Xuất phát từ những lý do trên, cộng với tấm lòng chân thành của một ngời con xứ Nghệ, chúng tôi mạnh dạn chọn vấn đề: Lịch sử - văn hóa làng“Lịch sử - văn hóa làng Lý Trai xã Diễn Kỷ, hu
Trang 2nguyễn văn thịnh
lịch sử - văn hóa làng lý trai
x diễn kỷ, huyện diễn châu, tỉnh nghệ an ã diễn kỷ, huyện diễn châu, tỉnh nghệ an
từ thế kỷ XV đến năm 1945
chuyên ngành: lịch sử việt nam
Mã diễn kỷ, huyện diễn châu, tỉnh nghệ an số: 60.22.54
Luận văn thạc sĩ khoa học lịch sử
Ngời hớng dẫn khoa học:
TS trần văn thức
Vinh - 2009
Trang 3Luận văn này đợc hoàn thành với sự giúp đỡ của nhiều cơ quan, tập thể, cá nhân mà chúng tôi không thể không bày tỏ lời cảm ơn chân thành.
Trớc hết, tôi xin chân thành cảm ơn Thầy giáo TS Trần Văn Thức, mặc dù rất bận rộn, song đã trực tiếp hớng dẫn tận tâm và chân thành trong suốt thời gian khi tôi xác định nghiên cứu đề tài này cho đến nay.
Xin chân thành cảm ơn các thầy giáo đã đọc và có những nhận xét
về đề tài, các thầy cô giáo trong khoa Lịch sử, khoa Sau Đại học - Trờng
Đại học Vinh đã đóng góp ý kiến cho tôi trong quá trình học tập và hoàn thành luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn tới UBND - HĐND xã Diễn Kỷ, huyện Diễn Châu, các dòng họ và nhân dân địa phơng đã nhiệt thành giúp đỡ tôi trong quá trình khảo sát tại thực địa.
Tôi xin chân thành cảm ơn tới tập thể cán bộ th viện tỉnh Nghệ An,
th viện trờng Đại Học Vinh, th viện Huyện Diễn Châu, Tập thể CBCNV và lãnh đạo Trờng THPT Ngô Trí Hòa ( Diễn Châu) đã nhiệt tình giúp đỡ tôi
đợc tham dự các cuộc hội thảo và khảo cứu các tài liệu liên quan đến đề tài.
Tôi xin chân thành cảm ơn tới những ngời thân trong gia đình và bạn bè đã động viên, chia sẻ, khích lệ và giúp đỡ tôi trong quá trình học tập
Trang 4Nxb : Nhµ xuÊt b¶n
§CSVN : §¶ng Céng s¶n ViÖt NamUBND : ñy ban nh©n d©n
NGND : Nhµ gi¸o nh©n d©n
THPT : Trung häc phæ th«ngXHCN : X· héi chñ nghÜa
Trang 5Mở đầu 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2
3 Nguồn t liệu và phơng pháp nghiên cứu 6
4 Đối tợng và phạm vi nghiên cứu 8
5 Đóng góp khoa học của đề tài 8
6 Bố cục của luận văn 9
Nội dung 10
Chơng 1 Điều kiện tự nhiên và quá trình hình thành, phát triển của làng Lý Trai 10
1.1 Điều kiện tự nhiên 10
1.1.1 Vị trí địa lý 10
1.1.2 Địa hình, đất đai, khí hậu 10
1.1.3 Sông ngòi, giao thông 14
1.2 Quá trình hình thành, phát triển của làng Lý Trai 16
Chơng 2 Tình hình kinh tế và cơ cấu tổ chức của làng Lý Trai 27
2.1 Tình hình kinh tế 27
2.1.1 Tình hình sở hữu ruộng đất 27
2.1.2 Tình hình phát triển nông nghiệp 28
2.1.3 Thủ công nghiệp 29
2.1.4 Thơng nghiệp 32
2.2 Cơ cấu tổ chức của làng 34
2.2.1 Vài nét về bộ máy quản lý làng xã truyền thống 34
2.2.2 Các đơn vị của làng 40
Chơng 3 Đời sống văn hóa của làng Lý Trai 56
3.1 Diện mạo văn hóa vật chất 56
Trang 63.1.3 Mé Ng« TrÝ Hßa 69
3.1.4 Mét sè nhµ thê vµ mé cña c¸c nh©n vËt kh¸c 70
3.1.5 GiÕng cæ 73
3.1.6 Nhµ Th¸nh HuyÖn 73
3.1.7 Nhµ ë 74
3.2 §êi sèng v¨n hãa tinh thÇn 75
3.2.1 TÝn ngìng, t«n gi¸o 76
3.2.2 Phong tôc tËp qu¸n 80
3.2.3 C¸c lÔ tiÕt thê cóng trong n¨m vµ LÔ héi 85
3.2.4 TruyÒn thèng häc tËp, khoa b¶ng 90
KÕt luËn 99
Tµi liÖu tham kh¶o 101
danh môc phô lôc 106
Phô lôc
Trang 7Mở đầu
1 Lý do chọn đề tài
Làng Việt có vai trò rất quan trọng đối với sự tồn tại và phát triển củalịch sử dân tộc Trong điều kiện của tình hình xã hội hiện đại, bên cạnh nhữngthành tựu đáng mừng, thì một số giá trị lịch sử - văn hóa, trong đó có văn hóalàng xã đang dần bị mai một Chính vì vậy, gìn giữ và phát triển văn hóa làngxã đóng vai trò quan trọng, do đó việc tìm hiểu và nghiên cứu những giá trịlịch sử, văn hoá, hiểu thêm về các làng xã Việt Nam là điều cần thiết
Diễn Châu đợc biết đến là một vùng đất có bề dày lịch sử truyền thống văn hóa Chính truyền thống đó đã hình thành nhiều dòng họ, nhiều làng nổitiếng trong lịch sử Trong những làng đó, có làng Lý Trai (Nay là xã Diễn Kỷ
Diễn Châu)
Cũng nh vùng đất xứ Nghệ địa linh nhân kiệt, Lý Trai là một trongnhững vùng đất sản sinh ra nhiều nhân tài Những nhân tài đó không chỉ lànhững ngời đỗ đạt cao, nắm giữ nhiều chức vụ quan trọng dới thời các triều
đại phong kiến, mà điều đáng trân trọng là họ đều là những ngời đạo cao, đứctrọng, sống gần gũi, chân thành, giản dị, nhng có chí lớn, họ đều là những ng-
ời con u tú của dân tộc, của làng xóm Hình ảnh đẹp đẽ đó của họ từ lâu đã đivào tiềm thức của ngời dân và đợc lu truyền trong sử sách Các nhân vật đó đãlàm rạng rỡ thêm truyền thống quê hơng Diễn Châu nói riêng, Nghệ An nóichung
Mặt khác, thông qua tìm hiểu, nhận thức sâu sắc truyền thống lịch sử,văn hoá của làng Lý Trai, giúp ngời đọc và thế hệ trẻ, trong đó có bản thân tácgiả biết trân trọng, tự hào về những đóng góp của các thế hệ cha ông đi trớc,giáo dục niềm tin, tình yêu quê hơng đất nớc, biết sống có đạo lí, nhân nghĩa,vững tin vào tơng lai Hơn thế nữa, việc khảo cứu, nghiên cứu một cách có tâmhuyết của nhiều ngời cùng với những đóng góp của đề tài sẽ góp phần bổ sungnguồn tài liệu hữu ích trong lĩnh vực nghiên cứu địa phơng học ở Nghệ An.Trên cơ sở những hiểu biết đó giúp cho chúng ta có thể hoạch định nhữngchính sách phù hợp cho chiến lợc phát triển kinh tế, văn hóa của tỉnh nhà
Xuất phát từ những lý do trên, cộng với tấm lòng chân thành của một
ngời con xứ Nghệ, chúng tôi mạnh dạn chọn vấn đề: Lịch sử - văn hóa làng“Lịch sử - văn hóa làng
Lý Trai xã Diễn Kỷ, huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An (từ thế kỷ XV đến năm 1945) ” làm luận văn tốt nghiệp của mình
Trang 82 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Từ lâu, làng xã Việt Nam đã trở thành đối tợng khoa học của nhiều nhànghiên cứu sử học, dân tộc học, xã hội học trong nớc và nớc ngoài Cho đếnnay đã có nhiều công trình viết về làng, đề cập đến vấn đề về địa lý tự nhiên,kinh tế - xã hội và những nét văn hóa truyền thống tiêu biểu của làng Việt nói
chung nh “Lịch sử - văn hóa làngViệt Nam phong tục” của Phan Kế Bính, Nxb Tổng hợp 1990; “Lịch sử - văn hóa làngXã
thôn Việt Nam” của Nguyễn Hồng Phong, Nxb Văn - sử - Địa 1959 Trong
tập Kỷ yếu hội thảo về “Lịch sử - văn hóa làngLàng xã ở châu á và ở Việt Nam” do Viện khoa họcxã hội tại Thành phố Hồ Chí Minh tổ chức vào ngày 3 và 4 tháng 1 năm 1994.Những bài viết trong tập kỷ yếu của hội thảo chủ yếu đề cập các vấn đề lýluận về làng xã châu á, tính chất cộng đồng của nông dân, tính di động và
tính địa phơng, cấu trúc của làng xã (J Benman: Hình ảnh tan vỡ: Xây dựng
và phá vỡ hình tợng về làng xã tại châu á thời thuộc địa; Phan Huy Xu
-Nguyễn Kim Hồng: Quần c ở đồng bằng Sông Hồng và sông Cửu Long ),
một số bài viết về làng xã Việt Nam chủ yếu nghiên cứu các làng ở Nam Bộ,
có đề cập để đối sánh với một số làng xã ở Bắc Bộ, không thấy đề cập đến các
làng xã ở Bắc Trung Bộ và Trung Bộ (Trần Minh Tân: Làng Xã vùng nhà Bè
-Cần Giờ nhìn trên quan điểm sinh thái nhân văn ).
Đề cập đến vấn đề làng xã ở xứ Nghệ cũng đã có sự quan tâm của nhiều
nhà nghiên cứu với một số công trình tiêu biểu nh “Lịch sử - văn hóa làngNghệ An Ký” của Bùi
D-ơng Lịch (1757 - 1828), viết khá kỹ về vấn đề cD-ơng vực, duyên cách địa lý củaNghệ An xa, sách cũng mới chỉ đề cập đến Diễn Châu ở phạm vi quận huyện,cha đi sâu ghi chép về các làng
Tác phẩm “Lịch sử - văn hóa làngCác Vị trạng nguyên, bảng nhãn, thám hoa qua các triều
đại phong kiến Việt Nam” của Trần Hồng Đức, Nxb Văn hoá - Thông tin năm
1999, chủ yếu viết thiên về vấn đề giáo dục, đặc biệt nó cung cấp một sốthông tin về giáo dục khoa cử thời phong kiến nói chung và các nhà khoa bảngViệt Nam nói riêng Trong đó có đề cập đến các nhân vật nổi tiếng của LýTrai với các thành tích khoa cử
Tác phẩm “Lịch sử - văn hóa làngBản sắc văn hóa của ngời Nghệ Tĩnh” của Nguyễn Nhã Bản
(Chủ biên), Nxb Nghệ An năm 2001, chủ yếu đi tìm các đặc trng văn hóa củangời Nghệ Tĩnh thông qua các dẫn liệu ngôn ngữ
Trang 9Tác phẩm “Lịch sử - văn hóa làngKhoa bảng Nghệ An” (1075 - 1919) của Đào Tam Tỉnh
xuất bản năm 2000, cũng chỉ bàn về vấn đề khoa bảng Nghệ An trong lịch sử
Nhà nghiên cứu Ninh Viết Giao có một số công trình nghiên cứu nh
“Lịch sử - văn hóa làngVăn bia Nghệ An” xuất bản năm 2004, “Lịch sử - văn hóa làngTục thờ thần và thần tích Nghệ An” xuất bản năm 2000, “Lịch sử - văn hóa làngTừ điển nhân vật xứ Nghệ” Nxb Tổng hợp TP Hồ Chí
Minh 2007 cũng bớc đầu tìm hiểu một số nhân vật, phong tục làng xã củaNghệ An
Một số Luận văn tốt nghiệp thạc sĩ nh “Lịch sử - văn hóa làngLịch sử văn hoá làng Phủ Lý
(Kẻ Rỵ)” ở Thiệu Hoá, Thanh Hoá của Đặng Thị Hạnh, “Lịch sử - văn hóa làngLịch sử truyền thống của làng Võ Liệt” Thanh Chơng, Nghệ An của Nguyễn Văn ánh cũng đã đi
tìm hiểu sâu hơn về hai làng ở khu vực Bắc Trung bộ là Phủ Lý và Võ Liệt
Đi sâu hơn tìm hiểu những vấn đề có tính cụ thể của địa phơng Diễn
Châu có một số tác phẩm nh “Lịch sử - văn hóa làngDiễn Châu kể chuyện 1380 năm” Nxb Nghệ
An 2007, sách tập hợp nhiều bài viết của nhiều tác giả Sách này tập hợp đợc
một số bài viết đi sâu nghiên cứu các làng ở Diễn Châu nh “Lịch sử - văn hóa làngNho Lâm - Làng
khoa bảng” của Đặng Quang Liễn, “Lịch sử - văn hóa làngLàng Phợng Lịch và nghề dệt vải” của
Cao Xuân Thởng, “Lịch sử - văn hóa làngNghề làm võng ở Hoàng La, Phúc Hậu” của Hồ Hữu
Quyền Bên cạnh đó sách có nhiều bài viết giới thiệu một số nhân vật hoặcmột số tác phẩm thơ văn tiêu biểu của ngời Diễn Châu Tuy nhiên, về làng LýTrai thì sách này cha có bài viết nào đi sâu tìm hiểu, mà chỉ thấy Đào TamTỉnh giới thiệu một ít về các nhân vật và dòng họ Ngô công thần ở đây
Tác phẩm “Lịch sử - văn hóa làngDiễn Châu 1380 năm Lịch sử - Văn hóa - Nhân vật” của
Ninh Viết Giao, Nxb Nghệ An 2007, có thể nói đây là tác phẩm nghiên cứukhá kỹ về Diễn Châu Sách chia làm 7 phần đề cập đến lịch sử truyền thống,văn hóa, giáo dục, nhân vật của Diễn Châu Tác giả dày công su tầm nghiêncứu tài liệu về các làng và nhân vật Diễn Châu Tuy nhiên cuốn sách nàykhông viết về các làng riêng biệt mà sắp xếp các vấn đề theo từng lĩnh vực, dovậy ngời đọc vẫn cha có đợc cái nhìn mang tính hệ thống và toàn diện về làng
Lý Trai nói riêng và các làng khác ở Diễn Châu nói chung
Tác phẩm “Lịch sử - văn hóa làngDiễn Châu xa và nay” do Đậu Hồng Sâm su tầm và biên
soạn, Nxb Lao động xã hội 2007, tác giả đã viết về các vấn đề “Lịch sử - văn hóa làngxa và nay” trên các lĩnh vực địa lý, kinh tế, văn hóa, nhân vật của Diễn Châu
Các tác phẩm khác nh “Lịch sử - văn hóa làngDiễn Châu: địa chí văn hoá và làng xã” , của Ninh Viết Giao, Trần Hữu Thung; “Lịch sử - văn hóa làngLịch sử Đảng bộ ĐCSVN huyện Diễn
Trang 10Châu (1930 - 2005) Các công trình này đã đề cập đến lịch sử, văn hóa, phong
tục của vùng đất Hoan Châu xa và nay
Những t liệu, công trình trực tiếp đề cập đến các khía cạnh khác nhau
về làng Lý Trai có:
“Lịch sử - văn hóa làngLịch sử Đảng bộ xã Diễn Kỷ” , đây là công trình do Ban Chấp Hành
Đảng bộ xã Diễn Kỷ soạn thảo năm 1998, công trình này đề cập tơng đối đầy
đủ và có hệ thống về các vấn đề của xã Diễn Kỷ (xa là Lý Trai) Sách chia làm
6 chơng, trong đó chơng một giới thiệu về đất, ngời Diễn Kỷ, còn các chơngsau giới thiệu Diễn Kỷ qua các thời kỳ từ khi chống thực dân Pháp cho đếnnay Mặc dù các tác giả đã đề cập, nhng những vấn đề nh quá trình hìnhthành, biến đổi và phát triển của làng Lý Trai về kinh tế, cơng vực, con ngời,văn hóa trớc 1945 cha đợc viết kỹ
Tộc phả các dòng họ ở xã Diễn Kỷ, đặc biệt là của các dòng họ lớn nh
họ Trơng, Trần, Ngô nói rõ về nguồn gốc, sự phát triển của mỗi một dòng
họ ở Lý Trai
Đặc biệt, tháng 4 năm 2009 cuộc hội thảo khoa học “Lịch sử - văn hóa làngDanh nhân lịch sửvăn hóa Ngô Trí Hòa và dòng họ Ngô công thần ở Lý Trai” đã đợc tổ chức ởDiễn Châu Tại hội thảo này đã tập hợp đợc hơn hai mơi bài viết về Lý Trai cógiá trị
Cuộc hội thảo đã đi sâu nghiên cứu, bàn bạc các vấn đề về dòng họ Ngôcông thần ở Lý Trai
Tìm hiểu về nguồn gốc dòng họ Ngô Lý Trai có các bài viết “Lịch sử - văn hóa làngBớc đầu
tìm hiểu mối quan hệ giữa dòng họ Ngô Công Thần Lý Trai qua phả hệ họ Ngô Việt Nam, dòng họ Ngô Vi Tả Thanh Oai (Hà Đông) và dòng họ Ngô Vọng Nguyệt” của Nhà giáo Đậu Xuân Mai, “Lịch sử - văn hóa làngTìm hiểu mối quan hệ dòng họ Ngô Lý Trai với dòng họ Ngô Đờng Lâm” của nhà nghiên cứu Chu Trọng Huyến.
