1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tình trạng xâm phạm di tích lịch sử văn hóa Đình Trong, làng Hòa Mục

36 14 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 36
Dung lượng 674,61 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thời kỳ Viện mang tên là Viện Nghệ thuật Trong quá trình thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước về văn hóa, thông tin, lãnh đạo Bộ Văn hóa trước đây mà nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lị

Trang 1

MỤC LỤC

PHẦN THỨ NHẤT: TỔNG QUAN VỀ VIỆN VĂN HểA NGHỆ THUẬT QUỐC

GIA VIỆT NAM VIỆT NAM

I LỊCH SỬ HèNH THÀNH

1 Từ Viện Nghệ thuật đến Viện Văn húa Nghệ thuật Việt Nam

1.1 Thời kỳ Viện mang tờn là Viện Nghệ thuật

1.2 Thời kỳ Viện mang tờn là Viện Văn húa Nghệ thuật Việt Nam

1.3 Thời kỳ Viện mang tờn là Viện Nghiờn cứu Văn húa Nghệ thuật

1.4 Thời kỳ Viện mang tờn là Viện Văn húa - Thụng tin

1.5 Thời kỳ mang tờn là Viện Văn húa Nghệ thuật Việt Nam

II CƠ CẤU TỔ CHỨC

Phần thứ hai: mục đích, yêu cầu và cơ sở pháp lý của việc bảo tồn và phát huy giá trị các di sản văn hoá, kiến trúc, nghệ thuật

I Mục đích, yêu cầu:

II Cơ sở pháp lý:

Phần thứ BA: Nội dung tình huống “vụ việc xâm phạm

di tích kiến trúc - nghệ thuật đình trong”

I Mô tả tình huống và diễn biến của tình huống:

1 Lịch sử làng Hòa Mục và cụm di tích Đền Trong:

2 Diễn biến của tình huống:

2.1 Đề xuất của UBND Ph-ờng Trung Hoà về việc xây dựng

2.2 Diễn biến quá trình xây dựng Nhà văn hoá:

II Xác định mục tiêu xử lý tình huống

III Phân tích nguyên nhân và hậu quả:

IV- Các ph-ơng án giải quyết vụ việc:

Phần thứ TƯ: Kiến nghị và kết luận

Trang 2

I KiÕn nghÞ:

II KÕt luËn

Tµi liÖu tham kh¶o

Trang 3

PHẦN THỨ NHẤT TỔNG QUAN VỀ VIỆN VĂN HÓA NGHỆ THUẬT QUỐC GIA

VIỆT NAM VIỆT NAM

I LỊCH SỬ HÌNH THÀNH

1 Từ Viện Nghệ thuật đến Viện Văn hóa Nghệ thuật Việt Nam

Khác với một số viện nghiên cứu của Viện Khoa học Xã hội Việt Nam,

40 năm qua, Viện Văn hóa Nghệ thuật Việt Nam đã có những lần thay đổi

tên gọi và cơ cấu tổ chức Có thể thấy sự thay đổi ấy ở năm thời kỳ sau:

1.1 Thời kỳ Viện mang tên là Viện Nghệ thuật

Trong quá trình thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước về văn hóa, thông tin, lãnh đạo Bộ Văn hóa trước đây mà nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch luôn chú trọng công tác nghiên cứu khoa học Những năm sáu mươi của

thế kỷ XX, Vụ Âm nhạc và múa có Viện Nghiên cứu Âm nhạc và Múa, Vụ

Mỹ thuật có Viện Mỹ thuật Mỹ nghệ Để đẩy mạnh công tác nghiên cứu lý

luận, ngày 1 - 4 - 1971, GS Hoàng Minh Giám, Bộ trưởng Bộ Văn hóa, đã

ký quyết định 44/VH-QĐ thành lập Viện Nghệ thuật, tiền thân của Viện Văn hóa Nghệ thuật Việt Nam ngày nay Vị trí của Viện được xác lập: "là cơ

quan giúp Bộ nghiên cứu những vấn đề thuộc về lý luận học thuật của các bộ môn nghệ thuật: mỹ thuật (gồm cả mỹ nghệ), sân khấu, nhạc, múa, điện ảnh theo đường lối, quan điểm nghệ thuật của Đảng và Nhà nước" Lãnh đạo Bộ

đã phân công nhà lý luận Hà Xuân Trường, Thứ trưởng Bộ Văn hóa trực tiếp kiêm nhiệm làm viện trưởng, đồng thời điều động những nghệ sĩ, cán bộ quản lý từ các trường, cục, vụ, viện như các ông Nguyễn Phúc, Trần Đình Thọ, Nguyễn Đức Nùng, Trần Bảng, Nguyễn Đức Lộc, Phạm Đình Sáu, Tú Ngọc, Đặng Đình Trung, Lê Huy về làm nhiệm vụ quản lý các ban chuyên môn của Viện Cùng với việc này, lãnh đạo Bộ và lãnh đạo Viện đã mở cửa chiêu hiền đãi sĩ tập hợp lực lượng khoa học ở nhiều nơi, nhiều nguồn khác

nhau về Viện Nghệ thuật như các ông Hồ Sĩ Vịnh, Nguyễn Từ Chi v.v Đáng

lưu ý là định hướng thành lập Tổ chuyên san nghiên cứu nghệ thuật do nhà lý luận Hà Xuân Trường làm chủ nhiệm, hoạ sĩ, nhà giáo Trần Đình Thọ làm Tổng biên tập, ông Nguyễn Phúc làm uỷ viên thường trực Ban biên tập tờ

chuyên san Hoạt động của Viện Nghệ thuật trong những ngày gian khổ, ác

liệt của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước đã đi ngay vào quỹ đạo của một Viện làm công tác nghiên cứu khoa học Rồi các đề tài nghiên cứu văn

