Nghi Xuân thời nào cũng có những nhân vật “nổi đình đám” đúng như sự ca ngợi của người đời trong câu phương ngôn cổ: “Ngàn hống chon von Biển Ngư bát ngát Thịnh trị gặp thời Nhân tài đua
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
ĐẶNG THỊ BÍCH HẰNG
Lịch sử văn hóa làng Cơng Gián, Nghi Xuân, hà tĩnh Từ thế kỷ xv
đến đầu thế kỷ xxi (2011)
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC LỊCH SỬ
nghệ an - 2012
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
ĐẶNG THỊ BÍCH HẰNG
LÞch sö v¨n hãa lµng C¬ng Gi¸n, Nghi Xu©n, hµ tÜnh Tõ thÕ kû xv
Trang 3Để hoàn thành chương trình cao học và thực hiện luận văn này, ngoài
sự nỗ lực của bản thân, tôi đã nhận được sự giúp đỡ, dạy dỗ và hướng dẫn củacác thầy giáo cô giáo và những người thân
Trước hết, cho phép tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy giáoPGS TS Nguyễn Trọng Văn là người đã trực tiếp hướng dẫn và giúp đỡ tôitận tình trong suốt quá trình làm luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn tới gia đình, những người thân, bạn bè vàđồng nghiệp đã động viên khích lệ, tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất cho tôihoàn thành khóa học cao học và luận văn tốt nghiệp của mình
Trong quá trình làm luận văn, bản thân tôi đã rất cố gắng bằng tất cả sựđam mê và năng lực của mình Song do còn hạn chế về nguồn tài liệu và hạnchế về thời gian, đồng thời bản thân tôi chưa có kinh nghiệm trong nghiêncứu đề tài khoa học nên chắc chắn luận văn này khó tránh khỏi những thiếusót và hạn chế Vì vậy, tôi rất mong tiếp tục nhận được sự đóng góp ý kiếncủa các thầy cô giáo cùng bạn bè và đồng nghiệp
Xin chân thành cảm ơn!
Vinh, tháng 10 năm 2012
Tác giả
Đặng Thị Bích Hằng
Trang 4MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 3
3 Phạm vi nghiên cứu, nhiệm vụ khoa học của đề tài 5
4 Nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu 5
5 Đóng góp khoa học và giá trị thực tiễn của luận văn 7
6 Bố cục luận văn 8
Chương 1 KHÁI QUÁT VỀ LÀNG CƯƠNG GIÁN 9
1.1 Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên 9
1.1.1 Vị trí địa lý 9
1.1.2 Điều kiện tự nhiên 11
1.2 Sự hình lập làng Cương Gián 23
1.2.1 Sự ra đời và tên gọi làng Cương Gián 23
1.2.2 Quá trình thay đổi vùng cư trú và thay đổi địa danh 28
1.2.3 Phương ngữ của người dân Cương Gián 31
1.3 Truyền thống đấu tranh 35
1.3.1 Trước khi có Đảng 35
1.3.2 Từ khi có Đảng 36
Kết luận chương 1 41
Chương 2 ĐỜI SỐNG VĂN HÓA VẬT CHẤT LÀNG CƯƠNG GIÁN 42
2.1 Sản xuất kinh tế 42
2.1.1 Nghề đánh bắt hải và chế sản biển 42
2.1.2 Các hình thức kinh tế khác 55
2.1.3 Đời sống kinh tế ở làng Cương Gián từ năm 1954 đến nay 67
2.2 Đời sống vật chất 71
Trang 52.2.2 Ăn mặc trang sức 73
Kết luận chương 2 79
Chương 3 ĐỜI SỐNG VĂN HÓA TINH THẦN LÀNG CƯƠNG GIÁN 80
3.1 Cơ cấu tổ chức và các mối quan hệ của làng 80
3.1.1 Cơ cấu tổ chức của làng Việt cổ truyền 80
3.1.2 Cơ cấu tổ chức của làng Cương Gián 81
3.2 Phong tục tập quán 87
3.2.1 Cưới xin 87
3.2.2 Ma chay 88
3.3 Các hình thức lễ hội, tín ngưỡng, tôn giáo 90
3.3.1 Sinh hoạt lễ hội 90
3.3.2 Tín ngưỡng 94
3.3.3 Tôn giáo 130
3.3.4 Văn hóa dân gian 136
3.4 Văn học dân gian 139
3.4.1 Ca dao, tục ngữ 139
3.4.2 Ví dặm 141
3.4.3 Hò vè 143
Kết luận chương 3 146
KẾT LUẬN 147
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 150 PHỤ LỤC
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
1.1 Nghi Xuân - một vùng đất cổ Việt Thường, xưa thuộc phủ ĐứcQuang, với lịch sử và văn hóa lâu đời, được khẳng định là nền văn hóa tiêubiểu cho đất người Hà Tĩnh Trên vùng đất địa linh nhân kiệt này đã ghi lạinhiều dấu ấn của lịch sử Một vùng đất “tao nhân mặc khách, khanh tướngcông hầu” đã từng nổi danh với bao di tích danh thắng với bao danh nhân kiệtxuất Hẳn không ít người đã từng biết đến danh “quan Tiên Điền”, “lúa XuânViên”, “tiền Hội Thống”, “trống Đan Trường”, “đục chàng Phổ Hải” Vớithương hiệu nước mắm Cương Gián, trên bến dưới thuyền của chợ Đình, chợChế - Nghi Xuân cũng từng nổi danh với “Nghi Xuân bát cảnh”, với núi Hồng
- sông Lam hùng vĩ, tạc nên dáng đứng quê hương
Nơi đây đã sản sinh ra nhiều nhân tài tiêu biểu trên nhiều lĩnh vực Tiêubiểu như lĩnh vực phong thủy có Võ Đức Huyền Trong thơ ca có đại thi hàoNguyễn Du với pho kiệt tác truyện Kiều bất hủ, một Nguyễn Công Trứ tài ba;trong kiến trúc điêu khắc có Hà Thiềm, thợ khắc đá tài hoa, trong khai hoangvới Ngô Trát mở đường Truông Ghép
Trong ca, hát dân gian có hát ví hát dặm, đặc biệt là, tiếng hát ca trù CổĐạm Nghi Xuân thời nào cũng có những nhân vật “nổi đình đám” đúng như
sự ca ngợi của người đời trong câu phương ngôn cổ:
“Ngàn hống chon von Biển Ngư bát ngát Thịnh trị gặp thời Nhân tài đua phát”
Quả thực, cảnh vật và con người nổi danh đã làm đặc sắc hơn cho lịch
sử văn hóa của đất người Nghi Xuân Gắn bó máu thịt với Nghi Xuân lànhững ngôi làng Từ những ngôi làng này, mỗi nhân vật lịch sử, mỗi cảnh vật,
Trang 7dòng sông, cánh đồng, ngọn núi đều mang trong đó hồn thiêng đất nước.Vùng đất Nghi Xuân có nhiều ngôi làng cổ được giới sử gia quan tâm nghiêncứu Như là làng Hội Thống, làng Tiên Điền, làng Cổ Đạm, làng CươngGián với lịch sử văn hóa đa dạng, phong phú của những kho tàng văn hóavật chất và đời sống văn hóa tinh thần.
1.2 Có ý kiến cho rằng làng Việt là hình ảnh thu nhỏ của đất nước ViệtNam - Làng có lịch sử lâu dài cùng với chiều dài của lịch sử dân tộc Khôngngẫu nhiên mà chúng ta nói rất gần gũi thân thương: “làng nước” Với mốiquan hệ đó làng Cương Gián ra đời và phát triển cùng với Nghi Xuân “địalinh nhân kiệt”, Cương Gián góp cho đất nước những danh thắng, những nhântài ghi danh cùng sông núi
Cương Gián là một làng cổ do bồi tích của biển Theo các tài liệu khảo
cổ học, ngay từ thời Văn Lang - Âu Lạc, biển đã bồi tích lên mảnh đất hìnhtam giác Gia Lách - Hội Thống - Đông Gián (tên cũ của làng Cương Gián)
Từ thời đó, cư dân ở đây đã có mặt và đã góp phần mở mang xây dựng, bảo
vệ đất nước
Cương Gián “đất cận thủy - cận sơn” thường được coi là nơi đắc địa mà
là nơi “có cảnh trí giãi bày” lại vừa là nơi có tầng văn hóa truyền thống phongphú của người dân làng biển đã phản ánh rất rõ mọi mặt kinh tế, xã hội của làngCương Gián qua các thời kì lịch sử Nơi đây sớm có nền kinh tế phát triển thịnhđạt bao gồm các nghề khai thác biển và chế biến hải sản, đặc biệt là thương hiệunước mắm Cương Gián được nhiều nơi biết đến Cùng với sự phát triển của thủcông và thương nghiệp đã làm cho Cương Gián thêm trù phú
Cho đến nay, lịch sử đã có một số ý kiến nói về tên gọi của làng CươngGián, nhưng có một điều mà nhân dân trong vùng và nhiều nơi biết đến đó làlàng quê này gắn với tên tuổi của Nguyễn Xí Đây cũng là nơi sinh thànhđồng tiến sĩ Nguyễn Bật Lãng và những công thần trẻ tuổi khác
Trang 8Trong hai cuộc kháng chiến thần kì của dân tộc, nhân dân Cương Gián
đã có những đóng góp lớn được nhà nước tặng thưởng “Huân chương khángchiến hạng 2” và nhiều huân, huy chương khác
Trong công cuộc đổi mới đất nước, nhân dân Cương Gián phát huytruyền thống anh hùng, năng động, sáng tạo, dám nghĩ dám làm vượt lên trongcuộc sống, đã được Đảng và Nhà nước trao tặng danh hiệu cao quý “Anhhùng trong thời kì đổi mới’’
1.3 Nghiên cứu về làng cổ Cương Gián chúng tôi muốn làm rõ hơn vềquá trình hình thành và phát triển của đời sống văn hóa vật chất, tinh thần củanhững người dân vùng biển Để hiểu thêm về con người ở đây đã ứng xử nhưthế nào trên vùng đất “cận thủy - cận sơn” này
Và hơn thế nữa, qua nghiên cứu về lịch sử văn hóa làng Cương Gián,chúng tôi đã đặt các giá trị văn hóa đó trong các mối quan hệ cao quý như gắnliền với xóm làng, gia đình, dòng họ Để từ đó, chúng tôi muốn gửi gắm đếnmọi người một thông điệp giản dị, nhưng đầy ý nghĩa và trách nhiệm Đó lànhững nhịp sống sôi động hiện đại ngày nay, rất cần thiết việc giữ gìn và pháthuy những giá trị thuần phong mỹ tục của văn hóa truyền thống mà ông bà tổtiên đã gây dựng, để lại chính trong những ngôi làng thân thương nơi ta sinh
ra và lớn lên Nhằm góp phần nuôi dưỡng những tâm hồn thuần khiết, hồnhậu, làm tăng thêm lòng tự hào về giang sơn Tổ quốc Việt Nam vô cùng tươiđẹp của chúng ta Thiết nghĩ đó cũng là một cách thể hiện tình yêu quê hươngđất nước của mỗi người con đất Việt
Với những lý do trên, chúng tôi quyết định lựa chọn đề tài: “Lịch sử
văn hóa làng Cương Gián, Nghi Xuân, Hà Tĩnh từ thế kỷ XV đến đầu thế
kỷ XXI (2011)” làm luận văn tốt nghiệp thạc sĩ của mình.
