1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đình làng hội thống giá trị lịch sử văn hóa

126 15 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 126
Dung lượng 775,46 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong đó Đình Hội Thống là một di sản văn hoá kiến trúc cổ, tương truyền đình được khởi dựng vào năm 1659 hoàn thành năm 1660, thờ Tô Hiến Thành - vị quan đầu triều dưới thời vua Lý Anh

Trang 1

Bộ giáo dục vμ đμo tạo Bộ văn hoá - thông tin

Trường đại học văn hoá hμ nội

Nguyễn Thị vân

Đình lμng hội thống giá trị lịch sử - văn hoa

Chuyên ngành: Văn hoá học

Mã số: 60 31 70

Luận văn thạc sỹ văn hoá học Người hướng dẫn khoa học:

PGS.TS Trần Lâm Biền

Hμ nội - 2007

Trang 2

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1:ĐÌNH LÀNG HỘI THỐNG TRONG BỐI CẢNH ĐỊA VĂN HÓA 8

1.1 Khái quát về làng cổ Đan nhai - Hội thống 8

1.1.1 Vị trí địa lý 8

1.1.2 Cảnh quan môi trường 10

1.1.3 Cư dân 12

1.1.4 Đời sống kinh tế 14

1.1.5 Văn hoá xã hội 26

1.1.6 Các di tích lịch sử văn hoá ở xã Hội Thống 30

CHƯƠNG 2: GIÁ TRỊ LỊCH SỬ - VĂN HOÁ ĐÌNH HỘI THỐNG 35

2.1 Nguồn gốc, lịch sử ngôi đình làng 35

2.2 Lịch sử xây dựng và quá trình hình thành 40

2.3 Nghệ thuật kiến trúc và điêu khắc 43

2.3.1.Những khái niệm 43

2.3.2 Nghệ thuật kiến trúc đình Hội Thống 46

2.4 Nghệ thuật điêu khắc đình Hội Thống 57

2.4.1 Trang trí trên đất nung , vôi vữa 58

2.4.2 Điêu khắc trang trí trên cấu kiện gỗ 61

2.4.3 Trang trí trên các di vật có giá trị 64

2.5.Những nhận thức rút ra trong quá trình nghiên cứu vấn đề trên 67

2.5.1 Vấn đề niên đại xây dựng 67

2.5.2 Giá trị về mặt kiến trúc 68

Trang 3

2.5.3 Vấn đề bảo tồn những giá trị văn hoá đình Hội Thống 70

CHƯƠNG 3: LỄ HỘI ĐÌNH LÀNG HỘI THỐNG 75

3.1 Thành Hoàng làng và những vấn đề về Thành Hoàng làng đình Hội Thống 75

3.2 Vấn đề Hậu thần 86

3.3 Những vấn đề về lễ hội 89

3.4 Các lễ hội ở đình Hội Thống 92

3.4.1 Lễ hội rước đồ mã 93

3.4.2 Lễ Kỳ yên 95

3.4.3 Lễ cầu ngư 96

3.4.4 Lễ hội khác ở Hội Thống 98

3.5 Trò chơi dân gian trong lễ hội Đình Hội Thống 102

3.6 Vai trò của lễ hội đình Hội Thống trong đời sống cộng đồng 104

3.6.1 Những giá trị cơ bản của lễ hội đình Hội Thống 104

3.6.2 Những lớp văn hoá tín ngưỡng tích hợp trong lễ hội đình Hội Thống 109

3.7 Một số giải pháp nhằm bảo tồn và phát huy lễ hội đình Hội Thống 112

KẾT LUẬN 116

TÀI LIỆU THAM KHẢO 118 PHỤ LỤC

Trang 4

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài:

Di sản văn hoá là một bộ phận cơ bản, trọng yếu của nền văn hoá dân tộc Thái độ ứng xử đối với di sản văn hoá phản ánh quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước, trình độ nhận thức của mỗi quốc gia, dân tộc

Vì vậy trong thời gian gần đây hệ thống các di tích lịch sử văn hoá đang được đặc biệt quan tâm nghiên cứu

Đình làng là một trong những kiến trúc cổ truyền của làng quê Việt Nam, với ba chức năng: hành chính, tôn giáo, văn hoá

+ Chức năng hành chính: Đình là trụ sở của chính quyền địa phương, nơi giải quyết các công việc của làng xã như: thuế má, phu, lính, xử kiện, phạt vạ theo hương ước của làng

+ Chức năng văn hoá: Đình là nơi diễn ra sinh hoạt văn hoá của làng, là nơi tập trung những giá trị nghệ thuật tạo hình dân tộc

+ Chức năng tôn giáo: Đình làng là một trung tâm sinh hoạt tín ngưỡng của làng xã, đình thờ Thành hoàng làng, vị thần bảo hộ cộng đồng làng xóm

Đặc biệt trong thời kỳ cách mạng kháng chiến, nhiều khi đình làng còn

là nơi hoạt động bí mật của các tổ chức cách mạng, nơi cất giữ vũ khí, là nơi sinh hoạt , hội tụ sức mạnh tập thể, tình đoàn kết gắn bó trong làng xã, vì vậy trong tâm thức của người Việt, ngôi đình làng là biểu tượng của sự thiêng liêng, hướng về nguồn cội

Trang 5

Trong các tỉnh thuộc vùng Bắc Trung bộ, Hà Tĩnh có nhiều di tích lịch

sử, văn hoá, di tích cách mạng được phân bố khá đồng đều từ miền núi, trung du tới đồng bằng ven biển

Xã Xuân Hội - huyện Nghi Xuân là một xã ven biển có nhiều di tích mang giá trị lịch sử - văn hoá cao Trong đó Đình Hội Thống là một di sản văn hoá kiến trúc cổ, tương truyền đình được khởi dựng vào năm 1659 hoàn thành năm 1660, thờ Tô Hiến Thành - vị quan đầu triều dưới thời vua Lý Anh Tông (1138 - 1175), bên cạnh đó đình còn thờ hai bầu hậu là bà Nguyễn Thị Khuê và ông Vũ Minh Tiến người địa phương, có công giúp đỡ dân làng trùng tu Đại đình Đình Hội Thống vừa là nơi giải quyết những công việc của làng xã, vừa là trung tâm sinh hoạt cộng đồng và nhiều vấn đề thuộc lĩnh vực văn hoá của làng

Truyền lại, khởi đầu đình được dựng có 5 gian, cột nhỏ, lợp tranh, sau

đó được tôn tạo với chất liệu bền vững Hiện nay, cấu trúc đình có Tả vu, Hữu vu, hệ thống cửa, nhà hậu cung có ba gian, cột vuông; đình chính có 7 gian, 4 hàng chân cột bằng gỗ lim to

Trong hệ thống di tích ở Hà Tĩnh, số lượng đình hiện còn không nhiều, nên đình Hội Thống là một di tích kiến trúc tiêu biểu Ngoài giá trị lịch sử, đình còn là một đỉnh cao về kiến trúc, nghệ thuật của địa phương Qua khảo sát đình Hội Thống chúng ta đã gặp những nét nổi bật sau:

- Về mặt kiến trúc - Đình Hội Thống vừa là đình nhưng cũng mang yếu yếu tố đền Vì ngoài nhà Tả vu, Hữu vu để sắp lễ thì phía trước và bao xung quanh có rất nhiều cây thiêng tạo ra một sự hoà nhập giữa di tích với thiên nhiên, tạo cảm giác như di tích có xu hướng muốn ẩn đi trong sự thâm u (thông thường đình có xu hướng mở ra, thoáng đãng) Hình thức của kiến trúc không to và bề thế, áp chế mà gần gũi, ấm áp

Trang 6

- Đình Hội Thống làm theo dạng bốn mái, nhưng 2 mái bên chỉ tì lực trên bẩy ở đầu cột quân chứ không phải trên cốn đốc (mái bên không tỳ lực vào cột cái như các kiến trúc cổ truyền thông thường ở phía Bắc Nó mang nét kết cấu giữa hai hệ thống kiến trúc cổ truyền và kiến trúc tường hồi bít đốc)

- Kết cấu khung đình Hội Thống làm theo kiểu vì kèo trụ trốn, nhưng

đã đẩy hệ thống vì kèo trụ trốn bào trơn đóng bén sang dạng nghệ thuật, nhờ cánh gà hai bên trụ

- Do mái hồi không tì lực vào cột cái, vì vậy hai bộ vì sát đốc đã đứng chân trên xà lòng, khiến cho hệ thống xà đai được kết nối chặt chẽ, tạo cho kết cấu bộ khung bền vững

- Hệ thống tứ linh được cách điệu, mang tâm hồn chung của dân tộc và

ít nhiều có tính địa phương Mỗi một hình tượng có thể coi như một tác phẩm nghệ thuật, đặc biệt rồng, phượng trên kẻ nối từ cột cái ra cột quân và trên bẩy

- Hệ thống Tứ linh trên tay chống cánh gà ở cột quân với bố cục chặt chẽ, nhiều sáng tạo mà nay cũng hiếm thấy trên đất Bắc (có thể đất Bắc đã bị chiến tranh tàn phá hoặc không được chú ý tới)

Trang 7

- Hệ thống ván gió ở đầu cột bao quanh đình là những hình thức chạm nổi với những đề tài cầu phúc đa dạng đã có ở nhiều nơi, nhưng ở đình Hội Thống chúng được tập trung và đẩy lên mang tính chất nghệ thuật cao

Suy cho cùng đứng ở lĩnh vực kiến trúc và nghệ thuật, có thể nói đình Hội Thống là một di tích đã phản ánh về hiện tượng ngoại biên của văn hoá so với truyền thống, vì vậy nó giữ lại được nhiều dấu tích mà có thể ở chính trung tâm đã mất dạng

Là một người con của quê hương, đang công tác tại Sở VHTT Hà Tĩnh,

từ lâu tôi đã mong ước với niềm say mê tìm hiểu kiến trúc cổ truyền địa phương - một bộ phận kiến trúc cổ truyền của dân tộc, thông qua đó góp một phần kiến thức nhỏ bé của mình vào việc tìm hiểu, khẳng định và tôn vinh những giá trị lịch sử, văn hoá của quê hương, đồng thời đóng góp thêm vào những nghiên cứu về kiến trúc cổ truyền của dân tộc, với mong đề xuất được một vài định hướng đúng đắn cho việc bảo tồn và tôn tạo di tích

