Các nhân vật đó đã làm rạng rỡ thêm truyền thống quê hương Nam Đàn nói riêng và xứ Nghệ nói chung.Hơn nữa, thông qua việc tìm hiểu, nhận thức sâu sắc truyền thống lịch sử,văn hóa của làn
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
-LÊ THỊ THÚY HẰNG
LỊCH SỬ- VĂN HÓA LÀNG HOÀNH SƠN XÃ KHÁNH SƠN - HUYỆN NAM ĐÀN - TỈNH NGHỆ AN
(TỪ NĂM 1802 ĐẾN NĂM 1945)
CHUYÊN NGÀNH: LỊCH SỬ VIỆT NAM
Mã số: 60 22 54
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC LỊCH SỬ
Người hướng dẫn: PGS-TS Nguyễn Quang Hồng
Trang 2VINH- 2012
MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Làng Việt có vai trò quan trọng đối với sự tồn tại và phát triển của lịch sửdân tộc Trong điều kiện tình hình xã hội hiện đại, bên cạnh các thành tựu đángmừng, thì một số giá trị lịch sử, văn hóa, trong đó có văn hóa làng xã đang dần
bị mai một Chính vì vậy, việc gìn giữ và phát triển văn hóa làng xã đóng mộtvai trò quan trọng, do đó việc tìm hiểu và nghiên cứu những giá trị lịch sử, vănhóa, về các làng xã Việt Nam là điều cần thiết
Nam Đàn quê hương Chủ tịch Hồ Chí Minh là một vùng đất có bề dàylịch sử truyền thống, văn hóa Chính truyền thống đã hình thành nhiều dòng họ,nhiều làng nổi tiếng trong lịch sử Trong những làng đó, có làng Hoành Sơn.Hoành Sơn là một trong những làng cổ ở lưu vực Sông Lam, nay thuộc xãKhánh Sơn huyện Nam Đàn
Trong lịch sử hình thành và phát triển làng Hoành Sơn xưa thực sự đã tạo
ra đời sống vật chất và tinh thần hết sức phong phú Đó là bản sắc văn hóađược sáng tạo, được dựng xây, bồi đắp qua nhiều thời đại, rất nhiều thế hệ, màrất tiếc lớp bụi thời gian che phủ, xua tan lớp bụi, giải mã các thông điệp màngười đời gửi cho hậu thế, người nhận giá trị văn hóa cổ truyền sẻ là một côngviệc vô cùng lý thú và cần thiết với đời sống hôm nay
Cũng như vùng đất xứ Nghệ địa linh nhân kiệt, Hoành Sơn là một trongnhững vùng đất sản sinh ra nhiều nhân tài, văn nhân Với sự gần gũi, chânthành, mộc mạc, đức trọng, tài cao, chí lớn…của họ từ lâu đã đi vào tiềm thứccủa người dân và được lưu truyền trong sử sách Các nhân vật đó đã làm rạng
rỡ thêm truyền thống quê hương Nam Đàn nói riêng và xứ Nghệ nói chung.Hơn nữa, thông qua việc tìm hiểu, nhận thức sâu sắc truyền thống lịch sử,văn hóa của làng Hoành Sơn, giúp người đọc và thế hệ trẻ, trong đó có bản thântác giả biết trân trọng, tự hào về đóng góp của thế hệ cha ông đi trước, giáo dục
Trang 3niềm tin, tình yêu quê hương đất nước, biết sống có đạo lý, nhân nghĩa, vữngtin vào tương lai.
Mặt khác, việc khảo cứu, nghiên cứu một cách có hệ thống với nhữngđóng góp của đề tài sẽ góp phần bổ sung nguồn tài liệu hữu ích trong lĩnh vựcnghiên cứu địa phương học Nghệ An
Nghiên cứu về lịch sử - văn hóa làng Hoành Sơn là góp phần tìm hiểu vềlịch sử hình thành và phát triển của các làng cổ dọc lưu vực Sông lam Đồngthời để đi sâu làm rõ những đóng góp của các thế hệ cư dân Hoành Sơn đối vớilịch sử dân tộc Tìm ra những đặc điểm riêng trong lịch sử hình thành của làngHoành Sơn so với các làng khác
Chính vì vậy, để hiểu sâu hơn về điều này buộc chúng tôi phải quay vềnghiên cứu toàn bộ làng cổ Hoành Sơn để biết được những yếu tố văn hóa làngxưa, khôi phục lại bức tranh toàn cảnh về văn hóa một làng quê có núi, vừa cósông lại có cả những cánh đồng bao la bát ngát thẳng cánh cò bay Từ đó biếtbảo tồn và phát huy những giá trị tiến bộ, khoa học nhân văn của làng văn hóalàng truyền thống trong mối quan hệ với gia đình, dòng họ, làng nước, trongmối quan hệ kinh tế mở cửa với sự chấn hưng gìn giữ và bảo vệ nền văn hóadân tộc
Xuất phát từ những lý do trên, cộng với tấm lòng chân thành của mộtngười con xứ Nghệ Tôi mạnh dạn chọn vấn đề: “Lịch sử - văn hóa làng HoànhSơn xã Khánh Sơn – huyện Nam Đàn – Tỉnh Nghệ An (Từ năm 1802 đến năm1945)” làm luận văn tốt nghiệp của mình
2 Lịch sử vấn đề
Nghiên cứu về văn hóa làng không còn là mảng đề tài mới nhưng vẫnkhông kém phần hấp dẫn, lý thú Trong thời đại hiện nay, vấn đề gìn giữ vàphát huy những giá trị văn hóa của mỗi địa phương nói riêng, của dân tộc nóichung, các công trình nhiên cứu về làng văn hóa ngày càng tăng về số lượng.Cũng như các làng trên toàn quốc, làng Hoành sơn đã được giới nghiên cứu địaphương quan tâm
Công trình: “Nam Đàn xưa và nay” của tập hợp nhiều tác giả (NXB Vănhóa thông tin 2000) cuốn sách đã viết về các vấn đề “xưa và nay’ trên các lĩnh
Trang 4vực địa lý, kinh tế, văn hóa, nhân vật…của Nam Đàn, trong đó có đề cập ítnhiều về đình Hoành Sơn, về Thám Hoa Nguyễn Đức Đạt, nhưng lại khôngnghiên cứu về làng Hoành Sơn; trong công trình : “ Nam Đàn – Quê hươngChủ tịch Hồ Chí Minh” (Ninh Viết Giao – Trần Thanh Tâm – NXB Tổng hợpthành phố Hồ Chí Minh) cũng nhắc đến đình Hoành Sơn, Thám Hoa NguyễnĐức Đạt, dòng họ Nguyễn Đức, nhưng không cho biết thêm về lịch sử-văn hóalàng Hoành Sơn; “Bước đầu tìm hiểu lịch sử huyện Nam Đàn” (Quang Đạm vàNguyễn Bá Mão – NXB Văn hóa thông tin); “Lịch sử Đảng bộ ĐCSVN huyệnNam Đàn”.
Tác giả: Nguyễn Thị Hiền trong luận văn tốt nghiệp cao học thạc sĩchuyên nghành lịch sử Việt Nam, về cuộc đời và sự nghiệp của Thám HoaNguyễn Đức Đạt có đề cập đôi nét về vùng đất Khánh Sơn Nam Đàn
“Lịch sử Đảng bộ xã Khánh Sơn”, đây là công trình do BCH Đảng bộ xãKhánh Sơn soạn thảo, công trình này đề cập tương đối đầy đủ và có hệ thống
về các vấn đề của xã Khánh Sơn
Nhìn chung các tư liệu trên đã đề cập đến văn hóa làng Hoành Sơn xưa.Song tất cả những tài liệu đó đều là những mảnh riêng lẻ chứ chưa đi sâu vàonghiên cứu và hệ thống hóa một cách đầy đủ, toàn diện về văn hóa truyềnthống của làng Làng Khánh Sơn, ngoài đình làng nổi tiếng: Đình Hoành Sơn,còn có các dòng họ nổi tiếng như: Nguyễn Trọng, Nguyễn Đức, Trần, Lê,Nguyễn… Đã có nhiều đóng góp với quê hương, đất nước trong lĩnh vực xâydựng, phát triển văn hóa, giáo dục khoa cử, kinh tế, chính trị, bang giao…Như vậy, tất cả những điều đó cũng đã chứng minh rằng Hoành Sơn gâyđược sự chú ý của giới nghiên cứu ở Nghệ An và cả nước Từ đó đòi hỏi cácthế hệ tiếp nối, tiếp tục đi sâu nghiên cứu một cách toàn diện hơn về lịch sử -văn hóa làng Hoành Sơn xưa để góp phần phát huy những giá trị văn hóa đótrong giai đoạn hiện nay
3 Phạm vi nghiên cứu, nhiệm vụ khoa học của đề tài.
Trên cơ sở những tài liệu hiện có, chúng tôi đặt ra phạm vi nghiên cứu của
đề tài: ''lịch sử - văn hóa làng Hoành Sơn ( xã Khánh Sơn), huyện Nam Đàn,tỉnh Nghệ An từ năm 1802 đến năm 1945''
Trang 5Về mặt thời gian: Chúng tôi chỉ tập trung nghiên cứu về làng Hoành Sơn
từ năm 1802 đến năm 1945 Trong quá trình nghiên cứu chúng tôi có đề cậpđôi nét về làng Hoành Sơn trước năm 1802 và sau năm 1945
Về mặt không gian: Không gian nghiên cứu của luận văn được xác định rõràng trong phạm vi không gian của làng Hoành Sơn từ năm 1802 đến năm
1945 Những nội dung khác không nằm trong phạm vi nghiên cứu của đề tài
4 Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu
4.1 Nguồn tư liệu
4.1.1 Tài liệu chữ viết
“An – Tĩnh cổ lục” (H.LeBreTon); “Đại Nam Nhất Thống Chí” (Quốc sửquán triều Nguyễn); “Đại Việt sử ký toàn thư” (NXB UBKHXH Hà Nội 1972);
“Lịch triều hiến chương loại chí” (Phan Huy Chú)
Ngoài ra, chúng tôi cũng khai thác các tài liệu như: “Hồ sơ khoa học vềđình Hoành Sơn” (Sở văn hóa thông tin – Bảo tàng Nghệ An), các hiện vật ởđình Hoành Sơn, gia phả các dòng họ lớn như Nguyễn Đức, Nguyễn Trọng,Trần, Lê, Nguyễn v.v
4.1.2 Tài liệu nghiên cứu
Chúng tôi tham khảo những tài liệu nghiên cứu lịch sử - văn hóa như:
“Đất nước Việt Nam qua các đời” (Đào Duy Anh – NXB Thuận Hóa – Huếnăm 1992); “Các tạp chí văn hóa”, “Nam Sơn Tùng thoại” (Nguyễn Đức Đạt);
“Giáo dục khoa bảng Nghệ An” (Năm 1075 – 1919 của Đào Tam Tỉnh); “Quốctriều hương khoa lục” (Cao Xuân Dục); “Non nước Việt Nam” (Tổng cục dulịch); “Cơ cấu tổ chức của làng Việt cổ truyền thống ở Bắc Bộ (Nguyễn TừChi); ''Lịch sử Đảng bộ Nam Đàn" tập 1, tập 2 ( NXB Nghệ Tĩnh)
Ngoài ra, chúng tôi còn tham khảo một số tài liệu về phong tục, tập quán,tín ngưỡng như: “Phong tục Việt Nam thờ cúng tổ tiên” (NXB KHXH 1991);
“Những điều cần biết về việc cưới, việc tang và lễ hội ở Nghệ An” (Tạ QuangTâm – NXB Nghệ An), v.v
Bên cạnh đó còn có một số tài liệu tham khảo như: Bài viết của tác giảNguyễn Quang Hồng về các bước chạm đến Hoành Sơn (Trên tạp chí văn hóa
Trang 6nghệ thuật năm 2000); “Băng về đình làng ở lưu vực sông Lam” (Đài truyềnhình Nghệ An), v.v
Nói chung phần tài liệu sẻ được nêu đầy đủ trong mục tài liệu tham khảo,
để tiện theo dõi, so sánh
4.2 Phương pháp nghiên cứu
4.2.1 Sưu tầm tài liệu
Để có nguồn tư liệu phục vụ cho luận văn, chúng tôi tiến hành sưu tầm,tích lũy, soa chép tư liệu ở thư viện tỉnh Nghệ An, thư viện huyện Nam Đàn,văn phòng UBND huyện Nam Đàn, Sở văn hóa thông tin bảo tàng Nghệ An, sửdựng phương pháp phỏng vấn, nghiên cứu, sao chép, chụp ảnh làm tư liệu cácđình, đền ở xã Khánh Sơn
4.2.2 Xử lý tài liệu
Để hoàn thành luận văn chúng tôi sử dụng phương pháp sử học và phươngpháp lô gich là hai phương pháp chủ yếu Ngoài ra còn sử dụng phương phápthống kê, so sánh, đối chiếu, để xử lý tư liệu và trình bày các nội dung củaluận văn một cách khoa học, có hệ thống
5 Đóng góp khoa học và giá trị thực tiễn của luận văn
Luận văn là công trình nghiên cứu về một làng cổ ở vùng hạ lưu SôngLam mà các thế hệ cư dân ở đó đã tạo ra nhiều giá trị văn hóa vật chất, tinhthần ở dạng vật thể và phi vật thể, lưu giữ trong nhiều thế kỷ cho đến ngày nay
