Hóa tạo nên một phức hệ Đọ - Nuông - Quân Yên, chứng tích

Trang 1

NGUYỄN THỊ ÁI

LỊCH SỬ - VĂN HÓA LÀNG ĐAN NÊ

(Yên Định – Thanh Hóa)

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC LỊCH SỬ

Vinh, 2010

Trang 2

NGUYỄN THỊ ÁI

LỊCH SỬ - VĂN HÓA LÀNG ĐAN NÊ

(Yên Định – Thanh Hóa)

Chuyên ngành LỊCH SỬ VIỆT NAM

Mã số:60.22.54 LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC LỊCH SỬ

Người hướng dẫn khoa học Tiến sĩ: TRẦN VĂN THỨC

Vinh, 2010

Trang 3

biết ơn chân thành và sâu sắc đến TS Trần Văn Thức, người đã trực tiếp

hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn.

Tôi xin chân thành cảm ơn UBND xã Yên Thọ, UBND huyện Yên Định, các dòng họ và nhân dân địa phương đã nhiệt tình giúp đỡ tôi trong quá trình khảo sát thực địa.

Đồng thời, tôi xin cảm ơn thư viện Tỉnh Thanh Hóa, Ban nghiên cứu lịch sử Tỉnh Thanh Hóa đã nhiệt tình giúp đỡ tôi trong quá trình khảo cứu các tài liệu liên quan đến đề tài.

Tôi xin chân thành cảm ơn tới Ban giám hiệu trường PTTH Chuyên Lam Sơn, đồng nghiệp, gia đình, bạn bè đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình học tập và hoàn thành luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Thanh Hóa, năm 2010

Tác giả Nguyễn Thị Ái

Trang 5

MỤC LỤC Trang Lời cảm ơn

Các chữ viết tắt

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài……… 1

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề……… 3

3 Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu……… 5

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu……… 5

5 Đóng góp của luận văn……… 6

6 Bố cục của luận văn……… 6

NỘI DUNG Chương 1: Điều kiện tự nhiên và quá trình hình thành, phát triển của làng Đan Nê……… 7

1.1 Điều kiện tự nhiên……… 7

1.1.1 Vị trí địa lý……… 7

1.1.2 Địa hình, đất đai, khí hậu……… 8

1.1.3 Sông ngòi, giao thông……… 12

1.2 Quá trình hình thành, phát triển của làng Đan Nê……… 17

1.2.1 Tên làng……… 17

1.2.2 Quá trình hình thành, phát triển……… 18

* Tiểu kết chương 1……… 25

Chương 2: Tình hình kinh tế và cơ cấu tổ chức của làng Đan Nê 2.1 Tình hình kinh tế 27

2.1.1 Thương nghiệp……… 27

2.1.2 Nông nghiệp……… 28

2.2 Cơ cấu tổ chức của làng 31

2.2.1 Vài nét về bộ máy quản lý làng xã truyền thống……… 31

Trang 6

2.2.2 Dòng họ……… 36

* Tiểu kết chương 2……… 38

Chương 3: Đời sống văn hóa của làng Đan Nê……… 39

3.1 Diện mạo văn hóa vật chất……… 39

3.1.1 Các đền, chùa, đình làng ……… 39

3.1.2 Di tích núi và đền Đồng cổ……… 40

3.1.2.1 Lịch sử di tích núi Đồng cổ……… 40

3.1.2.2 Lịch sử đền Đồng cổ……… 42

3.1.3 Kiến trúc dân gian……… 45

3.2 Diện mạo văn hóa tinh thần……… 49

3.2.1 Tính cố kết cộng đồng của nhân dân trong làng với các làng khác trong xã và xu thế liên làng……… 49

3.2.2 Tín ngưỡng, tôn giáo……… 50

3.2.3 Phong tục tập quán………61

3.2.4 Các tiết thờ cúng trong năm……… 67

3.2.5 Lễ hội đền Đồng cổ……… 69

3.2.6 Truyền thống học tập, khoa bảng……… 85

* Tiểu kết chương 3……… 88

KẾT LUẬN ………90

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO………92 PHỤ LỤC

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Trang 7

rong không gian văn hóa vùng Đan Nê - Yên Định, thời nào cũng vậy, luôn là vùng đất nổi danh trong lịch sử Cách Đan Nê không xa

về phía Đông Nam là di tích khảo cổ núi Quân Yên (Định Công), núi Nuông (Định Thành), cùng với núi Đọ của Thiệu Hóa tạo nên một phức hệ Đọ - Nuông - Quân Yên, chứng tích về địa bàn quần tụ của người nguyên thủy trên đất Việt Nam cách nay mấy chục vạn năm lịch sử Liền kề Đan Nê có đền Hổ Bái, nơi thờ Linh Lang, con thứ 11 của vua Hùng đã chứng thực về tín ngưỡng thờ anh hùng dân tộc của người dân nơi đây Thế kỉ X, thế kỉ bản lề của lịch sử dân tộc, Đan Nê đã đi vào lịch sử, là nơi mở đầu công cuộc đào sông khơi ngòi của anh hùng dân tộc Lê Hoàn với người có công trị thủy là Đào Lang (làng Bùi Đỉnh, xã Yên Trung) Dấu vết một dòng sông cổ được khơi nguồn từ đây chảy suốt tới tận Bà Hòa (Tĩnh Gia) nối với Nghệ An thành con sông thân thuộc: sông nhà Lê trên bản đồ Thanh Hóa Từ không gian lịch sử văn hóa điểm như trên, thắng tích núi và đền Đồng cổ nổi bật làm tôn thêm vẻ đẹp lung linh cho văn vật xứ Thanh Đây cũng chính là nét đặc sắc riêng của lịch sử văn hóa làng Đan Nê: thờ thần trống đồng

Trang 8

dẹp phản loạn, chế ngự thiên tai đem lại độc lập cho dân tộc và hạnh phúc ấm

no cho nhân dân

1.2 Trong lịch sử văn hoá làng Đan Nê, Yên Thọ, Yên Định - Thanh Hoá, lễ hội đền Đồng Cổ luôn được coi là một "sự kiện" quan trọng của những người dân Lễ hội luôn được các thế hệ tôn vinh, gìn giữ như một phần hồn của dân tộc Vì vậy, tìm hiểu về lịch sử văn hóa của làng Đan Nê cũng như lễ hội Đồng Cổ để góp phần gìn giữ lưu truyền nét đẹp văn hoá từ đời này qua đời khác cho giá trị của nó tồn tại vĩnh viễn theo thời gian là điều vô cùng khẩn thiết Đó còn thể hiện đạo lý "uống nước nhớ nguồn", tỏ lòng biết

ơn tổ tiên của thế hệ hôm nay

1.3 Trong bối cảnh cả dân tộc đang hướng về Đại lễ 1000 năm Thăng Long - Hà Nội, lễ hội lớn của cả dân tộc Vào ngày 23 - 02 - 2010, đồng chí Ngô Thị Thanh Hằng, Phó chủ tịch UBND thành phố Hà Nội, Phó trưởng ban chỉ đạo quốc gia 1.000 năm Thăng Long - Hà Nội đã gắn biển "Công trình chào mừng 1000 năm Thăng Long - Hà Nội" tại đền Đồng Cổ - Đan Nê - Thanh Hoá Điều đó chứng minh rằng đền Đồng cổ và lễ hội đền Đồng Cổ có tầm quan trọng lớn trong lịch sử của dân tộc Việt Vì lẽ đó, chúng tôi muốn tìm hiểu sâu hơn lịch sử văn hóa làng Đan Nê, về di tích núi và đền Đồng Cổ, cũng như những tục lệ và tín ngưỡng thờ trống đồng để góp phần bảo tồn, gìn giữ và phát huy một nghi thức cổ truyền và thuần phong mĩ tục cao đẹp của nhân dân ta

1 4 Dựng nước và giữ nước là hai mặt cơ bản gắn bó với nhau trong đời sống dân tộc việt Nam Đó cũng là đặc điểm bao trùm, là qui luật cơ bản của lịch sử nước ta Suốt mấy nghìn năm lịch sử, nhân dân ta vừa lao động vừa xây dựng đất nước, từng bước khẳng định được truyền thống của mình

Đó là truyền thống kiên cường đấu tranh chống lại mọi thế lực cản bước đi lên của dân tộc, truyền thống tự lực tự cường, chịu đựng gian khó, cần cù

Trang 9

trong lao động, giản dị trong cuộc sống, chuộng nhân nghĩa trọng đạo lí Truyền thống của người dân làng Đan Nê về bản chất là truyền thống của người Việt biểu hiện trong hoàn cảnh cụ thể Các truyền thống đó được truyền lại cho các thế hệ sau tiếp nối, góp phần cùng cả nước làm nên những bản anh hùng ca hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước.

1.5 Cuộc sống hiện đại ngày càng sôi động, nhưng cùng với thời gian, nhiều giá trị văn hóa truyền thống đã và đang dần dần bị mai một Vì vậy, gìn giữ và phát triển văn hóa làng xã là việc làm quan trọng và cần thiết của các cấp ủy Đảng, chính quyền và trách nhiệm của mỗi người dân tỉnh Thanh

Xuất phát từ lí do trên, chúng tôi mạnh dạn chọn vấn đề "Lịch sử - văn hóa làng Đan Nê" xã Yên Thọ, huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa làm luận văn tốt nghiệp của mình Thông qua công trình này chúng tôi cũng mong muốn đóng góp xây dựng một cái nhìn toàn diện hơn về đời sống tinh thần, tín ngưỡng của cư dân làng Đan Nê nói riêng và của cư dân nông nghiệp trồng cây lúa nước nói chung

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Nghiên cứu về làng và lễ hội tuy không còn là mảng đề tài mới mẻ nhưng vẫn không kém phần hấp dẫn và lý thú

Những công trình nghiên cứu về các làng Việt ở đồng bằng Bắc Bộ như

"Việt Nam phong tục của Phan Kế Bính", NXB Tổng hợp 1990; "Xã thôn Việt Nam" của Nguyễn Hồng Phong, NXB Khoa học xã hội; "Làng xóm Việt Nam"

của Toan Ánh, NXB Trẻ, thành phố Hồ Chí Minh 1992 Trong những công trình nghiên cứu trên, các tác giả tập trung làm rõ các vấn đề về địa lí tự nhiên, kinh tế - xã hội và những nét văn hóa truyền thống tiêu biểu của làng Việt nói chung Mặc dù, chưa đề cập đến một cách cụ thể và có hệ thống về vấn đề làng xã khu vực Bắc Trung Bộ, nhưng các tác giả cũng đã cung cấp

Trang 10

người đọc những hiểu biết, nhận định tổng quan về quá trình hình thành và phát triển của làng Việt.

