1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Lịch sử văn hóa làng gốm đồn điền, xã quảng thái, huyện quảng xương, tỉnh thanh hóa (từ thế kỷ XV đến nay) luận văn tốt nghiệp đại học

93 1,1K 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Lịch sử - văn hóa làng đồn điền, xã Quảng Thái, huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hóa (từ thế kỷ XV đến nay)
Tác giả Dư Thị Oanh
Người hướng dẫn PGS.TS Nguyễn Quang Hồng
Trường học Trường Đại Học Vinh
Chuyên ngành Lịch sử Việt Nam
Thể loại Khóa luận
Năm xuất bản 2011
Thành phố Vinh
Định dạng
Số trang 93
Dung lượng 34,8 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Xuất phát từ những lý do trên, cộng với lòng nhiệt huyết và sự tri ânđối với những con người có công trong việc lập làng, xây dựng và lưu giữnhững truyền thông văn hóa tốt đẹp của làng Đ

Trang 1

Trờng đại học vinh Khoa l ch s ịch sử ử

-*** -D thị oanh

Khóa luận tốt nghiệp đại học

lịch sử văn hóa làng đồn điền, xã quảng thái, huyện – văn hóa làng đồn điền, xã quảng thái, huyện

quảng xơng, tỉnh thanh hóa (từ thế kỷ xv đến nay)

Chuyên ngành: lịch sử Việt Nam

Vinh - 2011

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Lời đầu tiên, chúng tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến PGS.TSNguyễn Quang Hồng đã trực tiếp hướng dẫn tận tình tôi trong thời gian hoànthành khóa luận, đồng thời kính gửi đến các thầy cô giáo đã tham gia giảngdạy tôi trong quá trình học tập

Xin cảm ơn tất cả bạn bè và gia đình đã giúp đỡ, tạo điều kiện cho tôihoàn thành khóa học và hoàn thành khóa luận của mình

Mặc dù có cố gắng, song do khả năng có hạn, nên khóa luận của chúngtôi chắc chắn không tránh khỏi những thiếu sót Rất mong nhận được những ýkiến của quý thầy cô giáo và bạn đọc

Tác giả

Dư Thị Oanh

Trang 3

MỤC LỤC

Trang

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử vấn đề 2

3 Phạm vi nghiên cứu,nhiệm vụ khoa học của đề tài 4

4 Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu 5

5 Đóng góp khoa học và giá trị thực tiễn của luận văn 6

6 Bố cục của luận văn 6

NỘI DUNG 7

Chương 1: LÀNG ĐỒN ĐIỀN – QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN 7

1.1 Khái quát địa lí tự nhiên 7

1.1.1 Vị trí địa lí 7

1.1.2 Địa hình, đất đai 7

1.1.3 Sông ngòi 8

1.1.4 Đất đai 9

1.1.5 Khí hậu 10

1.2 Sự hình thành và phát triển của làng Đồn Điền 10

1.2.1 Lịch sử hình thành và phát triển của làng Đồn Điền 10

1.2.2 Đăc điểm cộng đồng cư dân ở Đồn Điền 16

Tiểu kết chương 1 19

Chương 2: ĐỜI SỐNG VĂN HÓA VẬT CHẤT CỦA LÀNG ĐỒN ĐIỀN 21

2.1 Đời sống kinh tế 21

2.1.1 Nông nghiệp 21

2.1.2 Thủ công nghiệp 24

2.1.3 Ngư nghiệp 25

2.1.4 Thương nghiệp 26

2.2 Các nơi thờ cúng trong làng 29

2.2.1 Nghè làng 29

2.2.2 Đình làng 29

2.2.3 Đền Đồn Điền 29

2.3 Nhà cửa 31

Trang 4

2.4 Ẩm thực 32

2.5 Trang phục, đi lại 34

Tiểu kết chương 2: 35

Chương 3: ĐỜI SỐNG TINH THẦN, TÔN GIÁO, TÍN NGƯỠNG 36

3.1 Các hình thức tín ngưỡng 36

3.1.1 Tục thờ cúng tổ tiên 36

3.1.2 Tục thờ các anh hùng dân tộc, các vị danh nhân 37

3.1.3 Tục thờ Mẫu 38

3.1.4 Tục thờ Nhiên thần 40

3.1.5 Tín ngưỡng thờ Thành hoàng làng 40

3.2 Phong tục tập quán 43

3.2.1 Cưới hỏi 43

3.2.2 Tang ma 47

3.2.3 Tục ăn tết lại 50

3.3 Lễ hội 52

3.3.1 Lễ cầu nông 55

3.3.2 Lễ cầu ngư 57

3.4 Văn học dân gian 60

3.4.1 Ca dao 60

3.4.2 Tục ngữ, phương ngôn, câu đố 61

3.4.3 Vè 63

3.5 Tính cách con người làng Đồn Điền 64

3.6 Một số truyền thống cơ bản của nhân dân làng Đồn Điền - xã Quảng Thái 67

3.6.1 Truyền thống cần cù lao động, khắc phục khó khăn 67

3.6.2 Truyền thống đoàn kết, giúp đỡ lẫn nhau 67

3.6.3 Truyền thống uống nước nhớ nguồn 68

3.6.4 Truyền thống hiếu học cầu tiến bộ 69

3.6.5 Truyền thống yêu nước và cách mạng 70

Tiểu kết chương 3 71

KẾT LUẬN 73

TÀI LIỆU THAM KHẢO 76

PHỤ LỤC 79

Trang 5

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Làng Việt (kẻ, thôn, chiềng, chạ ) là một thiết chế xã hội, một đơn vị

tổ chức chặt chẽ của nông thôn Việt Nam trên cơ sở địa vực, địa bàn cư trú, làsản phảm tự nhiên phát sinh từ quá trình định cư và cộng cư của người Việt,trồng trọt là điểm tập hợp cuộc sống cộng đồng tụ quần đa dạng và phong phúcủa người nông dân, ở đó họ sống và làm việc, quan hệ, vui chơi, thể hiện mốiquan hệ ứng xử với thiên nhiên, xã hội và bản thân họ Làng là một thiết chế

xã hội của nông thôn Việt, có cơ cấu tổ chức phong phú nhưng chặt chẽ, cótính cộng đồng và tự trị cao, làng Việt ở mặt trái mang tính chất khép kín.Song nó lại chính là nơi lưu giữ, bảo vệ những thứ văn hóa làng chống lạixâm lăng, đồng hóa của văn hóa ngoại lai Làng Việt và văn hóa làng Việtđang là vấn đề rất thú vị cho những ai quan tâm, nghiên cứu nó

Những thập kỷ gần đây, nghiên cứu về lịch sử hình thành và phát triểncủa làng cũng như những nét đặc trưng văn hóa làng là góp phần vào việcnghiên cứu làng xã vốn đang được những nhà nghiên cứu trong và ngoài nướcquan tâm

Thanh Hoá gắn liền với nền văn minh Đông Sơn – nơi đây được xem làmột trong những cáh nôi của loài người Ở đây có nhiều làng cổ, mỗi làng cólịch sử hình thành, phát triển khác nhau và mang nhiều nét điển hình như:làng Kẻ Rỵ, Kẻ Chè, Kẻ Bôn

Làng Đồn Điền được thành lập từ thời Lê Thánh Tông, là một trongnhững làng gắn liền với chính sách khai hoang lập đồn điền như một số làngkhác ở đồng bằng Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ, nhưng lại có nhiều nét riêng độcđáo Hơn nữa, từ trước tới nay chưa có công trình nghiên cứu nào nghiên cứu

về lịch sử hình thành và phát triển của làng một cách có hệ thống

Trang 6

Làng Đồn Điền, xã Quảng Thái , huyện Quảng Xương là một làng đangcòn bảo tồn được những giá trị văn hóa lâu đời Đồn Điền có bề dày văn hóagần 600 năm Cộng đồng cư dân Đồn Điền trong qua trình lao động vất vả,đấu tranh lâu dài, khai thác đất đai, xây dựng và bảo vệ quê hương đất nước,