Vì vậy luận văn đã:
-Tập hợp các tư liệu có liên quan để tự nghiên cứu đối chiếu
-Làm rõ lịch sử văn hóa của làng Hoành Sơn từ năm 1802 đến năm 1945.-Trình bày những đóng góp của các thế hệ người dân Hoành Sơn một cách
có hệ thống trong khoảng thời gian đề tài xác định
- Trình bày rõ những phong tục, tập quán, tôn giáo, và đời sống văn hóa ởlàng Hoành Sơn Từ đó chỉ rõ những giá trị văn hóa vật chất và tinh thần mà
các thế hệ cư dân làng Hoành Sơn đã tạo ra để kế thừa và phát huy
-Luận văn làm phong phú thêm cho việc xây dựng bộ lịch sử địa phương,
là nguồn tư liệu cho việc xây dựng chương trình và giảng dạy lịch sử địaphương ở các trường THPT của tỉnh Nghệ An
Trang 7Giáo dục thế hệ trẻ hiểu thêm về lịch sử của các làng nói riêng, các dântộc nói chung, hiểu thêm về công lao của cha ông, về những tấm gương sáng,
từ đó biết nâng niu, trân trọng, gìn giữ và có ý thức phát huy truyền thống tốtđẹp của làng
6 Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, danh mục, tài liệu tham khảo và phụ lục thì nội dung chính của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Khái quát về làng Hoành Sơn
Chương 2: Tình hình sản xuất kinh tế và cơ cấu tổ chức của làng Hoành Sơn
Chương 3: Đời sống văn hóa của làng Hoành Sơn
Trang 8NỘI DUNG CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT VỀ LÀNG HOÀNH SƠN
1.1 Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên
1.1.1 Vị trí địa lý
Các thế hệ người dân Hoành Sơn (thuộc xã Khánh Sơn) có quyền tự hàođược sinh ra, lớn lên từ một vùng quê có truyền thống văn hóa lâu đời với bềdày lịch sử suốt hàng trăm năm
Hoành Sơn – Khánh Sơn nằm ở phía hữu ngạn sông Lam, cách trung tâmhuyện Nam Đàn đúng 8km về phía Nam, để đến với Hoành Sơn chúng ta có thể
đi từ thị trấn Nam Đàn, dọc theo đê 42 rồi qua đò Rú Gềnh…, hoặc qua cầuNam Đàn rồi đi theo đường 15 xuôi về Hoành Sơn, hoặc từ Thanh Chươngchúng ta có thể đến được với Hoành Sơn bằng nhiều đường khác
Hoành Sơn – Khánh Sơn nằm trong cụm dân cư 5 xã (5 Nam), thuộchuyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An vùng đất này trước kia mang tên là Nam Hoa
“Nam Hoa là tên tổng có từ thời Lê đến triều Nguyễn từng thuộc cáchuyện Chi La, Đức Quang, Thanh Chương Đến thời Nguyễn đổi thành NamKim rồi sát nhập vào Nam Đàn từ đó” [5,11]
Nam Kim, lưng dựa vào núi Thiên Nhẫn, phần cuối cùng dãy núi làm ranhgiới ngăn cách hai huyện: Nam Đàn – Nghệ An và Hương Sơn – Hà Tĩnh XãKhánh Sơn là hình ảnh thu nhỏ của Tổng Nam Kim, trước mặt sông, sau lưng
là núi – núi Động Sơn (Rú Hốc) là ngọn núi cuối cùng của nhánh về đông củadãy Thiên Nhẫn
Núi Thiên Nhẫn là dãy núi bắt đầu từ huyện Tương Dương – Tỉnh Nghệ
An kéo dài đến tận Ngạn Sơn (Rú Nghèn) huyện Thạch Hà – Tỉnh Hà Tĩnhphần núi Thiên Nhẫn nằm trong huyện Nam Đàn chạy từ phía Tây đến phía
Trang 9Nam huyện, nằm trong vùng giáp giới của huyện Nam Đàn với huyện ThanhChương và hai huyện Hương Sơn, Đức Thọ (Hà Tĩnh), Hoành Sơn (KhánhSơn) là một vùng quê hương phong phú, đa dạng vừa khắc nghiệt, vừa độlượng và rất nên thơ.
Địa giới giữa các làng trong xã mới được xác định từ triều Lê Ngày nay,ranh giới bao quanh xã đã ổn đinh, nó được nối trực tiếp với nhiều xã trongvùng
Phía Tây của Hoành Sơn (Khánh Sơn) giáp xã Nam Lộc, phía Bắc giápcác xã Hồng Long, Xuân Lâm (huyện Nam Đàn), Hưng Lĩnh, Hưng Long(Huyện Hưng Nguyên), phía Đông giáp xã Nam Trung, một phần của xã NamPhúc, phía Nam và Tây Nam giáp các xã: Nam Kim (Nam Đàn), Xã ThanhLâm (Thanh Chương), Sơn Tiến (Hương Sơn – Hà Tĩnh)
Điều kỳ vỹ mà thiên nhiên đã ban tặng cho Hoành Sơn (Khánh Sơn) làmột vùng đất đai rộng rãi có hình sông, thế núi, khí tượng tươi sáng
Phía Nam có dãy núi Thiên Nhẫn (Nghìn đỉnh) chạy từ đầu đến cuối xãnhư bức tường thành hùng vĩ, tạo thành địa giới hành chính tự nhiên với các xãxung quanh Nhiều bậc danh nho từng ví Thiên Nhẫn như “nghìn ngựa ruổirong” (Thiên mã xu trào “Trường thành che chắn”…
Chính dãy núi Thiên Nhẫn tạo cho Khánh Sơn một bức tường thành hùng
vĩ, đồng thời cũng là kho tài nguyên thiên nhiên vô tận
Ở phía Bắc sông Lam đoạn qua Khánh Sơn dài 4km, như một dải lụa mềmtạo cho Khánh Sơn phong cảnh “Sơn thủy hữu tình”
1.1.2 Điều kiện tự nhiên.
1.1.2.1 Đất đai – Sông ngòi
Theo số liệu thống kê đất đai xã Khánh Sơn vào năm 2011, Khánh Sơn cótổng diện tích đất tự nhiên là 3.113.35 ha, trong đó:
Trang 10Ở phía Bắc có 176 ha là dải đất phù sa do sông Lam hàng năm bồi đắp, làvùng đất có nhiều trác tuyệt, màu mỡ thích hợp với nhiều loại cây trồng.
Ở vùng giữa có 595ha, là vùng đồng bằng, có độ chênh lệch giữa các thửakhông lớn, ít bị trôi rửa, độ cao trung bình so với mặt nước biển khoảng 15 –20m, thuận lợi cho việc trồng hai vụ lúa nước cho năng suất cao trong năm(một phần diện tích có thể làm 3 vụ), trồng ngô trên đất hai lúa sau vụ hè thu.Vùng đất đồi ven chân dãy núi Thiên Nhẫn với 530ha, có độ dốc từ 10 –
15 độ, đây là vùng đất rất thích hợp cho trồng cây lấy gỗ, cây ăn quả lâu năm(như: bạch đàn, thông nhựa, cam, chanh, bưởi, hồng xiêm…)
Ngoài 3 vùng đất chính nói trên, Khánh Sơn còn có nhiều ngọn núi khácthuộc dãy Thiên Nhẫn, ẩn chứa nhiều điển tích với những tên riêng như: ĐôngCao, Khe Lon, Eo Vọt, Lèn Dơi, Eo Vòng, Động Lở, Lá Sen, Rú Sắc, Đập Bể,
Am Già, Trục Trịnh, Núi Đồn (Đại Lan), núi Mỡ, Rú Con, Rú Dẻ, Rú Vàng,
Rú Bạc, Rú Ngang, Rú Hốc (Đông Sơn), Rú Bùi, Rú Trám… Hiện nay, mỗingọn núi ấy đang là nơi nuôi dưỡng nhiều giống cây trồng có giá trị kinh tế caonhư: Thông nhựa, cam, hồ tiêu,…
Sông ngòi và khe suối tự nhiên của Khánh Sơn không nhiều, chỉ có sôngLam ở phía Bắc chảy qua địa phận xã rồi hợp lưu với sông La (Hà Tĩnh), cùng
đổ ra biển Ngoài ra, còn có 3 dòng khe chính do nước ngầm tự nhiên từ dãyThiên Nhẫn tích tụ chảy ra các đập chứa Hao Hao, Vực Mấu, Kim Khánh vàcùng đổ vào con kênh đào có tên “Kênh tiêu úng 5 Nam” được huyện cho đào
từ nhăm 1986
1.1.2.2 Khí hậu – Thời tiết
Hoành Sơn – Khánh Sơn (Nam Hoành) nằm trong tiểu vùng khí hậu nhiệtđới gió mùa Bắc Trung Bộ, nên mỗi năm hình thành 2 mùa rõ rệt:
- Mùa nóng:
Thường bắt đầu từ tháng 4 và kết thúc vào tháng 10 Mùa này chịu ảnhhưởng trực tiếp của gió mùa Tây Nam (gió Lào) thổi thành từng đợt, mỗi đợt 4-7 ngày gây khô, vì khi thổi từ Thái Lan qua Lào, vượt qua dãy Trường Sơn,trút mưa bên sườn Tây, bị biến tính rồi đi vào Việt Nam Đây cũng là mùa nắngnóng, do đó trước đây, khi chưa có hệ thống thủy lợi, mùa này là mùa khô và
Trang 11nóng, nhiệt độ trung bình 250 – 300, lúc nóng nhất (thường từ tháng 6 đến tháng8) khi lên đến 400, gây hạn cho ruộng đồng, thậm chí gây mất mùa nặng cho vụchiêm: “Lúa trổ lập hạ buồn bã cả làng”.
Trong “Nghệ An thi tập”, Hoàng Giáp – Bùi Huy Bích (1744 – 1818) khiông làm đốc đồng trấn Nghệ An (1777 – 1781) dưới triều Lê Hiển Tổng đã đểlại bài thơ ngụ ngôn tứ tuyệt nói về thời tiết và khí hậu xứ Nghệ nói chung,Nam Đàn và Hoành Sơn nói riêng về mùa nóng khá đúng như sau:
“Hạ Lai phong tự hóa
Thu khứ vũ như ma
Thập nguyệt giang hoàn Lao
Trùng cửu cúc vị hoa”
Dịch thơ:
“Hè đến gió Lào như lửa đốt
Thu qua mưa phùn lấm tấm ra
Tháng mười sông còn tràn nước lũ
Mồng chín tháng chín cúc chưa hoa”.[12,27]
Đây cũng là mùa mưa bão, lũ lụt, trước đây trung bình hằng năm có 3 – 5cơn bão mạnh đổ bộ vào Nghệ An Một số cơn bão gây thiệt hại lớn đã đổ bộvào Khánh Sơn, đặc biệt có những lũ tiểu mạn (tháng 4), cũng đã gây thiệt hạilớn
Mùa lạnh:
-Thường từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau Mùa này chịu ảnh hưởng trựctiếp của gió mùa Đông Bắc và Tây Bắc gây lạnh, hanh, khô (thổi từng đợt từ 5– 7 ngày/đợt), và mưa phùn, ẩm ướt Nhiệt độ trung bình từ 15 – 200, khi thấpnhất (thường từ tháng 1 đến tháng 2), có thể xuống dưới 100, gây rét đậm, réthại, làm ảnh hưởng đến sản xuất và sức khỏe cho con người và gia súc Cónăm, đầu mùa còn có mưa lũ gây tổn thất cho mùa màng, tài sản của nhân dân.Những ngày có mưa dầm, nhiệt độ thường xuống thấp, vùng đất Nam Hoa luônchịu những đợt mưa dầm và rét mướt như vậy
-Về vũ lượng hàng năm tại Hoành Sơn: Lượng mưa trung bình từ1990mm đến 2000mm, nhiệt độ trung bình 18,50C, độ ẩm 85 – 86%
Trang 12Tóm lại, xét về vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên thì Hoành Sơn – KhánhSơn có nhiều yếu tố thuận lợi để phát triển kinh tế đa dạng Bởi lẽ:
-Hoành Sơn – Khánh Sơn là một vùng có vị trí trọng yếu về quốc phòng:tiến là tốc thắng, thế thủ là vững chắc Dãy Thiên Nhẫn là một trường thành bấtkhả xâm phạm Dòng sông Lam là hàng rào thủy trấn giữ vững chắc phía Bắc
- Nhiều triều đại Đinh – Lê – Lý – Trần, Nguyễn Huệ từng coi nơi đây là:
“giang sơn chiến địa”
Hơn nữa, về mặt đất đai ở cả 3 vùng tuy có khác nhau, song đều thích ứng
sự sinh trưởng, phát triển của tập đoàn đa cây trồng và có khả năng mang lạihiệu quả kinh tế cao
Tuy nhiên Hoành Sơn – Khánh Sơn cũng là vùng chịu sự tác động khắcnghiệt của thiên nhiên như: hạn hán, bão, lũ lụt, do đó, cuộc vật lộn của nhiềuthế hệ người dân Hoành Sơn để sản xuất, tổ chức cuộc sống nhiều năm, nhiềuthời kỳ không kém phần lao đao, cực nhọc
Trải qua nhiều thế hệ, nhân dân Hoành Sơn – Khánh Sơn đã tận dụngnhững lợi thế của thiên nhiên ban tặng, luôn vươn cao sức mình để chế ngựthiên nhiên, đem lại niềm vui cho cuộc sống