Từ những lý do chủ quan và khách quan như vậy tôi quyết tâm chọn đề tài: "Đình làng Hội Thống giá trị lịch sử - Văn hoá" làm luận văn tốt nghiệp cao học chuyên ngành VHH khoá 2004 - 2007

Trang 8

- Trong nước: Những năm 70, 80 của thế kỷ XX, các nhà nghiên cứu

mỹ thuật cổ - thuộc viện Mỹ thuật Việt Nam, đã chú ý nhiều tới đình làng như: Trần Lâm Biền, Nguyễn Du Chi, Chu Quang Trứ Rất nhiều ngôi đình làng Bắc Bộ được chọn làm đề tài bảo vệ luận văn Thạc sỹ, luận án Tiến sỹ: Đình Phù Lão của Tiến sỹ Trinh Cao Tưởng, đình làng Hạ Hiệp của Thạc sỹ

Tạ Quốc Khánh 6 đình Thời Mạc của Tiến sỹ Nguyễn Hồng Kiên Đình Võ Liệt ở Nghệ An cũng được chọn làm luận án tiến sỹ của tiến sỹ Phan Xuân Thành, trong đó có đề cập đến đình Hội Thống Ngoài ra trong một số công trình mang tính khảo cứu địa phương như: "Miền An Tĩnh xưa trong mắt một học giả Pháp" của H.braton; Giáo sư Vũ Ngọc Khánh trong công trình: "Xuân hội truyền thống và hiện đại: 1981, "Di tích lịch sử văn hoá Hà Tĩnh"; Bảo tàng Hà Tĩnh xuất bản 1995 Năm 2005, UBND huyện Nghi Xuân xuất bản cuốn: "Nghi Xuân di tích và danh thắng" Trên thực tế những công trình trên chỉ mới dừng lại ở việc giới thiệu di tích, chưa đi sâu vào giải mã những ẩn số trong đó, đặc biệt chưa nghiên cứu tới yếu tố địa văn hoá của vùng đất Đan Nhai - Hội Thống

3 Mục đích nghiên cứu:

- Định vị về địa bàn tồn tại của ngôi đình (chủ yếu tìm hiểu vùng đất xã Xuân Hội, mở rộng ra là huyện Nghi Xuân)

- Một số giá trị cơ bản về lịch sử, văn hoá của đình Hội Thống

- Phân tích cụ thể trong khả năng cho phép về kiến trúc và điêu khắc đình làng Hội Thống

- Đánh giá giá trị kiến trúc, điêu khắc của ngôi đình

- Xác định thêm về truyền thuyết và nhân vật được thờ, điều tra, khảo sát lễ hội đình Hội Thống

Trang 9

- Rút ra một số định hướng cho việc bảo tồn, tôn tạo và phục vụ du lịch văn hoá

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

4.1 Đối tượng nghiên cứu:

Đình làng Hội Thống, giá trị vật thể và phi vật thể, ngoài ra còn mở rộng ra các loại di tích khác như: Đình, đền, miếu có trong làng liên quan đến đình Hội Thống

4.2 Phạm vi nghiên cứu:

- Đình Hội Thống ở xã Xuân Hội - huyện Nghi Xuân

- Một số công trình khác trong xã và một số di tích khác ngoài Hà Tĩnh

để đối sách

5 Phương pháp nghiên cứu:

- Luận văn sử dụng các phương pháp khảo sát điền dã thực địa là chính Trong đó các thao tác lấy tư liệu bằng: đo, vẽ, chụp ảnh, dập các bản hoa văn

và văn bia Trong nghiên cứu tập trung vào khảo tả, so sánh, phân tích và tổng hợp về nghệ thuật, kết cấu kiến trúc và nghệ thuật trang trí Đặc biệt chú ý giải mã các biểu tượng (trong điều kiện cho phép)

- Sử dụng phương pháp nghiên cứu liên ngành Sử học, Bảo tàng học, Hán nôm học, Nghệ thuật học, Kiến trúc học

- Luận văn sử dụng phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử

để xem xét, nhìn nhận các sự kiện và hiện tượng lịch sử

6 Kết quả nghiên cứu và đóng góp của đề tài

- Hệ thống hoá một số tài liệu nghiên cứu về đình Hội Thống

Trang 10

- Bước đầu nghiên cứu tổng thể về giá trị vật thể và phi vật thể của đình Hội Thống

- Làm tài liệu tham khảo cho việc tu bổ, tôn tạo di tích Tài liệu học tập nghiên cứu văn hoá vùng

- Phục vụ hoạt động văn hoá và du lịch

7 Bố cục luận văn:

Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn gồm 3 chương:

Chương 1: Tổng quan về vùng đất Đan Nhai - Hội Thống

Chương 2: Giá trị lịch sử, văn hoá của đình Hội Thống

Chương 3: Lễ hội đình làng Hội Thống

Trang 11

có Hòn Nồm (là một phần chân của dãi Hồng Sơn, có hòn mắt (Rú Nậy, tên chữ là Nhãn Sơn, còn được gọi là Quỳnh Nhai)

Đan Nhai là vùng cát bồi trên nền chân dãy núi Hồng Lĩnh Sách cũ còn ghi, cửa Đan Nhai đá chìm lởm chởm, thuyền bè rất khó ra vào cửa sông, thế mà ngày nay lòng cửa sông cũ cát đã dập phẳng, người đi biển ra vào không hề thấy dấu tích đá dưới lòng sông

Thế đất của Đan Nhai - Hội Thống như chiếc lược chải đầu, vùng đất gần đường cái quan là sống lược và răng lược là những doi đất cát bồi Có thể

kể từ phía nam ra: Doi xóm Chùa, doi đầu Cồn, doi Miệu, doi Đình, doi Cồn

Na, doi Cồn Giữa, doi Cồn Thành, doi luồng biển, doi Cồn tàu các doi đất này được hình thành khi cát bồi lấn biển Phía Tây là dòng sông Lam đem phù

sa bồi trúc chỗ thấp, tạo thành "bãi trang" Bãi trang dần dần được đắp bờ làm

"đồng tôm" sau đó biến thành ruộng vì có nền đất sét

Vùng đất cao ở Đan Nhai - Hội Thống cũng có “lùm lòi” rậm rạp Phần ven nước là những bãi cây lác, cây sú, cây vẹt, cây bần hoang sơ Có những luồng lạch bị lấp miệng dòng chảy tạo thành những vịnh , những vũng,

Trang 12

những hồ như: vịnh lác, vịnh tràng, vịnh tú, vũng đồng lành, vũng mành, vũng xà binh, hồ côn

Là một vùng đất thấp nhô ra biển Đông, từ tháng 8 đến tháng 10 âm lịch hàng năm, làng ven biển Nghệ Tĩnh thường hay xảy ra bão lớn Hầu như

ở xứ Nghệ có bao nhiêu cơn bão, thì vùng ven biển nói chung và Xuân Hội nói riêng đều bị ảnh hưởng Sử triều Nguyễn có chép từ năm 1839 - 1882 có

13 trận bão lớn đổ vào Xứ Nghệ

Khác với các xã nằm sâu trong đất liền, Xuân Hội có ba bề sông biển bao bọc, nên khi bão vào không chỉ có gió lớn mà còn bị lũ lớn và triều cường gây nên lụt lội và nước mặn xâm nhập đất canh tác, để lại di hại cho sản xuất nông nghiệp

Là cửa ngõ xung yếu bậc nhất ở xứ Nghệ thông ra biển Đông, nên suốt trong trường kỳ lịch sử của dân tộc, Đan Nhai - Hội Thống trở thành bãi chiến trường của các cuộc chiến tranh Từ thời Bắc thuộc tiếp đến trong các thế kỷ

10 đến thế kỷ 14, hàng trăm lần vua quan Chiêm thành; Chân lạp ở phía Nam vượt biển đem thuỷ quân đổ bộ vào cửa biển Đan Nhai cướp bóc và tàn sát dân lành, chiếm đất làm bàn đạp tấn công ra Bắc Trong các lần xâm lược nước ta của các triều đại phong kiến phương Bắc chúng cũng sử dụng thuyền chiến mở mũi vu hồi phía nam đánh vào cửa biển này phối hợp với mũi chính của quân trên bộ từ phía bắc để chiếm đóng xứ Nghệ Do vị trí đầu sóng ngọn gió của cửa biển Đan Nhai, từ thời kỳ Lý - Trần về sau đều đặt đồn ải, phiên chế các đội quân phòng vệ gọi là “tấn”, hay “tuần kiểm ty” để trông coi Năm

1374 vua Trần Dụ Tông đã tăng thêm quân số cho việc bảo vệ các cửa biển phía nam, trong đó có cửa Đan Nhai

Trang 13

1.1.2 Cảnh quan môi trường

Hội Thống là mảnh đất đầu sóng ngọn gió, được thiên nhiên ưu đãi cho những cảnh đẹp nên thơ và đầy ngoạn mục Người xưa đã đúc kết, "Nghi Xuân bát cảnh" nghĩa là huyện Nghi Xuân có 8 cảnh đẹp gồm:

1 "Hồng Sơn liệu chướng", nghĩa là: Các bức chướng núi Hồng Lĩnh

2 "Đan Nhai qui phàm", nghĩa là: Buồm về bến Đan Nhai

3 "Cô độc lâm ngưu", nghĩa là: Mình nghé bến sông

4 "Song ngư hí thuỷ", nghĩa là: Đôi cá dỡn nước

5 "Giang đình cổ độ", nghĩalà: Đình cũ bến xưa

6."Quần mộc bình sa", nghĩa là: Cây trên bãi cát

7 "Hoa phẩm thắng triều", nghĩalà: Hoa tươi cảnh đẹp

8 "Uyên trừng danh tự", nghĩa là: Vực trong xanh chùa nổi tiếng Trong đó Hội Thống có hai cảnh, đó là: "Đan Nhai qui phàm" và

"Song ngư hí thuỷ".Ngày xưa khi trời chiều buông xuống, ráng đỏ phủ lên cảnh vật, nhiều cánh buồm no gió lướt như đan về bến cửa Những cánh buồm óng ánh sắc đỏ, mặt nước như tím lại, trên nền trời in những cánh hải âu tạo thành cảnh đẹp "Đan Nhai quy phàm":

" Buồm về khoan nhặt cửa Lam giang Ráng đỏ chiều hôm nhuộm nắng vàng Mỗi chiếc thuyền xa trời biển biếc Gửi hồn cho gió cánh chim mang"