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Làng xã Việt Nam là đề tài đã thu hút sự quan tâm nghiên cứu của cácnhà khoa học trong trước và trên thế giới Các lĩnh vực mà các nhà khoa học
Trang 9quan tâm đến đề tài làng xã cũng phong phú đa dạng như tầng văn hóa truyềnthống của làng Đó là lịch sử học, khảo cổ học, dân tộc học, tôn giáo học, tâm
lý học, kiến trúc, nghệ thuật Có thể nói, ít có đề tài khoa học nào lại nhậnđược sự quan tâm lâu dài và toàn diện như đề tài làng xã Việt Nam Làng cổCương Gián cũng nằm trong phạm vi đó, đã thu hút sự quan tâm nghiên cứucủa các nhà khoa học trong tỉnh và trong cả nước
Đã có nhiều tài liệu gốc đề cập đến nhiều vấn đề của làng Cương Gián.Cuốn “Danh nhân Nghệ Tĩnh” (Tập 3 - Nxb Nghệ Tĩnh, Vinh, 1984) và cuốn
“Nghệ Tĩnh ký” (Bùi Dương Lịch) đã đề cập đến Cương Gián gắn liền vớibậc công thần khai quốc Nguyễn Xí, Nguyễn Lưu
Sách “Đại Nam thống nhất chí” (Quốc sử quán triều Nguyễn) đề cậpđến Cương Gián gắn liền với sự thăng trầm một thời của dân tộc - nơi đây đãtừng là chiến trường giao tranh Trịnh - Nguyễn
Có nhiều công trình nghiên cứu nói về phong cảnh, kiến trúc, đền thờ,tín ngưỡng, phong tục, tập quán của Cương Gián như: “Nghi Xuân địa chí”(Đông Hồ Lê Văn Diễn); “Lễ hội dân gian ở Hà Tĩnh” (Thái Kim Đỉnh); “Địachỉ văn hóa dân gian Nghệ Tĩnh” (Nguyễn Đổng Chi, 1995); “Nghi Xuân ditích và danh thắng” (UBND huyện Nghi Xuân, 2005)
Ngoài ra còn một số công trình nghiên cứu khác khái quát lịch sử, vănhóa của làng Cương Gián như: “Cương Gián làng quê yêu dấu “ (Đặng VănThảo, 2006); cuốn “Bàn về họ Nguyễn - Cương Gián và Nguyễn Xí sinh ra ởđâu?” (Nguyễn Đình Triển - nguyên Trưởng ban Nghiên cứu lịch sử ĐảngNghệ An); “Gia phả đại tôn tiến sĩ Nguyễn Bật Lãng”; “Gia phả họ Hồ ởCương Gián”; các bài ký của giai nguyên tri phủ Quảng Trạch Hồ SĩTạo; các bài ca truyền miệng, các di sản văn hóa phi vật thể qua văn tự cổHán Nôm
Những tư liệu trên đây vừa đề cập đến làng Cương Gián, vừa thể hiệnlàng Cương Gián đã gây được sự quan tâm nghiên cứu của các học giả trong
Trang 10tỉnh và trên cả nước Tuy chưa được đầy đủ, nhưng đây là nguồn tài liệu quýgiá giúp tôi hoàn thành luận văn của mình.
3 Phạm vi nghiên cứu, nhiệm vụ khoa học của đề tài
3.1 Phạm vi nghiên cứu
Trên cơ sở khoa học, lý luận thực tiễn và những nguồn tư liệu hiện cótôi đặt ra phạm vi nghiên cứu về lịch sử văn hóa làng Cương Gián với đờisống vật chất, đời sống tinh thần từ xưa (nay là xã Cương Gián, huyện NghiXuân, tỉnh Hà Tĩnh)
- Hiểu rõ hơn về văn hóa truyền thống của làng Cương Gián, qua đó rút
ra được những nét đặc trưng của làng quê này, giữ gìn và phát huy những tinhhoa văn hóa dân tộc, cụ thể ở đây là những nét văn hóa đặc sắc của văn hóa
cư dân làng quê ven biển miền Trung Việt Nam, làng Cương Gián
4 Nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu
4.1 Nguồn tài liệu
- Tài liệu gốc
Để thực hiện đề tài này, tôi dựa vào các tài liệu gốc sau đây: “Lễ hộitruyền thống Việt Nam” (Thanh Phương - Lê Trung Vũ); “Tìm hiểu phong tụcViệt Nam nếp cũ tết - lễ - hội hè” (Toan Ánh); “Hoan Châu phong thổ ký” (TrầnDanh Lâm - Ngô Trí Hạp); “Lịch triều hiến chương loại chí” (Phan Huy Chú);
“Hoan Châu phong thổ Ký” (Trần Danh Lâm, Ngô Trí Hạp); “Nghi Xuân huyện
Trang 11thông chí” (Thành Đức Tử); “Nghi Xuân địa chí” (Đông Hồ Lê Văn Diễn); giaphả họ đại tôn Nguyễn Bật Lãng; gia phả họ Hồ ở Cương Gián; gia phả họ Trần
ở Cương Gián
Bên cạnh đó, tôi còn tham khảo các tài liệu như: “Việt Nam văn hóa sửcương” (Đào Duy Anh); “Cương Gián truyền thống cách mạng và đổi mới”(Ban chấp hành Đảng Bộ Xã Cương Gián); hồ sơ di tích lịch sử văn hóa Đềnthờ làng Yên Ninh ở Cương Gián; hồ sơ di tích lịch sử văn hóa Đền BạchThạch; hồ sơ lịch sử văn hóa Tiến sĩ Nguyễn Bật Lăng ở Cương Gián; hồ sơ
di tích lịch sử văn hóa Đền thờ Cương quốc công Nguyễn Xí ở Cương Gián;
hồ sơ di tích lịch sử văn hóa Đền Nam Phong ở Cương Gián; các hiện vật, sắcphong, hoành phi, câu đối bằng chữ Hán ở các đền miếu ở xã Cương Gián,huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh
- Tài liệu nghiên cứu
Để thực hiện luận văn, tôi đã tham khảo các công trình lịch sử văn hóacủa Việt Nam nói chung và của Cương Gián - Nghi Xuân - Hà Tĩnh nói riêng.Như “cơ sở, văn hóa Việt Nam” (Trần Quốc Vượng chủ biên) Thơ địa chí
“An Tĩnh Sơn Thủy Vinh” (tiến sĩ Dương Thúc Hạc); “Nghệ An kí” (BùiDương Lịch); “Địa chí Hà Tĩnh” (Nguyên bản thời Đồng Khánh); “Việt Namvăn hóa sử cương” (Đào Duy Anh); “Tìm hiểu văn hóa làng Việt” (Diệp ĐìnhHoa chủ biên); “Nghi Xuân di tích và danh thắng” (UBND Huyện Nghi Xuân2005); “Lễ hội dân gian Hà Tĩnh” (Thái Kim Đỉnh)
- Tài liệu điền dã
Luận văn đã sử dụng nguồn tư liệu điền dã, sự thành công của luận vănphụ thuộc rất lớn vào nguồn tư liệu này
Tôi đã thực hiện nhiều chuyến đi thực tế đến làng Cương Gián, trựctiếp tìm hiểu khảo cứu về địa hình bở biển, những ngọn núi, dòng sông tronglàng Đặc biệt, tôi đã đến quan sát khảo cứu tại các di tích văn hóa lịch sử ở
Trang 12Cương Gián như đền thờ Cương Gián quốc công Nguyễn Xí, đền NamPhong, đền thờ tiến sĩ Nguyễn Bật Lãng
Tôi đã thực hiện các cuộc giao lưu, tiếp xúc gặp gỡ với người dân bảnđịa, người cao tuổi am hiểu lịch sử làng để từ đó làm rõ hơn những nét vănhóa truyền thống của làng Cương Gián
4.2 Phương pháp nghiên cứu
- Sưu tầm tư liệu
Khi thực hiện luận văn, công tác sưu tầm tài liệu được đặt lên hàng đầu,
và đây là công việc chiếm khá nhiều thời gian Tôi đã tiến hành các chuyến đi
để sưu tầm, thu nhập tài liệu tại thư viện Nghệ An, thư viện Đại học Vinh, thưviện Hà Tĩnh, bảo tàng Hà Tĩnh, thư viện Nghi Xuân, sao chép chụp ảnh tạicác đền, phong cảnh sông, núi, biển trong làng Cương Gián Khai thác thôngtin lịch sử qua các cuộc điều tra xã hội học và phương pháp hỏi chuyện,phỏng vấn nhân dân bản địa làng làng Cương Gián
- Xử lý tư liệu
Để xử lý tư liệu và viết luận văn, chúng tôi đã sử dụng các phươngpháp chuyên ngành khoa học lịch sử, phương pháp duy vật biện chứng và duyvật lịch sử, các phương pháp nghiên cứu liên ngành như phương pháp logic,tổng hợp, thống kê, mô tả, điều tra, phỏng vấn nhằm đảm bảo các giá trịkhoa học, đảm bảo tính trung thực, khách quan của luận văn
5 Đóng góp khoa học và giá trị thực tiễn của luận văn
- Luận văn cung cấp cho bạn đọc những thông tin có hệ thống, toàndiện về lịch sử văn hóa truyền thống làng Cương Gián
- Luận văn góp phần nâng cao sự hiểu biết và lòng yêu quý vốn vănhóa cổ truyền của quê hương Tăng thêm ý thức dân tộc hướng về cội nguồn,
về lịch sử của quê hương mình, về công lao của ông bà tổ tiên; phát huytruyền thống cao đẹp và đạo lý uống nước nhớ nguồn; giáo dục ý thức bảo vệ
Trang 13và phát huy các giá trị thuần phong mỹ tục trong sự nghiệp xây dựng nền vănhóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc văn hóa dân tộc mà Đảng - Nhà nước
và nhân dân ta đang thực hiện
- Luận văn góp phần làm giàu thêm kho tàng lịch sử đại phương, cungcấp thêm nguồn tư liệu phục vụ cho công tác nghiên cứu lịch sử địa phương.Bản thân tôi là người con vùng biển - trên địa bàn huyện Nghi Xuân, tôi mongmuốn luận văn thạc sĩ của mình trở thành nguồn tư liệu cho việc dạy học lịch
sử địa phương trong nhà trường phổ thông trên quê hương tôi - huyện NghiXuân, tỉnh Hà Tĩnh
6 Bố cục luận văn
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụlục, phần nội dung chính của luận văn gồm có 3 chương:
Chương 1: Khái quát về làng Cương Gián
Chương 2: Đời sống văn hóa vật chất làng Cương Gián
Chương 3: Đời sống văn hóa tinh thần làng Cương Gián
Trang 14Chương 1 KHÁI QUÁT VỀ LÀNG CƯƠNG GIÁN
1.1 Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên
1.1.1 Vị trí địa lý
Cương Gián là một làng quê ven biển, nay là xã Cương Gián huyệnNghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh, có diện tích 2.240 ha, dân số hiện nay là 13.520người với 2.983 hộ Theo “Nghi Xuân địa chí” của Đông Hồ Lê Văn Diễn thìCương Gián xưa thuộc tổng Cổ Đạm Làng nằm ở phía Đông huyện NghiXuân, cách huyện lý Nghi Xuân 15 km, cách thành phố Hà Tĩnh 30 km theotuyến đường 22-12 Phía Bắc đến cầu Rào (bên kia cầu Rào là làng CươngĐoán - nay là xã Xuân Liên) Phía Nam có sông Mỹ Dương và cửa lạch ĐồngKèn thuận lợi cho tàu bè ra vào khi thủy triều lên Núi Hồng Lĩnh ăn lấn rabiển Đông giáp lạch Kèn có đồi 137 thuận lợi cho hoạt động quân sự, vừa làranh giới giữa xã Cương Gián huyện Nghi Xuân với xã Thịnh Lộc huyện Lộc