1.2 Lịch sử hình thành làng Hoành Sơn.
1.2.1 Khái niệm Làng là gì?
Theo từ điển tiếng Việt “Làng là khối dân cư ở nông thôn làm thành mộtđơn vị có đời sống riêng về nhiều mặt và là đơn vị hành chính thấp nhất thờiphong kiến”
Theo giáo sư Nguyễn Từ Chi: Làng là từ Nôm, để chỉ đơn vị dân cư nhỏnhất ở các vùng nông thôn Việt Nam, vùng đồng bằng và trung du Bắc Bộ Xãcủa người Việt có thể bao gồm từ một đến nhiều làng, tùy từng trường hợp.Mặt khác, trong từng trường hợp xã lại chỉ có 1 làng, vì “xã là cách gọi làng vàthôn là cách gọi của xóm (xét về mặt hành chính) Đôi khi một xã cũng có thềgồm vài làng và một thôn cũng có thể gồm vài xóm'' [6,9]
Từ rất xa xưa, làng là một thực thể thấp nhất, nước là một thực thể caonhất, giữa làng và nước không có thực thể trung gian Làng có thể chuyển
Trang 13thành xã, thôn, tràng, giáp…trong từ Hán – Việt, đồng thời vẫn bảo lưu tênlàng theo từ gốc Việt cũ.
Nếu tính từ Làng đến đất nước, có một loại thực thể trung gian gọi bằng từHán – Việt là: Tổng – Huyện – Quận – Phủ - Trấn Từ khi có chữ Hán lưu hànhtại Đại Việt, đã xuất hiện tên làng đa dạng hơn Ngạn ngữ đã có câu: “Tình làngnghĩa xóm mãi tương đồng”
Tại Hoành Sơn hiện nay, nhiều tên làng vẫn được lưu truyền và việt hóa:Làng Thượng, làng Trung, làng Ngang, làng Đông, làng Bắc, làng Nam…
1.2.2 Sự ra đời của làng Hoành Sơn.
Cho đến nay, chưa có một tài liệu nào khẳng định vùng đất thuộc hữungạn sông Lam này được hình thành như thế nào và người đầu tiên đến đâysinh sống từ lúc nào Song với những tên làng: Kẻ Bạ, Kẻ Trẫy…mang dấu tíchcủa người Việt Cổ, chúng ta có thể nghĩ từ thời Văn Lang – Âu Lạc đã có một
số bộ tộc người Việt thường cứ trú ở đây
Làng Hoành Sơn cũng như nhiều địa danh khác ở lưu vực Sông Lam đượcngười Việt cổ tạo lập
Trang 14Hiện tại Hoành Sơn đang lưu trữ nhiều tên gọi chứa đựng bao khát vọngdài lâu như: Rú Vàng, Rú Bạc, Rú Sắc, Rú Đồn…từ những năm đầu Côngnguyênđến thế kỷ X, nhân dân ta đã vùng lên chống lại ách đô hộ tàn bạo củacác vương triều phong kiến phương Bắc Trong đó, cuộc khởi nghĩa của MaiThúc Loan (năm 713) lấy đại bản doanh ở núi Vạn An (Nam Đàn) cách KhánhSơn chỉ 15km.
Theo sử cũ chép lại, từ thời Hậu Lê, tổng Nam Hoa (5 Nam) có địa hạtcủa Khánh Sơn gồm: Thôn Hoành Sơn, Dương Liễu xã Nam Hoa Tú, xã XuânHòa (gồm các thôn: Đông Sơn, Trung Hội, Thanh Tú), xã Tiêu Hoa (gồm cácthôn: Xuân Mỹ, Thiên Lộc, Khánh Lộc, Bạch Sơn)…
Đến triều Nguyễn, tổng Nam Hoa từng thuộc các huyện: Chi La, ĐứcQuang, rồi Thanh Chương Năm 1873 (thời vua Đồng Khánh) tổng Nam Hoađược đổi thành tổng Nam Kim (thuộc huyện Thanh Chương) gồm: 22 xã, thôn.Trong đó, địa phận xã Khánh Sơn gồm Trung Hội, Thanh Xuân, Đông Sơn,Hoành Sơn, Tuần Lam Khánh Lộc, Xuân Mỹ…làng Đông Sơn, Trung Hội,Thanh Tú, Xuân Áng (thuộc xã Xuân Hòa), còn các thôn Xuân Mỹ, KhánhLộc, Bạch Sơn (thuộc xã Tiêu Đào), các thôn Hoành Sơn, Dương Liễu (thuộc
xã Nam Kim Thượng)
Sang đầu thế kỷ XX, vào đời vua Duy Tân, theo “Danh sách xã Trungkỳ”, Nam Đàn có 4 tổng với 77 xã thôn Riêng tổng Nam Kim có 16 xã, thôn,trong đó, Hoành Sơn được gọi là một thôn ([12, 290]
Địa danh tổng Nam Kim tồn tại cho đến tháng 8/1945
Tháng 5/1946 quốc hội nước Việt Nam dân chủ cộng hòa đã quyết định tổchức lại hệ thống hành chính trong cả nước thành 4 cấp: Trung ương – Tỉnh –Huyện – Xã (cấp cơ sở), bỏ cấp tổng Theo đó, huyện Nam Đàn cũng được sắpxếp lại, các tổng bị giải thể, thành lập 18 xã trong đó có xã Khánh Sơn Tên xãKhánh Sơn ra đời từ đó
Tháng 7/1947, Nam Đàn sắp xếp lại đơn vị hành chính từ 18 xã thành 12
xã Xã Khánh Sơn được nhập với xã Tân Hợp (Dương Liễu và Trung Cần cũ)thành xã Khánh Tân
Trang 15Tháng 3/1952, Nam Đàn sắp xếp lại đơn vị xã từ 12 xã thành 20 xã,Khánh Tân được tách thành 2 xã là Nam Sơn và Nam Trung.
Cuối năm 1953 đầu năm 1954 Nam Đàn sắp xếp lại: từ 20 xã thành 34 xã,Nam Sơn được tách thành 2 xã: Nam Đông và Nam Hoành
Đến 5/1969, từ 34 xã thành 24 xã, hai xã Nam Đông và Nam Hoành đượcsát nhập thành xã Khánh Sơn Tên gọi đó ổn định cho đến ngày nay
Như vậy làng Hoành Sơn nói riêng, xã Khánh Sơn ngày nay có nhiều thayđổi về không gian địa lý, tên gọi, trong từng thời kì lịch sử Tên gọi HoànhSơn còn có một cách hiểu khác đó là gắn với tên đình Hoành Sơn Nhưng đìnhHoành Sơn mới xây dựng vào năm 1743, do đó tên làng Hoành Sơn có từtrước, và cách hiểu tên làng gắn với tên đình không đủ sức thuyết phục
1.2.3 Nguồn gốc dân cư.
Cho đến nay, trong nhiều tài liệu đã khẳng định: “Trong thành phần cưdân ở huyện Nam Đàn, tuyệt đại bộ phận là cư dân bản địa, dĩ nhiên có 1 phầnkhông nhiều các cư dân miền Bắc – miền Nam hành hương lập nghiệp''
Tại Hoành Sơn cũng thế, bên thềm núi Thiên Nhẫn và dòng Lam giangthơ mộng, từ xa xưa đã thu hút một bộ phận người Việt cổ an cư lập nghiệp
Từ thủa xa xưa, người dân bản địa Hoành Sơn đã tự hào, được làm chủnền văn minh văn hóa quê hương Chính họ đã từng cọ xát với bao biến độngthăng trầm của thời cuộc, động lực vùng dậy chống lại mọi thế lực áp bức, bóclột ngoại bang
Nhiều tên làng, xã đã biểu thị truyền thống đấu tranh bảo vệ chủ quyền
Đi vào thực địa, chúng ta thấy vùng đất Nam Hoa có nhiều sông nước ao
hồ, những sông nước ao hồ này là vết tích thay dòng chảy của con sông Lam.Gia phả họ Nguyễn ở Thịnh Lạc (tổ tiên họ Nguyễn trước làm nghề thủy cơ).Khi nói đến vùng Thinh Lạc có ghi “Từ Lê Lý dĩ tiền, hải ba đáo thử” nghĩa là
“từ Lê, Lý từ về trước, sóng biển tràn về đến đó” Về sau Lý Nhật Quang tổchức đắp đê sông Lam, lập ra một làng ven sông, khai phá vùng đất Nam Kim,Khánh Sơn, Đông Sơn hiện tại
Trang 16Qua nghiên cứu, các thế hệ người dân Hoành Sơn trong quá trình chế ngự,cải tạo Thiên Nhẫn đã vất vả, gian khổ như thế nào để có được bát cơm, manh
áo, xóm làng sầm uất như ngày hôm nay
Vấn đề dân cư Hoành Sơn chủ yếu là người bản địa, một số khác là người
Lý cử vào làm tri châu Nghệ An từ năm 1041
Ngoài vỗ về nhân dân, giữ yên trăm họ, ông chủ trương khai thác quy môvùng Nghệ An Ông khởi xướng việc đắp đê sông Lam tiền thân đê 42 sau này
để ngăn nước lũ Vùng Nam Hoa là do ông chiêu dân lập ấp để khai khẩn Dân
ở đâu đến? ban đầu ông sử dụng tù binh Chăm Pa, Tống và một số dân đếnđịnh cư, mà chủ yếu là dân Diễn Châu, Quỳnh Lưu, Nghi Xuân, nhưng cũng cóngười từ Thanh Hóa, Hà Nam, Ninh Bình…vào
Gia phả một số dòng họ ở vùng Nam Hoa còn ghi rõ họ vào đây từ cáctỉnh trên và vào từ thời Lý như: họ Dương, họ Hồ, họ Hoàng… Đâu chỉ HoànhSơn thì Lý Nhật Quang mà nhiều làng ở Nam Hoa cũ cùng thờ ông làm thầnkhai oanh
Lý Nhật Quang (cho đến nay) vẫn sống mãi trong lòng người dân HoànhSơn như một biểu tượng sáng ngời, đầy hy vọng, ước mơ
Hội đình Hoành Sơn được tổ chức vào hội lễ Kỳ Phúc (tháng 2 âm lịch)
để tưởng nhớ và ca ngợi Lý Nhật Quang Hội đình Hoành Sơn còn ca ngợiThông giám hầu Đặng Thạc, ông đậu cử nhân thời vua Lê Hiển Tông (1740 –1776) được bổ dạy làm tư huyện Kỳ Sơn Sau đó được thăng đốc thị QuảngNgãi Khi về hưu ông đươc phong tước hầu, ông là người có công đứng ra khởi
Trang 17xướng việc huy động nhân tài, vật lực trong làng xã để xây dựng nên ngôi đìnhHoành Sơn tráng lệ có một không hai trong xứ Bắc Kỳ.
