Không biết tự bao giờ trong dân gian đã lu truyền câu ca "Đờng vô xứ Nghệ quanh quanh Non xanh nớc biếc nh tranh họa đồ Ai vô xứ Nghệ thì vô..." Ngợc dòng lịch sử về với truyền thống
Trang 1Trờng Đại học vinh Khoa Lịch sử -*** -
Nguyễn văn dũngKhóa Luận tốt nghiệp đại học
Trang 2đỡ tôi trong suốt quá trình khảo sát thực địa và su tầm t liệu phục vụ cho đề tài.
Tuy nhiên do khả năng và trình độ của bản thân còn có hạn; lại
là lần đầu tiên đợc tập dợt trên con đờng nghiên cứu khoa học; thêm vào đó là sự hạn chế của nguồn t liệu cho nên trong quá trình nghiên cứu và thực hiện đề tài này tôi không tránh khỏi những thiếu sót Rất mong nhận đợc ý kiến đóng góp, chỉ bảo của các thầy cô giáo và các bạn.
Không biết tự bao giờ trong dân gian đã lu truyền câu ca
"Đờng vô xứ Nghệ quanh quanh
Non xanh nớc biếc nh tranh họa đồ
Ai vô xứ Nghệ thì vô "
Ngợc dòng lịch sử về với truyền thống văn hóa xứ Nghệ ta thấy trongbức tranh thủy mặc đó ngày càng lung linh, tỏa sáng hơn bởi những nét điểmtô chấm phá của hệ thống di tích, danh thắng trên dải đất Hồng Lam
Nghệ An là một trong những địa chỉ văn hóa đặc biệt của cả nớc với hệthống di tích, danh thắng đa dạng, phong phú, nhiều chủng loại, có niên đạitrải dài từ thời khởi thủy con ngời có mặt trên trái đất đến ngày nay
Và trong không gian văn hóa đó, chúng ta không thể bỏ qua một địadanh mà mỗi khi nhắc đến ai cũng phải ngng giây lát trong suy nghĩ, rồi liêntởng tuỳ theo sự hiểu biết của mình Đó là Nam Đàn - Nghệ An
Trang 3Trong lịch sử dân tộc Việt Nam, huyện Nam Đàn là một vùng đất
"Trùng lai danh thắng địa, cổ lai đa hào kiệt" [13;24] Nam Đàn mang trongmình truyền thống văn hóa lâu đời, phong phú đẹp đẽ của dân tộc đồng thờihằn rõ sắc thái riêng của Nghệ Tĩnh Truyền thống và sắc thái riêng đó đợc lutruyền qua bao thế hệ làm nên một vùng đất "địa linh nhân kiệt" xa nay vớinhiều dấu ấn lịch sử đậm nét Từ vợng khí của một vùng quê nh vậy đã sảnsinh ra một con ngời đầy dũng khí mà tên tuổi ông đã lu danh ngàn đời - ôngchính là Mai Hắc Đế "Mai Thúc Loan là một trong những vị anh hùng cứu n-
ớc của dân tộc Việt Nam ngời Châu Hoan" [8;7] Có tài năng, chí lớn phi
th-ờng cùng lòng căm phẫn trớc ách đô hộ dã man của triều Đth-ờng, Mai ThúcLoan đã vận động dân phu nổi dậy dốc chí phục thù giết bọn giặc để cứu nớc
và ông đợc tôn làm chủ súy Cuộc kháng chiến thành công, Mai Thúc Loan
đ-ợc ba quân tôn làm vua Ông kéo quân về Vạn An lấy thành Vạn An làmQuốc Đô, xây dựng đế nghiệp Khi ông mất với lòng tiếc thơng sâu sắc, để t-ởng nhớ ông nhân dân đã lập đền thờ Mai Hắc Đế ở xã Vân Diên và xây lăng
mộ ông ở Núi Đụn thuộc huyện Nam Đàn - Nghệ An
Nh vậy với việc chọn nghiên cứu đề tài này, chúng ta sẽ có dịp hiểu sâusắc hơn về Mai Hắc Đế - anh hùng giải phóng dân tộc rất mực gần dân và th-
ơng dân Đồng thời lần giở những trang sử của dân tộc để ôn lại truyền thống
đấu tranh chống ngoại xâm vẻ vang của cha ông Và đặc biệt hơn nữa khichúng ta lại có dịp hiểu thêm về khu di tích lịch sử văn hóa Mai Hắc Đế ởNam Đàn - Nghệ An cùng với truyền thống văn hóa ngàn đời của một miềnquê đầy nghĩa khí
Việc đi sâu nghiên cứu đề tài này không chỉ đa lại những đóng góp vềmặt lý luận khoa học mà còn có ý nghĩa thực tiễn to lớn Từ đề tài nhỏ nàygiúp mọi ngời có cái nhìn toàn diện hơn, đầy đủ hơn về bản sắc văn hóa làngquê ở Nam Đàn - Nghệ An, giúp mọi ngời hiểu rõ đời sống tinh thần, tâmlinh, đạo đức của con ngời thông qua việc tởng nhớ các vị anh hùng dân tộc
Là một ngời con quê hơng xứ Nghệ, đồng thời là một sinh viên chuyên ngànhLịch sử văn hóa, thực hiện đề tài này là mong muốn của tôi trong việc lu giữ,bảo tồn những nét đẹp văn hóa của quê hơng
Xuất phát từ những lý do chủ yếu nêu trên, chúng tôi chọn và nghiên
cứu đề tài: "Góp phần tìm hiểu di tích lịch sử - văn hoá Mai Hắc Đế ở Nam
Đàn, Nghệ An" làm khóa luận tốt nghiệp của mình.
2 Lịch sử vấn đề
Trang 4Cũng nh nhiều địa phơng khác trong cả nớc, Nam Đàn - Nghệ An ngàycàng nỗ lực biên soạn lịch sử các địa phơng với xu hớng "Tìm về cội nguồn,tìm về bản sắc văn hóa dân tộc'' Những mảng đề tài thu hút đợc sự quan tâmcủa nhiều nhà nghiên cứu thờng là truyền thống đấu tranh chống giặc ngoạixâm, kinh tế - chính trị, lịch sử thành lập các làng xã Còn đi sâu về mảng vănhóa, đặc biệt là các di tích lịch sử văn hóa tởng nhớ các anh hùng dân tộc thìcha thực sự đợc các nhà nghiên cứu chú trọng Tuy nhiên trong quá trình thuthập và su tầm tài liệu, chúng tôi thấy rằng vấn đề mà đề tài đặt ra ít nhiều đã
đợc đề cập trong một số công trình nghiên cứu Đó là cơ sở quan trọng gópphần phục vụ cho đề tài nghiên cứu
Có thể nói, tìm hiểu về Mai Hắc Đế cùng các di tích tởng niệm MaiHắc Đế là một vấn đề không còn mới Từ trớc đến nay đã có một số côngtrình nghiên cứu về vấn đề trên ở những khía cạnh khác nhau:
Trong cuốn "Mai Hắc Đế truyền thuyết và lịch sử" của tác giả Đinh
Văn Hiến, NXB Nghệ An, năm 2003 cũng đã đề cập đến vấn đề trên nhng lạidành phần nhiều trang viết về thân thế và sự nghiệp của Mai Hắc Đế cùng vớicuộc khởi nghĩa Hoan Châu do ông chủ xớng và lãnh đạo, nhng cha chú ýnhiều và trình bày một cách ít ỏi, sơ sài về hệ thống đền miếu tởng nhớ MaiHắc Đế cùng các thân tớng của Ngài và đã hầu nh không có một trang viếtnào về lễ hội vua Mai
Trong cuốn "Nghệ An di tích danh thắng" của tác giả Trần Thị Phơng,
do Sở VHTT Nghệ An xuất bản năm 2001, cũng viết về đền thờ và mộ vuaMai Hắc Đế, nhng chỉ là những nét sơ qua không đầy đủ và cha toàn diện vềkết cấu kiến trúc của đền thờ Đặc biệt tác giả cũng không đề cập nhiều, thậmchí quá ít về lễ hội vua Mai Hắc Đế
Trong tác phẩm "Danh nhân Nghệ Tĩnh" của tác giả Trần Bá Chí, NXB
Nghệ Tĩnh năm 1982, trong bài viết về Mai Thúc Loan đã đề cập chủ yếu vềMai triều và diễn biến các trận đánh lớn của Mai Thúc Loan giải phóng HoanChâu đến Tống Bình dựng nớc Vạn An độc lập, khởi xây nghiệp đế
Trong cuốn "Nghệ An di tích lịch sử văn hoá" do Ninh Viết Giao chủ
biên, NXB Nghệ An năm 2005 đã trình bày khái quát về lẽ hội đền vua MaiHắc Đế
Ninh Viết Giao chủ biên, NXB Tổng hợp Thành Phố Hồ Chí Minh năm
2005 xuất bản cuốn "Nam Đàn quê hơng Chủ tịch Hồ Chí Minh" đã viết về
điều kiện địa lý tự nhiên, truyền thống lịch sử - văn hóa của vùng đất Sa Nam,
về nhân vật Mai Thúc Loan và về lễ hội vua Mai trên những nét khái quát
Trang 5Bên cạnh các tác phẩm nêu trên thì đề tài di tích Mai Hắc Đế ở Nam
Đàn - Nghệ An còn đợc đề cập trong các công trình nghiên cứu, trong nhữngbản tham luận tại các Hội thảo quốc gia và quốc tế, cũng nh trong một số sáchbáo, tạp chí khác
Nhìn chung cho đến nay cha có một công trình nghiên cứu nào đề cập
đến di tích Mai Hắc Đế ở Nam Đàn - Nghệ An một cách đầy đủ và có hệthống Đây là một vấn đề không dễ, nó liên quan đến nhiều truyền thuyết lịch
sử khác nhau cũng nh ảnh hởng đến đời sống văn hóa tinh thần của con ngờinơi đây Nên khi tìm hiểu vấn đề này gặp ít nhiều khó khăn, đặc biệt là nguồntài liệu ít ỏi và có giới hạn Song các công trình nghiên cứu trên, dù ít, dùnhiều, trực tiếp hay gián tiếp cũng là cơ sở vô cùng quan trọng cho chúng tôitập hợp, tìm hiểu và hoàn thành đề tài nghiên cứu khoa học của mình
Với đề tài nghiên cứu này, chúng tôi mong muốn góp phần tìm hiểu đầy
đủ hơn, có hệ thống hơn và sâu sắc hơn về di tích lịch sử văn hóa Mai Hắc Đếcùng với những hoạt động lễ hội tởng niệm vua Mai trên đất Nam Đàn - NghệAn
3 Đối tợng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
3.1 Đối tợng nghiên cứu:
Đối tợng của đề tài là góp phần tìm hiểu di tích Mai Hắc Đế ở Nam
Đàn - Nghệ An Mục đích của chúng tôi là khảo tả kiến trúc đền thờ và khulăng mộ Mai Hắc Đế Đồng thời đi sâu tìm hiểu lễ hội tởng nhớ vua Mai trên
đất Nam Đàn - Nghệ An
3.2 Phạm vi nghiên cứu:
Với mục đích nêu trên của đề tài nghiên cứu, khóa luận trớc hết đề cậpmột cách khái quát tiểu sử Mai Hắc Đế và quê hơng - nơi "chôn rau cắt rốn"của ông với biết bao truyền thống tốt đẹp của một miền quê đã hội tụ để rồisản sinh ra một Mai Hắc Đế mà tên tuổi và sự nghiệp của ông còn sống mãivới thời gian
Trọng tâm nghiên cứu của khóa luận là góp phần tìm hiểu di tích lịch sử
- văn hoá Mai Hắc Đế ở Nam Đàn, Nghệ An
Trong phạm vi nghiên cứu nh trên giúp chúng tôi thấy đợc nét đẹp trong
đời sống sinh hoạt văn hóa tinh thần của nhân dân Nam Đàn; cũng là để khơidậy niềm tự hào, lòng biết ơn sâu sắc của thế hệ hôm nay đối với các vị anh
Trang 6hùng giải phóng dân tộc nhằm lu giữ, bảo tồn những nét đẹp văn hóa của quêhơng Đó chính là mục đích cuối cùng mà đề tài cần đạt tới.