(Vịnh Đan Nhai quy phàm)

Trang 14

Nhìn xa chút nữa là "Song ngư hý thuỷ" (một trong Nghi Xuân bát cảnh) "Song ngư" (hai ngọn núi trên biển) giống như hình ảnh hai con cá vui dỡn trên biển, chỉ có đứng trên đất Hội Thống mới như nhìn thấy con cá có đầy đủ thân và đuôi

Vịnh Tú là một hồ đẹp nằm giữa làng, có hình bầu dục, như con mắt ngọc Xa xưa là vịnh thuyền đậu, do cát lấp miệng vịnh tạo thành hồ tự nhiên Ngày xưa hồ sâu, nước rất trong, ngọt và hầu như không bao giờ cạn Truyền thuyết kể rằng đã nhiều lần tiên xuống tắm Trong hồ sen mọc tự nhiên, hè đến, sen nở như đám rước đèn toả hương thơm ngát một vùng Ngày xưa mỗi lần vua Lê Thánh Tông đi kinh lý vùng cửa biển này thường ghé thăm hồ Vịnh Tú và đền Tam toà Trong bài thơ: "Đan Nhai hải môn" có câu: "Hy kỳ tam tọa thanh u cảnh" (Cảnh thanh bình tĩnh mịch ở đền Tam toà đẹp hiếm thấy)

Cuối xã có dãi đất cao gọi là Cồn Thành, phía trong là vũng mành, nơi thuyền chiến đậu Cạnh đó là Đồng Voi, phải chăng là nơi cột voi chiến Thời xưa, Cồn Thành là một chiến tuyến phòng ngự chống ngoại xâm

Vì thế Hội Thống đã trở thành một địa danh quen tên biết tiếng Nhiều nhà thơ,học giả nổi tiếng xưa cũng đã tìm đến Cửa Hội và đã để lại cho đời những tứ thơ bất hủ Lê Thánh Tông trong hơn 30 năm trị vì, đã nhiều lần đi kinh lý phương nam, qua lại nhiều lần ở vùng cửa biển Hội Thống, đã để lại 2 bài: " Vịnh núi song ngư" và " Dừng quân cửa biển Đan Nhai" Ninh Tốn một nhà thơ nổi tiếng ở thế kỷ 18 có bài:" Hội Thống Môn" Hoàng Giáp Bùi Huy Ích một học trò giỏi có uy tín ở thế kỷ 18 có bài: "Trên đê biển đông trông về song ngư" và tác giải Bùi Dương Lịch, tác giả cuốn " Nghệ An ký" cũng có cuốn: "Song ngư đảo" Cửa biển Hội Thống từng có các tàu buôn của Trung

Trang 15

Quốc, Nhật Bản ghé lại, đầu thế kỷ 17 có 1 tàu buôn Nhật Bản gặp sóng to bị chìm ở đây

Phải chăng vì thế mà từ di chỉ Khảo cổ học ở xã Xuân Hội chúng ta đã phát hiện ra gốm, sành, sứ của các triều đại Lý, Trần,Lê, Nguyễn, đồng thời

có cả những mẫu vật của Trung Hoa,Nhật Bản

1.1.3 Cư dân:

Dấu tích cư dân cổ xưa nhất ở các làng biển Hà Tĩnh đã được phát hiện tai bãi Phôi Phối ở xã Xuân Viên, huyện Nghi Xuân, Hà Tĩnh Bãi Phôi Phối nằm cạnh cửa Sông Lam cũ, dưới chân dãy Hồng Lĩnh Cư dân cổ ở các làng biển tại đây đã biết mài đá làm công cụ và làm đồ gốm đáy tròn, tức là đi

từ kỹ thuật nặn đồ gốm bằng tay đến kỹ thuật bằng bàn xoay, họ đã bước sang thời đại đồ đá mới, công cụ phổ biến nhất là rìu đá, có loại hình chữ nhật hay hình thang, có loại có vai Các nhà KCH còn tìm thấy ở Phôi Phối một số lưỡi cuốc bằng đá, những mảnh dao bằng đá và những phiến đá xát Tất cả được mài nhẵn không có những chỗ lồi lõm do vết đẽo để lại, chủ nhân của chúng là những người trồng lúa Cùng với nghề bắt sò điệp và đánh cá, di chỉ Phối Phối thuộc thời kỳ văn hoá Bàu Tró, cách ngày nay khoảng 4000 năm

Đến đời các vua Hùng, ngọc phả đền Hùng và một số truyền thuyết đã nói,lúc đầu Kinh Dương Vương xây dựng kinh dô ở dưới chân núi Hồng Lĩnh thuộc xã Tả Thiên Lộc, hữu Thiên Lộc - Can Lộc sau này, cách bờ biển hiện tại khoảng 2Km theo đường chim bay Việc đó còn được nhắc lại trong một câu đối:

" Hoan châu thắng địa kiến độ lập thành Nghĩa lĩnh hùng cường trùng tu miếu điện"

(Hoan châu cảnh đẹp kiến lập đô thành

Trang 16

Nghĩa lĩnh hình oai trùng tu miếu điện) Sau này, cùng với những biến thiên của lịch sử, nhiều cư dân của những vùng từ Đồng bằng Bắc bộ, từ Thanh Hoá, phương Nam đến cư trú tại các làng ven biển Nghệ Tĩnh, trong đó có Hội Thống

Có thể con người đã đặt chân lên mảnh đất này từ rất sớm, nhưng tới nay chưa tìm được sách nào ghi chép cụ thể Căn cứ vào gia phả Họ Võ ở trong xã, trong đó ghi: " Thỉ tổ Võ Văn Trì sinh vào năm Canh Tuất (1490) Ông Trì lại là hậu duệ của một trong ba ông họ Võ được thờ trong đền Nội - Ngoại tiên hiền, thì các dòng họ này cũng phải đến đây từ thế kỷ

12, 13 để khai dân lập xã Nơi định cư đầu tiên gọi là đội Cồn Nhâm thuộc thôn Võng Nhi (Đầu Cồn) Sau đó được sát nhập với một phần đất phía bắc huyện, giáp xã Đan Trường (xóm Hội Phúc) ngày nay, lập thành xã mới Lúc đầu gọi là xã Đan Thay hay Đơn Hay (sau này là Đan Nhai) nghĩa là bến Son) thuộc tổng Đan Hải Do dân xã có công phục vụ việc quân, cung cấp lính "nội kiệu", nên được vua phong tặng là xã Kiên nghĩa Chuyện kể, lúc đó vua ban cho xã một đặc ân, thích điều gì thì tâu, dân xin đổi tên xã là Hội Thống, vì Hội Thống mới mang đầy đủ tính đặc trưng của việc hình thành dân xã, lúc này cửa Đan Nhai đã được gọi là "Cửa hội"

Lúc đầu trong xã chỉ có 2 vùng: Trong làng, ngoài gành, sau đó chia làm 4 giáp: Đông, Đoài, Thượng, Hạ Thời đầu nhà Nguyễn xã Hội Thống có

4 giáp: Đông Thượng, Đoài Thượng, Đông Hạ, Đoài Hạ, những năm đầu thế

kỷ XX, xã thêm một thôn gọi là Vạn Chài Trước Cách mạng Tháng 8 xã chia thành các xóm dựa vào địa hình và nghề nghiệp làm ăn của dân để đặt tên: Xóm Đình, Chùa, Bàu, Cồn, rừng, biển, và đáy Sau Cách mạng Tháng 8, đổi thành các xóm: Trần Phú, Nguyễn Thị Minh Khai, Phạm Hồng Thái, Lê Hồng Phong Năm 1975, chuyển xóm Chùa vào xã Xuân Trường Hiện nay xã có

Trang 17

các xóm: Hội thuỷ, Hội tiến, Hội Tân, Hội Minh Châu, Hội An toàn, Hội Long, Hội Thái, Hội Minh, Hội Quý, Hội Minh, Hội Thành 1 và 2

1.1.4 Đời sống kinh tế

Như phần trên đã đề cập khái quát về vị trí xung yếu của miền đất cổ, nơi tụ cư lâu đời của cư dân địa phương Bà con nơi đây ra khơi vào lộng ở Cửa Hội suốt trong mấy thế kỷ, thời phong kiến còn bị bọn cướp biển từ phương Bắc tràn xuống và phương Nam tràn ra nhũng nhiễu, cướp thuyền, giết người, gây nên những cảnh tang thương cho xóm làng

Các thể kỷ 16, 17 hai cuộc nội chiến tương tàn của các tập đoàn phong kiến Lê - Mạc và Trịnh Nguyễn với vấn nạn Nam Bắc triều, Đàng Trong, Đàng Ngoài, cũng đã biến vùng đất Hội Thống thành bãi chiến trường

" Giặc ra thuyền chúa lại vào Cửa nhà lại đổ, hầm hào lại xây"

Từ 1627 - 1672 đã diễn ra 7 lần đánh nhau giữa chúa Trịnh, chúa Nguyễn, trong đó 6 lần quân chúa Trịnh đều xuất phát thuỷ quân từ cửa Hội vượt cửa biển vào đánh chiếm cửa Nhật Lệ ở Quảng Bình của chúa Nguyễn Trong lần chúa Nguyễn tấn công ra Đàng Ngoài (1655 - 1660) đã đánh bại quân chúa Trịnh và chiếm đóng các huyện phía Nam của sông Lam và đèo Ngang Song mảnh đất này không chỉ có ghi dấu ấn như vậy mà còn là một cửa biển nên thơ, một vùng đất giàu truyền thống cách mạng, và vững mạnh

về kinh tế

Trong vốn phong ngữ dân gian giàu có của huyện Nghi Xuân truyền từ xưa có câu nói về xã Hội Thống: " Lúa Xuân Viên, quan Tiên Điền, tiền Hội thống)

Trang 18

+ Lúa Xuân Viên: Xuân Viên là một dải đất được phù sa bồi đắp, thuận lợi trồng lúa

+ Quan Tiên Điền: Làng Tiên Điền nổi tiếng với những dòng họ khoa bảng học hành như họ Nguyễn Tiên Điền, họ Nguyễn Công Trứ đời đời nối nhau làm quan