Tìm hiểu về dòng họ Ngô trong điều kiện kinh tế xã hội, quê hơng có
các bài viết “Lịch sử - văn hóa làngXã Diễn Kỷ - vùng đất địa linh nhân kiệt, quê hơng Hoàng Giáp
Ngô Trí Hòa” của UBND xã Diễn Kỷ, “Lịch sử văn hóa làngNgô Trí Hòa trong bối cảnh Lịch sử Văn hóa thời đại ông” của Thạc sĩ Hồ Sỹ Hùy
-Tìm hiểu về khoa bảng dòng họ Ngô có “Lịch sử - văn hóa làngDòng họ Ngô Lý Trai trong
dòng chảy khoa bảng của cộng đồng c dân xứ Nghệ” của Tiến sỹ Nguyễn
Trang 11Quang Hồng, “Lịch sử văn hóa làngĐôi nét về truyền thống hiếu học của dòng họ Ngô ở Diễn Kỷ
-Diễn Châu - Nghệ An” của thạc sĩ Nguyễn Thị Duyên
Tìm hiểu về các nhân vật nổi tiếng của họ Ngô có “Lịch sử - văn hóa làngTìm hiểu thân thế
và sự nghiệp danh nhân Xuân Quận Công Ngô Trí Hòa (1565-1625)” của PGS
-TS Cao Văn Biền, “Lịch sử - văn hóa làngTìm hiểu một số chức quan của Ngô Trí Hòa” của Tiến sỹ Nguyễn Đức Nhuệ, “Lịch sử - văn hóa làngChuyến đi sứ nhà Minh của Hoàng Giáp Ngô Trí Hòa” của PGS - TS Nguyễn Minh Tờng, “Lịch sử - văn hóa làngSự nghiệp của Hoàng Giáp Ngô Trí Hòa
qua một số di sản ở thôn Lý Trai” của Tiến sỹ Phan Xuân Thành, “Lịch sử - văn hóa làngNgô Trí Hòa trong tâm thức ngời xứ Nghệ” của nhà nghiên cứu Trần Minh Siêu, “Lịch sử - văn hóa làngVăn
tế Ngô Trí Hòa của Hoàng đế Lê Thần Tông” (Hoàng đế tuất dụ văn tế), “Lịch sử - văn hóa làngTrí Tri - Trí Hòa diễn truyền lịch sử” (Truyện thơ Nôm đặc sắc quý hiếm) của cử
nhân Ngô Hng Điềm, “Lịch sử - văn hóa làngNgô Sĩ Vinh: “Lịch sử - văn hóa làngLỡng quốc tri danh” của GS Cao Xuân
Phổ
Tuy nhiên theo chúng tôi khảo cứu thì các tài liệu trên chỉ mới đề cậpchủ yếu về nhân vật, dòng họ Ngô và một số khái quát về điều kiện tự nhiên,dân c của xã Diễn Kỷ, mặc dù những t liệu mà chúng tôi có đợc là rất quý giá,nhng cha có một công trình nào nghiên cứu toàn diện, có tính hệ thống về lịch
sử, văn hóa của làng Lý Trai
Khi thực hiện đề tài này, ngoài việc tập hợp, tìm kiếm các nhóm tài liệunói trên, tác giả đã tiếp xúc thực hiện các chuyến đi thực tế, trực tiếp su tầm,khảo cứu tài liệu hoặc thu thập các lời kể, câu chuyện Tác giả có dịp phỏngvấn các bậc cao niên, tiếp xúc và tham khảo ý kiến của các nhà nghiên cứu vềNghệ An nói chung và Diễn Châu nói riêng, tiếp xúc với các trí thức tronglàng và khảo sát một số địa điểm di tích của làng Lý Trai
3 Nguồn t liệu và phơng pháp nghiên cứu
3.1 Nguồn t liệu
Trong quá trình thực hiện đề tài tác giả chủ yếu sử dụng hai nguồn tàiliệu sau:
- Nguồn tài liệu chữ viết: Trớc hết là các tác phẩm sử học của các sử gia
nổi tiếng qua các triều đại phong kiến nh “Lịch sử - văn hóa làngĐại Việt sử ký toàn th” , “Lịch sử - văn hóa làngLê Triều
Thông Sử” , “Lịch sử - văn hóa làngPhủ Biên tạp lục” Sau đó là các chuyên khảo của các nhà
nghiên cứu đã xuất bản, viết về làng xã Việt Nam, đặc biệt là làng xã ở Nghệ
An nh “Lịch sử - văn hóa làngViệt Nam phong tục” của Phan Kế Bính, “Lịch sử - văn hóa làngXã thôn Việt Nam” của
Trang 12Nguyễn Hồng Phong, “Lịch sử - văn hóa làngNông thôn việt Nam trong lịch sử” (2 tập) của Viện Sử học, “Lịch sử - văn hóa làngLàng xóm Việt Nam” của Toan ánh, “Lịch sử - văn hóa làngNghệ An kí” của Bùi Dơng Lịch,
“Lịch sử - văn hóa làngCác Vị trạng nguyên, bảng nhãn, thám hoa qua các triều đại phong kiến Việt
Nam” của Trần Hồng Đức, “Lịch sử - văn hóa làngBản sắc văn hóa của ngời Nghệ Tĩnh” của
Nguyễn Nhã Bản (Chủ biên) “Lịch sử - văn hóa làngKhoa bảng Nghệ An (1075 - 1919)” của Đào Tam Tỉnh, “Lịch sử - văn hóa làngLịch sử đảng bộ tỉnh Nghệ An” (tập 1) của Tỉnh ủy Nghệ An,
“Lịch sử - văn hóa làngVăn bia Nghệ An” , “Lịch sử - văn hóa làngTục thờ thần và thần tích Nghệ An” của Ninh Viết
Giao, các tập kỷ yếu của các hội thảo về lịch sử, văn hóa Nghệ An nói chung
và Diễn Châu nói riêng
- Nguồn tài liệu gốc: Các t liệu gốc bằng tiếng Việt và tiếng Hán là giaphả các dòng họ, phổ kí, sắc phong, câu đối, khoa lục, sổ sách ghi chép, thống
kê về các nhân vật, về làng Lý Trai của các dòng họ, các cụ cao niên, cácchuyên gia còn lu giữ đợc có ý nghĩa rất quan trọng Chúng tôi cũng cố gắngkhảo cứu các t liệu viết trên các văn bia, nhà thờ nh bia mộ Ngô Công Định,Ngô Trí Hòa, Ngô Sỹ Vinh, nhà thờ họ Ngô, họ Trơng
Bên cạnh đó, chúng tôi thực hiện điền dã thực tế, tiếp xúc những nhânchứng có liên quan, phỏng vấn, trao đổi ý kiến với các cụ cao niên, những ng-
ời am hiểu về lịch sử - văn hóa vùng Hoan Diễn và Lý Trai, tìm hiểu trong dângian về những câu chuyện lu truyền có ý nghĩa, nghiên cứu, chụp ảnh vềnhững giá trị văn hóa vật thể còn để lại dấu tích Nguồn tài liệu này rất hữuích trong việc đối chiếu, kiểm chứng và kết hợp với các nguồn tài liệu khác để
đa đến những nhận định chính xác, khoa học và toàn diện
3.2 Phơng pháp nghiên cứu
Để thực hiện đề tài chúng tôi vận dụng hai phơng pháp chủ đạo củakhoa học lịch sử là phơng pháp lịch sử và phơng pháp lô gíc, mặt khác tác giảcòn sử dụng phơng pháp nghiên cứu khoa học liên ngành gồm: phơng phápthống kê, đối chiếu, so sánh, phơng pháp điền dã, điều tra tại địa điểm làm đềtài và tham khảo thực tế một số vùng phụ cận và một số làng nổi tiếng khác
nh làng Nho Lâm, làng Quỳnh Đôi Từ đó có thể phân tích, nêu lên nhữngnhận định, kết luận khách quan và giá trị khoa học
4 Đối tợng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tợng nghiên cứu
Trang 13Với nguồn t liệu hiện có, luận văn xác định đối tợng nghiên cứu là tìmhiểu về vùng đất Lý Trai xa dới góc độ lịch sử, văn hoá Nh vậy nhiệm vụ củaluận văn là nghiên cứu về các nội dung:
- Khái quát những điều kiện về tự nhiên và quá trình hình thành, pháttriển của làng Lý Trai
- Một số vấn đề về nông nghiệp và các ngành kinh tế khác nh tiểu thủcông nghiệp, thơng nghiệp của Lý Trai
- Những nét cơ bản của làng về tổ chức, kết cấu, quan hệ xã hội tronglàng, các giá trị văn hóa vật chất và tinh thần của làng
5 Đóng góp khoa học của đề tài
Trong quá trình thực hiện tác giả đã cố gắng s u tầm t liệu, lựa chọncác sự kiện lịch sử, các địa danh, nhân vật tiêu biểu một cách trung thực,khách quan, trên cơ sở t duy khoa học biện chứng, tính kế thừa, phát triểntrong lĩnh vực nghiên cứu lịch sử, hi vọng góp phần làm sáng rõ hơn một
số quan điểm, sự kiện lịch sử, về các vấn đề khác của làng Lý Trai.Trên cơ
sở đó, cơ bản dựng lại quá trình hình thành, phát triển của làng Lý Traitrong dòng chảy lịch sử của vùng đất Hoan Diễn, đ a đến một cái nhìn tổngthể và có hệ thống
Nghiên cứu về làng góp phần khơi dậy lòng tự hào dân tộc, ý thứctrách nhiệm với cội nguồn, từ đó giáo dục truyền thống yêu làng, yêu n ớccho các thế hệ hôm nay ở làng Lý Trai nói riêng và các làng khác nóichung trong việc xây dựng nông thôn mới
Luận văn cũng góp phần bổ sung cho công tác điều tra, thống kê,hoạch định các chính sách về kinh tế, xã hội, văn hóa của chính quyền
địa phơng trong bối cảnh hiện nay Đồng thời làm phong phú thêm choviệc xây dựng bộ lịch sử địa phơng, là nguồn t liệu cho việc xây dựng ch-
Trang 14ơng trình và giảng dạy lịch sử địa phơng ở các trờng THPT của tỉnh NghệAn.