Như vậy, có thể nói rằng, qua nhiều nguồn tư liệu và qua thực tế gia phảcủa các dòng họ ở Hoành Sơn, chúng tôi tạm đưa ra giả thiết: về thực chất, mỗidòng họ ở đây chỉ là một bộ phận nhỏ của dòng họ gốc từ các địa phương khácnhau, trong những khoảng thời gian khác nhau và với nhiều nguyên nhân khácnhau như:
- Do đói kém đi kiếm ăn mà phiêu tận đến
- Do bị chiêu mộ khai khẩn đất hoang
-Do bắt được tù binh trong chiến tranh
Rõ ràng có nhiều thành phần, có nhiều ngoại tộc từ phía Nam, phía Bắc,phía Tây, có người từ phía Bắc Bộ, Thanh Hóa vào miền biển lên, họ đến vớiHoành Sơn với nhiều nguồn gốc, thời gian, động cơ khác nhau, hoàn cảnh khácnhau Lâu rồi họ trở thành người Hoành Sơn, chung lưng đấu cật với người bảnđịa, xây dựng mảng đất Hoành Sơn về mặt văn hóa vật chất, cũng như văn hóatinh thần, làm cho Hoành Sơn trở thành một làng quê giàu đẹp, rạng rỡ truyềnthống đấu tranh, xây dựng, có nhiều người tài giỏi trên mảnh đất Nam Hoa Tất
cả điều đó là cội nguồn hun đúc nên truyền thống đấu tranh của làng
1.3.Vài nét về những đóng góp của cư dân Hoành Sơn qua các thời kỳ lịch sử
1.3.1 Thời kỳ trước khi có Đảng.
Trong quá trình đấu tranh chống lại sự đô hộ vai cai trị của phong kiếnphương Bắc đế quốc phương Tây, bao thế hệ người dân Hoành Sơn trải qua vôvàn hy sinh mất mát để cùng nhân dân cả nước góp phần lập nên chiến cônghiển hách Suốt hàng ngàn năm đó công sức, mồ hôi, của cải, xương máu củanhiều thế hệ đã quyện hòa vào nhau làm nên bài ca giữ đất hùng tráng
Dưới thời thuộc Hán, Đường, vùng đất Nam Hoa –Hoành Sơn đã cùng vớinhiều thế hệ đấu tranh cho sự tồn vong
Năm 713, Mai Thúc Loan đã dựng cờ khởi nghĩa, vùng Nam Hoa – HoànhSơn đã huy động lương thảo, nghĩa binh phục vụ cuộc khởi nghĩa, bảo vệ đại
Trang 18bản doanh Vạn An, tiêu diệt quân nhà Đường khi chúng tràn qua hữu ngạnsông Lam.
Bước vào thời kỳ đầu của nền độc lập (nhà Đinh, Tiền Lê), vùng NamHoa – Hoành Sơn là một trong những nơi cung cấp quân lương cho các cuộckháng chiến
Vào thời nhà Trần, ở phía Bắc quân và dân Đại Việt đã ba lần đánh quânxâm lược Nguyên Mông để bảo vệ nền độc lập Ở phía Nam nhiều lần quânChăm Pa, Chân Lạp thường xuyên ra vùng Hoan Đường để cướp bóc lươngthảo, vì vậy vùng Nam hoa – Hoành Sơn đều trở thành vùng có chiến sự
Năm 1377, bọn giặc Chăm Pa có lần đánh chiếm được một phần tổngNam Kim, nhân dân đã kiên quyết đánh bại thế lực bành trướng của giặc Chăm
Pa Khi nhà Hồ thay thế nhà Trần và từ năm 1406 nhà Minh mượn cớ khôiphục lại vương triều Trần, đã mang quân xâm lược Đại Việt Nhà Hồ khôngchống nổi thế lực của nhà Minh nên rút vào Nghệ An để cố thủ, lại một lần nữamảnh đất tổng Nam Kim, trong đó có nhân dân Hoành Sơn tiếp tục góp côngsức để chống quân xâm lược
Dưới thời nhà Trần, Trùng Quang (cháu Trần Nghệ Tông) đã chọn vùngđất Nam Hoa, Nam Đàn để xây dựng tổng Hành Dinh dựng cờ khởi nghĩa DãyThiên Nhẫn đã trở thành thành lũy vững chắc để tiến hành cuộc kháng chiến
“Cả vùng Nam Hoa, rộng ra là cả Nam Đàn đã trở thành căn cứ của cuộckhởi nghĩa, người dân Hoành Sơn lại tiếp tục có những đóng góp lớn vào cuộckhởi nghĩa này” [28,22]
Tháng 2/1418 tại rừng núi Lam Sơn, Lê Lợi dựng cờ khởi nghĩa, thấyVượng khí tươi sáng, thế chiến lược đắc địa của vùng đất Nam Hoa Đến tháng
2 /1425 Lê Lợi, Nguyễn Trãi quyết định dời đại bản doanh từ Lam Sơn vào dãyThiên Nhẫn, từ đây cả một vùng rộng lớn của tổng Nam Kim trở thành căn cứ
vô cùng vững chắc Từ đây nghĩa quân mở các mũi tên tiến công nhanh nhưchớp, dật mạnh như sấm vang để quét sạch quân Minh xâm lược, cuộc khởinghĩa Lam Sơn do Lê Lợi cầm đầu đã toàn thắng, quét sạch quân xâm lược nhàMinh ra khỏi bờ cõi nước Đại Việt “Vùng đất Nam Hoa đã trở thành bàn đạpvững chắc, vùng địa thế chiến lược cuối cùng của nghĩa quân Lam Sơn trong sự
Trang 19nghiệp chống quân Minh, giải phóng đất nước, thống nhất giang sơn Đại Việt
[5,92]
Như vậy, từ thời Tiền Lý đến thời Đinh – Lê – Lý – Trần…Lê – Nguyễnmảnh đất Hoành Sơn thường phải ứng phó với các cuộc xung đột bành trướngcủa các quốc gia: Chăm Pa, Chân Lạp, Hán, Đường, Tống, Nguyên, Minh,Thanh và các đế quốc phương Tây Chiến sự diễn ra liên miên, đời sống sinhhoạt của người dân vô vàn gian khổ, song nhân dân Hoành Sơn đã không quảnngại khó khắn gian khổ hy sinh tiếp tục viết tiếp những trang sử chống xâmlược oai hùng, bảo vệ gìn giũ những giá trị văn hóa truyền thống Ngày01/09/1858 tiếng súng tấn công xâm lược nước ta của thực dân Pháp vang lêntrên bán đảo Sơn Trà (Đà Nẵng), triều đình nhà Nguyễn từng bước đầu hàngthực dân Pháp
Vùng hữu ngạn sông Lam (tiêu biểu là Hoành Sơn) tú tài Đặng Như Mai
đã chiêu tập văn thân trong vùng để tổ chức lực lượng kháng chiến
Tại Hoành Sơn – Đông Sơn, ông Lý Hòa được cử làm “Bình Tây Thốngtướng” chỉ huy nghĩa quân phối hợp cùng với các sỹ phu như Tú Điền, BùiDanh Mậu (Thanh Thủy), Cử Độ (Tràng Cát) để chiêu mộ lực lượng khởinghĩa
Tháng 5 - Ất Dậu (1885) kinh thành Huế thất thủ, vua Hàm Nghi rờihoàng cung ra căn cứ Tân Sở Quảng Trị, “Hịch Cần Vương” được soạn thảo vàlập tức nhận được sự hưởng ứng của đông đảo văn thân sĩ phu
Tại Hoành Sơn, Thám Hoa Nguyễn Đức Đạt đã trực tiếp vào Tân SơnPhòng – Tỉnh Quảng Trị yết kiến vua Hàm Nghi Nhà vua Hàm Nghi đã trựctiếp giao việc cần vương cho ông tại Nghệ An và Hà Tĩnh Các vị hoàng giápNguyễn Đức Quý, Nguyễn Quang đều là người Hoành Sơn đã đồng tâm, hiệplực chiêu tập nghĩa quân để giành nhiệm vụ cần vương, v.v
Tóm lại: Trải qua biết bao dòng biến cố thăng trầm trong lịch sử conngười Hoành Sơn dù chỉ ở vào thời khắc nào cũng tạo cho mình một dáng đứng
để bảo vệ và xây dựng quê hương Lòng yêu nhà, yêu quê hương trở nên lòngyêu đất nước, biết sống kiên cường, đoàn kết, nhân ái, thủy chung gắn kết nhautrong cộng đồng
Trang 20Những giá trị đó cứ sống mãi, lớn lên, sáng mãi với thời gian, hun đúc quanhiều thế hệ, tạo nên hành trang quý giá để Hoành Sơn – Khánh Sơn tiếp bướcvào những thời kỳ mới của lịch sử.
Truyền thống chống giặc cứu nước của con người Hoành Sơn thuộc nhiềuthế hệ, như bao lớp phù sa màu mỡ bồi đắp cho mảnh đất anh hùng mãi mãi nởthêm hoa
1.3.2.Từ khi có Đảng.
Ngày 3/2/1930 Đảng cộng sản Việt Nam ra đời đã đánh dấu một bướcngoặt vĩ đại trong phong trào cách mạng Việt Nam nói chung và phong tràođấu tranh của nhân dân Hoành Sơn – Khánh Sơn nói riêng Điều này được thểhiện rất rõ qua các thời kỳ lịch sử
-Thời kỳ 1930 – 1931:
Ngày 25/04/1930 Đảng bộ Đảng cộng sản Việt Nam huyện Nam Đànđược thành lập tại Hoành Sơn – Khánh Sơn nhiều trí thức, họ vốn là nhữngĐảng viên trong Tân Việt cách mạng Đảng Khi Đảng cộng sản Việt Nam đượcthành lập, họ lại là lớp Đảng viên đầu tiên ở làng Đông Sơn – Hoành Sơn –Khánh Sơn
Ngày 27/06/1930, các đồng chí Phan Đình Đồng, Nguyễn Sinh Diên,Vương Xuân, Phan Đình Đồng, Phan Công Cánh được huyện ủy Nam Đàn cử
về để liên lạc với đồng chí Nguyễn Xuân Tình để thành lập chi bộ Đảng tạiHoành Sơn
Tham dự hội nghị thành lập chi bộ Hoành Sơn, có 7 đồng chí:
7. Nguyễn Văn Châu.[28,31]
Đến ngày 12/07/1930 chi bộ Đảng Đông Sơn – Khánh Sơn được thành lập
có 3 đảng viên
Trang 21Từ sau khi có chi bộ Đảng, phong trào yêu nước và cách mạng của nhândân Hoành Sơn bước sang một xu thế mới.