đã tạo nên những giá trị văn hóa tốt đẹp trong nền văn hóa thống nhất của dântộc, đó là hệ thống các giá trị văn hóa vật chất và giá trị văn hóa tinh thần củalàng

Trong lịch sử văn hóa làng Đồn Điền vừa giàu tính dân tộc, vừa thểhiện sắc thái văn hóa riêng của làng Bởi thế, nghiên cứu lịch sử văn hóa vùngđất này không chỉ cho chúng ta biết thêm những nét khắc họa về làng Việt nóichung, mà còn cho chúng ta cảm nhận được những dấu ấn riêng của một vùngđất có quá trình phát triển lâu đời cùng dân tộc

Xuất phát từ những lý do trên, cộng với lòng nhiệt huyết và sự tri ânđối với những con người có công trong việc lập làng, xây dựng và lưu giữnhững truyền thông văn hóa tốt đẹp của làng Đồn Điền, đồng thời góp phầnxây dựng nền văn hóa dân tộc phong phú đa dạng nhưng vẫn đậm đà bản sắc;chúng tôi đã mạnh dạn chọn vấn đề “Lịch sử - văn hóa làng Đồn Điền, xãQuảng Thái,huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hóa (từ thế kỉ XV đến nay)”làm đề tài luận văn tốt nghiệp cho mình

2 Lịch sử vấn đề

Nghiên cứu về văn hóa làng không phải là mảng đề tài mới nhưng cũngkhông kém phần hấp dẫn, lý thú Trong thời gian gần đây, với xu thế giữ gìnvag phát huy những gia trị văn hóa của các địa phương nói riêng, của dân tộcnói chung, các công trình nghiên cứu về văn hóa làng và làng văn hóa đã vàđang ngày càng tăng về số lượng cũng như chất lượng

Đặc biệt trong những năm gần đây có nhiều công trình đã đi sâu nghiêncứu từng lĩnh vực cụ thể của làng, thậm chí từng làng cụ thể Có thể kể đến

Trang 7

sử” (2 tập) (1977,1978), Viện sử học, Nxb KHXH, Hà Nội Trong đó tổnghợp các bài viết trên cơ sở đánh giá vai trò làng của nông thôn trong lịc sử.Công trình “Tìm hiểu phong tục Việt Nam nếp cũ – lễ - tết – hội hè” (2000),Nxb Thanh Niên, cũng đã đi sâu vào tìm hiểu các tập tục, lễ nghĩa của làng.Ngoài ra còn có các công trình “Làng văn hóa cổ truyền Việt Nam” (2001)của Vũ Ngọc Khánh, Nxb Thanh Niên; công trình “ Cơ cấu tổ chức của làngViệt cổ truyền ở đồng bằng Bắc Bộ” ( 1984) Nxb KHXH, Hà Nội …

Các công trình nghiên cứu vào làng Việt ở đồng bằng Bắc Bộ, nơi dân

cư đông đúc, làng nghề phát triển và có những gia trị văn hóa đặc thù Các tácgiả tập trung làm rõ các vấn đề địa lý tự nhiên, kinh tế - xã hội, những nét tiêubiểu của làng Việt nói chung

Các luận văn thạc sỹ trường Đại học Vinh về đề tài nghiên cứu lịch sử văn hóa của các làng Việt cổ trên mảnh đất Thanh – Nghệ - Tĩnh như:

Đặng Thị Hạnh (2007), Lịch sử - văn hóa làng Phủ Lý ( Kẻ Rỵ), xãThiệu Trung, huyện Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa ( từ thế kỷ X đến năm 1945) Nguyễn Thị Lĩnh (2008), Lịch sử - văn hóa làng Hội Thống, NghiXuân, Hà Tĩnh

Hoàng Quốc Tuấn (2009), Lịch sử - văn hóa làng Nho Lâm ( DiễnChâu – Nghệ An)

Bùi Thị Phương (2010), Lịch sử - văn hóa làng Qùy Chữ, xã HoàngQùy, huyện Hoàng Hóa, tỉnh Thanh Hóa…

Cũng như các làng trên toàn quốc, làng Đồn Điền đã được giới nghiêncứu địa phương quan tâm Tuy nhiên vì nhiều lý do khác nhau, làng Đồn Điềnvẫn chưa được nghiên cứu một cách đầy đủ, toàn diện trên tất cả lĩnh vực Vì

lẽ đó đề tài “Lịch sử - văn hóa làng Đồn Điền, xã Quảng Thái, huyện QuảngXương, tỉnh Thanh Hóa ( từ thế kỷ XV đến nay) còn là một khoảng trống, bởichưa có một bài viết, một công trình nghiên cứu nào đi sâu vào tìm hiểu một

Trang 8

cách chi tiết, cụ thể các khía cạnh của văn hóa làng Có chăng cũng chỉ lànhững bài viết mang tính chung chung hoặc đề cập đến một khía cạnh nào đócủa văn hóa làng Đồn Điền.

Chương trình nghiên cứu Việt Nam – Hà Lan, Tha phương cầu thựcmang tính cộng đồng ở xã Quảng Thái ( Thực trạng, nguyên nhân và giảipháp khắc phục)

Một số tài liệu mang tính chất địa phương về làng Đồn Điền như: Tưliệu địa chí xã Quảng Thái, Lịch sử Đền Đồn Điền…

Như vậy, việc nghiên cứu lịch sử văn hóa làng Đồn Điền đến nay quảthật rất ít ỏi, chưa có công trình nào đi sâu tìm hiểu một cách chi tiết, có hệthống Do vậy chúng ta chưa có cái nhìn toàn diện về làng Đồn Điền Tuynhiên những bài viết, những công trình nghiên cứu trên là cơ sở ban đầu đểgiúp chúng tôi thuận lợi hơn trong quá trình tìm hiểu làng Đồn Điền

Thực hiện đề tài này, tác giả hy vọng giới thiệu về một làng quê tiêubiểu, với quá trình hình thành phát triển của làng, đặc biệt là các di tích lịch

sử, văn hóa để qua đó nhận diện về một làng quê tiêu biểu tỉnh Thanh – mộtlàng quê có bề dày văn hóa

3 Phạm vi nghiên cứu,nhiệm vụ khoa học của đề tài

3.2 Nhiệm vụ khoa học của đề tài.

Từ việc nghiên cứu văn hóa làng Đồn Điền, luận văn nhằm giải quyếtcác nhiệm vụ sau:

Trang 9

Nắm rõ được về mảnh đất và con người làng Đồn Điền từ xư đến nay,khôi phục lại bức tranh toàn cảnh về văn hóa từ xưa đến nay của làng, qua đórút ra một số nét về văn hóa mang tính đặc trưng của làng quê này.

