1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Khu lưu niệm lê hồng phong (hưng nguyên, nghệ an) giá trị lịch sử, văn hoá, du lịch

61 576 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Khu Lưu Niệm Lê Hồng Phong (Hưng Nguyên, Nghệ An) - Giá Trị Lịch Sử, Văn Hóa, Du Lịch
Tác giả Nguyễn Thị Mỹ Châu
Người hướng dẫn TS. Trần Viết Thụ
Trường học Trường Đại Học Vinh
Chuyên ngành Lịch sử
Thể loại Khóa luận tốt nghiệp
Năm xuất bản 2006
Thành phố Vinh
Định dạng
Số trang 61
Dung lượng 217 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Cả hai cuốn trên đều có điểm chung là không đi vào tìm hiểu, nghiên cứuquá trình xây dựng, các giá trị của khu lu niệm, và cách bài trí những kỉ vật gắnvới cuộc đời đồng chí Lê Hồng Phon

Trang 1

trờng đại học Vinh Khoa lịch sử

-*** -Nguyễn Thị mỹ châu

Khu l u niệm lê hồng phong (h ng nguyên, nghệ

an) - giá trị lịch sử, văn hoá, du lịch

khoá luận tốt nghiệp

1.1 Nghệ An là vùng đất cổ, một trong những chiếc nôi sản sinh ra loài

ngời, là một Việt Nam thu nhỏ.Trong quá trình đấu tranh dựng nớc và giữ nớc,Nghệ An đã cùng với cả dân tộc băng qua giông bão, máu lửa để tồn tại và pháttriển Nhiều biến cố lịch sử trọng đại đã để lại dấu ấn đậm nét nơi đây

Nghệ An là vùng danh thắng với nhiều di tích lịch sử - văn hóa Đây làmột phần trọng yếu của đất nớc kể từ buổi đầu lập quốc Tiếp theo thời gian, khi

Trang 2

bình thản, lúc sục sôi, lịch sử Nghệ An luôn biểu thị sự nỗ lực cao của một cộng

đồng đa dân tộc quật cờng và bền bỉ Triều đại nào ngời ta cũng tìm thấy Nghệ

An là “chốn hy vọng của thời loạn, nơi nơng tựa của thời trị”

Con ngời Nghệ An có chí khí tự rèn luyện, lại là nơi đất học nên rất nhiềungời thành đạt “Thanh cậy thế, Nghệ cậy thần”, thần ở đây trớc hết là bề tôi củanhà vua nhng suy rộng ra là những ngời tài giỏi xuất chúng của đất Nghệ Giáo

s Trần Văn Giàu nói Nghệ An là đất “Yên Triệu” của Việt Nam, sản sinh ranhiều anh hùng, nhiều bậc kì tài Những ngời có tiếng tăm nh vậy khi mất đi, đ-

ợc dân lập đền thờ và vua ban phong sắc thần Ngày nay nơi sinh ra và lớn lêncủa những anh hùng ấy đợc lập thành những khu di tích lu niệm danh nhân Do

đó bên cạnh những thắng cảnh do thiên nhiên tạo nên: Hang Bua (Quỳ Châu),

động Lèn Chùa (Con Quông)… ở Nghệ An còn có rất nhiều đền đài thần tích ở Nghệ An còn có rất nhiều đền đài thần tíchnổi tiếng trong cả nớc “Đền Cờn, đền Quả, Bạch Mã, Chiêu Trng”… ở Nghệ An còn có rất nhiều đền đài thần tích những ditích lu niệm các danh nhân bậc nhất nh: Hồ Chí Minh, Phan Bội Châu, Lê HồngPhong

Vì vậy di tích danh thắng ở Nghệ An giàu về số lợng, đa dạng về chủngloại, phong phú về nội dung Mỗi di tích gắn với sự tích lịch sử và lễ hội truyềnthống đậm đà sắc thái xứ Nghệ Theo kết quả kiểm kê mới nhất (tháng 9/2004)cho thấy: hiện nay toàn tỉnh có 938 di tích, trong dó có 116 di tích đã đợc xếphạng quốc gia [10;6] Nó ghi nhận công tích của cả một quá trình phấn đấu xâydựng lâu dài của nhân dân tỉnh nhà, thế hệ nối tiếp thế hệ Đồng thời nó cũngphản ánh tầm cỡ của một vùng văn hóa Vì di tích lịch sử - văn hóa là nhữngkhông gian vật chất cụ thể, khách quan, trong đó chứa đựng các giá trị điển hìnhlịch sử - văn hóa do tập thể hoặc cá nhân con ngời sáng tạo ra trong quá trìnhtồn tại Khu lu niệm Lê Hồng Phong ở Hng Nguyên - Nghệ An là một trong sốnhững di tích nh vậy

1.2 Bản thân là một ngời con của quê hơng Lê Hồng Phong, cùng sống

và học tập dới mái trờng mang tên ngời, đợc tiếp xúc, nghe kể nên hiểu đợc về

di tích lu niệm Lê Hồng Phong cũng nh cuộc đời, sự nghiệp đồng chí Với mongmuốn đi sâu tìm hiểu một cách chính xác đầy đủ và hệ thống về quá trình xâydựng cũng nh hiện trạng của khu lu niệm Lê Hồng Phong Qua đó góp phầnnhận thấy đợc giá trị lịch sử, văn hóa, du lịch của di tích

Vì những lí do trên chúng tôi mạnh dạn chọn vấn đề “Khu lu niệm LêHồng Phong (Hng Nguyên, Nghệ An) - giá trị lịch sử, văn hóa, du lịch” làm đềtài khóa luận tốt nghiệp Đại học

Trang 3

Qua quá trình tìm hiểu nghiên cứu vấn đề một cách khẩn trơng và nghiêmtúc, lại đợc sự giúp đỡ nhiệt tình, khoa học của thầy giáo Trần Viết Thụ và Banquản lí khu lu niệm, các ban ngành có liên quan, đề tài khóa luận của tôi đãhoàn thành Do khả năng và trình độ của bản thân có hạn vì lần đầu tiên tập dợcnghiên cứu một đề tài khoa học, thêm vào đó là tài liệu tham khảo hạn chế, chonên khóa luận không tránh khỏi những thiếu sót, chúng tôi rất mong nhận đợc ýkiến đóng góp của quý thầy cô và các bạn.

điểm kiến trúc, bài trí khu nhà di tích Nhng do nghiên cứu vào thời điểm khálâu nên cho đến nay, trên thực tế một số điểm kiến trúc, bài trí đã thay đổi Vìvậy tài liệu cha trình bày chính xác một số kiến trúc mới xây dựng ở khu di tích.Trong cuốn “Nghệ An di tích - danh thắng” NXB Sở văn hóa - thông tinNghệ An năm 2005, Đỗ Minh Nụ đã khái quát đặc điểm kiến trúc, bài trí của ditích lu niệm Lê Hồng Phong tại xã Hng Thông, nhng cha đề cập đến một cách

cụ thể, chính xác về giá trị lịch sử - văn hóa của khu di tích

Cả hai cuốn trên đều có điểm chung là không đi vào tìm hiểu, nghiên cứuquá trình xây dựng, các giá trị của khu lu niệm, và cách bài trí những kỉ vật gắnvới cuộc đời đồng chí Lê Hồng Phong trong nhà lu niệm tại Thái Lão - một

điểm quan trọng của khu lu niệm Lê Hồng Phong ở Hng Nguyên (Nghệ An).Trong cuốn “Lê Hồng Phong ngời cộng sản kiên cờng” NXB Chính trịQuốc gia, 2002 với bài viết của Trơng Quế Phơng đã nêu đợc đặc điểm kiếntrúc, cách bài trí khu lu niệm Lê Hồng Phong nhng cha thật đầy đủ, nhất là chanêu đợc quá trình ra đời, xây dựng khu lu niệm

Trong các Quyết định của UBND Tỉnh Nghệ An số 4038/QĐ.UB ngày21/1/2001 và Quyết định số 603 QĐ/UB - XD ngày 8/2/2002 về công trình và

dự án đầu t: Tôn tạo nâng cấp khu di tích và xây dựng mới Nhà văn hóa LêHồng Phong tại huyện Hng Nguyên, cũng chỉ nói tới kiến trúc, quá trình xâydựng, tu bổ toàn khu lu niệm Lê Hông Phong liên quan đến vấn đề vốn đầu t mà

Trang 4

không đề cập tới các vấn đề về quá trình xây dựng, hiện trạng cụ thể và các giátrị khu lu niệm.

Bên cạnh các tác phẩm nêu trên thì còn có những bài viết của một số tácgiả nh: Hồ Hoàng Viên trong “Đề cơng giới thiệu hệ thống di tích - danh thắngnằm trong tuyến du lịch quan trọng phục vụ năm 2005” và Trơng Thị Th trong

“Bản thuyết minh Nhà lu niệm Lê Hồng Phong xã Hng Thông, Hng Nguyên,Nghệ An” cũng cha nêu lên đợc đầy đủ về nguồn gốc ra đời, kiến trúc và các giátrị của khu lu niệm mà chỉ ở mức độ khảo sát, giới thiệu Khu lu niệm Lê HồngPhong nh một điểm du lịch của Nghệ An

Nh vậy cho đến nay cha có một công trình nào nghiên cứu một cách đầy đủ

và có hệ thống về giá trị lịch sử, văn hóa, du lịch của khu lu niệm Lê HồngPhong Cho nên chúng tôi chọn đề tài này với mong muốn góp phần nghiên cứu

về lịch sử, văn hóa Nghệ An nói chung, khu lu niệm Lê Hồng Phong nói riêng,nhất là làm rõ những giá trị về lịch sử, văn hóa, du lịch của di tích quan trọngnày Tuy nhiên, các tác phẩm nghiên cứu trên đã giúp chúng tôi tiếp cận và giảiquyết những vấn đề mà đề tài đặt ra

3 Đối tợng và phạm vi nghiên cứu

Nội dung chính của đề tài là tìm hiểu giá trị lịch sử, văn hóa, du lịch củakhu lu niệm Lê Hồng Phong ở Hng Nguyên - Nghệ An

Với mục đích đó, nội dung thứ nhất của khóa luận là khái quát cuộc đời, sựnghiệp cách mạng của đồng chí Lê Hồng Phong Trong đó, vị trí địa lí và truyềnthống văn hóa, yêu nớc cách mạng của quê hơng Hng Nguyên - là nhân tố có ảnhhởng quan trọng tới sự lựa chọn con đờng cách mạng của đồng chí

Nội dung thứ hai là tìm hiểu quá trình xây dựng và hiện trạng khu lu niệm Nội dung thứ ba là phân tích các giá trị lịch sử, văn hóa, du lịch của khu l-

u niệm Nh vậy, nội dung thứ hai, thứ ba là trọng tâm của khóa luận

4 Nguồn tài liệu và phơng pháp nghiên cứu

4.1 Nguồn tài liệu

Để thực hiện đề tài này, chúng tôi đã nghiên cứu các nguồn tài liệu có liênquan tới đề tài nh sau:

- Nguồn tài liệu thành văn là một trong những nguồn tài liệu chủ đạo quantrọng nhất của việc nghiên cứu đề tài mà chúng tôi đã chọn Vì u điểm củanguồn tài liệu thành văn này nó phản ánh tơng đối toàn diện đầy đủ về quá trìnhxây dựng và hiện trạng của Khu lu niệm, thông qua đó mà chúng tôi có thể tiếnhành vào việc nghiên cứu đề tài

Trang 5

- Tài liệu hiện vật là những bằng chứng về hiện trạng của di tích Tuynhiên khi sử dụng nguồn tài liệu này phải kết hợp nguồn tài liệu thành văn để có

đủ cơ sở lí giải những vấn đề mà phạm vi nghiên cứu đề tài đã chọn

Ngoài ra lời kể của nhân chứng: là một dạng tự nguyện của những conngời chứng kiến những sự kiện, hiện tợng lịch sử ở địa phơng mình Do vậy khi

sử dụng nguồn tài liệu này chúng tôi phải luôn luôn chú ý xác minh một cáchcẩn thận (bằng cách so sánh với các tài liệu cùng thời); bởi vì hầu hết các hồi kícủa ngời kể đều mang dấu ấn chủ quan của tác giả