Trang 4

hóa nghệ thuật được triển khai Một số các công trình được hoàn thành Năm

1973, từ chuyên san Thông báo nghệ thuật lưu hành nội bộ, tạp chí Nghiên cứu Nghệ thuật của Viện Nghệ thuật đã ra mắt bạn đọc số đầu tiên

Năm 1976, đất nước thống nhất, Viện đón nhận số cán bộ của Sở Văn

hóa khu tự trị Tây Bắc, Việt Bắc để cóPhân viện Nghệ thuật Tây Bắc, Phân viện Nghệ thuật Việt Bắc thuộc Viện Nghệ thuật Ngày 25-8-1976, Bộ

trưởng Nguyễn Văn Hiếu ký quyết định chuyển ngành âm nhạc giải phóng

thành Viện Âm nhạc rồi bổ sung vào Ban Nghiên cứu Âm nhạc của Viện Nghệ thuật Cũng từ năm này, việc nghiên cứu văn hóa nghệ thuật ở Tây

Nguyên và Nam Bộ được Viện khẩn trương triển khai

Lực lượng nghiên cứu của các ban nghiên cứu trong Viện phát triển cả

về số lượng và chất lượng, thực tiễn công tác quản lý và công tác nghiên cứu khoa học đòi hỏi phải có những viện nghiên cứu chuyên sâu theo lĩnh vực Năm 1978, các ban nghiên cứu lần lượt chuyển thành các viện nghiên

cứu: Ban Nghiên cứu Mỹ thuật thành Viện Mỹ thuật, Ban Nghiên cứu Sân khấu thành Viện Sân khấu, Ban Nghiên cứu Âm nhạc và Múa thành Viện Âm nhạc và Múa Viện Nghệ thuật chuyển thành Viện Nghiên cứu Lý luận và Lịch sử Nghệ thuật, rồi chuyển thành Viện Văn hóa Tạp chíNghiên cứu Nghệ thuật cùng các Viện Sân khấu, Văn hóa, Âm nhạc, Mỹ thuật đều trực thuộc Bộ Văn hóa Ban Nghiên cứu Điện ảnh được chuyển sang một cơ

quan khác của Bộ Văn hóa

1.2 Thời kỳ Viện mang tên là Viện Văn hóa Nghệ thuật Việt Nam

Năm 1985, Hội đồng Bộ trưởng chủ trương kiện toàn tổ chức ngành văn hóa và sắp xếp lại tổ chức bộ máy của Bộ Văn hóa Ngày 16-6-1988,

Bộ trưởng Trần Văn Phác đã ký quyết định 592/VH-QĐ hợp nhất các Viện Văn hóa, Viện Nghiên cứu Sân khấu, Viện Âm nhạc và Múa, Viện Mỹ thuật và tạp chí Nghiên cứu Văn hóa Nghệ thuật để thành lập Viện Văn hóa Nghệ thuật Việt Nam Cuộc hợp nhất lần này của các viện chuyên ngành,

như sự trở về của những người anh em đi làm ăn xa, trở về ngôi nhà chung Một ban lãnh đạo Viện với Viện trưởng Lê Anh Trà và 4 phó Viện trưởng: Nguyễn Phúc, Tô Ngọc Thanh, Trần Việt Sơn, Nguyễn Đức Lộc điều hành

các công việc của Viện, riêng ông Trần Việt Sơn trực tiếp làm Viện trưởng Viện Mỹ thuật, ông Nguyễn Đức Lộc trực tiếp làm Viện trưởng Viện Sân khấu Tại phía Nam, tổ thường trú phía Nam của Viện Văn hóa và Phân viện Âm nhạc và Múa của Viện Âm nhạc và Múa được hợp nhất thành Viện Văn hóa Nghệ thuật tại thành phố Hồ Chí Minh Có thể nói, với 4 viện

chuyên ngành trực thuộc và một phân viện tại thành phố Hồ Chí Minh cùng

tạp chí Nghiên cứu Văn hóa Nghệ thuật, đội ngũ cán bộ nghiên cứu

Trang 5

của Viện Văn hóa Nghệ thuật Việt Nam khá đông đảo và hùng hậu Nhiều

cán bộ của Viện là những nhà khoa học có uy tín, tên tuổi Có thể kể đến về văn hóa dân gian và âm nhạc dân tộc học với Tô Ngọc Thanh, Tô Vũ, Lư Nhất Vũ v.v ; về lý luận văn hóa với Lê Anh Trà, Hồ Sĩ Vịnh, Trường Lưu v.v ; về mỹ thuật với Nguyễn Từ Chi, Nguyễn Du Chi, Chu Quang Trứ, Thái Bá Vân, Trần Lâm Biền, Nguyễn Bá Vân v.v ; về âm nhạc với Nguyễn Xinh, về sân khấu với Hoàng Chương, Trần Việt Ngữ, Đoàn Thị Tình v.v ; về múa với Lâm Tô Lộc