Trên cơ sở nắm được lịch sử văn hóa lang để thấy đâu là điểm tiến bộtích cực để giữ gìn và phát huy, đâu là điểm lỗi thời, lạc hậu cần loại bỏ, khôiphục những giá trị văn hóa tốt đẹp đã bị lu mờ và mai một

4 Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu

4.1 Nguồn tư liệu.

Với nguồn tư liệu sưu tầm được, xét về nội dung và tính chất của nóchúng tôi chia ra những loại sau:

Thứ nhất là loại tư liệu nằm ở các cơ quan lưu trữ như: trung tâm lưutrữ Thanh Hóa, thư viện tỉnh Thanh Hóa, thư viện tỉnh Nghệ An, thư việntrường Đại Học Vinh, gia phả các dòng họ ở làng Đồn Điền Đây là nguồn tưliệu hết sức phong phú, có giá trị lớn, giúp cho chúng tôi có cái nhìn kháiquát, dựa vào đó để nghiên cứu, hình thành những luận cứ, luận điểm khoahọc của đề tài

Thứ hai là nguồn tư liệu ở địa phương mà cụ thể là các công trình biênsoạn lịch sử của huyện, xã, làng, cá nhân liên quan đến đề tài nghiên cứu Đây

là nguồn tư liệu giúp chúng tôi rất nhiều trong quá trình hoàn thành luận văn

Thứ ba là trong quá trình thực hiện luận văn của mình, chúng tôi đãtrực tiếp tiến hành nhiều cuộc điền dã, gặp gỡ trao đổi với các cụ già tronglàng Đây là nguồn tư liệu bổ trợ quan trọng giúp chúng tôi có cái nhìn đầy đủhơn về “Lịch sử văn hóa làng Đồn Điền, xã Quảng Thái, huyện QuảngXương, tỉnh Thanh Hóa từ thế kỉ XV đến nay”

4.2 Phương pháp nghiên cứu.

Trong quá trình nghiên cứu và trình bày luận văn, chúng tôi chủ yếu sửdụng phương pháp lịch sử và phương pháp logic Ngoài ra chúng tôi còn sử

Trang 10

dụng phương pháp điền dã, phỏng vấn, phương pháp so sánh, tổng hợp, thống

kê, gặp gỡ các nhân chứng lịch sử nhằm làm sáng tỏ những vấn đề mà đề tàiđặt ra

5 Đóng góp khoa học và giá trị thực tiễn của luận văn

Trình bày một cách có hệ thống về lịch sử hình thành và phát triển củalàng Đồn Điền từ thế kỷ XV đến nay

Hiểu được một cách toàn diện về làng văn hóa Đồn Điền trên lĩnh vựcđời sống văn hóa vật chất, đời sống văn hóa tinh thần, chỉ ra những đặc điểmchung và riêng của làng trong đời sống văn hóa vật chất và tinh thần trongsuốt gần 6 thế kỉ qua

Tập hợp tư liệu để tiếp tục nghiên cứu, đối chiếu

Góp phần nâng cao nhận thức về vai trò và tầm quan trọng của văn hóalàng đối với sự hình thành và phát triển của văn hóa dân tộc, làm phong phúthêm lịch sử địa phương, cung cấp nguồn tư liệu phục vụ nghiên cứu văn hóa,nghiên cứu lịch sử làng cổ xứ Thanh

Là tài liệu biên soạn, giảng dạy giáo dục lịch sử địa phương

6 Bố cục của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục,nội dung chính của luận văn gồm 3 chương:

Chương 1: Làng Đồn Điền – quá trình hình thành và phát triển

Chương 2: Đời sống văn hóa vật chất của làng Đồn Điền

Chương 3: Đời sống văn hóa tinh thần, tôn giáo tín ngưỡng

Trang 11

NỘI DUNG Chương 1:

LÀNG ĐỒN ĐIỀN – QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN 1.1 Khái quát địa lí tự nhiên

1.1.1 Vị trí địa lí

Quảng Thái là một xã vùng biển bãi ngang của huyện Quảng Xương,cách trung tâm huyện 12km về phía Đông Nam: phía Bắc giáp xã Quảng Lưu,Quảng Hải; phía Nam giáp xã Quảng Lợi; phía Tây giáp xã Quảng Lưu,Quảng Lộc, Quảng Lợi; phía Đông giáp biển với chiều dài bờ biển là 4,8km.Quảng Thái hiện nay gồm có mười thôn làng Đồn Điền bao gồm 7 thôn

từ thôn 1 – thôn 7, trong đó một nửa thôn 7 thuộc về làng Điền Vượng ĐồnĐiền là một làng nằm về phía Đông thuộc vùng duyên hải Quảng Xương; làmột trong hai làng cổ của xã Quảng Thái ngày nay: phiá Bắc giáp làng YênNam xã Quảng Hải; phía Tây giáp các làng Lưu Huyền, Lịch Giang, MậuXương xã Quảng Lưu; phía Nam giáp làng Hà Đông thuộc bản xã; phía Đônggiáp biển Đây là một vùng đồng bằng duyên hải, địa hình đất đai tương đốibằng phẳng, hệ thống giao thông thuận tiện

1.1.2 Địa hình, đất đai

Xã Quảng Thái có một địa hình đặc biệt hình chữ nhật, dọc bờ biển làcác cồn cát: Cồn Dôn, cồn cát ông Báu (ở phía Nam), cồn cát Ngõ Trại ( ởbản xã), cồn cát Hà Đông ( ở phía Nam), được trồng các dãy phi lao làm phêndậu chắn gió, chắn sóng và chắn cát Trong kháng chiến chống Mỹ nơi nàycòn được xây dựng làm các chận địa tên lửa,pháo, các trạm quan sát ven biểntrong hệ thống phòng thủ bảo vệ Tổ quốc của tỉnh Thanh Hóa Địa hìnhQuảng Thái dài gần 5km theo hướng Bắc Nam, với chiều ngang chỉ hơn 1km,lại bị cắt dọc bởi một con sông nhỏ gọi là sông Rào tạo thành hình lòng chảo

Trang 12

ngăn cách phía Đông và phía Tây Vùng đất cao là nơi tập trung của dân cư;vùng đất thấp dọc con sông Rào là vùng cấy lúa nước và trồng hoa màu.

Làng Đồn Điền là một vùng đồng bằng duyên hải, địa hình tương đốibằng phẳng, giao thông thuận tiện Con sông Rào đã chia làng thành mạn bể

và mạn đồng; dân mạn đồng làm nghề nông, còn mạn bể khai thác cá biển ởvùng bãi ngang.[15;3]

1.1.3 Sông ngòi

Làng Đồn Điền nói riêng và xã Quảng Thái nói chung có con sông Ràochạy dọc bờ biển, chia làng và xã thành hai vùng: vùng đồng bằng và vùngbiển Đây là con sông đào có từ thời nhà Lê, phục vụ cho việc gao thông vàphòng thủ ven biển qua các triều đại phong kiến Hiện nay con sông nhà Lê

đã mất tác dụng về giao thông, chỉ có chức năng tiêu úng khi bão lụt xảy ra.Trong dân làng Đồn Điền vẫn lưu truyền bài thơ ca ngợi về con sôngRào như sau:

“ Con sông chẳng rõ hai bờKhách qua chẳng phải đợi chờ chi lâuChẳng phải là con sông sâuChẳng mơ tưởng được cây cầu cao sangCon sông làng chảy qua làngCái tên gọi cứ ngang ngang thế nàoMới nghe hai tiếng sông Rào

Ai không ngại nổi ra vào khó khănBên sông hai bãi cát cằn

Dễ mà kiếm được miếng ăn với trời Con sông tội nghiệp lắm thôi

Trang 13

Trời không có chút xa bồi mảy may

Đi mà hỏi khắp Đông Tây

Có nơi đâu lại cuốc cày dưới sôngTiếng là chung biển chung sông

Mà sao hai cảnh ngư nông tách rờiThôi thì chẳng biết về đâuGặp nhau nối lại nhịp cầu giao duyên

Làm chi tắt lửa tối đènLàm chi chia cắt hai bên rạch ròiDòng đời vẫn cứ miên manChuyện làng tôi để cả làng bàn thêmDần dần biển lặng sóng êmCon sông Rào lại giàu thêm đôi bờ” [15;5]

Nguồn nước sinh hoạt của bà con trong làng được lấy từ mạch nướcngầm và nước thiên nhiên

1.1.4 Đất đai

Quảng Thái có tổng diện tích tự nhiên là: 404,2ha trong đó:

Diện tích canh tác là: 180,2ha

Trang 14

Đất đai Quảng Thái chia làm hai vùng rõ rệt ; vùng đất cát ven biển làvùng đồng rất thích hợp với trồng lúa, đất cát dễ thấm nước, tơi xốp thích hợptrồng các loại rau màu và cây công nghiệp ngắn ngày Đất pha cát có độ PHvừa phải, có độ phì cao phù hợp trồng lúa cho năng suất cao.