- Nguồn tài liệu hình ảnh cũng đợc chúng tôi sử dụng (hồ sơ, ảnh chụp

đ-ợc su tầm) minh họa cho hiện trạng di tích

5 Bố cục của khóa luận

Ngoài phần Mở đầu, Phụ lục, Kết luận, Tài liệu tham khảo, nội dung

chính của khóa luận đợc trình bày trong ba chơng:

Ch ơng 1 : Lê Hồng Phong - ngời cộng sản kiên cờng sống mãi trong sự

nghiệp cách mạng của Đảng và quê hơng Hng Nguyên

1.1 Quê hơng Hng Nguyên 1.2 Lê Hồng Phong: cuộc đời và sự nghiệp

Lê hồng phong - ngời cộng sản kiên cờng sống mãI trong sự

nghiệp của đảng và quê hơng hng nguyên 1.1 Quê hơng Hng Nguyên

1.1.1 Nguồn gốc ra đời huyện Hng Nguyên

Trang 6

Ngợc dòng lịch sử, Hng Nguyên vốn là một bộ phận không tách rời của tổquốc kể từ ngày vua Hùng dựng nớc Từ thời Hùng Vơng, Hng Nguyên là mộtvùng đất có c dân ngời Việt cổ, thuộc bộ Hoài Hoan, một trong 15 bộ của nhà n-

ớc Văn Lang Thời Bắc thuộc, Hng Nguyên là một phần đất của huyện HàmHoan thuộc quận Cửu Chân, do nhà Hán đặt ra Thời dựng nớc, theo sách

“Nguyễn Trãi toàn tập” [1;9]: “Năm 1496 vua Lê Thánh Tông, hiệu QuangThuận thứ 10 đã ra dụ điều chỉnh lại bản đồ hành chính và chia đạo Nghệ An ralàm 8 phủ, 18 huyện Tên “Hng Nguyên” ra đời từ đó Hng Nguyên cùng vớiNam Đờng lúc đó là hai huyện thuộc phủ Anh Đô, riêng Hng Nguyên gồm 42xã, 3 thôn, 3 sở, 2 giáp”

Thời thuộc Pháp, Hng Nguyên là một phủ thuộc tỉnh Nghệ An, phủ gồm

có 6 tổng, 109 làng

Sau năm 1946 có nhiều làng xã đợc nhập về Nam Đàn, Nghi Lộc, Vinh

Từ năm 1972, huyện Hng Nguyên có 23 xã, năm 1998 xã Hng Thái đợc chuyểnthành thị trấn Hng Nguyên, địa giới hành chính đợc ổn định cho đến ngày nay

1.1.2 Đặc điểm tự nhiên

Hng Nguyên là một huyện đồng bằng ở phía Đông Nam tỉnh Nghệ An, cótọa độ địa lí: 18035’ - 18047’ vĩ độ Bắc và 105035’ - 105040’ kinh độ Đông vớidiện tích tự nhiên 163,98km2

Hng Nguyên phía Bắc và Đông Bắc giáp huyện Nghi Lộc; phía Tây giáphuyện Nam Đàn; phía Đông giáp thành phố Vinh; phía Tây Nam đến ĐôngNam là con sông Lam uốn khúc và bao bọc huyện với bờ bên kia là Đức Thọ(Hà Tĩnh)

Tuy là huyện đồng bằng có quy mô trung bình trong tỉnh, nhng HngNguyên cũng có núi sông điểm tô cảnh vật thêm hùng vĩ, tôn nghiêm Bên cạnh

đó xung quanh huyện còn là những vùng đất nớc, sông núi non đẹp nổi tiếngthuộc các huyện liền kề của hai tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh

Nằm dọc phía Tây Bắc Hng Nguyên là dãy núi Đại Hải (Lỡi Hái), núitrông nh bức bình phong, phía đông nhìn ra biển, qua những bãi cát của huyệnNghi Lộc Quanh núi có xã Thái Lão tơng truyền là quê tổ của anh em nhà TâySơn

Phía Tây Hng Nguyên giáp huyện Nam Đàn - là một vùng đất thiêng lắmngời tài giỏi, ở đó có làng Đan Nhiễm (xã Nam Hòa ngày nay) quê hơng củaPhan Bội Châu nhà yêu nớc nhiệt thành nổi tiếng chống áp bức bất công, làngSen (Kim Liên) quê của cụ phó bảng Nguyễn Sinh Sắc đầy trung nghĩa khí kháivới ngời con u tú của cụ là Nguyễn Sinh Cung

Trang 7

Phía Nam của huyện có núi Lam Thành, là dãy núi mang nhiều dấu ấnlịch sử “Đại Nam nhất thống chí” viết: [1;11] “Núi Hùng Sơn xa gọi là núiTuyên Nghĩa, lại có tên là núi Lam Thành, núi Đồng Trụ, núi Nghĩa Liệt; ở giữa

đồng bằng, nổi vọt lên một dãy núi cao lớn, hùng vĩ trông ra sông Lam, có mộtngọn còn lại trên nền cũ phủ Nghệ An ”

Sông Lam là con sông lớn nhất của Nghệ An, bắt nguồn từ Thợng Làochảy về biển theo hớng Tây Bắc - Đông Nam, qua 12 xã của huyện Hng Nguyên

cũ Sông Lam có vị trí quan trọng về kinh tế, giao thông đối với Hng Nguyênnói riêng và Nghệ An nói chung Sách “Đại Nam nhất thống chí” [1;12] viết:

“Sông Lam là sông lớn của vùng Nghệ An, xa gọi là sông Thanh Long phía

đông có bến đò là chỗ c trú của khách buôn phơng Bắc, nhà cửa thuyền bè tấpnập, gọi là phố Phù Thạch (nay thuộc Đức Thọ - Hà Tĩnh) ở đây nớc sôngtrong mát, cây cỏ xanh tơi, gần có phố, xa có thôn, phong cảnh nh tranh vẽ thật

là một nơi danh thắng ở Châu Hoan”

Bên kia sông Lam đối diện với Hng Nguyên là huyện Đức Thọ (Hà Tĩnh),

có bến nớc Tam Soa dới chân núi Tùng Lĩnh, nơi hợp lu của hai con sông NgànSâu, Ngàn Phố đổ về sông La, là một phong cảnh nên thơ, có xã Tùng ảnh quêcủa Trần Phú - Tổng bí th đầu tiên của Đảng

Đặc điểm địa lí Hng Nguyên từng làm cho nhiều vị vua hiền ngày xa phảichú ý và đích thân về đây luận bàn việc nớc hoặc trực tiếp cầm quân đốc chiến:vua Lê Đại Hành (1003), vua Lê Thái Tổ (1426), vua Lê Thánh Tông (1470),vua Quang Trung (1789)

Hng Nguyên ở vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa khá khắc nghiệt TrớcCách mạng thángTám 1945, lụt sông Lam thờng dẫn đến nạn đê vỡ, gây mấtmùa, lụt lội, hạn hán là chuyện thờng xuyên xảy ra Nỗi cơ cực, vất vả và sự đóinghèo của ngời dân Hng Nguyên đã đi vào ca dao, dân ca xứ Nghệ:

Chớ về Đồng Nứa, Cồn Trăm

Cả đời vất vả quanh năm đói nghèo.

Cây đa ba nhánh chín cồi

Ai về Thông Lạng cây còi lúa ngô ”Ngợc lại thiên nhiên ở đây cũng dành cho nhân dân những u đãi nh: đấtbãi sông Lam là một vùng đất màu mỡ, đợc phù sa bồi đắp hằng năm thích hợpvới nhiều loại cây công nghiệp và rau màu Con sông Lam cùng với các sông

đào, khe suối là nguồn nớc tới dồi dào và nguồn thủy sản nớc ngọt quan trọng

Về giao thông, Hng Nguyên vừa thuận lợi ở gần thành phố Vinh, vừa cónhiều đờng giao thông thủy bộ đi qua nh: đờng xe lửa Bắc - Nam, quốc lộ 46,tuyến đê 42, đờng 12/9 đờng thủy sông Lam và các sông đào Nhờ vậy ngời

Trang 8

dân Hng Nguyên xa cũng nh nay thuận lợi trong đi lại làm ăn sinh sống, đồngthời tiếp xúc với những luồng t tởng mới, mở rộng tầm mắt của mình.

Vị trí địa lý đã quy định, phơng thức sản xuất kinh tế chủ yếu của ngờidân Hng Nguyên là kinh tế tiểu nông lúa nớc và một số nghề thủ công: nghề

đan dè cót ở Xuân Nha, làm mũ nón ở rú Ráng… ở Nghệ An còn có rất nhiều đền đài thần tích Với nền kinh tế nh vậy, nhândân lao động Hng Nguyên trớc Cách mạng mặc dù rất cần cù, chịu khó vẫnquanh năm lam lũ, cực khổ

Có thể nói rằng cách đây trên 500 năm, một vùng đất đợc khai sinh vớicái tên mới đầy ý nghĩa: Hng Nguyên Hẳn các bậc tiền nhân đã gửi cả niềm tin,mong ớc cho mảnh đất này luôn hng thịnh, vẹn nguyên, đời đời con cháu đợc h-ởng hạnh phúc yên lành Bởi hình thế sông núi uy nghi, nên vùng đất này đợcnhiều vơng triều chọn làm vùng Triều Khẩu, và đã từng đợc vua Quang Trungchọn làm Phợng hoàng Trung Đô Đặc biệt với cái thiêng sông núi giao hoà, nênmảnh đất này sinh ra rất nhiều nhân tài, đã có không ít ngời đợc xếp vào bậcdanh nhân của đất nớc

1.1.3 Truyền thống văn hóa, yêu nớc và cách mạng

Huyện Hng Nguyên - Nghệ An, quê hơng của cố tổng bí th Lê HồngPhong là một vùng “địa linh nhân kiệt” có bề dày lịch sử, văn hóa và giàutruyền thống cách mạng

1.1.3.1 Truyền thống văn hóa

Nhân dân Hng Nguyên - là c dân của Việt cổ sinh sống từ trớc thời vuaHùng, nên đã kế thừa đợc nhiều truyền thống văn hóa của tổ tiên Hiện nay toànhuyện còn lu giữ đợc trên 60 di tích lịch sử, văn hóa trong đó 10 di tích đã đợcxếp hạng quốc gia, 4 di tích đợc xếp hạng cấp tỉnh Đây là một di sản vô giáchứng minh truyền thống văn hóa, yêu nớc và cách mạng của mảnh đất địa linhnày

Hng Nguyên có đền Chiêu Trng tại làng Triều Khẩu (Hng Khánh ngàynay) thờ Lê Khôi, vị danh tớng có công lớn phò vua Lê đánh quân Minh đầu thế

kỉ XV Đây là một trong 4 ngôi đền thờ đẹp nổi tiếng miền trung mà nhân dânNghệ An vẫn tự hào: “Đền Cờn, đền Quả, Bạch Mã, Chiêu Trng”

Đền An Quốc ở xã Nghĩa Liệt cũ (Hng Lam ngày nay) là đền thờ Nghĩa

sĩ Đại vơng Nguyễn Biểu Năm 1413 vua Trần Trùng Quang cử ông đến doanhtrại của Trơng Phụ - tớng nhà Minh, ở rú Thành để thơng thuyết Nhằm lung lạctinh thần ông, tớng giặc bày trò độc ác thiết tiệc “cỗ đầu ngời”, chẳng những

ông không hề run sợ mà còn mắng vào mặt Trơng Phụ Không khuất phục đợc

ông, tại đây quân giặc đã sát hại ông

Trang 9

Đền vua Lê đợc xây dựng từ thế kỉ XV tại làng Lộc Điền - Hng Khánhngày nay - là một di tích lịch sử thể hiện lòng biết ơn và sùng kính của nhân dânnơi đây đối với vị anh hùng cứu nớc Lê Lợi và các vị vua khác nh: Lê ThánhTông, Lê Nhân Tông Ngôi đền là một công trình kiến trúc bề thế ở HngNguyên.