Về vị thần Đồng Cổ đã được ghi chép nhiều trong các tài liệu như "Việt

điện u linh" của Lý Tế Xuyên và "Lĩnh nam chích quái" của Vũ Quỳnh, Kiều

Phú, "Đại Việt sử ký toàn thư" của Ngô Sỹ Liên, trong "Đại Việt thông sử" của nhà bác học Lê Quý Đôn, trong "Lịch triều hiến chương loại chí" của Phan Huy Chú, trong "Tam thai sơn linh tích" của Lam Kiều Nguyễn Dật Sảng,

"Việt sử tiêu án" của Ngô Thời Sỹ "Khâm định việt sử thông giám cương mục"

của Quốc sử Quán triều Nguyễn (năm 1881) và cuốn sách mới xuất bản "Di

tích núi và đền Đồng Cổ" của nhà xuất bản Thanh Hoá Qua các tài liệu,

chúng ta đã biết tới các di tích thờ thần Đồng Cổ như ngoài ở Đan Nê - Yên Định, còn có Đền Đồng Cổ ở Mĩ Đà (Hoằng Minh, Hoằng Hoá, Thanh Hoá), đền Đồng Cổ ở Bưởi - Tây Hồ và đền Đồng Cổ ở Nguyên Xá - Từ Liêm, Hà Nội Mặc dù còn có nhiều quan điểm khác nhau về thần tích thờ thần Đồng

Cổ (giữa sử sách và truyền thuyết dân gian), song giá trị lịch sử - văn hoá của các di tích là không thể phủ nhận

Tuy nhiên, trong những công trình nghiên cứu trên, các tác giả chủ yếu tập trung ở góc độ về làng Việt hoặc di tích, chứ chưa chuyên sâu về lịch sử văn hóa làng Đan Nê và lễ hội đền Đồng cổ Vì vậy, với đề tài "Lịch sử - văn hóa làng Đan Nê", tác giả muốn đóng góp một phần những tìm hiểu của mình

để làm hoàn thiện hơn những hiểu biết về sự phong phú của đời sống văn hóa tinh thần và giá trị văn hóa vật thể ở địa phương này

3 Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu

3.1 Nguồn tư liệu

Trong quá trình thực hiện đề tài tác giả chủ yếu sử dụng các nguồn tài liệu thành văn liên quan trực tiếp đến đề tài nghiên cứu và nguồn tài liệu điền

Trang 11

giã tại địa phương Đồng thời tác giả trực tiếp trao đổi với các vị cao niên trong làng về các câu truyện truyền thuyết, sự tích, hiện vật liên quan đến lịch

sử làng Đan Nê, về vị thần Đồng Cổ và cách thức tổ chức của lễ hội

3.2 Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện được đề tài, tôi vận dụng các phương pháp sau:

- Phương pháp luận nghiên cứu là sử học Mác xít

- Phương pháp nghiên cứu: sử dụng hai phương pháp chủ yếu là phương pháp lịch sử và phương pháp lôgic Ngoài ra còn sử dụng phương pháp nghiên cứu khoa học liên ngành, gồm: phương pháp thống kê, đối chiếu, so sánh, phương pháp điền giã, điều tra tại địa điểm làm đề tài và tham khảo thực

tế ở một số làng, lễ hội nổi tiếng như: Thọ Xuân và lễ hội Đền thờ Lê Hoàn,

lễ hội Mai An Tiêm ở Nga Sơn…

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Với nguồn tư liệu hiện có, luận văn xác định đối tượng nghiên cứu là tìm hiểu về làng Đan Nê và lễ hội đền Đồng cổ ở Yên Thọ - Yên Định với góc độ lịch sử văn hoá

4.2 Phạm vi nghiên cứu

- Về không gian: Đề tài nghiên cứu tại làng Đan Nê, xã Yên Thọ, huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hoá Ngoài ra tác giả còn khảo cứu thực tế thêm đền Đồng Cổ ở Hoằng Minh, Hoằng Hoá, đền Đồng Cổ ở thôn Trung Hậu, xã Hoằng Trung, Hoằng Hoá (Thanh Hoá), đền Đồng Cổ ở Phường Bưởi, đền Đồng Cổ ở Từ Liêm (Hà Nội) để mở rộng không gian quần thể đền Đồng Cổ

- Về thời gian: Nghiên cứu về lịch sử văn hoá làng Đan Nê từ thời kỳ phong kiến cho đến nay

Trang 12

5 Đóng góp của đề tài

Qua nội dung đề tài, luận văn đã đóng góp một số mặt cơ bản như sau:

- Cung cấp một phần thông tin nhất định cho bạn đọc, nhất là những người không có điều kiện tham dự lễ hội, biết về làng cổ Đan Nê, hiểu được những nét đẹp về phong tục tập quán, tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên và những anh hùng có công với đất nước của nhân dân ta

- Làm phong phú thêm lịch sử địa phương, cung cấp nguồn tư liệu phục

vụ nghiên cứu văn hóa, nghiên cứu về tín ngưỡng, tục lệ và hội làng

- Trong quá trình thực hiện, tác giả cố gắng sưu tầm tài liệu, lựa chọn các

sự kiện lịch sử, các địa danh, những câu chuyện dân gian có tính khoa học, tham dự lễ hội, ghi chép và chụp ảnh lại với hy vọng tái tạo lại không khí của

lễ hội, góp phần khơi dậy lòng tự hào dân tộc, ý thức trách nhiệm với cội nguồn, từ đó giáo dục truyền thống yêu nước cho các thế hệ trẻ

6 Bố cục của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, mục lục và phụ lục, nội dung chính của luận văn được trình bày qua 3 chương:

Chương 1: Điều kiện tự nhiên và quá trình hình thành, phát triển của

làng Đan Nê

Chương 2: Tình hình kinh tế và cơ cấu tổ chức của làng Đan Nê.

Chương 3: Đời sống văn hóa của làng Đan Nê.

NỘI DUNGCHƯƠNG 1: ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN VÀ QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH,

PHÁT TRIỂN CỦA LÀNG ĐAN NÊ

Trang 13

1.1 Điều kiện tự nhiên

1.1.1 Vị trí địa lý

Yên Định là một huyện đồng bằng thuộc châu thổ sông Mã, ở phía tây bắc thành phố Thanh Hóa với tọa độ địa lý từ 19056’ vĩ độ bắc, 105o29’-

105046’ kinh độ đông

Phía Đông Bắc giáp huyện Vĩnh Lộc, có sông Mã làm giới hạn

Phía Nam giáp huyện Thiệu Hóa

Phía Tây - Tây Nam giáp huyện Thọ Xuân, có sông Cầu Chày làm giới hạn

Phía Tây - Tây Bắc giáp huyện Ngọc Lặc và huyện Cẩm Thủy, có đường phân cách núi đồi làm giới hạn

Phía Đông, ở khu vực ngã Ba Bông (Định Công) tiếp giáp với cả bốn huyện Vĩnh Lộc, Hà Trung, Hậu Lộc, Hoằng Hóa

Hiện nay, tổng diện tích tự nhiên của toàn huyện là 228.209km2, dân số 173.000 người (năm 2009) với 29 xã, thị trấn (trong đó có Yên Lâm là xã miền núi) [24, tr.17]

Trong số 29 xã của Yên Định, xã Yên Thọ được biết đến với làng Đan

Nê và di tích núi và đền Đồng Cổ (công trình chào mừng 1000 năm Thăng Long - Hà Nội)

Nằm trên đường thiên lý Bắc - Nam, là vị trí thuận lợi trên con đường thượng đạo từ Thăng Long đến các vùng biên viễn phía Nam, lại là một thung lũng kín, chỉ có một lối ra, với vị trí đắc địa như vậy nên nhiều lần chinh chiến phương Nam các vua quan từ thời Tiền Lê, trải qua các triều đại Lý - Trần - Lê đều chọn nơi đây là nơi hạ trại Và mỗi lần dừng lại Đan Nê, quân

sĩ của ta đều được thần Đồng Cổ linh ứng phù hộ nên đều đại thắng Có lẽ vì thế, nên đền Đồng cổ đã được người xưa liệt vào thiêng nhất xứ Thanh

Trang 14

1.1.2 Địa hình, đất đai, khí hậu

* Địa hình

Cũng theo quy luật chung của nhiều vùng phía Bắc nước ta và tỉnh Thanh Hóa, địa hình Yên Định cũng nghiêng dốc và kéo dài từ Tây Bắc xuống Đông Nam

Ở phía Tây Bắc huyện là sự nối tiếp, kéo dài của miền đồi núi phía Tây của tỉnh Từ ranh giới chung với hai huyện Ngọc Lặc và Cẩm Thủy trở đi, không còn thấy những núi đồi cao từ 500m trở lên đến trên 1000m nữa Từ đây (và bao gồm cả vùng bán sơn địa của huyện), chỉ còn gặp những đồi núi thấp, nơi cao nhất cũng không quá 250m, chủ yếu là từ 150m trở xuống Từ 20m trở đi đã là vùng đồng bằng của châu thổ sông Mã Đó là vùng đồng bằng tiêu biểu và đặc trưng của cả xứ Thanh.[24, tr.18]

Dựa vào tính chất, đặc điểm của vùng đất, địa hình của Yên Định được chia làm 2 vùng:

Vùng bán sơn địa (thuộc địa hình xói mòn) ở phía Tây Bắc của huyện bao gồm nông trường Thống Nhất, cùng các xã Yên phú, Yên Giang, Yên Tâm, Yên Lâm và Quý Lộc Đây là vùng địa hình tiếp nối với miền đồi núi phía tây của tỉnh Từ đây trở đi, đồi núi đã thưa ra và chìm dần xuống đồng bằng, các đồi lượn sóng như bát úp chỉ cao trung bình có 200m Cũng từ ranh giới giữa huyện Cẩm Thủy và huyện Yên Định, dòng sông Mã đã bắt đầu mở rộng với dáng vẻ hiền hòa hơn khi chảy trên địa phận miền núi và đồng thời

từ xã Quý Lộc trở đi các bãi bồi rộng, hẹp khác nhau hình thành liên tiếp cả phía hữu ngạn và tả ngạn của dòng sông theo quy luật bên lở, bên bồi (có nghĩa là bên này là bãi bồi thì bên kia lại là vùng đất lở) Trên vùng bán sơn địa, nhờ đất tốt ở các bậc thềm phong hóa, việc phát triển trồng trọt và chăn nuôi đại gia súc tất cả đều thuận lợi Thời Pháp thuộc, đồn điền người của

Trang 15

châu Âu và người Việt đã lập ra từ làng này rất sớm (đầu thế kỷ XX) để trồng lúa, cà phê và nuôi bò.