Hà Làng có chiều dài 8 km bám theo chân núi Hồng Lĩnh và bờ biển Đông
“Ngoài biển trong núi, hai núi hai khe”, đây là câu nói mà người dân ở đâythường nói về địa giới của làng mình Quả thật, làng Cương Gián được thiênnhiên ưu đãi cả hai yếu tố, bậc nhất: đất “cận thủy cận sơn” nên làng có một
vị trí “đắc địa”, là đất tổ của La Sơn phu tử Nguyễn Thiếp Cách đây hơn haithế kỉ, khi về thăm quê cha đất tổ ông đã từng có lời ca ngợi phong thổ làngCương Gián: “ Tổ tiên ta ngày xưa ở tại làng Cương Gián Phía sau làng núiHồng đồ sộ, phía trước làng biển cả mênh mông Bầu nước Hoa Viên mượt
mà như một dải lụa uốn lượn quanh làng Đây là một làng quê đông người,nhiều của”
Làng Cương Gián như một dấu một dấu chấm nằm gọn trên giao điểm,giữa 1806’ vĩ Bắc và 10505’ kinh Đông Có người ví địa hình huyện NghiXuân như một lá cờ đuôi nheo, cán về phía Bắc, đuôi về phía Nam thì địa
Trang 15phận xã Cương Gián là mút đuôi nheo của lá cờ Tuy nhiên từ xưa có làngCương Gián có tầm quan trọng về giao thông trên biển trên bộ và cả về quân
sự Theo “Đại Việt sử kí toàn thư” của Ngô Sĩ Liên thì vùng đất này từng lànơi dừng chân của các hoàng đế Đại Việt trong các cuộc chinh phạt phươngNam nơi đây là bãi chiến trường thời Trịnh - Nguyễn phân tranh
Sách “Đại Nam nhất thống chí” có nhắc đến “Tấn cửa Cương Giáncách huyện Nghi Xuân 18 dặm về phía Nam là chỗ phân địa giới với huyệnCan Lộc do nước các khe ở phía Bắc núi Hồng Lĩnh hội tụ Mực nước rấtnông, thủy triều lên xuống có thể lội qua”
Nếu ta đi bộ hoặc đi bằng tàu thuyền từ Cửa Hội vào đến Cửa Sót(huyện Thạch Hà), hoặc từ Cửa Sót ra Cửa Hội thì ta sẽ đến địa phận xãCương Gián Từ phía ngoài biển nhìn lên núi Ngàn Hống thấy trên đỉnh núixuất hiện ba cụp cao vút lên tựa như ba ngon tháp đứng cạnh nhau trên núithành dãy dài soi bóng xuống biển - ngư dân trong làng đi biển thường lấynhững ngọn núi này làm mốc để định hướng và định lượng xa - gần, nông -sâu, khơi - lộng
“Chốn cao cao là ngàn Hồng Lĩnh Đất Thanh Cảnh là chốn Bụt Tiên Nhìn vào ba cụp trìa lên ”
Ba ngọn núi đó là ngọn Bòng Bòng, ngọn Cụp Lịp, ngọn Lèn; cả bangọn núi nằm ở phía Đông Nam, được xếp vào số những ngọn núi cao nhấtdãy Hồng Lĩnh
Như vậy, với vị trí địa lý “ngoài biển trong núi”, lại nằm trên trụcđường 22-12 nối huyện Nghi Xuân với huyện Lộc Hà và thành phố Hà Tĩnh,làng Cương Gián được đánh giá là có vị trí “đắc địa” Đây là ưu thế nổi trộicủa Cương Gián mà không phải làng xã nào cũng có Vị trí này vừa thuận lợicho phát triển kinh tế giao thông trên biển, đường bộ, vừa tạo điều kiện giaolưu về kinh tế, văn hóa, xã hội với dân cư các vùng lân cận
Trang 16Những ngọn núi Hồng Lĩnh như những ngọn tháp vút cao là điểm tựavẫy gọi những chuyến mưu sinh cho những người dân biển, những ngọn núinhư những pháo đài quân sự góp phần canh giữ sự bình yên cho vùng biển,vùng trời của Tổ quốc chúng ta.
1.1.2 Điều kiện tự nhiên
1.1.2.1 Địa hình
Nghi Xuân là huyện đầu tiên của Hà Tĩnh tính từ phía Bắc Tuy nằmdưới chân núi Hồng Lĩnh, với diện tích đất đai khá lớn là đồi núi đá sỏi vànhững đồng bằng cằn cỗi, nhưng chiếm một diện tích đất đai không nhỏ là bãicát ven biển, đó chính là kết quả của quá trình thiên di bồi tích của biển.Cương Gián là một trong những làng quê nằm trên vùng đất bồi tích đó
Khảo cổ học đã khẳng định, con người có mặt ở vùng đất này khá sớm:
4000 - 5000 năm Ở bãi Phối phối (xã Xuân Viên) cách Cương Gián khoảng6km về phía Tây Nam, người ta đã tìm thấy những di vật cùng thời nền văn hóaBàu Tró, đã tìm thấy nhiều công cụ thuộc hậu kỳ đá mới như: dao, rìu, búa, bànxoay, bàn nghỉ Như vậy, từ thời nước Văn Lang - Âu Lạc, biển đã bồi tích nênmảnh đất hình tam giác Gia Lách - Hội Thống - Động Gián
Con người đã có mặt ở đây từ rất sớm, góp phần xứng đáng trong côngcuộc mở mang, dựng xây đất nước
Cương Gián thuộc vùng bãi bồi tích ven biển do đó trên bề mặt cónhững doi cát trũng hay cao hình sóng chạy dọc biển Chạy ngang giữa làngBãi Bàu phân chia làng thành 2 ô làng Bể và làng Ruộng (tiếng địa phương bểchính là biển) Sau làng Song Nam có động cát khá lớn Đó là chứng tích củaquá trình bồi tích lâu dài của biển
Tôi đã đi tìm hiểu về sự hình thành nên địa hình của làng Được biết đó
là do tác động mạnh của các nhân tố: dòng biển, gió và dòng sông Chủ yếu là
do dòng biển tạo nên Từng đợt sóng nhào từ ngoài khơi vào bờ theo từng
Trang 17đường thẳng song song Các vật thể trong đó phần lớn là cát vụn, sét mịn lơlửng trong nước từ sông đổ ra biển sau đó bị đánh dạt vào bờ Sóng xoáy từđáy biển lên được trầm đọng lại và tạo thành những gờ ngầm được bồi tíchngày càng cao lên theo thời gian và cao đến mức mà sóng biển khó vượt qua.
Gờ cát đó sẽ vượt lên, khỏi mặt nước, tạo thành một dải cát mới ven biểnsong song với dải cữ bên cạnh là một dải trũng Người dân Cương Gián gọinhững dải cát đó là “cồn” và “dòi” Cách gọi đó cũng có sự phân biệt giữacồn và dòi: Cồn được bồi đắp bằng những lớp cát thô Dòi được bồi một lớpcát mịn và một ít đất sét
Địa chất học cho biết, nhưng cồn, gờ cát ở Cương Gián thời gian đầu.Khi có bão hoặc mực nước dâng cao có thể tràn qua toàn bộ hoặc phá vỡnhững đoạn đê thấp yếu, nhưng cuối cùng nó vẫn tiếp tục được củng cố bằngcát khô do gió biển bồi lên dần, cứ thế Cồn, Dòi cứ thế cao dần lên đến độ cao
mà có đủ sức ngăn chặn sóng biển và tạo thành những cồn cát, dòi cát, venbiển Những dải cát trũng phía trong nó lúc đầu còn mặn, theo thời gian nhờnước ngọt mà được ngọt hóa dần, hoặc biến thành một dòng chảy nối vớinhững ngọn khe gần đó, dần nước ngọt nội địa vào mang theo cả phù sa cátmịn lấp cạn dần
Quá trình hình thành Cồn và Dòi vẫn tiếp tục được diễn ra để tạo nênnhững đặc trưng nổi bật của địa hình Cương Gián Dải cát mới tiếp tục hìnhthành thì dải cát này nằm ở phía trong có điều kiện được củng cố chắc chắn,nhờ hệ thực vật tầng thấp chúng quen sống ở vùng đất mịn và chịu được nắngnóng có tác dụng chặn được cát như cây muống biển, cây dứa gai mọc thànhtừng khóm lớn và các loại cây hoang dại khác
Quá tình đó được tạo hóa sắp đặt từ năm này qua năm khác, từ thế kỉnày qua thế kỉ khác từng cồn cát, từng dòi cát, đồng cát được ra đời Đó làquá trình lấn biển hay gọi là biển lùi
Trang 18Những cồn, dòi cát này Nguyễn Du đã từng nói trong truyện Kiều:
“Ngổn ngang dòi đống kéo lên ”
Sự bồi tích của biển hay là biển lấn tạo cho Cương Gián một địa thế đặcbiệt: vừa có bãi ngang vừa có cửa lạch Vì vậy vừa chịu tác động của quá trìnhbồi tích của địa hình bãi ngang, vừa chịu tác động của các yếu tố di chuyển lở -bồi của cửa lạch Điều đó nói lên rằng địa hình của làng dễ có những biến thiênthay đổi mà người dân dễ nhận thấy như độ cao thấp của Cồn - Dòi, sự thay đổicủa dòng chảy, sự sâu hay cạn của lạch như của lạch Kèn
Hiện nay, với sự tiến bộ của khoa học, chính quyền các cấp tiến hànhkhảo sát thực địa, xem xét các yếu tố tác động của lũ lụt, bão tố, thủy triều vàcác yếu tố thủy văn khác trên vùng để có kế hoạch bố trí phù hợp vùng dân
cư, vùng sản xuất kinh tế - xã hội của làng
Núi:
Núi Hồng ấn lấn ra biển, đoạn trên làng Cương Gián là 8km Núi Hồngvới những ngọn núi cao, từ xưa đã đi vào truyện Kiều Nguyễn Du với độ caoước lệ: “Hồng Sơn cao ngất mấy trùng”
Về làng Cương Gián Phóng tầm mắt ngắm nhìn những ngọn núi Hồng,khiến chúng tôi tìm hiểu lại tên gọi của núi Hồng
Núi Hồng vốn có tên là Ngàn Hống, Núi Lớn Nghĩa từ cổ thì Hống cónghĩa là Lớn Ở đây, Hống và Lớn đều có cùng một nghĩa Về sau khi chépcác địa danh trong văn bản Hán Nôm người ta đã chuyển sang từ Hán Việt là:Hồng Lĩnh Hồng là lớn, Lĩnh là núi
Là người Hà Tĩnh hẳn ai cũng biết truyền thuyết 100 con chim Hồngbay về định “đóng đô trên dãy Hồng Lĩnh” Ngoài ý nghĩa Hồng là lớn naycòn có thêm Hồng là chim Hồng Tên gọi Núi Hồng là tên gọi phổ thông nhấtbên cạnh hai tên gọi phổ thông là Núi Hồng và Hồng Lĩnh
Sự hùng vĩ, có chút huyền bí của núi Hồng khiến tôi tiếp tục hành trìnhtìm hiểu về địa giới của Núi Hồng trên làng Cương Gián
Trang 19Tôi được biết, núi Hồng chia làm ba nhóm núi tiêu biểu Chúng đượcphân cách 2 dãy eo: Eo Truông Cộng Khánh và dải Eo Bầu.