Đặc biệt Hng Nguyên còn nổi tiếng với Lam Thành Sơn Núi Thành vừa

là một di tích lịch sử lâu đời, hiện là di tích lịch sử cấp quốc gia vừa là danh lamthắng cảnh từng làm say lòng bao nhà thơ, danh nhân đất nớc đến đây vãn cảnh

và để lại nhiều bài thơ còn lu truyền trong sử sách: La sơn Phu tử Nguyễn Thiếp,Bùi Dơng Lịch Ngay cả vua hiền, nhà thơ tài giỏi Lê Thánh Tông cũng từng

đến đây (1470) và để lại bài thơ “Vịnh cảnh Lam Thành”

ở núi Thành còn có dấu tích của thành Nghệ An Bởi sau chiến thắng trớcquân Thanh vua Lê đã chọn nơi đây làm lỵ sở trong nhiều thế kỉ

Hng Nguyên còn là nơi đặt trờng thi Hơng của Nghệ An Trờng thi đặt ởvùng tả ngạn sông Lam cạnh lỵ sở Nghệ An, đến nay vết tích không còn Trờngthi Hơng ở Lam Thành đã góp công tuyển chọn đào tạo hàng trăm ông cống,

ông nghè trên vùng Nghệ Tĩnh

Với truyền thống hiếu học, Hng Nguyên thời nào cũng có đóng góp một

số vị đại khoa để lại tếng thơm muôn đời

Tiến sĩ Thái Tất Tiên quê làng An Nậu (nay là xóm 2 xã Hng Thông) đậuTiến sĩ đời Lê Thánh Tông (1443 - 1497) giữ chức Tham chính triều Lê

Lê Giám quê ở Phù Long (Hng Long ngày nay) đỗ đồng Tiến sĩ nămHồng Đức thứ 9 giữ chức Lại thị bộ Hữu lang, Nhập thị kinh diên

Ngô Quang Tổ quê ở Hơng Cái (Hng Tây) đỗ tiến sĩ đời vua Uy Mục(1505 - 1509) giữ chức hiến sát xứ Thuận Hoá

Đinh Bạt Tụy quê ở Bùi Ngõa (xã Hng Trung ngày nay) đỗ đầu chế khoa,tức khoa thi đặc biệt do nhà vua quyết định đời Lê Trung Tông (1549 - 1556)giữ chức binh bộ thợng thợng th, tớc Khê quận công

Nguyễn Văn Thông quê ở Hơng Cái (Hng Tây, Hng Nguyên) đỗ Tiến sĩ

đời vua Thế Tông (1573 - 1600) giữ chức Binh bộ cấp chỉ huy

Ngoài các vị trạng nguyên tiến sĩ kể trên, ở Hng Nguyên sau này còn córất nhiều ngời đỗ đạt cao nh: Nguyễn Quang Thiện, Đinh Bạt Hiền

Hng Nguyên là quê hơng của nhiều lễ hội truyền thống nh: Lễ hội rớchến, hội đua thuyền trên sông Lam Đặc biệt lễ hội đền ông Hoàng Mời (Hng

Trang 10

Thịnh) là lễ hội vùng đậm nét văn hóa tâm linh, khơi dậy tiềm năng du lịch gắnvới quần thể di tích dọc sông Lam.

1.1.3.2 Truyền thống yêu nớc và cách mạng

Hng Nguyên vốn là mảnh đất địa linh, luôn tồn tại, phát triển cùng vớichiều dài của lịch sử đất nớc Mảnh đất này đã tạo ra các dòng đời trung dũng,cần cù khí tiết và cũng đúng từng thời khắc của lịch sử sản sinh ra những conngời u tú góp phần cùng dân tộc vợt qua khó khăn thử thách, giữ vững giangsan

Hng Nguyên là đất tổ của vị anh hùng dân tộc kiệt xuất Nguyễn Huệ

(H-ng Thái), (H-ngời viết nên nhữ(H-ng tra(H-ng sử chố(H-ng (H-ngoại xâm vô cù(H-ng oanh liệt vàocuối thế kỉ XVIII

Hng Nguyên là quê hơng của Nguyễn Trờng Tộ (Hng Trung), một trí thứctheo đạo Thiên chúa yêu nớc, đã có công dâng lên vua Tự Đức nhiều bản điềutrần nhằm canh tân đất nớc Trí tuệ lỗi lạc của ông vợt hẳn trên tầm thời đạigiữa thế kỉ XIX ở Việt Nam Tiếc thay trí tuệ lỗi lạc ấy đã bị quên lãng nh mộtluồng ánh sáng dội vào đám sơng mù dày đặc lúc bấy giờ Đã hơn 100 năm kể

từ ngày ông qua đời mà t tởng của ông vẫn có giá trị, ngời đời đã khắc vào bia

mộ của ông dòng chữ “Tiếc thay quốc dân thì muộn nảy lộc, tiên sinh lại sớm lytrần”

Từ khi Pháp xâm lợc nớc ta, Hng Nguyên là một trong những nơi hởngứng và tham gia mạnh mẽ phong trào Văn Thân, Cần Vơng, Đông Du

Cụ Nguyễn Diên ở tổng Yên Trờng, ông Nguyễn Trọng Khánh (tức Tổnggiáo Khánh ở Hoàng Cần) đứng ra chiêu tập nghĩa quân và phối hợp chiến đấucùng nghĩa quân của Phan Đình Phùng ở Hà Tĩnh, Nguyễn Xuân Ôn ở DiễnChâu

Hầu khắp các làng xã Hng Nguyên đều có ngời tham gia nghĩa quân hoặcxuất tiền bạc, thóc gạo ủng hộ phong trào ở làng Phúc Hậu (Hng Xuân ngàynay) có cụ Nguyễn Thị Lân đã giao toàn bộ gia tài cho con trai và con rể đứng

ra chiêu tập nghĩa quân rèn vũ khí, sắm quân lơng, tham gia nghĩa quân Phan

Đình Phùng chống Pháp

Trong phong trào Duy Tân và Đông Du, nhà thờ họ Võ Tú Lang (xã H ngXá) là một trong những cơ sở tụ họp thanh niên ra nớc ngoài du học và xuất d-

ơng tìm đờng cứu nớc Nhiều ngời đã trở thành bất tử vì cống hiến trọn đời cho

sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc nh: Hồ Tùng Mậu, Lê Hồng Sơn,Phạm Hồng Thái, Lê Hồng Phong

Hng Nguyên giàu truyền thống cách mạng mà đỉnh cao là phong trào XôViết Nghệ Tĩnh (12/9/1930) Chính Lê Hồng Phong trong bài viết “Phú Nghệ

Trang 11

An đỏ” (1940) đã ca ngợi phong trào Xô Viết Nghệ Tĩnh “có tiếng vang dộikhắp toàn cầu” mở ra cho cách mạng Đông Dơng một kỉ nguyên mới - kỉnguyên của giai cấp công nhân, nông dân vùng dậy làm chủ [3;163]

Trong hai cuộc trờng kì kháng chiến chống Pháp, chống Mĩ, Đảng bộ vànhân dân Hng Nguyên đã không quản gian khổ, hy sinh, lập nhiều chiến công tolớn, đợc nhà nớc phong tặng danh hiệu “Anh hùng lực lợng vũ trang nhân dân”vào năm 1997

Hng Nguyên nói riêng, xứ Nghệ nói chung, trong lịch sử là một miền quêchịu nhiều đau khổ nhng cũng để lại cho đất nớc qua mọi thời kì lịch sử nhữngniềm tự hào chính đáng Miền quê ấy chứa đựng nhiều truyền thống quý báucủa dân tộc Việt Nam - truyền thống anh dũng, kiên cờng, bất khuất, cần kiệm,giản dị, bền bỉ, chịu thơng, chịu khó, giàu đức hy sinh và sẵn có tinh thần đoànkết, giúp đỡ

Quê hơng và con ngời Hng Nguyên cũng mang đầy đủ bản sắc chung củaquê hơng, con ngời xứ Nghệ Về vùng đất này sinh thời cố Tổng bí th Lê Duẩn

đã nhận định “trong nớc ta hàng ngàn năm nay, Nghệ An là nơi xây dựng cơ sở

để chống ngoại xâm, giữ vững nớc nhà Khi nào phía bắc mất, ngời ta lại vào

đây để xây dựng lực lợng gây dựng sức mạnh, giải phóng cả nớc Do cái cơ sở vịtrí truyền thống đó mà chúng ta không lấy làm ngạc nhiên khi ở Nghệ An đãsinh trởng những lãnh tụ vĩ đại của dân tộc” [7;24] Đó là những danh nhân nh:Phan Bội Châu, Hồ Chí Minh, Lê Hồng Phong

1.2 Lê Hồng Phong cuộc đời và sự nghiệp

Khi ca ngợi về những cống hiến của đồng chí Lê Hồng Phong và cáclãnh tụ cách mạng của dân tộc, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nói: “các đồngchí ta nh đồng chí Lê Hồng Phong… ở Nghệ An còn có rất nhiều đền đài thần tích và trăm nghìn đồng chí khác đã đặt lợi íchcủa Đảng, của cách mạng, của giai cấp, của dân tộc lên trên hết, lên trớc hết.Các đồng chí đó đã tin tởng sâu sắc, chắc chắn vào lực lợng vĩ đại và tơng lai vẻvang của giai cấp và của dân tộc Các đồng chí ấy đã vui vẻ hy sinh hết thảy, hysinh cả tính mệnh mình cho Đảng, cho giai cấp, cho dân tộc Các đồng chí ấy đã

đem xơng máu của mình vun tới cho cây cách mạng, cho nên cây cách mạng đãkhai hoa kết trái nh ngày nay” [3]

Đã hơn 60 năm, đồng chí Lê Hồng Phong vĩnh biệt chúng ta, tìm về vớilịch sử và quê hơng, con ngời và sự nghiệp cách mạng của đồng chí vẫn tỏa sánglấp lánh, giữ nguyên giá trị của một nhân cách “sống đã vì cách mạng của anh

em ta, thác cũng vì cách mạng chẳng nề hà” Cuộc đời Lê Hồng Phong ngắnngủi (1902 - 1942) nh bao chiến sĩ cách mạng khác đã ngã xuống hy sinh, vì sựnghiệp giải phóng dân tộc khi độ tuổi đang chín muồi về trí tuệ sáng tạo Nhng

Đảng và dân tộc đánh giá con ngời không phải ở độ ngắn dài của cuộc sống, mà

Trang 12

ở những gì ngời đó đã cống hiến cho Đảng và nhân dân, ở tấm gơng xả thân vìcách mạng và khí phách hiên ngang anh dũng trớc quân thù Lê Hồng Phong làmột ngời nh thế.

Cuộc đời và sự nghiệp Lê Hồng Phong có thể chia thành 4 thời kì nh sau:

1.2.1 Thời kì hình thành tiền đề chí hớng cách mạng (1902 - 1923)

Đây là thời kì gắn liền với tuổi thơ của ngời tại quê hơng, từ lúc trởngthành đến lúc lên đờng xuất dơng sang Xiêm (1924) Kể về cuộc đời của đồngchí Lê Hồng Phong, trớc hết hãy xin bắt đầu từ gia đình, thời niên thiếu, từ làng

Đông, tổng Thông Lạng của xứ Nghệ, miền Trung

Cuối thế kỷ XIX đầu thế kỉ XX, đất nớc phải oằn mình chịu nỗi nhục mấtnớc, chìm trong nô lệ Ngời dân Hng Nguyên cũng cùng chung số phận đói khổkiếm sống qua ngày Làng Đông, tổng Thông Lạng, phủ Hng Nguyên (ngày nay

là xóm 10 xã Hng Thông, huyện Hng Nguyên) là một vùng đồng chiêm trũnggần nh nằm lọt vào giữa địa giới của Hng Nguyên Dới chế độ thuộc địa của đếquốc Pháp và ách cai trị của giai cấp phong kiến, điều kiện canh tác lạc hậu,nhân dân ở đây rất khó làm ăn sinh sống Mùa màng thờng thất bát vì gió bãongập lụt nên đời sống của dân làng luôn đói rách quanh năm Nhân dân địa ph-

ơng còn lu truyền câu ca ai oán [6;33]:

Cây đa ba nhánh chín cồi

“…Cây đa ba nhánh chín cồi

Ai về Thông Lạng cây còi lúa ngô”

Nhiều ngời trong làng, tổng thuộc câu ca ấy nh thông thuộc hết cuộc đờinghèo khổ của mình Cảnh nghèo khổ “cày ăn, đào uống, lao đao”, cha lúc nàongơi đói rét của quê hơng nh sau này Lê Hồng Phong viết trong một bài phú, đãdiễn ra hàng nghìn đời trớc đó và cho đến khi anh lớn lên cũng cha hề mảy maythay đổi [3;163]