Một sự thay đổi lớn trong cơ cấu tổ chức bộ máy của Viện là Viện được chính phủ giao nhiệm vụ đào tạo nghiên cứu sinh vào năm 1991 Đây cũng

là cơ sở đào tạo trên đại học duy nhất ở nước ta đào tạo phó tiến sĩ (nay là tiến sĩ), tiến sĩ (nay là tiến sĩ khoa học) về văn hóa nghệ thuật với hai mã số: lịch sử văn hóa và nghệ thuật, mã số 5.03.13, nghệ thuật âm nhạc mã số 5.08.02 Hoạt động đào tạo trên đại học này có tác động rất lớn đến công tác đào tạo nguồn nhân lực và nghiên cứu khoa học của Viện cũng như của ngành Văn hóa thông tin

Năm 1993, tạp chí Nghiên cứu Văn hóa Nghệ thuật tách ra thành cơ

quan thông tin lý luận của Bộ Văn hóa - Thông tin

Năm 1995, đáp ứng những đòi hỏi của tình hình mới, ngày 1-3-1995, Thủ tướng chính phủ ký quyết định số 123/TTg về việc sắp xếp, tổ chức lại các đơn vị trực thuộc Bộ Văn hóa - Thông tin Căn cứ vào quyết định này, ngày 22-12-1995, Bộ trưởng Bộ Văn hóa Thông tin Trần Hoàn đã ký quyết

định 5775/QĐ-TC thành lập Viện Văn hóa Nghệ thuật Việt Nam trực thuộc

Bộ Văn hóa - Thông tin Phục vụ cho việc liên kết giữa nghiên cứu khoa học

và đào tạo của các chuyên ngành, các viện chuyên ngành trực thuộc Viện Văn hóa Nghệ thuật Việt Nam chuyển về các trường đại học: Viện Mỹ thuật

chuyển về trường Đại học Mỹ thuật; Viện Âm nhạc chuyển về Nhạc viện Hà Nội; Viện Sân khấu chuyển về trường Đại học Sân khấu Điện ảnh, Viện Văn hóa chuyển về trường Đại học Văn hóa Hà Nội

Ngày 30-1-1996, Bộ trưởng Bộ Văn hóa - Thông tin Trần Hoàn ký

quyết định 162/TC-QĐ xác định chức năng nhiệm vụ của Viện Văn hóa Nghệ thuật Việt Nam Vị trí của Viện được xác định: "là cơ quan nghiên cứu

khoa học cơ bản trực thuộc Bộ Văn hóa - Thông tin, có chức năng nghiên cứu lý luận và thực tiễn về Văn hóa và nghệ thuật Việt Nam, cung cấp các căn cứ khoa học phục vụ công tác quản lý và hoạch định các chính sách của

Bộ Văn hóa - Thông tin nhằm xây dựng nên một nền Văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc"

Trang 6

1.3 Thời kỳ Viện mang tên là Viện Nghiên cứu Văn hóa Nghệ thuật

Năm 1996, căn cứ vào chức năng, nhiệm vụ được giao nói trên, Viện Văn hóa Nghệ thuật Việt Nam đã được xếp vào Danh mục 41 viện đầu

ngành quốc gia ở Việt Nam theo Quyết định 782/TTg ngày 24-10-1996 của Thủ tướng Chính phủ Vì thế, ngày 2-10-1997, Bộ trưởng Bộ Văn hóa -

Thông tin Nguyễn Khoa Điềm đã ký quyết định đổi tên Viện Văn hóa Nghệ thuật Việt Nam thành Viện Nghiên cứu Văn hóa Nghệ thuật Vị trí, chức

năng của Viện vẫn được khẳng định như quyết định 162/TC-QĐ

Ngoài các phòng chức năng, các ban nghiên cứu và Phân viện tại thành phố Hồ Chí Minh của Viện theo quyết định 162/TC-QĐ, ngày 25-2-1999, Bộ trưởng Nguyễn Khoa Điềm đã ký quyết định thành lập Phân viện Nghiên cứu Văn hóa Nghệ thuật tại thành phố Huế

Cùng với nhiệm vụ nghiên cứu khoa học cơ bản, đào tạo tiến sĩ, từ năm

1997, Viện Nghiên cứu Văn hóa Nghệ thuật được giao thêm nhiệm vụ làm

thành viên Ban chủ nhiệm chương trình quốc gia có mục tiêu về văn hóa, trực tiếp điều hành nhiệm vụ sưu tầm, bảo tồn các di sản văn hóa phi vật thể các dân tộc Việt Nam Ngoài nhiệm vụ làm tư vấn cho lãnh đạo Bộ: đề xuất, kiểm tra các địa phương thực hiện dự án, Viện còn trực tiếp tiến hành một loạt các dự án sưu tầm, bảo tồn, phát huy di sản văn hóa phi vật thể các dân tộc Việt Nam Bộ Văn hóa - Thông tin nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du

lịch cho xây dựng tại Viện Văn hóa Nghệ thuật Việt Nam một ngân hàng dữ

liệu (databank) về di sản văn hóa phi vật thể các dân tộc Việt Nam

Từ năm 2000, Viện chuyển nhiệm vụ đào tạo tiến sĩ nghệ thuật âm nhạc mã số 5.08.02 cho Nhạc viện Hà Nội, Viện chỉ còn lại đào tạo tiến sĩ lịch sử, chuyên ngành Lịch sử Văn hóa và Nghệ thuật mã số 5.03.13