Trong hội nghị thành lập chi bộ, các Đảng viên đã tuyên thệ: “Thà hy sinhquyết không chịu khai báo, không để lộ bí mật, thà hy sinh nhất định khôngchịu lao khổ, chúng ta nhất định thắng”
Sự ra đời của chi bộ Đảng ở Hoành Sơn đã thực sự đánh dấu một bướcngoặt mới đối với phong trào cách mạng ở Hoành Sơn – Khánh Sơn ĐảngCộng Sản Việt Nam ra đời, một cao trào cách mạng mới được dấy lên, mà đỉnhcao là Xô Viết Nghệ Tĩnh, cao trào cách mạng đó thực sự là cuộc diễn tập đầutiên để dân tộc ta làm nên cách mạng tháng 8/1945 và chiến dịch Hồ Chí Minhlịch sử năm 1975, đưa non sông đất nước ta về một mối trên con đường XHCN.Ngày 1/5/1930 nhân kỷ niệm ngày quốc tế lao động, công nhân Vinh, BếnThủy, Hưng Nguyên, Nam Đàn đã nhất tề vùng dậy đấu tranh biểu tình đòigiảm sưu thuế, giảm giờ làm Trong phong trào này tại Hoành Sơn – KhánhSơn đã diễn ra cuộc diễn thuyết chống đàn áp, bỏ sưu thuế
Ngày 12/09/1930, hàng ngàn người dân huyện Hưng Nguyên, tham giacuộc biểu tình lớn Tại Hoành Sơn – Khánh Sơn, dưới sự chỉ đạo của chi bộĐảng đã họp mít tinh phản đối hành động của thực dân Pháp, cả 7 làng trong xãđều tổ chức lễ truy điệu những người hy sinh trong cuộc biểu tình Trước áp lựccủa quần chúng, bọn hào lý ở Hoành Sơn không dám biểu lộ hành vi chống đối.Cao trào Xô Viết Nghệ Tĩnh đã đi vào lịch sử đấu tranh oai hùng của nhândân ta chống thực dân Pháp
Từ tháng 9/1930, trước sự khủng bố tàn khốc của thực dân Pháp và bọntay sai, chi bộ Đảng Hoành Sơn bị tan rã
Kể từ tháng 5/1931, thực dân Pháp và phong kiến tay sai cho lập thêmnhiều đồn bốt ở các làng xã, tạo ra một hệ thống khủng bố mỗi khi có phongtrào đấu tranh “Tại Hoành Sơn thực dân Pháp cho xây dựng đồng Làng Ngang(trên đỉnh Rú Ngang), mỗi đồn có từ 5 – 7 tên lính lê dương và 10 tên lính khốxanh” [28,43]
Từ 1932 – 1935 phong trào đấu tranh chung ở Nghệ Tĩnh bước vào giaiđoạn thoái trào Tại Hoành Sơn cũng vậy, một số Đảng viên bị bắt đày tù ở
Trang 22Công Tum Hầu hết các cơ sở Đảng bị kẻ địch truy lùng ác liệt Dẫu sao lịch sử
có những thời khắc bi hùng để rồi tỏa sáng một chân trời thắng lợi
Được hòa vào cao trào cách mạng 1930 – 1931 mỗi con người trên dải đấtHoành Sơn bấy giờ là minh chứng cho sự bất tử của một lý tưởng vì sự tồnvong của tổ quốc, vì tương lai hạnh phúc của nhân dân
- Thời kỳ 1936 – 1939:
Sau năm 1935, một số ít Đảng viên còn lại qua khủng bố vẫn tìm cách liênlạc với nhau thông qua các cuộc hiếu hỷ thăm viếng Họ nhắn lại cùng với lựclượng quần chúng trung kiên để tiếp tục nhen nhóm ngọn lửa đấu tranh cáchmạng trên mảnh đất Hoành Sơn
Ngày 23/02/1937 được phái đoàn ông Gô-Đa (Pháp) từ Hà Nội đi vàoVinh (Nghệ An) Tại Hoành Sơn chi bộ Đảng đã động viên tập hợp quần chúnglấy chữ ký với các yêu sách để gửi cho ông Gô-Đa
Toàn xã đã cử một đoàn 8 người do các đồng chi: Nguyễn Thiện Ngôn,Nguyễn Đức Thủy, Nguyễn Đức Yết đi xuống thị xã Vinh dự cuộc tiếp xúc vớiông Gô-Đa để trình các yêu sách “Bỏ thuế thân”, “Tự do ngôn luận”, “Tự dohội họp”, “Yêu cầu đại xá chính trị phạm” [28,46]
Cuối năm 1937, tại Hoành Sơn đã khôi phục lại chi bộ Đảng
- Thời kỳ 1939 – 1945:
Cuối năm 1938, nguy cơ chiến tranh thế giới thứ 2 bùng nổ Tháng11/1940 Huyện ủy Nam Đàn được tái lập lại, nhiều cơ sở Đảng trong địa bànhuyện được khôi phục (trong đó có Hoành Sơn)
Từ tháng 2/1944 đến tháng 3/1945, một số cán bộ Đảng viên của HoànhSơn bị tù đày đã vượt ngục hoặc mãn hạn lần lượt trở về địa phương Đây lànhững hạt nhân nòng cốt để xây dựng lại tổ chức, khôi phục phong trào
Tháng 5/1945, đồng chí Phạm Nghiêm, Nguyễn Kiệm, Nguyễn XuânĐồng, Nguyễn Xuân Mậu, Nguyễn Đức Thúy, Lưu Đào, Nguyễn Đức Yết… đãnhóm họp bàn các giải pháp để thực hiện các nhiệm vụ Thời điểm này, hoạtđộng Việt Minh ở Hoành Sơn mới thực sự chuyển mạnh
Tháng 6/1945 phong trào Hoành Sơn bắt đầu dâng cao
Trang 23Ngày 23/08/1945, dưới sự chỉ huy của Việt Minh xã, nhân dân trong 7làng của xã đã đồng loạt nổi dậy, tiếng trống, kẻng, loa vang lên náo động.Từng đoàn người dương cao cờ đỏ sao vàng của Việt Minh kéo về Đình HoànhSơn để dự lễ mít tinh ủy ban khởi nghĩa của xã đã trịnh trọng công bố danhsách các vị trong ủy ban cách mạng lâm thời.
Ở Hoành Sơn gồm các ông:
Nguyễn Văn Mậu: Chủ tịch
Nguyễn Đức Thúy: Phó chủ tịch
Lưu Đào: Thư ký
Tạ Quang Chước: Ủy viên
Nguyễn Xuân Đồng: Ủy viên
Nguyễn Thiện Ngân: Ủy viên
Lê Khắc Thành: Ủy viên
Nguyễn Kiêm: Ủy viên
Nguyễn Mai Thiêm: Ủy viên
Trần Quang Huy: Ủy viên [28,54]
Cuộc khởi nghĩa dành chính quyền ở Hoành Sơn thành công mau lẹ, ít đổmáu, ủy ban cách mạng lâm thời xã, Việt Minh xã lãnh đạo cá đoàn thể cứuquốc trong xã đã tập hợp quần chúng đoàn kết nhất trí cao dành thắng lợi trọnvẹn
Thắng lợi của cách mạng tháng 8/1945 ở Hoành Sơn là minh chứng hùnghồn ghi nhận thành quả đấu tranh anh dũng của toàn dân dưới sự lãnh đạo củaĐảng Kỷ nguyên mới mở ra cho dân tộc Việt Nam Kỷ nguyên độc lập – tự do,đưa người Việt Nam từ thân phận làm nô lệ thành dân một nước độc lập, tự do
có chủ quyền làm chủ vận mệnh của chính mình
Ngày 02/09/1945 Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trịnh trọng đọc bản tuyênngôn độc lập, khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ cộng hòa Nhà nước dân chủnhân dân đầu tiên ở Đông Nam Á
Cùng với nhân dân cả nước, các thế hệ con người ở Hoành Sơn – KhánhSơn bền bỉ đấu tranh để có được thắng lợi này đến thắng lợi khác
Trang 24Trong 9 năm trường kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp, hơn 20 nămkiên cường đấu tranh chống Mỹ cứu nước trên mảnh đất Hoành Sơn có baonhiêu con người đã đi vào lịch sử vinh dự lớn lao mà nhân dân Hoành Sơn cóđược là xã anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân Nhân dân Hoành Sơn –Khánh Sơn tiếp tục phát huy cao độ chủ nghĩa anh hùng cách mạng, xây dựngKhánh Sơn ngày càng giàu đẹp, văn minh.
Tiểu kết chương 1.
Cũng như bao làng yêu nước khác trong vùng lãnh thổ xưa thuộc đấtNam Hoa làng Hoành Sơn – Khánh Sơn có lịch sử hình thành lâu đời, là mộtlàng cổ ở lưu vực Sông Lam Địa giới hành chính, tên gọi của làng đã có nhiềuthay đổi , với biết bao biến động, thăng trầm Từ khi lập làng đến nay Biết baothế hệ cư dân đã sống, làm lụng, sinh hoạt trên mảnh đất này, có những đónggóp lớn lao trong chế ngự thiên nhiên để làm ra củ khoai, hạt lúa, lo toan cuộcsống vật chất cho ngày một đổi thay Mặt khác, đoàn kết, keo sơn, kiên trung,bất khuất để đương đầu với nhiều thế lực thống trị từ ngoài vào như: Phongkiến phương Bắc, phương Nam, đế quốc phương Tây để bảo toàn, giữ vữngmảnh đất thiêng liêng này
Đặc biệt, từ khi có Đảng cộng sản Việt Nam ra đời (1930) Niềm tin, hyvọng của bao thế hệ cư dân ở Hoành Sơn đã có thêm ý chí kiên cường anhdũng, vượt qua mọi trở lực để sinh sống và phát triển
Đến hôm nay, trên giải đất Hoành Sơn biết bao điều đổi mới đã đến ýĐảng, lòng dân đã, đang và sẽ xây dựng cho mảnh đất Hoành Sơn anh hùngnày bước lên đài vinh quang mới: Dân giàu – Nước mạnh – Công bằng - Dânchủ - Văn minh
Trang 25CHƯƠNG 2 TÌNH HÌNH SẢN XUẤT KINH TẾ VÀ CƠ CẤU TỔ CHỨC
LÀNG HOÀNH SƠN
Trang 262.1 Sản xuất kinh tế
2.1.1 Nông nghiệp
Đã bao đời rồi, người Nam Đàn nói chung và cư dân trong làng HoànhSơn – Khánh Sơn nói riêng sống bằng nghề nông là chủ yếu và lấy nó làm nghềgốc: “Bách nghệ nông vi bản” Vùng đất canh tác có diện tích 596 ha, nhiềuvùng, nhiều loại đất khác nhau Trong đó, đất phù sa có 176 ha, đất ao hồ, mặtnước 10,3 ha, đất lâm nghiệp là 503 ha [28,8]
Công cụ canh tác của cư dân Hoành Sơn lúc bấy giờ cũng chẳng khác gìcủa bà con Nghệ Tĩnh Trước cách mạng tháng 8, với chiếc cày chìa vôi, chiếcbừa chữ nhi, với những cái cuốc, cái bàn vét, cái vớm cái thuỗng, cái trang đất,cái gàu…thô sơ, lâu đời bà con lam lũ lao động trên những cánh đồng NamHoa, để làm ra lương thực, hoa màu Do phân phối ruộng đất không đều, do bị
áp bức và bóc lột bởi phong kiến và thực dân, do bị cùm trói trong những quanniệm lạc hậu, nên lao động không được giải phóng, khoa học kỹ thuật khôngphát triển, sức sản xuất bị kiềm chế, năng suất sản xuất không cao, nên đờisống của họ vô cùng đói khổ, đã thế thiên nhiên ở đây cũng có bề dày da diếtvới con người vùng Nam Hoa nằm kẹp giữa hai con sông Lam Giang và LaGiang, chưa nắng đã hạn, chưa mưa đã lụt, chỉ cần vài trận mưa nguồn là nước
lũ đổ xuống, nước trên Thiên Nhẫn cũng đổ xuống dâng ruộng vườn, làng mạc,cuốn trôi nhà cửa, hủy hoại hoa màu
* Trồng trọt.
-Trong nghề nông, cây lúa là chủ yếu, trải qua nhiều năm canh tác, ngườinông dân càng thấm sâu câu thành ngữ của cha ông để lại: "nhất nước, nhìphân, tam cần, tứ giống" Yếu tố ''nước" là yếu tố đầu tiên và quan trọng nhất.Ông Nguyễn Văn Minh(72 tuổi) trong xóm 2 của làng cho biết" đưa nước vàoruộng là một trong những bí quyết để mang lại sự màu mỡ và tơi xốp cho đấtruộng, giúy cây lúa phát triển"
"Muốn cây lúa phát triển tốt cần phải tiến hành bón phân Để đạt đượchiệu quả, người nông dân phải hiểu rõ tính năng của từng loại phân để dùngcho phù hợp, đồng thời thực hiện bón phân đúng liều và đúng thời điểm" ( Ông
Trang 27Tạ Quang Hà trong làng) Khi cây lúa bắt đầu nở nhánh thì vấn đề chăm sóc làyếu tố quan trọng hàng đầu Việc chăm sóc đồng ruộng phải thực hiện một cáchthường xuyên và liên tục, nhằm phát hiện kịp thời những tác nhân gây hại, như:Sâu rầy, cỏ dại , và khẳng định: Nếu không có "cần" thì việc trồng lúa sẻkhông có hiệu quả, tuy yếu tố "giống" được sắp xếp sau cùng nhưng cũng rấtquan trọng Theo ông Nguyễn Văn Minh: "Tất cả các khâu , như: dẫn nước,bón phân,chăm sóc đều làm đúng phương pháp mà không có giống tốt thì kếtquả thu hoạch sẻ không như mong muốn" Bốn yếu tố trên có mối liên hệ chặtchẽ với nhau và luôn hỗ trợ bổ sung nhau.