Vùng đồng bằng: bao gồm 23 xã, thị trấn (gồm Yên Thọ, Yên Trung, Yên Bái, Yên Phong, Yên Thái, Yên Trường, Yên Ninh, Yên Lạc, Yên Hùng, Yên Thịnh, Định Hải, Định Hưng, Định Tân, Định Tiến, Định Tường, Định Tăng, Định Long, Định Liên, Định Hòa, Định Bình, Định Thành, Định Công

Nhìn về phía Tây Bắc từ Đa cổng, làng Đan Nê ngút ngàn trong tầm mắt của những cánh đồng rộng lớn, thẳng cánh cò bay Xa xa là dãy núi Chùa, nằm uy nghiêm như hình con voi phục, xa hơn nữa là dãy núi Mố sừng sững hiên ngang che trở, bao bọc phía tây của làng Đan Nê, mờ xa hơn là núi Bãi Điềm, dãy núi Yên Lâm in đậm trên nền trời xanh thẳm

Ngược từ làng nhìn về phía Tây là cánh đồng lúa bát ngát Tên những cánh đồng đã sống trong tiềm thức của người Đan Nê Nào đất ruộng phần trăm, Mã Lưu, Mã Rứa Dọc con đường đá vào làng Nham, những tên đồng, tên bãi như còn khắc chạm Đây đồng vùng Một, vùng Hai, vùng Ba Người

Trang 16

Đan Nê hôm nay nhớ cánh đồng Gốc Đa chỉ còn thẳm sâu trong ký ức Đi xa hơn là Sào Bái, là Kho Chùa, Cầu Liệm, Đồng Nham, Đồng Mố giáp Yên Lâm, Quý Lộc Dọc từ núi Chùa đến Đồng Bông là Đồng Hiếc, Đá Lở, Đồng Bông, Đồng Nhỏ Cồn bãi nay còn ít, nhưng Đê phòng, bãi Tràng, Gia Tô, Bờ Hón, Bãi Đòn thì người Đan Nê khó có thể quên được Những bãi mía ngọt lịm đường, những bãi ngô xanh mượt mà, những đồng bông trắng xóa từ mặt đất đến bầu trời có thể hôm nay chỉ là khoảng lặng trong tâm hồn của người Đan Nê đối với quê hương Nhưng đó là hồn cốt, là niềm vui, là hạnh phúc, là những buâng khuâng dịu ngọt của người Đan Nê xưa và nay khi ở chính quê mình, đặc biệt những lúc xa quê.

Phía Đông Nam làng Đan Nê giáp với xã Yên Trung Cựu Mã Giang hôm nay chỉ còn lưu dấu vết, nó chứng minh lịch sử ngàn năm của dòng sông

Mã Đó cũng là nơi hệ thống sông Mã được nối liền với hệ thống sông đào nhà Lê, từ chân núi Đồng Cổ được vua Lê Đại Hành cho đào từ thời Tiền Lê

* Đất đai

Từ năm 1945 đến nay, làng có con đê quốc gia chạy qua làng cắt làng thành hai phần:1/3 làng nằm ở nội đê, còn 2/3 làng ở ngoại đê Làng có diện tích tự nhiên là 230ha (kể cả thôn 11), diện tích thổ cư là 42ha, diện tích canh tác là 188 ha [57]

Đất thổ cư trong làng (chỉ tính 4 thôn: 1, 2, 3, 4) có độ dốc nghiêng rất lớn, độ nghiêng từ tây sang đông (trận lụt ngày 5/10/2007, toàn bộ phía đông làng nước ngập lụt từ 3m trở lên còn nửa làng phía Tây thì nhiều nơi nước chưa đến)

Đất canh tác ngoài đồng thì ngược lại, độ nghiêng lại từ đông sang tây

Vì vậy, các cánh đồng phía tây như cầu Chùa, cầu Liêm, Nổ Bụt… thường xuyên bị úng ngập, còn các cánh đồng phía đông thì quanh năm khô cạn

Trang 17

* Khí h ậu

Do nằm ở vị trí địa lí như đã nói trên, nên khí hậu của làng Đan Nê nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa với hai mùa chính: mùa hè nắng lắm, mưa nhiều và có gió tây khô nóng; mùa đông hanh lạnh và có sương giá, sương muối Xen kẽ giữa hai mùa chính là mùa thu (mùa chuyển tiếp từ hè sang đông thường hay bão lụt) và mùa xuân (mùa chuyển tiếp từ đông sang hè thường hay có mưa phùn)

Nhiệt độ không khí: Bình quân năm là: 23,30C

Mùa nóng, nhiệt độ trung bình là 250C (vào các tháng 5, 6, 7, 8 cá biệt

có thời điểm lên đến 41,10C Vào các tháng 5, 6, 7 thường có gió Tây Nam nóng thổi về)

Mùa lạnh, nhiệt độ trung bình thấp là 200C vào các tháng 12, tháng 1và tháng 2 năm sau Vào những ngày có sương muối, mưa phùn gió bấc thổi về,

có lúc nhiệt độ hạ xuống mức 4,10C vào cuối tháng 12 hoặc tháng 1 năm sau

Biên độ chênh lệch ngày và đêm cách nhau 6,40C [24, tr.27]

Với nền nhiệt độ không khí như vừa nêu sẽ rất thuận lợi cho việc sinh trưởng, phát triển cây trồng và bố trí nhiều vụ trong một năm Nhưng trong quá trình canh tác và bố trí mùa vụ phải chú ý lựa chọn các loại cây trồng phù hợp chịu được nắng nóng và rét hại Riêng lúc rét đậm, cần phải có một số biện pháp chống rét cho một số cây trồng, nhất là mạ để cấy cho vụ chiêm xuân

Bão thường xảy ra vào tháng 8 đến tháng 10 Tốc độ gió của bão lên tới 10m/s Sau những cơn bão thường có mưa to, mưa rất to, gây ngập úng nghiêm trọng

Trang 18

Vùng đất Đan Nê chịu tác động của hai hướng gió chủ đạo là gió mùa Đông Nam (thường xuất hiện vào tháng 4 đến tháng 10) và gió mùa Đông Bắc (thường xuất hiện từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau).

Như vậy, khí hậu của làng Đan Nê nói riêng và Yên Định nói chung là khí hậu của một mùa đông giá lạnh, khô và một mùa hè có bão lụt kèm theo Tính chất xen kẽ giữa hai mùa khô lạnh và nóng ẩm mưa nhiều diễn ra rõ nét Tuy khí hậu có những khắc nghiệt nhưng cơ bản vẫn rất thuận lợi cho việc canh tác nông - lâm nghiệp một cách phong phú, đa dạng và bền vững

1.1.3 Sông ngòi, giao thông

Yên Định có 4 hệ thống sông ngòi (gồm 3 con sông tự nhiên là sông

Mã, sông Cầu Chày, sông Mạn Định và một con sông đào cổ là con sông nhà

Lê, trong đó con sông Mã là con sông lớn nhất xứ Thanh và cả miền Trung) Trong quá trình tồn tại, các dòng sông này đều mang lại cho hầu hết mọi vùng đất trong huyện nguồn lợi vô cùng to lớn về đời sống sinh hoạt và canh tác của nhân dân, đồng thời đã tạo ra các vùng cảnh quan đẹp đẽ, nên thơ đầy ấn tượng mà không phải ở huyện nào cũng có được Vùng đất Đan Nê xưa cũng

là vùng lãnh thổ trực tiếp bị chi phối bởi hệ thống sông ngòi đó

Hệ thống sông Mã lớn nhất Thanh Hóa, trong phạm vi của tỉnh lưu vực bao trùm tới 4/5 diện tích của toàn tỉnh Sông Mã phát nguồn từ vùng Điện Biên Phủ, ở độ cao 800 - 1000m, chảy qua tỉnh Sơn La, Sầm Nưa (Lào) và vào Thanh Hóa ở Quan Hóa Phía thượng nguồn có hai nhánh lớn ngược chiều nhau, một phía bắc, một phía nam chảy dồn về giữa rồi nhập thành chung một nhánh chảy xuống, ngã ba này có dạng chữ T Vùng thượng nguồn hai bên núi ép sát vào sông, nên lòng sông hẹp và sâu, hai bên phần nhiều là thành vách đá dựng đứng, rất nhiều ghềnh thác Từ Bá Thước xuống Cẩm Thủy, cách Cẩm Thủy khoảng 15km, sông Mã đi hẳn vào vùng đồng bằng