1.4 Thời kỳ Viện mang tên là Viện Văn hóa - Thông tin

Ngày 16-7-2003, Bộ trưởng Bộ Văn hóa - Thông tin Phạm Quang Nghị

ký quyết định 29/2003/QĐ-BVHTT đổi tên Viện thành Viện Văn hóa - Thông tin Ngày 08 - 07 - 2004, Bộ trưởng Bộ Văn hóa - Thông tin Phạm

Quang Nghị ký quyết định 52/2004/QĐ-BVHTT quy định chức năng, nhiệm

vụ quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Viện Văn hóa - Thông tin Vị trí của

Viện được xác định: "là đơn vị sự nghiệp khoa học, có chức năng nghiên cứu, triển khai hoạt động khoa học và đào tạo sau đại học về văn hóa thông tin" Từ vị trí và chức năng này, các phòng, ban nghiên cứu, hai phân viện

cùng tạp chí Nghiên cứu Văn hóa Thông tin đã được thành lập Năm 2006,

Trang 7

Bộ Văn hóa - Thông tin lại cho thành lập Trung tâm Nghiên cứu Đông Bắc

3 chuyên ngành: Lý luận và Lịch sử nghệ thuật sân khấu mã số 62.21.40.01;

Lý luận và Lịch sử mỹ thuật mã số 62.21.20.01; Lý luận và Lịch sử nghệ thuật điện ảnh, truyền hình mã số 62.21.50.01

1.5 Thời kỳ mang tên là Viện Văn hóa Nghệ thuật Việt Nam

Ngày 31-7-2007, Quốc hội khóa XII, đã thông qua quyết nghị thành lập

Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch Trong nghị định 185/NĐ-CP ngày

25-12-2007, Viện Văn hóa Nghệ thuật Việt Nam là một viện nghiên cứu trực thuộc

Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch Viện Văn hóa - Thông tin được chuyển thành Viện Văn hóa Nghệ thuật Việt Nam

Ngày 25-6-2008, Bộ trưởng Hoàng Tuấn Anh ký quyết định số 2845/QĐ-BVHTTDL qui định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ

chức của Viện Văn hóa Nghệ thuật Việt Nam Vị trí của Viện được xác định:

“là đơn vị sự nghiệp khoa học trực thuộc Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch

có chức năng nghiên cứu, triển khai hoạt động khoa học và sau đại học về văn hóa nghệ thuật” Cơ cấu các phòng ban được thay đổi so với thời kỳ

mang tên là Viện Văn hóa - Thông tin, để phù hợp với công việc nghiên cứu

ở một bộ đa ngành, trong đó đáng lưu ý là Ban Nghiên cứu Văn hóa gia đình, Trung tâm Nghiên cứu Dư luận về văn hóa, thể thao và du lịch

Năm 2009, Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành thông tư 10 về đào tạo tiến sĩ, trao quyền tự chủ cho các cơ sở đào tạo sau đại học Phòng Khoa học, đào tạo và hợp tác quốc tế được tách làm hai: Phòng Đào tạo, Phòng Khoa học và hợp tác quốc tế; để gánh vác công việc ngày càng nhiều và phức tạp về đào tạo tiến sĩ của Viện

Đáp ứng quan hệ phát triển ngày càng sâu rộng về văn hóa, thể thao và

du lịch của Việt Nam và Hàn Quốc, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã có quyết định số 1943/QĐ-BVHTTDL ngày 22-6-2011 của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch thành lập Văn phòng xúc tiến xây dựng Trung tâm giao lưu

văn hóa Việt - Hàn trực thuộc Viện Văn hóa Nghệ thuật Việt Nam

Trang 8

40 năm trôi qua, từ Viện Nghệ thuật đến Viện Văn hóa Nghệ thuật Việt Nam là một chặng đường Viện đã qua nhiều lần thay đổi cơ cấu tổ chức, tên gọi, nhưng tựu trung vẫn luôn luôn là một trung tâm nghiên cứu khoa học và đào tạo sau đại học hàng đầu về văn hóa, nghệ thuật của ngành văn hóa, thể thao và du lịch Việt Nam

Trang 9

II CƠ CẤU TỔ CHỨC

1 Lãnh đạo Viện:

Viện trưởng và các Phó Viện trưởng.

2 Các phòng chức năng:

a) Phòng Khoa học - Đào tạo - Hợp tác quốc tế;

b) Phòng Thông tin - Thư viện;

c) Phòng Tài vụ

d) Phòng Hành chính - Tổ chức.