Gần đây được sự đầu tư và khuyến khích của nhà nước thông qua việc xâydựng hệ thống thủy lợi, đắp đê, ngăn lũ, đưa khoa học kỷ thuật vào sản xuất…
đã tạo điều kiện thuận lợi cho người nông dân thâm canh tăng vụ.Từ một nămmột vụ, họ đã dần tăng lên hai rồi ba vụ, và năng suất của lúa cũng khôngngừng tăng theo Hiện nay sản lượng lúa bình quân đạt 5,5 tấn/ha/vụ
-Sau cây lúa, tiếp đến là nghề trồng lạc, đậu, kê, vừng, đặc biệt là cây lạc
Ở Hoành Sơn, việc chọn giống được chọn ngay trên cánh đồng sắp thu hoạch.Giống được phơi cất kỹ, phơi được nắng, khô khan, đặc biệt là lạc giống, phơi
cũ đúng nắng, cất kín, chống ẩm mốc, theo kinh nghiệm họ thường cất lạcgiống trong chum, rồi rải một lớp trấu lên miệng chum để chống ẩm mốc, đểlúc gieo trỉa: “mười hạt lên cả mười”, giống được lựa chọn, hoặc loại trừ từ lúcchưa thu hoạch nên luôn có giống tốt.Từ việc trồng lạc dẫn đến các nghề: Épdầu lạc, làm dầu, làm thức ăn có hàm lượng đạm cao, làm bánh kẹo các loại rấtphong phú Những xưởng ép dầu lạc bằng phương pháp thủ công cũng ra đời
từ đó Khánh Sơn lại là vùng có diện tích đồng bãi gieo trồng lạc rất lớn, vì vậynhà nào cũng biết thông thạo gieo trồng chọn giống, chăm bón cây lạc Mùagieo trồng và thu hoạch lạc chiếm thời gian nhiều nhất, nhanh nhất và thu hútnhiều lao động hơn cả Nhờ đồng bãi tốt màu, thêm vào đó là kỉ thuật canh tácchọn lạc nòi, lạc giống tốt, công phu chăm bón gieo trồng lạc Cho nên ởKhánh Sơn lạc là một nguồn lợi lớn, tăng nguồn thu nhập và nâng cao cuộcsống cho người nông dân
Trang 28-Do nằm bên lưu vực Sông Lam, nên mảnh đất Hoành Sơn còn có một lợithế trong việc trồng mía, mía có thể trồng trên nhiều loại đất khác nhau từ đấtxám đến đất sét nặng, nhưng thích hợp nhất là loại đất pha cát Đi sang thực tế ,tôi được tiếp xúc với cụ Nam ( 84 tuổi ở xóm 3 của làng), cụ cho biết: " KhánhSơn cũng là vùng khá nổi về đất mía, nghề này củng không phức tạp lắm, thôngthường ở đây người ta thường trồng từ tháng 1 đến tháng 4 dương lịch, muốnnăng suất cao thì phải biết chọn giống, giống lấy từ ruộng 7 đến 8 tháng tuổi làtốt nhất, chặt ngang giữa lóng, không chặt sát mầm, hom mía từ 2-3 mầm tốt,trồng càng tươi càng tốt Bốn tháng đầu khi mới trồng hoặc chặt mía, giữa 2hàng cột trống vì vậy nên trồng xen đậu phụng hoặc đậu xanh vừa tăng thunhập vừa nâng cao năng suất mía Cây mía là cây thu hoạch hàng năm, nhưng
để lưu gốc nhiều năm Nếu chăm sóc bón phân tốt năng suất vụ gốc thườngtăng hơn so với vụ tơ Thời gian chăm sóc vụ gốc sớm hơn, khẩn trương hơn,thu hoạch sớm hơn vụ tơ "
Từ nghề nông, việc trồng mía dẫn đến các nghề: Kẹo che, ép mía làm mật,làm bánh kẹo…Mùa thu hoạch mía, sau một năm trồng trọt, chăm bón, đòi hỏinhiều người đốn chặt, bốc vác chuyên chở mía, với khối lượng lớn, tiếp đến làviệc ép mía với bộ trục thủ công, có sức bò kéo khỏe, có dụng cụ đun nấu mật,sau một ngày đêm, cần có nhiều người, có sức lao động nặng nhọc, có vốnliếng công cụ làm đường làm mật… Nghề ép mía, làm mật là một trong nhữngnghề nổi tiếng của nhân dân các làng ở dọc Sông Lam trước đây Mật HoànhSơn nổi tiếng về màu sắc, chất lượng được tiêu thụ rộng rãi ở Chợ Rồng, ChợHôm, Chợ Cầu, Chợ Quán,…Người xưa có câu:
Bao giờ cho hợp một nhàAnh lo vác nứa, em chăm bò kẹo che
Hay: Mía anh thẳng luống, thẳng hàng
Đến mùa kéo mật đón nàng về chơiNghề ép mía, kẹo che thường kéo dài đến hết mùa đông đến cuối mùaxuân, đây là nghề bận rộn và nặng nhọc, nhưng đổi lại lại là nghề thu đượcnhiều lợi nhuận Cũng từ đấy một khối lường lớn đường mật được sản xuất, đã
Trang 29sinh ra một đội ngũ những phường buôn bán đường mật, chuyên chở bằng ghethuyền, giao lưu với mọi miền gần xa.
Như vậy bên cạnh cây lúa, thì nghề trồng dâu nuôi tằm, nghề trồng lạc ,đậu kê, vừng, nghề trồng mía ép mật làm đường, nghề trông cây ăn quả như:cam, bưởi, chanh, khế…Đã tăng thêm nguồn lợi nhuận và thu nhập lớn trongsản xuất của làng xã Khi mà nền văn minh nông nghiệp trồng cây lúa nước vẫnđang còn phổ biến trong đại bộ phận dân cư vùng này
Sản xuất nông nghiệp ở Hoành Sơn luôn luôn phải thích nghi với thời tiếtbiến động phức tạp, chủ yếu là gió Lào và lụt lội, vì vậy, ruộng sâu chưa mưa
đã úng, ruộng cao chưa nắng đã khô Ngoài việc thích nghi với thời tiết, nghềnông Hoành Sơn còn phải thích nghi với đất đai và giống cây, giống con “Mùanào thức ấy”, “đất nào cây ấy”, “tay nào nghề ấy”… Là những kinh nghiệmtrong công việc chọn giống cây trồng, đất đai, chọn giống gia súc, chọn taychăn nuôi, chọn mùa gieo trồng hợp lý
* Chăn nuôi.
Người dân Hoành Sơn còn biết chăn nuôi từ rất sớm các loại gia súc như:lợn, trâu, bò, gà, vịt, để làm thức ăn cải thiện đời sống, lấy sức kéo và phânbón Trước đây do không có điều kiện phòng dịch và chưa có giống tốt nên tưtưởng chăn nuôi chỉ bó hẹp, năng suất chăn nuôi rất thấp Ngày nay đã có nhiềutiến bộ trong công tác phòng trừ dịch bệnh giống và kỹ thuật Do đó, chăn nuôingày càng phát triển, mang lại hiệu quả kinh tế cao, đặc biệt là nghề nuôi bò vỗbéo, bò sinh sản đang tạo nguồn thu nhập đáng kể cho kinh tế hộ gia đình ởHoành Sơn Hơn nữa, trong sản xuất nông nghiệp, sức cày, sức kéo chủ yếu làtrâu bò nên họ lựa chọn rất kỹ lưỡng, xem tướng mục, tính nết như: “Lang o thìbán, lang trán để cày, lang mày ăn thịt, lang đít chết toi”, “mắt bò chao, đầuchào mào là bò phản chủ” Trâu bò là tài sản quý, gần gũi với người nông dân,
do đó họ xem “con trâu là đầu cơ nghiệp” Bởi vậy, họ xem con trâu như conngười, nên rất được coi trọng, vì vậy, khi xây dựng chuồng trại, họ thường xây
ở những nơi cao ráo, kín đáo, vừa chống sét, vừa chống nắng, thức ăn của trâu
bò được lựa chọn thích hợp, ngoài đồng cỏ trên bãi tại chỗ, hàng ngày bà con
Trang 30phải đi cắt cỏ xa ở các vùng xung quanh, ngoài ra, người ta còn phải phơi rơm
rạ làm thức ăn dự trữ cho trâu bò vào mùa rét lụt lội
Trong nông nghiệp có 4 yếu tố cần thiết là: Nước, phân, cần, giống tấtthảy đều quan trọng nhưng đặc biệt là hai yếu tố cần và giống Như vậy, vớinền kinh tế nông nghiệp là chủ đạo, cư dân Hoành Sơn đã bằng bàn tay, khối óccủa mình để vươn lên trong cuộc sống, dần dần thoát khỏi cái đói, cái nghèo
2.1.2 Thủ công nghiệp
Ngoài sản xuất nông nghiệp, ở Hoành Sơn do nhu cầu của cuộc sống vànhững điều kiện kinh tế xã hội dần dần xuất hiện một số nghề phụ khác, nêncác cụ đồ làng thường hay nói về chữ nghề nghiệp: “Nhân sinh bách nghệ, nhấtnghệ tính nhất thân vinh”, nghĩa là: “người ta sinh ra có trăm nghề, giỏi mộtnghề sướng cả đời”, hay là: “ Lương điền vạn khoảnh bắt như bạc nghề tùythân”, tức là: “ruộng tốt bè bè không bằng một nghề cầm tay”
Hình như ở Nam Đàn và Hoành Sơn ai cũng phải làm nghề phụ để kiếmsống Sĩ tử Nam Đàn đâu chỉ nằm dài đọc sách để đến buổi ăn cơm “năm bảyđòn xeo xeo không dậy” mà cũng phải đi buôn gánh, nhũi tép, phụ hồ, thợ xây.Phải nói rằng, mảnh đất xứ Nghệ nói chung, Nam Đàn và Hoành Sơn nóiriêng đều hứng chịu cảnh thiên nhiên khắc nghiệt, khí hậu phức tạp nhưng nhândân Hoành Sơn đã vươn lên, vượt qua mọi gian nan, thử thách, cần cù, chịukhó, tìm mọi cách kiếm ăn để thích nghi với hoàn cảnh, làm chủ cuộc sống củamình, giành lấy một vinh quang trong nghề nghiệp từ bao đời nay
Vì vậy, bên cạnh nghề nông, ở Hoành Sơn xưa có nghề thủ công truyềnthống: trồng bông, dệt vải, nuôi tằm, dệt tơ, nghề làm tương - nguồn thực phẩmquý, nghề vận chuyển thủy Đặc biệt là nghề mộc, nề…
Trang 31Nằm kề bên con Sông Lam, các xã Nam Lộc, Nam Trung, Khánh Sơncủa huyện Nam Đàn…Với những ngôi làng cổ từ lâu đã nổi tiếng với nghềtrồng dâu nuôi tằm, tiêu biểu nhất là làng Hoành Sơn.Về lại mảnh đất nàynhững ngày áp tết vẫn còn đó bãi dâu xanh e ấp quanh làng, chỉ có điều nhữngngười làm dâu, nuôi tằm đã thưa thớt dần theo thời gian.