Truông Cộng Khánh làm ranh giới giữa nhóm Thiên Tượng và nhómnúi Đụn
Bo bầu là ranh giới giữa nhóm Đụn và nhóm Hương Tích Nhóm ThiênTượng nằm về phía Tây Bắc gồm núi Bạch Tỵ (xã Đậu Liêu), ngọn Bãi Vọt,ngọn Thiên Tượng, Uy Viện, Ngọc Lâu, Yên Xứ, Ngũ Mã, núi Lâu và kếtthúc nhóm này là ngọn Thiên Tượng
Nhóm thứ hai là nhóm núi Đụn bao gồm bắt đầu từ ngọn Đông Xá nốivới ngọn Đụn, ngọn Đá Dựng, ngọn Đá Chẻ, ngọn núi Lài, núi Sét và ngọnMồng gà, tiêu biểu cho ngọn này là ngọn Đụn
Nhóm thứ ba là nhóm Hương Tích về phía Đông Nam gồm các ngọn:Quảng Vũ, Hương Tích, động Trang Vương, ngọn Ông Bà Ngọn cao nhất(676 m), ra phía Đông Nam có ngọn Lèn (658 m), ngọn Lịp (630 m), ngọnBong Bong (670 m) Từ ngọn núi này, núi hạ thấp xuống đổ dần về địa phận
Xã Cương Gián Chia núi làm ba chi: một chi mới chạy xuống Đông Namgồm ngọn Đá Công; Truông Vắn, Hỏa Hiệu, núi Am; mỏm cuối cùng là ngọnThung Ao
Một chi chạy theo hướng Đông gồm: ngọn núi Đá Bạc, ngọn Trạm Gió
và Hàm Rồng Chi cuối cùng gồm: Chọ Hang, Đá Đen, Rú Nậy va kết thúc ởngọn núi Gâm (Xã Cổ Đạm) Các chi núi này hạ thấp xuống, chân của chúngchoãi ra tạo thành hai vòng bán nguyệt như hai vành nôi ôm lấy Cương Gián
Ngày xưa, trên núi cây cối mọc um tùm, ở Khe Đền, Bàn Các có rừngtrúc dày, kín nổi tiếng trong huyện; ở Hàm Rồng thì rất nhiều sim, sim mọcthành rừng trải dài, cây cao quá đầu người Đây là một rừng sim hiếm có:
“Đót Khe Lim Tấp Sim Bình Thọ”
(Phương Ngữ)
Trang 20(Bình Thọ còn có tên cổ là Kẻ Ai, là một thôn thuộc làng Cương Gián cũ).Ngày xưa, do nạn chặt phá rừng nên núi ở đây phần lớn đã bị trơ ratừng cụm đá hoa cương ngổn ngang chồng chất tiếp nối những hang động, hốlèn Vì vậy, khi mưa to nước thoát nhanh làm cho các khe hầu như khô cạn,chỉ còn những khối nước ngầm khá lớn tạo nên những ao trũng đầm lầy quanhnăm có thể trồng được lúa như khe Rẩy Cũng có những khe nước chảy xuốngtheo những rãnh ngầm luồn dưới những lớp đá cuội róc rách bốn mùa khôngbao giờ cạn như khe Mưa Dông, Cũng có khe chảy lỗ thiên như khe nướcNhỏ Dân bản địa đã đắp các đập để tận dụng nguồn nước từ các khe, như đậpCon Tinh, đập Mưa Dông.
Nhưng vì cây rừng đầu nguồn bị chặt phá nên khe nước cạn dần làmcho các đập nước của dân địa phương cũng mất dần tác dụng
Tài nguyên rừng:
Đúng như La Sơn phu tử Nguyễn Thiếp đã từng tự hào về quê cha đấttổ: “Đây là mảnh đất lắm người nhiều của”
Từ xưa trên vùng rừng núi thuộc địa phận làng Cương Gián rất giàu có
về tài nguyên rừng không thua gì các vùng núi khác trên cả nước Về thực vật
có nhiều loại gỗ quý như: lim, dổi ; về động vật có: voi, hổ, mang, khỉ ; vềcác loài bòi sát: Kỳ đà, tắc kè Các loại chim như: cò, cói, vàng anh, chimén ; Cả những loài cung cấp các vật dụng cho cuộc sống gia đình của nhândân địa phương và vùng phụ cận như: mây, giang, nâu, chạc, muồng Đặcbiệt rừng ở đây có một loại cây được xem là dược liệu, chế biến làm nướcuống như nước chè rất có lợi cho sức khỏe, nhất là đối với phụ nữ sau khisinh, dùng nước chè này tốt cho tiêu hóa và đường sữa của bà mẹ cho con bú.Cây chè này được nhân dân địa phương thu hái quanh năm, chế biến thànhcác loại chè khô, chè cao để cung cấp cho dược liệu và nhân dân trong tỉnh -
đó chính là cây chè Vằng
Trang 21Rừng núi ở đây vừa dốc đứng vừa uốn cong, được ví như một vànglưới bủa vây, lại sẵn nguồn thức ăn nên đã trở thành nơi thu hút các loại chimthường trú và vãng lai Ngày xưa các loại chim lớn như quạ, xắc xắc tậptrung ở vùng này rất nhiều Các loại chim: cò, cói, bẻo, sả, chim én, vànganh là những loại chim đẹp và quý hiếm Chúng hội tụ về đây theo mùa vàrất nhiều vào mùa xuân Là mùa đánh bắt, bắn lẫy của người dân địa phương.
Việc đánh bắt chim vừa đem lại nguồn lợi trước mắt cho một số ngườidân địa phương Nhưng mặt khác lại làm cho các loài chim có nguy cơ bị diệtvong, gây tổn thất cho hệ sinh thái nói chung Đây là vấn đề mà nhân loạiđang quan tâm
Ở vùng rừng núi này còn có một nguồn khoáng sản mà từ lâu đã đượcquan tâm, đó là đá hoa cương Hiện tại trên vùng núi Truông Vắn vẫn còn mộttấm bia ghi: “Mine de Dong Ken” - Mỏ Đông Kèn chưa khai thác Tấm bia đượcdựng trong những năm (1930 -1940) Được biết thời kỳ đó các nhà tư sản khaithác các mỏ Chân Tiên, Đồng Kèn như Nguyễn Xuân Mỹ, Phúc Thành ở Vinhhùn vốn khai thác mỏ này để bán cho người Nhật Thời ấy nơi đây đã hứa hẹnmột tương lai phồn vinh mà người ta gọi là: “thành thị bén mùi”
Biển:
Cương Gián là một làng quê hội tụ hai yếu tố hoàng kim: “rừng vàng biển bạc” Làng có 8 km chiều dài bám biển, và đây cũng là làng có bờ biểndài nhất Hà Tĩnh
-Ngoài khơi biển Cương Gián cũng như bao vùng biển khác của ViệtNam, chứa đựng một nguồn hải sản dồi dào là nguồn sống cơ bản của nhữngngười dân biển
Bờ biển Cương Gián là kết quả bồi tích của biển Bờ biển có địa hìnhthẳng tắp trải theo hướng Tây Bắc - Đông Nam Khi thủy triều xuống thì đây
là một bãi cát lý tưởng cho những ai yêu biển, cát trắng mịn như thảm nhungtrải dài từ Cửa Hội đến Cửa Kèn
Trang 22Cũng như địa giới vùng biển Cương Gián, cách xa bờ khoảng 5 km vềphía Đông có hòn Câu, hòn Láp; xa hơn nữa chừng 24 km là hòn Mắt, gắnvới một truyền thuyết kì diệu: “Tố Nương là nữ tướng của Hai Bà Trưng,chồng bà cũng là nghĩa quân, quê ở Hàm Hoan (Nghệ Tĩnh) Khi nghĩa quân
bị thất thế, vợ chồng cũng bị lạc Tố Nương vượt biển vào tìm chồng bị sóngdạt vào biển Quỳnh Nhai Người đành phải ở lại trên đảo ngày đêm trôngngóng vào đất liền quê chồng” (dẫn theo sách “Xuân Hội truyền thống vàhiện đại” do giáo sư Vũ Ngọc Phan biên soạn)
Sông hói, cửa lạch:
Nói đến sông ngòi Cương Gián người dân ở đây thường nói về sông
Mỹ Dương Vậy sông Mỹ Dương có đặc điểm như thế nào, nó bắt nguồn từđâu? Địa phận của nó trên làng Cương Gián như thế nào?