Luận văn cũng góp phần khảo cứu, đánh giá các giá trị văn hóa vậtchất và tinh thần của làng, qua đó giáo dục cho thế hệ trẻ hiểu thêm vềlịch sử của làng nói riêng, của dân tộc nói chung, hiểu thêm về công laocủa cha ông, về những tấm gơng sáng, từ đó biết nâng niu, trân trọng gìngiữ và có ý thức phát huy truyền thống tốt đẹp của làng
6 Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, mục lục vàphụ lục, nội dung luận văn đợc trình bày trong 3 chơng:
Chơng 1. Điều kiện tự nhiên và quá trình hình thành, phát triển
của làng Lý Trai
Chơng 2. Tình hình kinh tế và cơ cấu tổ chức của làng Lý Trai
Chơng 3. Đời sống văn hóa của làng Lý Trai
Trang 15Nội dung
Chơng 1
Điều kiện tự nhiên và quá trình hình thành,
phát triển của làng Lý Trai
1.1 Điều kiện tự nhiên
1.1.1 Vị trí địa lý
Trong hệ thống làng cổ của Nghệ An, làng Lý Trai là một trong nhữnglàng tiêu biểu, giàu truyền thống Trải qua thời gian lâu dài, các dấu ấn cổkhông còn nguyên vẹn, nhng những gì còn lại vẫn gợi nhắc cho các thế hệ saumột quá khứ hào hùng và một niềm tự hào sâu sắc Chính ngôi làng này trongquá trình hình thành và phát triển đã sinh ra nhiều ngời con u tú của dân tộc
nh Ngô Trí Tri, Ngô Trí Hòa, Ngô Sĩ Vinh
Làng Lý Trai (nay là xã Diễn Kỷ) nằm phía Bắc huyện lỵ Diễn Châu.Hiện nay, diện tích tự nhiên khoảng 610 héc ta, gồm 7 thôn là Liên Mỹ, Đông
Trai, Xuân Khánh, Cầu Bùng, Đông Kỷ, Liên Hng, Tân Trai Làng có địa giới:
phía Bắc giáp xã Diễn Hồng, phía Nam giáp xã Diễn Hoa, phía Đông giáp cácxã Diễn Vạn, Diễn Bích, Diễn Ngọc; phía Tây giáp các xã Diễn Tháp, DiễnXuân Nh vậy, căn cứ vào địa giới chúng ta có thể xác định làng Lý Trai nằmtrên trục đờng thiên lý Bắc Nam thời phong kiến mà bờ nam của làng là dòngsông Bùng, phía đông nam của làng là cửa Vạn, phía tây cách làng không xa(khoảng 1 đến 1.5 km) là thành Trài Đầu thế kỷ XX, thực dân Pháp làm một
đờng sắt Bắc Nam chạy qua, ôm gần hết ranh giới phía Tây của làng
1.1.2 Địa hình, đất đai, khí hậu
Địa hình chung toàn huyện Diễn Châu ngày nay có thể chia làm 4 vùngmang đặc điểm nh sau:
Vùng bán sơn địa là một vùng đồi núi nhiều đá sỏi, đất thờng có màu
đỏ hoặc vàng, chất đất tơng đối tốt, song do địa hình hẹp, lại bị chia cắt mạnh,một số nơi có thể xẩy ra quá trình bồi tụ, lại vừa xẩy ra quá trình bào mòn vàrửa trôi, làm cho đồng đất chỗ dày, chỗ mỏng khác nhau Chỗ dày thì đất thịt,
đất sét, chỗ mỏng thì pha lẫn sỏi đá nên khả năng giữ nớc kém
Vùng các xã ở rìa phía đông giáp biển chủ yếu là đất pha cát, phù hợpvới trồng hoa màu
Trang 16Vùng đất trũng nằm giữa lòng chảo không cân, vùng này gồm các xãDiễn Thái, Diễn Minh, Diễn Nguyên, Diễn Bình, Diễn Thắng, Diễn Cát, DiễnPhúc và một số vùng thuộc các xã khác, đất thờng bị nhiễm mặn, mỗi năm chỉlàm đợc một vụ lúa.
Vùng đất cát ven Biển kém màu mỡ, nhng có thể canh tác tốt bằng cáchbón nhiều phân hữu cơ và lợi dụng nguồn nớc ngầm gần mặt đất
Lý Trai nằm chủ yếu trong khu vực vùng thấp vừa và thấp trũng, theotruyền miệng từ xa xa, mảnh đất này nằm trong vùng Hoan Châu, có sự lùidần của biển, cùng với sự bồi đắp của Bằng Giang (Sông Bùng), tạo nên mộtvùng trầm tích với các loại vỏ sò, vỏ hàu, vỏ hến Mảnh đất này có thế tựa lngvào núi, ngoảnh mặt ra biển Đông
Địa hình đất đai nhìn chung tơng đối bằng phẳng, không có đồi núi cao,
độ dốc ít, tuy nhiên đất làng có sự phân hóa thành ba loại địa hình chính
Địa hình cao phân bố chủ yếu ở vùng phía Tây của làng, chiếm khoảng
35 % diện tích đất đai Độ cao bình quân từ 2.5 đến 3.2 m so với mặt nớcBiển Địa hình vừa, phân bố vùng Tây Nam, chiếm khoảng 40% diện tích, độcao bình quân từ 1.2 đến 1.5 m so với mặt nớc Biển, nơi cao nhất cũng chỉcách mặt nớc biển 1.6 m Địa hình vùng thấp - trũng thấp, đây là vùng tậptrung ở phía Đông Nam của làng, chiếm khoảng 25 % diện tích đất tự nhiên
Đất đai của làng đợc chia làm ba loại chính Đất cát pha, phân bố tậptrung ở phía Tây Bắc, chiếm khoảng 25 % diện tích Nhìn chung loại đất này có
độ phì nhiêu thấp, song lại có độ tơi xốp thích hợp cho trồng hoa màu và câycông nghiệp ngắn ngày Đất phù sa, phân bố tập trung ở phía Đông Bắc và TâyNam chiếm khoảng 60% diện tích tự nhiên Loại đất này phù hợp cho trồng lúa,
có năng suất Đất phù sa ngập úng, phân bố tập trung ở phía đông đờng thiên lýBắc - Nam trớc kia nay là quốc lộ 1A chiếm khoảng 15% Đất hình thành trong
điều kiện địa hình thấp, trũng nớc thờng xuyên và lâu ngày Loại đất này chủyếu dùng để khai thác, sản xuất muối hoặc nuôi trồng thủy sản
Khí hậu Lý Trai nằm trong vùng nhiệt đới nóng ẩm, nắng lắm manhiều, nhận đợc nguồn năng lợng mặt trời lớn Cân bằng bức xạ quanh năm
đạt 75 Kclo/cm2/năm Mùa hè có tháng đến 200 giờ nắng, mùa Đông khôngkém 70 giờ Đây là nguồn tài nguyên thiên nhiên mà nhiều nơi không có, nhất
là các vùng nằm ở vĩ độ cao hơn.Tính chất nhiệt đới thể hiện rõ trong cảnhquan địa lý tự nhiên và ảnh hởng đến hoạt động kinh tế địa phơng Ngoài năng
Trang 17lợng mặt trời, Diễn Châu cũng nh Lý Trai quanh năm có độ ẩm cao Độ ẩmbình quân trong năm khoảng 85% Biểu hiện của việc giàu độ ẩm rõ rệt nhất
là lợng ma bình quân hàng năm từ 1.690 - 1.700mm/năm [8; 4]
Nhờ có lợng bức xạ mặt trời và độ ẩm phong phú nên quanh năm câycối xanh tơi, đơm hoa kết trái, cây lơng thực, thực phẩm, cây công nghiệp đềucho năng suất và sản lợng cao, ruộng có thể thâm canh 2 đến 3 vụ
Do ở vào vị trí địa lý nh đã nói ở trên, khí hậu vùng Diễn Châu hìnhthành hai mùa rõ rệt Mùa nóng và mùa lạnh phù hợp với hai thời kỳ xâmnhập của gió mùa đông bắc và gió mùa tây nam Mùa nóng bắt đầu từ tháng 5
đến tháng 10 dơng lịch (Tơng đơng với cuối tháng 3 đến đầu tháng 10 ÂL),nhiệt độ trung bình là 30oC có khi lên đến 40oC Gió Lào, tức gió mùa tây nam(phơn Tây Nam) xuất hiện trong mùa này, xuất phát từ vịnh Băng Gan vốnmang nhiều độ ẩm, nhng khi vợt qua đỉnh Trờng Sơn vào Nghệ An thì gió trởnên nóng và khô, những ngày hè trở nên nắng gắt, có đợt kéo dài hàng tháng
Dù là vùng ven biển, nhng Diễn Kỷ vẫn không thoát khỏi ảnh hởng của gióLào Mùa lạnh, bắt đầu từ tháng 11 đến tháng 4 dơng lịch năm sau Mùa nàythờng có gió mùa Đông Bắc Gió mùa này thờng bắt đầu từ lục địa Đông Bắc
á và Thái Bình Dơng Đặc điểm của gió mùa này là khô và hanh thổi qua vịnhBắc Bộ mang theo hơi nớc vào Nghệ An, gặp dãy Trờng Sơn và các dãy núikhác dừng lại thờng gây ra ma phùn, có khi kéo dài 3 đến 7 ngày, mặc dù lợng
ma không đáng kể Mùa này sâu hại dễ phát sinh, ảnh hởng đến mùa sản xuất
vụ Đông - Xuân và vụ Xuân
Bảng 1: Một số chỉ tiêu nhiệt độ trong năm xã Diễn Kỷ [8; 4]
Tối cao tuyệt đối 40.10 oC 40.10 oC
Tối thấp tuyệt đối 5.7 oC 5.7 oC
Chế độ ma bão thờng bắt đầu từ tháng 5 đến tháng 9 dơng lịch Mỗinăm bão đổ bộ lên đất liền vào khu vực Diễn Châu ít nhất cũng từ 1 đến 2cơn, năm nhiều nhất là 4 đến 6 cơn trong số hơn 10 cơn bão xuất hiện tại biển
Đông Sức gió của các cơn bão thờng có cờng độ lớn từ cấp 8 đến cấp 12, gây
Trang 18nhiều thiệt hại cho nhân dân nghề biển, nghề nông, nghề muối Lịch sử đã ghilại nhiều trận bão, lụt lớn gây nhiều thiệt hại về ngời và của, đất đại bị nhiễmmặn, nh “Lịch sử - văn hóa làngtrận bão tháng 8 năm Thiệu Trị thứ 2 (1842), nớc tràn vào dâng cao
đến 4.5 m làm đổ 40.453 căn nhà, làm đắm 695 thuyền lớn, làm chết 5.290ngời Gần đây cơn lốc ngày 15/ 05/1982 kéo từ Nghĩa Đàn xuống đi qua 6 xãcủa huyện Diễn Châu làm 53 ngời chết, đổ nát nhiều nhà cửa, đánh đắm nhiềuthuyền bè” [53; 20]
Vùng đất Lý Trai cũng chịu tác động của hai hớng gió chủ đạo là giómùa Đông - Bắc và gió mùa Tây - Nam
1.1.3 Sông ngòi, giao thông
Diễn Châu có hai con sông, sông Bùng bắt nguồn từ các khe suối chảy
về các con sông ở Yên Thành rồi chảy về Diễn Châu qua các xã: Diễn Minh,Diễn Bình, Diễn Thái, Diễn Phúc, Diễn Quảng, Diễn Hoa, Diễn Hạnh, Diễn
Kỷ, Diễn Bích, Diễn Ngọc, Diễn Thủy, Diễn Vạn rồi đổ ra biển Sông Bùng cóhai nhánh, nhánh thứ nhất là sông Sở bắt nguồn từ hợp lu của hai con sôngDinh và sông Dền ở Yên Thành và nhánh thứ hai là con sông hợp lu của consông Diên và sông Sót ở miền Tây Nam huyện Yên Thành chảy qua cầu Đậuvào sông Bùng ở Diễn Cát
Sông cầu Lồi bây giờ gọi là sông Vách Bắc chảy từ xã Phúc Thành, ĐôThành huyện Yên Thành chảy về Diễn Hồng, Diễn Phong đổ ra Cửa Vạn
Diễn Châu còn có kênh nhà Lê chạy qua Theo “Lịch sử - văn hóa làngĐại Việt sử ký toàn th” thì kênh nhà Lê đợc đào từ thời Bắc thuộc đến nhà Lý, nhà Trần đã tu bổthêm Kênh nhà Lê là con đờng vận chuyển binh lính, lơng thực, vũ khí đểtrấn giữ biên giới phía Nam khi biển động Kênh nhà Lê bắt đầu từ QuỳnhLập, Quỳnh Lu đến Diễn Châu nhập vào sông Bùng rồi chảy qua các xã DiễnPhúc, Diễn Cát, Diễn Tân, Diễn Thọ, Diễn An, Diễn Lộc đến kênh Sắt thì vào
địa phận huyện Nghi Lộc
Xa kia Diễn Châu còn có một con sông nữa gọi là sông Hiền Sông nàychảy từ Quy Lăng huyện Yên Thành xuống Diễn An, Diễn Trung rồi đổ rabiển ở Cửa Hiền, phía Bắc núi Mộ Dạ Do sự bồi đắp trầm tích qua thời gian,con sông Hiền đã bị bồi lấp không còn nữa nay chỉ còn con suối nhỏ, một lànnớc nhỏ chảy qua Diễn An, Diễn Trung là dấu tích còn lại
Do địa hình hẹp nên các con sông lớn ở Diễn Châu ngắn và hẹp lạikhông xuất phát từ các dãy núi cao nên lợng phù sa không nhiều, đất đai
Trang 19không màu mỡ nh lu vực các con sông lớn khác, nhng Diễn Châu lại đợc thiênnhiên phú cho một Bạng Cấp Sa hay còn gọi là Cao Xá Long Cơng mà nhândân thờng gọi là Cồn Sò, Bãi Sò Đây là một cái gò “Lịch sử - văn hóa làngrồng” cao lên ở phía