1.1.5 Khí hậu

Ở làng Đồn Điền cũng như xã Quảng Thái cũng mang đặc điểm khí hậutương tự các vùng biển Thanh Hóa lân cận Khí hậu gió mùa, trong năm cóhai đợt rõ rệt: gió mùa Đông Bắc bắt đầu từ tháng 9 âm lịch đến tháng 2 âmlịch năm sau ;gió mùa Đông Nam từ tháng 3 âm lịch tới tháng 8 âm lịch hàngnăm Đây cũng là vùng đất thuộc vùng khí hậu chuyển giao giữa khí hậu miềnBắc với khí hậu miền Nam, nhưng mang tính chất của miền Bắc nhiều hơn

1.2 Sự hình thành và phát triển của làng Đồn Điền

1.2.1 Lịch sử hình thành và phát triển của làng Đồn Điền

1.2.1.1 Sự ra đời làng Đồn Điền

Dưới các triều đại Lý - Trần, chính sách "ngụ binh ư nông" đã đượcthực hiện nhưng phải tới khi Lê Thánh Tông lên ngôi, chính sách này mớithực sự được xác lập trên văn bản và thi hành rộng rãi Chính sách "ngụ binh

ư nông" tức là chính sách gửi binh ở nhà nông trong tiết binh nhàn, một mặtvừa tăng gia sản xuất ở nông thôn trong những ngày vụ mùa, mặt khác còngiảm bớt chi phí cho hoạt động quân sự của nhà nước phong kiến phải trảhàng năm cho lực lượng quốc phòng an ninh, đồng thời xây dựng được một

tiềm lực quân sự lớn mạnh, dễ dàng ứng chiến khi đất nước lâm nguy Đại

Việt sử ký toàn thư viết: ngày 21 tháng 05 năm 1481(Tân Sửu), vua ra chiếu

lập sở đồn điền "mở đồn điền là dùng hết tiềm lực của nghề nông, mở nguồntích trữ cho Nhà nước nay định cho các xứ định đồn điền thành ba bậc:thượng , trung, hạ" [28;487 ] Ch.Robeqauin - chánh sứ Thanh hóa một thời

đã ghi lại trong cuốn "Le Thanh Hóa" như sau: "Từ các truyền thuyết nói lên

Trang 15

việc lập ấp, một người tên là Tô Chính Đạo đã lập làng Đồn Điền trên bờ biển Quảng Xương (tổng Thủ Chính) năm 1473 Tuy vậy, các bãi lầy chạy dài

về phía Tây, các cồn cát ven biển là nơi dựng làng được biến thành ruộng đất Cũng ông này được hưởng đất đai khai phá ở các làng Tào Lâm (huyên Nông cống, tổng Hữu Dinh), làng Mai Xuyên( huyện Đông Sơn, tổng Tuyên Hóa), làng Tiền Thịnh( huyện Quảng Xương, tổng Thái Lai)" Vào giai đoạn

này, sở Đồn Điền cũng là một trong nhiều sở dồn điền được thành lập chuyên

lo việc chiêu mộ dân lưu vong,binh lính phạm tội, những kẻ tội đồ về các sởđồn điền để khẩn hoang những vùng đất chưa được khai phá Trước khi vềđây khai phá, hai ông Uông Ngọc Châu và Tô Chính Đạo là những người cầmquân đánh giặc Chiêm Thành cùng vua Lê Thánh Tông (1470) Bởi thế mà

khởi nghiệp vùng đất này là một "binh điền" Sau khi đánh thắng quân Chiêm Thành trở về (1472), hai ông phụng mệnh "thiên tử" cùng với đông đảo binh

lính dưới trướng và chiêu mộ them các lưu dân, lưc lượng tù binh và nhữngngười tội đồ đến vùng đất phía Nam huyện Quảng Xương khai phá đất hoangvạc vỡ cồn cát ven biển lập thành làng xóm, ruộng đồng Tổng diện tích khai

phá lúc này được xác định là: "132 mẫu 5 sào 5 thước 5 tấc, do khâm sai Nội

giám tổng tham tri giám sát Vũ Trung Kiên cai đại thần vâng sai đo" [21;13]

Ngày nay, diện tích đát trên đã có sự thay đổi bởi quá trình canh tác và

sự biến đổi của điều kiện tự nhiên theo năm tháng, các vùng đất đai có phầntrở nên mầu mỡ, bằng phẳng hơn trước nhiều Dấu tích còn lưu lại trong cáctên cánh đồng mà nhân dân vẫn quen gọi như: Mả Làng, Ngõ Trại, Đình NhỉNội, Đình Nhỉ Ngoại, Cồn Gạch, Bàn Cờ, Bờ Chay, Bái, Lũy, Bế, Ao Chua,Bến Tăm, Ngõ Lậy,

Như vậy, làng Đồn Điền dược thành lập là kết quả của chính sách " khaihoang lập đồn điền" dưới thời Lê sơ Hai bậc tiên hiền có công khai ấp lậplàng là hai vị tướng thời Lê Thánh Tông là Uông Ngọc Châu và Tô ChínhĐạo Sau khi hai ông qua đời, dân làng tưởng nhớ công lao của các vị mà lập

Trang 16

đình thờ Đến triều vua Khải Định "1916 - 1925", hai ông dược sắc phong làthành hoàng làng Đồn Điền, được dân làng thờ phụng tại đình/đền Đồn Điềnngày nay.

1.2.1.2 Lịch sử phát triển của làng Đồn Điền

Qua các công trình nghiên cứu của nhiều học giả và các tư liệu lịch sửcòn lưu lại, chúng tôi được biết: làng Đồn Điền ngày nay được chia thành bẩythôn ( riêng thôn 7 có phân nửa thuộc ấp Điền Vượng) Đây là một làng Việt

cổ, với lịch sử lập làng đến nay đã 528 năm (nếu lấy mốc là năm 1473) [20;

114 ] Trước khi mang tên làng Đồn Điền như ngày nay, vùng quê nơi đây đãđược bàn tay con người xây đắp trong nhiều thế kỷ Từ ngàn xưa, nơi đây đãngắn bó với cát, với gió, với biển cả mênh mang, một mặt giáp biển, còn lại làđồng bằng, nên vùng đất này vừa mang đặc điểm của biển, vừa mang đặcđiểm của đồng bằng Ngay từ thời phong kiến, các bậc vua chúa đã nhận thấynhững vùng đất ven biển là một trong những nơi " nảy sinh tình yêu và níugiữ chân người", xây dựng kinh tế ở các vùng này không chỉ giải quyết vấn đềlương thực mà còn là phên dậu của đất nước và mở mang bờ cõi nếu có cơhội Dưới triều Lê, kinh tế nước nhà có nhiều thay đổi, cuộc sống người dânkhá đầy đủ ấm no

" Đời vua Thái Tổ Thái Tông,Thóc lúa đầy đồng, trâu chẳng buồn ăn."