4 Nguồn t liệu và phơng pháp nghiên cứu
4.1 Nguồn t liệu:
Để phục vụ nghiên cứu đề tài này, chúng tôi đã su tầm, tập hợp cácnguồn t liệu có liên quan đến Mai Hắc Đế, đền thờ và khu mộ Mai Hắc Đếcùng các hoạt động lễ hội đền vua Mai diễn ra trên đất Nam Đàn - Nghệ An
Nguồn t liệu quan trọng phải kể đến đầu tiên là những tác phẩm của cáctác giả đã xuất bản ở cấp Trung ơng, cấp tỉnh, cũng nh ở địa phơng có nộidung đề cập đến vấn đề nghiên cứu; các bài viết trong các tờ tạp chí văn hóacủa tỉnh nhà, các báo địa phơng
Ngoài ra chúng tôi còn kết hợp với công tác đi thực tế điền giã, trực tiếptham quan, ghi chép về đền thờ và khu mộ Mai Hắc Đế, tham dự lễ hội tởngnhớ vua Mai Đồng thời trong quá trình đi thực tế điền giã, chúng tôi còn lắngnghe và ghi chép những lời kể, lời giới thiệu của các cụ quản lý đền và khu
mộ Mai Hắc Đế
4.2 Phơng pháp nghiên cứu:
Nguồn t liệu viết khóa luận này có phần hạn chế và phức tạp, nên việclựa chọn phơng pháp nghiên cứu là một vấn đề hết sức quan trọng Thực hiện
đề tài này, quán triệt quan điểm chủ nghĩa Mác - Lênin, t tởng Hồ Chí Minh
và quan điểm mácxít của Đảng ta trong lĩnh vực văn hóa, chúng tôi đã lựachọn phơng pháp nghiên cứu lịch sử và phơng pháp lôgic, phơng pháp so sánh,phơng pháp xác minh phê phán t liệu lịch sử và phơng pháp điền giã su tầmlịch sử địa phơng
Dựa vào các nguồn tài liệu đã thu thập đợc, đặc biệt là các nguồn t liệu
có liên quan tới phạm vi đề tài, để bổ sung thêm những hiểu biết của mình,nhằm giải quyết những nội dung cụ thể của đề tài Nguồn t liệu mà chúng tôithu thập đợc là cơ sở để hoàn thành đề tài nghiên cứu này
5 Bố cục của đề tài
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, phần Phụlục, nội dung chính của khóa luận này đợc trình bày trong ba chơng:
Chơng 1: Khái quát tiểu sử Mai Hắc Đế
Chơng 2: Khảo tả đền thờ và khu mộ Mai Hắc Đế
Chơng 3: Lễ hội đền Mai Hắc Đế
Trang 7Phần nội dung
Chơng 1 Khái quát tiểu sử Mai Hắc Đế
-Nam Đàn là mảnh đất có lịch sử phát triển lâu đời, gắn bó hữu cơ vớitỉnh nhà trong quá trình hình thành và phát triển triển So với các huyện kháctrong tỉnh thì Nam Đàn có vị trí khá thuận lợi về mọi mặt Vị trí của huyện là
điều kiện thuận lợi cho sự phát triển lu thông kinh tế, thơng mại và giao lu tiếpthu văn hóa
Huyện Nam Đàn là một trong mời tám huyện, thành của tỉnh Nghệ An,nằm ở vùng hạ lu sông Lam Giữa Nam Đàn và các huyện lân cận trong tỉnh
có mối quan hệ tiếp xúc giao lu khá thuận tiện và thông suốt bằng cả giaothông đờng thủy lẫn đờng bộ Huyện lỵ Nam Đàn đóng ở thị trấn Sa Namcách thành phố Vinh 21km về phía đông Trên đất Nam Đàn có các đờng giaothông lớn chạy qua nh quốc lộ 46Vinh - Đô Lơng, quốc lộ 15A, đờng du lịchven sông Lam Tất cả đều đi qua Sa Nam Nơi đây đợc xem là yết hầu trên con
đờng thiên lý xuyên Việt Cho nên từ đây, con ngời có thể vào Nam ra Bắc,lên ngàn xuống biển đều rất thuận lợi
Với diện tích kéo dài từ 180 34' đến 180 47' vĩ Bắc và trải rộng từ 1050 24'
đến 1050 37' kinh Đông, huyện Nam Đàn có ranh giới tự nhiên: Phía Đông
Trang 8giáp huyện Hng Nguyên và một phần huyện Nghi Lộc Phía Tây giáp huyệnThanh Chơng Phía Bắc giáp huyện Đô Lơng và cũng một phần huyện NghiLộc Phía Nam giáp huyện Hơng Sơn và huyện Đức Thọ thuộc tỉnh Hà Tĩnh
Với vị trí địa lí nh vậy, Nam Đàn có điều kiện hình thành và phát triểnbản sắc văn hóa riêng của mình Nhân dân Nam Đàn có môi trờng thuận lợi
để thể hiện truyền thống, đạo lý tốt đẹp "uống nớc nhớ nguồn" của dân tộcthông qua các công trình và lễ hội tởng niệm các anh hùng dân tộc
1.1.1.2 Điều kiện tự nhiên:
Nam Đàn nằm ở hạ lu sông Lam, nhng lại là một vùng ''đất bán sơn địa''
- nửa đồng bằng, nửa đồi núi với sự đan xen giữa nhiều loại địa hình từ đồi núicho tới những thung lũng và cả đồng bằng Tất cả tạo cho nơi đây một hìnhthái địa hình đa dạng vừa thuận lợi nhng cũng không ít khó khăn trong việcphát triển kinh tế và văn hóa của huyện Mảnh đất ''trùng lai danh thắng địa"này, nằm giữa hai dãy núi lớn là Đại Huệ ở phía bắc và Thiên Nhẫn ở phíanam Giữa có dòng sông Lam chảy qua theo hớng tây bắc - đông nam chialãnh thổ Nam Đàn thành hai vùng: tả ngạn và hữu ngạn Vùng tả ngạn rộnghơn vùng hữu ngạn Đồng bằng Nam Đàn tơng đối màu mỡ bởi phù sa sôngLam thờng xuyên bồi tích, kiến tạo nên những thửa ruộng trù phú Thêm vào
đó là sự tác động tích cực của con ngời nhằm chế ngự thiên thiên - hệ thống
đê điều và các công trình thủy lợi đợc xây dựng đảm bảo nguồn nớc thích hợpcho cây trồng, vật nuôi phát triển Ngoài ra ở Nam Đàn còn có đất cát phathuận lợi cho nhiều loại hoa màu và cây công nghiệp ngắn ngày phát triển nh:khoai tây, lạc, đậu, ngô
Tiếp cận với vùng đồng bằng là vùng ''bán sơn địa'' ở huyện Nam Đàn
có 3 dãy núi lớn nổi tiếng trong tỉnh Núi Đại Huệ (hay theo tên gọi địa phơng
đó là Rú Nậy nằm ở phía bắc huyện, chủ yếu ở trong hai xã là Thanh Thủy vàXuân Liễu cũ, nay là các xã Nam Thanh, Nam Anh, Nam Xuân Núi chạy dọctheo biên giới phía tây bắc huyện từ đông sang tây, ngăn cách huyện Nam
Đàn với huyện Đô Lơng, có truông Băng đi từ xã Thanh Thủy đến miền Trù úhuyện nghi Lộc (truông Băng là con đờng mà năm 1787 Nguyễn Huệ đã dẫnquân đi qua, trên vùng từ Thăng Long trở về Nam) Ngoài ra còn có truôngHến đi từ xã Xuân Liễu đến vùng xã Đoài huyện Nghi Lộc; có truông Bồn điqua Trang Đen lên huyện Đô Lơng Núi Đại Huệ có hình giống nh quảchuông úp, đỉnh cao nhất là 454m, toàn bằng đá Núi Đại Huệ với các khesuối gọi chung là Nộn giang chảy từ trên núi xuống Nộn hồ (Bàu Nón), vớicác ngọn núi nhỏ rải rác nh quân cờ ở xung quanh: rú Anh, rú Tán, rú Nhón ở
Trang 9Hồ Liễu, rú Cật ở Yên Lạc, rú Mỡu ở Hữu Biệt, rú Chung ở Ngọc Đình vớinúi Đụn đứng đối mặt ở bên phải với sông Lam ở phía trớc mặt, không những
là một danh thắng ở huyện Nam Đàn mà của cả xứ Nghệ nữa Vì vậy, xa nay
có nhiều tao nhân mặc khách đến đây thăm núi, thăm chùa, thăm khe, thămsuối, và một số ngời đã để lại những bài thơ đầy cảm xúc Hoàng giáp BùiHuy Bích, tổng đốc trấn Nghệ An (1778 - 1781), khi lên thăm núi Đại Huệ đã
để lại bài thơ chữ Hán:
Tiểu thạch tằng loan tóc thợng đầuCàn khôn điểu diễu, ý du du
Thiên tranh liệt chớng hồn ghi dực
Địa chiết trờng giang lực tự câuKhứ lộ xuyên điều tang hiệp hổ,Quy tiên khiêu thái mục tuần ngu Khả lân thạch tĩnh tuyền nguyên hoạtThâm cẩn dung bình bất tận thu
Dịch thơ:
Đá nhỏ xếp vòng tới đỉnh cao
Đất trời vời vợi dạ nao nao
Đất nắn dòng sông giống uốn câu
Đờng núi xuyên cây, s khinh hổ,Roi tre gánh cỏ, trẻ lùa trâu
Rất yêu Giếng đá luôn đầy nớc,Sâu chỉ bằng lu múc hết đâu