Trang 19

thuộc huyện Vĩnh Lộc, Yên Định, Thiệu Hóa, Hoằng Hóa Trên đất Yên Định, sông Mã đi từ đầu huyện đến cuối huyện với chiều dài 31,5km Mặc dù phải len lách, đào xé biết bao núi đồi để tạo ra dòng chảy mỗi lúc một lúc mỗi rộng hơn ở khu vực miền núi phía tây bắc của tỉnh, nhưng khi về đến huyện Yên Định, Vĩnh Lộc, sông Mã vần còn phải oằn mình để đào xé tiếp một số dãy núi sót chắn ngang đường như núi Đồng Cổ, núi Sét, núi Quan Yên, núi Đồn Trang đến Ngã Ba Bông, nhiều ghềnh, thác, vực ngầm được tạo ra, đã trở thành nỗi ám ảnh và khiếp sợ cho những người làm nghề đò giang sông nước trước đây như ghềnh Ô Mễ, ghềng Sét, Vực Tôm, ghềnh Trùng Trục… Sông

Mã đi qua địa phận Yên Định, ngoài việc tạo ra các ghềnh thác, vực, chảy và vụng sâu xoáy xiết, rồi làm cho các bên bờ sông lúc lở, lúc bồi nên hai phía

bờ sông của huyện, chỗ thì sông ăn lấn vào đất liền, chỗ thì tạo ra những cánh bãi phù sa màu mỡ Ở giữa dòng sông, nhiều chỗ lại có cả cồn cát, lúc nổi, lúc chìm nếu không thuộc luồng lạch, thuyền bè thường hay dễ mắc cạn

Trên đất Yên Định, sông Mã đổi dòng đã để lại dấu vết rất rõ như hồ Cựu Mã Giang và các hón, đầm, mau, rạch ở nhiều nơi Xưa kia, sông Mã từ Đồng Cổ (Yên Thọ) lượn vòng qua các làng Đan Nê, làng Bồi, A Đô, núi Lời, Nam Thạch, Khả phú, Hổ Bái, Lưu Khê rồi ra Kiểu Do sự vòng vèo, quanh

co theo hình chữ V mà đoạn Cựu Mã Giang này đã gây biết bao khó khăn, nguy hiểm cho thuyền bè mỗi khi qua lại (ở Bến Cóc, bến đò Lo) Đến thời nhà Trần, triều đình đã cho đào nắn thẳng dòng sông từ làng Đan Nê đến Kiểu như bây giờ Vì vậy, từ đó trở đi, đoạn sông hình chữ V dần dần trở thành đoạn sông chết nên mới có tên gọi là Cựu Mã Giang (hồ lớn nhất huyện hiện nay, với diện tích mặt hồ là 300ha với trữ lượng nước trên dưới 4 triệu m3)

Với chiều dài 31,5km chảy qua huyện Yên Định, dòng sông Mã đã tạo

ra cho vùng đất này biết bao điều tốt đẹp và dấu ấn khó quên Nền văn hóa sông Mã - xứ Thanh trên vùng đất Yên Định có núi Nuông, Quan Yên của

Trang 20

thời kỳ đồ đá cũ vài chục vạn năm, rồi quê hương của Triệu Trinh Nương - một nữ anh hùng kiệt hiệt (ở thế kỷ III) và Khương Công Phụ - tiến sĩ đầu tiên của nước Việt (thế kỷ thứ VIII)… Bản sắc của Yên Định - xứ Thanh còn thể hiện đậm nét ở cảnh trí xóm làng, núi non, bãi màu đồng ruộng ở ven sông

Mã cùng cảnh tượng thuyền ngược, thuyền xuôi… Dòng sông Mã từ xưa đã biến Yên Định trở thành một vùng đất mở để giao lưu, tiếp nhận các luồng văn hóa, văn minh từ nơi xa đến Vì vậy mà đời sống vật chất và tinh thần trở nên phong phú và độc đáo Tuy dữ dằn nhưng sông Mã đã đem lại lợi ích vô cùng to lớn cho con người Ngoài việc cung cấp nguồn nước tưới vô tận cho đồng ruộng, sông Mã còn mang đến cho huyện Yên Định nguồn cát sỏi thật to lớn để cung cấp đầy đủ cho nhu cầu xây dựng trong và ngoài huyện Các cánh bãi ven sông với phù sa màu mỡ được dòng sông bồi đắp thường xuyên là nơi trồng các loại cây màu và cây công nghiệp rất lý tưởng đã góp phần làm giàu cho làng Đan Nê nói riêng và các làng xóm ở Yên Định nói chung

Từ huyện Ngọc Lặc, sông Cầu Chày chảy qua huyện Thọ Xuân, Yên Định, Thiệu Hóa rồi nhập về sông Mã ở cửa Phú Ninh (xã Định Công) cách Ngã Ba Bông chỉ độ hơn 1000m (ở đây "một con gà gáy, năm huyện cùng nghe" mà sử sách gọi là khu vực "Ngũ huyện kê")[24, tr.16] Toàn bộ sông Cầu Chày dài 87,5km, chảy qua địa phận huyện Yên Định khoảng 42km Hiện nay, ngoài sứ mệnh cung cấp nước cho các xã kề tả ngạn và hữu ngạn trồng trọt, canh tác được thuận lợi, sông Cầu Chày còn là nơi cung cấp nguồn

cá tôm đáng kể Trong mùa mưa, hay cả khi mùa cạn, cư dân các làng xã cận

kề đã tổ chức đánh cá trên sông đông như hội Lượn vòng từ đầu huyện đến cuối huyện, sông Cầu Chày cũng trở thành con sông có vị trí quan trọng trong đời sống của nhân dân hàng chục xã ở huyện Yên Định Và bên bờ sông này, nhiều nhân vật lịch sử nổi tiếng đã ra đời và làm rạng ngời sử sách đất nước, quê hương (như gia đình họ Ngô ở Đồng Phang - Định Hòa với các nhân vật

Trang 21

Ngô Kinh, Ngô Từ, Ngô Thị Ngọc Dao - thế kỷ XV, hay bảng nhãn Hà Tông Huân - nhân vật lịch sử lừng danh ở thế kỷ XVIII…) và trong thời kỳ đổi mới - công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn, những làng xã bên sông Cầu Chày đã có những bước tiến vượt bậc về tất cả các mặt Cuộc sống ấm no, hạnh phúc với một năm hai, ba vụ với năng suất rất cao.

Sông Mạn Định bắt nguồn từ Hón Kiểu (xã Yên Trường) trên sông Mã

Có câu "Thượng chí Hón Kiểu, hạ chí Bằng Trình" (thuộc xã Thiệu Hợp, huyện Thiệu Hóa) để nói về hành trình của con sông này Qua khảo sát, điền giã về các dấu tích còn lại của sông Mạn Định, có thể đây là một nhánh của sông Mã nối liền Cựu Mã Giang để lên Đồng Cổ Tuy nhiên, đến thời nhà Trần, triều đình đã cho đào nắn thẳng dòng sông thì Cựu Mã Giang và sông Mạn Định chỉ còn là dòng sông chết, chỗ thì được san lấp thành bình địa, chỗ thì được con người đắp ngăn thành hồ để giữ nguồn nước tưới và nuôi thả cá

Năm 982 - 983, với mục đích quân sự và kinh tế, Lê Hoàn đã cho đào

hệ thống sông từ Đồng Cổ thuộc làng Đan Nê (Yên Thọ - Yên Định) đến Bà Hòa (nay là xã Đồng Hòa, Tĩnh Gia) mà sau này dân gian vẫn quen gọi là sông nhà Lê Kênh nhà Lê được khởi đào từ núi Đồng Cổ, qua địa phận xã Yên Trung đến Yên Phú để nối sông Mã với sông Cầu Chày với độ dài khoảng trên dưới 10km Từ Yên Phú theo sông Cầu Chày, qua các xã Yên Thịnh, Yên Lạc, Định Tăng, Lê Hoàn lại cho đào tiếp đoạn kênh Ngọc Quang (thuộc xã Xuân Vinh), để nối sông Cầu Chày với sông Chu ở khu vực Cống Quanh bây giờ Rồi bên bờ sông Chu bên kia lại tiếp tục có kênh đào nối với sông Hoàng để vào Nông Cống, Quảng Xương và Bà Hòa (Tĩnh Gia) để vào Nghệ An

Có thể nói, trong thế kỷ X và tiếp sau đó, nhân dân Yên Định nói chung

và làng Đan Nê nói riêng, đã có công trực tiếp đào ra con kênh Bùi Đỉnh, mở

Trang 22

ra con đường giao thông thủy chiến lược vô cùng quan trọng từ Đồng Cổ đến

Bà Hòa để triều đình nhà Tiền Lê đến triều Lý bình định, trấn áp các thế lực chống đối ở phương Nam một cách thuận lợi nhất

Đến thời Lý Thái Tông (1028 - 1054), người làng Đan Nê lại tiếp tục đào vét và mở rộng đoạn kênh nhà Lê đã đào trước đó 40 năm Về sự kiện

này, sách "Đại Việt sử ký toàn thư" đã chép như sau: "Giáp Đan Nãi (Đan Nê)

ở Châu Ái làm phản Mùa hạ tháng 4 ngày mùng một, vua thân đi đánh giáp Đan Nãi, cho Đông cung thái tử ở lại kinh sư làm Giám Quốc Khi đánh được Đan Nãi rồi, sai Trung sứ đốc suất người Đan Nê đào kênh Đan Nãi Vua từ Đan Nãi trở về Kinh sư" [32, tr.253]

Sau hơn một ngàn năm, sông nhà Lê trên đất Yên Định - một đoạn đường thủy chiến lược Bắc - Nam thời phong kiến đã chấm dứt vai trò lịch sử

từ gần chục thập kỷ, nhưng đến nay con kênh đào ấy, dù chỉ còn dấu vết và hình hài không nguyên vẹn nhưng đó lại là chứng tích lịch sử rất đáng tự hào