3 Các ban chuyên môn:

a) Ban Nghiên cứu Chính sách và Phát triển văn hóa;

b) Ban Nghiên cứu Di sản văn hóa;

c) Ban Nghiên cứu Văn hóa sinh thái và Du lịch;

d) Ban Nghiên cứu Văn hóa nghệ thuật nước ngoài;

đ) Ban Nghiên cứu Lý luận và Lịch sử văn hóa nghệ thuật;

e) Ban Nghiên cứu Nghệ thuật;

g) Ban Nghiên cứu Văn hóa gia đình;

h) Trung tâm Nghiên cứu Đông Bắc Á;

i) Trung tâm Dữ liệu di sản văn hóa;

k) Trung tâm Nghiên cứu dư luận về văn hóa, thể thao và du lịch.

4 Các tổ chức trực thuộc:

a) Phân viện Văn hóa nghệ thuật Việt Nam tại Huế;

b) Phân viện Văn hóa nghệ thuật Việt Nam tại thành phố Hồ Chí Minh; c) Tạp chí Văn hóa học.

Trang 10

Phần thứ hai mục đích, yêu cầu và cơ sở pháp lý của việc bảo tồn và phát huy giá trị các di sản văn

hoá, kiến trúc, nghệ thuật

I Mục đích, yêu cầu:

Trong những năm vừa qua, công tác bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hoá đã nhận đ-ợc sự quan tâm to lớn của Đảng, Nhà n-ớc và của toàn xã hội Ngay sau khi đất n-ớc giành đ-ợc độc lập, chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký sắc lệnh số 65 ngày 23/11/1945 về bảo tồn cổ tích trên toàn cõi Việt Nam Nghị quyết Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung -ơng Đảng khoá

VIII đã xác định 10 nhiệm vụ quan trọng về “Xây dựng và phát triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc”

Điều 34, Hiến pháp n-ớc Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm

1992 đã xác định rõ “Nhà n-ớc và xã hội, bảo tồn và phát huy các di sản văn hoá dân tộc, chăm lo công tác bảo tồn, bảo tàng, tu bổ, tôn tạo, bảo tồn

và phát huy tác dụng của di tích lịch sử, cách mạng, các di sản văn hoá, các công trình nghệ thuật, các danh lam thắng cảnh

Nghiêm cấm các hành động lấn chiếm, xâm phạm đến di tích lịch sử, cách mang, các di sản văn hoá, các công trình nghệ thuật, các danh lam thắng cảnh”

Để bảo vệ và sử dụng có hiệu quả di tích lịch sử, văn hoá và danh lam thắng cảnh trong việc giáo dục truyền thống dựng n-ớc và giữ n-ớc của nhân dân Việt Nam, góp phần giáo dục tinh thần yêu n-ớc, yêu chủ nghĩa xã hội

và lòng tự hào dân tộc, nâng cao kiến thức, phục vụ công tác nghiên cứu khoa học, đáp ứng nhu cầu về thẩm mỹ và văn hoá của nhân dân, xây dựng

Trang 11

nền văn hoá mới và con ng-ời mới xã hội chủ nghĩa, làm giàu đẹp kho tàng

di sản văn hoá dân tộc và góp phần làm phong phú văn hoá thế giới Tạo điều kiện cho nhân dân thực hiện quyền làm chủ tập thể trong việc bảo vệ và sử dụng các di tích lịch sử, văn hoá và danh lam thắng cảnh Nâng cao nhận thức của toàn xã hội về giá trị và vai trò của di sản văn hoá trong phát triển

và huy động nguồn nhân lực, phát huy chủ thể văn hoá vào việc bảo tồn di sản văn hoá giúp cho các thế hệ t-ơng lai có điều kiện kế thừa và sáng tạo ra các giá trị văn hoá mới làm phong phú thêm kho tàng di sản văn hóa dân tộc

Đất n-ớc ta, theo thống kê có gần 4 vạn di tích trong đó có 2795 di tích lịch sử, văn hoá và danh lam thắng cảnh đ-ợc xếp hạng cấp quốc gia Rất nhiều trong số hàng vạn di tích ấy đã trở nên nổi tiếng không chỉ ở trong n-ớc mà còn ở quốc tế Nhiều di sản văn hoá của chúng ta đã đ-ợc UNESCO công nhận là di sản văn hoá và thiên nhiên thế giới nh-: Di tích cố đô Huế, Khu tháp Chăm Mỹ Sơn, Phố cổ Hội An, Vịnh Hạ Long, V-ờng Quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng, Nhã nhạc cung đình Huế, Cồng chiêng Tây Nguyên

Xác định rõ những định h-ớng lớn trong việc bảo vệ và phát huy di sản văn hoá là để tạo lập sự hài hoà giữa bảo tồn và phát triển, truyền thống

và hiện đại, dân tộc và quốc tế, góp phần thúc đẩy quá trình công nghiệp hoá hiện đại hoá đất n-ớc

Tuy nhiên cũng phải nhận thấy rằng, việc quản lý và bảo tồn di sản văn hoá (gồm di sản văn hoá phi vật thể và phi vật thể) hiện đang gặp nhiều khó khăn Bên cạnh việc ổn định, từng b-ớc cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, sức cám dỗ của đồng tiền trong nền kinh tế thị tr-ờng cũng đang khiến cho nhiều di tích văn hóa bị khai thác một cách bừa bãi Thêm vào đó, do quá trình đô thị hoá diễn ra với tốc độ nhanh, việc phát triển du lịch không đồng bộ và thiếu sự kiểm soát chặt chẽ cũng gây ra những tác động tiêu cực tới môi tr-ờng cảnh quan xung quanh các di tích