Núi Thiên Nhẫn là một dãy núi bắt đầu từ huyện Tơng Dơng, tỉnh Nghệ
An kéo dài đến tận Ngạn sơn (rú Nghèn) huyện Thạch Hà tỉnh Hà Tĩnh Phầnnúi Thiên Nhẫn ở trong huyện Nam Đàn chảy từ phía tây đến phía nam
Trang 10huyện, nằm trong vùng giáp giới của huyện Thanh Chơng và huyện Hơng Sơn,
Đức Thọ thuộc tỉnh Hà Tĩnh Núi Thiên Nhẫn gồm những ngọn núi đất có vô
số đỉnh tròn, nối nhau nh muôn ngàn con ngựa ruổi rong, khí thế trông thậthùng vĩ Đỉnh cao nhất của núi Thiên Nhẫn là hòn Tây xây (là cột đá do Phápxây dựng vào đầu thế kỷ 20 làm mốc ngắm để vẽ bản đồ, nên mới có tên nhvậy) cao 287m ngăn cách huyện Nam Đàn với huyện Hơng Sơn tỉnh Hà Tĩnhbằng truông Trẩy thấp 28m và truông Thành cao hơn đi gần thành Lục Niên,
có nớc trong chảy theo đờng đá, rồi dồn xuống một cái hẻm sâu dài khoảng10m, nớc tung tóe thành bọt trắng xoá, đứng từ xa trông lại giống nh một tấmvải trắng, nên gọi là Bộc Bố Cuối thế kỉ 18, La Sơn phu tử Nguyễn Thiếp(1723 - 1804), ngời xã Nguyệt Ao cũ, nay là làng Mật Thôn, xã Kim Lộc,huyện Can Lộc tỉnh Hà Tĩnh đã làm bài thơ ''T cố sơn'' nghĩa là ''Nhớ núi xa'',tức núi Thiên Nhẫn, nơi cụ ở ẩn trong một thời gian, trong đó có đoạn mô tảnúi Thiên Nhẫn nh sau:
Liên lạc quần phong tụ,Cao đê vạn mã hồiSơn đáo nam minh tận,Giang tòng bắc cảnh lai
Tà dơng Thiên Nhẫn tựPhi bộc Lục Niên đài,Tùng cúc kim do tại,Phong trần thợng vị hồi
Dịch thơ: (Cụ Hoàng Xuân Hãn dịch)
Chiu chít liền những núi,Trông nh ngựa chạy vòng
Miền nam mờ ngọn núi,Cõi bắc uốn khúc sôngBóng chùa Thiên Nhẫn ảnh,Suối vọt Lục Niên kề
-rú Voi, -rú Tán, -rú Anh, -rú Trăn, -rú Dùi, -rú Nhón, -rú Dồi (tên chữ Hán là Than
Trang 11sơn), rú Nhạn (rú Tháp), rú Cật, rú Miễu (rú Độc Lôi), rú Chung, rú Đồn, rúNgang.
Về khí hậu: Cũng nh toàn vùng Hoan Châu, Nam Đàn có khí hậu thuộcvùng nhiệt đới, có hai mùa nóng lạnh rõ rệt hết sức khắc nghiệt Hàng năm địabàn Nam Đàn nhận đợc bức xạ mặt trời khá phong phú: tổng bức xạ là138,4kg cal/cm/năm, và cán cân bức xạ là 87,3kg cal/cm /năm Nhiệt độ trungbình năm là 23,90C
Mùa nóng thờng từ giữa tháng t đến hết tháng mời dơng lịch Mùanày nhiệt độ thờng trên 250C, hai ba tháng liên tục nhiệt độ vợt quá 280C,tháng nóng nhất có khi nhiệt độ lên tới 390 - 400C Mùa nóng thờng có hạnhán; có năm hạn hán kéo dài ba tháng liền, thậm chí có năm kéo dài bảy đếntám tháng liền Năm 1930, hạn hán liên tục từ mùa hạ kéo qua mùa thu, mùa
đông rồi sang cả năm 1931 Một bài vè nói về trận đại hạn này có những câu
nh sau: ''Ngọ vị chi niên, nắng mấy tháng liền, đồng khô cỏ héo " Trong''Nghệ An thi tập'', Hoàng giáp Bùi Huy Bích (1744 - 1818), khi ông làm tổng
đốc trấn Nghệ An (1777 - 1778), dới triều Lê Hiển Tông đã để lại bài thơ ngụngôn tứ tuyệt nói về khí hậu khắc nghiệt nơi đây:
"Hè đến gió Lào nh lửa đốt Thu qua ma phùn lấm tấm sa
Về sông ngòi, ở Nam Đàn tiêu biểu là con sông Lam hay còn gọi làsông Cả, có tên cổ là sông Rum, sông Thanh Long (rồng xanh) Sông Lam bắtnguồn từ núi Puloi cao 2060m ở Thợng Lào chảy qua một vùng gọi là thunglũng sông Lam từ huyện Kì Sơn, qua các huyện Tơng Dơng, Anh Sơn, Đô L-
ơng, Thanh Chơng, phía bắc huyện Nam Đàn, rồi theo hớng chung là Tây Bắc
- Đông Nam trong địa phận huyện Nam Đàn xuống đến phía Nam huyện trênmột chiều dài 16km, rồi tiếp tục chảy qua phần đất huyện Hng Nguyên màquặt lên hớng bắc của phần đất huyện Nghi Lộc và đổ ra Biển Đông ở cửa Hội
Trang 12Thống Với 16km chiều dài chạy qua địa bàn huyện Nam Đàn, sông Lam nhmột con rồng xanh uốn mình nhiều khúc lợn giữa một bên là Đụn sơn bờ trái,một bên là núi Thiên Nhẫn bờ phải Sông Lam đã bồi tích phù sa cho câytrồng và tạo nên một không gian thanh khiết, th thái
Do sự kiến tạo đa dạng của địa hình, cùng những điều kiện tự nhiên nhvậy, nên Nam Đàn có điều kiện phát triển nền kinh tế đa dạng Trong kinh tếnông nghiệp, ruộng đất ở Nam Đàn không nhiều và cũng không thật sự màu
mỡ, phì nhiêu nh các vùng khác, nhng với kĩ năng canh tác, kinh nghiệm sảnxuất và phẩm chất cần cù lao động, con ngời nơi đây đã tạo nên một ngànhkinh tế nông nghiệp khá phát triển Nông nghiệp trồng lúa vẫn là nghề chính,
đủ cung cấp cho huyện và phục vụ nhu cầu trao đổi, thông thơng Sau lúa làkhoai lang, lạc, ngô, đỗ Bên cạnh đó trên từng đám nơng rẫy (tiếng địa phơnggọi là "trày trại") nhân dân đã khai hoang để trồng dứa nhằm mục đích chốngxói mòn, trồng những cây ăn quả nh mít, hồng nhãn, vải và trồng chè
Chăn nuôi gia súc, chăn nuôi trâu bò vẫn là nghề chính của c dân trongtoàn huyện Song nghề chăn nuôi ở đây vẫn mang tính chất tập quán truyềnthống Họ chăn nuôi với mục đích phục vụ cày bừa cung cấp phân bón chotrồng trọt; chăn nuôi phân tán trong từng hộ gia đình nhỏ
Chăn nuôi gia cầm, gà vịt là chủ yếu, nhằm vục vụ nhu cầu tại chỗ củanhân dân
Để đáp ứng cho nhu cầu sản xuất, vừa tranh thủ thời gian nông nhàn thìtuyệt đại đa số nông dân đều thành thạo các nghề thủ công khác nh: mộc,gốm, đúc đồng, luyện gang, ép mật làm đờng, làm bánh kẹo Riêng Sa Nam
có tơng là đặc sản của cả nớc, có bánh ong và kẹo lạc bọc lá chuối khô đa đi
xa cả tháng không hỏng
Ven bờ bãi, trên các triền sông, nhân dân thờng trồng dâu nuôi tằm; còn
ở những vùng nớc lợ ảnh hởng của thủy triều thì nhân dân trồng cói, làmchiếu, làm buồm cói, áo tơi Trên các cánh đồng khô thiếu nớc thì nhân dân tổchức trồng bông dệt vải
1.1.2 Quá trình hình thành về mặt hành chính của huyện Nam
Đàn
Trong 4.000 năm lịch sử của dân tộc, cùng với sự đổi thay về mặt hànhchính của cả nớc, huyện Nam Đàn - quê hơng của Mai Hắc Đế ngày nay đãnhiều lần thay đổi về địa giới và tên gọi
Khoảng 2 - 3 thế kỷ TCN, nơi đây là trung tâm của một bộ tộc trải dàisuốt từ Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh đến Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa
Trang 13Thiên - Huế ngày nay, với tên gọi là Việt Thờng Thị, có nền văn minh chữviết, và tiếng nói đặc trng
Dới thời cai trị của quân xâm lợc nhà Đờng (Trung Quốc), vùng NhạnTháp (nay thuộc xã Hồng Long) là trị sở Hoan Châu, thuộc An Nam đô hộphủ của chúng
Đến thế kỷ thứ 15, thời vua Lê Thánh Tông, vùng Thịnh Lạc (nay là xãHùng Tiến) là trị sở phủ Anh Đô của Thừa tuyên Nghệ An Huyện Nam Đờng
là một trong hai huyện của phủ Anh Đô nằm ở tả ngạn sông Lam, có địa giới
từ Rạng (giáp Đô Lơng) đến xã Tràng Cát (giáp Hng Nguyên)
Đến năm 1886, vì tránh tên húy của vua Đồng Khánh, huyện Nam ờng đợc đổi tên thành huyện Nam Đàn nh tên gọi ngày nay
1.1.3 Điều kiện lịch sử và truyền thống văn hóa