Về giao thông, từ thành phố Thanh Hóa, theo đường bộ hay đường thủy (bến Hàm Rồng) đều có thể đến được làng Đan Nê Làng có ba con đường lớn tạo nên sự giao lưu thuận tiện giữa các cư dân trong làng, đó là con đường từ Đắc Lộc đi thẳng đến bến đò Trường Châu, rồi lại từ Đắc Lộc đường làng được chia thành 2 nhánh: một đi đến chợ Chùa, rẽ tay phải đi xuống bến Hàn (thôn 4 bây giờ) chạy theo vòng bờ sông; một đường từ Đắc Lộc đến chỗ chợ Chùa rẽ tay trái ra đa cổng thành ngã tư đi thẳng đến thôn II, đi phải lên Quý Lộc và rẽ trái là đi Ngân Trang [57]

Làng Đan Nê xưa và nay đều có điều kiện giao thông, thủy bộ rất thuận lợi Việc đi lại, giao thương Bắc - Nam, Đông - Tây, miền xuôi với miền ngược bằng đường thủy, đường bộ dễ dàng đã tạo nên một cuộc sống ấm no, hạnh phúc cho người dân nơi đây

Trang 23

1.2 Quá trình hình thành, phát triển của làng Đan Nê

1.2.1 Tên làng:

Theo truyền thuyết, làng cổ Đan Nê có từ thời đại các vua Hùng Làng Đan Nê ra đời gắn liền với nền văn hóa Đông Sơn có cách đây hàng ngàn năm Theo kết quả của các nhà khảo cổ học và những tư liệu của Giáo sư Phan Huy Lê và Giáo sư Đinh Xuân Lâm, cùng với những vật dụng, những dụng cụ làm bằng đồng tìm được ở núi Đồng Cổ như dao đồng, rìu đồng, mũi tên đồng, đặc biệt là trống đồng, đã khẳng định sự có mặt của người Việt cổ ở đây từ rất sớm

Đan Nê là đất địa linh nhân kiệt Thuở mới lập làng, làng Đan Nê có

tên là Kẻ Lao, theo các nhà nghiên cứu từ Kẻ có phiên âm Hán - Việt là cổ, hoặc thành chữ Khả Tên gọi Kẻ Lao, hay Khả Lao (tên núi Khả Lao ở làng)

bắt nguồn từ đó Trong "Tam thai sơn linh tích" của Lam Kiều Nguyễn Dật

Sảng [43] viết: làng có tên gọi là Khả Lao Theo thần phả của đền Đồng Cổ ở làng Nguyên Xá - Từ Liêm Hà Nội ghi lại: Từ những năm 40 dân Khả Lao thôn có một đội nghĩa sĩ đã hội nhập cùng quân Hai Bà Trưng chống quân Ngô tại làng Nguyên Xá và dựng miếu Đồng Cổ ở đây để cầu mong sự che chở của thần Đồng Cổ Trong truyền thuyết về đền Đồng Cổ cũng chứng minh Khả Lao là tên gọi đầu tiên của làng, sau đổi thành Khả Lao Thôn Do điều kiện phát triển tự nhiên cũng do yêu cầu của cuộc sống mà dân Khả Lao thôn di chuyển từ bờ Hóm đến vị trí làng bây giờ và đổi tên thành Thọ Lao thôn (tên Thọ Lao thôn được khắc vào bia và dựng trước hồ Bán Nguyệt)

Đến thời Trần, làng được đổi tên thành Đan Nê (tương truyền, thuở xưa khi

dân làng đào giếng tự dưng đất khơi lên có màu đỏ như son) Lại có chuyện khi ngựa chiến của quan quân nhà Lý trong cuộc bình Chiêm qua làng, lúc dừng vó đứng nghỉ ở đền Đồng Cổ, uống nước nơi hồ Bán Nguyệt trước đền,

Trang 24

mõm con nào cũng đỏ như son Đến thời Trần, Thái sư Trần Nhật Duật coi giữ trấn Thanh Hóa một lần thị sát ở Đan Nê, ngựa của Thái sư bị thụt xuống bùn, khi rút chân lên, chân ngựa dính toàn bùn màu đỏ nên Thái Sư đổi tên từ Khả lao thành Đan Nê Đan là đỏ, Nê là bùn) [7, tr.16]

Đến thời Pháp thuộc, Đan Nê được gọi là Tổng Đan Vì gần huyện nên được gọi là Tổng Đan thượng, còn làng Quý Lộc được gọi là Tổng Đan hạ Mọi giấy tờ đều phải ghi là Đan Nê thượng mới hợp pháp, ngay cả đồng triện

của làng cũng khắc lại là Đan Nê thượng Tên Đan Nê được dùng để đặt tên

làng, tên xã và tên tổng trong 8 tổng của huyện Yên Định trước Cách mạng Tháng Tám 1945

1.2.2 Quá trình hình thành, phát triển của làng:

Trong lịch sử hình thành và phát triển của đồng bằng châu thổ sông

Mã, Yên Định được xem là một trong những địa bàn không chỉ có lịch sử phát triển văn hóa lâu đời mà còn được coi là nơi diễn ra nhiều sự kiện lịch sử sôi động, phong phú trong tiến trình lịch sử dân tộc Có thể nhìn thấy bức tranh toàn cảnh của vùng đất này từ những dấu vết hoạt động chủ yếu của người nguyên thủy thời kỳ tiền sử, sơ kỳ thời kỳ đồ đá cũ, sự xuất hiện của các bộ lạc Sơn Vi đến trang mở nước đầu tiên thời kỳ văn hóa Đông Sơn, tương đương với thời kỳ vua Hùng dựng nước Sau thời kỳ An Dương Vương ngắn ngủi là 1.000 năm đô hộ của phong kiến phương Bắc, rồi khoảng 1.000 năm dưới chế độ của nhà nước quân chủ Việt Nam, trong đó có 80 năm thực dân Pháp đô hộ Tiếp theo đó, gần một thế kỷ đấu tranh cách mạng kiên cường của nhân dân Yên Định dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng Sản Việt Nam cho đến hôm nay là cả một chặng đường lịch sử hàng vạn năm đã trôi qua Trong khoảng thời gian dài dằng dặc đó, cuộc sống của con người trên vùng đất này không phải là êm đềm, bình thản, mà là cuộc đấu tranh đầy khó

Trang 25

khăn gian khổ trên con đường cải tạo thiên nhiên cải tạo mình và các thế lực chống ngoại xâm đầy kỳ tích Chính những kỳ tích đó đã làm nên diện mạo riêng của vùng đất trên dặm dài lịch sử.

Trong thời tiền sử - sơ kì thời đại đá cũ - văn hóa núi Đọ, tại núi Nuông, núi Quan Yên (Yên Định), các nhà khảo cổ học cũng đã tìm thấy những hòn đá được ghè đẽo thô sơ để chế tạo thành công cụ, phương tiện để kiếm sống Năm 1978, các nhà khảo cổ học đã phát hiện tại núi Nuông những vết tích của con người thời đại đồ đá cũ có quan hệ gần gũi với cư dân núi

Đọ Đó là những loại hình công cụ như rìu tay, công cụ gần rìu tay, công cụ chặt thổ, nạo, mảnh tước, hạch đá… Qua những bộ sưu tập hiện vật của núi

Đọ và núi Nuông, các nhà khảo cổ học cho rằng, rất có thể cư dân nguyên thủy núi Đọ và núi Nuông có quan hệ gần gũi với nhau, có quan hệ mật thiết với nhau về nguồn gốc và thời gian tồn tại Cũng như núi Đọ, núi Nuông vừa

là nơi cư trú vừa là nơi chế tác công cụ - một di chỉ xưởng của người tiền sử ở

Thanh Hóa Năm 1978, các nhà khảo cổ học còn phát hiện một di tích của con người thời đá cũ ở núi Quan Yên Núi Quan Yên cũng nằm ở chỗ hợp lưu giữa sông Mã và sông Cầu Chày, cách núi Đọ theo đường chim bay khoảng 3km về phía Bắc - Tây Bắc, cách núi Nuông khoảng 1,5 về phía Đông Bắc

Như vậy, ngay từ buổi bình minh của lịch sử, vào thời kì sơ kì đồ đá cũ, cách ngày nay 30 - 40 vạn năm, núi Nuông, núi Quan Yên nói riêng và Thanh Hóa nói chung đã là nơi sinh sống của bầy người nguyên thủy, trong đó hệ thống núi Đọ (Thiệu Hóa), núi Nuông, núi Quan Yên (Yên Định), núi Nở (Vĩnh Lộc) đã làm nên một nền văn hóa núi Đọ nổi tiếng trong nền văn hóa khảo cổ ở Việt Nam Làng và cư dân Đan Nê tự hào trong chiếc nôi chung đó

Trong thời đại đồ đồng và văn hóa Đông Sơn (giai đoạn tiền Đông Sơn, văn hóa Đông Sơn), tại làng Đan Nê thuộc xã Yên Thọ, các nhà khảo cổ

Trang 26

học cũng phát hiện những công cụ như rìu lưỡi xéo, mũi tên, giáo, lưỡi câu, hạt cườm đồng (đặc biệt hơn là trống đồng, thạp đồng ở giai đoạn phát triển

về sau)… các hiện vật trên đã chứng tỏ cư dân vùng Đan Nê đã có một đời sống được xác lập, trong đó cây lúa nước được đặt lên vị trí hàng đầu; các nghề thủ công như luyện kim, chế tạo kim loại, nghề làm đồ gốm, trong đó có

cả tư duy thẩm mỹ và nghệ thuật tạo hình được thể hiện qua các hiện vật đều khẳng định trình độ phát triển của cư dân làng này đạt tới một trình độ đáng kể

Ở làng Đan Nê, các di vật được phát hiện ở đây gồm đồ đồng như: trống đồng, thạp đồng, giáo đồng, rìu đồng, lưỡi dao găm; đồ gốm các loại bát, bình, nồi, đồ trang sức, vòng tai, khuyên tai, vòng tay bằng đồng và đá quý… đã khẳng định về sự có mặt của văn hóa Đông sơn trên vùng đất này Đặc biệt, trống đồng - sản phẩm tiêu biểu của nền văn minh Đông Sơn được tìm thấy nhiều ở đây Tại Đan Nê, năm 1941 nhân dân phát hiện một trống đồng ở khu vưc Mã Lưu, năm 1946 một trống đồng ở khu vực chùa Bến, tiếp