Theo “Nghi Xuân dư địa chí” của Đông Hồ Lê Văn Diễn, Rào Mỹ Dương(còn gọi là Hoa Khê, Hoa Viên) bắt nguồn từ núi Hồng, từ Khe Dông ở Hồngthôn (Cộng Khánh), chảy qua trộ cửa Mương (Mang Khẩu) đến các khe CâyVông (Đường Mộc), khe Phúc Mông, lại một nhánh có khe Thanh Việt, LươngGia, Ma Trang, Nê Lão hợp thành một dòng chảy đến chân núi vậc tụ thành vựcGiao Long, ngày xưa gọi là khe Ba Khe Thơ Nguyễn Thiếp trong Hạnh am thicảo viết: “Ba Khe cắt ngọn nước Hồng Sơn” (Nguyên văn chữ hán: “Hồng Sơnthủy đoạn Tam Khe lộ”) - có ngọn chạy qua chân núi Sét (Việt Sơn), núi Mồng
Gà (Kê Quan) rồi rẽ sang hướng Đông, có các đoạn khe nhỏ ở núi Liên Đông,cùng với các nguồn nước, cả nước ruộng hợp lại, quặt sang hướng Nam, quachân núi Gâm, tụ lại đó tạo thành một bàu sau, từ đó lại chảy xuống ngoằnngoèo không biết bao nhiêu khúc đến địa phận Xã Động Gián (nay nhập vàolàng Cương Gián) đổ ra biển Nhân dân Cương Gián gọi là sông Mỹ Dương
Cũng theo “Nghi Xuân Địa chí viết: cửa lạch cũ trước đây chảy méĐông Bắc đá Ông đá Bà rồi đổ ra biển Khi thủy triều xuống, nước cửa lạchchỉ sâu khoảng một thước, người đi lại có thể lội qua được Nhưng vì cửa lạch
Trang 23có đợt sóng biển ập vào dễ bị chết đuối Mùa xuân năm Bính Tuất (không rõ
số năm cụ thể), trong đêm vắng lặng, dân địa phương bỗng nghe một tiếng ầmnhư sấm ngoài cửa biển Sáng sớm xem thì ra cửa lạch đã ăn lấn lên bờ Bắcgần một dặm Và dòng lạch cũ đã bị lấp thành bình địa rồi Gần đây, cửa lạchlại dần ăn xuống bãi cát bờ Nam
Trên cửa Lạch Kèn còn có bến đò Kèn nối từ làng Động Gián sang xãYên Điền (Thịnh Lộc) thuộc huyện Thiên Lộc (nay là huyện Lộc Hà) Đây làcon đường chính từ vùng hạ Nghi Xuân đi tỉnh lỵ Hà Tĩnh Gắn với bến đònày là một câu chuyện lịch sử thời nhà Nguyễn: Ngày trước ở thành PhúXuân có cỗ súng lớn Quân nhà Lê đánh vào thành thu cỗ súng đó chở ra Bắc.Trên đường về bị sóng lớn, súng chìm xuống biển Năm Canh Tý (1840) đờiMinh Mệnh, cỗ súng trôi dạt vào bãi cát đầu bến đò phía Bắc Trên nòng súng
có ghi mấy chữ “Bình Nam thu hoạch” (Nghĩa là tịch thu trong trận dọn dẹpyên quân Nam - chỉ quân Chúa Nguyễn) Người dân địa phương đã dâng nộpsúng đó lĩnh thưởng
Qua nghiên cứu và tìm hiểu về địa hình làng Cương Gián, chúng tôikết luận: làng Cương Gián là “đất cận thủy - cận sơn” Ngày xưa, bất cứ làngnào có cả hai yếu tố “sơn” và “thủy” thường được coi là nơi “đắc địa” thiênnhiên đã ưu đãi vào loại nhất nhì Cương Gián không những có núi có sông
mà còn có biển Xin viết lại lời của La Sơn phu tử Nguyễn Thiếp cách đây haithế kỷ đã tự hào về quê cha đất tổ “ Tổ tiên ta ngày xưa ở làng Cương Gián.Phía sau làng núi Hồng đồ sộ, phía trước làng biển cả mênh mông Bầu nướcHoa Viên mượt mà như một dải lụa uốn lượn quanh làng Đây là một làng quêđông người nhiều của”
1.1.2.2 Khí hậu
Hà Tĩnh nói chung, Cương Gián nói riêng là làng quê mang những nétkhí hậu khắc nghiệt đặc biệt so với khí hậu của các vùng miền khác trên cảnước Sự đặc biệt này thể hiện ở chỗ “có những yếu tố làm cho nó chẳng
Trang 24những khác hẳn với khí hậu miền Nam kể từ đèo Ngang trở vào mà còn phầnnào khác với khí hậu miền Bắc kể từ Thanh Hóa trở ra” [8; 12].
Vậy nét đặc biệt và sự khắc nghiệt ấy thể hiện như thế nào ?
Người dân nới đây khi nói về khí hậu làng mình thường có câu
“Trăm khút gió, ngàn khút mưa” đều tới mặt hay “Mưa úng đất, nắng nẻđồng” Sách “Đại Nam Nhất Thống chí” viết về khí hậu Nghệ Tĩnh:
“Tháng giêng gió đông, mưa nhiều còn rét; tháng hai khí hậu ôn hòa; từtháng ba trở đi gió Nam thổi mạnh; tháng tư thường mưa lụt; tháng năm,sáu khí trời nóng nực, ít mưa; tháng tám, chín thường có gió lớn - vùngbiển gọi là bão; tháng 11, 12 có gió Tây Bắc, mưa nhiều, nắng ít, khí trờirét, sóng biển ầm ầm” Tục cho rằng, tiếng sóng gần bờ thì trời mưa lâu,tiếng sóng xa bờ thì trời sắp tạnh
Làng Cương Gián nằm trên giao tuyến giữa 1806’ vĩ Bắc và 10505’ kinhĐông, với địa phận thuộc bờ biển duyên hải miền Trung, kế cận vịnh Bắc Bộ.Với vị trí đó, khí hậu gió mùa từ biển thổi vào Cương Gián Khí hậu ViệtNam nói chung chia làm 4 mùa, nhưng sự phân bố đó không đều Mùa xuânthường về sớm nhưng lại ngắn hơn mùa hè Nghĩa là trước tết Nguyên Đánmùa xuân đã về muôn hoa đua nở Nhưng mới bước sang tháng hai âm lịch(tháng 3 dương lịch) thì mùa hè đã đến và kéo dài đến tháng bảy Những ngày
hè ở đây nắng như đổ lửa và mưa thì rất hiếm hoi
Nét khí hậu đặc trưng cho sự nghiệt ngã của khí hậu Nghệ Tĩnh màCương Gián không tránh khỏi đó là “một thứ gió mà các nhà khí hậu học cho
là có quan hệ với gió Tây Nam Bang-gan, tức là thứ gió Nam Lào Nó mangcái nóng sang bụi thu góp từ lục địa xa xôi trút về đây làm thêm phần kéo dài
và tăng cao nhiệt độ của những ngày hè” [8; 12] “Nam Lào’’ là gió Nam.Những ngày tháng có gió Nam về thì cảnh vật cỏ cây và cả con người đều khôhéo, xơ xác Khi gió Nam mạnh quá, dân sở tại gọi là “gió Nam”; “Nam Sóc”(cách gọi đó là để phân biệt với bão gió Đông Bắc từ biển thổi vào) Đến giữa
Trang 25tháng 7 (âm lịch) “gió Nam” vẫn còn mạnh nên dân ở đây gọi là gió “Namphá bội” (gió Nam to để thổi bay, đưa nhà cửa của cải vàng mã đi cho ngườichết) vào dịp rằm tháng bảy (âm lịch).
Hè vừa qua thì thu lại tới Đó là từ cuối tháng bảy (âm lịch) cho đếntháng tám, chín (âm lịch) Đây là những tháng mà người dân Cương Gián gọi
là mùa mưa bão hay là mùa “mưa sa gió thổi” Mùa mà trước đó vào mùaxuân, mùa hè các cư dân thường phải chuẩn bị dự trữ những thứ cần thiết chocuộc sống phòng khi mưa nắng không đi biển được như gạo, củi, thức ănkhô như cá, mực và luôn chuẩn bị tinh thần chống mưa bão Đây cũng làmùa mà những trận bão xuất phát từ Thái Bình Dương từ các hướng trên biển
có thể tấn công vào Cương Gián bất cứ lúc nào Những cơn bão rất mạnhmang theo những cơn gió xoáy và nước biển dâng cao uy hiếp đời sống của
cư dân Cương Gián
Sau tháng 10 (âm lịch) thì trời yên biển lặng, nguy cơ những cơn bão
đã lùi đi xa, cuộc sống ở đây lại bình yên, nhẹ nhàng hơn sau mùa mưa bão
“Rồi cho tới 20 tháng 10 Dẫu ai vào lộng ra khơi mặc lòng ”
(Phương ngôn vùng biển)Tuy nhiên tháng 11, 12 mùa Đông lại đến, gió mùa Đông Bắc từ vịnhBắc Bộ tràn vào; cũng có khi khí hậu khô hanh; mưa dầm, sương muối vòngtuần hoàn khí hậu thời tiết đó ở Cương Gián bao đời nay vẫn thế cùng với sựvận động của đất trời
1.1.2.3 Đất đai
Như đã nói, Cương Gián là vùng đất do bồi tích của biển, bên cạnhnhững cồn cát doi cát thì có những doi cát bên cạnh thấp hơn Quá trình ngọthóa của những vùng đất này diễn ra trong quá trình lâu dài từ thế hệ này đếnthế hệ khác Sự ngọt hóa không được như mong muốn của con người Vì vâyđất đai ở Cương Gián phần lớn là đất bồi tích lẫy mặc, phèn chua, quá trình
Trang 26feralit hóa và quá trình canh tác trồng trọt ở Cương Gián hình thành một sốloại đất như sau: đất cát ven biển, đất mặn, đất dốc tụ ven chân núi chưa bạcmàu hoặc đã bạc màu.