Lê Huy Doãn (sau này là Lê Hồng Phong) sinh ra trong một gia đình vàdòng họ có truyền thống Theo Lê Văn Đại (Tộc trởng họ Lê), thì họ Lê là dòng

họ lớn trong cộng đồng dân tộc Việt Nam Họ Lê có bốn chi lớn riêng ở Nghệ

An có 400 đinh, Lê Hồng Phong thuộc về chi cả Vào thời nhà Mạc, thủy tổ của

đại tộc họ Lê là Lê Văn Hợi từ Thanh Hóa di c vào lập nghiệp tại đất ThôngLạng, tính cho đến Lê Hồng Phong là di duệ đời thứ 13 của Đại tộc họ Lê Họ

Lê ở Nghệ Tĩnh là một trong những họ có nhiều ngời đỗ đạt, giúp triều đình loviệc nớc Các thế hệ con cháu ở Thông Lạng vẫn luôn tự hào về thủy tổ củamình Qua quá trình phát triển, dòng họ Lê đã xây dựng đợc một truyền thốngtốt đẹp là sống đoàn kết, thật thà chất phác, hiếu học, cần cù chịu khó trong lao

động

Trang 13

Thân sinh Lê Hồng Phong là cụ Lê Huy Quán - di duệ 12 đời của đại tộc

họ Lê, vốn là ngời thông minh hiếu học, nhng không gặp may trên đờng khoa

cử Thi không đỗ đạt, ông sống ở quê và làm gia s Theo ông Lê Văn Ngũ - ngờigọi Lê Hồng Phong bằng bác - cho biết thì cụ Quán có tham gia cung ứng lâmsản cho triều đình nên đợc phong tớc “cửu phẩm”

Thân mẫu của đồng chí là Phan Thị San - ngời phụ nữ giàu nghị lực đảm

đang chịu thơng, chịu khó, tần tảo quanh năm nuôi con ăn học

Ông Quán lập gia đình sinh sống tại làng Đông, tổng Thông Lạng và có

đợc 5 ngời con: con gái đầu là Lê Thị Hu, con thứ 2 là Lê Thị Vân, tiếp đến làcon trai Lê Huy Soạn, thứ 4 là Lê Huy Doãn, thứ 5 là cô em út Lê Thị Em

Lê Huy Doãn sinh ngày 6/9/1902 tại thôn Đông, tổng Thông Lạng, phủHng Nguyên (Hng Thông - Hng Nguyên ngày nay) Lúc còn nhỏ tuổi, Doãn làmột cậu bé thông minh, nhanh nhẹn, thơng ngời Thấy con sáng dạ, cụ Quán đãtạo mọi điều kiện cho cậu con trai đợc đi học

Cũng ngay từ lúc nhỏ, cậu Doãn đã phải chứng kiến cảnh đói nghèo củagia đình và quê hơng Cậu học lớp vỡ lòng của cuộc đời thì sớm, nhng lớp vỡlòng thực sự ở trờng thì rất muộn Lên 10 tuổi, cậu Doãn mới đợc cho đi theohọc chữ Nho trong các lớp do cha dạy

Sau khi chiếm và đặt ách thống trị ở nớc ta, thực dân Pháp mở trờng họcchữ Pháp và chữ Quốc ngữ ở tổng Thông Lạng Mặc dù nhà nghèo, lúc nàyDoãn đã 12 tuổi và nghề dạy học chữ Nho của ông Quán đã quá ế ẩm, nhng vớitruyền thống hiếu học, Doãn đợc cha mẹ cho đến trờng Vốn thông minh vàchăm chỉ anh Doãn học rất giỏi Sau 4 năm học, anh đợc vợt lớp nhng vẫn muộn

so với tuổi 16 Cuối năm 1916, Lê Huy Doãn đã học xong bậc sơ học, nhng mộtcái tang đến với anh: ngời cha kính yêu qua đời, mất cha anh mất chỗ dựa chủyếu trong gia đình Tuy đã đậu bằng sơ học yếu lợc, nhng Doãn thôi học xin đilàm công giúp đỡ mẹ

Không có điều kiện học tiếp nữa, Lê Huy Doãn ra Vinh làm th kí chohiệu buôn “L Thục đại dợc điếm” do một Hoa kiều giàu có làm chủ Trong thờigian này, Lê Huy Doãn mở rộng mối quan hệ với các tầng lớp xã hội, kết bạnvới nhiều bạn trẻ, trong số đó anh rất tâm đầu ý hợp với Phạm Thành Khôi(Phạm Hồng Thái) là ngời cùng quê (Hng Nhân - Hng Nguyên), đang làm việctại nhà máy Diêm Bến Thủy Hai ngời tỏ ra đồng cảm thờng gặp nhau để luậnbàn việc nớc

Một thời gian sau, vì bất mãn với những vịệc làm thiếu tính nhân văn của

L Thục, Lê Huy Doãn bỏ việc rời khỏi Đại dợc điếm

Trang 14

Đợc sự giúp đỡ của Phạm Thành Khôi, Lê Huy Doãn đã vào học nghề thợmáy ở nhà máy Diêm Bến Thủy, từ đó hai ngời cùng làm việc và hoạt động vớinhau Chính trong thời gian này, Lê Huy Doãn tận mắt chứng kiến cuộc sống bịbóc lột, áp bức bất công của nhân dân lao động do thực dân phong kiến gây ra,

và chính bản thân cũng đã thể nghiệm cuộc sống đó khi với thân phận là ngờithợ làm thuê Không chịu nổi cảnh bóc lột dã man theo lối TBCN, Lê Huy Doãncùng Phạm Thành Khôi đã vận động công nhân chống lại bọn chủ và cai kí.Việclàm của hai anh đợc công nhân nhà máy Diêm hởng ứng nhiệt liệt, nhng bọn taysai đã tố giác với địa chủ ngời Pháp, nên hai anh bị chúng đuổi khỏi nhà máy

Bị đuổi việc, hai anh lại xin làm trong các nhà máy ở ngoài Bắc Lê HuyDoãn làm công cho một hãng sữa chữa ô tô Đợc một thời gian, công việc thấtthờng anh nghỉ về quê

Cũng theo ông Lê Văn Ngũ, trong khoảng thời gian vào năm 1921, khi LêHuy Doãn đến tuổi trởng thành, với sự sắp đặt của gia đình, Lê Huy Doãn đã cới

vợ ngời họ Trần, ở làng Láng cùng xã Hai vợ chồng có chung một ngời con gái

đặt tên là Lê Thị Dục Sau này khi Lê Huy Doãn xuất dơng và hoạt động cáchmạng biệt tin tức, gia đình đã cho bà xuất giá lấy chồng, còn ngời con gái ở vớibác ruột sau đó bị bệnh nặng rồi mất

Ngày 17/2/1924 (tức 13/1/năm Giáp Tý), Lê Huy Doãn, Phạm ThànhKhôi cùng một số ngời khác đi theo đờng hớng mà nhiều văn thân sĩ phu yêu n-

ớc đã đi Đoàn ngời theo đờng bộ vợt núi rừng Trờng Sơn qua Lào để tới Xiêm

Để bớc vào một giai đoạn mới hoạt động nơi đất khách quê ngời, hai anh đãquyết định đổi tên và lấy chữ “Hồng” làm tên đệm: Lê Huy Doãn đổi thành LêHồng Phong; Phạm Thành Khôi đổi thành Phạm Hồng Thái

Nh vậy, để trở thành một lãnh tụ cách mạng xuất sắc của dân tộc thì ngay

từ đầu Lê Hồng Phong đã có những nhân tố hết sức quan trọng làm tiền đề vớinhân tố khách quan: 1-Thời điểm lịch sử đầy biến cố sôi động; 2- Bề dày truyềnthống văn hóa, kiên cờng, bất khuất của quê hơng là cái nôi hun đúc nên nhâncách Lê Hồng Phong; 3 - Thực trạng xã hội thực dân phong kiến và quá trìnhrèn luyện trong thực tế đã nâng cao nhận thức chính trị của Lê Hồng Phong.Ngoài ra còn có sự tác động của phong trào xuất dơng tìm đờng cứu nớc và mốiquan hệ tơng hỗ giữa những ngời bạn cùng chí hớng Tất cả những nhân tố ấycộng với nhân tố chủ quan: một con ngời có trí tuệ thức thời, bản lĩnh vữngvàng, ý chí quyết tâm cao đã tạo nên động lực để Lê Hồng Phong quyết định lựachọn sự nghiệp cách mạng cho cuộc đời mình đầy chông gai thử thách

Trang 15

1.2.2 Thời kì tích luỹ tri thức lí luận và thực tiễn cách mạng tại hải ngoại (1924 - 1931)

Những năm 1924 - 1931, là giai đoạn đồng chí Lê Hồng Phong hoạt động

và học tập không mệt mỏi ở xứ ngời với tâm niệm rằng: “Bậc anh hùng trợngphu đã một lần thợng mã, thì chớ bao giờ xuống ngựa nếu nghiệp lớn chathành”

Tới Xiêm, Lê Hồng Phong cùng các đồng chí của anh đợc cơ sở yêu nớccủa Việt kiều đón tiếp rồi đa về trại cày Phi Chịt của ông Đặng Thúc Hứa LêHồng Phong và Phạm Hồng Thái đợc tổ chức vào nhóm vừa học tập văn hóa,vừa tham gia sản xuất để tự túc lơng thực và gây quỹ cho đoàn thể cách mạng.Các anh còn đợc giao nhiệm vụ vận động kiều bào tham gia hoạt động cứu nớc

Qua thời gian học tập, lao động và rèn luyện thử thách, đầu mùa hè 1924,

Lê Hồng Phong, Phạm Hồng Thái cùng 6 thanh niên khác đợc Đặng Thúc Hứalựa chọn sang Quảng Châu (Trung Quốc) để tiếp tục học tập và hoạt động

Khi Lê Hồng Phong, Phạm Hồng Thái đến Quảng Châu, các anh đợc LêHồng Sơn giới thiệu kết nạp vào “Tâm Tâm xã” - một tổ chức yêu nớc của ngờiViệt Nam ở Trung Quốc Ngày 19/6/1924, Phạm Hồng Thái đợc Tổ chức giaonhiệm vụ trừng trị tên toàn quyền Méclanh; Lê Hồng Phong và Lê Hồng Sơn đ-

ợc giao nhiệm vụ hỗ trợ và khi cần thiết giải vây cho Phạm Hồng Thái Sự việckhông thành, nhng tiếng bom Sa Diện và sự hy sinh oanh liệt của Phạm HồngThái “nh chim én nhỏ báo hiệu mùa xuân”, kích thích động viên lòng yêu nớccủa thanh niên Việt Nam ở trong nớc, thúc dục họ hăng hái lên đờng cứu nớc

Tinh thần hy sinh của ngời bạn chí cốt đã khích lệ Lê Hồng Phong rấtnhiều trên con đờng chiến đấu đầy chông gai sau này Nhng hiện tại anh rất bănkhoăn là đi theo con đờng cứu nớc gì đây?, tiếp tục với con đờng của “Tâm Tâmxã” thì không có gì sáng sủa

Chính giữa lúc đó, Nguyễn ái Quốc đến Trung Quốc với t cách là nhàhoạt động của Quốc tế Cộng sản, có nhiệm vụ chuẩn bị điều kiện để thành lập

ĐCS Việt Nam Tới đây, Nguyễn ái Quốc đã tìm cách tiếp xúc với nhóm ngờiViệt Nam yêu nớc ở Trung Quốc trong đó có Lê Hồng Phong, Lê Hồng Sơn

Đối với Lê Hồng Phong cuộc gặp gỡ đầu tiên với Nguyễn ái Quốc,những băn khoăn của anh về con đờng cứu nớc đã đợc giải đáp Từ đây anh trởthành ngời học trò, ngời đồng chí và ngời chiến sĩ chiến đấu dới lá cờ của Ngời

Lê Hồng Phong đã tham gia lớp huấn luyện chính trị đầu tiên của Nguyễn

ái Quốc Lớp học nhằm truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin, đờng lối cách mạngvô sản Kết thúc khóa huấn luyện, Lê Hồng Phong cùng Lê Hồng Sơn, Hồ Tùng

Trang 16

Mậu và một số ngời khác đợc Nguyễn ái Quốc lựa chọn vào nhóm bí mật, vàkết nạp thành những ngời cộng sản dự bị Cuối tháng 6/1925, theo chủ trơng củaNguyễn ái Quốc, “Hội Việt nam Thanh Niên cách mạng” đợc thành lập; LêHồng Phong là một trong những hạt nhân đỏ của Hội và cũng là ngời đợc giaonhiệm vụ tiếp tục mở các khóa huấn luyện của hội.