đó năm 1977 nhân dân còn phát hiện một thạp đồng ở Mã Lưu Như vậy, thời

kì văn hóa Đông Sơn ở Thanh Hóa các di tích phân bố trên địa bàn rộng lớn, đặc biệt là đôi bờ hạ lưu sông Mã từ Đồng Cổ (Yên Định) đến Hàm Rồng (thành phố Thanh Hóa) đã hình thành các nhóm di tích Đông Sơn Điều đó cũng khẳng định làng Đan Nê là làng cổ và là một trong những nơi phát triển của văn hóa Đông Sơn Sự phát triển đó đã góp phần quan trọng làm cho nền văn minh Đông Sơn tỏa sáng, nhanh chóng trở thành vùng đất trung tâm của

bộ Cửu Chân - một trong 15 bộ của nước Văn Lang thời các Vua Hùng dựng nước

Trong thời kì Bắc thuộc (từ năm 179 trước công nguyên đến đầu thế kỷ

X sau công nguyên), ở Yên Định thời kì này vùng Quan Yên (Định Tiến, Định Công), Đan Nê (Yên Thọ) là những vùng trung tâm dân cư đông đúc có

Trang 27

thể sánh với Đông Sơn, Hoằng Hóa, có thể có một lượng hàng hóa đủ mạnh

để hình thành một tầng lớp chuyên nghề buôn bán Hàng hóa của hai vùng này chắc chắn đã xuôi sông Mã, sông Chu theo các cửa biển Thần Phù, Lạch Trường ra biển để vào Nam ra Bắc Trong hơn 1000 năm Bắc thuộc, nhân dân Yên Định nói riêng và các quận Cửu Chân, và các quận của quốc gia Văn Lang - Âu Lạc nói chung bị sự đàn áp bóc lột rất nặng nề của bọn thống trị phương Bắc Vì vậy, từ những năm 40 làng Đan Nê đã có một đội nghĩa sĩ (chủ yếu là phụ nữ) họ rước hiệu bụt chân hương đền Đồng Cổ ra Bắc tụ nghĩa với nghĩa quân Hai Bà Trưng Khi đến làng Nguyên Xá (Từ Liêm - Hà Nội), dựng miếu thờ Thần, cầu mong được sự che chở phù hộ của thần Đồng

Cổ Người dân làng Đan Nê đã tham gia cuộc khởi nghĩa hai Bà Trưng trên đất Cửu Chân cho đến khi cuộc khởi nghĩa kết thúc

Năm 248, cuộc khởi nghĩa của Bà Triệu diễn ra trên đất Cửu Chân, một lần nữa người dân làng Đan Nê lại sát cánh cùng với những người dân trong

cả nước vùng lên đánh đuổi quân Ngô "giành lại giang sơn, cởi ách nô lệ"…

Hơn 10 thế kỉ chống "Bắc thuộc" với công cuộc tự chủ của họ Khúc (905 - 930), họ Dương (931- 937), với chiến thắng Bạch Đằng vĩ đại (938) đã chấm dứt hoàn toàn ách đô hộ hơn 1000 năm của các triều đại Trung Hoa, mở

ra một kỉ nguyên mới, kỉ nguyên độc lập dân tộc và phục hưng văn hóa ở thế

kỉ X Nói đến sự cống hiến của Châu Ái với thế kỉ X, trong đó có vùng đất Yên Định, phải nhắc tới 3 nhân vật tiêu biểu ở thời kì này, đó là: Quận công

Lê Quốc Thực (ông sống dưới thời Đinh - Tiền Lê), Tướng quân Đào Lang với sự nghiệp đào kênh nhà Lê và Ngoại Giáp Đinh Điền Người dân Yên Định tự hào về sự đóng góp của mình trong truyền thống lịch sử của dân tộc

Theo dòng chảy của lịch sử, đất nước trải qua các triều đại Lý (1010 - 1225), thời Trần - Hồ (1226 - 1407)… đến thời Nguyễn (1802- 1945), thời

Trang 28

nào cũng vậy, vùng đất Yên Định luôn có những nhân vật quan trọng đóng góp vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ vững chắc nhà nước Đại Việt

Năm 1885, khi Hàm Nghi và Tôn Thất Thuyết ban chiếu Cần vương, làng Đan Nê đã tích cực tham gia và ủng hộ phong trào Tiêu biểu như các cụ: Lưu Quang Cận, Lê Trương Ỷ, Trịnh công Mặc, Lưu Đình Lương, Dương Văn Tâm, Trịnh Lưu Phẩm… đã tham gia đội nghĩa quân của Phan Đình Phùng Theo như các cụ cao tuổi trong làng kể lại làng Đan Nê có một cơ sở làm vũ khí ở trong núi, nhưng sớm bị lộ, thực dân Pháp tiến hành khủng bố trắng, những người làm vũ khí đã phải bỏ làng mai danh ẩn tích.[57]

Trước Cách mạng Tháng Tám năm 1945, trong làng có nhiều hội ái hữu, tương đoàn, giúp đỡ nhau chống sưu thuế, có nhiều người tham gia như ông Lưu Gia Hợp (đứng đầu), ông bát Chuyên, ông bản Sương, ông Đàm, ông Đậu… thực dân Pháp khủng bố đàn áp, những người tham gia bị bắt và cầm

tù từ 2 năm trở lên Từ năm 1942, làng Đan Nê có 2 cở sở hoạt động cộng sản:

- Một cơ sở tại lẫm lúa nhà ông lý trưởng Lưu Trọng Phổ (tức ông Chánh Huỳnh) do bà Lưu Thị Nhu (tức bà Phương Mai) nuôi dưỡng bảo vệ che chở cho các đồng chí: Lê Hồng Quế, Bùi Kính Thăng và Tố Hữu hoạt động Đến năm 1943, Bà Phương Mai được kết nạp vào Đảng - Bà là người đảng viên Đảng cộng sản đầu tiên của làng

- Cơ sở thứ hai tại gác 2 nhà ông lý trưởng Lưu Đức Duật (tức ông Chánh Lắt) do bà Lê Thị Nhung tổ chức, che chở, bảo vệ - sau này nơi đây trở thành khu Đảng bộ đầu tiên của xã Yên Thọ gồm ông Phạm Tư Chất, Ông Thăng, Ông Cẩm, bà Nhu và thành lập đoàn thanh niên cứu quốc của xã cũng tại đây

Trang 29

Phong trào truyền bá Quốc ngữ, đồng thời cũng là hoạt động vận động thành lập Đoàn thanh niên cứu quốc gồm các ông: Lưu Quang Tước, Hà Văn Thịnh, Hà Văn Giác, Lưu Đình Cẩm, Hà Phạm Tình Đến đầu năm 1945 thì thành lập Đoàn thanh niên cứu quốc do ông Hà Văn Giác làm Bí thư đoàn.

Vào khoảng giữa năm 1945 thì mặt trận Việt Minh do ông Phạm Tư Chất làm chủ nhiệm, Ông Lưu Đình Cẩm làm phó phụ trách quân sự

Ngày 18 tháng 8, Đan Nê có một đội vũ trang do ông Lê Văn Xuân (tức ông Ngơi) chỉ huy, tham gia cướp chính quyền Huyện

Ngày 19 tháng 8 năm 1945, làng Đan Nê đã khởi nghĩa thành công cùng với cả nước Ủy ban cách mạng lâm thời dược thành lập ở cấp xã do ông Phạm Tư Chất làm Chủ nhiệm Việt Minh, ông Phạm Ngọc Thăng làm thư kí Ông Lưu Đình Cẩm làm Ủy viên thường trực sau đó thành lập Ủy Ban hành chính kháng chiến do ông Lưu Đức Chương làm Chủ tịch đầu tiên Tất cả các làng thu đồng triện của Lí trưởng Ở làng Đan Nê là ông quyền Thoa nộp và ông Lưu Đinh Cẩm được bầu làm trưởng thôn

Sau cách mạng Tháng Tám thành công, đầu năm 1946, có phong trào đóng góp đồng, vàng, thóc, tiền ủng hộ kháng chiến Dân làng Đan Nê ủng hộ phong trào này rất lớn, gồm: 10 đôi nhẫn vàng (đi đầu là bà Trách), 100 tạ thóc (đứng đầu là bà Chánh Huỳnh ủng hộ 20 tạ) và rất nhiều tiền (đứng đầu

là ông Tuần Nhân ủng hộ 1000 đồng bạc Đông Dương) Cả làng ủng hộ rất nhiều mâm đồng, nồi đồng xanh, nồi đình đồng Vì vậy mà làng Đan Nê được Nhà nước khen thưởng

Từ cuối năm 1945 đã có phong trào tòng quân, dẫn đầu là các anh: Lưu Đình Quế, Lê Trương Cẩm, Phạm Doãn Cư, Lưu Quang Sồi Tiếp theo là phong trào tòng quân của thanh niên học sinh, điển hình có các anh: Lưu Đình

Hy, Hà Phạm Phúc Các anh đang học tú tài đã thôi học dẫn nhau lên làng

Trang 30

Đồng Cổ để đặt tên cho mình, anh Hà Phạm Phúc là Võ Đan Tùng (tức cây thông làng Đan), anh Lưu Đình Hy là Võ Đức Thông (tức cây thông đen), cây thông này cao lớn hơn cây trước Các đợt tòng quân sau này, Thanh niên trong làng đều đưa nhau lên động Ích Minh đốt đuốc tuyên thề Động Ích Minh mang tên là Hang tòng quân cho tới bây giờ.