Trang 12

ở một số tỉnh, các cấp chính quyền do yếu kém về mặt nhận thức không làm tròn trách nhiệm và quyền hạn của mình trong việc quản lý Nhà n-ớc về di sản văn hoá ở địa ph-ơng theo phân cấp của Chính phủ, đã cho xây dựng nhà văn hóa, khu công viên, bãi đỗ xe ô tô… ngay trong khu vực bảo vệ của di tích đã đ-ợc Nhà n-ớc xếp hạng cấp quốc gia nh-: Di tích thành cổ Nhà Mạc (Hoà Bình), Lăng mộ Tuý Lý V-ơng (Thừa Thiên Huế),

di tích Cổ Loa (Hà Nội), Khu di chỉ làng Vạc (Nghệ An), Đình Trong (Hà Nội)… Có thể thấy việc bảo vệ và phát huy các di sản văn hóa là một công việc lâu dài và khó khăn, đòi hỏi sự tham gia và hợp tác không chỉ của riêng

đội ngũ cán bộ làm văn hoá mà còn của toàn thể cán bộ nhân dân trên cả n-ớc

II Cơ sở pháp lý:

Từ khi Nhà n-ớc Việt Nam dân chủ cộng hoà, nay là N-ớc Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam - thành quả của cuộc đấu tranh kiên c-ờng, anh dũng của nhân dân ta d-ới sự lãnh đạo của Đảng, Bác Hồ thì hệ thống pháp luật XHCN của Nhà n-ớc Việt Nam mới bắt đầu hình thành

Tại điều 12, Hiến pháp 1992 quy định “Nhà n-ớc quản lý xã hội bằng pháp luật và không ngừng nâng cao pháp chế XHCN” Do đó những mối

quan hệ quan trọng đã đ-ợc Nhà n-ớc xác định và đã ban hành văn bản pháp luật điều chỉnh thì trong mọi tr-ờng hợp phải dựa vào các quy định của pháp luật để giải quyết

Để bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hoá, đáp ứng nhu cầu về văn hoá ngày càng cao của nhân dân, góp phần xây dựng và phát triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc và đóng góp vào kho tàng di sản văn hoá thế giới Hệ thống các văn bản pháp luật về di sản văn hoá cần

Trang 13

áp dụng khi giải quyết các vụ việc liên quan đến vi phạm di sản văn hoá, cụ thể:

- Ngày 23/11/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký và công bố sắc lệnh số

65 về Bảo tồn cổ tích trên toàn cõi Việt Nam

- Ngày 29/10/1957, Thủ t-ớng Phạm Văn Đồng ký Nghị định 519/TTg

về bảo vệ di tích lịch sử và danh lam thắng cảnh

- Luật Di sản Văn hoá đ-ợc Quốc hội Khoá 10, kỳ họp thứ 9, thông qua ngày 14/6/2001, có hiệu lực từ ngày 01/01/2002 và Nghị định số 92/2002/NĐ-CP ngày 11/11/2002 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật di sản văn hoá

Chính phủ thống nhất quản lý nhà n-ớc về di sản văn hoá

Bộ Văn hoá - Thông tin thay mặt Chính phủ thực thi toàn bộ công tác bảo vệ và phát huy các di tích lịch sử, văn hoá nói riêng, các di sản văn hoá nói chung, Cục Di sản văn hoá là cơ quan trực thuộc Bộ Văn hoá - Thông tin,

có chức năng giúp Bộ tr-ởng quản lý Nhà n-ớc về di sản văn hoá và chỉ đạo, h-ớng dẫn về chuyên môn nghiệp vụ đối với các hoạt động bảo vệ và phát huy di sản văn hoá

Uỷ ban nhân dân các cấp trong phạm vi nhiệm vụ và quyền hạn của mình thực hiện việc quản lý nhà n-ớc về di sản văn hoá ở địa ph-ơng theo phân cấp của Chính phủ

Trang 14

Phần thứ BA: Nội dung tình huống

“vụ việc xâm phạm

di tích kiến trúc - nghệ thuật đình trong”

I Mô tả tình huống và diễn biến của tình huống:

1 Lịch sử làng Hòa Mục và cụm di tích Đền Trong:

Làng Hòa Mục (nay thuộc ph-ờng Trung Hòa, quận Cầu Giấy – Hà Nội) đã tồn tại từ hơn 1000 năm nay Từ thế kỷ thứ 5, làng cú tờn gọi là Trang Nhõn Mục, thuộc tổng Dịch Vọng Đến thế kỷ thứ 8, nơi đõy đó chứng kiến sự hi sinh bất khuất của người chỏu gỏi Bố Cỏi Đại Vương Phựng Hưng là vợ của Mai Thỳc Loan, hoàng hậu Phạm Thị Uyển trong cuộc chiến với giặc Đường ven sụng Tụ Lịch

Khi đất nước thanh bỡnh, Bố Cỏi Đại Vương trở về chiến trường xưa

và nhận thấy nơi đõy là mảnh đất lành, ụng ra lệnh xõy dựng hành cung và đền thờ cho những đứa chỏu của mỡnh và hướng dẫn dõn làng cỏch làm ăn Đỡnh làng hiện nay là nơi dõn làng Hũa Mục đó bao đời nay phong Bố Cỏi Đại Vương Phựng Hưng là thành hoàng làng để tưởng nhớ cụng ơn trời biển của ụng