Đất cát ven biển được chia làm ba loại:
Loại thứ nhất là đất cát dẹ Đây là loại đất cát đã được sử dụng trồngtrọt từ lâu nên đã biến tính và thiếu nhiều chất dinh dưỡng Tuy nhiên vẫn cóthể canh tác nếu được bổ sung phân bón và bón đúng lúc, đúng cách thì vẫncanh tác được các loại cây hoa màu như: khoai lang, lạc, kê
Loại thứ hai là đất cát mới trồng trọt Đây là loại đất nguyên cát hoangđược đưa vào sản xuất Hạt cát đã có phần nhỏ hơn Qua những năm canh tác,lượng màu đã có tăng, độ kết dính đã cao hơn, nhưng qua thời gian khô hạn,lớp đất trên mặt vẫn gồm những hạt cát rời Loại đất này chủ yếu trồng khoailang, trồng lạc, kê
Loại cát thứ ba là đất cát hoang và bãi cát trồng rừng Đây là loại đấtcát mới được bồi tích Đất này chỉ gồm cát thể, hạt rời, lớp trên mặt, chưa kếtdính Trời nắng lớp trên mặt khô và rất nóng, chỉ một số ít cây hoang dại sốngđược Loại đất này trồng được phi lao Vì loại cây này có bộ rễ ăn thẳng và ănsâu dưới lớp sâu có nhiều mùn hơn, độ ẩm và độ kết dính cũng nhiều hơn.Loại đất này là đất trải dọc ven biển cũng có dải nằm trong nội địa như độngcát Song Nam
Đất mặn
Cũng chia làm ba loại:
Loại đất mặn thứ nhất là đất mặn ít và trung bình Loại đất này thườngxuyên không ngập nước Nhưng vì gần lạch mặn nên đất có nhiễm mặn cónhiều độ khác nhau Mặn ít là vì ở xa lạch mặn hơn: Từ khi có đê Song Nam
và nhất là từ khi có đập Đá Bạc, đất này được chuyển thành loại đất mặntrung bình và đất mặn ít Loại đất này cũng được bà con nông dân ở đây sửdụng trồng lúa, tuy nhiên năng suất không cao
Trang 27Loại đất mặn thứ hai là đất mặn chua Loại đất này có lượng mùn caohơn các loại đất trên Các chất xấp xỉ như lượng ở các loại trên Vùng venLạch ngoài đê thường là loại đất này Đất này dân sở tại có thể trồng nhữnggiống lúa cây cao có thể chịu ngập mặn như lúa chiêm râu, chiêm hom
Loại đất mặn thứ ba là loại đất mặn sú vẹt Đây là loại đất thường bịngập mặn nên không thể trồng cây lương thực hay cây hoa màu Loại đất nàythường có các loại cây như bần, sú, vẹt mọc tự nhiên Phần lớn đất ở đây làđất lầy gồm cát và cát sét có độ mặn cao Ở vùng này sau khi có đê và đậpngập mặn, diện tích đất này đã được thu nhỏ rõ rệt Đồng muối Minh Phượnghiện nay trước đây nằm trên vùng đất mặn này
Đất dốc tụ ven chân núi chưa bạc màu hoặc đã bạc màu
Đây là loại đất có thành phần khoáng vật, gồm sét, cát, có lẫn lộn cuội
da, lũ tích tạo nên Chúng nằm dọc theo chân núi Hồng như Đồng Che, ĐồngKhe Su, Đồng Chọ ở Song Nam Đồng Chọ Ải ở Song Long, Đồng CửaVườn, Trại Chè, Đồng Dang Dang ở Đại Sơn Loại đất này chất dinh dưỡngkhá cao Được gọi là đất tốt để trồng chè, mía, lạc, khoai Loại bạc màu độdinh dưỡng cũng tương tự loại trên nhưng đất xấu hơn vì lượng mùn thấp vàcác chất khác cũng đều thấp Loại đất này xen ở các đồi trọc, nằm ở độ caodưới 100m, tầng đất rất mỏng, thậm chí không còn, trơ trên nền đá
Ở Cương Gián hiện nay diện tích đồi núi trọc khá nhiều đang đặt ra vấn
đề trồng cây làm tán che phủ
Trang 28Bảng thống kê chất dinh dưỡng của một số loại đất ở Cương Gián
Loại đất Độ pH
(%)
Lượng mùn (%)
Lượng đạm (%)
Lượng lân (%)
Lượng kali (%)
Đất cát dẹ 4 -4,9 0,4 -1,2 0,04 -0,11 Thấp ThấpĐất cát mới
trồng trọt 4 -4,9 0,6 -1,2 0,05 -0,06 0,01 -0,05 ThấpĐất mặn ít 6,2 - 6,4 1,7 1,4 0,13 ThấpĐất mặn chua 4,3 Thấp Thấp Thấp 0,12Đất ven núi
chưa bạc màu 4 2,32 Cao Cao cao
(Nguồn: Theo thống kê văn hóa vật thể và phi vật thể
của làng Cương Gián, 2006)
1.2 Sự hình lập làng Cương Gián
1.2.1 Sự ra đời và tên gọi làng Cương Gián
Những ai quan tâm đến vấn đề làng xã đều phải hiểu rằng Làng là mộtthiết chế xã hội, một đơn vị tổ chức hành chính chặt chẽ của nông thôn ViệtNam trên cơ sở địa vực, địa bàn cư trú, là sản phẩm tự nhiên phát sinh từ quátrình định cư của người Việt Trồng trọt là vấn đề cơ bản tập hợp cuộc sốngcộng đồng tự quản đa dạng và phong phú của người nông dân Ở đó họ sống,làm việc, vui chơi, quan hệ thể hiện mối quan hệ ứng xử với thiên nhiên, xãhội và bản thân họ Làng là một thành tố quan trọng trong cơ cấu xã hội Việtvới hai đặc trưng cơ bản là tính cộng đồng và tính tự trị Xét về mặt hànhchính làng có khi gọi là xã, (có xã gồm nhiều làng), có khi gọi là thôn (khinhất xã nhất thôn)
Trang 29Làng Cương Gián cũng mang những tính chất trên trong hệ thống làng
xã cùng chung quan điểm là những từ “làng”, “xã” là những từ dùng để gọilàng Cương Gián hay xã Cương Gián ngày nay
Nghiên cứu, tìm hiểu về lịch sử văn hóa truyền thống làng Cương Gián
là một công việc không hề đơn giản, đòi hỏi chúng ta phải quay về tìm hiểunguồn gốc xa xưa để làm rõ quá trình lập làng và theo thời gian là sự thay đổi
về quy mô kết cấu của làng xã Theo đó là sự phát triển về kinh tế, văn hóa và
xã hội xác lập từ buổi đầu thành lập làng
Vậy làng Cương Gián có từ bao giờ? Đó là câu hỏi của biết bao nhiêungười muốn tìm hiểu về làng Cương Gián Vậy nhưng những câu trả lời lạicòn rất ít Đó là chưa nói đến sự chính xác, mà chỉ cần tương đối để làm thỏamãn được mong muốn này, cần thiết phải có cách tìm hiểu một cách khoa họctrên cơ sở nhưng chứng cứ ghi trong sử sách Những di tích đền chùa, miếumạo, lăng mộ, bia đá, câu đối, gia phả dòng họ, thơ ca, hò vè và những nhânvật lịch sử
Chúng ta hãy lần lượt tìm đếm những chứng cứ lịch sử tiêu biểu có liênquan đến sự lập làng Cương Gián, để từ đó có một câu trả lời tương đối thỏamãn cho câu hỏi: “Làng Cương Gián có từ bao giờ?”
Trước hết xin nói về Thái phó Đặng Văn Hiếu để chúng ta thấy rằng, từthời Lý đã có người sống ở làng Cương Gián
Thái phó Đặng Văn Hiếu - một nhân tài đất Hoan Châu, bố ông làĐặng Mai, quê quán ở Chọ Hang là làng Gián Thủy huyện Nha Nghi, lộ Nghệ
An - ngày xưa là Xã Cương Gián, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh Ông ĐặngMai sinh được hai người con là Đặng Văn Hiếu và Đặng Văn Nghĩa ChọHang là một làng nhỏ nằm dưới chân núi Phượng Sơn, nay không còn dân ở.Sau quá trình dời biển lập làng, nhiều khu dân nhỏ sống rải rác dưới chân núiHồng Lĩnh di về các vùng biển Các làng như Chọ Hang, Chọ Đình, Chọ
Trang 30Trúc, Chọ Sim nay chỉ còn cái tên gọi Xưa ông Đặng Mai làm nghề nuôithú sống trong túp lều tranh bên sườn núi đá không biết ông Đặng Mai từ đâutới định cư ở đây Ông dạy nhân dân đan lưới, bắt cá và săn thú Thời đó cuộcsống của người dân vùng này rất khó khăn Người ta chỉ dựa vào các nghề sănbắt Còn việc trồng trọt thì kỹ thuật hết sức đơn giản Chính trong bối cảnh
đó, ông Đặng Mai đã phát hiện ra nhiều loại cây có thể ăn được và ông dạy bàcon ươm cây trồng thành các loại rau; ông Đặng Mai cũng chính là người tìm
ra các loại thuốc chữa các loại bệnh thông thường cho dân vùng này, ông cònphát hiện ra những loại cây trồng không những phụ thuộc vào thời tiết mà cònquan hệ với thổ nhưỡng đất đai ở đây như: dưa hấu, có loại cây chỉ phát triểnnơi khô ráo hoặc có độ ẩm cao Tất cả những hiện tượng quan sát được ghinhớ lại để truyền cho bà con
Ông Đặng Mai và bà Hoa Nương sinh ra được hai người con trai làĐặng Văn Hiếu và Đặng Văn Nghĩa Hai anh em khôi ngô tuấn tú được ôngngoại ở làng Phan Xá nuôi ăn học Đến năm 995, khi Đại Hành Hoàng đế chongười đi tuyển mộ người tài ra giúp nước, hai ông cáo từ ông ngoại và cha mẹ
ra dự thi ở Hoa Lư - phủ Trường Yên (Ninh Bình)
Ông Đặng Văn Hiếu được mời vào cung làm quan giữ chức lục phán(một chức quan nhỏ quản lý trong triều) Ông là người thông minh, tính tìnhcương trực, thẳng thắn, trung trực Ông chịu ảnh hưởng tư tưởng Khổng Tử.Ông thuộc làu những kiến thức mà ông ngoại dạy bảo
“Đặng Văn Hiếu học nhiều về môn sử và luôn theo dõi việc thời thế để
có thể đem tài mọn của mình ra giúp dân Là người có họ hàng với bà ĐặngThị Sen - mẹ của nhà vua Lê Đại Hành, cho nên khi nghe vua ra chiếu tìmngười tài, Đặng Văn Hiếu đã về kinh xin được vào yết kiến Đại Hành Hoàng
đế đã phong Đặng Văn Hiếu chức quan nhỏ, nhưng luôn xem ông là ngoạithích của mình Ông được các đời vua kế tiếp như Trung Tông hoàng đế,Ngọa triều hoàng đế trọng dụng bởi lòng trung thực và sự hiểu biết sâu sắc
Trang 31Khi Ngọa Triều hoàng đế băng hà, Lý Công Uẩn lên ngôi đã phong ông giữchức thái phó, một trong những vị trí chủ chốt của triều đình” [30; 239].