Suốt 30 năm kháng chiến của dân tộc, làng Đan Nê đã có 515 người tòng quân nhập ngũ, có 15 cán bộ cao cấp trong quân đội và có hàng trăm sĩ quan Làng cũng vô cùng thương tiếc và biết ơn 76 người con ưu tú của làng

đã anh dũng hi sinh cho quê hương đất nước Trong Làng Đan Nê có 8 gia đình có 2 người là liệt sĩ:

1 Gia đình ông Lê Trương Bính: 2 liệt sĩ là Lê Trương Mạnh, Lê Trương Mãn

2 Gia đình ông Lưu Huy Võ: 2 liệt sĩ là Lưu Huy Bông, Lê Huy Nở

3 Gia đình ông Hà Phạm Thụ: 2 liệt sĩ là Hà Phạm Thanh, Hà Phạm Tấn

4 Gia đình ông Lê Văn Na: 2 liệt sĩ là Lê Văn Thanh, Lê Văn Thảo

5 Gia đình ông Lưu Đình Ty: 2 liệt sĩ là Lưu Đình Ứng và Lưu Đĩnh Lĩnh

6 Gia đình bà Trịnh Thị Yên: 2 liệt sĩ là Phạm Bá Bế, Phạm Bá Khải

7 Gia đình ông Lê Trọng Ân: 2 liệt sĩ là Lê Trọng Tư, Lê Thị Thu

8 Gia đình bà Nguyễn Thị Tùy: 2 liệt sĩ là Lê Trương Cam là chồng

và Lê Trương Quyền là con

Làng được Nhà nước phong tặng 7 bà mẹ Việt Nam anh hùng [57]

Trang 31

Suốt 30 năm kháng chiến, làng liên tục giúp đỡ, nuôi nấng, bảo vệ, nhường cơm sẻ áo, nhường nhà, nhường ruộng, vườn cho cơ quan ở như công binh xưởng Trần Quốc Trọng, Nguyễn Công Cây, Trường Cao đẳng Giao thông công chính, trường Trung cấp Thương nghiệp trung ương, Nhà máy điện binh giã Hàm Rồng, nhiều đoàn điều trị binh dưỡng thương binh, nuôi dạy các con em Miền Nam… tất cả các cơ quan sơ tán về Đan Nê đều được dân làng giúp đỡ tận tình chu đáo, an toàn tuyệt đối Cũng vì thế mà giặc Pháp và giặc Mĩ điên cuồng đánh phá Đan Nê nhiều lần, nhiều đợt, gây tội ác tày trời nhưng chúng không làm lung lạc được lòng yêu nước của dân làng Đan Nê.

* Tiểu kết chương 1:

Nhìn chung, làng Đan Nê là một trong những vùng đất sớm xuất hiện con người, xứng đáng là cái nôi văn hóa, cội nguồn lịch sử ở Thanh Hóa Di chỉ khảo cổ học, dấu vết dân tộc học, là những bằng chứng sinh động nhất

Địa hình, đất đai, sông ngòi, khí hậu là những yếu tố quan trọng tác động rất lớn tới sự hình thành và phát triển của làng Đan Nê

Nằm trên con đường thiên lý Bắc Nam, là vị trí thuận lợi trên con đường thượng đạo từ Thăng Long đến các vùng biên viễn phía Nam, làng Đan

Nê có một vị trí quan trọng trong lịch sử của dân tộc

Căn cứ vào các nguồn thư tịch, các tài liệu văn bia còn lại, chúng ta thấy làng Đan Nê có lịch sử hình thành tương đối sớm (làng cổ) Làng Đan

Nê mang đầy đủ những yếu tố làng truyền thống của người Việt - của những

cư dân nông nghiệp trồng cây lúa nước

Cũng như bao làng quê khác ở Việt Nam, lịch sử phát tồn tại và phát triển của làng luôn gắn với quá trình đấu tranh bảo vệ nền độc lập dân tộc Vì

Trang 32

vậy, truyền thống của cha ông luôn được các thế hệ sau này gìn giữ và phát huy

CHƯƠNG 2: TÌNH HÌNH KINH TẾ VÀ CƠ CẤU TỔ CHỨC CỦA

LÀNG ĐAN NÊ 2.1 Tình hình kinh tế

Trang 33

Trước Cách mạng Tháng Tám năm 1945, làng Đan Nê có 2 nghề song song, đó là thương nghiệp và nông nghiệp.

2.1.1 Thương nghiệp

Là một huyện tiếp nối giữa đồng bằng với trung du miền núi, lại có sông Mã, sông Câu Chày và kênh đào thời Tiền Lê (nối giữa sông Mã và sông Cầu Chày và sông Chu thành con đường thủy chiến lược Bắc Nam trong nghìn năm phong kiến) đi qua, cho nên, vốn từ xưa, Yên Định đã được xem là một vùng đất cửa ngõ có thể giao lưu, đón nhận các luồng dân cư, dòng họ từ Bắc vào Nam, hay từ Nam ra Bắc đến Nhiều bến sông của Yên Định như Quí Lộc, Đan Nê, Kiểu, Sét, Trịnh Điện, Duyên Lộc, Yên Hoành, Kênh Thôn, Lăng Thôn, Duệ Thôn, Phú Ninh, Cẩm Trướng…(trên sông Mã) và các bến Hải, bến Cẩm, bến Nhì, bến Vàng…(trên sông Cầu Chày) đều trở thành nơi hội tụ thuyền bè và người tứ xứ lại, qua, đi, về, để trao đổi mua bán hàng hóa

Riêng về khu vực Đan Nê (Yên Thọ) - một vùng đầu mối giao thông thủy - bộ Bắc - Nam trong hàng nghìn năm phong kiến đã được sách Đại Nam nhất thống chí ghi chép và đánh giá cụ thể như sau : "Phía sau đền thờ (tức đền Đồng cổ), có bến đò cổ, dân cư buôn bán khá đông Đó cũng là một đô

hội trong vùng Ái Châu vậy" [58, tr.60 ] (Văn hóa Tùng thư, Đại Nam nhất

thống chí, tập thượng - tỉnh Thanh Hóa, do Á Nam Trần Tuấn Khải phiên

dịch, Nhà văn hóa Bộ Quốc gia giáo dục - Sài Gòn xuất bản năm 1960, trang 60)

Làng Đan Nê có bến đò Trường Châu sầm uất, trù phú, có các tác dụng rất lớn cho nghề buôn bán nên kinh tế thương nghiệp nhiều khi nổi lên hàng đầu chủ yếu là buôn bán bằng đường sông, phương tiện thuyền bè Làng có chợ Cửa Hậu tấp nập sầm uất, đông khách, trên bến, dưới thuyền

2.1.2 Tình hình phát triển nông nghiệp

Trang 34

Ở Làng Đan Nê, nông nghiệp cũng phát triển mạnh mẽ, người dân nơi đây trồng nhiều loại cây như lúa, ngô, đậu các loại, lạc vừng, đặc biệt là cây bông, còn ở trong vườn nhà thì chủ yếu là trồng cây trầu, cây cau

Làng trồng các giống lúa sau:

- Lúa nếp gồm: nếp hạt cau, nếp hoa vàng, nếp mây, nếp con, nếp một…

- Lúa tẻ gồm: lúa hiên, lúa dư, lúa hạt tiêu, lúa xa đỗ, lúa lốc Điều kiện canh tác lạc hậu, phụ thuộc vào nước trời mưa, 1 năm 1 vụ năng suất thấp từ

bị hư hỏng Cây bông ở Đan Nê, Yên Định từng được Lê Quý Đôn trong sách

Vân đài loại ngữ ví như "kén vàng", tựa như những "con tằm chín óng ánh",

được khắc trên cửu đỉnh ở kinh thành Huế [17, tr.20]

Làng Đan Nê còn được biết đến qua câu ca dao:

Ai về nhớ bưởi Đông Hòa Nhớ cau Hổ Bái, nhớ cà Đan Nê [7, tr.12]

Trang 35

Trong vườn của người dân Đan Nê, cây trồng chủ yếu là cây trầu và cau Cây trầu ở Đan Nê là cây đặc sản, loại trầu quế cay, thơm, lá nhỏ màu vàng nhạt, lá cong là loại trầu ngon nhất vùng do giống và thổ nhưỡng Các nơi khác không trồng được Sau này có Thúy Đại trên Đan hạ có giống trầu gần giống trầu Đan Nê Do là cây đặc sản nên làng giữ gìn, người trong làng

thường truyền nhau câu nói: 1 đồng, 1 giỏ - không bỏ cây trầu [57]

Sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, cơ bản kinh tế làng vẫn như trước đây Sau này, Đảng và Nhà nước từng bước có các chủ trương thay đổi, kinh tế làng cũng từng bước phát triển

Năm 1952 có chủ trương và sắc lệnh giảm tô, giảm tức Trước đây, làm ruộng của nhà giàu phải rẽ đôi nhà giàu - chủ ruộng một nửa, nông dân làm rẽ được một nửa hoặc đóng tô từ 30 - 40kg/sào tùy loại ruộng tốt, xấu

Năm 1952 có sắc lệnh giảm tô, ruộng đất làm đến lúc gặt thì chia 3, chủ ruộng 1/3, nông dân 2/3 hoặc nộp 20-30kg/sào Lúc này, hình thức kinh tế có các tổ đổi công làm chung với nhau từng nhóm Đến năm 1953, Quốc hội thông qua luật cải cách ruộng đất, hình thức kinh tế vẫn chưa thay đổi

Năm 1954, có chủ trương đấu tranh chính trị đánh đổ uy thế của giai cấp địa chủ đồng thời tiến hàng cải cách ruộng đất với hình thức tịch thu, trưng thu, trưng dụng, trưng mua ruộng đất chia cho nông dân Ruộng đất từ đây về tay nông dân Nhưng hình thức kinh tế vẫn là tổ đổi công Đời sống được nâng lên đáng kể

Đến năm 1959, có chủ trương thành lập hợp tác xã, đưa nông dân vào làm ăn tập thể, lúc này làng Đan Nê thành lập hợp tác xã đầu tiên có tên là Sơn Tự, do ông Trịnh Minh Tâm làm chủ nhiệm Sau đó, thành lập thêm hợp tác xã Thọ Đình do ông Lê Trương Bao làm chủ nhiệm Đầu năm 1960, thành lập thêm hợp tác xã Long Hải do ông Lưu Đinh Quế làm chủ nhiệm Khoảng