Dưới thời Lê sơ đã có nhiều biện pháp phục hồi xây dựng kinh tế, trong

đó triệt để thực hiện chính sách huy động quân đội, tù binh, lưu dân khai pháđất đai lập đồn điền Làng Đồn Điền ra đời trên cơ sở của chính sách này dướithời Lê Thánh Tông

Để hiểu chi tiết về lịch sử của vùng đất này, chúng tôi xin được đề cập tới

sự thay đổi địa giới hành chính, tên gọi trên huyện Quảng Xương : Ban đầu

có tên Kết Duyệt ( Kết Thuế), Duyên Giác, Vĩnh Xương Vào năm Quang

Trang 17

Thuận thứ 10, Lê Thánh Tông đổi thành huyện Quảng Xương - tên gọi QuảngXương chính thức từ đây, cùng với Nông Cống, Ngọc Sơn do phủ Tĩnh Gia( Tĩnh Ninh) kiêm lãnh Đến thời Nguyễn Quảng Xương vẫn thuộc phủ TĩnhGia, gồm 4 tổng: Thủ Hộ, Lưu Vệ, Thái Lai và Giặc Thượng Đồn Điền sởlúc này thuộc tổng Thủ Hộ Đến trước cách mạng tháng Tám 1945, huyệnQuảng xương có 7 tổng: Cung Thượng, Lưu Thanh, Vệ Yên, Thái Lai, ThủChính, Văn Chinh, Ngọc Đới Sở Đồn Điền lúc này lại thuộc tổng Thủ Chính[28; 117 ] Đến cuối triều Nguyễn Đồn Điền sở được đổi thành làng ĐồnĐiền Sau này làng Đồn Điền được đổi thành xã Đồn Điền Năm 1946, làngĐồn Điền lại thuộc xã Diên Hồng Tháng 4 năm 1948, sát nhập vào QuảngLộc Năm 1954, thành lập xã Quảng Thái gồm hai thôn: Đồn Điền và HàĐông [4; 118 ] Nhưng tư liệu lịch sử cổ tồn tại dưới dạng văn bản viết vềlàng Đồn Điền còn rất ít, một phần vì đây là vùng đất xa xôi so với chốn kinhthành, dân cư lại ít, mặt khác trong quá trình lịch sử có nhiều biến động: chiếntranh, thiên tai,dich họa,đói nghèo, … Vì vậy, tài liệu chỉ còn tìm thấy ở mộtvài cuốn gia phả của các dòng họ, trong trí nhớ của nhân dân, ở dạng văn bảncó: “ Le Thanh Hóa” của Ch.Robequain, “ Lịch sử Thanh Hóa”, … Vấn đề sửliệu của làng Đồn Điền dưới thời phong kiến ( từ khi lập làng đến trước cáchmạng tháng 8 năm 1945), đang còn là một câu hỏi lớn May mắn còn có một

số tư liệu được lưu giữ,chẳng hạn Tô Hoài Chương trong bài viết có đăngthông tin dựa vào gia phả dòng họ như sau: “ Hậu duệ đời thứ 3 của ông TôChính Đạo là ông Tô Trung Thành cầm đầu đạo quân của trấn thừa tuyên từNghệ An đến Thuận Quảng” [10; 94] Theo lịch sử đền Đồn Điền: “ ông TôTrung Thành là cháu 4 đời của Tô Văn Bảo, Tô Chính Đạo Khi chiếu CầnVương ban ra, hậu duệ đời thứ 10 của ông Tô Chính Đạo là hai ông: Tô ĐứcThuận và Tô Quang Chiểu tham gia đội ngũ Cần Vương tại vùng phía Namhuyện Quảng Xương” [21; 99]

Dưới chế độ thực dân nửa phong kiến, cũng như bao người dân xứ kháctrên quê hương Việt Nam, người dân làng Đồn Điền phải chịu cảnh đè đầu

Trang 18

cưỡi cổ, áp bức, bóc lột của bọn thực dân, bọn địa chủ, bè lũ tay sai Một vài

cụ già còn nhớ rất rõ hình ảnh những ngày bắt lính, đi phu,…gian lao, khổ ải.Người dân nghèo lại càng nghèo hơn, bọn cường hào lại càng lộng hành bắt

bẻ, đục khoét dân đen Trong nhân dân nơi đây vẫn thường truyền nhau câu: “bẩm lậy quan lớn, con dân ngu, khu đen, con ở Đồn Điền, cu con liền vớidái” Phản ánh sự cực khổ của người dân trước sự cửa quyền của bọn quanchức

Khi chiếu Cần Vương truyền ra muôn nơi, hòa cùng với nhịp đập củacác thân hào văn sỹ trong cả nước, các nhà nho yêu nước và dân chúng ở làngĐồn Điền cũng hăng hái tham gia các phong trào yêu nước trong vùng Tiêubiểu có các nhà nho: Tô Đức Thuận, Tô Quảng Chiểu

Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời (03/02/1930), nhân dân Đồn Điềnhưởng ứng rộng rãi, mạnh mẽ những lời kêu gọi đã: tích cực tham gia học chữquốc ngữ,tham gia rải truyền đơn,…ngay sau khi thưc dân Pháp quay lại xâmlược, nhân dân làng Đồn Điền đã góp sức cùng toàn thể nhân dân trong cảnước quyết tâm bảo vệ nền độc lập nước nhà Năm 1945, trong nạn đói mà cảnước phải gánh chịu, tại xã Quảng Thái nạn đói đã cướp đi 230 người, riênglàng Đồn Điền nạn đói cướp mất 170 nhân khẩu Nhiều gia đình bị chết đói từ

02 – 03 người, thậm chí có gia đình bị xóa sổ Vượt lên trên cái khổ, dân làngnơi đây đã tham gia lập hũ gạo tiết kiệm, tăng gia sản xuất, chia sẻ bát cơmmanh áo, khôi phục lại nghề đánh cá, đi biển, hưởng ứng các phong trào

“chống giặc dốt”, “chống giặc ngoại xâm” Nhân dân tham gia các phong tràorất mạnh mẽ, tiêu biểu có các ông: Phạm Trọng Bài, Nguyễn Văn Ngưỡn, ôngVang, ông Mão, ông Hinh,…là những người tham gia cho phong trào bìnhdân học vụ Để chống giặc ngoại xâm, ở địa phương mọi người đào hào,đắp

ụ, luyện tập súng mác,…thanh niên trong làng đăng kí vào “vệ quốc đoàn”.Cách mạng Tháng Tám, có nhiều trí thức, thanh niên, học sinh Quảng Thái

Trang 19

tham gia giănh chính quyền huyện Quảng Xương văo đím 19/08/1945 doViệt Minh tỉnh,huyện lênh đạo.

Văo giai đoạn cuối của cuộc khâng chiến chống Phâp, dđn lăng thamgia văo đoăn xe thồ lương thực, dđn công hỏa tuyến, dđn quđn du kích Điểnhình có: ông Tô Ngọc Gănh gânh 100kg gạo, ông Lí ngọc Mđy thổ 200kggạo – được khen tặng Huđn chương khâng chiến hạng 3 Nhđn chứng sống lẵng Tô Ngọc Đu vâc 115kg (hiện đang trú tại thôn 3) vă có con lă liệt sĩ TôNgọc Trầu Trong cuộc chiến với thực dđn Phâp, nhđn dđn Quảng Thâi thamgia 2.500 lượt người, có người đi 02 – 03 lượt trong đó có: 45 người lă bộđội, liệt sĩ 09 người, thương binh co 03 ngưởi, còn lại lă dđn công hỏa tuyến,dđn quđn du kích Toăn xê được khen thưởng 34 huđn chương khâng chiếncâc loại.[ 15; 13]