Hiện nay, dẫu nghề không còn được phát triển nhưng nhiều hộ dân tronglàng vẫn duy trì nghề truyền thống với tâm nguyện "một đồng, một giỏ không
bỏ nghề dâu" Nghề trồng dâu nuôi tằm không nhàn hạ nhưng cũng giúp chongười dân có nguồn thu nhập đáng kể Mỗi cây dâu từ lúc trồng đến lúc cho thuhái phải mất ít nhất gần hai năm với khá nhiều công chăm bón, dâu là loại cây
dễ trồng, có thời gian sinh trưởng dài, có khả năng phát triển mạnh, chịu hạn,chịu úng và chịu rét tốt,cây dâu trồng một lần cho thu hoạch 30 năm Nếu trồngthâm canh thì có thể trồng xen các loại cây ngắn ngày khác như: Lạc, ngô, đậu.Đặc biệt cây dâu có thể sinh trưởng và phát triển tốt trên vùng đất bạc màu, vensông, triền núi, vừa có tác dụng chống xói mòn
Nhưng trồng dâu vất vả một, chăn tằm vất vả thêm 4-5 lần, bận rộn nhất
là khi tằm ăn rỗi Cụ Minh(82tuổi) trong làng cho biết, con tằm lúc mới nởđược gọi là tằm trút nhộng Sau khoảng 3-4 ngày, tằm chuyển sang màu trắng,rồi lột xác thành tằm tuổi mốt Ba ngày sau, tằm thành tuổi hai và rồi ba ngàynữa là tuổi bốn và bước vào thời kỳ ăn rỗi Mỗi nong mấy trăm con tằm ăn ládâu rào rào Dân gian có câu " làm ruộng ăn cơm nằm, nuôi tằm ăn cơm đứng".Khi con tằm chín, người chăn tằm sẻ chuyển tằm lên né để tằm làm tổ và nhả
tơ
Trồng dâu nuôi tằm không nặng nhọc như các nghề khác, nhưng lại đòihỏi phải công phu, tỉ mỉ từ việc chọn giống đến làm đất gieo trồng và thuhoạch Hái bông về phải phơi khô, cán và dập bông, guồng và se ra sợi, đưa lênkhung cửi dệt thành vải, vải phải nhuộm màu nhiều lần khá công phu mới chắc
và bền lâu Ngoài ra các chị em phụ nữ còn trát bùn để vải được cứng và bềnhơn, dùng may áo, váy Nghề chăn tằm dệt tơ lại càng công phu, tỉ mỉ, khónhọc hơn Trước hết, phải chọn giống tốt, nơi nuôi phải sạch sẽ, thoáng mát vềmùa hè, ấm về mùa đông Cho tằm ăn đủ và ngon, tằm mới cho kén tốt Khi ra
Trang 32sợi, những guồng tơ vàng óng trải dài trên đường làng Tiếng khung dệt kẽo kẹtrộn vang là một nét văn hóa của làng quê Những cô gái nuôi tằm, dệt vảithường là những thiết nữ “Thắt đáy lưng ong” duyên dáng, trẻ trung Nhiều đôitrai thanh gái lịch đã trở thành vợ chồng bên những guồng sợi quay tơ
Vải tơ tằm dệt ở Hoành Sơn được bán ở chợ Sa Nam, chợ Quế Thọ, hayxuôi thuyền về Vinh tiêu thụ, cho đến những năm 80 của thế kỷ trước nghềtrồng dâu nuôi tằm ở Hoành Sơn vẩn được duy trì thu hút đông đảo nhân dântrong làng tham gia
Nghề làm tương được phát triển rộng rãi, không chỉ ở Hoành Sơn mà hầunhư làng nào cũng làm tương Phương pháp làm tương cho đến gần đây, vẫn làphương pháp thủ công, cổ truyền
Giống đậu làm tương được cư dân Hoành Sơn thường chọn nếp ngonthường dùng để làm xôi Nước làm tương là nước giếng, nước mưa, phải đểnước lắng đọng khoảng một tuần cho hết cặn rồi mới đem dùng Mốc tươngchế từ nếp hoặc ngô Các cụ lão thành ở Hoành Sơn nói: “bí quyết làm tươngnằm ở chỗ làm mốc, nhiều nơi khác không làm được tương là do họ không biếtlàm mốc”
Muốn làm tương thường từ tháng 4 đến tháng 8, đó là những thắng nắngnhiều, trời nóng nực, men vi sinh dễ thủy phân, đậu và mốc thành prôtêin.Dụng cụ làm tương là chum sành loại tốt, chín đều, không rò rỉ, có nắp đậy
Trang 33Sau khi chuẩn bị xong mọi nguyên liệu, rồi đem nước sạch, đổ đậu nành
đã rang, xay vào, ban đầu đun to lửa Khi đã sôi rồi nên giữ nhỏ lửa, đậu chínđều là được, để nguội, đổ vào chum, ngày phơi, đêm ủ, sáng ra đánh cho đềuchum, luôn để nơi khô ráo, nhiều ánh sáng, miệng chum bịt kín nhiều lớp vảimàn Thời gian ủ kéo dài từ 7 – 9 ngày Sau đó mới cho mốc đã nghiền vào,trộn với muối rang, đánh đều, đậy kín Sau ba bốn ngày mở ra nếm thử
Có thể nói rằng, tương là loại gia vị trong rất nhiều món ăn, vì vậy ai đãmột lần thưởng thức tương Nam Đàn cũng như Hoành Sơn thì không thể nàoquên vị ngọt ngào, thuần khiết “Thấm từ đầu lưỡi đến chân răng”
Đừng khinh dưa, nhút, tương, càTuy không lịch sự nhưng mà sạch ngon
Nghề làm tương Nam Đàn cũng như Hoành Sơn đã có từ rất lâu, ban đầuchỉ một số hộ làm, nhưng đến nay gia đình nào trong làng cũng biết làm tương.Với nguồn nguyên liệu dồi dào, dày dặn kinh nghiệm của các cụ lão thànhtruyền lại, nhờ vậy nghề làm tương cũng là một trong những nghề mang lại thunhập cao cho nhân dân Hoành Sơn Qua tìm hiểu, chúng tôi tận mắt chứng kiếnđược mô hình làm tương không đơn giản, Người dân Nam Đàn nói chung và cưdân Hoành Sơn nói riêng, làm tương cầu kì ngay từ khâu chọn nguyên liệu,những chai tương được làm ra cả một quá trình kết tinh nhiều yếu tố Phảichăng vì thế mà đến tận bây giờ, nó vẫn ngọt lịm trong ký ức của những ngườicon xa quê, hay những người đã có dịp ghé qua đây
Ai về ăn nhút Thanh ChươngDừng chân nếm thử vị tương Nam Đàn
∗ Nghề mộc – Nề
Đây là một trong số nghề thủ công truyền thống lâu đời của người dânHoành Sơn Hai nghề đã sản sinh ra nhiều đội thợ tài hoa làng Nam Hoa rất nổitiếng với những công trình chạm trổ lớn Vì vậy, người thợ mộc Nam Hoa đã đivào lịch sử từ bao giờ Thợ mộc Hoành Sơn biết làm nhà ở, đền đài, miếu mạo
và mọi dụng cụ trong gia đình, biết chạm trổ, điêu khắc những hoa văn “long liquy phượng”, những mô hình nghệ thuật từ xưa Ở Hoành Sơn có những nhóm,đội thợ mộc nổi tiếng họ, đã từng đào tạo nhiều con em trong làng tiếp bước
Trang 34cha ông theo nghề tài hoa này Thợ Hoành Sơn đi làm nhiều nơi, những côngtrình kiến trúc đòi hỏi đắp vẽ phức tạp, tinh tế như: đình, đền, nhà thờ thiênchúa giáo, chùa chiền Tất cả những cái đó đều đã phần nào tái hiện trí tuệ, tàinăng cũng như phẩm chất của người thợ mộc Nam Hoa.
Thợ nề: Đội ngũ thợ nề giỏi, khéo tay,cũng tập trung ở Hoành Sơn với cácxóm: Làng Bắc, Làng Ngang, Làng Thượng… Đâu đâu cũng có các đội thợ nềnổi tiếng, cũng như thợ mộc, thợ nề xây đắp nhà cửa, đền đài, miếu mạo, lạikhéo tay nhào nặm, ướm lượm, tô vẽ các loại hoa văn, mang thần sắc sinhđộng, đường nét mềm mại tinh tế
Đình Hoành Sơn (được xây dựng vào 1763) là biểu tượng tập trung nghệthuật chạm trổ điêu khắc tinh tế cả về mộc và nề trong thời xưa Các thế hệ thợmộc, thợ nề tiếp nối các đời sau, tuy chưa vượt quá tài nghệ của người xưa,nhưng vẫn duy trì được truyền thống tốt đẹp Hai nghề thợ mộc, thợ nề ởHoành Sơn đều nổi tiếng trong vùng Họ đã được truyền tụng, ngợi khen quanhiều giai thoại Sau họ còn có nghề sơn tràng (cung cấp gỗ), nghề nung vôi,nung gạch ngói… Sản xuất vật liệu cho thợ mộc, thợ nề
∗ Nghề vận tải đường sông
Đối với một làng quê, sau lưng là núi, trước mặt là sông, việc đi lại vậnchuyển cũng trở nên phong phú, ngoài những phương tiện đi lại thông thườngnhư: xe bò kéo, xe đạp, xe cải tiến phục vụ cho nhà thông thì một loại phươngtiện phổ biến được dùng từ đời này sang đời khác đó là những chiếc đò ngang,
đò dọc ngày đêm hối hả chở hàng, chở khách qua sông Đặc biệt trong các cuộckháng chiến chống Pháp, Mỹ thì những con đò này đã đóng góp phần khôngnhỏ trong việc vận chuyển hậu cần đến các chiến trường trong cả nước Đứngtrên đỉnh núi Nam Hoa nhìn theo hướng Tây – Bắc vào những buổi bình minhhoặc những chiều hoàng hôn chúng ta sẽ thất thấp thoáng những con thuyềnnhỏ đánh cá, những chiếc bè gỗ được kết từ các loại tre nứa từ thượng nguồnchở về
Tất cả những nghề truyền thống trên đã đóng góp phần điểm thêm nét đẹpvăn hóa truyền thống của vùng sông nước Nam Hoa
Trang 352.1.3 Hoạt động buôn bán, trao đổi
Trong lịch sử Việt Nam, cho đến trước cải cách ruộng đất, kinh tế làng xãchủ yếu là kinh tế tiểu nông, tự cung, tự cấp, nhỏ lẻ, manh mún Người nôngdân làm ra sản phẩm đáp ứng nhu cầu sử dụng của gia đình mình Nếu còn dưthừa thì đem ra bán, trao đổi ở chợ làng Trong cộng đồng làng xã nông thôn thìchợ làng là hình thức thương mại đóng vai trò quan trọng nhất Qua các bộchính sử ta biết được chợ Việt Nam xuất hiện từ lâu đời, ngay từ đầu thế kỷ
XV, Lê Thánh Tông đã nói: “Hễ có người là có chợ”
Như vậy, chợ là một phương tiện sinh hoạt, trao đổi không thể thiếu đượctrong cộng đồng dân cư và chợ làng là hình thức phổ biến nhất ở hầu hết cáclàng xã Việt Nam
Làng Hoành Sơn với lịch sử hình thành cộng đồng cư dân sớm thì chắchẳn chợ ở đây cũng đã có từ rất lâu
Từ xưa, toàn vùng Khánh Sơn có chợ Ngang và chợ Hôm Chợ Nganghọp vào buổi chiều mỗi ngày, còn chợ Hôm thì họp vào buổi sáng mỗi ngày.Đặc biệt là chợ Hôm, xưa kia vốn là một chợ rất lớn cỡ như chợ huyện, thu hútđông đảo người buôn kẻ bán ở trong và ngoài huyện Bởi nơi đây là trung tâmtrực tiếp giao lưu với các thị trấn buôn bán sầm uất quanh vùng từ xa xưa như:Hương Sơn, Đức Thọ, Vinh, Bến Thủy, Sa Nam, Đô Lương… Làng nằm vensông, nên chợ Hôm có sức thu hút lớn với hàng chục chợ quanh vùng Lại có
vị trí thuận lợi cả trên bến, dưới thuyền, trên ngàn, dưới biển, trong giao lưuhàng hóa nông lâm thổ hải sản, mọi hàng hóa từ bình thường đến quý giá, từxưa ở vùng này đều có ở chợ Ngang, chợ Hôm Tại đây, có đầy đủ các loạihàng hóa, từ sản phẩm của nghề mộc đến các loại nông sản như: Lạc, mật, bôngvải, tơ lụa…, các loại lâm sản quý như: Trầm, quế, mật ong, thịt hươu nai…cácloại thực phẩm lương thực: Ngô, khoai, sắn, cau, trầu… Tất cả đều phục vụ đờisống nhân dân
Cư dân làng Hoành Sơn vốn mang bản chất cần cù, chịu khó, thông minh,năng động, ham làm giàu, không chịu cảnh nghèo đói Vì thế, sau mỗi mùa thuhoạch mùa màng xong, bước sang vụ nông nhàn thì người dân nơi đây lại làmthêm nghề phụ như: đàn ông thì làm thợ nề, thợ mộc, chèo thuyền, còn phụ nữ
Trang 36lại tay bưng, tay cắp nón, thúng, mẹt, gồng gánh tất bật đi mua hàng chợ Hôm
về bán chợ Ngang Sau khi chợ Hôm tan buổi sáng thì chợ Ngang lại họp buổichiều Cứ như thế cứ ngày này qua ngày khác với sự tần tảo, chịu thương, chịukhó của con người nơi đây mà đời sống gia đình được cải thiện, phát triểnnhanh chóng, bộ mặt làng quê Hoành Sơn “thay da đổi thịt”
Trong dân gian vẫn còn truyền tụng câu thơ:
“Em về mà lấy làng cày
Cổ chân lấm đất
Cổ tay lấm bùn
Em về mà lấy làng buôn
Đã dài dải yếm lại suôn mối lời”[37,50]
Tóm lại cùng chịu chung sự biến động phức tạp của tự nhiên và xã hội, ởmột vùng núi cách sông ngăn, dưới chế độ phong kiến nhiều đời với nền sảnxuất tự cung tự cấp, kỹ thuật canh tác lạc hậu, thô sơ Nhưng người dân HoànhSơn đã liên tục lao động cần cù, dũng cảm, thông minh, biết thích nghi thời tiết,biết tận dụng lợi thế đất đai, biết chọn giống cây trồng, con giống thích hợp,biết thay đổi cách làm ăn, biết phát triển nhiều nghề truyền thống, thông thạomọi nghề “sỹ, nông, công, thương” Nhìn chung vốn dĩ uống chung một dòngnước, đi cùng một con đường, ăn ở làm việc cùng một cánh đồng, một phườngnghề nghiệp đồng cam cộng khổ, nên sự trưởng thành và xây dựng của từngcon người ở Hoành Sơn đã góp phần vào dấu ấn của vùng đất Nam Đàn