đông, nằm ven biển, do vỏ sò bạng kết mà thành Gò chạy dài hai phần ba củahuyện, đã chặn lớp phù sa, làm cho nó không chảy trôi ra biển mà lắng đọnglại, làm tốt cho đồng ruộng Diễn Châu Gò “Lịch sử - văn hóa làngRồng” này nằm trên một tầngchứa nớc ngầm, nên những ngày hạn hán khô khan, cây cối, hoa màu vẫnxanh tơi Từ lâu, nhân dân vùng này đã khai thác bãi sò để làm vật liệu xâydựng nhà ở, đền, chùa, nay cồn Sò không còn nữa
Diễn Châu có 25km bờ biển, chạy dài từ Diễn Hùng đến Diễn Trung códạng uốn cong nh một cánh cung, là cơ sở quan trọng cho việc kinh doanh,phát triển kinh tế biển Có hai cửa biển là cửa Vạn và cửa Hiền Cửa Hiền nay
đã bị bồi lấp còn lại cửa Vạn là đầu mối, là nơi giao lu hàng hải quan trọngcủa Diễn Châu với các hải cảng khác nh Bến Thủy, Hải Phòng
Vùng đất Lý Trai xa cũng là vùng lãnh thổ trực tiếp bị chi phối bởi hệthống sông ngòi đó Vùng đất này có sông Bùng chảy qua nh một giải lụa vắt
từ phía Tây Nam qua Đông Bắc rồi đổ ra Cửa Vạn Các thôn, xóm của Lý Trai
nằm ven tả ngạn dòng Phùng Thủy (tức sông Bùng) Sông Bùng còn âm vangchiến công oanh liệt ở Bến Thóc trong cuộc kháng chiến chống giặc Minh củanghĩa quân Lê Lợi năm 1425, đánh tan đoàn quân với 300 thuyền chiến tiếpviện cho quân Minh chiếm đóng tại thành Đông Lũy (tức Thành Trài)
Ngoài ra, vùng đất Lý Trai có nguồn nớc ngầm khá tốt có thể sử dụngcho sinh hoạt và sản xuất Nguồn nớc ngầm mạch nông ở độ sâu 4 - 10m, lu l-ợng nớc từ 0,7-1,8l/s phục vụ tốt cho sinh hoạt
Về giao thông, con đờng thiên lý, còn gọi là đờng cái quan từ kinh đôphía Bắc vào biên ải phía Nam đi qua giữa xã có chiều dài khoảng gần 4km,nơi gặp nhau của đờng thiên lý với sông Bùng, có bến đò Phùng (thờng gọi làbến đò Si) Đời hậu Lê, Ninh quận công Trịnh Toàn là Khâm sai tiết chế,thống lĩnh quân chúa Trịnh đánh nhau với quân chúa Nguyễn ở “Lịch sử - văn hóa làngĐàng trong”
đã cho bắc cầu Phùng bằng gỗ Đến đời vua Gia Long, cầu bị h nát, hai xã LýTrai và Tiên Sứ (Diễn Ngọc) phải túc trực thuyền chở khách qua sông Từ consông Bùng, có thể đi thông tới nhiều vị trí quan trọng, hoặc có thể di chuyểnlực lợng một cách thuận lợi nh đi sang kênh nhà Lê, về thành Trài hoặc rabiển Sông Bùng không chỉ là một di tích chứng kiến, ghi nhiều dấu ấn lịch sử
Trang 20mà còn là con sông có ý nghĩa lớn về kinh tế, là con sông chiếm vị trí rất quantrọng trong tâm thức ngời Châu Hoan, Châu Diễn nói chung và con ngời làng
Lý Trai nói riêng
Đến cuối thế kỷ XIX, chính quyền Bảo hộ làm Quốc lộ số 1 chạy qua
đất Diễn Kỷ khoảng gần 4 km theo tuyến đờng thiên lý cũ và cầu Bùng đợcxây kiên cố Đầu thế kỷ XX, Pháp xây dựng đờng xe lửa xuyên Việt, chạy quaphía tây làng khoảng gần 4 km và năm 1904 đặt ga tàu trên địa bàn xã gọi là
ga Si Cùng thời gian này, xây dựng tỉnh lộ 538 từ ngã ba Cầu Bùng qua thôn
Đông Trai, đi lên huyện lỵ Yên Thành, rồi nối với quốc lộ 7 chạy qua nớc bạnLào
Làng Lý Trai xa có điều kiện giao thông thủy, bộ rất thuận lợi Việc đilại, giao thơng Bắc - Nam, Đông - Tây, miền xuôi với miền ngợc bằng đờng
bộ, đờng sắt, đờng thủy đều rất thuận lợi
1.2 Quá trình hình thành, phát triển của làng Lý Trai
Diễn Châu là một vùng đất cổ, tuy nhiên c dân Diễn Châu ngày xa còn
ít, quần c rải rác ở những vùng có nơng ruộng của vùng bán sơn địa, gần sôngnớc và gần vùng duyên hải
Cho đến thời kỳ nớc ta giành đợc quyền tự chủ thì công cuộc khai phá
mở mang bờ cõi, di dân, khai hoang lập ấp của các triều đại Lý, Trần, Lê,Nguyễn đã đem theo một số dân c ở nơi khác đến, đồng đất Diễn Châu mới đ-
ợc khai phá mở mang thêm
Thời nhà Lý, Lý Nhật Quang đợc Vua cử làm Tri châu Nghệ An, ông
đã chiêu dân lập ấp Riêng ở Diễn Châu đã cho chiêu dân lập ấp ở Hữu Bằng,
Lý Nhân, Mỹ Lộc, Yên Lý, Mỹ Quan và Hoàng Trờng, nên về sau ở các làngnày đều có đền thờ Uy Minh Vơng Lý Nhật Quang Lý Nhật Quang còn cho
đặt quan sát hải sứ và hải quân binh để trông coi các thuyền buôn ra vào CửaVạn Đến triều nhà Trần, Vua đã cử Trần Quang Khải vào quản hạt Nghệ An,Trần Quang Khải đã nghe theo lời khuyên của Bạch Liêu (đỗ Trạng Nguyênthời Trần nhng không ra làm quan mà chỉ làm môn khách của Trần QuangKhải), đã đa bà vợ thứ ba là Hồng Thị Châu Nơng vào cắm ấp, lập làng và đãchiêu dân lập ấp, lập ra làng Hạnh Kiều, thôn Gia, thôn Hậu thuộc xã HạnhLâm, thôn Đông Hạnh thuộc xã Đào Viên và thôn Phợng Lịch (nay thuộc xãDiễn Hoa) và một số thôn làng khác ven sông Bùng từ xã Diễn Hạnh đến xãDiễn Quảng ngày nay Lập ấp xong, bà dạy cho dân nuôi tằm, làm nghề canh
Trang 21cửi Sau một thời gian, bà ra Thăng Long và mất ở đấy Khi bà qua đời, c dâncác làng nhớ ơn bà đã lập đền thờ.
Lý Trai là một vùng đất có c dân sinh sống từ lâu đời Theo truyềnmiệng thì từ thời xa xa, ngời Tàu đã đến ở tại Cồn Vang Họ dựng chùa VựcTiên, chùa Kim Đỉnh và Nghè Giếng thuộc địa phận Đông Kỷ bây giờ
Từ công cuộc di dân lập ấp, vùng đất ven sông Bùng mới đợc khai phámạnh mẽ và dần hình thành nên các làng Tiếp đó, do biến động xã hội, nhiềudòng họ từ các nơi lần lợt đến sinh cơ lập nghiệp, cùng chung sức gây dựngnên làng quê trù phú, đồng ruộng phì nhiêu nh ngày nay
Địa bàn Diễn Kỷ xa thuộc làng Lý Trai, sau cách mạng tháng Tám năm
1945 mang tên gọi Cửu Thành gồm 9 thôn xóm: Ga Si, Mỹ Lý, Đông Trai,Thọ Khánh, Đông Mỹ, Kỷ Luật, Phú Yên, Hng Lễ, Cồn Bò Từ cuối năm
1945 đến hết năm 1947 xã Cửu Thành hợp nhất với xã Trờng Xuân (DiễnChâu) thành xã Du Đồng Từ năm 1948 đến năm 1950 xã Du Đồng hợp nhấtvới xã Duy Tân (Diễn Tháp) thành xã Tập Thành Từ giữa năm 1950 đến cuối
1953 xã Tập Thành lại hợp nhất với xã Trung Diễn (gồm các xã Diễn Hoa,Diễn Hạnh, Diễn Quảng) thành xã Quảng Châu Đến cuối 1953 chia xã QuảngChâu ra thành 8 xã Xã Cửu Thành trở lại với tên mới - Diễn Kỷ
Trong quá trình biến động đó tên gọi, địa giới và dân c các thôn trongxã cũng có nhiều thay đổi:
Thôn Liên Mỹ trớc kia là Mỹ Lý, còn gọi là Kẻ Si Họ Trơng và họ
Đặng là hai dòng họ từ ngoài Bắc vào đây sớm nhất (khoảng thế kỷ 14) Tiếp
đó là các dòng họ Lê, Đào, Trần, Nguyễn, Ngô đến sinh cơ lập nghiệp
Thôn Đông Trai giữ nguyên tên gọi trong quá trình lịch sử Dòng họ
đến đây sớm nhất, c dân đông nhất là họ “Lịch sử - văn hóa làngNgô Sĩ” (còn gọi là Ngô CôngThần), vốn từ Đờng Lâm ngoài Bắc vào (khoảng thế kỷ 15) Ngoài ra còn badòng họ Ngô có tông thống khác nhau cùng ở ngoài Bắc vào là “Lịch sử - văn hóa làngNgô Bá” ,
“Lịch sử - văn hóa làngNgô Đình” , “Lịch sử - văn hóa làngNgô Phi” ở đây còn có một số ít c dân thuộc dòng họ Cao, Đậu,Trơng, Nguyễn
Thôn Đông Kỷ xa kia là Trang Điển sau đổi tên là Điển Luật, rồi KỷLuật còn gọi là Bến Đén (do gọi chệch tên là bến Điển, bến đò Điển Luật) ở
đây có tới 29 dòng họ, gồm 4 họ Trần, trong đó họ “Lịch sử - văn hóa làngTrần Đức” từ ngoài Bắcvào định c tại đây sớm nhất (khoảng thế kỷ 16), 5 họ Nguyễn, 3 họ Trơng, 3
họ Ngô, 3 họ Vũ, 2 họ Phạm và các dòng họ Lê, Thạch, Lơng, Phan, Hồ, Tôn,
Trang 22Đinh, Cần, Thái hầu hết các dòng họ đều từ các địa phơng trong tỉnh chuyển
đến nh họ Nguyễn, họ Đinh, họ Cần ở Nghi Lộc ra, họ Vũ, họ Phan ở YênThành xuống, các họ khác từ các xã trong huyện đến nh họ Thạch (DiễnNgọc), họ Vũ ở Diễn Vạn, họ Phạm ở Diễn Trờng, họ Hồ ở Diễn Tháp
Thôn Xuân Khánh trớc kia là xóm Thọ Xuân và Thọ Khánh thuộc làng
Mỹ Lý Họ Lê đến đây sớm nhất sau này có thêm họ Phạm ở Hơng Lễ lên, 4dòng họ Ngô rồi họ Trơng, họ Cao, họ Nguyễn, họ Bùi, họ Thái hầu hết từ cáclàng trong xã tới
Thôn Liên Hng xa là Điển Lễ, sau đổi là Hng Lễ, thuộc xã Hng Lễ gồm
23 dòng họ: 3 họ Phạm, 3 họ Phan, 4 họ Lê, 5 họ Nguyễn, 3 họ Võ, ngoài racòn các họ Trần, Bùi Hầu hết đều có gốc từ Hà Tĩnh và các nơi trong tỉnh,trong huyện tới
Thôn Tân Trai mới hình thành gồm hai xóm Cồn Bò và Tân Phú có 8dòng họ gồm: 3 họ Lê và các họ Ngô, Hồ, Nguyễn, Phan,Trần đều ở các thôntrong xã tới
Thôn Cầu Bùng trớc đây là xã Xuân Lan (thờng gọi là xóm Quán Lau)thuộc làng Mỹ Lý khi mới thành lập gồm 13 gia đình, có các họ Ngô Đình,Nguyễn Văn, Nguyễn Cảnh, họ Thái Từ sau cách mạng Tháng Tám năm
1945, xóm Xuân Lan mở rộng địa giới ra các xóm Lộc Thịnh (phía Bắc chùaBốn), Trờng Xuân (Tây Bắc ngã ba quốc lộ 1 và đờng 538) thành thôn CầuBùng, thu hút dân c ngày càng đông đúc, gồm nhiều gia đình thuộc các dòng
họ nh: họ Tôn Thất, họ Tăng, họ Phạm, họ Đoàn, họ Lê, họ Bùi, họ Đào, họTrần đến đây lập nghiệp
Các thôn trên trớc đây thuộc tổng Vạn Phần, huyện Đông Thành, phủDiễn Châu, đến năm Minh Mệnh thứ 18 (1837), nhà Nguyễn chia ĐôngThành làm hai huyện Đông Thành và Yên Thành, tổng Vạn Phần thuộc huyệnYên Thành Đến đời vua Thành Thái năm thứ 10 (1898) các thôn trên thuộc về
Lý Trai, huyện Đông Thành, phủ Diễn Châu
Quá trình hình thành, phát triển của làng gắn liền với quá trình c dân
Lý Trai cùng với nhân dân cả nớc vừa chống giặc ngoại xâm vừa xây dựng
quê hơng Trong trờng kỳ lịch sử dựng nớc và giữ nớc lâu dài, Nghệ An có địa
thế hiểm trở “Lịch sử - văn hóa làngkhi thắng có thể đánh ra, khi yếu có thể giữ vững” , từng đợc coi
là “Lịch sử - văn hóa làngphên dậu của nớc nhà” , lại là nơi nhân dân có truyền thống đấu tranh quậtkhởi
Trang 23Trên dải đất này từng diễn ra nhiều cuộc chiến đấu vì sự nghiệp giảiphóng dân tộc, bảo vệ tổ quốc cũng nh các cuộc chiến tranh giành quyền lựcgiữa các thế lực thống trị.