+ Còn Tiền Hội Thống nhiều là do người dân biết làm nhiều nghề từ: " Thượng ông cả, hạ bến đò", xã lại có nghề buôn mành vượt biển từ Nam ra Bắc, nghề này vốn lớn, thu nhập cao vì vậy người Hội Thống trước đây được xếp là: " Hội Thống đa tiền" sánh cùng "Xuân Viên đa túc" "Tiên điền

đa quan" Dù nhiều ngành nghề, nhưng ở Hội Thống, cư dân chủ yếu sống bằng 3 nghề chính:

Ngư nghiệp - Nông nghiệp - Thủ công nghiệp

Ngư nghiệp:Nằm trong hệ thống biển của miền trung, nước biển ở cửa

Hội Thống có độ mặn trung bình 34 đến 35% Vùng khơi có độ mặn cao hơn ven bờ, độ mặn ở lớp nước sát đáy cao và ổn định hơn lớp mặt Độ mặn còn thay đổi theo mùa, mùa mưa độ mặn giảm từ 0,1 đến 0,2% so với mùa khô Biển là một ưu thế của Hội Thống, bờ biển dài, với những cồn cát, những mõm núi; trong các cửa sông ở vùng Nghệ Tĩnh như cửa Tạp (Quỳnh Lưu), cửa Vạn (Diễn Châu), cửa Lò (Nghi Lộc), cửa Hội (Nghi Xuân) thì cửa Hội

là to nhất, thuận tiện cho việc lập các ngư cảng Cư dân ở đây chủ yếu sống bằng nghề đánh bắt cá, bằng nhiều loại Nghề khơi dùng thuyền to đánh cá (nốc biển), do đàn ông làm nghề, thuyền thường ra khơi thả rạo để đánh te (rạo là bộ phận tạo nơi cá ẩn ngoài biển) Có khi chỉ xúc một lần ở rạo được hàng trăm rổ cá, ở rạo còn thả bóng (bóng là dụng cụ cho cá sống vùng nước sâu vào mà không ra được, bóng có thể tích một vài mét khối), để thu hoạch

Trang 19

những cá to và ngon như cá nhỡ, cá vì, cá hồng, cá thu ở rạo này có thể câu được cá to và cá mực

Nghề lộng dùng thuyền đánh cá nhỏ hơn, như nốc lưới sùng, lưới bén loại này đánh cá ven bờ Cách bờ khoảng 10 sải nước, sử dụng lưới ruốc Nghề này ăn trưa ngay trên bãi biển, chủ thuyền nấu nung bơm và bung

cá (cá mới đánh được) Người ăn chỉ xới 1/2 bát cơm rồi xúc cá cho đầy bát Dọc bờ sông có nghề đáy, dùng nốc đáy để đóng, đáy chặt bắt cá vào ra theo thuỷ triều Sát bờ sông có nghề vó trục, nghề này dùng bè thay thuyền và chỗ đóng vó cố định

Các loại lưới làm các nghề trên do đan bằng sợi bông hoặc tô nên phải nhuộm nâu hay màu tiết lợn theo định kỳ

- Lưới rút: Có lưới rút lộng đánh cá gần bờ, cách bờ 10 - 15 sải nước

và lưới rút khơi đánh cá xa bờ từ 20 - 30 sãi nước Trên một thuyền đánh lưới rút thường có 5 - 10 ngư dân

- Lưới rê: Đánh cá trong lộng, thường theo mùa từ tháng 7 đến tháng chạp âm lịch, khi đánh cá, hai máng lưới kéo rê dưới nước

- Lưới ruốc: Còn gọi là giả ruốc, dùng đánh ruốc, thường buông lưới gần bờ, cách khoảng 5 sãi nước

Trang 20

- Lưới chồng: Có lưới chồng 1, lưới chồng 1, thường đánh cá khi biển lặng gọi là lưới chồng, vì khi đánh cá ngư dân ghép hai tấm lưới thành một tấm, tấm nọ chồng tấm kia

- Lưới rùng: Có rùng cá (còn gọi là rùng xăm), rùng này độ 8 - 12 người kéo, đánh cá nhỏ và tôm, ghẹ ven bờ Gần đây thêm rùng cải tiến, to và gấp 9, 10 lần rùng vét, bao quát một vùng biển rộng hơn, cần nhiều người kéo hơn, đánh được nhiều cá hơn, sát bờ biển còn có nghề nạo ngao, xép xép, đẩy trủ moi (tép biển) Trên bãi trang khi nước cạn có nghề móc cá bống, đào phi

Nghề nuôi thuỷ sản cũng có từ xưa Nghề nuôi thuỷ sản nước ngọt, nguồn giống tôm, cua, cá con lấy tự nhiên trong mùa mưa Người ta cho nước sa vào đồng, giữ nước ngọt che bùn để lắng xuống để cấy lúa Trong khi đó tôm, cua, cá lớn dần và cũng là nguồn thu hoạch lớn Có những thuỷ sản ngon như tôm đất, tôm lướt, cua gạch, cá trê, cá mè kẻ, cá leo tép đồng cũng là nguồn thuỷ sản đáng kể Người canh đồng dùng đó tép để thu hoạch, người kiếm ăn lại dùng rớ để cất

Nghề nuôi thuỷ sản bằng nước mặn, gọi đó là đồng tôm Người ta hùn nhau lại khoanh một vùng trên bãi trang (như đồng Hà, đồng Xuồng) để nuôi tôm, cua, cá Con giống lấy từ tự nhiên trong nước sông Đồng nuôi thuỷ sản này thường có con đê nhỏ, có một cống gỗ (trẹm xằm) cho nước vào ồ ạt kéo theo con giống tôm, cua, cá tự nhiên và dùng để đóng xăm khi đánh bắt Đồng

có một trạm đó (gần trạm xăm) cạn hơn để thay đổi nước theo thủy triều, tôm, cua, cá, vào được qua khe đăng đóng xuôi, những con lớn hơn khi ra lại chui vào đó Thu hoạch khi tháo nước thì dùng xăm, còn khi đánh bắt toàn bộ lại dùng lưới đồng (vây), lưới mò, chài, lưới bén, cào cua

Nguồn cá đồng thường nuôi tự nhiên, hồ Vịnh Tú có đủ các loại cá đồng như: Chép, tràu, rô, diếc chúng tự sinh sản nhiều vô kể, đến mùa mưa

Trang 21

lũ, nước tràn ra những cánh đồng xung quanh, đem theo nguồn cá giống cho các cánh đồng (trên mặt hồ còn có bèo, tạo thành những tổ chim cuốc, gà đồng, gà nước )

Nguồn cá đồng này được đánh bắt tự do, trong và sau mùa gặt, đó cũng là nguồn thực phẩm trong ngày mùa

Nông nghiệp:

Nông nghiệp đóng một vai trò rất quan trọng trong đời sống kinh tế của cư dân Hội Thống Bao đời nay bên cạnh ngư nghiệp thì nông nghiệp vẫn

là một nghề sinh sống, có thể kiếm đủ lương thực tự cung, tự cấp

Đất làm nông nghiệp ở vùng ven biển Nghệ Tĩnh nói chung, chủ yếu là đất, phèn, mặn và cát Vì vậy muốn trồng hoa màu phải cải tạo, bằng nhiều cách rửa trôi các chất độc, thau chua, rửa mặn Ở Hội Thống chủ yếu là đất cát, loại đất này nhẹ, màu mỡ thấp Tuy thiếu nhiều chất dinh dưỡng nhưng đất này có thể canh tác được, bằng cách bón nhiều phân hữu cơ và dùng nước ngầm ngay dưới lớp đất trồng để tưới trong mùa khô Nếu có đủ phân bón, một số cây hoa màu như khoai lang, lạc, đỗ, kê đều cho năng suất khá Các loại cây phòng hộ như phi lao có thể phát triển tốt trên đất này Các loại cây

ăn quả nếu chăm sóc tốt thì có thể phát triển được

Tuy vốn đất đai thiên nhiên ban tặng cho Hội Thống không phải là lý tưởng, nhưng với những bàn tay cần cù lao động, chịu thương, chịu khó, thì

đó vẫn là một tài nguyên vô giá So với các xã lân cận thì Hội Thống là xã có diện tích cấy lúa rộng nhất Do không có nguồn thuỷ lợi chủ động, nên cơ cấu tạo nước ngọt gồm 2 cống lớn: Cống trên cạn nhưng rộng để lấy nước mặt phù sa vào nhanh (một năm chỉ được mấy ngày lũ thượng ngàn) Cống dưới hẹp, nhưng sâu, để thoát lũ và tháo nước ra khi cần thiết Hai cống này tạo thành dòng chảy một chiều, góp phần cải tạo đất phèn

Trang 22

Người nông dân cấy xong là ngửa mặt lên trời cầu mong "mưa thuận"

để cung cấp nước ngọt cho cây lúa, "gió hoà" khi lúa trổ đòng" Họ cũng khôn ngoan chọn thời điểm gieo mạ và cấy sao cho thích hợp để tránh tháng 5 năm tật, tháng 10 - 10 tật Ngày trước, đất rộng trong xã được chia làm 2 vùng: Đồng hoang là đồng làm một vụ chiêm, nếu như có nước ra vào nhiều thì không cần bón phân vẫn thu hoạch cao, còn đồng thuộc gần làng hơn, ruộng

đã được cải tạo chất đất bằng phân bón, nên mỗi năm làm được 02 vụ lúa, vụ chiêm thường cấy lúa chiêm, vụ mùa (mười) cấy lúa chăm, hẻo, lốc, nếp Lúa đồng thuộc thường tốt hơn lúa đồng hoang, nhưng làm vất vả hơn Mùa tháng

10 thường gieo (theo hàng), vãi (không theo hàng) trực tiếp ít năm được cấy,

vì thế mới có câu: " Lúa đồng làm đứt quang gãy gánh", hoặc " lúa đồng ngoài, khoai đồng trũng" Các nương dùng để gieo mạ chiêm sau đó trồng khoai, với các loại khoai đỏ, khoai đò, khoai trắng, khoai vôi, khoai nữ hai bên mép khoai thường dắt đậu Bới khoai, hái đậu xong, thì vải vừng, có nơi còn làm lúa tháng 10

Việc nặng như cày, bừa, do đàn ông làm, vào những ngày mùa cấy thường thuê mướn nhân công cho kịp thời vụ