Đến đời nhà Lờ, đõy là trận địa vững chắc để mở ra những hướng quan trọng đỏnh tan giặc Minh Đến cuối thế kỷ 19, người anh hựng ỏo vải Quang Trung khi tiến quõn từ Đàng Trong ra cũng chọn mảnh đất của làng

để thọc sõu vào lũng địch, diệt trọn gần 20 vạn giặc Thanh Những sự kiện lich sử ấy đó gắn liền với sự phỏt triển của làng Nhiều cõu chuyện dõn gian

Trang 15

khỏc mà đến nay dõn làng vẫn cũn truyền tụng đó khắc ghi cụng trạng của con em dõn làng phũ vua, giỳp nước

Làng Hũa Mục hiện nay cũng

được xem là làng cũn giữ gỡn khỏ đầy

đủ hệ thống thiết chế văn húa cổ xưa

nhất mà cơn súng đụ thị húa vẫn khụng

phủ mờ được Cú bảy di tớch cỏc loại

như đỡnh, đền, chựa, miếu, giếng cổ,

cổng làng; trong đú cú di tớch đó được Nhà nước xếp hạng quốc gia như đỡnh ngoài, đỡnh trong (chớnh là hành cung thờ ba chị em họ Phạm) và đền thờ Dục Anh Ngoài ra làng cũn cú bốn nhà thờ họ nổi tiếng và hàng chục ngụi nhà cổ trờn dưới 200 tuổi

Cụm di tích Đình Trong (tức đình Hoà Mục), Đình Ngoài và đền Dục Anh là cụm di tích thờ chung 3 vị thành hoàng đó là 3 chị em ruột: Phạm Uyển, Phạm Miễn, Phạm Huy, từng có công giúp Phùng H-ng đánh Cao

Chính Bình lấy lại Tống Bình (tức

Hà Nội ngày nay)

Cụm Di tích Đình Trong, Đình Ngoài và Đền Dục Anh mang trên mình một bề dày lịch sử trên 300 năm Cũng giống nh- nhiều ngôi

đình, đền, chùa khác của Việt Nam, nó đã bị phôi phai đi bởi thời gian và bị l-u lạc đi bởi trải qua những chặng đ-ờng lịch sử Cụm di tích đình, đền Hoà Mục vẫn đứng vững trong một không gian thoáng đãng, một cảnh quan khá hữu tình Với kết cấu theo một quẩn thể di tích, nó đã tạo cho cụm di tích sự

Một di tích cổ ở làng Hòa Mục

Trang 16

gắn bó khăng khít, càng tăng thêm phần giá trị về mặt nội dung lịch sủ, cũng nh- về kiến trúc nghệ thuật

Cụm di tích Đình Trong, Đình Ngoài và Đền Dục Anh tồn tại đ-ợc cho đến ngày nay là nhời sự bảo vệ chu đáo, nhiệt tình của nhiều tầng lới qua nhiều thế hệ Nhất là trong thời gian gần đây các cấp lãnh đạo của Đảng, chính quyền của địa ph-ơng, kết hợp với Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các cụ phụ lão của làng đã tích cực tham gia bảo vệ

Với những giá trị đã kể trên của cụm di tích, ngày 22/4/1992, Bộ tr-ởng Bộ Văn hoá - Thông tin đã ra quyết định số 490/QĐ xếp hạng cụm di tích Đình Trong - Đình Ngoài - Đền Dục Anh là di tích kiến trúc nghệ thuật Cụm di tích do UBND quận Cầu giấy trực tiếp quản lý và bảo vệ theo Quyết

định phân cấp quản lý số 2618/QĐ-UB ngày 07/6/1998 của UBND Thành phố Hà Nội

2 Diễn biến của tình huống:

2.1 Đề xuất của UBND Ph-ờng Trung Hoà về việc xây dựng nhà văn hoá:

Năm 2005, tập thể lãnh đạo ph-ờng Trung Hoà, quận Cầu Giấy gửi văn bản số 01/LT ngày 11/3/2005 đề nghị đầu t-, xây dựng nhà văn hoá ph-ờng Trung Hoà tại khu vực tổ 29, 30 (làng Hoà Mục)

Theo báo cáo của UBND ph-ờng Trung Hoà, căn cứ vào bản đồ địa chính và hồ sơ đ-ợc các cấp có thẩm quyền phê duyệt đang l-u giữ tại UBND ph-ờng Trung Hoà, vị trí xây dựng nhà văn hóa là khu đất kẹt nằm trong khu dân c- do Hợp tác xã quản lý, giao cho các hộ dân canh tác và đã

đ-ợc các cấp có thẩm quyền phê duyệt xây dựng nhà trẻ theo QĐ số 43/1999/QĐ-UB Do quá trình đô thị hoá, các hộ dân c- xung quanh khu đất