Trong cuộc chiến đấu của nghĩa quân Lam Sơn tháng 6 năm 1425 LêLợi hạ lệnh cho Đinh Lễ đem quân bao vây thành Diễn Châu (thành Trài -Diễn Phong), tớng nhà Minh lúc bấy giờ là Tiết Trụ giữ thành, thấy thế nguyliền xin cứu viện Bọn giặc ở Đông Quan, phái Trơng Hùng chỉ huy một đạoquân gồm 300 thuyền chiến chở quân lơng, vũ khí vào tiếp ứng cho thànhDiễn Châu Nhân dân ta phối hợp với nghĩa quân vây thành ráo riết, đồng thờitriển khai lực lợng mai phục từ cửa Lạch Vạn, khi quân tiếp viện của quânMinh kéo đến đã bị quân ta đánh chìm 300 thuyền chiến trên sông Bùng Nơidiễn ra chiến công oanh liệt đó, đợc đặt tên là Bến Thóc, bởi nơi đây ta đã thunhiều lơng thực của giặc
Cuối thế kỷ thứ XVIII, cùng với nhân dân Diễn Châu, các tầng lớp nhândân Lý Trai tích cực ủng hộ phong trào Tây Sơn do vị anh hùng “Lịch sử - văn hóa làngáo vải cờ
đào” Nguyễn Huệ lãnh đạo Trong lần thứ ba Nguyễn Huệ tiến quân ra Bắc
đánh thành Thăng Long đang bị quân Thanh chiếm giữ, nhân dân Lý Trai đãtích cực đóng góp nhân tài, vật lực cho nghĩa quân, góp phần vào ngày toànthắng quân Minh, tết Kỷ Dậu (1789) [6;52]
Năm 1873, thực dân Pháp nổ súng đánh chiếm Hà Nội và các tỉnh thuộc
đồng bằng Bắc bộ Trớc sự nhu nhợc của triều đình Huế, cuộc đấu tranh của
sĩ phu yêu nớc và của nhân dân chống lại vua quan nhà Nguyễn diễn ra quyếtliệt Trớc sức ép của nhân dân, tổng đốc Nghệ An lúc bấy giờ là Tôn ThấtTriệt phải họp văn thân, sĩ phu toàn tỉnh để bàn kế hoạch chống giặc Cuộchọp quyết định lập ra Bộ chỉ huy do Tú tài Trần Tấn quê ở Thanh Chơng làm
“Lịch sử - văn hóa làngAn Nam đại lão tớng quân” và Đặng Nh Mai làm phó tớng, chiêu tập nghĩaquân, sắm sửa vũ khí Nhân dân trong tỉnh tích cực hởng ứng Chẳng bao lâunghĩa quân đã làm chủ một số huyện ở phía Nam và đánh ra các huyện phíaBắc tỉnh Nhân dân ở Lý Trai đã phối hợp với nghĩa quân truy quét nhữngphần tử làm tay sai cho giặc Phong trào dâng lên mạnh mẽ, vua Tự Đức dốctoàn lực đàn áp Cuộc khởi nghĩa bị thất bại, giặc Pháp lợi dụng việc đa rakhẩu hiệu “Lịch sử - văn hóa làngsát tả” của cuộc khởi nghĩa để khoét sâu mối bất hòa giữa lơng vàgiáo, nhằm đàn áp phong trào chống giặc Pháp và bọn phong kiến tay sai củanhân dân ta
Trang 24Sau khi nhà Nguyễn ký các hiệp định đầu hàng giặc Pháp, tinh thầnchống Pháp xâm lợc của nhân dân ta vẫn sôi sục Hởng ứng chiếu Cần Vơng,
sĩ phu và nhân dân ở nhiều nơi đã nổi dậy chống Pháp ở Diễn Châu cóNguyễn Xuân Ôn, ngời làng Quần Phơng, xã Lơng Điền, tổng Thái Xá (Naythuộc Diễn Thái) đỗ Tiến sĩ năm Tân Mùi (1871) từng ra làm quan dới triềuNguyễn Khi có chiếu Cần Vơng, cụ hởng ứng ngay và đợc phong chức “Lịch sử - văn hóa làngHiệp
đốc quân vụ An Tĩnh” , thống lĩnh nghĩa quân 2 tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnhchống giặc Pháp Cuối năm 1885 cụ làm lễ tế cờ ra quân tại vờn mới làngQuần Phơng
Chiến đấu dới cờ nghĩa của Tiến sỹ Nguyễn Xuân Ôn có nhiều nghĩa
sỹ, trong đó có cụ Ngô Sĩ Tử ngời làng Đông Trai là ngời văn, võ song toàn,
đ-ợc cử giữ chức lãnh binh Cụ trực tiếp tham gia chỉ huy nhiều trận, nổi bật làtrận đồng Mờm (xã Diễn Thái), đã cùng đốc Thọ, đề Miên chỉ huy nghĩa quân
đánh bật quân giặc xuống cánh đồng lầy, một số tên đầu hàng Khi phong trào
bị thất bại, cụ đã tự sát để bảo toàn khí tiết Trớc đây vào ngày giỗ cụ, dânlàng Đông Trai thờng đem hơng vàng đến nhà thờ Cụ tởng niệm ngời nghĩa sĩ
đã hi sinh vì nớc
Ngời thứ 2 trực tiếp tham gia nghĩa quân là lãnh binh Lê Lạn, ngời Mỹ
Lý, ông đỗ võ Cử nhân, tham gia nghĩa quân và góp sức chỉ huy nhiều trận,dũng cảm lập chiến công Ông bị giặc Pháp bắt vào khoảng tháng 7/1887 vàkết án tử hình tại thị xã Vinh
Trong phong trào khởi nghĩa của tiến sĩ Nguyễn Xuân Ôn từ năm
1885-1887, nhân dân Lý Trai đã tích cực giúp đỡ nghĩa quân xây dựng căn cứ cũng
nh chiến đấu Đặc biệt, các trận đánh nh trận phục kích chặn cánh quân Pháp
do tên Mi Nhô (Mingot) chỉ huy từ Tây Khê (Diễn Hồng) đến Cầu Bùng, trận
đánh địch ở nhà thánh huyện (Đông Trai)
Vào cuối thế kỷ XIX phong trào Cần Vơng chống Pháp bị bọn thực dâncớp nớc và bè lũ tay sai dập tắt Đến đầu thế kỷ XX, tầng lớp thanh niên tríthức yêu nớc và tiến bộ quyết tâm tìm con đờng mới nhằm giải phóng đất nớc
ở Lý Trai đã xúc tiến việc thành lập các đội nghĩa binh bí mật, đồng thời pháttriển khuynh hớng “Lịch sử - văn hóa làngkhai dân trí, chấn dân khí” , tổ chức các nhóm đọc sách,báo, bình thơ văn yêu nớc
Lý Trai là một địa phơng có điều kiện giao thông thuận lợi, lại sẵn cótruyền thống đấu tranh, nên nhiều thanh niên đã sớm tiếp thu ảnh hởng của
Trang 25trào lu cách mạng mới, hăng hái xuất dơng tìm đờng cứu nớc Cụ tú tài VõVăn Nghi ở làng Kỷ Luật bắt mối liên lạc và dẫn đờng cho nhiều thanh niênyêu nớc ở Kỷ Luật sang Xiêm (Thái Lan) hoạt động cách mạng vào các năm
1925 - 1926 Do gặp khó khăn một số ngời phải quay về nớc Số còn lại nhậnnhiệm vụ xây dựng cơ sở cách mạng trong Việt kiều ở Đông Bắc Xiêm và đãanh dũng hy sinh trên đất nớc bạn Đó là các cụ Vũ Văn Siêu, Vũ Văn Kiều(con trai và cháu đích tôn của cụ Huấn đạo Vũ Văn Đề), cụ Vũ Văn Đông(con cụ Tú Nghi) Cụ Vũ Văn C sau thời gian học tập và hoạt động cách mạng
ở nớc ngoài, đợc Đảng giao nhiệm vụ về nớc tham gia Xứ ủy Nam Kỳ Năm
1939 bị giặc Pháp bắt và tra tấn rất dã man, song cụ vẫn giữ vững khí tiết Kẻthù thâm độc và hèn nhát tiêm thuốc cho loạn óc, phát điên rồi cho về gia
đình Chỉ ít tháng sau cụ tự sát Đến nay các cụ Vũ Văn Đông, Vũ Văn C đã
đợc Đảng và nhà nớc công nhận là liệt sĩ 1930 - 1931
Năm 1928, tổ chức Thanh niên cách mạng đồng chí Hội phát triển mạnh,lập “Lịch sử - văn hóa làngHng nghiệp hội xã” ở Ga Si làm kinh tài và làm nơi liên lạc Hội “Lịch sử - văn hóa làngHngnghiệp hội xã” do một ban quản trị điều hành, đứng đầu là cụ Tú tài NguyễnThợng Nghĩa (tức cụ Hàn Nghĩa ở Nhân Trai (Diễn Xuân)) Cùng thời gian nàychính quyền bảo hộ đặt thêm đồn lính ở Ga Si do một tiểu đội lính khố xanh
đóng giữ, làm nhiệm vụ kiểm soát trục đờng 538 và vùng phụ cận, để đối phóvới phong trào đấu tranh của quần chúng đang ngày càng dâng cao
Từ sau khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời (1930), phong trào cáchmạng ở Diễn Châu phát triển mạnh mẽ Liên chi Lý Trai đợc thành lập do
đồng chí Nguyễn Thế Hành ở làng Dài (Khánh Duệ, Diễn Xuân) làm bí th,
đồng chí Ngô Phán ở Đông Trai làm phó bí th Tổ chức Đảng đã tích cựctuyên truyền giác ngộ quần chúng, phát triển hội viên Nông hội đỏ ở các làng.Hớng dẫn quần chúng cảm tình rải truyền đơn kêu gọi nhân dân đấu tranhchống su cao, thuế nặng, đòi quyền dân sinh, dân chủ Lúc bấy giờ ở Hng Lễ
có các ông Lê Tâm, Hoàng Niên (tức Hoàng Hng) bắt nối liên lạc với cơ sởcách mạng ở Vạn Phần (Diễn Vạn), tổ chức in và rải truyền đơn ở bến đò Si(Diễn Ngọc), bến Vích (Diễn Bích) ở Kỷ Luật có các ông Nguyễn Vận (LiênPhớn), Ngô Thuật liên lạc với ông Trơng Đức Đại (Kim Lũy, Diễn Kim), nhậntruyền đơn về rải ở Chợ Si, Ga Si cùng với việc rải truyền đơn, còn tổ chứccắm cờ đỏ búa liềm trên các cây cao nh cây gạo to ven quốc lộ số 1 phía Tây
Trang 26Kỷ Luật, cây gạo Hng Lễ, Cây đa trớc đền Ba Khoán của Thọ Khánh nhằmbiểu dơng thanh thế, cổ vũ quần chúng hăng hái đấu tranh.
Phủ ủy Diễn Châu chủ trơng tổ chức cuộc biểu tình nhân kỷ niệm lầnthứ 13 ngày cách mạng tháng mời Nga (7/11/1917 - 7/11/1930) ở các tổng,sau đó kéo về phủ lỵ đa yêu sách đòi giảm su, giảm thuế, đòi tịch thu lúa củanhà giàu chia cho dân nghèo, tịch thu ruộng đất công, thành lập chính phủcông nông binh, đánh đổ đế quốc Pháp và Nam triều phong kiến, ủng hộ Liênbang Xô viết
Sáng 7/11 làng nào cũng giục trống liên hồi, quần chúng cảm tình cùng
số đông nhân dân mang theo gậy, tày, cơm nắm, kéo về Ga Si là địa điểm tậptrung của tổng Lý Trai, trớc khi vào phủ lỵ Đoàn biểu tình của tổng Lý Trai
bị lính ở đồn binh Ga Si bắn chặn nên không tập kết đúng giờ quy định Tronglúc đó hàng vạn đồng bào hai tổng Vạn Phần và Hoàng Trờng hùng dũng tiếnvào phủ lỵ, vừa đi vừa hô vang khẩu hiệu, khí thế cách mạng sôi sục Hoảng
sợ trớc phong trào đấu tranh của quần chúng, nhà cầm quyền lệnh cho línhkhố xanh và lính lê dơng nổ súng uy hiếp quần chúng, đồng thời yêu cầu chỉhuy các đồn binh ở thị xã Vinh và các huyện Yên Thành, Quỳnh Lu chi viện.Cuộc biểu tình bị đàn áp khốc liệt buộc phải giải tán
Tháng 2/1931 Lê Văn Định thay Võ Vọng làm tri phủ Diễn Châu, chấnchỉnh lại hệ thống bang tá từ phủ đến xã, lập ra đoàn phu ở các làng Chúngbắt dựng điếm canh ở từng xóm, tổ chức tuần tra, canh gác, theo dõi chặt chẽnhững ngời chúng nghi có tham gia hoạt động cách mạng Bọn cờng hào chỉ
điểm bắt hai ông Ngô Sĩ Hòe và Trơng Dĩ (Đông Trai), khi hai ngời đang rảitruyền đơn Để uy hiếp quần chúng, kẻ thù đã tàn bạo xử bắn hai ông tại Ga
Si, vào đầu tháng 4 năm 1931, nay hai ông đợc Đảng và nhà nớc công nhận
“Lịch sử - văn hóa làngLiệt sĩ 1930 - 1931” Chừng một tháng sau, chúng bắt đồng chí Ngô Phán(Đông Trai) cùng một số đồng chí ở các nơi khác về dự cuộc họp Đảng tạilàng Phú Hậu (Diễn Tháp) Đồng chí đã hy sinh tại nhà lao Vinh, đợc Đảng vànhà nớc công nhận “Lịch sử - văn hóa làngLiệt sĩ 1930 - 1931” Cũng trong thời gian này, chúng bắtcác ông Vũ Thuyên (tức Vũ Minh Châu), ở Kỷ Luật, kết án 9 năm tù, ông Bùi
Đạt ở xóm Đông Mỹ, kết án 7 năm tù và ông Lê Tâm (Hng Lễ), cả ba ông đều
bị giam tại ngục Công Tum Ngoài ra chúng còn bắt bớ những quần chúngtích cực, có cảm tình với cách mạng nh các ông Ngô Tào, Ngô Thích, NgôDục (Đông Trai); Trơng Tịch, Nguyễn Trí, Trơng Quế, Phạm Kế (Mỹ Lý);
Trang 27Nguyễn Vận, Vũ Đính, Vũ Loan (Kỷ Luật); Hoàng Niên, Nguyễn Bơ, PhạmPhú Khôi (Hng Lễ), chúng phạt tù ngời ít nhất là ba tháng, ngời nhiều phảichịu tới 5 năm tù giam [6; 61-62].