Trong vườn rất ít nhà trồng cây ăn quả, có chăng là trồng ít cây cau, cây mít, cây chuối rìa vườn Còn nữa vẫn là trồng cây lương thực, như ngô,

kê, khoai sọ, khoai từ và cả cà để hỗ trợ cái ăn trong mùa giáp hạt

Người nông dân ở đây nuôi trâu nhiều hơn nuôi bò, vì đất cày nặng, rắn, việc chăn thả trâu dễ hơn bò Nuôi gà, vịt, lợn mang tính tiết kiệm, lợn nuôi bằng nước vo gạo trộn với cám nhà xay giã, lá khoai bòn góp con gà, vịt, ăn hạt lúa, gạo, cơm thừa, cơm vãi, ngay như con chó cũng ăn những lương thực "thấp" như khoai, cám, cơm thừa

Trang 23

* Thủ công nghiệp:

- Nghề làm nước mắm:

Nghề làm nước mắm ở làng Hội Thống đã có từ lâu đời, với sản lượng đánh bắt ở trong làng khá cao nên nghề làm nước mắm ở đây chiếm một thế mạnh và cũng đã trở thành nghề nổi tiếng một thời, không chỉ trong vùng mà con vang tận tới Nam Định, Huế, Quảng Ninh và tới Kinh Thành Thăng Long

Quá trình hình thành nghề làm nước mắm ở Hội Thống đến nay chưa

có tài liệu nào ghi lại cụ thể và cũng chưa có đợt khảo cứu, điều tra nào để biết được xuất xứ của nghề nước nắm Hội Thống Phải chăng nghề này có từ khi bắt đầu có nghề đánh cá và ông tổ của nghề nước mắm là ai cùng không được nhắc đến Chỉ được biết rằng nước mắm Hội Thống ngày xưa trong quá trình tìm kiếm thị trường (tiếp thị) không được quảng cáo một cách mỹ mãn

mà chỉ quen quảng cáo theo cách riêng "có một không hai" trên thị trường nước mắm Đó là chào hàng, quảng cáo nước mắm trong những cái gáo dừa, gáo nứa ngắn cán úp lên những lường gỗ có miền tre và nước mắm được khách hàng thử nếm bằng lưỡi và thưởng thức hương thơm bằng mũi Có nhiều câu chuyện kể lại vùng Nam Định và thị xã Thái Bình xưa một lần đúng thời hạn vắng thuyền vạn của Hội Thống thì dân trong chợ nháo nhác hỏi nhau rồi thì cho người vào hoặc đánh “giây thép” hỏi

Trong thời kỳ hậu Lê một số tài liệu có ghi lại: " Dân vùng biển , cá, nước mắm có nhiều lời (lãi)", "đóng thuyền rải rác dọc bờ sông, sạp sạ tiếng vang trên mặt nước - Trong quang cảnh làm ăn đó hẳn không thể không có làng Hội Thống

Kỹ thuật làm nước mắm:

Chọn nguyên liệu:

Trang 24

Nguồn nguyên liệu chế biến nước mắm khá dồi dào và giá rẻ bởi sản lượng cá đánh bắt được khá nhiều Hầu như các chủ hộ làm nước mắm là chủ thuyền lưới rút Nổi bật ở đây là khép kín giữa các khâu chế biến và buôn bán

- như vay nguồn nguyên liệu đều tự đánh bắt hoặc có mua lại chăng nữa đều

có giá rẻ

Cách chọn cá:

Khi thuyền về, chủ hộ huy động tất cả nhân lực chuyển đưa cá về cơ

sở của mình để chọn, phân loại và làm sạch

Kỹ thuật ướp

Nước mắm:

- Cá trích nục: 7 yến cá/1 yến muối

- Cá cơm: 9 yến cá/1 yến muối

Cho cá vào thùng ướp và trộn đều muối, sau khi trộn xong rang gạo giã thành bột trộn đều, đây là yếu tố chính tạo nên nước mắm ngon, nếu chưa trộn đều nước mắm sẽ chua; trộn chín quá nước mắm sẽ mặn

- Thời gian ướp: Cá trích, nục 6 tháng

Cá cơm 3 tháng

- Mắm vậy: Dùng cá cơm, cá ve 5 yến cá/1 yến muối ướp 1 đêm, sáng sau rang thính vàng (cơm khô giã bột) trộn đều đem ủ + hành tăm + ủ ba ngày, dùng vải màn bịt miệng thùng chống bẩn rồi phơi nắng 30 ngày là lấy nước dùng được

Từ “mắm vậy” có thể cải tiến thành ruốc chua và lấy nước đổ vào thùng ướp nước mắm để lấy nước mắm ngon, nước mắm cốt

Trang 25

- Ruốc: Nguyên liệu là con moi biển (tép) với 7 yến tép/1 yến muối trộn đều trong thùng, phơi đánh thường xuyên, bổ thính rang vàng + gừng phơi nắng 3 tuần là dùng được

Đó là kỹ thuật ướp nước mắm và các loại ruốc, mắm vậy’, đã được người xưa truyền lại Cùng với quá trình khảo sát thực địa và tìm hiểu qua những người cao niên và những người đang trực tiếp sản xuất nước mắm chung tôi đưa ra những tập hợp như sau:

- Về kỹ thuật chế biến là nước mắm phải đạt tiêu chuẩn ngon:

+ Mặn vừa phải, có nhiều chất đạm

+ Ngọt và có mùi thơm đầy tính hấp dẫn

+ Trong vắt, tươi màu cánh dán

+ Không trở mùi

- Để đánh giá được chất lượng nước mắm thì phải được thử nghiệm qua nhìn đẹp mắt, nếm thích lưỡi, ngửi ưa mùi Đạt được chuẩn mực đó thì phải thực hiện đầy đủ các khâu, thậm chí phải thật chặt chẽ nghiêm túc qua 8 cung đoạn

- Chọn lựa và phân loại cá, ruốc

- Liều lượng muối và cách ướp muối

Trang 26

Đó là cả một khâu liên hoàn, liên tục, thực hiện tỉ mỉ và người chủ thực hiện phải là người đầy dày dạn kinh nghiệm Vai trò quan trọng bậc nhất

là châu chọn cá và trộn

Nước mắm ngon trước tiên cá phải đảm bảo tươi Đây là bí quyết của nước mắm Hội Thống Điều này khá đảm bảo, vì chủ thuyền đánh cá là chủ

hộ sản xuất nước mắm, họ chủ động nguồn nguyên liệu, bảo vệ nguyên liệu

và sàng lọc được các chủng loại cá phù hợp với nước mắm

Điều kiện tiếp theo chế biến và vận chuyển Nơi chế biến nước mắm đều thuộc vườn của chủ hộ kinh doanh, hệ thống đồ nghề, kho chứa, thùng chứa đều được bảo quản rất sạch sẽ, sân phơi thoáng đủ ánh trăng, bảo quản trông coi đúng các khâu kỹ thuật, phương tiện vận chuyển đảm bảo an toàn cao hơn

Bên cạnh những nghề chính một số người trong xã còn làm nghề đánh bắt chim di cư, trẻ em thì đơm (dùng nhựa dính) chanh chanh, sả sả, vàng anh người lớn thì đơm cói, đơm quạ, đơm cưởi có 2 cách: Đơm , đơm đồng, đơm lùm là dùng loại cây rậm rạp để gói mô, đơm đồng là đắp đất hoặc làm mô nổi trên mặt nước can, có những nghề thú vị như chọi diều, chọi cò canh đồng Có những bụi tre gói thành đơm cu cói Nghề rập cu xanh Ngoài ra còn dùng ống chuyền thặp, xỉa chim đâu trên cây cao, các loại chim choi choi (chim chạy trên mặt đất kiếm ăn) thì đơm nhạc, đơm do, thả hóc, rập Nhưng các loại chim định cư lại sống chung với người và cũng được một cách tự nhiên, không ai đánh bắt để ăn thịt, vì cho rằng tanh, mờ sáng loài chim làm tổ trên những cây bìm bịp, chao chao kêu ồn ả Loài chim làm tổ trên những cây cao sẽ, sáo đen, sáo nghê, cà cưỡng, ắc xắc (sơn ca), quạ, chìa vôi gáy, hút, kêu líu lo suốt ngày tạo thành một miền quê thanh bình,

êm ả, ấm cúng

Trang 27

Rất xưa, ở Hội Thống đã có chợ làng, lúc đầu chợ họp dưới cây đa trước đình, vì đấy là bến đò ngang, thuận lợi cho việc đi lại, sau khi xã "lấn sông", từ bến đò đến đình đi lại khó khăn, chợ dời đến dưới cây đa nền xóm giữa làng Vì mỗi ngày chỉ họp một lúc gần chiều hôm nên gọi đó là chợ hôm, lúc này nghề khơi lộng đã cập bến, các nghề khác cũng mang các sản phẩm về, mua bán rất thuận tiện, ở đó có những người buôn bán vặt, vốn liếng chẳng là bao, nhiều xã lại có nghề buôn mành vượt biển và cũng là nghề vận tải biển vào Nam ra Bắc Mành là những chiếc thuyền lớn, chạy hai ba buồm lớn, mỗi chiếc trọng tải 2,3,4 xe (đơn vị trọng tải đường biển thời đó khoảng

10 tấn) Nghề này vốn lớn, nên có thu nhập cao nhất

Có thể nói, những người đầu tiên sống trên đất Đan Nhai, là những người lao động chân tay, họ làm nghề đánh cá, chở đò, làm ruộng, đánh chim trong đó nghề nông được phát triển và khá vững chắc Lúc đầu chỉ làm quanh đồng sác, Vịnh sác, vịnh tràng Sau đó lấn ra xung quanh như: Đồng

Sư, đồng đình, đồng thống, đồng nậu, đồng làn, đồng gia cô, đồng tú, đồng lành, đồng hồ cô, đồng mới, đồng ngoài, đồng lác, đồng kỳ lão, đồng kỳ lời, đồng nhà ngò, đồng chằm, đồng mành

* Truyền thống học hành

Những người dân đến lập xã là những người lao động chân tay, nhưng

họ vẫn quan tâm đến việc học Theo gia phả họ Võ, thì thế kỷ 16 có ông sinh

đồ (ngang tú tài) Võ Văn Đức lập trường học đầu tiên trong xã, thế kỷ 17 có ông Hoàng Việt dạy học Thế kỷ 18 có "Can" chiếng dạy học (thầy dạy ông Nghè Mẫu) Người đã từng dạy học ở Quốc tử giám thế kỷ 19 (nghe kể là dạy vua Tự Đức khi còn nhỏ) Đầu thế kỷ XX có những thầy đồ chuyên dạy chữ nho ở xã, như Cố Cài, Cố Bổng, Cố Bổng Đảm, cố Bang, cố Nghạch học, cố Chiếng có những thầy vừa dạy chữ nho vừa dạy chữ Quốc ngữ, như cố học