Những di tích mà ngành khảo cổ học đã khai quật thu lợm ở núi Trăn(Nam Xuân), núi Đài (Vân Diên) trong những năm gần đây, đã cho thấy ở
đây đã sớm có sự hiện diện của c dân Việt cổ C dân ở đây đã có mặt tronglịch sử dân tộc ngay từ những ngày đầu dựng nớc Qua khảo sát bớc đầunhững công cụ đồ đá đã chứng thực văn minh lúa nớc ở vùng Nam Đàn đợcphát triển khá sớm Trải qua hàng nghìn năm khai sơn phá thạch, mở mangdiện tích canh tác, cha ông ta đã từng bớc xây dựng nên những cánh đồngthuần thục và những làng xã đông đúc Dọc theo những tuyến đờng sông đãxuất hiện những xóm làng trù phú Lịch sử dân tộc còn ghi lại sự nghiệp của
Lý Nhật Quang, con thứ tám của vua Lý Thái Tổ trên mảnh đất này
Dân số toàn huyện theo Tổng cục thống kê ngày 1 tháng 4 năm 1999 là152.414 ngời, với mật độ bình quân là 516 ngời/km2 Tuyệt đại đa số là nôngdân, sinh sống chủ yếu bằng nghề làm ruộng Bên cạnh đó còn có ngời làmnghề thủ công, tiểu thơng buôn bán, và một số ít cán bộ, công nhân viên chức
Do điều kiện tự nhiên quá khắc nghiệt, cho nên để tồn tại và phát triển,con ngời nơi đây đã sớm hun đúc cho mình đức tính cần cù, chịu khó, năng
động, sáng tạo trong lao động sản xuất và xây dựng cuộc sống Tính cách conngời xứ Nghệ nói chung, theo giáo s Nguyễn Đổng Chi, con ngời nơi đây cómột số nét tính cách riêng biệt đó là:
1, ''Rất giàu lý tởng, lý tuởng vơn tới đỉnh cao, vợt lên thực tại''
2, ''Chất trung kiên Trung kiên ở đây là sự chất phác, là tính chân thực, làkhí tiết bền bỉ của những con ngời tha thiết với quê hơng, với dòng họ, vớinghề nghiệp, không vì một biến cố nào mà để lộ ra những dao động''
3, ''Sự khắc khổ trong sinh hoạt''
Trang 14[9; 90]
Con ngời Nam Đàn mang đầy đủ những đặc điểm của con ngời xứ Nghệ Điều kiện lịch sử trên là cơ sở để nhân dân Nam Đàn xây dựng bề dàytruyền thống văn hóa
Nam Đàn là tiểu vùng văn hóa đậm sắc thái riêng của văn hóa xứ Nghệ.Mảnh đất này lu giữ những huyền thoại, truyền thuyết về các vị thần linh, cáccâu chuyện về các danh nhân văn hóa hay võ tớng đại tài mà việc xây dựngcác đền đài, miếu mạo tởng niệm họ là một biểu hiện văn hóa rõ nét trênmảnh đất này
Trên đỉnh núi Đại Huệ có động Thăng Thiên (nghĩa là lên trời), trong
động có chùa Đại Tuệ (nghĩa là trí sáng suốt lớn) Chùa này do Hồ vơng Quý
Ly xây dựng để thờ phật Bà Đại Tuệ đã phù hộ Hồ vơng xây dựng thành, đắpluỹ trên núi để chống quân nhà Minh Đền Tán sơn trên rú Tán đợc xây dựngvào thế kỷ 16 thờ Quốc công triều Mạc là Mạc Đăng Lợng làm trấn thủ Nghệ
An thời Mạc Đăng Doanh (1530 - 1540) Chùa ơi (tên chữ Hán là Hơng lâmBắc tự) và chùa Dạ (tên chữ Hán là Hơng lâm Nam tự) Hai ngôi chùa này domột nhà hào phú trong xã tên là Đinh Xuân Tài (1634 - 1718) làm đề lại dớithời Hậu Lê, tớc nhiệm Tờng nam bỏ tiền ra xây dựng vào cuối thế kỷ 17.Trên rú Trăn có đền Câu, một ngôi đền thờ thành hoàng chung cho cả hai xãXuân Liễu và Xuân Hồ cũ Trên rú Dùi có đền vua Bà (tên chữ Hán là TrầnQuốc Thánh nơng tự), thờ một vị nữ thần đã báo mộng phù hộ cho vua LêThánh Tông (1460 - 1497) nam chinh đánh Chiêm Thành thắng lợi Trong rấtnhiều ngôi đền đó nổi lên đền thờ tớng quân Mai Hắc Đế ở núi Đụn, Nam
Đàn
Nam Đàn có truyền thống lâu đời về học hành khoa cử, đã sản sinh ranhiều nhà khoa bảng, nhiều quan lại, nhiều chí sĩ có phẩm chất tài năng, đónggóp lớn lao cho sự nghiệp phát triển văn hóa dân tộc, xây dựng và bảo vệ đấtnớc Vì vậy, đây đợc xem là mảnh đất hiếu học của xứ Nghệ Nhắc đến vùng
đất hiếu học của xứ Nghệ không ai là không biết đến địa danh Nam Đàn
Nh chúng ta đã biết, chế độ khoa cử Hán học bắt đầu từ thời nhà Lý 1075
và kết thúc dới thời nhà Nguyễn năm 1919 Trong lịch sử khoa cử 844 năm,
n-ớc ta có tổng số 187 khoa thi hội, thi đình và lấy đỗ 2291 tiến sĩ Chỉ tínhriêng trong khoảng hơn 100 năm, kể từ khi vua Gia Long lên ngôi (1802) cho
đến khi bỏ thi cử Hán học vào thời vua Khải Định, dọc hai bờ sông Lam thuộc
địa phận Nam Đàn đã có rất nhiều vị thi hội, thi đình đỗ cao nh: Thám hoaNguyễn Văn Giao ngời xã Trung Cần, Thám hoa Nguyễn Đức Đạt ngời làng
Trang 15Hoành Sơn; Hoàng giáp Nguyễn Đức Quý ngời làng Hoành Sơn; Hoàng giápNguyễn Hữu Lập ngời xã Trung Cần; Hoàng giáp Nguyễn Thái ngời làng ĐanNhiễm; đình nguyên Vơng Hữu Phu (tức Vơng Đình Thụy) ngời xã Vân Sơn Trong lịch sử khoa cử Hán học, Nghệ An là một trong những địa điểm tổchức các kỳ thi hơng Trong các khoa thi hơng ở trờng Nghệ An, thí sinhhuyện Nam Đàn thờng chiếm tỉ lệ cao trong những ngời đỗ cử nhân: khoa KỷSửu (1819) có 6/10 ngời; khoa Canh Tý (1840) có 5/7 ngời; khoa Đinh Tý(1847) có 4/9 ngời; khoa Canh Tý (1900) và khoa Bính Ngọ (1906) có 8/10ngời Trong đó có nhiều vị thi hơng đỗ giải nguyên nh Lê Bá Đôn ngời xãTrung Cần, Lê Văn Tuy ngời làng Bá Ân, Phan Bội Châu ngời làng ĐanNhiễm, Lê Dục Hinh ngời xã Xuân Hồ.
Trong thi hội và thi đình cũng có nhiều nhà khoa bảng nổi tiếng Khoa thiThái học sinh năm Bính Thìn (1256) thời nhà Trần chọn lấy hai trạng nguyên:một trại trạng nguyên của thí sinh quê từ Thanh Hóa trở vào, một kinh trạngnguyên của thí sinh quê từ Thanh Hóa trở ra Ông Trơng Xán - Nam Đàn làngời đỗ trại trạng nguyên của thí sinh từ Thanh Hóa trở vào Xã Trung Cần(Nam Trung) có hai ngời đỗ Thám hoa trong cùng khoa thi đình năm Quý Sửu(1853) là các ông Nguyễn Hữu Giao và Nguyễn Đức Đạt Gia đình ông VơngHữu Phu ở làng Long Vân (Vân Diên) cha đỗ cử nhân, anh đỗ phó bảng, em
đỗ tiến sĩ Vào cuối thế kỷ 19, ở Nam Đàn có bốn nhà nho đợc giới nho sĩ tôn
là "tứ hổ" đó là: "thông minh bất nh Song, uyên bác bất nh San, tài hoa bất nhQuý, cờng ký bất nh Lơng" nghĩa là: không ai thông minh bằng Nguyễn QuýSong (Xuân Hộ), không ai uyên bác bằng Phan Văn San, tức Phan Bội Châu(Đan Nhiễm), không ai tài hoa bằng Vơng Thúc Quý và không ai có trí nhớbằng Trần Văn Lơng (Kim Liên)
Việc học hành, thi cử ở huyện Nam Đàn từ lâu đã trở thành phong trào
đua tranh của tầng lớp nho sĩ Không riêng con nhà quyền quý mà nhà nho sĩbần hàn cũng không chịu thua kém trên con đờng cử nghiệp Có ngời dù sớm
bị mồ côi cha mẹ sống nhờ vào ngời thân nhng vẵn tìm cách để học hành thi
đỗ đại khoa nh các ông: Nguyễn Thái ở Đan Nhiễm (Xuân Hòa), Nguyễn SinhSắc ở làng Sen (Kim Liên) Gia đình ông cử Trần (Xuân Lâm) tuy "sángkhoai, tra khoai, tối khoai, khoai ba bữa", song vẫn "ông đỗ, con đỗ, cháu đỗ,
đỗ cả nhà" Tấm gơng khổ học của gia đình ông đợc nhân dân địa phơng cangợi, nêu gơng cho mọi ngời:
"Làm trai có chí thì nên, Học Trần đói khổ mà nghiền kinh thi
Trang 16áo rách đổi lấy võng điều, Nón mê đổi lấy chữ đề vua ban".