Cuối năm 1931 chúng bày trò cấp thẻ “Lịch sử - văn hóa làngquy thuận” cho nhân dân vàbuộc những ngời bị tình nghi tham gia hoạt động cách mạng làm lễ nhận thẻ
“Lịch sử - văn hóa làngquy thuận” ở đền Si
Từ sau cao trào 1930 - 1931, do bị đàn áp khốc liệt, các chiến sĩ cáchmạng trung kiên bị bắt và hầu hết đã hy sinh chốn lao tù, quần chúng cốt cán
bị giam cầm và theo dõi nghiêm ngặt, mặt khác ở gần phủ lỵ, đi lại thuận tiện,
kẻ địch tuần tra, kiểm soát ngặt nghèo, nên việc gây dựng lại phong trào gặpnhiều khó khăn
Tháng Tám năm 1945, tình hình thế giới có nhiều chuyển biến thuận lợicho ta, đặc biệt, khi chính phủ Nhật Bản chấp nhận đầu hàng vô điều kiệnquân đồng minh Từ ngày 13/8/1945 Hội nghị toàn quốc của Đảng ở Tân Tràoquyết định tổng khởi nghĩa
Lúc này ở Diễn Châu, tin tức dồn dập đổ về, nơi này tổng khởi nghĩa,chỗ khác cớp chính quyền Khắp xóm thôn hồi hộp đợi chờ Giữa tháng Támnăm 1945, cán bộ Việt Minh huyện về bắt liên lạc với các đồng chí đã thamgia hoạt động cách mạng thời kỳ 1930 -1931 nh các ông Trần Cẩm, Ngô SĩLuật bàn kế hoạch chuẩn bị cho cuộc khởi nghĩa giành chính quyền ở phủ.Công việc chuẩn bị đợc xúc tiến khẩn trơng Quần chúng tích cực ở các làng
nh các ông bà Ngô Trí Phú, Ngô Sĩ Yến, Ngô phi Tình, Ngô Đức, TrơngTuyến, Trơng Viện, Ngô Sĩ Huynh, Ngô Sĩ Nhã (Đông Trai); Đào Tuyển, Tr-
ơng Sĩ Hồng, Trơng Thị Nhâm (Bà Tuyển), Trơng Biên (Mỹ Lý) đợc giaonhiệm vụ hớng dẫn làm công tác tuyên truyền vận động nhân dân tham gia c-
ớp chính quyền ở huyện, vận động thanh niên nam, nữ may cờ, chuẩn bị giáomác, gậy gộc sẵn sàng hành động
Mặt trận Việt minh phủ Diễn Châu mở Hội nghị khẩn cấp vào ngày20/8/1945 làm kế hoạch cớp chính quyền ở phủ, ấn định ngày 21/8/1945 khởinghĩa giành chính quyền với phơng châm chuẩn bị chu đáo nhng hết sức khẩntrơng, hành động nhanh gọn Mờ sáng 21/8/1945 nhân dân các làng đã hàngngũ chỉnh tề rầm rập kéo về phủ lỵ Trớc hàng vạn nhân dân lao động, đại biểuViệt Minh chấp nhận sự đầu hàng của tri phủ Ngô Xuân Tích và công bố
Trang 28thành lập chính quyền cách mạng ủy ban cách mạng lâm thời phủ Diễn Châu
do ông Lê Nhu làm chủ tịch ra mắt công chúng
Trong giờ phút trang nghiêm, ủy ban lâm thời cách mạng trịnh trọngtuyên bố thủ tiêu chính quyền bù nhìn thân Nhật ở tất cả các cấp trong phủ,bãi bỏ mọi quy định pháp luật của Nhật, Pháp đặt ra, thực hành các chính sáchcủa mặt trận Việt Minh
Những ngày hào hùng của Cách Mạng Tháng Tám năm 1945 mãi mãighi dấu ấn sâu sắc trong lòng của cả dân tộc nói chung, những ngời con làng
Lý Trai nói riêng
* Tiểu kết chơng 1
Làng Lý Trai có điều kiện tơng đối thuận lợi cho việc quần c, mặt khácvới vị trí địa lý là nơi đi qua của đờng thiên lý Bắc Nam, nơi giao nhau củanhiều tuyến giao thông tỉnh lộ cũng nh quốc lộ và của các con sông, sẽ tạo
điều kiện cho c dân ở đây có thể tổ chức sản xuất và phát triển một nền kinh
tế đa ngành
Với vị trí ở gần các địa điểm di chỉ văn hóa lâu đời (Di chỉ Rú Ta, di chỉ
Đồng Mõm ) và là nơi dừng chân của nhiều luồng c dân di c từ các nơi đến,góp phần làm cho vùng đất này mang nhiều nét văn hóa của nhiều vùng trêncơ sở một bản sắc riêng của ngời đất Hoan Diễn
Địa hình, đất đai, sông ngòi, khí hậu là những yếu tố quan trọng tác
động rất lớn tới sự hình thành và phát triển của làng Việt nói chung, làng LýTrai nói riêng Dựa trên cơ sở địa hình tơng đối bằng phẳng và nền nhiệtphong phú, đa dạng góp phần đa Lý Trai sớm trở thành nơi trù phú, ngày càng
đợc mở rộng, cuộc sống ổn định lâu dài
Căn cứ vào nguồn th tịch, các tài liệu văn bia cho thấy làng Lý Trai
có lịch sử hình thành tơng đối sớm Trớc thế kỷ thứ X, đã có c dân đến đâysinh sống, nhng làng bắt đầu đợc khai phá mạnh mẽ và phát triển kể từ sau khitriều Lý đợc thành lập Đây cũng là ngôi làng mang tơng đối đầy đủ nhữngyếu tố làng truyền thống của ngời Việt từ thế kỷ XV
Cũng nh bao làng quê khác ở Việt Nam, Lý Trai cũng luôn gắn lịch sửtồn tại và phát triển của nó với quá trình đấu tranh chống giặc giữ nớc Vì vậycác thế hệ con cháu ở đây không ngại gian khổ hi sinh, kế thế ông, cha sẵnsàng hi sinh vì nghĩa lớn Đó là nền tảng để Lý Trai có điều kiện sát cánhcùng với lịch sử dân tộc trải qua những bớc thăng trầm của lịch sử
Trang 29Chơng 2
Tình hình kinh tế và cơ cấu tổ chức
của làng Lý Trai
2.1 Tình hình kinh tế
2.1.1 Tình hình sở hữu ruộng đất
Trớc Cách mạng tháng Tám năm 1945, đất canh tác của các thôn trongxã không đến 400 mẫu Trong đó các loại ruộng công gồm: Ruộng của đền Si
6 mẫu, ruộng của các đền khác trong làng mỗi nơi 2 đến 3 mẫu, ruộng của nhàThánh huyện 10 mẫu, ruộng nhà Chung 40 mẫu, ruộng của các dòng họ (tộc
điền) khoảng gần 100 mẫu [6; 16]
Dới thời Pháp thuộc, ruộng đất ngày càng tập trung vào tay địa chủ, ở
Lý Trai địa chủ không nhiều và mức độ chiếm ruộng đất không lớn Nhà t sảnkiêm điền chủ Vũ Văn Du chiếm khoảng 70 mẫu, trong đó ruộng ở Diễn Kỷkhoảng 30 mẫu, không kể việc đầu t đắp đê, xây dựng kênh dẫn nớc ngọt,chuẩn bị khai thác cánh đồng Sác gần 100 mẫu phía nam cầu Bùng Số ruộng
đất còn lại non nửa thuộc ruộng đất công làng xã đợc chia đều cho các hộ gia
đình theo nhân đinh Nếu so với mức độ bao chiếm đất đai với các vùng khác,thì địa chủ ở Lý Trai chiếm ruộng đất với tỉ lệ không lớn bằng so với các làngkhác Địa chủ ở các nơi nh Tú Địch, Hàn Tiếp, Nguyễn Thiệu (ở Vạn Phần),Tờng Nhân, Vũ Dục ở Thanh Bích (Diễn Bích) chiếm hữu phần nửa ruộng
đất ở các làng
Đại bộ phận nông dân chịu cảnh “Lịch sử - văn hóa làngăn cơm vay, cày ruộng rẽ” Ngời càyruộng rẽ phải bỏ công sức ra làm và chịu mọi chi phí trong sản xuất, khi thuhoạch chia đôi sản phẩm, chủ ruộng lấy một nửa Ngoài ra còn phải có lễ biếu,mỗi năm hai lần vào dịp tết Nguyên Đán (mồng 1 tháng giêng âm lịch), tết
Đoan Ngọ (mồng 5 tháng 5 âm lịch) và phục dịch không công khi chủ ruộng
có ma chay, đình đám, giỗ, tết
2.1.2 Tình hình phát triển nông nghiệp
Dân làng Lý Trai chủ yếu làm nghề nông, tuy nhiên ruộng đất vừa ít,vừa kém màu mỡ Gần một nửa diện tích canh tác nằm trên cồn đất cao, hoàntoàn phụ thuộc vào thiên nhiên, thờng xuyên đối mặt với điều kiện thời tiếtkhắc nghiệt nên năng suất cây trồng thấp, mùa vụ bấp bênh Có thể nói trớc
đây với kỹ thuật sản xuất còn lạc hậu và khả năng cải tạo đất canh tác còn
Trang 30nhiều hạn chế, nên ngời làm ruộng vùng này cha bao giờ tự túc đợc đủ lơngthực cho gia đình.
Đất nông nghiệp hàng năm làm hai vụ, vụ tháng Năm và vụ tháng Mời
Vụ tháng Năm trồng ngô, khoai, đỗ và một ít vừng, kê, lạc trên diện tích đấtmàu Trồng lúa trên một số diện tích có nớc nông giang, nh cánh đồng ThợngTàu, Cửa Nghè, Vờn Thị Vụ tháng Mời, tất cả diện tích đều trồng lúa Trên
đất màu thì cấy hoặc trỉa (gieo thẳng), sau đó chờ nớc trời
Giống cây trồng các loại hàng mấy trăm năm không thay đổi Giống lúahầu nh chỉ có loại lúa chăm, lúa hẻo cho gạo trắng ngon nhng năng suất thấp,lúa thông dài ngày nhng năng suất cao hơn
Công cụ lao động rất thô sơ, đời này qua đời khác vẫn chiếc cày chìavôi, chiếc bừa chữ Nhị, cái cuốc, cái vồ gỗ đập đất, chiếc liềm, chiếc hái,chiếc đòn xóc gánh lúa, đòn càn gánh rạ Chiếc đòn gánh luôn đè nặng trênvai ngời nông dân
Ngày trớc, ngời làng Lý Trai làm ruộng quanh năm vất vả mà đợc năm
ma thuận gió hòa mới đạt năng suất khoảng trên dới 50 kg thóc/ sào Hàng nămdân làng Lý Trai phải lên Con Cuông, Nghĩa Đàn mót ngô, đào sắn
Trớc đây ngành chăn nuôi không phát triển, phần đông ngời làm ruộngkhông có trâu bò Nhiều ngời phải cuốc đất hoặc dùng sức ngời kéo cày, bừathay trâu bò Có nhà nhận nuôi rẽ trâu bò cái, khi sinh đẻ chủ nhận một con,
mà thờng là chủ bắt trớc Ngời nuôi rẽ trâu bò cũng phải chịu các khoản lễ tết
nh ngời cày ruộng rẽ Mời nhà mới có một nhà đủ sức nuôi một con lợn “Lịch sử - văn hóa làngcỏ” ,chăn nuôi cả năm khi xuất chuồng chỉ đạt trọng lợng 40 đến 50 kg Do chănnuôi kém nên nguồn phân bón ít, ảnh hởng xấu đến năng suất cây trồng Vòngluẩn quẩn đó làm cho ngời nông dân đời này qua đời khác không thoát khỏi
đói nghèo
2.1.3 Thủ công nghiệp
Ngoài sản xuất nông nghiệp, ở Lý Trai do nhu cầu của cuộc sống vànhững điều kiện kinh tế xã hội đã dần dần xuất hiện một số nghề phụ khác.Dân gian còn lu truyền thơ ca nói về các nghề nghiệp của Lý Trai rằng:
“Lịch sử - văn hóa làngĐiển luật vui gớm vui ghê
Có nghề làm muối có nghề máy xay” [58]
Trang 31Vào khoảng đầu thế kỷ XVI, cụ tổ dòng họ “Lịch sử - văn hóa làngNgô Bá” từ ngoài Bắc vào
định c ở Kẻ Si, đã truyền nghề đúc lỡi cày, diệp cày Cụ đợc ngời làm nghềsuy tôn là “Lịch sử - văn hóa làngThiệt canh tiên sinh” (cụ tổ nghề đúc lỡi cày), hàng năm cúng giỗ
đặn đẩy hơi vào lò cho lửa than rực cháy liên tục Than đúc thờng là than limcho nhiệt độ cao và giữ nhiệt lâu Khi gang trong lò đúc đạt đến độ nóng chảy
và đủ lợng cần thiết thì ngời thợ cả đổ vào khuôn Khuôn cũng làm bằng đất
có cốt bằng gang
Hơn 400 năm tồn tại và phát triển nghề, khi cực thịnh Lý Trai có tới 40
đến 50 lò đúc Mỗi lò ít nhất 4 ngời làm, ngoài ra còn thu hút hàng chục lao
động đi bán sản phẩm, thu mua phế liệu Lò đúc làm việc quanh năm, từ mờsáng tới tối, tiếng thụt bễ phì phò, ánh lửa rực hồng ngõ xóm, nói lên sự cầnmẫn của một làng nghề Lỡi cày, diệp cày Kẻ Si đợc đem bán khắp nơi trongcác tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình Lỡi cày, diệp cày Kẻ Si đã trở nênnổi tiếng Hiện nay nghề đúc lỡi cày vẫn còn nhng do điều kiện kinh tế xã hội
đã dẫn đến nhiều sự thay đổi trong sản xuất sản phẩm hàng hóa của các mặthàng từ đúc gang, rèn sắt
Nghề làm muối đợc du nhập vào từ cuối thế kỷ XIX do cố Xã ngời KẻSót (Hà Tĩnh) ra lập nghiệp ở Hng Lễ truyền lại Cố là ngời đầu tiên khai tháccánh đồng muối hiện nay của Đông Kỷ Trớc đây, hàng năm vào ngày rằmtháng bảy các hộ làm muối đều lễ cúng cố Xã, tỏ lòng biết ơn vị “Lịch sử - văn hóa làngtổ truyềnnghề”
Về cơ bản kỹ thuật làm muối trớc đây cũng giống nh ngày nay Songcông đoạn làm đất nặng nhọc hơn rất nhiều Bởi lẽ ngày xa dùng đất rải sá vàdạt, đất rải sá ngâm nớc mặn và phơi trong nhiều ngày, cho hơi nớc bốc đi,muối đọng lại trong đất, sau đó dùng trâu, bò bừa sá thật kỹ rồi mới xúc đổthành cồn cao Phải là lao động khỏe mạnh mới đủ sức xúc đất, cạy dạt
Trang 32Dụng cụ làm nại trớc đây cũng rất thô sơ, thêu xúc, thêu cạy đều làmbằng gỗ, đo nồng độ nớc chạt bằng con cáy Tuy nhiên trớc đây làm ô phơibằng vôi nấu từ vỏ hàu, vỏ sò dùng lâu bền hơn Trớc những năm 1960, bà conlàm muối vẫn còn nung loại vôi này để làm ô phơi.