Trang 28

Phồn (cố Lý), cố Giáo, người đã lập "Hương đình giáo dục" là người thầy đầu tiên trong xã dạy chữ Quốc ngữ thời Đông Kinh Nghĩa Thục, những thầy dạy chữ quốc ngữ theo kiểu " gia đình học hiệu", như: Thầy Nại (Đan phổ), thầy Thịnh (Đan Hải),thầy Tường (Hương Sơn), thầy Học võ, thầy Mực (Hội Thống), có lúc xã mở đến 6 lớp

Xã cũng có nhiều ông thành đạt qua thi cử Ông Võ Thời Mẫn đậu cử nhân năm ất Dậu (1825), năm Bính Tuất (1826) thi hội đậu thứ ba, thi đình đậu tiến sĩ Ông được bổ làm tri phủ Quảng Ngãi, rồi triệu vào cung làm lang trung bộ hình, ra làm đốc học Định Tường, thăng án sát PhúYên, giúp tuần

vụ trông coi việc quan phong, lại đổi ra làm giáo thụ Quảng Yên, làm đốc học Ninh Bình Khi cha của ông qua đời, ông về nhà cư tang Thời kỳ này ông đã chán việc làm quan, định ở nhà luôn Tiếp đó ông làm đốc học Nam Định, lại

về nhận chức lang trung Bộ hình rồi ra làm án sát Ninh Bình Cuộc đời làm quan của ông có khi bị vu cáo, rồi cách chức, lại phục chức nhưng ông vẫn là một vị quan thanh liêm, thẳng thắn ông được phong "phụng chính đại phu, hàn lâm thị giảng" Ông mất năm Bính Dần (1866), thọ 72 tuổi

- Ông Võ Duy Thề đậu cử nhân năm Canh Tuất (1850), khi ông vào tập bài (làm bài) ở Quốc tử giám, ông bị bệnh và mất ở Huế.Ông Võ Văn Hiên, đậu tú tài khoa Tân Tỵ (1821)

- Ông Phạm Vĩnh Trai đậu tú tài khoa ất Dậu (1825)

- Ông Thái Lãm Trai đậu tú tài khoa Bính Ngọ (1846)

- Ông Nguyễn Chu Phù (quan giám) đậu tú tài khoa Bình Thìn (1856)

- Ông Nguyễn Thiên Phụ đậu tú tài khoa Mậu Thìn (1868)

Bên cạnh truyền thống học hành khoa cử, là truyền thống cách mạng kiên cường Trước những năm 30 nhân dân Hội Thống phải sống trong cảnh

Trang 29

nô lệ, người Hội Thống không nguôi nhiệt huyết trước vận mệnh của dân tộc Những người con tiêu biểu như anh công nhân Thái Dinh, một con người của Hội Thống đã tham gia Đảng Tân Việt ở phân xưởng và sửa chữa đầu máy xe lửa trong những năm 1928/1929 Anh đã trực tiếp giác ngộ, tuyên truyền đấu tranh cách mạng đến nhân dân Hội Thống Theo lịch sử Đảng bộ huyện Nghi Xuân, ngày 01/5/1930 đã có cuộc rải truyền đơn của Đảng cộng sản từ Gia Lách đến Hội Thống nhân kỷ niệm ngày quốc tế lao động, kêu gọi: " Giảm sưu thuế cho dân cày, chia ruộng đất cho dân nghèo", những tờ truyền đơn cộng sản ấy như chim én báo hiệu mùa xuân thức tỉnh lòng người Suốt trường kỳ những cuộc đấu tranh hết chống Pháp, rồi chống Mỹ, người dân Hội Thống vẫn kiên cường bất khuất

1.1.5 Văn hoá xã hội

Đan Nhai - Hội Thống là xã cửa sông, cửa biển, giữa xứ Nghệ Tĩnh - Người Đan Nhai - Hội Thống là dân kẻ hội, dân tứ phương đến định cư Lúc đầu "bảy họ tám người" Trong đó có một số dòng họ trong xã có nguồn gốc

từ Hải Dương, Hải Phòng, Nam Định, Thanh Hoá và Nghệ An sang và các vùng đất khác trong tỉnh Hà Tĩnh ra phải chăng vì dân Hội có gốc nhiều nơi,

mà dọng nói qua một thời gian pha trộn, nghe "phổ thông" hơn, nhẹ hơn Giọng nói kẽ Hội, nghe âm sắc khác hẳn với giọng nói xã Đan Tràng chỉ cách một con đường Khác hẳn với giọng nói của các xã ở bên trong chỉ cách một con sông Thực ra dân xóm Chùa pha giọng nói xã Đan Tràng, dân xóm chài pha giọng nói bên trang, và cuối câu hạ giọng nặng hơn

Thử so sánh một số từ người kẻ Hội dùng với từ mà đa số người xứ Nghệ quen dùng Người xứ Nghệ thường kéo dài nguyên âm giữa khôông, coong, bêênh một số từ thường giữ nguyên phụ âm đầu, nhưng biến đuôi của từ: Ló (lúa), mói (muối), nác (nước) một số từ lại thường biến phụ âm đầu

Trang 30

nhưng giữ nguyên đuôi của từ: Triều (nhiều), thùa (chùa), trửa (giữa) Có một

số từ dùng khác hẳn: trốc (đầu), đòn triêng (quang gánh) thì người kẻ hội

dùng từ phổ thông hơn: Không, cong, bênh, lúa, muối, nước, chiều, chùa và

người kẻ hội cũng không theo ngoài bắc nói: Nàm (làm), cây che (cây tre), dõ

dàng (rõ ràng), mà là: Làm , cây tre, rõ ràng Cũng có những từ người kẻ Hội

nói hoà chung với người xứ Nghệ như: Chi (gì, sao) mô (ở đâu) răng (thế

nào)

Có những từ kẻ Hội dùng như người xứ Nghệ quen dùng, lại vừa nói

như từ phổ thông: Nốc và thuyền, cẳng và chân, mấn và váy

Có những từ người kẻ Hội dùng: Qua, gộc, gươi không giống từ

người xứ Nghệ quen dùng choa, côộc, cươi cũng không giống từ phổ

thông: Chúng tao, gốc, sân

Có những từ "riêng" của người kẻ Hội: Kiện (bịa, xuyên tạc), hoạ (bịa, châm biếm) Mỗi (loại ra), phới (phải)

Về thanh, người kẻ Hội phát âm rõ 5 trong 6 thanh: Sắc, huyền, hỏi,

ngã, nặng và không dấu, riêng "ngã" phát âm "ngạ"

Đặc biệt, tiếng kẻ Hội thường biến nguyên âm hay cụm nguyên âm ê

thành i (ngốc nghếch thành ngốc nghích), ưa thành in (bưu điện -> biu điện),

ưi thành ươi (khung cửi thành khung cưởi), ươu thành iêu (bươu đầu thành

biêu đầu), ân thành ưn (nhân dân -> nhưn dưn), âng thành ưng (vâng lời +

ưng lời) Có điều nói là vậy nhưng khi viết lại đúng chỉnh tả

Có những "ngữ khí" từ khác biệt như "Vơ" , "oa", đứng đầu ở câu: "Vô

cha", (thế hay sao), "vô cha" (ơi trời ơi), "hề", "trây",đứng ở cuối câu thành

"đi hề" (đi nhé),"khó trây" (khó nhỉ) có những từ đệm "rứa nợ đó" (thế đấy),

"còn rứa nợ" (còn thế nữa)

Trang 31

Người kẻ Hội có nhiều cách diễn đạt độc đáo, khi lâu ngày gặp lại, ngạc nhiên, mở đầu thường là: "oà, cha là cha (ối) Mạt sát người dễ dàng bị thất bại "Que cạn sớm", que là gậy, cạn là rổ rá, ý nói: Đi ăn xin sớm Hoặc

"đừng có bấu ó" (đừng có ăn vạ) Cách chào của người kẻ Hội cũng độc đáo, người lạ có thể cho là vô lễ Như "ông" (Cháu chào ông ạ); bà (Cháu chào bà ạ) Câu chào nghe cụt lủn Thực ra, đây là thói quen của người đầu sóng ngọn gió , nói to để át tiếng sóng, tiếng gió, nhưng nói to thì khó nói dài được

Vì nhà ở sát biển, nên gặp nhiều bão tố mạnh, do vậy, nhà cửa làm ở đây thường thấp, nhà gỗ thường làm kiểu chữ đinh hoặc tứ trụ, bởi chúng kết cấu vững chắc

Nước ăn thường dùng giếng của làng, bởi đào trong vườn sợ động long mạch, chỉ nhà có vườn rộng mới đào giếng Người kẻ Hội, mặc quần nâu, áo vải, nữ mặc váy, yếm, áo gài 1 cúc, phía dưới vấn khăn Nam mặc quần lá tọa (áo cổ lá sen) Ăn đạm bạc, mỗi nhà một cái vại cá dùng ăn quanh năm, nhưng ăn rau lại chê là "kiểu cách", vụ gặt chiêm thường có món canh mướp nấu với đậu trắng (vừa thu hoạch) giã dập

Văn hoá dân gian

Văn hoá dân gian ở vùng Hội Thống cổ có rất nhiều thể loại như hát chèo, đu quay, tuồng cổ (hát hội), trải qua quá trình lâu dài đến nay đã bị mai một và quá trình điều tra chỉ nắm bắt được qua truyền khẩu, còn hệ thống văn bản đến nay không còn, qua khảo sát chúng tôi bước đầu tập hợp như sau:

+ Hát chèo, tuồng

Đây là những vở chèo trước đây đều có văn bản hoàn chỉnh, đặc biệt hát trò kiều được sử dụng nhiều nhất Có khi trong lễ hội còn có cả hát bội Ngày xưa trong vùng có phường chèo, phường hát bội và mất dần vào những năm 20 của thế kỷ XX

Trang 32

đu dùng 2 cây trên nhỏ vừa tay cầm, ngọn đục lỗ chốt chắc vào gông, dưới có bàn đạp bằng gỗ chốt chặt, bàn đạp gỗ cách mặt đất khoảng 0,6 - 0,7m