Tuy vậy, việc học hành thi cử vẫn không phải là con đờng tiến thân vàmục đích duy nhất của nho sĩ huyện Nam Đàn Có những ngời thi đỗ màkhông chịu ra làm quan mà chọn nghề làm thuốc, dạy học, sống gần gũi, chanhoà với bà con lối xóm Nhiều ngời tuy uyên thâm về chữ nghĩa, nhng khôngchịu ràng buộc trong khuôn khổ nho giáo Không ít ngời đã kịch liệt chống lạimọi quyền uy trái với đạo lý làm ngời, sẵn sàng khớc từ công danh, phú quý
để lo việc đại nghĩa, ích nớc, lợi dân Họ đã đem những tri thức của mìnhtruyền thụ cho dân, đấu tranh cho công lý, và lẽ phải Chính sự có mặt củatầng lớp trí thức này ở nông thôn đã làm cho nền văn hóa dân gian ở huyệnNam Đàn vốn đã phong phú lại càng thêm phong phú cả về nội dung lẫn hìnhthức thể hiện
Xem thế đủ biết, Nam Đàn xa nay vốn là một vùng đất nổi tiếng hiếu học Nam Đàn không những là đất văn vật, mà còn là đất nổi tiếng nghĩa khí
và chí trung, giàu lòng yêu nớc Nam Đàn đã sản sinh ra nhiều con ngời cơngcờng, quả cảm, liêm khiết mà các gia sử và quốc sử đều ca ngợi Tiêu biểu làtiến sĩ Nguyễn Thiện Chơng ngời làng Hoành Sơn dám can vua, vua khôngnghe liền xin từ quan Tiến sĩ Tống Tất Thắng ngời xã Trung Cần, thanh liêmtrung trực Tiến sĩ Bùi Hữu Nhẫm, ngời xã Thanh Thủy cơng trực, ngay thẳngkhông sợ cờng quyền Tiến sĩ Nguyễn Trọng Thờng, ngời xã Trung Cần, ngaythẳng, nhân hậu Giải nguyên Nguyễn Bá Đăng, ngời xã Thanh Thủy, liêmkhiết nổi tiếng, không nhân thời loạn lạc lấy của dân, của quốc gia làm củamình Hơng cống Lê Nguyên Trung, ngời xã Trung Cần, nổi tiếng thanh liêm,thuần cẩn Họ đã để lại tiếng thơm lu truyền hậu thế
Từ lâu, Nam Đàn đợc biết đến là mảnh đất có truyền thống yêu nớc Conngời nơi đây dờng nh để chống chọi với cái nghiệt ngã của tự nhiên mà trởnên hết sức gan dạ, cứng cỏi, không sợ mất mát hy sinh, một lòng một dạ sắtson với quê hơng, với tổ quốc Qua các thới kỳ dựng nớc và giữ nớc, Nam Đàn
đã sản sinh ra nhiều danh thần, danh tớng có công với tổ quốc Đồng thời đâycũng từng là vùng "căn cứ địa", nơi trú chân của nhiều vị tớng tài trong cáccuộc khởi nghĩa lớn
Trong thời kỳ nghìn năm Bắc thuộc, đến năm 618, nhà Đờng thay nhàTùy cai trị nớc ta và lập ra An Nam đô hộ phủ (679), coi nớc ta là một đơn vịcủa Trung Quốc Dới ách cai trị riết róng, xảo quyệt của nhà Đờng, nhân dân
ta phải chịu trăm đờng cực khổ: thuế khoá nặng nề, tạp dịch triền miên, chế độ
Trang 17triều cống ngày càng nhiều, càng nặng Đó là nguyên nhân làm bùng nổ cuộckhởi nghĩa Mai Thúc Loan vào năm 722 chống lại ách đô hộ của nhà Đờng.Cuộc khởi nghĩa đã giành thắng lợi bớc đầu, lập nớc Vạn An độc lập tự chủtrong bốn năm (722 - 726) Cuộc khởi nghĩa của Mai Thúc Loan cuối cùngtuy thất bại, song ý nghĩa của nó không thể phai mờ trong lịch sử đấu tranhgiải phóng đất nớc của nhân dân ta.
Trong thời kỳ tự chủ của chế độ phong kiến Việt Nam, năm 1406, lợidụng nhà Hồ mới đợc thiết lập, nhà Minh (Trung Quốc) lại sai Trơng Phụ đemhàng chục vạn quân sang đánh chiếm nớc ta Trớc sức tấn công ồ ạt của giặcMinh, Hồ Quý Ly và Hồ Hán Thơng phải rút lực lợng vào Nghệ An để duy trìcuộc chiến đấu Cùng với nhân dân trong tỉnh, nhân dân vùng Nam Đàn lạigóp công, góp của xây dựng thành lũy Hồ vơng ở chân núi Đại Huệ (NamThanh) làm căn cứ kháng chiến
Năm 1409, Đặng Dung và Nguyễn Cảnh Dị - con của hai trọng thần nhàTrần, đã tôn Trần Quý Khoáng, cháu vua Trần Nghệ Tông lên làm vua, lấyniên hiệu là Trùng Quang và chọn đất Nam Hoa (Nam Kim) huyện Nam Đànlàm nơi xây dựng triều đình, phất cờ khởi nghĩa Từ đây, cuộc kháng chiến lanrộng ra cả nớc Nam Đàn lại trở thành căn cứ địa của cuộc khởi nghĩa TrùngQuang kéo dài gần 5 năm
Cuộc khởi nghĩa Trùng Quang bị dập tắt, cuộc khởi nghĩa của Lê Lợi lạibùng nổ Theo kế hoạch sáng suốt của Nguyễn Chích, Lê Lợi và Nguyễn Trãichuyển trung tâm cuộc khởi nghĩa từ vùng căn cứ Lam Sơn (Thanh Hoá) vàoNghệ An làm nơi "hiểm yếu, đất rộng ngời đông" để làm bàn đạp tiến lên giảiphóng dân tộc Vùng núi Thiên Nhẫn đợc hai ông chọn làm nơi xây dựngthành Lục Niên, chỉ huy sở của nghĩa quân Tháng 2 năm 1425, Lê Lợi,Nguyễn Trãi chuyển đại bản doanh từ Đỗ Gia (huyện Hơng Sơn - Hà Tĩnh) rathành Lục Niên ở Nam Kim (Nam Đàn) Nhân dân Nam Đàn lại kề vai sátcánh cùng với nghĩa quân Lam Sơn đi đến thắng lợi cuối cùng
Sang đầu thế kỷ 16, nhà Lê suy vong, các phe phái phong kiến tranhgiành quyền bính, gây nên cuộc chiến tranh huynh đệ tơng tàn kéo dài trên d-
ới một thế kỷ Nghệ Tĩnh trở thành "phên dậu" giữa "đàng trong" và "đàngngoài" Nam Đàn cũng trở thành nơi xuất phát, nơi "đứng chân" của nhiềucuộc khởi nghĩa nông dân trong giai đoạn này
Nguyễn Hữu Cầu (còn gọi là Quận He), một lãnh tụ nông dân quê ở ĐồSơn (Hải Phòng) đem nghĩa binh từ đồng bằng bắc bộ vào Nghệ An Tại đây,
ông đã kết nối với Nguyễn Diên lấy vùng Hơng Lâm (Vân Diên) huyện Nam
Trang 18Đàn làm căn cứ, tập hợp lực lợng kháng chiến chống chính quyền phong kiến
Lê - Trịnh
Năm 1758, Lê Duy Mật, một tôn thất nhà Lê cũng đa vào mảnh "đất đứngchân" của Lê Lợi trớc để xây dựng căn cứ, tổ chức lực lợng chống chúa Trịnh,khôi phục nhà Lê
Năm 1786, Nguyễn Huệ tiến công ra Bắc lật đổ tập đoàn phong kiến chúaTrịnh cát cứ ở đàng ngoài, rồi tiến lên quét sạch hai mơi vạn quân xâm lợc nhàThanh (Trung Quốc) làm chủ đất nớc, thống nhất giang sơn Nhân dân Nam
Đàn đã tích cực đóng góp sức ngời và sức của phục vụ cho cuộc hành quânthần tốc của ngời anh hùng áo vải cờ đào Quang Trung, góp phần làm nênchiến công hiển hách này của dân tộc ta
Năm 1802, Nguyễn ánh lên ngôi (Gia Long) thiết lập chế độ chuyên chếcực đoan, đẩy nhân dân ta vào cảnh bần cùng, điêu đứng Phong trào khởinghĩa chống triều đình phong kiến nhà Nguyễn lại liên tiếp nổ ra Năm 1811,Nguyễn Tuân tự xng là Hồ ủy Đô thống, lấy vùng đất Nam Đàn làm chỗ dựa,xây dựng lực lợng chống Gia Long Năm 1823, Lê Quang Chấn lại lấy vùngNam Đàn và Thanh Chơng làm nơi tập hợp lực lợng, xây dựng căn cứ, dựngcơ sở khởi nghĩa Minh Mạng đã cử Lê Chất, một tớng lĩnh cao cấp, đem 4 vệquân từ kinh thành Huế ra xây thành, đắp lũy trấn giữ Nghệ An, nơi ngọn lửakhởi nghĩa nông dân đang bốc cao ngùn ngụt
Ngày 31/8/1858, thực dân Pháp nổ súng tấn công Đà Nẵng, mở đầu cuộcchiến tranh xâm lợc nớc ta Cũng từ đó phong trào khởi nghĩa chống thực dânPháp cớp nớc, chống triều đình bán nớc từ Nam Kỳ lan rộng ra cả nớc ở NghệTĩnh, tú tài Đặng Nh Mai ở Nam Kim (Nam Đàn) là một trong những ngời đ-
ợc hội nghị cử vào bộ chỉ huy kháng chiến của văn thân Nghệ Tĩnh Thực hiệnchủ trơng của Hội nghị, Đặng Nh Mai đã triệu tập văn thân huyện Nam Đànnhóm họp tại núi Anh (Nam Anh), tổ chức lực lợng kháng chiến Sau một thờigian tập kích thắng lợi, khi nhận thấy tình thế bất lợi, ông đã lui quân về xâydựng căn cứ kháng chiến tại vùng Thanh Thủy (Nam Thanh), huyện Nam
Đàn
Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, và đế quốc Mỹ của lịch sửdân tộc trong thời kỳ hiện đại, Nam Đàn đã có những đóng góp vô cùng quantrọng Nam Đàn không chỉ là địa bàn luôn luôn sôi động bởi những cuộc đấutranh anh dũng, quyết liệt, mà Nam Đàn còn là cái nôi sản sinh ra nhiều ngờicon u tú của dân tộc, mà chúng ta không thể không kể đến Phan Bội Châu, đặcbiệt là Nguyễn ái Quốc - Hồ Chí Minh, vị lãnh tụ thiên tài của dân tộc Nhân
Trang 19dân Nam Đàn luôn luôn dõi theo và hởng ứng từng bớc đi, từng chiến côngcủa cuộc kháng chiến thần thánh chống đế quốc Mỹ của dân tộc Nhân dânNam Đàn tự hào về những năm tháng lịch sử, tự hào về truyền thống văn hóacủa mình.