đông nam đờng đi Diễn Vạn ngày nay) Cả hai trạm đều do ngời Pháp phụtrách, nên dân ta thờng gọi là “Lịch sử - văn hóa làngđồn Tây” Tại mỗi nơi có một số nhân viên ngờiViệt giúp việc Tất cả sản phẩm làm ra bắt buộc phải bán cho đồn Thơng Chánhvới giá rẻ hơn giá thị trờng Hàng ngày nhân viên Thơng Chánh (lính đoan)xuống đồng muối ép diêm dân phải bán muối cho chúng
Ngời làm muối có thu dấu ít nào đem về dùng hoặc bán ra ngoài đều bịcoi là “Lịch sử - văn hóa làngmuối lậu” Nhân viên nhà đoan thờng sục vào nhà dân lục soát từ bờtre, bụi chuối tìm kiếm “Lịch sử - văn hóa làngmuối lậu” Chúng còn đón đờng rình bắt những ngời
đi bán muối Bắt đợc ngời cất dấu, vận chuyển, chúng tịch thu muối, phạt tiền,
đánh đập, thậm chí phạt tù Ngời làm muối xa kia ít ai khỏi bị chúng đánh
đập, nhiều ngời bị phạt tù, có trờng hợp chịu án từ hai đến ba tháng tù giam
Do quá quẫn, phẫn uất, những ngời làm muối đã có lần tổ chức bắt lại, bắt tróitên “Lịch sử - văn hóa làngTây đoan” trên đoạn đờng 538 thuộc đoạn đờng Diễn Thái lúc bấy giờ,khi tên này rình bắt muối
Bằng lao động cần cù, sáng tạo, nhân dân hai làng Kỷ Luật, Hng Lễ đãbiến một vùng đất sình lầy, ngập mặn thành cánh đồng muối, góp phần đadạng hóa ngành nghề nơi đây
Ngoài ra do ruộng đất ít, nhiều gia đình không có ruộng hoặc chỉ làmvài sào ruộng rẽ, lúc nông nhàn, khi nại nơng hết vụ phải tìm thêm việc làm,
Trang 33nên ở Đông Trai nhiều ngời làm nghề hàng xay, hàng xáo, bởi vậy có câu
“Lịch sử - văn hóa làngKẻ Si đúc cày, ngõ ngay (Đông Trai) hàng xáo” ở Kỷ Luật, Hng Lễ có thêmnghề buôn cá, một số khác nh nghề kéo sợi, dệt vải, nuôi tằm, kéo tơ và nhiềungời buôn thúng bán buôn, tảo tần hết chợ trên đến chợ dới bán từ mớ trầu đến
bó rau Thậm chí có những ngời vì không có vốn phải đi nhặt “Lịch sử - văn hóa làngphân tiêu” Nóichung, ngời lao động xa kia quanh năm suốt tháng chịu cảnh chiếc đòn gánh
đè vai
2.1.4 Thơng nghiệp
Tuy không thuộc về vùng kinh tế phát triển, nhng nhờ có điều kiện giaothông thuận lợi nên từ xa xa, c dân Lý Trai đã chú trọng mở rộng thơng mại,dựng hàng, cới chợ Theo nh các cụ già kể lại thì ngày xa có chợ Giang Đìnhthờng gọi là chợ Bến (ở đầu bến đò Sy “Lịch sử - văn hóa làngtức bến đò Phùng” họp vào buổi chiềuhàng ngày Ngời “Lịch sử - văn hóa làngkẻ quê’ xuống bán gạo, kẻ Vạn, kẻ Vích, kẻ Sy lên bán cá,
kẻ bán ngời mua nhộn nhịp nên mới có câu:
“Lịch sử - văn hóa làngĐò Vạn, đò Vích, đò Sy
Đò mô lắm cá em đi một đò” [6; 22]
Khoảng giữa thế kỷ XVII, hội t văn xã Lý Trai mở chợ Sy, định kỳ hàngtháng họp 3 phiên vào các ngày 1, 11, 21 âm lịch Về tên gọi chợ Sy cũng cónhiều giả thiết Có giả thiết cho rằng vốn là chợ “Lịch sử - văn hóa làngSĩ” , bởi lẽ ngày trớc các thísinh đi thi thờng nghỉ lại ở đây để lên nhà thờ họ Ngô thắp hơng, nơi thờ các
vị đại khoa nổi tiếng, thành đạt trên đờng khoa bảng mong cầu đợc sự phù hộ
Từ đó, bắt đầu nảy sinh nhu cầu trao đổi hàng hóa, vật dụng sinh hoạt nên lậpchợ và lấy tên là chợ “Lịch sử - văn hóa làngSĩ” (Chợ của sĩ tử), sau này gọi chệch là chợ Si Có ýkiến cho rằng, ngày xa ở đây rất nhiều cây Si và ngời ta đã dùng tên cây này
để đặt tên cho làng (Kẻ Si), cho chợ (Chợ Si), ga xe lửa mới có sau này cũnglấy tên là Ga Si Lại có giả thiết cho rằng xuất xứ từ chữ “Lịch sử - văn hóa lànglý” nói chệch là “Lịch sử - văn hóa làngsi” nên làng Mỹ Lý là Kẻ Si, cũng nh làng Lý Nhân (Diễn Ngọc) cũng gọi là Si và
từ chỗ làng Kẻ Si mà bến đò, chợ, ga cho đến đền đài, đều mang tên “Lịch sử - văn hóa làngSi”
Những giả thiết trên đều do suy diễn của ngời đời sau Thực ra chợ Si
do hội t văn Lý Trai xây dựng nh trong văn bia của nhà Thánh huyện đã ghi.Chợ đợc xây dựng trên một khuôn viên cao ráo, thoáng đãng, nằm ven đờngthiên lý (nay là quốc lộ số 1)thuộc khu vực trờng cấp hai Diễn Kỷ bây giờ
Đình chợ cao to, lều chợ xây thành hàng lối, lợp ngói khang trang, sắp xếptheo từng mặt hàng ngăn nắp Ngày phiên chợ, khách buôn từ ngoài Bắc vào,
Trang 34trong Nam ra, miền trên xuống, mạn dới lên, nông lâm, hải sản, thức ăn, vậtdụng, trâu bò, gia súc, gia cầm thứ gì cũng có, kẻ bán ngời mua tấp nập.
Trong những năm kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ, chợ Si phải dời
đi nhiều nơi, thậm chí có khi phải dời sang xã khác, nhng dù họp ở đâu ngàyphiên chợ vẫn đông vui nh ngày hội của cả vùng
Ngoài ra, vào năm Duy Tân thứ 2, ở làng Kỷ Luật mở chợ tại bến Hàu(thợng lu cầu Đông Kỷ bấy giờ) gọi là chợ Nam Mỹ Hàng tháng chợ họp 6phiên, chợ thu hút đợc đông đảo khách hàng gần xa Ngày phiên chợ quangcảnh tng bừng, trên bến dới thuyền, bán buôn nhộn nhịp Hình ảnh náo nhiệt
đó đợc ghi lại trong những câu thơ của một nhà Nho thời bấy giờ, còn truyềntụng đến nay:
“Lịch sử - văn hóa làng Chợ cới rồi một tháng sáu phiênHàng hóa lại bày ra trăm thứ
Trên chợ họp hàng chi cũng đủDới bến kè, bè, nốc chan chan” [6; 23]
Trớc đây ở Kỷ Luật còn có chợ Hôm ở xóm Phú Yên (khu vực xómmáy xát ven đờng số 1 bây giờ), chủ yếu bán hơng, vàng mã, hoa quả, trầu caucho khách bộ hành vào đền Si dâng hơng cầu phúc
Từ những năm 1910, ga Si trở thành một trung tâm giao lu hàng hóa ởBắc Nghệ An, nhiều nhà doanh nghiệp từ các tỉnh phía Bắc vào mở hiệu thuốcbắc, hiệu sửa xe đạp, cửa hàng ăn uống, mua bán nông sản Nhà cửa mọc lênsan sát dọc hai bên đờng 538 Đây là một trong số ít nơi ở Diễn Châu sớmxuất hiện những nhà t sản, có cả ngoại kiều chuyên kinh doanh nông sản nhgạo, ngô, đỗ, bông bán cho các công ty xuất khẩu của ngời Pháp và HoaKiều ở Hà Nội ở đây còn có cửa hàng đại lý kinh doanh rợu “Lịch sử - văn hóa làngphông - ten” quy mô khá lớn Nhiều mặt hàng ở ga Si là hàng bán buôn
ở Cầu Bùng có vài ba chủ bè chuyên bán gỗ, nứa, mét và vài chủ hộbuôn bán chum, vại, tiểu sành Cũng thời gian này, ở các làng đã xuất hiện số
ít thơng nhân chở hàng nông, lâm sản theo đờng thủy, đờng bộ ra bán ở Nam
Định, Hà Nội, Hải Phòng
Lý Trai xa là một vùng nông nghiệp, nhân dân sống chủ yếu vào nghềnông Song do ít ruộng, ngời đông, thời tiết khắc nghiệt, c dân Lý Trai đã biết
mở mang thêm nghề làm muối, nghề đúc lỡi cày và một số nghề khác Điều
đặc biệt là họ đã sớm biết tận dụng lợi thế về giao thông mở rộng hoạt động
Trang 35thơng mại mà tiêu biểu là chợ Si - nơi giao lu kinh tế và văn hóa lớn nhất khuvực Bắc Nghệ An hồi bấy giờ Dân làng Lý Trai từ lâu ngoài các nghề truyềnthống là nông nghiệp, làm muối, đúc lỡi cày, họ còn tranh thủ đi các địa ph-
ơng khác để buôn bán, giao thơng Nên mới có câu ca rằng:
“Lịch sử - văn hóa làng Hết ba tháng nắng dân rày làm chiSắm xe, sắm mủng bao bì
Đi khắp chợ Huyện, chợ Si, chợ GiànChợ Rộc rồi đến chợ An
Chợ Lèn, chợ Bộng, rồi sang chợ chùaGiá cả cao thấp đều mua
Giao lu hàng hóa sớm tra đủ hàng” [58]
Ngoài ra còn có các tổ chức tự phát nhằm mục đích chủ yếu là tơng trợnhau nh phờng lợp nhà, phờng cá, phờng chung thịt lợn tết tất cả nói lên tínhcộng đồng, tinh thần đoàn kết đùm bọc lẫn nhau, thể hiện cuộc sống của c dânvùng nông nghiệp
2.2 Cơ cấu tổ chức của làng
2.2.1 Vài nét về bộ máy quản lý làng xã truyền thống
Khi nói về làng xã Việt Nam là đang nói về cơ sở tồn tại của nông thônViệt Nam Làng trở thành đơn vị hành chính thấp nhất trong hệ thống cơ cấu
tổ chức của nhà nớc phong kiến Việt Nam Tuy nhiên làng Việt luôn bao hàmhai yếu tố tự trị và phụ thuộc Làng là đơn vị hành chính cơ sở, là một tập hợpnhững hộ cùng sống với nhau trên một khu vực, thờng bao bọc bởi lũy trexanh, có mái đình, cây đa, giếng nớc Đó là những hình ảnh khó quên trong
ký ức biết bao thế hệ về một làng quê nơi mình đợc sinh ra
Làng chia ra nhiều đơn vị phi hành chính nh xóm, giáp, khoán, hạng chủ yếu liên quan về tế lễ Hầu nh làng nào cũng vừa có xóm, vừa có khoánhoặc có giáp Ranh giới giữa các làng đợc phân định rõ ràng, dân c mỗi làng
đợc quản lý chặt chẽ để thu su thuế Trờng hợp ngời làng này đến sinh sống ởlàng khác vẫn phải gánh vác mọi nghĩa vụ với làng gốc của mình Ngời mới
đến, làng gọi những ngời ấy là “Lịch sử - văn hóa làngdân ngụ c” Trong quá trình phát triển lịch sửlâu dài, số dân ngụ c ngày một tăng lên, dẫn đến tình trạng mà ngời xa gọi là
“Lịch sử - văn hóa làngdân hỗn c” (tức là dân đợc sống xen kẽ nhau) nh ngời làng Đông Trai nhng ởtrên đất Kẻ Suống (Thừa Sủng), làng Dài (Khánh Duệ), thuộc xã Diễn Xuân
Trang 36bây giờ Trớc Cách mạng Tháng Tám năm 1945, bộ máy quản lý ở mỗi lànggồm Lý trởng, Phó lý và Ngũ hơng Lý trởng là ngời chịu trách nhiệm trớc nhànớc điều hành mọi công việc quản lý hành chính trong làng Giúp việc Lý tr-ởng có Phó lý và Ngũ hơng Lý trởng về danh nghĩa do dân bầu nhng thựcchất luôn thuộc về các dòng họ lớn, có thế lực nắm giữ, nh ở Mỹ Lý thờngthuộc về họ Trơng, làng Kỷ Luật là họ Trần, Hng Lễ thuộc về họ Phạm Đặcbiệt ở Đông Trai không ngoài họ Ngô (công thần), thậm chí ngời họ Ngô(công thần) sinh sống ở Thừa Sủng, Khánh Duệ (Diễn Xuân) vẫn có thể làm lýtrởng làng Đông Trai, ngời khác họ dù ở ngay tại làng cũng chỉ có thể là Phólý.