Sau khi miền Bắc giănh lại hòa bình, tiến hănh cải câch ruộng đất, xđydựng chủ nghĩa xê hội, bă con lăng Đồn Điền cũng hăng hâi hưởng ứngphong trăo năy Trong đợt cải câch ở địa phương cũng đê chia ruộng đất chodđn căy, cho những người có công với khâng chiến Song cũng xảy ra nhữngsai lầm đâng tiếc: đấu tố nhầm; quy sai thănh phần địa chủ; xử bắn một sốngười có công với câch mạng như: ông Chữ, bă Cúc [16; 7]; lăm mất danh dựcủa một số câ nhđn,…nhưng Đảng bộ xê, thôn đê kịp thời sửa sai, chỉnh đốn.Năm 1960, xê Quảng Thâi thănh lạp câc hợp tâc xê, trong đó tập trung ở lăngĐồn Điền như: Điền Thượng, Điền Bắc, Điền Hai, Điền Đông, Điền Tđn Từnăm 1965 – 1972, quđn Mỹ leo thang bắn phâ miền Bắc, Quảng Thâi khôngphải lă vùng bắn phâ trọng điểm nhưng lại liín tiếp bị ảnh hưởng năng nề,đồng thời địa phương cũng lă nơi có địa hình thuận lợi để dđn quđn du kích tađặt câc trận phâo kích đânh trả quđn thù Dấu tích để lại ngăy nay lă nhữnghầm phâo nằm quay mặt về phía biển thuộc thôn 1 vă thôn 2 hiện nay

Ngoăi ra xê còn tổ chức trận địa trín biển kết hợp với nhđn dđn câclăng xung quanh (lăng Hă Đông, lăng Lưu Huyền), câc xê: Quảng Lộc,

Trang 20

Quảng Hải, Quảng Bình, Quảng Lợi, Quảng Đại Năm 1967, quân dân xãQuảng Thái tổ chức 03 trận địa pháo có sự kết hợp với quân dân xã QuảngĐại, bắn máy bay bằng súng bộ binh Một trận địa được tổ chức ở làng ĐồnĐiền, gồm 20 tay súng được trang bị kèm theo 02 khẩu đại liên, 04 khẩu trungliên, còn lại là súng trường Lực lượng đội cứu tải thương có 20 người, độicông binh cứu sập hầm gồm 35 người [15; 14] Nhân dân chiến đấu với tinhthần “tay lưới, tay súng”, nhiều thuyền bè đánh cá của ngư dân đượ trang bị

vũ khí và ngụy trang cẩn thận khi đi trên biển, vùa đánh trả giặc trên biển vừagiúp đỡ bộ đội khi đi biển gặp nạn Ngoài ra, nhân dân còn thành lập các tổchức: thiếu niên, phụ nữ, bô lão,…cũng đóng góp sức mình vào cuộc chiếnkhông cân sức với bọn đế quốc Mỹ

Xã Quảng Thái, ngày nay được chia làm 10 thôn, theo cách gọi trướcđây, làng Đồn Điền đã chia thành 7 thôn (trong đó nửa thôn 7 thuộc về ĐiềnVượng) Diện tích làng Đồn Điền trước đây chiếm tới hai phần ba diện tíchtoàn xã

1.2.2 Đăc điểm cộng đồng cư dân ở Đồn Điền

Từ thế kỷ XV, Lê Thánh Tông đã ban hành chiếu lập các đồn điền, mộtmặt nhằm giảm gánh nặng cho nhà nước phong kiến trong việc nuôi quân,mặt khác góp phần phát triển kinh tế đất nước, tạo đời sống ổn định cho ngườidân Trong hoàn cảnh ấy, làng Đồn Điền được thành lập cùng với tiếng sóng

vỗ ngàn năm không thôi vào rặng phi lao và bờ cát trắng, sở đồn điển từ một

“binh điền” đã trở thành vùng đất thu hút đông đảo cư dân tới ngụ cư Theo sốliệu điều tra năm 2000, làng Đồn Điền đã có tới 7973 nhân khẩu Ban đầu cưdân ở đây là dân góp “tứ chiêng”, nhưng với lịch sử cư trú hằng trăm năm,ngày nay cư dân nơi đây có những đặc điểm cơ bản sau:

So với các làng quê khác ở huyện Quảng Xương và các vùng miềnkhác của đất nước, làng Đồn Điền là một làng “Việt cổ” Dựa vào bản danhsách thống kê chưa đày đủ dưới đây do ông Tô Xuân Thanh (cư trú tại thôn 3

Trang 21

cung cấp) về nguồn gốc các dòng họ về làng Đồn Điền sinh cơ lập nghiệp cụthể:

- Thời Lê Thánh Tông : ( 1460 – 1497 )

+ Họ Tô: Do ông Tô Văn Bảo (tự là Tô Chính Đạo), người làng BaoHàm nay thuộc tỉnh Thái Bình di cư tới

+ Họ Uông: Do ông Uông Ngọc Châu, người vườn Đào di cư tới

- Thời Lê Huyền Tông: ( 1662 - 1671 )

+ Họ Trịnh: Do ông Trịnh Vân, người Tào Xuyên – Hoằng Hóa –Thanh Hóa di cư tới

+ Họ Tào: Do ông Tào Mai, người Tào Xuyên – Hoằng Hóa – ThanhHóa di cư tới

+ Họ nguyễn: Do ông Nguyễn Lương Đồng, người Hà Tĩnh di cư tới(sinh ra ông Nguyễn Lục)

- Thời Lê Hiển Tông: ( 1740 – 1786 )

+ Họ Lê: Do ông Lê Ngọc Tố, người Đại Điền – Từ Quang – HoằngHóa – Thanh Hóa di cư tới

+ Họ Phạm: Do ông Phạm Văn Thiên, người làng Núi – Quảng Xương– Thanh Hóa di cư tới

+ Họ Cao: Do ông Cao Văn Nghề, người làng Hới – Quảng Xương di

cư tới

- Thời Quang Trung: ( 1786 – 1792)

+ Họ Trương: Do ông Trương Đinh Tấm, người Phố Xá – QuảngXương – Thanh Hóa, di cư tới

+ Họ Lê : Do ông Lê Đình Hòa, người Bát Căng – Nam Cai – ThọXuân – Thanh Hóa di cư tới

Trang 22

+ Họ Ngô : Do ông Ngô Văn Tấn, người Vạn Chài – Thanh Hóa, di cưtới.

Trang 23

Hoạt động kinh tế và thành phần xã hội của cư dân Đồn Điền cũng rất

đa dạng, phong phú Hoạt dộng kinh tế, làng Đồn Điền chủ yếu dong thuyềncưỡi sóng ra khơi đánh cá và một số hoạt động kinh tế khác Bộ phận cư dânhoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp không đáng kể Đặc điểm nổi bật nơiđây là hoạt động kinh tế nông nghiệp xen lẫn ngư nghiệp Cho nên, ở làngĐồn Điền trong một gia đình bố và con trai đi đánh cá, còn mẹ và con gái đilàm ruộng, những lúc biển động cả nhà lại tham gia làm nông nghiệp Bởivậy, nghề đi biển chỉ là nghề phụ trong kinh tế gia đình, còn nghề nông làchính Ngày nay, với thiết bị kỹ thuật và công cụ khai thác đánh bắt cá gần –

xa bờ được cải tiến, hoạt động khai thác cá biển trong vùng không còn là hoạtđộng kinh tế nhỏ lẻ manh mún Nhiều gia đình trong thôn đã mạnh dạn đầu tưthiết bị đánh bắt, học cách nuôi trồng thủy hải sản, nên ngư nghiệp không còn

là nghề ”trái tay” trong thôn xã Nó đã trở thành một thành phần quan trọngtrong nền kinh tế hộ gia đình, vì mang lại thu nhập cao