Chỉ mấy nét sơ lợc trên đây chúng ta thấy quê hơng của Mai Hắc Đế làmột miền quê với cảnh sắc thiên nhiên hữu tình, hấp dẫn; con ngời thì cần cù,chăm chỉ có truyền thống hiếu học và giàu lòng yêu nớc; là một vùng quê giàubản sắc văn hóa
1.2 Khái quát tiểu sử Mai Hắc Đế
Trong cuốn "Việt Nam U Linh" của Ch Cát Thị trong th tịch cổ Việt Nam
kể rằng: Vào thời đất nớc ta đang đắm chìm trong đêm dài Bắc thuộc (lúc đó
là nhà Đờng cuối thế kỷ 7), ở một thôn làm muối có tên là Gò Mơ, ven biểnThiện Lộc có một đôi trai gái yêu nhau tha thiết Nàng tên là Vơng Thị thuộcgia đình tơng đối khá giả, có học Chàng là Mai Sinh Tới một ngày khi tìnhyêu kết nụ đơm hoa để tránh mọi tục lệ hà khắc, hơng ớc gia phong, d luận hai ngời đã rời khỏi Gò Mơ tìm đến một vùng đất mới để sinh sống Nơi vợchồng định c là thôn Ngọc Trờng thuộc huyện Sa Nam (nay thuộc thôn NgọcTrừng, xã Nam Thái, huyện Nam Đàn), một làng thuộc vùng "bán sơn địa"
Đến đây trong một đêm nọ Vơng Thị bỗng nằm mơ thấy một thiếu phụ, mộtmình mặc áo đỏ tự xng là Xích Y sứ giả, tay cầm viên ngọc bích to hơn quảtrứng gà và nói rằng: cho con viên kê sơn bích, nên dùng làm vật báu VơngThị thấy viên ngọc hình nh quả trứng to hơn, năm sắc óng ánh, lóe cả mắt, bèngiơ tay đón lấy, bỗng nhiên cầm hụt, ngọc rơi xuống đất vỡ tan tiếng động làmnàng giật mình tỉnh giấc, sau đó sinh ra một con trai ở đùi bên trái đứa bé cómột vết xanh đen giống nh một đồng tiền Nàng đem chuyện nằm mộng nóivới chồng Chàng lấy làm lạ, suy nghĩ rồi đoán rằng: Ngọc nhận ở tay bỗngnhiên rơi xuống đất vỡ tan, tung tóe, có tiếng kêu vang, đó là cái ý tiếng tămvang dậy, chấn động ngời đời, còn con gà thì đứng đầu loài có cánh, lại thêmnăm sắc lóe mắt dùng để làm báu vật, cái điềm lành của con linh điểu mangnăm đức tốt Do đó, ông bàn cùng bà đặt tên con là Phợng tự là Loan LoanPhợng là tên một loại gà rừng quý nhất, đẹp nhất, nằm trong bốn loài vật đợctôn thờ là: Long, Ly, Quy, Phợng Sự ra đời của Mai Hắc Đế xuất phát từtruyền thuyết nh thế
Mai Hắc Đế - thuở thơ ấu có tên là Mai Thúc Loan Ông sinh vào thời
điểm cả dân tộc đang sống lầm than cực khổ dới ách thống trị của ngoại tộc.Ngay từ nhỏ ông đã tỏ ra "rất thông minh, không đợc học mà biết chữ" [8;8]
Trang 20Các cụ trong làng thờng kể là Mai Thúc Loan lúc thơ ấu vô cùng hiếu động.
Nh đa phần cậu bé cùng tuổi, trò chơi cậu ham thích là vật lộn, bơi thi, đánh
nỏ, đánh trận với bạn bè Cậu thờng là kẻ chiến thắng Nhng khác với bạn bècùng lứa, đặc điểm nổi bật nhất của Mai Thúc Loan là tính hiếu học Nhà cậu
ở cạnh nhà tên Thổ hào giàu có nhất trong làng Trong nhà y có nuôi một thầy
đồ làm gia s để dạy chữ thánh hiền Cậu thờng đứng ở góc vờn chỗ giáp nhàThổ hào, nơi đặt lớp học, cẩn thận chăm chú lắng nghe những lời giảng dạy vàlén nhìn nét chữ viết mẫu của thầy, rồi khi bọn bạn không đến lớp, Mai lạinhờ chúng cho mợn vở ôn tập và củng cố Và kỳ lạ thay, cậu đã am tờng chữnghĩa, đọc đợc hiểu đợc sách vở thánh hiền, nhiều đứa cùng tuổi học chínhthức với thầy đồ còn kém xa Loan về mặt chữ nghĩa, kinh sử
Tình cha mẹ thơng con không bờ bến, lòng Mai Thúc Loan quý mến cha
mẹ nh biển trời, mới bảy, tám tuổi đầu thơng mẹ hết lòng Mai Thúc Loan đãtranh thủ giúp mẹ trong nhiều công việc thờng ngày nh mò cua, bắt ốc, xúctép, bẻ củi Nhờ sớm lăn lội, sớm biết nghĩ lại lao động nhiều dầm ma dãinắng lắm nên cậu có một cơ thể cờng tráng, phổng phao trớc tuổi: "Ông da hơi
đen, tay rắn nh đe, mình cao hơn bảy thớc, có sức khỏe kỳ lạ, ông gánh mộtgánh củi mẹ ông xếp đầy lều Một cây đa to bị bão xô đổ ngáng đờng, ôngghé vai dựng dậy nh cũ Ai có việc thổ mộc nặng nhọc đều gọi ông đến giúp.Bạn bè quanh làng đều mến ông, phục ông, họ thờng tôn ông là đô vật vô
Cùng với thời gian, những tổn thất ngày một nguôi ngoai, Mai Thúc Loan
đã gắng gợng định thần và trụ vững đợc, và bắt đầu bớc đi trên con đờng mới con đờng mình tự mày mò, dò dẫm mà không có bàn tay dìu dắt của cha mẹthân yêu Và kỳ thay, những bớc đi trong giai đoạn này của cuộc đời MaiThúc Loan lại là những bớc đi chuyển rừng, rung núi, lay động giang sơn,những bớc đi của một con ngời bắt tay chuẩn bị cho đại sự quốc gia
Theo sách "Việt Điện U Linh" thì "Sau khi mồ côi, Mai Thúc Loan càng
đợc bà con nhân dân thơng yêu quý mến hơn và cậu đã đợc ông Đinh Thế, vốn
là bạn thân của Mai Sinh - phụ thân của Mai Thúc Loan nhận làm con nuôi
đem về nuôi nâng, chăm sóc, bảo ban, cùng ông làm lụng kiếm sống" [15;36]
Trang 21Mai vẫn luôn đợc sống trong sự đùm bọc yêu thơng của cha nuôi, của mọi
ng-ời, và phát triển theo hớng mà bố mẹ cậu từng mong đợi Bởi vậy, lòng nhân
ái, vị tha, thơng dân, yêu nớc căm thù giặc trong anh không hề bị thui chột,
mà vẫn ngày càng vơn cao, toả sáng theo năm tháng nh một rừng cây, dù nắnggió bão giông, nhờ bám đợc sâu vào lòng đất, mà lá càng xanh cành càng rậm.Hàng ngày Mai Thúc Loan cùng nghĩa phụ làm hết việc nhà lại đi làm thuêcuốc mớn, chăn trâu, cắt cỏ kiếm kế sinh nhai
Truyền thuyết vùng Sa Nam kể rằng, ngay từ lúc còn vị thành niên, do cóvóc dáng đồ sộ, có nhiều miếng, nhiều mẹo vặt thông minh, nên có lần anh đãrửa đợc mối nhục cho làng vật Sa Nam Trong ngày hội xuân năm ấy, một tênlính Đờng đã làm lấm lng ba, bốn đô vật bản xứ Đó là những đô vật trongvùng thờng giật lèo nhiều lần trên xới vật Châu lỵ, mà so với họ, Mai ThúcLoan là bậc đàn em về tuổi đời cũng nh về ngón nghề trong vật thuật Nhnglần đó trớc thái độ khiêu khích của tên lính Đờng, anh đã cởi áo bớc vào xớivật, không ai tin là thắng lợi lại nghiêng về cậu bé tuổi đời cũng nh vóc dángchỉ bằng nửa đối phơng Nhng sự thực hiển nhiên trớc mặt họ là chỉ sau mộtphút bắt đầu, Mai Thúc Loan đã quật ngã tên lính Đờng kiêu ngạo trong sự cổ
vũ nhiệt tình của cô bác, bạn bè Trong thời kỳ này, Mai Thúc Loan còn thamgia phờng săn với hy vọng một ngàykhông xa sẽ diệt đợc hổ dữ, trả thù cho
mẹ Và cậu bé mời ba, mời bốn tuổi diệt đợc hổ trở thành đề tài trong nhữngcâu chuyện hàng ngày của ngời dân Sa Nam Không những thế, nó còn đợctruyền thuyết đời sau kể lại dới nhiều dạng, nhiều vẻ, nghe cứ nh là chuyệnthần thoại, thật li kỳ và hết sức hấp dẫn Rồi nữa, một sự kiện đáng nhớ trongthời kỳ này của Mai Thúc Loan đó là việc anh thực hiện phá kho thóc khitham gia đội thổ quân, cứu đói cho bà con mùa đại hạn Cũng theo truyềnthuyết kể lại, trong những lần tâm sự cùng các thân tớng tâm phúc của mìnhkhi ông đã là Hoàng đế "Mai Thúc Loan thờng nhắc lại chuyện diệt hổ khitham gia phờng săn, tiếp theo chuyện phá kho thóc khi tham gia đội thổ quân
là những chuyện để lại trong lòng mình ấn tợng khó quên của thời kỳ đơn độctrớc bão tố cuộc đời" [15;44]
Tháng ngày thấm thoắt thoi đa, chẳng mấy chốc cậu thiếu niên lớn trớctuổi Mai Thúc Loan đã trở thành một thanh niên thực thụ Đất nớc ta nóichung và Châu Hoan, Sa Nam nói riêng, vào thời kỳ Mai Thúc Loan giã biệttuổi thơ là thời kỳ rên xiết dới dới ách cai trị của giặc Đờng Đã từng đợc mẹ
đẻ và thầy dạy rằng: Nớc mất thì ở nơi nào trên đất nớc cũng có giặc Anh lạitừng đợc thầy chỉ cho những bài học lịch sử quý báu về sức mạnh tập thể của
Trang 22toàn dân là yếu tố quan trọng bậc nhất để tiêu diệt, đánh đổ bọn đô hộ ngoạibang Bởi thế Mai Thúc Loan đã gia nhập đoàn dân phu và bắt đầu đại sự từ
đây Cũng vào lúc này, Mai Thúc Loan đã phải đồng thời tính toán đến mộtviệc quan trọng khác là lập gia đình vì việc này có mối liên quan mật thiết đếnnhững mu đồ đại sự của anh sau này