Từ năm 1930, do phong trào cách mạng dâng cao, chính quyền bảo hộ
đặt thêm các chức bang tá ở huyện, tổng để chỉ huy hệ thống đoàn phu Mỗixóm dựng một điếm canh, ngày đêm có đoàn phu canh gác nhằm giữ gìn anninh chính trị Song thực chất chủ trơng này là nhằm chống phá cách mạng vìlúc bấy giờ tổ chức “Lịch sử - văn hóa làngtự vệ đỏ” đang phát triển mạnh Ngoài các chức dịch nóitrên mà ngời ta thờng gọi là kỳ dịch thì ở các làng còn có Hội đồng kỳ mục,gồm các vị hu quan, các bậc khoa bảng, các cựu chánh phó tổng, các cựu lý tr-ởng, phó lý cùng những ngời có phẩm hàm từ “Lịch sử - văn hóa làngCửu phẩm” hoặc “Lịch sử - văn hóa làngHàn lâm đãichiếu” trở lên Hội đồng kỳ mục có nhiệm vụ quản lý các tài sản công, tổ chứccác lễ hội và làm cố vấn cho lý dịch đơng chức Đứng đầu hội đồng là vịChánh hơng hội
Ngày xa, làng xã vẫn lấy câu “Lịch sử - văn hóa làngtriều đình trọng tớc, làng nớc trọng xỉ” (tức là triều đình trọng quan tớc, làng trọng tuổi tác) làm nguyên tắc xử thế.Ngời cao tuổi đợc ngời ít tuổi kính trọng Ngời đàn ông cao tuổi nhất tronglàng đựơc suy tôn là cụ “Lịch sử - văn hóa làngTiên chỉ” hoặc “Lịch sử - văn hóa làngThủ chỉ” , một chức vị danh dự tronglàng Nhng ở chốn đình trung tức là thứ tự chỗ ngồi trên dới tại đình làng khi
tế lễ, các làng vẫn xếp ngồi theo chức tớc khoa bảng Trừ vị “Lịch sử - văn hóa làngTiên chỉ” còn lạidẫu tuổi cao song không có phẩm hàm vẫn phải ngồi mâm dới, không đợcquyền tham gia việc làng Vì vậy, nên ở nông thôn xa có “Lịch sử - văn hóa làngtrò” mua bán chứcsắc Khi làng xã cần tiền để chi tiêu vào việc tu sửa đền đài, lo đình đám, kiệntụng, thờng xin chính quyền cấp trên cho bán chức sắc Các ký danh bán ở xãcó: Trờng sinh, Trùm xã, Thông xã, Cai xã , ở làng có các ký danh Hơnghiệu, Thông hiệu, Cai thôn, Tri thôn Ngời dân thờng muốn tránh tiếng
“Lịch sử - văn hóa làngbạch đinh” , giảm phần nào gánh nặng phu dài, tạp dịch, phải xoay xở để mua
Trang 37một chức danh nào đó cho có vai vế với thiên hạ, có chỗ ngồi nơi nọ, bàn kiagiữa chốn “Lịch sử - văn hóa làngđình trung” Không ít ngời vì chút “Lịch sử - văn hóa làngh danh” , mà cầm cố ruộng v-
ờn, lâm vào cảnh khuynh gia bại sản
Tầng lớp hào lý trớc đây phần đông gia đình nghèo và cũng bị tầng lớpquan trên đè nén, áp bức Vì vậy, chỉ một số ít cờng hào cam tâm làm tay sai
đắc lực cho đế quốc, phong kiến, còn đại bộ phận sống gần gũi với nhân dânlao động, ít có hiện tợng hạch sách, ức hiếp ngời nghèo
Cùng với quá trình thành lập và phát triển, làng Lý Trai ngày càng cóthiết chế chặt chẽ hơn Theo nhiều nguồn tài liệu cho thấy bộ máy quản lý củalàng bao gồm các thiết chế sau:
- Hội đồng lý hơng:
Là tổ chức quản lý dân bằng pháp chế Đây là bộ phận đại diện cho nhànớc phong kiến ở làng chấp hành các mệnh lệnh của nhà nớc trong phạm vi xãthôn Đứng đầu là Lý trởng, Lý trởng là ngời đợc ủy quyền cho các hạng ngờitrong bộ máy chức dịch để giao thiệp với chính quyền nhà nớc trên các vấn đề
về thuế má, su dịch, binh địch và các công việc liên quan về mặt hành chính
Đồng thời cũng là ngời đợc ủy nhiệm thực hiện mọi quyết định của hội đồngcác viên thứ chỉ
Giúp việc cho Lý trởng là Phó lý, là ngời cùng với Lý trởng chịu tráchnhiệm trớc nhà nớc và thay mặt Lý trởng đi đôn đốc từng công việc cụ thể nhbắt lính, bắt phu, kiểm tra việc canh phòng, đề phòng hỏa hoạn
Giúp việc Lý trởng và Phó lý là tổ chức Ngũ Hơng, gồm năm viên chứcphụ trách năm công việc khác nhau gồm:
+ Hơng bạ: Quản lý sổ sách, coi việc sinh tử, giá thú của làng
+ Hơng kiểm: Coi việc trị an, tuần phòng, giữ gìn an ninh trật tự, t pháp.+ Hơng bản: Giữ công quỹ của làng
+ Hơng mục: Coi việc đê điều, đờng sá, các công sở của nhà nớc có trên
- Hội đồng Kỳ mục:
Trang 38Hội đồng Kỳ mục là tổ chức mang tính cộng đồng quản lý dân bằng tục
lệ, hơng ớc gồm có các vị tiên chỉ, thứ chỉ và ba bàn lão (Mỗi bàn có 4 cụ lấy
từ 60 tuổi trở lên) Trong tổ chức này, tiên chỉ phải là ngời nhiều tuổi nhất, cóphẩm tớc cao nhất, có đạo đức nhất trong số các hu quan, chức sắc, các khoamục trong làng Đây là ngời đứng đầu làng có quyền quyết định mọi côngviệc lớn nhỏ trong làng.Thứ chỉ là ngời đứng thứ hai, có tuổi cao thứ nhì tronglàng nhng cũng phải có đầy đủ các điều kiện trên và cùng giúp việc tiên chỉtrong việc quản lý mọi sinh hoạt của làng Dới cụ tiên chỉ và cụ thứ chỉ là babàn lão Căn cứ vào sổ hơng ẩm tính từ cụ nhiều tuổi xuống lấy đủ 12 cụ vào
ba bàn lão này Với nguyên tắc: “Lịch sử - văn hóa lànghữu chức dụng tớc, vô tớc dụng xỉ” , nếukhuyết tiên chỉ thì thứ chỉ lên thay, nếu khuyết thứ chỉ thì lấy cụ cao tuổi nhấttrong ba bàn lão lên thay Quá trình lựa chọn vào các địa vị nh trên theo mộtquy định bất di bất dịch Ngoài ra, giúp việc cho tổ chức này còn có bộ phậncác giáp trởng có trách nhiệm điều hành các công việc trong giáp, nhất là việc
ma chay của các cụ trong làng
Mọi công việc trong làng, cụ tiên chỉ thống nhất với cụ thứ chỉ rồithông qua ý kiến của ba bàn lão Khi đã thống nhất trong tổ chức thì khi đótriệu tập toàn dân để họp Tùy theo tính chất, đặc thù của công việc mà đối t-ợng tham gia cuộc họp khác nhau Thông thờng chỉ có nam giới từ 18 tuổi trởlên hoặc là lão nhiêu trở lên
Mọi thành viên tham gia tổ chức lão làng đều phải sửa lễ khao vọng
để cúng thần đình và đãi làng (lễ lớn hay mọn tùy vào khả năng của ng ờikhao vọng)
Trong một làng có nhiều họ sinh sống và đây cũng có lẽ là một trongnhững lý do để không có một họ nào có thể chi phối đợc hoạt động của hội
đồng lý hơng và hội đồng kỳ mục
- Hội đồng tộc biểu:
Đây thực chất là một tổ chức do chính quyền thực dân phong kiến lập
ra với mong muốn có thêm chân rết ở các dòng họ, dễ bề quản lý và điềuhành Để tăng thế lực cho hội đồng này và cũng phù hợp với tục lệ sẵn có màlàng quy định, họ nào cha có đại biểu trong hội đồng, phải cử ngời có uy tín
và thế lực đại diện cho dòng họ mình tham gia Hội đồng tộc biểu có tráchnhiệm chăm lo giáo dục con em dòng họ, giữ gìn gia phong phép nớc, cùngvới hội đồng Kỳ mục và Lý hơng thực hiện các tập tục của làng
Trang 39Ngoài các tổ chức nắm dân bằng pháp chế, tục lệ, hơng ớc thì tronglàng phải có sổ đinh, sổ hơng ẩm để ghi chép các điều khoản mà làng đã quy
định
- Sổ đinh ghi chép tất cả tên con trai trong làng, 18 tuổi phải vào làng
Đến tuổi, họp phiên đầu năm, gia đình sắm cơi trầu, chai rợu trình làng và đợcthông bạ ghi tên vào sổ hơng ẩm Kể từ giờ phút này, chính thức đợc coi làthành viên của làng, chịu mọi quy định của một dân đinh
Trong làng có sự phân chia tuổi tác và các chức danh nh sau:
+ 90 tuổi trở lên gọi là Đại thọ
+ 80 tuổi trở lên gọi là Thợng thợng thọ
+ 70 tuổi trở lên gọi là Thợng thọ
+ 60 tuổi trở lên gọi là Lão hạng
+ 50 tuổi trở lên gọi là Lão nhiêu
Tùy ở từng mức tuổi mà các công việc và các chức danh tham gia khácnhau Những ngời ở độ tuổi 60 trở lên đợc xem là “Lịch sử - văn hóa làngdân bất phiền, quan bấtnhiễu” ở tuổi lão nhiêu khi làng họp đợc ngồi, song còn phải gánh chịu mộtvài việc nhỏ.Từ 40 đến 49 tuổi đợc gọi là lệnh ở tuổi này thì mọi phu phentạp dịch đều phải gánh chịu, chỉ hơn trai đinh ở chỗ là khi làng tổ chức ănuống thì không phải làm cỗ chia phần Từ 18 tuổi đến 39 tuổi gọi là trai đinh,trong độ tuổi này mọi công việc của làng đều phải làm tất cả
- Căn cứ vào sổ hơng ẩm mà chỗ ngồi ở đình trung cũng đợc quy định
nh sau:
Chiếu giữa dành cho cụ tiên chỉ và quan tớc triều đình Cụ tiên chỉ ngồingang hàng với tiến sĩ (Văn) hay quận công (Võ) Kế tiếp là ba bàn lão, cụnhiều tuổi ngồi trên, ít tuổi ngồi dới Từ đó trở xuống quy định:
+ Cử nhân ngồi cùng chiếu với cụ 80 tuổi
+ Tú tài ngồi cùng chiếu với cụ 70 tuổi
+ Ông đồ ngồi cùng chiếu với cụ 60 tuổi
+ Lý trởng ngồi cùng chiếu với cụ 70 tuổi
Nếu xét theo vị trí ngồi tại chốn đình trung thì lý trởng cũng chỉ là bậcthứ 3, phải theo sự chỉ bảo của các cụ nhiều tuổi Tuy nhiên trong thời kỳthuộc Pháp thì tổ chức Lý hơng lấn át cả lão làng
Trớc Cách mạng tháng Tám 1945, làng Lý Trai cũng nh các làng quêkhác, nếu đứng ở góc độ quản lý nhà nớc thì nhà nớc phong kiến không nắmtoàn bộ các vấn đề của làng xã, nhng từng bớc đa hệ thống đẳng cấp vào tận
Trang 40nông thôn để dần dần nắm làng xã Tuy nhiên, ở các làng vẫn tồn tại hệ thốngluật lệ làng riêng, theo đó ngời nhiều tuổi nhất (Tiên chỉ của làng) sẽ là ngờinắm mọi quyền hành của làng xã mình Do đó, trong phạm vi làng xã có lúcvai trò và quyền lực giữa bộ máy chức sắc phong kiến và lão làng có sự mâuthuẫn hoặc “Lịch sử - văn hóa làngđổi ngôi” cho nhau.
2.2.2 Các đơn vị của làng
2.2.2.1 Xóm và ngõ
Làng Việt ngày nay kế thừa làng Việt cổ Lúc bấy giờ hình thành mộtcông xã mang hình thái á Châu Mỗi một làng có những đặc điểm khác nhau,tuy nhiên để nhận diện một làng chúng ta có thể dựa vào những dấu hiệu th-ờng có, mang tính phổ biến, đó cũng là những đơn vị cơ bản để hình thành nênmột làng
Theo nghiên cứu của các nhà dân tộc học, thì từ xa đến nay con ngời cóhai phơng thức tập hợp để hình thành nên cộng đồng c dân, đó là tập hợp theoquan hệ huyết thống và tập hợp theo quan hệ láng giềng Làng Lý Trai đợchình thành trên cơ sở của cả hai loại quan hệ huyết thống và láng giềng.Trong đó việc hình thành làng đợc dựa trên quan hệ láng giềng là chủ yếu
Việc tổ chức làng theo địa bàn c trú, cho thấy sự gắn kết giữa các thànhviên trong làng không phải chỉ bằng quan hệ máu mủ mà còn gắn kết bằngquan hệ sản xuất Quá trình gắn kết gắn mọi ngời trong làng xuất phát từ nhucầu sản xuất, chế ngự thiên nhiên, dần dần tạo nên mối quan hệ chặt chẽ, ràngbuộc nhau, thậm chí có lúc ngời ta quan niệm “Lịch sử - văn hóa làngbán anh em xa, mua lánggiềng gần”
Làng Lý Trai đợc chia làm nhiều xóm, mỗi xóm có nhiều ngõ dựa trênhai yếu tố cơ bản là dân c và địa thế Các xóm đợc sắp xếp liền cạnh nhau theonhững ô bàn cờ, khoảng cách giữa các xóm chỉ là một con đờng Sự phân chiathành các xóm nhỏ là do chính quyền xã tiến hành và tùy thuộc vào số hộ dânsống trong làng Trung bình mỗi xóm có từ 50 - 60 hộ Cách thức tổ chứcnông thôn theo đơn vị xóm đã tạo nên tâm lý gần gũi, xuất phát từ nhu cầuliên kết tự nhiên theo quan hệ tình cảm và sản xuất nông nghiệp của ngờinông dân
Về mặt quyền lợi, xóm không có t cách pháp nhân mà phụ thuộc vàolàng và chịu luật lệ của làng Đứng đầu xóm là vị trởng xóm, đây là ngời uytín đợc nhân dân trong xóm bầu lên để làm trung gian giữa làng với xóm.Giúp việc trởng xóm còn có vài ba ngời do trởng xóm cử cùng lo công việc