đã xây dựng nhà ở, đổ rác thải, n-ớc thải sinh hoạt gây ô nhiễm môi tr-ờng

Trang 17

Các ban, ngành, đoàn thể ph-ờng Trung Hoà mong muốn công trình nhà văn hoá đ-ợc xây dựng sẽ góp phần giữ gìn vệ sinh môi tr-ờng trong khu vực, mang lại cho nhân dân một địa điểm rộng rãi để giải trí (đặc biệt đối với ng-ời già và trẻ em), ngoài ra còn hỗ trợ thêm cho hoạt động sinh hoạt văn hóa, tín ng-ỡng của Đình Trong Công trình nhà văn hóa sẽ đ-ợc xây dựng phù hợp với kiến trúc và cảnh quan khu vực ngôi Đình

Trên cơ sở kiến nghị của ph-ờng Trung Hòa, UBND quận Cầu Giấy đã chỉ đạo các Phòng Tài nguyên môi tr-ờng, Ban Quản lý dự án quận và Phòng VHTT-TDTT tiến hành kiểm tra, khảo sát thực tế Sau khi xem xét cụ thể, các phòng, ban đã thống nhất với đề nghị của ph-ờng Trung Hoà đề xuất với lãnh đạo UBND quận đầu t- xây dựng Nhà văn hoá ph-ờng Trung Hoà (NVH) tại khu vực tổ 29, 30 của ph-ờng Đơn vị thi công là Công ty xây dựng dân dụng Hà Nội

2.2 Diễn biến quá trình xây dựng Nhà văn hoá:

Ngày 10/10/2005, UBND Quận Cầu giấy ra quyết định số

1384/QĐ-UB về việc phê duyệt báo cáo kinh tế kỹ thuật dự án đầu t- Nhà văn hoá ph-ờng Trung Hoà Công trình đã bắt đầu đ-ợc xây dựng

Tháng 12/2005, nhân dân Hoà Mục - Trung Hoà đã viết đơn gửi Ban Quản lý di tích và danh thắng Thành phố Hà Nội về việc xây dựng nhà văn hoá nằm trong khu vực bảo vệ I của di tích

Ngày 10/01/2006, Ban Quản lý di tích và danh thắng - Sở Văn hoá - Thông tin Hà Nội phối hợp với Phòng VHTT-TDTT quận Cầu giấy, UBND ph-ờng Trung Hoà tiến hành kiểm tra thực tế tại di tích và căn cứ theo biên bản và bản đồ khoanh vùng bảo vệ di tích năm 1992 thì vị trí thi công công trình NVH Trung Hoà nằm trong khu vực bảo vệ I của di tích Đình Trong

Trang 18

Công trình này đ-ợc xây dựng không xin ý kiến thoả thuận của ngành văn hoá

Ban Quản lý di tích và danh thắng Hà Nội đã có ý kiến tại các công văn số 10/QLDT, ngày 16/01/2006 và số 36/QLDT, ngày 06/02/2006 đề nghị UBND quận Cầu Giấy chỉ đạo UBND ph-ờng Trung Hoà cho chuyển dịch nhà văn hoá Trung Hoà ra khỏi phạm vi khu vực bảo vệ I của di tích

Đình Trong

Ngày 06/2/2006, Cục Di sản văn hoá - Bộ VHTT nhận đ-ợc đơn kiến nghị khẩn cấp của những ng-ời cao tuổi và nhân dân làng cổ Hoà Mục rất bức xúc, bất bình và phẫn nộ về việc UBND ph-ờng Trung Hoà cho xây nhà

2, 3 tầng ở khu đất thuộc phạm vi di tích đã đ-ợc xếp hạng, án ngữ tr-ớc cửa

Đình Trong, phá vỡ cảnh quan di tích tâm linh tín ng-ỡng của nhân dân và vi phạm Luật Di sản văn hoá

Ngày 13/2/2006, Cục Di sản Văn hoá đã có công văn số 79/DSVH-DT

gửi Sở VHTT Thành phố Hà Nội, trong đó đề nghị: “Sở VHTT Hà Nội chỉ

đạo các cơ quan chuyên môn kiểm tra sự việc trên, nếu đúng nh- phản ảnh của nhân dân cần đề xuất ph-ơng án xử lý trình UBND Thành phố xem xét, giải quyết theo quy định của Luật Di sản văn hoá”

Đến đây sự việc t-ởng chừng nh- đã rõ ràng, ý kiến chỉ đạo của các cơ quan có chức năng quản lý nhà n-ớc đối với khu di tích đã đ-ợc ban hành Theo thông lệ, các bên liên quan sẽ dừng thi công để bàn bạc và tìm biện pháp tháo gỡ, tránh xâm hại khu di tích và gây lãng phí cho ngân sách Nhà n-ớc (công trình đã đ-ợc xây xong tầng 1)

Tuy vậy, ngày 09/3/2006, Ban Quản lý dự án quận Cầu Giấy có công văn số 102/CV-BQL đề nghị Công ty xây dựng dân dụng Hà Nội khẩn

Ngày đăng: 05/05/2021, 12:15

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1- Pháp lệnh Bảo vệ và sử dụng di tích lịch sử, văn hoá, danh lam thắng cảnh 1984 Khác
3- Luật Di Sản Văn hoá - 1992 Khác
4- Hiến pháp n-ớc Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam Khác
5- Hồ sơ xếp hạng cấp quốc gia Cụm di tích Đình Trong - Đình Ngoài - Đền Dục Anh Khác
6- Một số công văn liên quan đến quá trình giải quyết vụ việc xâm phạm di tích Đình Trong Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w