Qua nhiều t liệu, ta đợc biết Mai Thúc Loan có hai đời vợ Dựa vào sách
"Việt Điện U Linh" cùng ngọc phả ở đền thờ Mai Thị Cầu Mai Kỳ Sơn tại
Điêu Yêu (nay thuộc xã Quốc Tuấn - huyện An Lão - Hải Phòng) ta biết ngời
vợ thứ nhất của Mai Thúc Loan là Ngọc Tô con gái cng của ông Đinh Thế cha nuôi Mai Thúc Loan Nhờ vào gia sản của cha nuôi để lại cho hai vợchồng, cùng tài làm ăn, thu vén của Ngọc Tô mà gia đình chung sống hạnhphúc, con cái đuề huề Còn ngời vợ thứ hai của Mai Thúc Loan đó là ngờicháu ruột của cụ Phùng Hạp Khanh, Phạm Thị Uyển - ngời đã đem binh ởchâu Đờng Lâm ứng nghĩa Mai Thúc Loan
Lực lợng, sự đoàn kết luôn là vấn đề quan trọng đối với các cuộc khởinghĩa Tận dụng mọi cơ hội có thể, đặc biệt là trong chuyến đi cống nạp, MaiThúc Loan đã tập hợp đợc các bậc hiền tài, dật sĩ, kiếm khách cùng có lòngcăm thù giặc đô hộ, yêu thơng nhân dân, lo lắng u phiền trớc tình hình đất nớc
đau thơng dới ách Bắc thuộc mà ấp ủ mong muốn diệt thù cứu nớc Theo
"Việt Điện U Linh'', đó là các vị nh: Thôi Thặng, Phong Hậu ở đất Hoa Dơng,những ngời mà Mai Thúc Loan có thể chuyện trò suốt ngày nh gặp duyên "cánớc" Đó là Phục Trờng Thủ không hẹn mà đến, lại có Đàm U Vân, MaoHoành, Tùng Thụ, Tiết Anh, Hoặc Đan, Khổng Quan, Cam Hề, Sĩ Lâm, ĐỗTân - những kiếm khách nghe tiếng Mai Thúc Loan, hâm mộ sự tín nghĩa mà
đến Qua đền thờ tại vùng Sa Nam và vùng phụ cận ta còn biết trong số nhữngngời tìm đến vua Mai còn có hai anh em Nguyễn Huynh và Nguyễn Đệ.Ngoài ra quân sĩ đến với Mai Thúc Loan cả nghìn ngời Đồng trong thời giannày, Mai Thúc Loan còn xúc tiến xây dựng các căn cứ kháng chiến trên phạm
vi rộng Ngoài căn cứ địa Sa Nam tại quê hơng, Mai Thúc Loan còn xây dựngcăn cứ ở miền duyên hải đông Bắc mà trung tâm chỉ huy đợc đặt tại thôn ĐiềuYêu (nay thuộc xã Quốc Tuấn, huyện An Hải, tỉnh Hải Phòng), và căn cứ Đ-ờng Lâm cạnh Tống Bình - nơi đặt bản doanh của bộ máy cai trị An Nam đô
hộ Phủ Mọi sự chuẩn bị đã xong xuôi, năm 722, Mai Thúc Loan phát động vàlãnh đạo cuộc khởi nghĩa Hoan Châu và nhanh chóng giành thắng lợi, lên ngôilấy niên hiệu là Mai Hắc Đế thành lập nớc Vạn An Tuy nhiên sau đó tớngnhà Đờng Dơng T Húc đem quân sang tấn công, cuộc khởi nghĩa đến đây thất
Trang 23bại, Mai triều tan vỡ Mặc dầu tất bại song ý nghĩa của nó không hề phai mờtrong lịch sử đấu tranh giải phóng dân tộc của nhân dân ta Năm 723, vua Maithụ bệnh, cận vệ rớc Vua lên căn cứ Hùng Sơn và Ngài băng hà tại đấy vàongày 16 tháng 9 năm Quý Hợi 723 Và Mai Hắc Đế đợc nhân dân đời đời tởngnhớ bằng việc lập đền thờ ông ở nhiều nơi (Nam Đàn - Nghệ An, Hà Nội, HảiPhòng), trong đó quan trọng nhất là ở Nam Đàn - Nghệ An.
Nh vậy, cuộc đời của Mai Thúc Loan là một chuỗi thăng trầm y nh nhữngbiến cố của lịch sử dân tộc Bởi thế khi có ai đó nói rằng "Sự phát quang củamột dân tộc bao giờ cũng gắn liền với sự phát quang của những cá nhân" thì
cũng không có gì là quá đáng lắm vậy! Và bây giờ tìm hiểu di tích Mai Hắc
Đế cũng là cách mà ngời đời sau tởng nhớ và tôn vinh cho một cá nhân âucũng là một việc làm thiện ý
Chơng 2Mô tả đền thờ và khu mộ Mai Hắc Đế
2.1 Đền thờ Mai Hắc Đế
2.1.1 Vị trí đền
Trớc đây, cả đền và lăng mộ đều thuộc xã Vân Diên, huyện Nam Đàn.Nay địa lí hành chính trong huyện có sự phân bố lại, theo đó chỉ còn lăng mộ
là thuộc phạm vi xã Vân Diên, còn đền thờ nằm trong địa giới thị trấn Nam
Đàn Đền thờ đợc xây ở chính nơi xa kia đặt tổng hành dinh của cuộc khởinghĩa Mai Thúc Loan và sau đó là Quốc đô, nơi vua Mai điều hành quốc sự.Tơng truyền rằng: Sau khi giải phóng đợc ba châu: Hoan, Diễn, ái (nay thuộchai tỉnh Nghệ An và Thanh Hóa), Mai Thúc Loan đợc ba quân suy tôn lênngôi hoàng đế Sau khi xng ngôi xong, để tạo vị thế và lực lợng chiến đấu lâudài, vua Mai bắt tay ngay vào việc tổ chức triều chính, thảo hịch kêu gọi nhândân trong nớc và ngoài nớc đứng lên khởi nghĩa, củng cố lực lợng vũ trang…
Ông đã chọn Sa Nam (tên gọi của thị trấn Nam Đàn xa kia) làm nơi xây dựngcăn cứ địa, lấy tên là Vạn An Tại đây, vua Mai đã cho lập Phủ điện, xây dựngcác đồn trại, xởng rèn vũ khí, thành lũy dài trên 1000m chạy dọc theo sôngLam, lầu chứa voi ngựa Nay dân gian Nam Đàn vẫn còn lu truyền câu ca thểhiện niềm tự hào, lòng biết ơn, sự tiếc nuối về những gì mà một thời vua Mai
đã tạo lập đợc ở trên mảnh đất này:
"Con ơi con ngủ ngon lành Để Mai Hắc Đế xây thành Vạn An"
Trang 24Nơi xây dựng đền ngày nay chính là vị trí trung tâm của thành Vạn An
cũ Khởi thủy nơi đây là một ngọn đồi rậm rạp, hoang sơ giữa một thung lũng
ba bề núi non hiểm trở án ngự Ngày nay, trải bao thăng trầm và biến cố lịch
sử, vùng đất Sa Nam chiến địa ngày xa cũng đã có nhiều thay đổi, giờ đã trởthành một thị trấn sầm uất, có phong cảnh sơn thuỷ hữu tình, gắn với câu ca:
"Sa Nam trên chợ dới đò Bánh đúc hai dãy, thịt bò mê thiên"
Đặc biệt là về phía đông, cách đền thờ Mai Hắc Đế không xa có hai ditích lịch sử văn hóa lớn là: Khu di tích lu niệm cụ Phan Bội Châu (cách đền1km) và khu di tích Kim Liên (cách đền 4km)
Nhìn chung, đền thờ Mai Hắc Đế đợc xây dựng ở một nơi đô hội, có bềdày lịch sử - văn hóa lâu đời, có nhiều danh sĩ, nơi địa thế cao ráo, cảnh quanhùng vĩ, nên thơ "kề sơn cận thủy" có sức hấp dẫn lớn
Một quan thái thú Trung Quốc khi đi công cán qua đền đã cảm tác mộtbài thơ nh sau:
T Húc an năng cự hại quânThiên tâm vị dục phân Nam BắcGiao long thất thế đồng phàm lân
Tự đờng hất kim thiên d tuế
Kỷ độ thơng tang biến thế nhânCổn cổn Sa Nam cổ độ đầuHành nhân do thuyết Mai Hắc Đế Lạp đỉnh sơn trung cuồng ẩn phu Cơ tuế dân khốn y thực khu Phong trần tác lại thùy tơng thứcLam giang công cán thời biến chuHoang từ cổ mộc thơng sơn hạMang lý nhàn tầm nhất kính quaThanh thanh cô ố tịch dơng tà
Đình lập giang đầu điếu thệ giả
Trang 25Thế giáng Tôn Ngô lạc chiến tranh
Cổ lai hiền thánh hãn ngôn binh
Lý Hoa chiến trờng thuyết đắc tận Thử tệ nhất cách Hoàng Hà thanh
Đợc dịch:
Qua đền Mai Hắc Đế
Giao châu từ cổ thông Trung Quốc
Đám quan thái thú kể khôn xiết Thơng bấy anh hùng Mai Thúc Loan Lại vì tặc thần Dơng T Húc
Một hô quân sĩ đến theo cùng
T Húc làm sao giết đợc ôngLòng trời cha muốn chia Nam BắcMắc cạn giao long hết vẫy vùng
Đời Đờng đến nay nghìn năm có lẻCuộc thế bao lần dâu hoá bể
Sa Nam cuồn cuộn bến đò xa Khách còn nhắc chuyện Mai Hắc Đế
Đỉnh Lạp ai hay kẻ ẩn ngôngThấy dân năm đói khổ vô cùng Phong trần ai biết làm chân lại Thuyền vợt dòng Lam trẩy việc công
Đền hoang dới núi cây già lấp Lúc bận ghé qua nhàn nhã chút
Tu hú kêu vang buổi bóng tàDừng chân đầu sông viếng ngời khuất
Đời lụn Tôn Ngô thích chiến tranhThánh hiền ít nói chuyện đao binh
Lý Hoa phú ấy mà thông suốtTrong lại sông Hoàng hết chiến tranh
[29;160]
2.1.2 Lịch sử đền Mai Hắc Đế
Hiện nay, dẫu đã cố gắng rất nhiều song chúng ta vẫn cha tìm thấy mộttài liệu thật sự chính xác nào ghi chép về thời gian khởi lập đền Theo tác giả
Đinh Văn Hiến trong "Mai Hắc Đế truyền thuyết và lịch sử" thì "đền chắc
chắn đợc xây dựng không lâu sau ngày vua Mai Hắc Đế qua đời - tức là vào
Trang 26quãng cuối thập kỷ thứ 3 đầu thập kỷ thứ 4 của thế kỷ 8" [15;93] Qua kiểm
kê và lần tìm trong t liệu ở bảo tàng Nghệ An chúng tôi đợc biết: Đền vua Mailúc mới xây dựng chỉ là một ngôi đền nhỏ, kiến trúc đơn giản Qua thời gian,