Câu chuyện về thái phó Đặng Văn Hiếu cho chúng ta rõ hơn một điều rấtquan trọng là một người Cương Gián sống dưới thời Tiền Lê, làm quan đến chứcthái phó, điều này xác định rằng làng Cương Gián đã có từ thời Tiền Lê
Câu chuyện thứ hai kể về một hào kiệt của lịch sử dân tộc ta có liênquan đến việc lập làng Cương Gián Đó là câu chuyện kể về Cương QuốcCông Nguyễn Xí là một công thần khai quốc nhà Lê Nguyễn Xí sinh năm
1396, ở xã Nghi Hợp, huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An, gốc người làng CươngGián, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh
Ông nội của Nguyễn Xí là Nguyễn Hợp quê gốc ở làng bến Trại xã CươngGián, chưa rõ lý do gì, Nguyễn Hợp dời nhà đến làng Thượng Xá, huyện ChâuPhúc, nay là xã Nghi Hợp, huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An Tại đây Nguyễn Hợp vàNguyễn Hội khai dân lập ấp, mở mang nghề muối Nguyễn Hội sinh hai con trai làNguyễn Biện và Nguyễn Xí Cha con Nguyễn Hội và Nguyễn Biện thường chởmuối ra bán ở vùng Lương Giang, huyện Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa, do đó rấtthân quen với Lê Lợi lúc đó là phụ đạo ở Lam Sơn
Năm lên chín tuổi (1405), Nguyễn Xí đến gặp Lê Lợi lần đầu Cùngnăm ấy, cha ông bị hổ vồ chết tại quê nhà Thượng Xá Ông theo anh đến làmngười nhà Lê Lợi Khi ấy Nguyễn Xí đã tỏ ra dũng cảm hơn người, ông được
Lê Lợi quý như con cháu trong nhà
Lê Lợi giao cho ông nuôi một đàn chó săn 100 con Ông chia cơm dùnghiệu chuông dạy chó rất tài Cả đàn răm rắp nghe lệnh Lê Lợi cho rằng ông
có tài làm tướng nên sai ông quản đội Thiết đột thứ nhất Ông đã cùng với LêLợi và các bậc hào kiệt khác làm nên những thắng lợi lớn trong cuộc khángchiến chống quân Minh xâm lược Từ trận đại phá Vương Thông ở Tốt Động,rồi vượt thành Đông Quan, đến chiến thắng trận Xương Giang chém đầu LiễuThăng kết thúc thắng lợi khởi nghĩa Lam Sơn
Trang 32Năm 1428, khi nhà Lê Sơ được xác lập, Nguyễn Xí lại là công thần của
4 đời vua, đó là vua Lê Thái Tổ (1428 1433), vua Lê Thái Tông (1443 1442), vua Lê Nhân Tông (1442 -1459), vua Lê Thánh Tông (1460 - 1497).Ông được sắc phong nhiều chức vụ cao của triều Lê Năm 1465, Nguyễn Xíqua đời, thọ 69 tuổi, được truy tặng làm thái sư, húy là Nghĩa Vũ
-Như vậy từ câu chuyện về Cương quốc công Nguyễn Xí, chúng ta thấyrằng, ông nội của Nguyễn Xí là Nguyễn Hợp, cha ông là Nguyễn Hội.Nguyễn Xí sinh năm 1396, thì ông Nguyễn Hợp ít nhất là phải sinh năm
1350 Trên ông Nguyễn Hợp hẳn phải có các bậc cao tăng tổ tỷ Vậy ít ra làngBến Trại - Cương Gián phải có từ cuối thế kỉ XII, cách chúng ta khoảng 9 thế
kỉ, khoảng trên dưới 900 năm Chúng ta lấy nhân vật và gia đình Nguyễn Xílàm mốc thì Cương Gián đã có khoảng 900 năm
Những nguồn tư liệu trên đây tuy chưa đầy đủ nhưng có thêm tư liệucho phép ta dự đoán được rằng khoảng thời gian từ thế kỉ 10 đến thế kỉ 12 làthời điểm lập làng Cương Gián - tiền thân của xã Cương Gián ngày nay
Cũng liên quan đến gia đình Nguyễn Xí, có ý kiến lý giải rằng:Nguyễn Xí là người đầu tiên quê ở Nghệ Tĩnh có mặt sớm nhất trong ngàyđầu khởi nghĩa Lam Sơn tụ nghĩa, là bậc khai quốc công thân đứng hàng nhấtnhì thời Lê Sơ Trong tập 3 “Danh Nhân Nghệ Tĩnh” (Nxb Nghệ Tĩnh, 1984)nhà sử học Phan Huy Lê đã xác định rằng “Ông nội Nguyễn Xí là NguyễnHợp vốn quê ở làng Cương Gián - nay là xã Xuân Song, huyện Nghi Xuân,dưới chân núi Hồng Lĩnh Tại đây còn có di tích một ngôi đền thờ Nguyễn Xí
đã đổ nát và hoang phế Nguyễn Hợp đã dời nhà ra Thượng Xá khai hoanglàm ruộng vừa nấu muối” Ông là cụ tổ thứ nhất của dòng họ Nguyễn ởThượng Xá Nguyễn Xí thuộc đời thứ 3 con ông Nguyễn Hội và bà Võ ThịHạch Ông Nguyễn Xí sinh năm Đinh Sửu (1396) Nguyễn Hợp Sinh mất nămnào sử sách không ghi rõ Nếu lấy độ dài mỗi thế hệ bình quân 30 năm thì cóthể ông sống vào thời Trần Dụ Tông (1341 - 1369) Một người được tôn làm
Trang 33thủy tổ của một dòng họ ở hai làng là trường hợp hiếm thấy Nếu ông NguyễnHợp nằm vào trường hợp đó thì Cương Gián là nơi ông từng sinh sống, ít ra
đã có vào đời cuối Trần - nửa cuối thế kỷ XIV
Ý kiến trên đây cũng chưa phải là đầy đủ, nhưng cũng có thêm một dựđoán nữa về thời gian lập làng Cương Gián là khoảng cuối thế kỷ XIV, đầuthế kỷ XV
Tuy nhiên qua những tài liêu đã thu thập được, tôi xin mạo muội lấykhoảng thời gian bình quân của các dự đoán trên đây để có một kết luận choriêng mình về số tuổi của làng Cương Gián - Đây là một làng cổ ven biển vớikhoảng trên 700 năm tuổi
1.2.2 Quá trình thay đổi vùng cư trú và thay đổi địa danh
Về Cương Gián, tôi được biết rằng, Cương Gián là sự sát nhập của hailàng cổ gần nhau, đó là làng động Cương Gián và làng Cương Gián Sự ra đờicủa làng Cương Gián cho thấy làng Động Gián cũng thuộc loại làng cổ Cácđịa danh Kẻ Ải, làng Kèn, làng Trại đều mang niên đại rất cổ, nhưng chưa đủbằng chứng để xác định chúng có từ niên đại nào Qua tư liệu khiêm tốn,chúng ta tạm công nhận thời điểm lập làng của hai làng này sớm muộn khôngchênh lệch nhau là mấy
Động Gián nguyên xưa cư trú trên dãy động chân truông, Động Cho
“Động” là tiếng địa phương, ngày xưa tên gọi ấy vẫn tồn tại trong dân gianvùng này và vùng lân cận
Thuở đó, nhân dân làng này vừa làm ruộng vừa đánh cá biển Làng bâygiờ trên doi đất Song Nam hiện nay cũng đã có người cư trú và có tên gọilàng Trại Vì dân ở đây khai hoang lập địa trồng trọt, làm ăn dọc chân đồi kềphía sau làng hiện nay
Sau này rào Mỹ Dương đổi thành dòng lạch xâm thực vùng đất trướclàng, cắt ngay địa phận làng thành hai phía Nhân dân qua lại làm ăn phải quasông qua đò trắc trở Trong giai đoạn lịch sử đó đất nước ta có thời kỳ loạn
Trang 34lạc Những xóm làng ở sát chân núi là địa bàn của những nhóm cướp ẩn náutrong rừng thường đột nhập, cướp bóc, an ninh trong làng xóm khó được bảođảm Sau thời kỳ dòng lạch và cửa lạch đã tạm ổn, bãi cát bên kia sông đốidiện với làng đã được biển bồi thành một bãi cát ruộng khá bằng phẳng Tất
cả lý do trên là nhân tố thúc đẩy làng này chuyển dời hầu như toàn bộ sang cưtrú lập thành làng mới trên bãi bồi này, đó là đất Song Phượng đang ở hiệnnay Dân nơi đây chỉ làm ruộng, không làm biển Sau khi làng Đông Gián dờisang bên kia, ruộng đất ở đây nhiều và màu mỡ Tuy nhiên vùng đất này cũnggần như một thung lũng nước độc, muỗi nhiều, thời trước ở đây nổi tiếngbệnh sốt rét
Khi thôn Nghi Lộc (tên một thôn cũ trước đây ở Cương Gián) sát nhậpvới làng Động nên dân số đông hơn, vì vậy hai thôn này lập thành xã ĐộngGián Tên “Động Gián” được nhân dân nơi đây giải thích theo điều kiện tựnhiên và địa hình của làng: “Động” là đồi núi, cồn cát Và “Gián” là sônglạch Địa danh đó được giữ mãi cho đến những ngày tháng đầu sau Cáchmạng tháng 8/1945 Ngày nay, dải đất Động Gián còn một cái đình, một nềnchùa, hai ngôi đền thờ thành hoàng và nhiều ngôi mộ tổ tiên của các dòng
họ Đó được xem là chứng tích của Động Gián trước khi chưa nhập vào làngCương Gián
Với Cương Gián, sự thay đổi nơi cư trú và sự hình thành địa danh
“Cương Gián” đã diễn ra như thế nào?
Thuở xưa, dân làng nơi đây ở quần tụ trên dãy động Dang Dang, độngChọ Su, Chọ Đình, Chọ Trúc, dưới chân núi Cao Sơn Ở đây, núi thắt vòngcung Trước chân núi trải rộng ra, đồng ruộng thấp trũng, đất cát và đất sét, cónhững vùng sét mịn trồng lúa khá tốt Nhân dân vừa trồng lúa vừa đánh cá vàsăn bắt thú Khe suối, hồ, bàu nhiều, dân cư đông đúc nên làm ăn phát đạt
Trang 35Tên làng Cương Gián hẳn đã có sớm Có ý kiến cho rằng có phải từlàng Cương Vạn Cương đến Cương Gián ? Thực tế chưa đủ tài liệu để tra cứuđầy đủ Chuyện kể rằng từ năm Canh Tý (1660), tên làng Cương Gián đãđược xếp trong bộ “Đại Việt sử ký toàn thư” cùng với sự kiện chiến tranhTrịnh - Nguyễn hồi đó diễn ra trên vùng đất này.
Vậy “Cương Gián” nghĩa là gì ? Xét từ điển Hán - Việt thì “cương” cónghĩa là gò, núi, đồi núi; “gián” là sông, lạch - “Long cương phượng gián”
Từ xa xưa, người dân nơi đây đã truyền tụng cảnh quan tự nhiên quê mình:
“Đất Long Cương cảnh thú Miền Phượng Gián vui thay Người lo nghề chài lưới ”
(Vè dặm: “Phong thổ làng ta”)Cũng có ý kiến cho rằng, có một tên viết chữ khác với hai chữ trên, tuyđồng âm nhưng khác nghĩa Đó là câu của Hồ Sĩ Tạo, ở Quỳnh Lưu (quê gốcCương Gián) đỗ giải nguyên, làm tri phủ Quảng Trạch Năm Tự Đức 21(1868), ông về thăm họ Hồ ở Cương Gián Ông có viết một bài ký sự, bài ký sựnày được chép lại trong gia phả họ này, hiện vẫn còn Ông Tạo về, dân trong
họ niềm nở thân tình nói với ông khi đem cuốn gia phả họ cho ông xem Người
ấy chỉ ngón tay vào chữ Cương Gián và nói: Chữ Cương Gián (có nghĩa:cương là cứng, gián là can) này vốn là chữ viết của xã tôi ngày xưa, gần đâymới đổi sang viết theo chữ Cương Gián như hiện nay (Nguyên văn chữ Hán:
“Cương Gián thử ngô xã cựu hiệu đã Cận lai thủy cải vi Cương Gián)
Có hai ý kiến bàn về sự việc này Ý kiến thứ nhất cho rằng việc nàyliên quan đến Nguyễn Xí Khi nghi dân cùng bọn Phạm Đồn, Phạm Bàn có
âm mưu đại nghịch, Nguyễn Xí kiên quyết can ngăn không được làm Họkhông nghe, cuối cùng Nguyễn Xí phải cùng với một số cựu thần áp quân vàonội điện trị tội bọn đó và phò vua Thánh Tông lên ngôi Nguyễn Xí quê gốc
Trang 36Cương Gián, tước phong “Cương quốc công” Lấy tên xã này nhân có côngdẹp trừ nổi loạn đó, nên xã ông mới đặt tên như vậy để lưu niệm.