Tin tởng vào khả năng của Lê Hồng Phong và để huấn luyện anh mộtcách toàn diện, có hệ thống đảm bảo lâu dài cho cách mạng, Nguyễn ái Quốc

đã giới thiệu Lê Hồng Phong vào học trờng Quân sự Hoàng Phố - trờng chủ yếu

đào tạo cán bộ quân sự cho cách mạng Trung Quốc, ngoài ra còn đào tạo cán bộquân sự cho một số nớc nh: Triều Tiên, Xiêm, Việt Nam

Cuối năm 1925, Lê Hồng Phong tốt nghiệp trờng Quân sự Hoàng Phố vàtiếp tục đợc chuyển sang học trờng không quân ở Quảng Châu Tại trờng nàyngày 10/2/1926, đồng chí đợc kết nạp vào ĐCS Trung Quốc

Do học xuất sắc, đồng chí đợc cử sang Liên Xô học tập và lấy tên làLítvinốp Từ tháng 10/1926 đến tháng 12/1927, Lítvinốp tốt nghiệp trờng Líluận quân sự không quân ở Lêningrát Đồng chí lại vào học trờng Đào tạo phicông quân sự tại Bôrítxglépxcơ Đây là những trờng lí luận thực hành quân sựkhông quân, đào tạo cán bộ, chiến sĩ lái máy bay của quân đội Liên Xô LêHồng Phong trở thành phi công đầu tiên của Việt Nam

Đến tháng 12/1928, do yêu cầu đào tạo cán bộ cách mạng cho Đông

D-ơng, đồng chí Lê Hồng Phong đợc chuyển vào học tại trờng Đại học cộng sảnPhơng Đông Lê Hồng Phong vào học khóa dài hạn ba năm và trở thành Đảngviên ĐCS (b) Nga Đồng chí đợc học tập, nghiên cứu một cách có hệ thống líluận của Chủ nghĩa Mác - Lênin, lịch sử cách mạng thế giới, lịch sử ĐCS LiênXô, một số ngoại ngữ học lí luận gắn liền với tham quan thực tế công cuộcxây dựng CNXH ở Liên Xô, liên hệ thực tiễn đang gay gắt của cuộc đấu tranhchống chủ nghĩa thực dân ở Đông Dơng

Tốt nghiệp Trờng Đại học Cộng sản Phơng Đông, Lê Hồng Phong vàohọc tiếp năm thứ nhất nghiên cứu sinh, đang học dở dang thì tháng 11/1931,theo ý kiến của Nguyễn ái Quốc, đồng chí đợc cử về nớc tham gia công tác củaBCHTW Đảng

Nh vậy dới sự hớng dẫn, dìu dắt của Nguyễn ái Quốc, và sau những nămhoạt động học tập nghiên cứu, Lê Hồng Phong đã thu nhập đợc vốn kiến thứcphong phú Điều đó giúp đồng chí góp phần cùng TW Đảng lãnh đạo giải quyếtnhiều vấn đề có ý nghĩa lịch sử trong thực tiễn cách mạng Việt Nam những năm

Trang 17

sau đó Ngay lúc bấy giờ, Quốc tế Cộng sản đã hoàn toàn tin tởng vào khả năng

và năng lực lãnh đạo Đảng, lãnh đạo phong trào cách mạng của Lê Hồng Phong

1.2.3 Thời kì chủ trì công việc lãnh đạo của Đảng (1932 - 1937)

Thời kì chủ trì công việc lãnh đạo trong những năm cách mạng Việt Namcực kì khó khăn cũng là thời kì Lê Hồng Phong có những cống hiến to lớn trong

sự nghiệp cách mạng dân tộc Lê Hồng Phong là ngời giữ cơng vị cao nhất của

Đảng trong những năm 1932 - 1937: Bí th Ban chỉ huy ở ngoài của Đảng từtháng 3/1934, ngời đứng đầu danh sách BCHTW Đảng tại Đại hội lần thứ nhấtcủa Đảng (3/1935), trởng đoàn đại biểu Đảng tại Đại hội VII Quốc tế Cộng sản,

ủy viên BCH Quốc tế Cộng sản

1.2.3.1 Cống hiến lớn nhất của Lê Hồng Phong là đã góp phần quan trọng phục hồi và thúc đẩy hoạt động của Đảng khi cách mạng gặp bớc thoái trào.

Sau một thời gian dài học tập và tham gia các tổ chức cách mạng ở nớcngoài, Lê Hồng Phong tích luỹ đợc tri thức lí luận chính trị và quân sự tơng đốihoàn chỉnh nhất lúc bấy giờ Điều quan trọng là đa những kiến thức đó áp dụngvào thực tiễn cách mạng Việt Nam

Cách mạng Việt Nam lúc này ở vào một thời điểm khó khăn tởng chừngkhông vợt qua nổi Sau cao trào Xô Viết Nghệ Tĩnh 1930 - 1931, cách mạngViệt Nam bị địch khủng bố mạnh, phải chịu những tổn thất lớn Hầu hết các

đồng chí ủy viên TW, các đồng chí trong các xứ ủy Bắc Kì, Trung Kì, Nam Kì

đều bị bắt, truy nã, kết án tử hình nh: Trần Phú, Ngô Gia Tự Thực dân Pháp ở

Đông Dơng còn câu kết với đế quốc Anh ở Hồng Công và bọn quân phiệt ởTrung Quốc, Thái Lan truy lùng cán bộ của Đảng ta ở nớc ngoài Ngày6/6/1931, đồng chí Nguyễn ái Quốc bị nhà cầm quyền Anh bắt giam trái phép ởHơng Cảng Đảng ta đứng trớc những khó khăn lớn

Trớc tình hình đó, Lê Hồng Phong tìm đờng về nớc với nhiệm vụ nặng nề:tìm ngời chắp nối lại phong trào, chỉ đạo việc tổ chức khôi phục và phát triểncác tổ chức Đảng, tiếp tục đa phong trào cách mạng vợt qua sóng gió để tiếnlên

Cuối năm 1931 trở về Tổ quốc, Lê Hồng Phong phải đóng vai một ngờiTrung Quốc giàu có, đi du lịch với tấm hộ chiếu mang tên Vơng Dật Dân TớiTrung Quốc, đồng chí bắt liên lạc với cơ sở của Đảng ta ở Thợng Hải, QuảngChâu, Ma Cao nhng đều không gặp đợc vì các cơ sở đó tan rã hết Mặt khácmuốn về nớc cũng không đợc vì biên giới trên bộ bị phong tỏa ngặt nghèo

Đồng chí đến Xiêm hy vọng tới Trại cày Đặng Thúc Hứa gặp các đồng chí của

Trang 18

Đảng lánh nạn tại đây Song tới Băng Cốc, đồng chí đã bị cảnh sát bao vây chặtchẽ và phải trở lại Hồng Công sau 10 ngày.

Đến đầu 1932, Lê Hồng Phong mới bắt liên lạc đợc với các đồng chíHoàng Đình Giong, Hoàng Văn Thụ, Hoàng Văn Nọn ở Nam Ninh (QuảngTây) Đồng chí về gần biên giới Việt - Trung mở lớp đào tạo cán bộ, gây dựngcơ sở trong vùng đồng bào dân tộc, nhờ đó phong trào đợc nhen nhóm Trongthời gian hoạt động ở Quảng Tây, đồng chí bị cảnh sát của chính quyền QuốcDân Đảng bắt giam, nhng vì không tìm thấy tài liệu tuyên truyền cộng sản,chúng buộc phải trả tự do cho đồng chí

Đợc trả tự do, Lê Hồng Phong không thể tiếp tục ở lại Nam Ninh mà tìm

về cơ sở Đảng ở Long Châu Tại đây đồng chí đã giúp Hoàng Văn Thụ, Hoàng

Đình Giong học tập lí luận và kinh nghiệm công tác trong thời kì bị địchkhủng bố trắng

Tháng 4/1932, Lê Hồng Phong cùng một số Đảng viên còn lại ở trong

n-ớc và ngoài nn-ớc tổ chức ra Ban lãnh đạo TW của Đảng Tháng 6/1932, Ban lãnh

đạo TW đã soạn thảo bản “Chơng trình hành động” trong đó có sự tham gia của

Lê Hồng Phong Đây là một văn kiện chính trị quan trọng, khẳng định đờng lối

đúng đắn của Đảng và vạch kế hoạch thực hiện đờng lối đó trong tình hình mới

Tháng 3/1934, Ban chỉ huy ở ngoài gồm 3 ngời: Lítvinôp (Lê HồngPhong) làm Th kí - bí th, Xinhitxkin (Hà Huy Tập): trởng ban tuyên truyền kiêmphụ trách tạp chí Bônsơvích; Savan (Nguyễn Văn Dựt): trởng ban kiểm tra Banchỉ huy ở ngoài của Đảng là cơ quan lãnh đạo của BCHTW Đảng, đợc quyềnthay mặt Đảng trong quan hệ Quốc tế Cộng sản và các Đảng anh em; có quyền

cử ngời tham gia công tác lãnh đạo và kiểm tra đối với BCHTW Đảng ở trong ớc

n-Dới sự chỉ đạo của Lê Hồng Phong tháng 6/1934, Ban chỉ huy ở ngoài đãtriệu tập hội nghị Đảng ở Ma Cao và tích cực chuẩn bị Đại hội Đảng lần thứnhất vào năm sau Hội nghị đã trao đổi nhiều báo cáo về tình hình Đông Dơng,quốc tế, tình hình hoạt động của Đảng ở Bắc Kì, Trung Kì, Nam Kì… ở Nghệ An còn có rất nhiều đền đài thần tích

Sau Hội nghị tháng 6/1934, Ban chỉ huy ở ngoài đã cử Savan về Nam Kìvới t cách thanh tra và đại diện của Ban chỉ huy ở ngoài để tổ chức Xứ ủy NamKì Sau hai tháng Ban chấp ủy Nam Kì lâm thời đợc thành lập, các cơ sở Đảngtrong nớc hoạt động trở lại Trên thực tế, Ban chỉ huy ở ngoài có vai trò nh mộtBCHTW lâm thời đã thực sự điều hành công việc khôi phục cơ sở Đảng vàhoạch định, truyền đạt chủ trơng, đờng lối của Đảng trên phạm vi cả nớc

Trang 19

Những hoạt động lí luận và thực tiễn của Lê Hồng Phong đã góp phần đa cáchmạng Việt Nam sang giai đoạn phục hồi và phát triển mới.