đền đã đợc nhiều triều đại phong kiến Việt Nam tôn vinh với các đạo sắcphong Dới triều vua Gia Long năm thứ 9 (1811), đền Mai Hắc Đế đợc phongsắc nh sau: "Sắc chỉ Nam Đờng huyện, Đông Liệt xã, viên sắc xã, trơng đồngxã, đẳng hệ nhi xã tòng tiền phụng sự Mai Hắc Đế nhất vị kính hữu lịch triều
gia tôn mị tự t hoài hứa y cựu phụng sự dị thân kính ý cố sắc" [25;19] Còn dới
triều vua Thiệu Trị năm thứ 2 (năm 1842) , đền cũng đợc phong sắc "Sắc chỉNghệ An tỉnh, Nam Đờng huyện, Đông Liệt xã, nhị xa tòng tiền phụng sự Mai
Hắc Đế miếu tết mong ban cấp sắc chỉ chuẩn nhị xa phụng sự tứ kim, phỉ ng cảnh mệnh Kỳ Thiệu tiền tù đặc chuẩn hứa y cựu phụng sự dụng thân kính ý
khâm tai" [25;19] Đến năm Minh Mạng thứ 2 (năm 1821), đền đợc xây cất to
đẹp, uy nghi hơn Lúc đó "Vờn đền rộng, có lắm cây cổ thụ, bên ngoài cócổng Tam quan đồ sộ, xây cất công phu theo kiểu chồng diêm tám mái, bêntrong có sân rộng 1000m2 Hạ điện năm gian, Trung điện ba gian cũng đợcxây dựng theo kiểu chồng diêm, Thợng điện có ba gian… Tất cả các kiến trúc
đều đợc làm bằng gỗ lim, chạm khắc công phu đẹp với các đề tài tứ linh, tứquý…" [23;109] Và vị vua cuối cùng của chế độ phong kiến Việt Nam là Bảo
Đại nhân một dịp kinh lý ra Bắc, đã ghé lên Nam Đàn thăm và dâng hơng tại
đền vua Mai trớc khi đến khánh thành một đập nớc thủy lợi ở gần đấy
Đến trớc những năm 50 của thế kỷ 20, đền thờ Mai Hắc Đế là một kiếntrúc đẹp, hài hòa có dáng dấp những nét kiến trúc thời Lê Đền đợc trùng tukhá lớn dới thời vua Tự Đức Hiện nay tại đền Hùng Vơng ở Thảo cầm viênSài Gòn và tại một Viện bảo tàng ở Pari - Pháp còn lu giữ ảnh của đền MaiHắc Đế trùng tu vào thời Tự Đức, phóng to cỡ 30cm x 40cm
Trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ cứu nớc, vào năm 1968, một trậnbom của đế quốc Mỹ đã ném xống khu vực đền làm toàn bộ các kiến trúc bịsụp đổ, ở khu vực đền chỉ còn lại nhà Hậu cung Sau trận bom, nhân dân đãmang đồ tế khí và các kiến trúc còn lại gửi ở những di tích khác trong vùng.Năm 1990, trên cơ sở các bộ phận kiến trúc và các đồ tế khí còn lại, nhân dânNam Đàn - Nghệ An đã phục hồi lại một số công trình của đền trên nền đất
cũ Kể từ năm 1996, Bộ văn hóa cấp bằng di tích lịch sử văn hóa cấp quốc giacho di tích đền và lăng mộ vua Mai ở Nam Đàn
Nh vậy, đền thờ Mai Hắc Đế đã đợc xây dựng từ lâu, qua thăng trầm vànhững biến thiên của lịch sử, đền đã đợc tôn tạo, thay đổi khá nhiều Theo
Trang 27thần phả ở đền thì từ khi xây dựng đến nay đền đã trải qua các lần trùng tu,phục hồi nh sau:
Đặc biệt là lần tôn tạo gần đây nhất vào cuối năm 2004, đầu năm 2005
Đây có thể nói là lần đại trùng tu với quy mô lớn nhất, chất lợng tốt và chi phícao Đền thờ Mai Hắc Đế sẽ mãi là nơi gửi gắm niềm thành kính thiêng liêngcủa nhân dân đối với "Vị anh hùng cứu nớc của dân tộc Việt Nam ngời ChâuHoan" [8;7]
2.1.3 Cấu trúc đền
Xa kia, với tổng diện tích trên 1ha vừa diện tích xây dựng, vừa khuônviên bao quanh, đền là một quần thể gồm một cửa Tam quan, rồi một lối đirộng 4m dài gần 100m thì đến một sân rộng 1000m2 - là nơi tổ chức hội vậtvào các dịp lễ hội hàng năm Hết khu sân là tòa đền Hạ, lại có sân nhỏ với Tả
vu, Hữu vu hai bên; tiếp theo là đền Trung kiểu chồng diêm, và cuối cùng là
đền Thợng Tất cả cột nhà đều là gỗ quý tày ôm, có điêu khắc long chầu hổphục, hoặc long ly quy phợng; có các câu đối ở cột, hoặc hoành phi ở xà, cócác nghi công tế khí, lọng thêu, tàn gấm, hạc cỡi lng rùa, ngựa hồng ngựabạch, ba bốn chiếc kiệu chạm đầu rồng, long ngai bài vị Tất cả đều đợc sơnson thiếp vàng lộng lẫy, hoành tráng, xứng đáng với một nơi thờ phụng vị anhhùng dân tộc đợc nhiều triều đại tôn vinh với các đạo sắc phong Sau lng đền
là một khuôn viên rộng vài sào đất, cây cổ thụ lẫn cây hoa, cây cảnh, cây ăntrái, bốn mùa cây lá xum xuê tỏa bóng mát cho khu đền
Cùng với thời gian, trải qua những biến thiên dữ dội của lịch sử, đền đã
bị h hại nhiều Qua nhiều lần trùng tu, hiện nay đền thờ Mai Hắc Đế đã trởnên khang trang, bề thế với những công trình kiến trúc chính nh sau:
2.1.3.1 Cổng Tam quan
Đến khu vực đền, ấn tợng đầu tiên chúng ta bắt gặp là một cổng Tamquan cao, đẹp uy nghi sừng sững án ngự giữa không gian rộng lớn Cổng đợcxây dựng theo xu hớng vơn cao, đồ sộ với kết cấu hình trụ vuông kết hợp vớinhững nét gờ chỉ đợc tỉa tót khá công phu, tỉ mỉ Cổng đợc xây dựng bằng bêtông cốt thép gồm có: Cổng ở giữa rộng 6m, giới hạn với hai bên bởi hai cột
Trang 28trụ có cấu trúc giống nhau Mỗi cột cao 7,5m; kết cấu mỗi trụ nh vậy gồm có
ba phần: Đế cột rộng 1,35m, dài 1,35m và cao 1,35m Thân cột rộng 75cm
Đỉnh đầu của hai cột có gắn 2 con s tử tợng trng cho sức mạnh của Hoàng đế
Nhìn tổng quan hai bên, chúng ta còn thấy có hai con ngựa đắp bằng ximăng: Bên phải ngựa sơn màu trắng; bên trái ngựa sơn màu vàng, cả hai đều
có yên cơng Ngoài ra, phía trớc hơi tiến lên một chút là kiến trúc miếu thờ 2con voi Miếu lợp ngói vảy cá màu đỏ Voi đợc đắp bằng xi măng sơn đen.Trong hai miếu thờ có đặt 2 bát hơng màu xanh bằng sứ Ngựa và voi chắchẳn là những con vật hết sức gần gũi đối với Mai Hắc Đế lúc chinh chiến
Nét đặc trng của đền thờ Mai Hắc Đế so với nhiều đền khác là ở chỗ:Cổng Tam quan, ngoài phù điêu về ngựa thờ, voi chầu, còn có hai phù điêu vềhai binh sĩ không phải ngời Việt Tơng truyền đó là ngời Chân Lạp Điều đó
có thể xuất phát từ ý nghĩa để tởng niệm việc hơn 20 vạn quân đồng minh đãhợp lực cùng vua Mai trong cuộc khởi nghĩa chống Đờng năm Quý sửu (713)
Đặc biệt, ở hai bên cổng có hai câu đối bằng chữ Hán mà thông quaviệc dịch thuật nó chúng ta thấy toát lên niềm tự hào về vẻ đẹp của non nớcHồng Lam, và sự hoài cổ về một kinh đô xa:
"Vân phi vũ tuyển tân cao các Thủy nhiễu sơn hồi cựu đế đô"
có bốn cánh, mỗi cánh rộng 50cm Cửa vào bên trái cũng rộng 1.6m, cao 1.8mgồm có bốn cánh, mỗi cánh rộng 50cm
Trang 29Nhà Hạ điện đợc xây dựng để thờ nghĩa binh của Mai Thúc Loan đã tửtrận cùng với thờ cộng đồng nói chung.
Hạ điện làm theo kiểu chồng diêm gồm ba gian, hai hồi Có tất cả 12cột gỗ lim theo kích thớc nhỏ dần từ trớc về sau làm ranh giới phân chia giữacác gian của nhà Hạ điện Các cột gỗ đợc sơn đỏ chạm khắc hình rồng hết sứctinh xảo và sinh động Trần nhà làm bằng gỗ có vẽ hình rồng, phợng đang vờnmây quấn gió trông rất mềm mại, uyển chuyển, sơn màu xanh ngọc bích
có đặt hai con hạc loại to cỡi lng rùa đều làm bằng gỗ sơn vàng lấp lánh.Ngoài ra, còn có hai con ngựa gỗ: Bên phải là ngựa trắng, bên trái ngựa hồng
đều có yên cơng màu đỏ bằng vải Đặc biệt ở hai gian bên có đặt hai chiếckiệu to bằng gỗ sơn son thiếp vàng Kiệu, ngựa đều là phơng tiện chiến đấucủa Mai Thúc Loan và binh sĩ lúc xung trận Góc phải nhà Hạ điện có treomột quả chuông đồng nặng chừng 50 - 60 kg, đỉnh chuông có chạm khắc hình
đầu rồng Cạnh đó có treo một cái trống Chuông và trống đợc sử dụng trongcác ngày lễ hội Ngoài ra, hai bên hơng án còn có đặt hai cái lọng: Bên trái làlọng màu vàng; bên phải là lọng màu đỏ ở hồi bên trái có treo hai cái trốngnhỏ bằng nhựa đỏ và các bộ lễ phục
Đặc biệt, trong nhà Hạ điện còn lu giữ một bài thơ chữ Hán, ghitrong"Tiên chân bảo huấn tân kinh" nhằm ca ngợi công đức của Mai Hắc Đế
nh sau:
"Cát cứ Hoan Châu địa nhất phơngVạn An thành luỹ, Vạn An vơng
Tứ phơng hởng ứng hô Mai ĐếBách chiến uy thanh nhiếp Lý ĐờngLam nguyệt giang thanh thanh lang ngạcHùng phong sơn tịnh tịnh yên lang
Lệ chi tuyệt cống đờng nhi hậu