Ý kiến thứ hai cho rằng, Hoàng giáp Nguyễn Bật Lãng khi xin đượccáo quan về quê đã nói với con cháu rằng: “Nhà Lê suy yếu, các quan đầutriều tranh giành nhau đứng đầu, loạn sắp đến nơi rồi đây Họ Nguyễn hiệnnay tuy đang suy yếu, nhưng là bầy tôi cũ Họ Trịnh tiếng là giúp nhà Lênhưng chính thức là tên giặc cướp nhà Lê vậy Con cháu đứa nào có thể ralàm quan được thì nên thờ họ Nguyễn” Sau này khi ông mất, cháu đích tôncủa ông là Nguyễn Bật Khang vào Nam theo chúa Nguyễn và không trở vềquê nữa (gia phả họ Nguyễn - quan Nghè)
Nhà Nguyễn sau khi giành được ngôi, để thuyết phục sĩ phu Hà Bắctheo mình, họ đã lục tìm và nêu cao những lời nói của những nhân vật có tầm
cỡ đã từng ca ngợi và ủng hộ mình Làng này quê của Nguyễn Bật Lãng, ýnghĩa lời can ngăn nói trên được chọn đặt tên làng này
Cả hai ý kiến trên đều cắt nghĩa về tên xã này cũng chưa phải là đầy đủ.Chúng tôi cũng xin mạo muội đưa ra các phương án này để mong góp phầnlàm sáng tỏ về ý nghĩa của địa danh “làng Cương Gián”
1.2.3 Phương ngữ của người dân Cương Gián
Làng Cương Gián nằm trong vùng đất cổ Việt Thường của Nghi Xuân
-Hà Tĩnh, do vậy tuyệt đại bộ phận là dân tộc Kinh (Việt) Trải qua bao thăngtrầm do thiên di và của lịch sử nhưng không bị tiêu diệt, không bị đồng hóa,
họ đã dựa vào núi rừng, biển cả để tự bảo vệ, nuôi dưỡng và duy trì dònggiống, ngôn ngữ cho mãi tới ngày nay
Người dân Cương Gián cũng như người dân bao làng quê khác ở chỗ làngười Kinh nên họ nói tiếng Việt thuộc “một nhánh của ngôn ngữ ViệtMường như bao nhiêu người Kinh của nhiều tỉnh khác Nhưng điều đáng chú
ý là trong ngôn ngữ họ còn bảo lưu được nhiều từ cổ, đặc biệt là thanh điệu
mà người các nơi khác thường cho là “nặng” và “trọ trẹ” Trong văn hóa dângian của họ không phải đã mất hết nét cổ kính độc đáo” [8; 20]
Trang 37Tiếng Cương Gián là một thổ ngữ nằm trong phương ngữ Nghệ Tĩnh.
Có những đặc trưng chung của phương ngữ Nghệ Tĩnh, nhưng nó có nhữngđặc điểm khác biệt về phương diện ngữ âm, từ vựng và ý nghĩa - sự khác biệthẳn so với các thổ ngữ khác trong phương ngữ Nghệ Tĩnh và toàn dân
Ở đây, chúng tôi muốn nói đến sự khác biệt ngôn ngữ của Cương Gián
về phương diện ngữ âm Cương Gián so với phương ngữ Bắc Bộ và ngôn ngữtoàn dân (còn gọi là tiếng phổ thông)
Nếu ở phương ngữ Bắc Bộ chỉ có 20 phụ âm đầu thì ở tiếng CươngGián có đầy đủ 23 phụ âm đầu của tiếng Việt Người dân Cương Gián phát
âm rất rõ các phụ âm: tr/ ch; s/ x; d/ r; trong khi người miền Bắc không thể nào phân biệt được Hiện nay ở phương ngữ Bắc không còn phụ thuộc âm (r), còn tiếng Cương Gián thì phát âm còn rung lưỡi các từ như “cá rô”, “rổ rá”,
“râm ran”, “rực rỡ”
Ví dụ như từ “rổ rá” - ở phương ngữ Bắc Bộ phát âm “zổ zá”, còn tiếng Cương Gián thì phát âm “rổ rá”.
Bàn về vấn đề này, giáo sư Đoàn Thiện Thuật đặt giả thuyết rằng: “Có
thể nghĩ một nguyên nhân lịch sử Trước kia, khi các từ “rổ rá”, “râm ran”,
“rực rỡ” được phát âm phổ biến với một âm rung, nhưng ngày nay “r” đã chuyển thành (z) trên một địa bàn rộng lớn và chỉ có thể giữ lại ở một số địa
phương nào đó Nếu đúng như vậy thì đây là một chứng tích đáng quý vềnhững gì tiếng Việt còn sót lại về phương diện ngữ âm”
Một đặc điểm đáng chú ý là ở Cương Gián, người dân còn giữ lại tổ
hợp phụ âm [dj] Đây là một phụ âm đầu lưỡi răng, khi phát âm có hiện tượng
ngạc hóa mạnh Theo từ điển của GS TS Nguyễn Nhã Bản thì có thể tổ hợp
phụ âm này là (dj).
Ví dụ như:
Dja : da Djai : dai
Trang 38Djài : dài Djao : dao Djiều : diều Djọc : dọc/ nhọc Djạo : dạo Djẻo : dẻo Djép : dép Djưa : dưa Djà : dà/ nhà Djợi : dợi/ nhợi/ chơi
[Dj] là hình thức phát âm cổ của tiếng Việt còn được lưu giữ lại ở một
số địa phương của phương ngữ Nghệ Tĩnh mà đặc biệt là tiếng Cương Gián
thì phát âm rất rõ phụ âm [dj] này Đây là một yếu tố trong phát âm cổ và hiện
nay ở một số địa phương trong phương ngữ Nghệ Tĩnh còn có phụ âm này đã
dần dần thay thế bằng phụ âm [d].
Phụ âm đầu trong tiếng Cương Gián có một số âm chệch đi so với ngônngữ toàn dân, nhưng chỉ phát âm chệch trong sinh hoạt hàng ngày ở phạm vi địaphương Còn trong phong cách hành chính hay khi viết văn bản thì người CươngGián vẫn thể hiện được sự năng động, nhạy bén, thông minh trong phong cáchhành chính - nghĩa là khi viết thì vẫn viết đúng từ phổ thông Ví dụ như:
- tr/ ch (triều/ chiều, trậm/ chậm)
- l/ nh (lạt/ nhạt, lầm/ nhầm)
- s/ th (siu/ thiu, sưa/ thưa)
- d/ nh (dám/ nhám, dánh/ nhánh, dăn/ nhăn)
Một số biến âm trong tiếng Cương Gián ở hệ thống phần vần là: ô/ a
(hột/ hạt); i/ â (chin/ chân, gin/ gần); u/ â (tru/ trâu, du/ dâu, nu/ nâu, bồ cu/
Trang 39bồ câu, trú/ trấu, cụ/ cậu, trù, trầu) u/ ô (khun/ khôn); a/ ươ (nác/ nước); ơ/
u (trớng/ trứng)
Hệ thống phần vần của tiếng Cương Gián còn giữ lại nhiều nét cổ mà
toàn dân không có, đó là các vần: [oong - oóc] và [ôông - ôốc]; [eng - ec] và [êng - ếc] Số từ chứa các vần này có số lượng khá lớn và phần lớn phụ thuộc
lớp từ cơ bản, ví dụ như:
- [êng - ếc]: bênh vực; kênh (con kênh); bệch (trắng bệch)
- [eng - éc]: keng (canh); mẹng (miệng); méc (mách)
- [oong - ooc]: troong (trong); khoóc (khóc); hoọc (học); moọc (mọc)
- [ôông - ôôc]: ôông (ông); nhôông (nhông/ chồng); bôốc (bốc)
- [ing - ic]: ring (khiêng)
Lượng vần cổ trong tiếng Cương Gián còn rất nhiều trong khi tiếngViệt chỉ còn một lượng ít ỏi Hiện nay trong tiếng Cương Gián, những vần cổ
ấy vẫn song song tồn tại bên cạnh những vần mới như: oong và ong, ôông và
ông, eng và ênh Người dân Cương Gián dù đi xa tiếp xúc với các phương
ngữ khác nhưng khi về quê thì họ vẫn không bao giờ quên dùng tiếng quêhương và vẫn nói đặc sệt tiếng Cương Gián Chính vì thế mà lượng vần cổ ởCương Gián vẫn còn nhiều như vậy và không dễ dàng mất đi, bởi vì nó là mộttrong những biểu hiện của bản sắc văn hóa nơi này
Một sự khác biệt nữa của phương ngữ Cương Gián là sự khác biệt vềthanh điệu Theo tiếng phổ thông của toàn dân thì có 6 thanh, nhưng ở tiếngCương Gián chỉ có 5 thanh, không có thanh ngã, 5 thanh còn lại thì phát âm
lộn xộn Người Cương Gián phát âm không phân biệt dấu ngã, nặng, hỏi Như: bác sị (bác sĩ), Hà Tịnh (Hà Tĩnh), Đà Nặng (Đà Nẵng)
Tiếng Cương Gián chỉ có một âm vực cao là thanh không, trong khitiếng Bắc có 3 thanh là thanh không, thanh ngã, thanh sắc còn gọi là thanhtrầm Thanh huyền không có âm vực cao trung bình của lời nói Như vậy,trong tiếng Cương Gián có đến 4 thanh trầm Điều đó tạo nên một dáng vẻ
Trang 40riêng của thanh điệu tiếng Cương Gián và vì vậy mà nhiều địa phương khácnói tiếng Cương Gián nặng và khó nghe.
Sự khác biệt của phương ngữ Cương Gián so với phương ngữ các nơikhác và ngôn ngữ toàn dân cho chúng ta thấy rằng ngôn ngữ của người dânCương Gián là dấu ấn của ngôn ngữ Việt - Mường cổ còn lưu giữ lại ở một sốlàng mà Cương Gián là tiêu biểu Về lý thuyết thì các nhà ngôn ngữ học chorằng đây là hiện tượng “hóa thạch ngoại biên”, còn giáo sư Phạm Dương lạinói là “rối loạn thanh điệu” và các nhà ngôn ngữ khác thì cho rằng đó làphương ngữ Nhưng một điều mà chúng ta thấy rất rõ là vốn từ cổ vẫn cònbảo lưu nhiều trong ngôn ngữ Cương Gián và đó là “hiện tượng hóa thạchngoại biên” ngôn ngữ
1.3 Truyền thống đấu tranh
1.3.1 Trước khi có Đảng
Với vị trí ở cuối huyện Nghi Xuân, nhưng Cương Gián vẫn được gọi là
“nơi đầu sóng ngọn gió” Từ buổi đầu lịch sử, người dân nơi đây đóng vai tròquan trọng trong tiến trình xây dựng và bảo vệ quê hương đất nước
Từ quá trình chuyển dịch nơi cu trú, từ các triền khe núi Hồng như ChọHang, cư dân nơi đây đã từng bước xuống lấn biển lập làng sinh sống dọctheo bờ biển
Trong quá trình đấu tranh với thiên nhiên, cứ dân ở đây đã sớm nhìnthấy thế mạnh của biển để bám biển mưu sinh
Dưới thời học theo sự nghiệp nho giáo, trong số 21 người đỗ đại khoacủa huyện, Cương Gián có đóng góp cho nền nho học đất nước một vị Hoànggiáp nổi tiếng: Hoàng giáp Nguyễn Bật Lãng Đây cũng là quê cha đất tổ củacác bậc công thần khai quốc như Nguyễn Xí, Nguyễn Lưu, La sơn Phu tửNguyễn Thiếp