Trang 36

giữa năm 1960, có chủ trương chia nhỏ hợp tác xã, thành lập hợp tác xã Trung

Tự do ông Trọng Đáp làm chủ nhiệm, Hợp tác xã Trung Hải do ông Lê Văn Mặn làm chủ nhiệm Đến năm 1965, cả làng Đan Nê thành 1 hợp tác xã do ông Phạm Doãn Cứ làm chủ nhiệm Cùng lúc này, thành lập Đảng Bộ làng gọi là Đảng bộ bộ phận do ông Lê Trọng Hàm làm Bí thư Đến năm 1969 thành lập Hợp tác xã toàn xã Đến năm 1981 lại tách hợp tác xã về các làng Đồng thời lúc này có chủ trương khoán sản đến nông dân (gọi là khoán 100) tức là theo chỉ thị số 100 Lúc này hợp tác xã Đan Nê do ông Lê Trương Chiến làm chủ nhiệm và ông Hàm vẫn giữ chức Bí thư Đến năm 1984, ông Chiến mất ông Phạm Bá Ngơi thay làm chủ nhiệm Cũng lúc này, ông Trần Thanh Mạch làm bí thư Đảng ủy Các đội sản xuất có chi bộ (thay tổ đảng)

Đến năm 1985, có chỉ thị 10 của Trung ương giao khoán toàn diện cho nông dân Xã viên nhận ruộng nộp sản cho hợp tác xã Từ lúc có chỉ thị số

100 và số 10 của Trung ương giao khoán, năng suất từng bước được nâng lên rất nhanh Đời sống dân làng được cải thiện rất nhiều Từ năng suất 80kg/sào nâng 250 kg/sào đến nay lên đến 350kg/sào, thậm chí có nhà đến 400 kg/sào

Đến năm 1992, có chủ trương giao ruộng đất đến từng người được quyền sử dụng, được cấp sổ đỏ Được quyền cho, bán, nhượng với số ruộng đất được quyền sử dụng theo sổ đỏ Cũng từ đây, năng suất từ 250kg/ sào lên

350 - 400kg/ sào - đảm bảo vững chắc đời sống cho người dân Lương thực

dự trữ thường xuyên trong dân là từ 2 năm trở lên Không còn hộ đói, hộ nghèo cũng chỉ còn dưới 8% cả làng, không còn nhà tranh, vách đất Toàn dân được dùng điện lưới quốc gia hơn 20 năm nay Điện, đường, trường, trạm kiên cố hóa, vững chắc Gần 100% số hộ có ti vi, hơn 70% số hộ có xe máy, hơn 80% số hộ dùng điện thoại các loại và bếp ga Các tiện nghi sinh hoạt hàng ngày đầy đủ, nhà cao tầng kiên cố đang phát triển, xây dựng khá nhiều Làng được công nhận là làng văn hóa cấp Tỉnh [57]

Trang 37

2.2 Cơ cấu tổ chức của làng

2.2.1 Vài nét về bộ máy quản lí làng xã truyền thống

Khi nói về làng xã Việt Nam là đang nói về cơ sở tồn tại của nông thôn Việt Nam Làng trở thành đơn vị hành chính thấp nhất trong hệ thống cơ cấu

tổ chức của bộ máy phong kiến Việt Nam Quyền tự trị của mỗi làng được xác định bằng câu "phép vua thua lệ làng" Làng là một đơn vị hành chính, kinh tế, xã hội, và tôn giáo riêng biệt Người nông dân ở làng không phải nộp thuế trực tiếp cho chính quyền trung ương mà thông qua thôn làng (xã) Làng Việt luôn bao hàm 2 yếu tố tự trị và phụ thuộc Làng là đơn vị hành chính cơ

sở, là một tập hợp những hộ cùng sống với nhau trên cùng một khu vực, thường được bao bọc bởi lũy tre xanh, có mái đình, cây đa, giếng nước

Trước Cách mạng tháng Tám năm 1945: Làng chia ra nhiều đơn vị tổ chức hành chính như xóm, làng có 13 xóm (có thời kỳ còn thêm Tân thôn thành 14 xóm) với tên gọi:

Trang 38

Nê, gồm Đan Nê thượng và Đan Nê hạ Từ năm 1946 có tên gọi là xã Đan

Nê Từ cuối năm 1947, xã Quang Trung (Yên Bái) và xã Đan Nê hợp thành

xã Yên Thọ Năm 1955, xã Yên Thọ lại chia thành 3 làng nhỏ: Đan Nê, Yên Trường và Yên Thọ Xã Yên Thọ mới có 3 làng: Đan Nê, Đắc Lộc và Tu Mục

Ở làng Đan Nê, các xóm được gọi là đội và cho đến nay thì gọi là thôn Làng Đan Nê được tổ chức làm 5 thôn gồm: thôn 1, thôn 2, thôn 3, thôn 4 và thôn 11

Cùng với quá trình thành lập và phát triển, làng Đan Nê ngày càng có thiết chế chặt chẽ hơn Theo nhiều nguồn tài liệu cho thấy bộ máy quản lí của làng bao gồm các thiết chế sau:

- Hội đồng lí hương:

Là tổ chức quản lí dân bằng pháp chế Đây là một bộ phận đại diện cho nhà nước phong kiến ở làng chấp hành các mệnh lệnh của nhà nước trong phạm vi xã thôn Đứng đầu là lí trưởng, người chịu trách nhiệm trước làng xã trong quan hệ với nhà nước trên các vấn đề về thuế má, sưu dịch, binh địch và các công việc liên quan về mặt hành chính Đồng thời cũng là người được ủy nhiệm thực hiện mọi quyền quyết định của hội đồng các viên thứ chỉ

Trang 39

Giúp việc cho Lí trưởng là phó lí, là người cùng với Lí trưởng chịu trách nhiệm trước nhà nước và thay mặt cho lí trưởng đi đôn đốc từng công việc cụ thể như bắt lính, bắt phu, kiểm tra việc canh phòng, đề phòng hỏa hoạn…

Giúp việc Lí trưởng và phó lí là tổ chức Ngũ Hương, gồm 5 viên chức phụ trách 5 công việc khác nhau gồm:

+ Hương bạ: phụ trách đăng ký thống kê theo dõi việc cưới xin, ma chay, hộ khẩu…

+ Hương kiểm: phụ trách công việc bảo vệ nội hương ấp, ngoại đồng điền (trị an, tuần phòng, giữ gìn an ninh trật tự, tư pháp)

+ Hương bản : làm thủ quỹ (giữ tiền của làng)

+ Hương mục: Phụ trách đường xá, đê điều, các công sở của nhà nước

có trên địa bàn của làng, điều động lực lượng theo lệnh của Lý trưởng

+ Hương dịch: Phụ trách dịch vụ, coi việc tế lễ, đình đám, hội hè, cắt đặt và theo dõi các phần việc trong các dịp lễ, tết

(Năm 1930 đến năm 1945, có thêm một tổ chức không nằm trong Ngũ hương, tổ chức chuyên canh gác các điếm canh trong làng)

Tất cả Ngũ hương đều nằm dưới sự điều khiển của chánh phó Lý trưởng

- Hội đồng kì mục:

Hội đồng kì mục là tổ chức mang tính cộng đồng quản lí dân bằng tục

lệ, hương ước gồm có các vị tiên chỉ, thứ chỉ và ba bàn lão (mỗi bàn có 4 cụ lấy từ 60 tuổi trở lên) trong tổ chức này, tiên chỉ phải là người nhiều tuổi nhất,

có đạo đức nhất trong số các hưu quan, chức sắc, các khoa mục trong làng Thứ chỉ là người đứng thứ hai, có tuổi cao thứ nhì trong làng, nhưng phải có

Trang 40

đầy đủ các điều kiện trên và cùng giúp việc tiên chỉ trong việc quản lí mọi sinh hoạt của làng Dưới cụ tiên chỉ và cụ thứ chỉ là ba bàn lão (12 cụ) Mọi việc trong làng, cụ tiên chỉ thống nhất với cụ thứ chỉ rồi thông qua ý kiến ba bàn lão Khi đã thống nhất trong tổ chức thì khi đó triệu tập toàn dân để họp Mọi thành viên tham gia tổ chức lão làng đều phải sửa lễ khao vọng để cúng thần đình và đãi làng (lễ lớn hay mọn đều tùy vào khả năng của người khao vọng) Hội làng lão: gồm những người từ 60 tuổi trở lên đã vọng làng (đãi làng), và những người ở độ tuổi 60 trở lên được xem là "dân bất phiền, quan bất nhiễu"

Từ 60 tuổi đến 69 tuổi gọi là các cụ lục tuần

Từ 70 tuổi đến 79 tuổi gọi là các cụ thất tuần

Từ 80 tuổi trở lên được gọi là bát tuần

Ngoài ra, mỗi một dòng họ trong làng còn có một tộc biểu, tức là người đại diện cho dòng họ mình đảm nhận các nhiệm vụ mà làng giao như: tham gia kiểm tra quỹ làng, nhận phần ruộng công điền của họ mình theo suất đinh làng chia, nhận đất đắp đường

Trong làng có phân ngôi thứ: Làng văn gồm những người có học từ 18 tuổi trở lên có trình độ học thức, thông thạo chữ Nho, lo việc soạn viết văn tế

lễ, phụ trách cắt cử ông Từ trông coi đình chùa Trong lễ hội làm quan viên hành lễ Nhóm người này được miễn phu phen tạp dịch Hội làng văn có văn chỉ thờ Khổng Tử, vị trí văn chỉ từ đường đê đi vào phía tay phải cửa tiền

Hội làng võ gồm những người đã đi lính và những người thích võ biền, con trai 18 tuổi trở lên được vào hội làng võ Hội làng võ có võ chỉ để thờ ông

Võ Thành Vương, vị trí võ chỉ từ đường đê đi vào phía bên tay trái cửa tiền

Ngày đăng: 19/12/2013, 15:03

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

BẢNG KÝ HIỆU VIẾT TẮT - Lịch sử văn hoá làng đan nê(yên định thanh hoá)
BẢNG KÝ HIỆU VIẾT TẮT (Trang 4)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w