Cha kịp tổ chức Đại hội lần thứ nhất của Đảng thì đồng chí Lê HồngPhong đợc triệu tập đi dự Đại hội lần thứ VII Quốc tế Cộng sản Đảng ta cử

đoàn gồm 3 đại biểu: Lê Hồng Phong - trởng đoàn; Nguyễn Thị Minh Khai vàHoàng Văn Nọn Ngày 25/7/1935, Đại hội lần thứ VII Quốc tế Cộng sản khaimạc tại Mátxcơva Đại hội nghe “Báo cáo chính trị” của Đimitrốp vạch rõ:

“Phải dựa vào khối liên minh công nông, thành lập mặt trận nhân dân rộng rãichống phát xít và chiến tranh, đòi tự do, dân chủ, hoà bình và cải thiện đời sống,phải tìm ra nội dung thích hợp của từng nớc, chú ý tới mức độ trởng thành khácnhau của phong trào giải phóng dân tộc ” [3;24]

Tại Đại hội, Lê Hồng Phong lấy bí danh là Hải An, đồng chí thay mặt

Đảng đã trình bày bản tham luận về phong trào cách mạng Đông Dơng dới sựlãnh đạo của Đảng do đồng chí Nguyễn ái Quốc sáng lập Bản tham luận đãphân tích sâu sắc những thắng lợi, thành công và cả những thất bại, thiếu sóttrong cuộc đấu tranh của Đảng vào những năm 1930 - 1931, nêu bật những cốgắng của Đảng trong việc khôi phục lại phong trào, và chứng minh triển vọngrộng lớn của phong trào cách mạng Đông Dơng

Cũng tại Đại hội này, Lê Hồng Phong đợc bầu là ủy viên chính thức BCHQuốc tế Cộng sản và công nhận ĐCS Đông Dơng là một phân bộ chính thức củaQuốc tế Cộng sản Điều đó nói lên ảnh hởng và uy tín của Đảng ta trong phongtrào cộng sản quốc tế

Trong khi Lê Hồng Phong đi dự Đại hội lần thứ VII Quốc tế Cộng sản,theo kế hoạch từ trớc của Ban chỉ huy ở ngoài, các đồng chí ở nhà nh: Hà HuyTập, Phùng Chí Kiên triệu tập Đại hội lần thứ nhất của Đảng tại Ma Cao(Trung Quốc) tháng 3/1935 Đại hội đề ra ba nhiệm vụ chủ yếu củng cố và pháttriển Đảng, tranh thủ tập hợp rộng rãi quần chúng, chống chiến tranh đế quốc

Đại hội bầu ra BCHTW, trong đó đồng chí Lê Hồng Phong là ngời đứng đầu

Đại hội đánh dấu việc khôi phục Đảng về tổ chức từ Trung ơng tới địa phơng,thống nhất phong trào cách mạng trong toàn quốc, quyết định các nhiệm vụ trớcmắt, chuẩn bị bớc vào thời kì đấu tranh mới

Sự phục hồi hoạt động của Đảng, tạo ảnh hởng tốt đẹp trong nớc cũng nhtrong phong trào cộng sản quốc tế, dĩ nhiên có nguồn gốc chủ yếu là lòng trungthành vô hạn, ý chí phấn đấu kiên cờng, bất khuất của đông đảo cán bộ, đảngviên, nhng trong đó có vai trò tổ chức và lãnh đạo của Lê Hồng Phong là nhân

tố có ý nghĩa đặc biệt quan trọng

Trang 20

1.2.3.2 Những cống hiến của Lê Hồng Phong trong việc khởi xớng và

chỉ đạo cuộc đấu tranh vì dân chủ và dân sinh ở nớc ta những năm 1936 1938

-Trong lịch sử ĐCS Việt Nam, Lê Hồng Phong là một trong những ngờicộng sản có nhiều đóng góp to lớn mang đậm dấu ấn cá nhân Những đóng góp

ấy cho Đảng, cho nhân dân ở thời điểm đầy cam go của lịch sử dân tộc có thểthấy rõ trên nhiều mặt, trong đó nổi bật là sự vận dụng sáng tạo đờng lối củaQuốc tế Cộng sản vào thực tiễn Đông Dơng, kịp thời điều chỉnh chiến lợc trongthời kì Mặt trận Dân chủ 1936 - 1939

Khi Đại hội VII Quốc tế Cộng sản kết thúc, để kịp thời phổ biến và thựchiện Nghị quyết của Đại hội, đồng chí Lê Hồng Phong đợc BCH Quốc tế Cộngsản ủy nhiệm về nớc trớc

Khi Lê Hồng Phong về đến Thợng Hải (Trung Quốc) thì Đại hội toànquốc lần thứ nhất của Đảng đã tiến hành trớc đó mấy tháng Nhng chính sách

đại hội vạch ra không sát với phong trào cách mạng thế giới và trong nớc lúcbấy giờ, do cha đợc soi sáng bởi tinh thần Nghị quyết Đại hội VII

Với cơng vị ủy viên BCH Quốc tế Cộng sản, đồng chí Lê Hồng Phong đãtriệu tập chủ trì Hội nghị TW Đảng vào tháng 7/1936 tại Thợng Hải Hội nghị

đã sửa chữa những thiếu sót của Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ nhất, quyết

định chuyển hớng mục tiêu và nhiệm vụ trớc mắt của cách mạng, xác định rõmục tiêu trực tiếp là đấu tranh chống chế độ phản động, chiến tranh đế quốc, đòidân chủ, dân sinh và hòa bình

Theo đề nghị của đồng chí Lê Hồng Phong, hội nghị quyết định thành lậpmột mặt trận rộng rãi lấy tên là “Mặt trận nhân dân phản đế Đông Dơng”, baogồm các giai cấp, các đảng phái, các đoàn thể chính trị, tín ngỡng, tôn giáo khácnhau và các dân tộc ở Đông Dơng để cùng nhau tranh đấu đòi những quyền dânchủ cơ bản

Vốn nhạy bén với tình hình và chú trọng tổng kết các hình thức đấu tranhcủa nhân dân Đông Dơng thời kỳ 1932 - 1935, Lê Hồng Phong chủ trơng đaquần chúng tham gia các hình thức đấu tranh công khai, bán công khai, hợppháp để mở rộng mặt trận, tuyên truyền biểu dơng thanh thế của Đảng, kiênquyết đấu tranh chống xu hớng dè dặt, quá thận trọng của thời kỳ hoạt động bímật trớc đây

Hội nghị quyết định chuyển trụ sở của BCHTW Đảng về Sài Gòn, riêng

đồng chí Lê Hồng Phong vẫn tiếp tục ở lại Thợng Hải để duy trì quan hệ vớiQuốc tế Cộng sản

Trang 21

Dới ánh sáng của Nghị Quyết hội nghị Trung ơng tháng 7/1936, lại đợcMặt trận nhân dân Pháp khích lệ, phong trào đòi dân sinh, dân chủ lan rộngkhắp Đông Dơng Trớc khí thế đấu tranh của phong trào, thực dân Pháp đã phảinhợng bộ một phần: ban bố một số quyền tự do, dân chủ và thả hơn 1000 tùchính trị.

Trớc sự lớn mạnh của phong trào cách mạng trong nớc, tháng 11/1937,

Lê Hồng Phong về nớc hoạt động với thẻ căn cớc mang tên La Anh, trong vaimột thơng nhân Trung Quốc giàu có Thời gian này ngời bạn đời của đồng chí

là Nguyễn Thị Minh Khai đã về nớc tham gia Xứ ủy Nam Kì kiêm bí th thành

ủy Sài gòn - Chợ Lớn Vì hoạt động bí mật nên Lê Hồng Phong và Nguyễn ThịMinh Khai mỗi ngời phải ở một cơ sở khác nhau nhng vẫn thờng gặp nhau bànviệc nớc Lê Hồng Phong viết tài liệu huấn luyện, viết bài cho báo Đảng, qua đóchủ yếu phát biểu quan điểm của Đảng trong thời kì Mặt trận dân chủ và đấutranh kiên quyết chống những quan điểm phản động của bọn Trốtkit

Đến tháng 3/1938, Lê Hồng Phong chỉ đạo Hội nghị BCHTW Đảng bímật tại làng Tân Thới Nhất - Sài Gòn Hội nghị quyết định thành lập “Mặt trậndân chủ Đông Dơng”, đến đây ở Đông Dơng đã có tên gọi một hình thức mặttrận thích hợp với mục tiêu cách mạng và phơng pháp hoạt động thay thế “Mặttrận nhân dân phản đế Đông Dơng” Mặt trận dân chủ nhằm tập hợp rộng rãihơn nữa đông đảo quần chúng, tranh thủ hơn nữa mọi lực lợng có thể tranh thủ.Nhờ đó phong trào đấu tranh của quần chúng tiếp tục phát triển và giành đợcnhững thắng lợi có ý nghĩa lớn

Nh vậy, những chuyển hớng chỉ đạo phong trào cách mạng là một sángtạo lớn có tầm cỡ vĩ mô của TW Đảng gắn liền với tên tuổi của ủy viên BCHQuốc tế Cộng sản Lê Hồng Phong, phù hợp với đờng lối Quốc tế Cộng sản và

đáp ứng yêu cầu cơ bản của quảng đại quần chúng nhân dân cả nớc, đã trở thànhngòi nổ đầu tiên bùng lên một cao trào cách mạng mới ở nớc ta - thời kì Mặttrận dân chủ 1936 - 1939

Tuy nhiên cũng từ giữa năm 1938, đế quốc Pháp lại tăng cờng khủng bố

ĐCS Đông Dơng, bắt bớ nhằm tiêu diệt các đồng chí lãnh đạo của Đảng Vàmột chiến sĩ tài năng, kiên cờng xuất sắc nh Lê Hồng Phong không thể nằmngoài tầm ngắm của chúng

1.2.4 Thời kì bị bắt và hy sinh oanh liệt (1939 - 1942)

Lê Hồng Phong là một tấm gơng về sự phấn đấu hy sinh vì lí tởng Cộngsản chủ nghĩa Trong hoàn cảnh vô cùng khó khăn, quyết liệt, bất kể ở cơng vịnào, khi hoạt động ở trong nớc, hay ở ngoài cũng nh khi bị giam cầm trong lao

Trang 22

tù đế quốc, Lê Hồng Phong vẫn một lòng trung thành với Đảng, với lí tởngCộng sản chủ nghĩa, vẫn mang hết sức lực cống hiến cho Đảng, cho dân tộc.

Giữa lúc chủ trơng đúng đắn của Đảng đang đợc hởng ứng mạnh mẽtrong các tầng lớp nhân dân, thúc đẩy họ đấu tranh giành nhiều thắng lợi mới thìngày 22/6/1939, đồng chí Lê Hồng Phong bị mật thám Pháp bắt Chúng tiếnhành tra tấn dã man đồng chí để khai thác tin tức bí mật, nhng không tìm đợcchứng cứ nào để kết tội Sau một thời gian giam cầm tra khảo, cuối cùng ngày30/6/1939 vì không có chứng cứ buộc tội, tòa Tiểu hình Sài Gòn đã kết án đồngchí 6 tháng tù giam và 3 năm cấm c trú do sử dụng căn cớc mang tên ngời khác

Ngày 23/12/1939, hết hạn tù giam 6 tháng, Lê Hồng Phong tuy đợc trả tự

do nhng lập tức bị trục xuất khỏi Nam Kì Toàn quyền Đông Dơng ra Quyết

định số 7910 (ngày14/11/1939) lệnh cho phủ toàn quyền Đông Dơng, thống đốcNam Kì các công sứ Cao Miên, An Nam, Ai Lao và chánh thanh tra mật thám

Đông Dơng không cho Lê Hồng Phong c trú trên toàn bộ lãnh thổ trên Để đềphòng, chúng đã trục xuất đồng chí về nguyên quán ở làng Đông, tổng ThôngLạng - Hng Nguyên - Nghệ An tiết tục quản thúc và giám sát

Mặc dù bị Nha cảnh sát đặc biệt Vinh, chính quyền thực dân phong kiến

địa phơng kiểm soát, theo dõi gắt gao, nhng đồng chí vẫn tiếp tục hoạt độngcách mạng Những ngày bị quản thúc ở quê nhà, Lê Hồng Phong vẫn viết báo,chiến đấu trên mặt trận lý luận

Năm 1939, Chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ, bọn thực dân Pháp ở

Đông Dơng càng phát xít hoá bộ máy cai trị, đàn áp khốc liệt phong trào cáchmạng Đông Dơng Chúng điên cuồng tấn công vào ĐCS Đông Dơng, lo sợ LêHồng Phong trốn thoát, tiếp tục hoạt động lãnh đạo cách mạng, chính quyềnthực dân Pháp bắt giam Lê Hồng Phong lần thứ hai vào ngày 20/1/1940

Đế quốc Pháp biết rõ Lê Hồng Phong là một cán bộ lãnh đạo quan trọngcủa ĐCS Đông Dơng, chúng giam đồng chí ở Khám lớn Sài Gòn Thực dânPháp tìm mọi cách để buộc tội xử tử đồng chí, tuy nhiên gần một năm mà chúngvẫn cha có đợc chứng cớ để khép đồng chí vào tội tử hình

Giữa lúc đó, thực dân Pháp biết đợc chủ trơng và việc chuẩn bị cho cuộckhởi nghĩa ở Nam Kì đang đợc tiến hành ráo riết khẩn trơng Ngày 30/7/1940,

đồng chí Nguyễn Thị Minh Khai bị giặc bắt Lúc đó chị là Thờng vụ Xứ ủyNam Kì, Bí th thành ủy Sài Gòn, một trong những ngời tích cực chuẩn bị chocuộc khởi nghĩa Địch bắt chị về giam ở bốt Cáctina và tra tấn hết sức dã man

Địch biết Nguyễn Thị Minh Khai là vợ của Lê Hồng Phong và giữa haingời đã có một đứa con nhỏ mấy tháng Kẻ thù dùng kế tình cảm, đa Minh Khai

Trang 23

gặp Lê Hồng Phong, hy vọng rằng hai ngời sẽ nhận nhau qua đó có chứng cứkết tội đồng chí có dính líu tới âm mu lật đổ chính phủ Nam Kì.