2.2 Cơ cấu tổ chức và các mối quan hệ của làng.
2.2.1 Cơ cấu tổ chức của làng Việt cổ truyền.
Khi nói về làng xã Việt Nam là đang nói về cơ sở tồn tại của nông thônViệt Nam Làng trở thành đơn vị hành chính thấp nhất trong hệ thống cơ cấu tổchức của nhà nước phong kiến Tuy nhiên làng Việt luôn bao hàm hai yếu tố tựtúc và phụ thuộc Làng là đơn vị hành chính cơ sở, là tập hợp của những hộcùng sống với nhau trên một khu vực, thường bao bọc bởi “cây đa, giếng nước,sân đình” Đó là những hình ảnh khó quên trong ký ức biết bao thế hệ về mộtlàng quê nơi mình được sinh ra
Trang 37Theo giáo sư Nguyễn Từ Chi, cơ cấu tổ chức là một khía cạnh của cơ cấu
xã hội chính trị, đây là một thành phần của kiến trúc thượng tầng, cơ cấu tổchức chỉ ra đời trên một cơ sở kinh tế nhất định và trong khuôn khổ của cơ cấu
xã hội – chính trị chung mà nó chỉ là là một bộ phận Vì vậy, chúng ta khôngmong gì hiểu được cơ sở kinh tế và những bộ phận khác của cơ cấu xã hội,chính trị của làng cho tương đối trọn vẹn, nếu chưa nói đến cơ cấu tổ chức vàtác động ngược lại của nó Mặt khác, cơ cấu tổ chức của làng Việt cổ truyền lại
là khung cảnh diễn biến, hơn thế nữa nó là điều kiện quy định sự diễn biến củabao sự kiện lịch sử và biểu hiện tâm lý phức tạp mà chỉ riêng cơ sở kinh tế vàhợp thể giai cấp chưa đủ minh giải” [3,18]
Cũng theo giáo sư Nguyễn Từ Chi, cơ cấu tổ chức mà làng Việt cổ truyền
ở Bắc Bộ có 5 loại hình:
-Theo địa vực cư trú có tổ chức xóm và ngõ
- Theo quan hệ huyết thống có tổ chức tộc họ và gia đình
- Theo lớp tuổi của nam giới có tổ chức giáp
- Theo nghề nghiệp và sở thích có tổ chức phường và hội
- Theo hệ thống hành chính có tổ chức xã và thôn
Như vậy, làng Việt là đơn vị xã hội cơ sở và bền vững, là không gian sốngcủa con người Việt Nam Trong lãng xã mang đậm tinh thần cộng đồng và tựtrị Do tính cộng đồng đủ dẫn con người đến chỗ đồng nhấy và sống dân chủ,bình đẳng với nhau, đó cũng chính là sức mạnh của con người và dân tộc Việttrong sự nghiệp dựng nước và giữ nước
2.2.2 Các tập hợp trong làng xã ở Hoành Sơn
2.2.2.1 Tập hợp theo không gian cư trú.
∗ Ngõ hoặc lối ngõ
Ngõ ở đây không phải là cổng ra vào của một gia đinh Ngõ là không gian
cư trú của một số gia đình Những gia đình này có thể là bà con với nhau hoặckhông có dính dáng gì về huyết thống, song cùng nằm bên hay quanh một lối đitrong hệ thống đường làng Ngõ là một phần thể của xóm hoặc của làng Tênngõ thường là tên gia đình ở đầu lối đi hoặc có vai vế trong cái tập hợp bé nhỏ
Trang 38này Như ở xóm làng Ngang của Hoành Sơn có ngõ ông Tú, ông Cử… Dù thếmỗi ngõ đều có cuộc sống riêng đích thực của mình Đây là nơi mà sự ăn ở cónghĩa có tình, sự hiểu biết tường tận lẫn nhau, thậm chí là nhất cử, nhất động,
sự thông cảm tương trợ khi “tối lửa tắt đèn có nhau” của cộng đồng cư dânđược thể hiện một cách cụ thể, thiết thực, sâu sắc, vô tư cập nhật và thươngxuyên hơn cả “Bán anh em xa mua láng giềng gần” chính là chân lý của nhữnggia đình sống thác vì nhau, luôn chia sẻ với nhau niềm vui, nỗi buồn trong tậphợp “ngõ” hoặc “lối xóm” này
Xóm hay chòm là một tập hợp vừa có tính chất tự nhiên, vừa theo dòng
họ, nhưng theo tự nhiên trong một không gian cư trú là chủ yếu, tên của xómthường được đặt theo vị trí nơi ở trong làng gọi là “xóm Trong”, ở ngoài rìa gọi
là “xóm Ngoài”, ở mép sông có bãi bồi gọi là “xóm Bãi” (Hoành Sơn hayTrung Cần) ở phía trên của làng gọi là “xóm Trên”, “xóm Thượng”, “xómĐoài”, ở gần đình gọi là “xóm Đình”, gần chợ gọi là “xóm Chợ”, xóm Bến,xóm Đò, xóm giếng… Xóm cũng có cuộc sống đích thực như ngõ, tức là nơicon người ăn ở có nghĩ có tình Trên bình diện chung của các làng xã ở NamĐàn, xóm cũng là nơi mà chính quyền cơ sở dựa vào để bảo vệ an ninh tập thể,nên trước đây, một số xóm có “tuần xóm”, “điếm xóm”, cố nhiên việc bảo vệ
an ninh ngày phải đặt dưới sự kiểm soát chung của trương tuần, của hươngkiểm, lý trưởng: Đến bây giờ một số xã vẫn còn dùng tên xóm cũ hay làng cũ,còn nói chung đã “con số hóa” như: xóm 1, xóm 2, xóm 3… Ở Khánh Sơn,Làng Hoành Sơn thuộc các xóm 1,2 ,3,4,5,6,7,8
“Làng Việt Nam được tổ chức theo đơn vị hành chính là thôn và xã, xã làcách gọi của làng và thôn là cách gọi của xóm Đôi khi một xã cũng có thể vàilàng và một thôn có thể vài xóm” [26,16]
2.2.2.2 Tập hợp theo huyết thống
Đó là họ hay dòng họ Đây là tập hợp của những người cùng dòng máu,cùng thờ một ông tổ, có anh em, chú bác, cô gì với nhau, không gần thì xa.Làng lấy trước và xĩ làm trật tự ngôi thứ Họ lấy cành trưởng, cành tứ, chi nọ,chi kia làm trật tự xưng hô và phần nào cả ngôi thứ Trong làng có họ lớn, họ
Trang 39nhỏ, họ cư trú lâu đời, họ mới tới, họ đông người, họ ít người, họ vai vế, họkém vai vế, có họ phải đổi tên họ, có họ phát triển hưng thịnh, có họ tàn lụi đi.Tại Hoành Sơn hiện nay đã có hơn 40 dòng họ sống, sum vầy, sinh hoạt cùngnhau Nhiều họ còn bảo lưu được nhà thờ và gia phả chi tiết của dòng họ mìnhnhư” Nhà thờ họ Nguyễn Thiện, Nguyễn Đức, Nguyễn Trọng Trần, Lê,Nguyễn, Tạ…
-Họ Nguyễn Thiện ở Hoành Sơn, nhân vật đột xuất là Tiến sĩ NguyễnThiện Chương, ông là người mở đầu cho nền khao bảng đậu đại khoa ở NamĐàn
- Họ Nguyễn Đức ở Hoành Sơn, nhân vật đột xuất là Thám hoa NguyễnĐức Đạt, trong gia đình ông có 6 người thi đỗ trong quãng thời gian không dài
- Họ Tạ ở Hoành Sơn, có Tây học nổi tiếng Tạ Quang Bửu…
Họ có tộc trưởng, chức tộc trưởng này không ai bầu mà cha truyền connối Tham mưu cho tộc trưởng những khi cúng lễ hay làm những việc lớn nhưxây nhà thờ họ, mả tổ họ, lập gia phả… có các vị cao tuổi hay người đỗ đạt cóchức sắc trong họ
Tập hợp họ tuy không có thể lệ hành chính hóa nhưng bền vững, thiêngliêng Những người trong tập hợp này phải giúp đỡ lẫn nhau, quan tâm đếnnhau, bảo vệ cho nhau Họ thường giáp mặt với nhau trong ngày tết hay khi giỗ
họ, tế họ hoặc họp họ để bàn việc sửa chữa hay xây dựng nhà thờ họ, bổ sunggia phả họ…
2.2.2.3 Tập hợp theo nghề nghiệp: Hội, phường
∗ Hội: có hội tư văn, hội tư vũ, hội đồng môn, hội từ thiện…
- Hội tư văn: tập hợp những người có học thức, đỗ đạt Trước con
mắt của dân làng, những người được nằm trong Hội tư văn là một vinh dự Họ
là kẻ sỹ trong tứ dân của dân làng Họ giữ việc cúng lễ,, thảo và đọc văn tế cholàng Họ được dự các buổi chầu khoa, tế đức Khổng Tử hàng năm ở các nhàvăn thánh, văn chỉ Ở Hoành Sơn có các cụ như: Nguyễn Văn Châu, Lê KhắcThái, Tạ Quang Sơn, Trần Quang Huy…, Đa số các quan viên chức sắc tronglàng xã đều nằm trong Hội tư văn và Hoành Sơn cũng là một làng có hội tư vănmạnh
Trang 40- Hội tư vũ: Là tập hợp những người có luyện nghề võ, những
người đi lính đã mãn hạn, những người có học vị trong võ nghiệp, những người
có công phục vụ đất nước, phục vụ nhà vua qua các trận binh đao, được phongchức nọ, chức kia trong làng võ Hội tư vũ trong làng Hoành Sơn nổi bật lên lànhững tên tuổi như: Nguyễn Thiện Ngân, Nguyễn Kiêm, Nguyễn VănMậu,Nguyễn Xuân Tình Tại Hoành Sơn có Hội tư vũ và Võ miếu “Đây làsáng tạo đặc biệt của các bậc tiền bối xã nhà không một nơi nào có võ hội (?),
nó thể hiện, cha ông không những ngưỡng mỗi văn học mà còn quan tâm võnghệ [12,308]
- Hội đồng môn: Là tập hợp của những học trò cùng học một thầy
nào đó Ở Hoành Sơn có những hội đồng môn nổi tiếng như: Hội đồng mônthầy Nguyễn Thiện Chương, để lại nhiều giai thoại và được ca ngợi hơn cả làhội đồng môn của Thầy Nguyễn Đức Đạt
Những người trong hội đồng môn có quan hệ giúp đỡ, tương trợ, thăm hỏilẫn nhau, cứu giúp và cứu nạn cho nhau, đặc biệt là cũng nhau chăm lo sứckhỏe, khi thầy ốm đau giúp đỡ thầy khi gia đình thầy túng thiếu hoặc gặp hoạnnạn, tang ma, giỗ chạp cho thầy khi thầy qua đời Người đứng đầu Hội đồngmôn là trưởng tràng (trường)
-Hội từ thiện: Là tập hợp của những người trong tổ chức phật giáo,
những người trong tập hợp này thường phụng tự tại một ngôi chùa nào đó như:
ở Khánh Sơn có chùa Ngang, chùa Nam Đông, chùa Đồn, chùa Nậm, đặc biệt
là chùa Long Tự… Họ thường giúp nhau đi cúng chùa và tương trợ lẫn nhaukhi gia đình ai đó trong hội và cả ngoài hội gặp nạn Họ cũng sẵn sàng đónggóp để giúp đỡ khi làng nào đó trong vùng làm cầu tu sửa chùa, hay những bấthạnh nhỏ: thiên tai, dịch tễ…
Nói chung các hội trên đều là những tập hợp mang tính tự nguyện củanhững người tham gia Họ đem lại những điều tốt đẹp cho xã hội là chủ yếu
∗ Phường: là tập hợp của những người cùng hành một nghề Họ có
mối cộng cảm cần thiết để tương trợ giúp đỡ lẫn nhau như ở Hoành Sơn có:phường thợ mộc, phường thợ nề, phường thợ gạch, phường buôn, phường