Tiểu kết chương 1

Làng Đồn Điền xã Quảng Thái là một làng cổ ở ven biển thuộc huyệnQuảng Xương – Thanh Hóa, ngay từ buổi đầu lập làng bên cạnh những điềukiện tự nhiên thuận lợi, cư dân Đồn Điền cũng thường xuyên đối mặt với khókhăn mang lại từ thiên nhiên như: lũ lụt, sóng thần, bão… Mặc dù vậy, cư dânnơi đây đã không ngừng lao động sáng tạo, đoàn kết gắn bó ổn định cuộcsống với hai nghề chính là nông nghiệp và ngư nghiệp

Từ khi ra đời đến bây giờ có những thời điểm làng Đồn Điền là nơi đơn

vị hành chính của các xã khác nhau nhưng có một điểm đặc sắc đó là: tên làngĐồn Điền chưa bao giờ bị thay đổi Tên gọi của làng gắn liền với một chủtrương, chính sách tiến bộ thời Lê sơ, đó là: huy động quân đội, tù binh, lưudân khai phá đất đai lập đồn điền

Làng Đồn Điền được thành lập vào thế kỷ XV dưới thời Lê Thánh Tông,xuất phát từ một binh điền cùng với những điều kiện thuận lợi về vị trí địa lý,

Trang 24

địa hình đất đai… nơi đây đã trở thành vùng đất thu hút nhiều cư dân đến ngụ

cư Ở Đồn Điền có đến 30 dòng họ khác nhau trong đó có một số dòng họ lớntrong làng như: họ Tô, họ Uông, họ Trần

Trải qua gần 6 thế kỷ, trong quá trình cộng cư với nhau, cư dân làng ĐồnĐiền đã xây dựng được truyền thống tốt đẹp đậm đà bản sắc dân tộc nhưngvẫn mang nét đặc sắc riêng của mảnh đất đầy chất lịch sử này Họ đã cùngnhau đoàn kết gắn bó, chia ngọt sẻ bùi, giúp đỡ nhau lúc nghèo khổ động viênnhau khi khó khăn cùng đoàn kết xây dựng một xóm làng xanh tươi kiểu mẫugiàu về kinh tế, mạnh về chính trị, góp phần làm tô đẹp hình ảnh của làng quêViệt Nam trong giai đoạn cách mạng mới

Trang 25

Chương 2:

ĐỜI SỐNG VĂN HÓA VẬT CHẤT CỦA LÀNG ĐỒN ĐIỀN

Đồn Điền là một làng Việt cổ của xứ Thanh – nơi đây có bề dày về vănhóa, được hun đúc và trải nghiệm qua một thời gian dài của lịch sử Vì vậy,làng Đồn Điền có diện mạo văn hóa vật chất đa dạng phong phú bên cạnhnhững giá trị tinh thần mang đậm bản sắc văn hóa làng

2.1 Đời sống kinh tế

Từ xa xưa làng Đồn Điền có hai nghề chính là: làm ruộng và đánh cá,ruộng đất ít lại nghèo cho nên dân chủ yếu đi làm thuê trong vùng, nghề cáđơn giản chỉ là nghề gõ bè, lưới cước, giã moi khai thác vùng lộng không cónghề khôi, người dân phần lớn đi đánh cá thuê, cuối ngày người chủ cho thuêđược một nửa, người làm thuê được một nửa sản phẩm Nhân dân rất khổ cực

2.1.1 Nông nghiệp.

2.1.1.1 Trồng trọt

Từ bao đời nay ở nước ta, trồng trọt bao giờ cũng là nghề thiết yếu,chiếm vai trò chủ đạo trong đời sống nhân dân Chính bởi vậy, hầu hết đất đaikhai phá được qua từng thời kỳ lịch sử đều được người nông dân sử dụng đểcanh tác Lúa là loại cây trồng chủ yếu trên các cánh đồng, chỉ những nơikhông trồng lúa được thì mới trồng dành trồng các loại cây khác để tăng năngsuất, cải thiện đời sống

Kết hợp lịch sử truyền miệng với tra cứu các tài liệu hiện còn lưu giữtại Uỷ ban nhân dân xã Quảng Thái cho thấy, Đồn Điền là một trong nhữnglàng nghèo thuộc ven biển Quảng Xương Diện tích đất canh tác nông nghiệpthuộc loại ít, trước cải cách ruộng đất, làng Đồn Điền chỉ có 11 hộ có từ 1 – 2mẫu, còn lại mỗi hộ nông dân chỉ có 2 – 3 sào, hộ tá điền không có đất sảnxuất chiếm 25 – 30% Hiện nay, bình quân đất canh tác của mỗi nhân khẩu ở

xã Quảng Thái là 1/3 sào

Trang 26

Chế độ chuyên canh cây lúa từ lâu đã cho thấy đây là loại cây lươngthực duy nhất có thể trồng liên tục hàng thế kỷ trên cùng một thửa ruộng màkhông cần luân canh và hàng năm lại cung cấp một lượng đạm dinh dưỡngđáng kể Trong cuộc sống hàng ngày của người nông dân, lúa gạo khôngnhững là nguồn lương thực chính mà còn là nguyên liệu dùng để nấu rượu vàlàm các loại bánh Do vậy, cây lúa chi phối hầu hết các hoạt động nôngnghiệp ở nông thôn Công việc thường ngày của người nông dân hầu nhưxoay quanh vụ lúa và họ phải dành khá nhiều thời giưn để chăm sóc loại câynày.

Quy trình trồng lúa trải qua rất nhiều công đoạn và đòi hỏi sự chăm sócthường xuyên cũng như kinh nghiệm được đúc rút qua nhiều năm của ngườicanh tác Bắt đầu từ khâu gieo mạ đến nhổ mạ đem đi cấy lúa, làm cỏ và cuốicùng là chăm sác ruộng cấy Tùy theo từng công đợan mà có những yêu cầu

cơ bản khác nhau Trong đó cấy lúa là quan trọng nhất, bởi lẽ theo quan niệmcủa người nông dân, ở công đoạn này họ phải chú ý đến ba phương thức quantrọng : thời vụ cấy, mật độ cấy và phương pháp cấy Chăm sóc ruộng cấy làcông đoạn cuối cùng song cũng là khâu mà người nông dân phải mất nhiềuthời gian nhất Tùy theo mức độ chăm sóc ( không kể đến thời tiết ) mà năngsuất đạt được cao hay thấp

Công cụ nông nghiệp đóng vai trò thiết yếu trong sản xuất Bởi vậy,trong mỗi gia đình tiểu nông thường có một bộ công cụ nông nghiệp vớinhiều kiểu loại khác nhau Cùng với những tiến bộ khoa học kỹ thuật, việcđưa máy móc vào đồng ruộng trở nên hết sức cần thiết làm thay đổi cơ bản bộmặt nông thôn Hiện nay, nông nghiệp ở làng Đồn Điền đã có sự cơ giới hóarất cao, người nông dân đỡ phần khó nhọc như: máy cày, máy đập lúa

Về mùa vụ cấy lúa: Ở Đồn Điền hiện nay mỗi năm có 3 vụ: 2 vụ lúa( vụ mùa và vụ chiêm ), 1 vụ màu ( chủ yếu là trồng khoai lang ) Năng suấtsản lượng lương thực phụ thuộc lớn vào thời tiết hàng năm; theo chứng kiến

Trang 27

của nhiều người dân hầu như ở địa bàn này chỉ thu hoạch được một vụ chiêmxuân, do vụ mùa thường xuyên bị ngập úng.