Người chơi gồm 2 người, 1 nam, 1 nữ đứng đối diện lên bàn đạp, nắm chắc tay đu va nhún mạnh để cho đu chuyển động càng cao, thời gian càng lâu thì đôi đu đó được xem vỗ tay nhiều

Đu quay: Cây đu có 2 cột trụ gỗ, cao chừng 3m trên trụ đục lỗ tròn luồn cây trục vào, từ trục này có từng cặp tay đòn vươn ra xung quanh tạo thành khung bánh xe lớn Trên vành bánh xe treo 6 ghế ngồi ( giỏ ngồi) như ghế lái máy bay, để khi đu quay đầu người luôn ở phía trên, đu quay thường

có 6 người con gái ăn mặc đẹp, ngồi lên ghế đạp cho đu quay và khi chân chạm xuống đất thì tiếp tục đạp cho đu quay tiếp Trò chơi này được các nam

nữ thanh niên nhiệt tình tham gia trong các ngày hội và cũng là trò chơi không thể thiếu trong các ngày hội

* Nếp sống, phong tục, tập quán

+ Cưới xin:

Tục cưới xin trước đây mang đậm đặc thù của người dân làng biển, nhưng vẫn không tránh khỏi theo hệ ý thức phong kiến, tức là cha mẹ đặt đâu, con ngồi đấy và các cặp tìm hiểu nhau môn đăng hộ đối Quá trình diễn ra tục

ăn hỏi như sau: Lễ dạm ngõ - đám hỏi - lễ cưới - tổ chức rước dâu

Trang 33

Ngày nay với nếp sống mới, cưới xin đã giảm các thủ tục phiền hà, tốn kém mà đang đi dần vào xu hướng giao cho đoàn thanh niên tổ chức

+ Ma chay

Trước đây thủ tục này khá rườm rà, lạc hậu và thậm chí còn mang đậm màu sắc mê tín Người chết để trong nhà 3 ngày, mời thầy cúng về làm lễ, con cháu tập trung về, hàng ngày tổ chức ăn uống rất tốn kém Nhưng ngày nay thủ tục này đã bị xoá bỏ, thay vào đó người chết chỉ để trong nhà 24 tiếng đồng hồ, mọi thủ tục đều do ban tang lễ đảm nhận Hàng xóm láng giềng đến viếng thăm, không tổ chức ăn uống và nghĩa trang được quy hoạch cụ thể xa nơi khu dân cư

1.1.6 Các di tích lịch sử Văn hoá ở xã Hội Thống

* Đình Hội thống

Thuộc hàng lớn nhất trong vùng Cấu trúc đình kiểu chữ nhị , hậu đình

3 gian cột vuông, đình 7 gian cột tròn Đình ngoảnh về hướng Tây, lúc ấy trước cổng đình là bến đò, cửa sông, có bóng đa toả mát, có chợ đông vui, tổ chức đua thuyền, thi bơi hàng năm (bến làn bơi) Sau đình là những thân cây lớn hơn vòng tay như: Gác, chùm, mòi, thị Đình gồm 7 gian 2 vận, với 8 dãy cột, trước sau mỗi dãy 4 cột to, vòng tay người lớn ôm không xuể, như nhắc đời sau "Bảy họ, tám người khai lập dân xã"

Gỗ làm đình đều bằng lim, chạm trổ công phu, rồng chầu phượng múa Kinh phí chia: Mỗi chủ mành một vì đầy đủ và xà nối, phần còn lại do các hộ dân khác đóng góp Mái đình lúc đầu lợp tranh, 30 năm sau mới lợp ngói Bên cạnh có ao chùa và hai nhà bia ghi công đức của hai người trùng tu lớn Đình xưa cao hơn bây giờ, chuyện kể: Một lần loạn lạc Thành Hoàng ngự lên dạy

"phải cưa bớt cột đình xuống nửa thước (thước ta), nếu không, giặc sẽ dỡ

Trang 34

đình" Dân xã làm theo (nay còn dấu tích) quả thật, sau đó giặc vào, định dỡ đình về làm kho, cuối cùng chê cột quá thấp

Đình làng còn là nơi họp dân, nơi tổ chức các lễ trọng như: Lễ rước đồ

mã, lễ kỳ yên các lễ hội được tổ chức trang nghiêm, để lại dấu ấn quê hương, trong những người đến dự (năm 1995, đình Hội Thống đã được Bộ văn hoá Thông tin xếp hạng di tích lịch sử văn hoá)

* Đền "Nội ngoại tiên hiền":

Đây là đền thờ được dân lập sớm nhất trong xã: " Nhớ xưa bảy họ tám người,Lập thành dân xã công nơi hải tần" Họ là những người đầu tiên đến khai cơ lập nghiệp, là những ông bà sau này trở thành thông gia với nhau Đền lập ở đầu cồn, nơi định cư đầu tiên của dân xã Đền dựng trên 4 cột gỗ lợp tranh, xung quanh thưng gỗ Rồi một năm, bảo lớn, nước dâng to, đền và hầu hết các nhà ở bị tàn phá, cuốn trôi Dân dời vào cồn cao, thời gian sau dân xây dựng lại đền bằng gạch ngói trên đồi đất cồn Na, đền ngoảnh hướng Nam, phía trước là cánh đồng Đền xây như cái am lớn, tường bao, cửa đóng, bên trong có hai cấp hương án, cấp cao để bài vị lớn, ghi tên các ông bà được thờ

và bát hương, cấp thấp hơn để lễ vật Cạnh đền có cây đa lớn, tất cả nằm trong lùm cây um tùm cổ kính Bài vị là tấm gỗ lớn, ghi: " Nội ngoại tiên hiền chư tiên sinh"

* Chùa Yên Phúc:

Chùa nằm ở địa đầu của xã, xưa có cồn mối đùn lên rất to, dân bèn dựng chùa ở đó Chùa làm bằng gỗ lợp tranh, mãi sau này mới lợp ngói, Chùa thờ phật tổ Văn thúc ước có câu: " Mối đùn nổi tiếng danh lam, cửa từ bi chẳng đóng " Dựng chùa xong, có sự tranh chấp ngôi chùa giữa hai xã, cuối cùng ngôi chùa nằm trên đất Hội Thống, lại có 6 chữ khắc trên xà: Yên Phúc

Tự, Hội Thống xã, nên chùa thuộc xã Hội Thống Theo gia phả của họ Phan

Trang 35

(Xuân Hội) ghi lại, thì họ Phan có quan hệ mật thiết với nhà chùa Có thời, chùa dời về cạnh đình làng, phía trước có ao chùa, sau đó lại dời về chỗ cũ (năm 1975), huyện chia lại địa giới xã, chùa nay thuộc xã Xuân Trường

* Miếu: (Còn có tên là đền Cả, hoặc đền Đại Càn) Miệu thờ Tứ vị

Thánh nương Tứ vị thánh nương có 4 dị bán thần tích Xin nêu một thần tích được ghi lại theo Đại Việt sử ký toàn thư, Việt điện u linh, Đại Nam nhất thống chí và Thượng kinh ký sự, Năm Tân Hợi (1311) vua Trần Anh Tông đem quân đi đánh Chiêm Thành, truyền qua cửa Càn Hải (Cửa Cờn - Quỳnh Lưu), đêm nằm mộng thấy nữ thần khóc, thiếp là cung phi nhà triệu Tống, cùng với 3 người con gái họ Hồng, bị giặc Nguyên Mông bức bách, gặp sóng gió trôi dạt đến đây, được trời phong làm thần biển đã lâu, nay gặp bệ hạ đem quân đi diệt giặc, thiếp xin giúp một tay lập công Sáng ra vua hỏi, dân cũng tâu như vậy, vua cho lập đền thờ, phong là " Tứ vị Hồng nương " hoặc "Tứ vị Thánh nương" Trong miếu có đôi câu đối nói lên điều đó

Nam Bắc thử quan hà, thành bại hưng vong thiên cổ sự

âm dương đồng thác thược, túc ung trắc giản nhất thiên linh

Nghĩa là: Nam Bắc cùng giang sơn, còn mất xưa nay câu chuyện thế

Âm dương cùng then khoá, nghiêm trang ẩn hiện một phương trời Miệu là nơi thờ cúng linh thiêng, nên được nhiều người dâng hương

để xin một lời khuyên

* Đền Bản Thổ: Đền ở phía Bắc, cạnh đình Đền thờ thổ công long

thần của xã Đền được cúng cùng ngày với những ngày lễ trong đình

* Đền Thượng Thống Đền nằm phía cuối cánh đồng Thống (chứng

tỏ đền có khá xưa) Đền xây kiểu một ngôi miếu nhỏ thờ tướng Lê Phụng Hiểu Một tướng phò vua nhà Lý để đánh quân Chiêm Thành (1044) Ông

Trang 36

được phong là Đô Thống vương và các mỹ tự "Khương quốc công", "Tá Thánh" Ông thọ 77 tuổi và được nhiều nơi thờ làm Phúc thần, hoặc còn gọi là Thánh Bưng

Đền Đô Thống Đền ở phía đầu Cồn Thành Đền xây kiểu miếu, thờ

đô thống tiết chế, tên hiệu "Quốc công sát hải chàng lại đại tướng quân, đô thống" Ông là Hoàng Tá Thốn, một tướng đời Trần, có lần đánh nhau với giặc Minh ở cửa biển Đan Nhai Ông có tài lặn xuống nước đục thuyền địch, góp phần đánh tan quân Nguyên ở sông Bạch Đằng (1288) Khi ông mất, được phong là "Sát hải đại tướng quân, Thiên Hồng nguyên soái chi thần"

Đền Tam Toà (còn gọi là đền Tam Toà, hoặc đền Lý đại vương) Đền

gần đền Cá, thờ Lý Nhật Quang, con trai thứ 8 của Lý Thái Tổ, huý là Hoảng (do chữ "Nhật" chữ Nhật chồng lên chữ Quang") Lý Nhật Quang trấn thủ ở Nghệ An, ông đã đem quân giúp vua Chiêm dẹp loạn, dân Chiêm nhớ ơn ông

và lập đền thờ ông dưới chân núi Tam Toà (cạnh cửa biển Thị Nại - Bình Định) và dân Nghệ Tĩnh lập đền thờ ông nơi nào cũng gọi là đền Tam Toà Đây là một đền linh thiêng, cổ và đẹp Vua Lê Thánh Tông qua đây đã làm bài thơ " Đan Nhai hải môn" có câu " Hy kỳ Tam Toạ " để ca ngợi Trong đền, cũng có 3 bàn thờ, nên đời sau cứ tưởng Tam Toà là thờ 3 vị Hiệu của thần là "Minh uy dũng liệt đại vương, hiển linh hộ quốc hồng quân đại vương, Tam Toà quốc chú Lý Nhật Quang"