Nhng biết rõ âm mu nham hiểm của kẻ thù, Lê Hồng Phong và Nguyễn ThịMinh Khai cố nén tình cảm vợ chồng riêng, đặt lợi ích của Đảng, của cách mạng lêntrên hết Không hẹn nhau trớc mà cả hai đều nhất quyết không nhận nhau

Không có chứng cớ gì để buộc tội Lê Hồng Phong dính líu tới cuộc khởinghĩa Nam Kì, tòa Tiểu hình Sài Gòn trong phiên xử ngày 27/8/1940 đã kết án

đồng chí Lê Hồng Phong 5 năm tù giam, 10 năm quản thúc với lời buộc tội làchịu trách nhiệm về tinh thần đối với cuộc khởi khĩa ấy Cuối năm 1940, LêHồng Phong bị đày ra Côn Đảo, tại đây đồng chí đã sống những ngày anh dũng,bất khuất, nêu cao khí tiết cách mạng

Còn đồng chí Nguyễn Thị Minh Khai sau một thời gian bị giam giữ, đếquốc Pháp đã kết án tử hình và bắn chị tại Bà Điểm - Gò Vấp (Gia Định) vàongày 27/8/1941

Nghe tin vợ bị bắn, đồng chí Lê Hồng Phong vô cùng đau xót, vì đã mấtmột ngời vợ chung thủy, một ngời bạn chiến đấu kiên cờng, nhng quyết tâmkhông để tinh thần của ngời cộng sản bị lung lay

Nhà tù Côn Đảo khi đó có ba trại giam chính là Banh I, Banh II, Banh III

và nhiều trại giam phụ Thời kì này, Côn Đảo thuộc quyền cai quản của chúa

đảo Bơruiônnê - một tên thực dân nham hiểm độc ác và bọn tay chân của nókhét tiếng thù ghét cộng sản Đây là thời kì dã man tàn bạo nhất trong lịch sử nhà

tù Côn Đảo Số lợng tù nhân lên tới hơn 2000 ngời, đa số là tù chính trị Lớp tùnhân bị bắt sau khởi nghĩa Nam Kì hầu hết bị cầm cố ở Banh II và Banh III

ở Côn Đảo, Lê Hồng Phong bị cầm cố ở xà lim Sở Muối, trên con đờng

từ thị trấn đi ra mũi Cá Mập, cách trung tâm thị trấn một cây số Mục đích củachúng là cô lập Lê Hồng Phong với tổ chức tù chính trị Côn Đảo Tuy nhiên qua

hệ thống cơ sở tù chính trị làm khổ sai và bồi bếp, tổ chức Đảng ở Côn Đảo đãliên lạc đợc với đồng chí Lê Hồng Phong

Chi bộ Đảng đặc biệt ở nhà tù Côn Đảo đợc hình thành từ năm1932 đãphát triển thành Đảo ủy Khi đó đồng chí Nguyễn Duy Trinh là Bí th Đảo ủy,

đồng chí Tôn Đức Thắng đợc cử làm hội trởng hội tù nhân, đặc trách cứu tế vàban liên lạc

Thông qua các đầu mối liên lạc, đồng chí Lê Hồng Phong đã truyền đạtlại tinh thần các văn kiện Đại hội VII của Quốc tế Cộng sản cho các đồng chí cótrách nhiệm, giới thiệu những thành tựu trong công cuộc xây dựng CNXH ởLiên Xô để củng cố niềm tin ở thắng lợi cuối cùng của cách mạng

Trang 24

Nhng bọn trùm thực dân Pháp ở Nam Kì chỉ thị cho bọn chúa đảo phảihãm hại Lê Hồng Phong Bọn chúa ngục đã áp dụng một chế độ lao tù hà khắcbất chấp cả pháp luật Bữa ăn hàng ngày là gạo mốc và cá khô mục Trong khilàm khổ sai cũng nh khi cầm cố, hàng ngày đồng chí bị đánh đập tra tấn Chúng

đánh bất cứ lúc nào ở đâu; đánh trong lúc lao công, lúc tắm giặt, lúc điểmdanh,và đánh trong cả bữa ăn hàng ngày có lần chúng đánh vào đầu đồng chí

Lê Hồng Phong ngay trong bữa ăn, máu chan đỏ bát cơm, đồng chí vẫn điềmnhiên ngồi ăn để có sức tranh đấu với kẻ thù

Để nhanh chóng giết hại Lê Hồng Phong và tách chỉ đạo ảnh hởng của

đồng chí ra khỏi anh em tù chính trị, tên chúa đảo ra lệnh nhốt Lê Hồng Phongvào hầm tối và đánh đập tàn nhẫn Hầm tối là một phòng nhỏ, kiên cố, kín mít,chỉ có một lỗ thông hơi nhỏ dài 2m, chỗ nằm có đóng hai vòng sắt để cùm chânngời tù suốt ngày Nhiều đồng chí khi thoát khỏi hầm tối thì mắt mờ, chânkhông đứng vững nữa

Do bị cầm cố khắc nghiệt và chế độ ăn uống tồi tệ, đồng chí Lê HồngPhong bị kiết lị khá nặng, đợc chuyển về cầm cố tại dãy xà lim Banh II Bọn caingục ra lệnh không phát thuốc chữa bệnh cho đồng chí Anh em tù chính trị tìmcách gửi thuốc chữa kiết lị cho đồng chí, nhng bị bọn cai ngục ngăn cấm Có mộtthầy thuốc ngời Pháp tên là Ra-sa thấy cách đối xử vô nhân đạo của chế độ nhà tù

đã đấu tranh đòi chữa bệnh cho Lê Hồng Phong, vì vậy liền bị bọn chúa đảo đuổi

đi nơi khác Sức khoẻ kiệt dần, tra ngày 6/9/1942, Lê Hồng Phong hoàn toàn bịkiệt sức và trút hơi thở cuối cùng tại khu cầm cố biệt lập Banh II

Trớc lúc hy sinh, đồng chí đã cố sức nói to lời chào từ biệt: “Xin chào tấtcả các đồng chí! Nhờ các đồng chí nói với Đảng rằng: Đến giờ phút cuối cùng

Lê Hồng Phong vẫn tin tởng vào thắng lợi vẻ vang của cách mạng”

Lời chào cộng sản tin tởng và lạc quan cách mạng của đồng chí Lê HồngPhong làm cho các đồng chí và anh em trong nhà tù Côn Đảo vô cùng xúc động

Và lời chào cộng sản bất hủ ấy mãi mãi trở thành điều nhắn nhủ các thế hệ kếtiếp “tin tởng vào thắng lợi vẻ vang của cách mạng” Đồng chí Lê Hồng Phong

đã anh dũng ngả xuống trong cuộc chiến đấu một mất một còn cho sự nghiệpcách mạng, vì độc lập dân tộc, tự do, dân chủ cho nhân dân, vì lí tởng Cộng sảnchủ nghĩa

Qua tìm hiểu cuộc đời hoạt động cách mạng của đồng chí Lê HồngPhong nổi lên mấy nét lớn đáng chú ý sau: 1 - Lê Hồng Phong là ngời chủ trìcông việc của Đảng trong giai đoạn khó khăn nhất của thoái trào cách mạng;công lao to lớn của Lê Hồng Phong là đã cùng TW Đảng tiến hành một loạt

Trang 25

công tác khôi phục Đảng và phong trào cách mạng; 2 - Lê Hồng Phong dới sựgiáo dục hớng dẫn của Nguyễn ái Quốc đã trở thành ngời học trò xuất sắc,trung thành của Ngời; 3 - Lê Hồng Phong nổi bật ở tấm gơng học tập, rèn luyện

và hoạt động không mệt mỏi, ở đồng chí lòng yêu nớc kết hợp với tinh thầnquốc tế; 4 - Lê Hồng Phong là một tấm gơng trọn đời hiến dâng cuộc sống củamình cho Đảng và sự nghiệp giải phóng dân tộc

Có thể với đồng chí Lê Hồng Phong là một nhà đạo đức cách mạng tiêubiểu, chúng ta xin mợn câu danh ngôn bất hủ của nhà văn Xô Viết nổi tiếngNhicôlai ốtxtơrốtxki kết thành lẵng hoa thành kính dâng lên đồng chí cố Tổng

bí th của Đảng [3;56]: “Cái quý nhất của con ngời là đời sống Đời ngời ta chỉsống có một lần, phải sống sao cho khỏi xót xa ân hận vì những năm tháng đãsống hoài, sống phí, cho khỏi hổ thẹn vì dĩ vãng ti tiện và hèn đớn của mình để

đến khi nhắm mắt xuôi tay có thể nói rằng tất cả đời ta, tất cả sức ta, ta đã hiếndâng cho sự nghiệp cao đẹp nhất trên đời, sự nghiệp đấu tranh giải phóng loàingời”

Lê Hồng Phong - chiến sĩ cộng sản tài năng kiên cờng, Tổng bí th xuấtsắc của Đảng, sống mãi trong sự nghiệp hôm nay và mai sau

Trang 26

Bảo tàng Tổng hợp, Bảo tàng Xô Viết Nghệ Tĩnh - nơi đang lu giữ và giớithiệu những tài liệu, hiện vật liên quan đến cuộc đời và sự nghiệp của đồng chí

Lê Hồng Phong, đã đón những đoàn khách đến tham quan, nghiên cứu Để tônvinh và tăng thêm niềm tự hào về đồng chí, ở nhiều địa phơng nhiều công trình,trờng học, đờng phố mang tên Lê Hồng Phong Trờng cấp III Hng Nguyên rấtvinh dự đợc mang tên Lê Hồng Phong Truyền thống của nhà trờng luôn xứng

đáng với tên tuổi và những cống hiến to lớn của đồng chí

Đặc biệt trong thời gian qua Khu lu niệm Lê Hồng Phong tại HngNguyên (bao gồm: Di tích lu niệm ở xã Hng Thông và Nhà trng bày lu niệm ởxã Hng Thái) đã đợc các cấp, chính quyền và ngành Văn hóa - Thông tin rấtquan tâm giữ gìn, tôn tạo ngày càng xứng với tầm cỡ danh nhân

2.1 Quá trình xây dựng

2.1.1 Trạng thái di tích

Khu di tích lu niệm Lê Hồng Phong gồm hai nhà: nhà ông Lê Huy Quán(còn gọi là nhà ông Cửu Soạn) và nhà riêng Lê Hồng Phong nằm trong mộtmảnh vờn rộng 3710m2, xung quanh là hàng rào cây xanh (tre và giới).Nhà của

ông Cửu Soạn gồm có hai nhà: nhà chính và nhà ngang, cấu trúc theo kiểu tiềntrụ (kiểu nhà phổ biến ở vùng quê này), tại đây Lê Hồng Phong đã cất tiếngkhóc chào đời và sống những năm tháng tuổi trẻ trong sự yêu thơng, đùm bọccủa bố mẹ, những ngời ruột thịt, bạn bè và bà con chòm xóm

Năm1921, khi Lê Hồng Phong đã cới ngời vợ đầu đó là cô Trần Thị Dục

Ông bà Cửu Soạn đã cắt một phần đất độ 100m2 ở góc vờn phía Đông Nam vàdựng cho hai vợ chồng trẻ ngôi nhà tranh 3 gian, 2 hồi để ra ở riêng

Kể từ ngày đồng chí Lê Hồng Phong xuất dơng trở về bị tù đày và hysinh, đất nớc ta và làng Đông

quê hơng đồng chí nói riêng đã có nhiều biến đổi; do những nguyên nhânkhách quan nh khí hậu, lịch sử… ở Nghệ An còn có rất nhiều đền đài thần tích và nguyên nhân chủ quan nh ý định mua báncủa ngời thân, đã làm thay đổi tính chất nguyên gốc của di tích

Trang 27

Nhà ông Cửu Soạn (bố Lê Hồng Phong) trong cải cách bị quy sai và đemchia quả thực cho ngời khác sử dụng, đồ đạc bên trong bị bán nhợng, thất lạckhá nhiều Sau này ngôi nhà do ông Nguyễn Xuân Uyển đội 4, xã Hng Thịnh sửdụng về cơ bản kết cấu bộ khung các vì, kèo cột, xà hạ… ở Nghệ An còn có rất nhiều đền đài thần tích vẫn còn nguyên vẹn,còn các chi tiết mái phên thng xung quanh đã thay đổi nhiều.