7 Đền Thần Nông Đền nằm giữa đoạn doi đất Miệu Đền xây lộ

thiên, có 3 cấp thờ, xung quanh có tường thấp Đền thờ vị thần chủ nghề nông, được nông dân hương khói vào đầu các mùa vụ Đền gắn liền với lễ hội lớn, lễ hạ điền

8 Đền ông, Đền Cô, Đền Cậu

Trang 37

Đây là 3 đền gần nhau, sát biển Đền thờ thần Cá, tượng trưng cho nghề ngư, nghề biển Đền Ông thờ cá voi to, đền Cô, đền Cậu thờ cặp cá voi nhỏ Trong đền có trên chục tiểu sành đựng hài cốt cá Hiệu là" Nam hải ngư thần" Đền được người đi biển hương khói khi đi nghề, đi biển xa Đền gắn với một lễ hội lớn Lễ hội cầu ngư

9 Đền Thánh

Đền dựng phía cuối của giải Cồn Na Đền xây 3 gian rộng rãi, xung quanh xây tường Đền thờ đức Khổng Tử và các vị nho học Tên hiệu: "Đại thành chí thánh tiên sử Khổng Tử ", " thuật thánh Tăng tử", "á thánh Mạnh Tử" Có thể coi đền thánh như là Văn chỉ xã, ghi lại những người thành đạt trong các khoa thi Những người đi học, đi thi và khi thành đạt đều đến đây hương khói Ngày trước, đền Thánh được cúng vào đầu năm để khai bút Bài văn cúng vào đầu năm Duy Tân thứ 7 (1913) có đoạn:

" Bản xã lịch khoa tiến đạt chư tiên sinh " Đền thánh có đôi câu đối:

" Đạo tố nhất trungNghiêu Thuấn Võ Thang Văn Vũ

Giáo thuỳ vạn thế, Thi Thư, Lễ Nhạc Xuân Thu"

Nghĩa là: Dốc một đạo thánh vương, Nghiêu, thuấn Võ, Thang , Văn, Vũ Dạy nghìn đời sỹ tử, Thi, Thư, Lễ, Nhạc, Xuân, Thu

* Nền xóm Nền xóm là một bàn thờ, thường hai cấp, xây lộ thiên

Mỗi nền xóm thường đặt dưới gốc cây lớn như đa, bàng, si, giới hàng năm, mỗi năm xóm được cúng tế vào các ngày 23, 24 tháng Chạp, là ngày được phân mã Ngày tết Nguyên Đán và ngày rằm tháng Bảy được các gia đình trong xóm đến hương khói, nhưng không cầu xin gia sự ở đây Trước năm

1945, cả xã có 8 nền xóm Mỗi nền xóm, cử một người tuổi cao trông nom việc thờ cúng

Trang 38

CHƯƠNG 2 GIÁ TRỊ LỊCH SỬ - VĂN HOÁ ĐÌNH HỘI THỐNG

2.1 Nguồn gốc, lịch sử ngôi đình làng:

Mỗi làng quê Việt Nam đều có 1 ngôi đình Đó là nơi thờ Thành hoàng làng, (vị thần bảo trợ của làng) Vào mỗi dịp lễ, tết, đình trở thành trung tâm văn hoá của làng, mà ở đó, kho tàng văn hoá tích luỹ từ đời này qua đời khác được thể hiện đầy đủ nhất

Xét về mặt tạo hình, các nhà nghiên cứu đều thống nhất rằng, đình là gương mặt một thời của nền kiến trúc Việt cổ Nó không chỉ là công trình uy nghiêm, đồ sộ nhất trong khung cảnh làng quê Việt Nam nghèo nàn thời quân chủ mà còn là nơi bảo tồn khá trọn vẹn nhiều đặc điểm của nền kiến trúc dân tộc, bởi nó ít phải chịu ảnh hưởng của kiến trúc ngoại sinh Đặc biệt đình làng

là một kho tàng lớn về tác phẩm điêu khắc gỗ dân gian Việt Nam mà sự khéo léo, tài tình của tiền nhân được thể hiện trên từng nét , chạm khắc

Về lịch sử của ngôi đình làng được rất nhiều nhà nghiên cứu quan tâm

Có ý kiến như phủ nhận nguồn gốc bản địa của ngôi đình Việt Đại biểu là Ngô Tất Tố, trong tài liệu phóng sự "Tập án cái đình" ông cho rằng, đình được ra đời từ thời Tần - Hán bên Trung Quốc, cứ 5 dặm có 1 cái nhỏ, 10 dặm có một cái lớn, để cho khách nghỉ chân Đối lập với quan điểm đó, nhiều học giả đã thừa nhận nguồn gốc bản địa của ngôi đình làng Nhưng nguồn gốc thực sự, thời gian ra đời, vấn đề ra đời Thành hoàng làng và đi vào trong đình

từ bao giờ bằng con đường nào thì còn nhiều ý kiến chưa thống nhất

Thực tế trong lịch sử đã từng tồn tại nhiều loại đình khác nhau, tương truyền vào thời Đinh và Tiền Lê (968 - 980 và 980 - 1009), sứ giả các vùng và các lân quốc thường đi thuyền theo sông Đáy hay cửa biển Thần phù về kinh

Trang 39

đô Hoa Lư, lên nghỉ tại Dịch Đình, trước khi vào bệ kiến Ngày nay, địa điểm này chỉ là bãi đất trống, nhưng các thám sát khảo cổ học tìm được nhiều di vật bằng đất nung Dầu vậy, nền kiến trúc này từng tồn tại thì cũng chỉ là 1 kiến trúc của nhà nước đơn chiếc chứ không phổ biến Dịch đình cũng là 1 dạng tiền thân của quán sứ sau này mà thôi [30: 37-38] Văn bia chùa Linh xứng, dựng năm 1126 có ghi: "Kế bên sông có cái đình nhỏ, thường thuyền bè qua lại đó để nghỉ ngơi" Có lẽ đây là văn bản cổ nhất Việt Nam đầu tiên có chữ đình;

Một loại kiến trúc cũng được ghi là "đình" được đề cập tới vào triều Lý ĐVSKTT chép: "Bính Tý (Đại Định) năm thứ 17 [1150] Làm hành cung ngự thiên, điện Thuỵ Quang, gác ánh Vân, cửa Thanh Hoà, thềm Nghi Phượng, gác Diên Phú, đình Thưởng Hoa " [48 :145]

Thưởng hoa đình này hẳn là toà nhà để vua quan dừng chân nghỉ ngơi, thưởng thức vẻ đẹp của hoa và có lẽ nó cũng tương tự như loại Lan đình được ĐVSKTT nhắc tới dưới thời Trần: "Mậu Thìn, [Thiệu Long] năm thứ 11 (1269), mùa xuân, tháng giêng, xuống chiếu cho các vương hầu tôn thất, khi bãi triều thì vào trong điện và Lan đình Vua cùng ăn uống với họ Hôm nào trời tối không về được thì xếp gối dài, trải chăn rộng kê giường liền cùng ngủ với nhau để tỏ hết lòng yêu quý nhau"

Cùng ĐVSKTT ghi sự kiện năm 1231 "Thượng Hoàng xuống chiếu rằng, trong nước hễ chỗ nào có đình trạm đều phải đắp tượng phật để thờ Trước đây, tục nước ta thường nóng bức, nên làm nhiều đình cho người đi đường nghỉ chân, thường quét vôi trắng gọi là đình trạm, Thượng hoàng khi còn hàn cư thường nghỉ ở đó " [48: 163]

Đoạn văn trên cho phép nghỉ rằng, từ thời Trần trở về trước chưa có đình thờ thành hoàng làng;

Trang 40

Trong các thời Lê sơ và Mạc, có nhiều bia ký ghi chép về đình Xin lược qua một vài tấm bia của hai thời ấy

- Bia đình Yên Mô (Phát Diệm, Hà Nam Ninh, với tên đề: "Yên mô xã đình bi ký" Niên đại Hồng Đức thứ 3 (1472) Nội dung văn bản ghi: Địa lý xã Yên mô, Tổng Yên mô, Tổng Yên Khánh, Ninh Bình: Việc huyện Sơn Minh, Phủ ứng Thiên tổ chức đắp đê, chức xã Yên Mô và Yên Diên dựng bia để ghi nhớ

- Bia đình thôn Thuần Đông (Hoằng Hoá - Thanh Hoá) với niên đại Quang Thiệu thứ 7 (1522) nôi dung: việc làm cầu đá

- Bia đình xã Phượng Cách (Hoàng xá, phủ Quốc Oai, Hà Tây) với niên đại thống nguyên thứ 4 (1525) nội dung: Công đức của cựu chánh tổng đã trồng cây, lập bến đò

- Bia đình Hà Nguyên (huyện Hưng Nhân, Thái Bình) với niên đại Đại chính thứ 2 (1531) Nội dung: Việc lập cầu, mở chợ

- Bia đình xã Tượng Hoài (phủ Thái Ninh, Thái Bình) với niên đại Diên Thành thứ 8 (1585) Niên đại ghi phụ thêm: Đức Long thứ 3 (1633), Vĩnh Trị thứ tư (1679) Nội dung: Tên những người có công xây dựng đình làng

- Bia đình An Khê (huyện Phất Lộc, phủ Lạng Giang - Bắc Giang) với niên đại Vĩnh Tự thứ nhất (1676) Nội dung: Vợ chồng Khánh quận Công Hà Công Dung có công cúng tiến, ao ruộng cho làng để dựng đình, được tôn làm thành hoàng

Lần theo đường đi của loại kiến trúc "đình", nhà nghiên cứu Văn hoá nghệ thuật Trần Lâm Biền cho rằng: "Buổi khởi nguyên, đình vốn là một nhà công cộng để nghỉ chân (đình trạm) Đến đầu triều Trần một số nhà nghỉ chân

Ngày đăng: 06/06/2021, 00:48

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w