Về ngôi nhà riêng của đồng chí Lê Hồng Phong

Vào năm 1924, khi đồng chí bí mật xuất dơng không cho vợ và gia đìnhbiết, mãi đến năm 1938 đồng chí bị bắt quản thúc mới trở về Nghe tin chồng đi

và "mất tích", bà Dục - vợ đồng chí Lê Hồng Phong sinh con và chờ một thờigian dài, sau đó xin phép bên nội tái giá Ngôi nhà này bán lại cho ông CửuDung con ông Lí Diên ở thôn Cầu, sau này ngôi nhà do bà Liên ở xã Hng Tiến

sử dụng đồ đạc bên trong, khung nhà bị mất gần hết, chỉ còn lại một chiếc cộtduy nhất là mang tính nguyên gốc hiện do ông Lê Viết Duyên (cháu ruột LêHồng Phong) sử dụng làm nhà ngang

Còn mảnh vờn thì khi nhà Lê Hồng Phong bị chuyển dời cũng trở nêntrống vắng Nhng đến năm 1949 đã có 5 gia đình là ngời thân trong họ đến làmnhà và sinh sống ở đây, nên mặt bằng vờn bị cải tạo chút ít, cảnh quan xungquanh thay đổi nhiều

Nh vậy quá trình ngôi nhà h hỏng do di chuyển, sự thay đổi của mảnh vờn

và sự thất lạc hiện vật gắn liền với di tích; vấn đề đó đã đặt ra trớc thực tế nhữngyêu cầu tôn tạo thiết thực và cấp bách để trả lại giá trị lịch sử cho di tích

2.1.2 Cơ sở pháp lí để bảo vệ di tích

Di tích lịch sử - văn hóa và danh thắng trong nớc là tài sản chung củaquốc gia Con ngời không thể thiếu di sản văn hóa trong việc phát triển trí thức.Kho tàng văn hóa của địa phơng cũng nh nhân loại muốn phong phú chỉ có cáchcon ngời không ngừng sáng tạo và tích cực giữ gìn những của cải đặc biệt ấy

Cách mạng Tháng 8/1945 thành công, Đảng và Nhà nớc ta đã tạo điềukiện thuận lợi cho sự nghiệp phát triển văn hóa, giáo dục nói chung, sự nghiệpbảo tồn di tích, bảo tàng nói riêng Công tác bảo tồn di tích, bảo tàng thực sự trởthành một bộ phận quan trọng trong cuộc cách mạng t tởng văn hóa

Qua từng giai đoạn phát triển của cách mạng, Đảng và Nhà nớc ta đã banhành các chỉ thị, nghị quyết về công tác bảo tồn di tích bảo tàng Chỉ 3 thángsau ngày Cách mạng tháng Tám thành công, mặc dù còn bận nhiều việc, songChủ tịch Hồ Chí Minh đã kí Sắc lệnh số 65 ngày 23/11/1945 quy định cụ thểviệc bảo vệ tất cả các di tích lịch sử, văn hóa trên toàn lãnh thổ nớc ta

Trang 28

Ngày 29/10/1957, Thủ tớng Chính phủ ban hành Nghị định 519/TTgtrong đó ghi rõ [14;7]: "Tất cả những bất động sản và động sản có giá trị lịch sửhay nghệ thuật (kể cả những bất động sản hay động sản còn nằm dới đất hay dớinớc), và những danh lam thắng cảnh ở trên lãnh thổ Việt Nam, bất cứ là thuộcquyền sở hữu của Nhà nớc, một đơn vị hành chính, một cơ quan đoàn thể hoặcmột t nhân, từ nay đều đặt dới chế độ bảo vệ của Nhà nớc" Văn bản pháp chếquan trọng này có tác dụng to lớn trong công tác bảo tồn di tích bảo tàng ở nớcta.

Sự nghiệp bảo tồn di tích bảo tàng ngày càng phát triển Thế giới đã cóhiến chơng Vơnizơ (Italia) 1964 quy định những điều cơ bản về cách quản lí,tôn tạo và bảo vệ di tích, danh thắng trong thời đại mới

Chủ tịch Hội đồng Nhà nớc Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, TrờngChinh cũng đã ra "Pháp lệnh bảo vệ và sử dụng di tích lịch sử văn hóa và danhlam thắng cảnh" công bố ngày 31/3/1984 Trong đó chơng 3 gồm từ điều 12 đến

điều 21 dành nói về "việc bảo vệ và sử dụng di tích lịch sử - văn hóa và danhlam thắng cảnh "

Ngày 29/1/1977, UBND tỉnh Nghệ An đã ra Quyết định mới số 320QĐ.UB về việc ban hành quy chế bảo vệ và sử dụng di tích lịch sử - văn hóa vàdanh lam thắng cảnh trên địa bàn tỉnh (có quy chế kèm theo)

Từ những văn bản đó, Sở Văn hóa Thông tin Nghệ An nhận thức thêmrằng: bảo tồn di tích là bảo tồn diện mạo quá khứ lịch sử của địa phơng mình,

đồng thời là một cách thể hiện lòng biết ơn đối với giang sơn và tổ tiên, nên đãthực hiện có hiệu quả cao các việc quản lí và sử dụng di tích lịch sử - văn hóatheo Pháp lệnh của Nhà nớc và quyết định của tỉnh đề ra

Di tích lu niệm đồng chí Lê Hồng Phong trớc đây đợc Bảo tàng Nghệ An

đa vào danh mục đăng kí xếp hạng kiểm kê phổ thông ngày 11/11/1976

Đến tháng 9/1979, phòng Bảo tồn bảo tàng thuộc Sở Văn hóa - Thông tintỉnh Nghệ Tĩnh đăng kí kiểm kê định kì và bớc đầu su tầm xác minh t liệu đểtiến hành lập hồ sơ khoa học xếp hạng Khu di tích lu niệm Lê Hồng Phong

Tháng 12/1990, Khu lu niệm đợc Bảo tàng Nghệ Tĩnh tiến hành làm hồsơ bổ sung t liệu kiểm kê vào kho bảo quản của bảo tàng

Ngày 3/2/1988, tỉnh ủy Nghệ Tĩnh ra quyết định số 54 về việc tôn tạoKhu di tích lu niệm đồng chí Lê Hồng Phong

Ngày 1/6/1988 Tỉnh ủy, UBND Tỉnh, Ngành Văn hóa - Thông tin NghệTĩnh ra Quyết định số 924 về chủ trơng tôn tạo, su tầm hiện vật, t liệu, trùng tu

Trang 29

di tích và lập hồ sơ khoa học gửi Bộ Văn hóa - Thông tin, đề nghị công nhậnxếp hạng khu di tích lu niệm đồng chí Lê Hồng Phong.

Ngày 1/6/1988, UBND huyện Hng Nguyên ra quyết định số 194/VPUB

về việc triển khai dự án tôn tạo Khu di tích lu niệm Lê Hồng Phong và giaotrách nhiệm cho UBND xã và Đảng ủy xã Hng Thông tạo điều kiện giúp đỡ đểthực hiện đề án tôn tạo đã duyệt

Để góp phần vào công tác giáo dục truyền thống cách mạng cho mọi thế

hệ trên quê hơng Xô Viết - Nghệ Tĩnh, đồng thời quán triệt công tác bảo tồn disản của Đảng và Nhà nớc, ngày 13/3/1990 Bộ Văn hóa - Thông tin đã ra quyết

định số 208/VPQH cộng nhận di tích lu niệm Lê Hồng Phong là di tích lịch sử văn hóa quốc gia

-Trên cơ sở đó ngày 21/11/2001, UBND Tỉnh Nghệ An ra Quyết định số4350/QĐ.UB về việc phê duyệt dự án đầu t, tôn tạo nâng cấp Khu lu niệm LêHồng Phong tại huyện Hng Nguyên

Ngày 8/2/2002, để chuẩn bị kỉ niệm 100 năm ngày sinh đồng chí LêHồng Phong, UBND tỉnh Nghệ An ra Quyết định số 603/UB-XD quyết định phêduyệt Hồ sơ thiết kế tổng dự án nhằm hoàn thiện hơn nữa Khu di tích tại HngThông và Nhà trng bày lu niệm Lê Hồng Phong ở Thái Lão

2.1.3 Thực hiện phơng án tôn tạo, bảo vệ

2.1.3.1 Ngôi nhà di tích tại xã Hng Thông

Ngôi nhà của đồng chí Lê Hồng Phong tại làng Đông trải qua năm thángthời gian ma nắng, bão lụt do quá trình di chuyển… ở Nghệ An còn có rất nhiều đền đài thần tích phần lớn các hiện vật bịmất mát hoặc thất lạc, đặc biệt ngôi nhà ở riêng của đồng chí khi lấy vợ tại quênhà sống một thời gian ngắn thì chỉ còn lại chiếc cột do ngời cháu ruột đang sửdụng Vì một số lý do riêng, các cơ quan chuyên trách chỉ phục dựng ngôi nhà

do bố mẹ đồng chí để lại - nơi đồng chí sinh ra, lớn lên và trởng thành Từnăm 1988 cùng với việc lập đề án tôn tạo và xây dựng hồ sơ khoa học di tích, SởVăn hóa Thông tin tỉnh, Ban quản lý di tích - danh thắng tỉnh, địa phơng cùngnhững ban ngành có liên quan đã cố gắng su tầm, xác minh lại một số tài liệu,hiện vật tiêu biểu có giá trị trực tiếp gắn liền với cuộc đời của Lê Hồng Phongngay tại ngôi nhà đồng chí và xây dựng Nhà trng bày lu niệm Lê Hồng Phong

Theo “Hồ sơ di tích lu niệm Lê Hồng Phong” đợc lu trữ tại ban quản lý ditích - danh thắng Nghệ An do Lê Bá Hạnh lập năm 1989, thì đến thời điểm đó,những hiện vật mang tính nguyên gốc đã su tầm đợc bao gồm [4]:

- Một chiếc thùng đựng nớc

- Chiếc ghế vuông

Trang 30

Di chuyển các hộ dân, giải phóng mặt bằng để mở rộng khu di tích Việc

di chuyển 5 hộ dân (ông Tháp, ông Tám, ông Duyển, ông Quyến, và ông Huệ),UBND huyện Hng Nguyên và UBND xã Hng Thông tổ chức việc xác định chiphí đền bù, hỗ trợ chi phí di chuyển và cấp đất cho các hộ dân tại nơi ở mới, đểsớm triển khai xây dựng các hạng mục tại khu di tích Mở rộng diện tích từ490m2 lên 3500m2

Đối với các ngôi nhà di tích sửa chữa, tu bổ lại (trên cơ sở bảo tồn nguyênbản di tích, đảm bảo về phòng cháy chữa cháy) gồm một nhà gỗ lớn, một nhàngang - sửa chữa lại một số cột, xà, hoành, làm lại phần mái, thng ván và phênnứa

Với những giá trị to lớn của di tích, năm 2002, Bộ Văn hóa Thông tin,Tỉnh ủy, UBND, Sở Văn hóa Thông tin và các ban ngành chức năng ở Nghệ An

đã xây dựng thêm nhà tởng niệm, sân, nhà bảo vệ và một số hệ thống công trìnhphụ nh đờng điện hạ thế, bể chứa nớc dự trữ, bể cấp nớc, sân đờng nội bộ, hàngrào… ở Nghệ An còn có rất nhiều đền đài thần tích

Năm 2002, hạng mục di tích nhà ở Lê Hồng Phong tiếp tục đợc sữa chữatôn tạo:

- Đắp đất nền bằng đất sét trộn vôi bột

- Thay các cấu kiện bằng tre đốt, gia công đẹp

Ngày đăng: 17/12/2013, 22:18

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng quy định viết tắt - Khu lưu niệm lê hồng phong (hưng nguyên, nghệ an)   giá trị lịch sử, văn hoá, du lịch
Bảng quy định viết tắt (Trang 60)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w