Bên cạnh việc chuyên canh cây lúa thì trong phạm vi khuôn viên nhà ở

sự phân bố đất đai sử dụng khá hợp lý Trên một mảnh đất rộng, ngoài ngôinhà để ở, người dân tận dụng quỹ đất để trồng các loại rau, hoa quả Các loạirau ăn rất phong phú và đa dạng như: rau cải, rau mồng tơi, xu hào…hoặc tùytheo diện tích đất mà trồng thêm các loại cây ăn quả như: na, ổi, mít…Trêndiện tích nhất định của khu vườn, người dân trồng xen lẫn nhiều loại cây khácnhau Trong khuôn viên nhà ở làng Đồn Điền, thường rất ít nhà có ao, nướctưới cho cây cối trong vườn chủ yếu là nước lấy từ máy bơm, hầu như nhànào có vườn cũng đều có máy bơm nước tưới

Ngoài chăn nuôi gia súc, cư dân Đồn Điền còn chăn nuôi các loại giacầm, thủy cầm khác như gà, vịt, ngan, ngỗng Hình thức nuôi chủ yếu là làmchuồng và cho ăn thức ăn chăn nuôi, thụ phẩm từ trồng trọt Chăn nuôi giacầm chủ yếu cho mục đích làm thực phẩm để cải thiện bữa ăn trong gia đình

Trang 28

Tóm lại, do điều kiện sản xuất khó khăn, sản xuất nông nghiệp ở làngĐồn Điền mang tính tự cung, tự túc, tự cấp với cây trồng chủ yếu là cây lúanước và cây khoai lang Tuy nhiên trong thời gian gần đây, với sự quan tâmsâu sắc của chính quyền địa phương tới công tác thủy lợi, việc áp dụng cơgiới hóa, kỹ thuật thâm canh vào sản xuất sản lượng lương thực đã khôngngừng tăng lên Ngoài ra, để tăng thêm thu nhập cũng như phục vụ cho cuộcsống của chinh ngươi dân nơi đây, việc trồng thêm các loại nông sản khác làrất cần thiết bên cạnh đó, người dân Đồn Điền còn chăn nuôi gia súc, gia cầm

để tận dụng nguồn sức kéo, phân bón cũng như đáp ứng nhu cầu nâng caochất lượng cuộc sống

2.1.2 Thủ công nghiệp.

Để chống chọi với thiên nhiên khắc nghiệt và thiếu đất, phần lớn các hộdân ở Đồn Điền bố trí sản xuất theo kiểu đa nghề vừa làm ruộng kết hợp vớiđánh cá, thủ công nghiệp và thương nghiệp Trong lịch sử làng Đồn Điền đãtừng có giai đoạn thủ công nghiệp đóng vai trò quan trọng trong cơ cấu ngànhkinh tế và việc nâng cao mức thu nhập cho người dân ở địa phương

Thủ công nghiệp là ngành kinh tế hỗ trợ cho nông nghiệp; được hìnhthành trên cơ sở của các yêu cầu sản xuất nhằm thúc đẩy nông nghiệp pháttriển Thủ công nghiệp không phải là một ngành có truyền thống lâu đời ởlàng Đồn Điền cũng như ở xã Quảng Thái, nghề chính của nhân dân là làmruộng và đi biển Từ năm 1975, để hỗ trợ công ăn việc làm cho cư dân vùngbiển, liên hiệp hợp tác xã thủ công nghiệp đã ra đời đưa nghề chiếu cói trởthành nghề sản xuất chính của hợp tác xã thủ công Quảng Thái Hai hợp tác

xã thủ công đó là: hợp tác xã Thống Nhất và hợp tác xã Độc Lập đều thuộclàng Đồn Điền Lực lượng lao động chủ yếu là vợ con ngư dân, sản xuất thủcông nghiệp thời kỳ này đã trở thành một “cứu cánh” tạo nên đời sống ổnđịnh cho một bộ phận lớn cư dân, sản phẩm sản xuất mỗi năm đều tăng, kéotheo thu nhập lớn cho nhiều hộ Ở thời kỳ này, do sản xuất phát triển các hợp

Trang 29

tác xã thủ công nghiệp xây dựng được nhiều xưởng sản xuất và các công trìnhphúc lợi tập thể.

Từ khi thực hiện chỉ thị 100 của ban bí thư về khoán sản phẩm đếnnhóm và người lao động, vai trò của các hộ dân từng bước được phục hồi làmcho vai trò của các hợp tác xã ngày càng giảm sút Đặc biệt khi xóa bỏ chế độbao cấp đối lưu tlương thực thì các hợp tác xã nghề cá và hợp tác xã thủ côngnghiệp cung dẫn đến tan rã Nghề sản xuất cói đay theo đó cũng không cònnữa Thủ công nghiệp với vai trò là một ngành trong cơ cấu các ngành kinh tế

ở xã Quảng Thái chỉ còn trong quá khứ Mặc dù vậy, đối với mỗi người dânlàng Đồn Điền, nghề chiếu cói vẫn tồn tại trong họ với một niêm tự hào sâusắc như minh chứng cho sự thịnh đạt một thời

1959 Quảng Thái xây dựng hợp tác xã ở hai làng: Đồn Điền và Hà Đông Đếnnăm 1980 triển khai mở rộng, riêng làng Đồn Điền thành lập 7 hợp tác xã,mỗi đơn vị có trên 80 hộ; nhiệm vụ của hợp tác xã là vừa sản xuất nôngnghiệp vừa đánh bắt cá biển Xã viên trong hợp tác xã được phân thành cácđội sản xuất nông nghiệp, khai thác cá biển, chế biến, dịch vụ hải sản; ngoài

ra cũng chế biến cho tiêu dùng và gia công cho hợp tác xã

Bảy hợp tác xã ở làng Đồn Điền trong giai đoạn này: hợp tác xã ĐiềnBắc, hợp tác xã Điền Thượng, hợp tác xã Điền Hải, hợp tác xã Minh Thọ, hợptác xã Điền Đông, hợp tác xã Điền Tân, hợp tác xã Điền Vượng Riêng hợp

Trang 30

tác xã Điền Bắc có 35% số hộ có nghề biển và đưa đi tiêu thụ tại huyện NôngCống, Thọ Xuân, Thiệu Hóa vào từng xóm làng và thông qua các buổi họpchợ phiên Cũng thời kỳ này, một số lao động khai thác cá biển được nhànước cấp một định suất lương thực quy gạo là 21kg/ 1 tháng.

Từ khi tách hợp tác xã nông nghiệp bán nông bán - ngư thành hợp tác

xã ngư nghiệp ( 1970 ) nghề khai thác cá được bổ trợ vốn sắm phương tiện vàngư lưới cụ, cải tiến công cụ cải tiến công nghệ đánh bắt, đã nâng cao năngxuất giải quyêt việc làm cho một bộ phận lao động Trong 15 năm từ 1970 –

1985 các hợp tác xã nghề cá đã giải quyết việc làm cho khoảng 770 đến 820lao động, chiếm 85% số lao động trong các hộ ngư dân Tuy nhiên, dophương tiện là thủ công, chỉ khai thác bãi ngang, nguồn lợi ven bờ ngày càngcạn kiệt nên năng suất bấp bênh chất lượng và giá trị sản phẩm kém; việcquản lý sản phẩm rất khó khăn nên mức thu nhập của hợp tác xã thấp

Sau khi hợp tác xã tan rã, thuyền bè và các ngư cụ của hợp tác xã bị xé

lẻ, các hợp tác xã hóa giá bán cho bộ phận đáng kể tư nhân, chuyển thành các

bè mảng thô sơ Một số bộ phận đáng kể ngư dân không có tiền mua ngư cụmột số trở thành lao động làm thuê, một số khác trở nên thất nghiệp Từ năm

1993, được sự hỗ trợ của quỹ xóa đói giảm nghèo một số hộ đã đầu tư lắp đặtmáy đẩy công suất 6 – 8 cv cho bè mảng để đi xa hơn, năng suất khai thácđược tăng thêm

Hiện nay, kinh tế của nhân dân Đồn Điền đã từng bước phát triển cùngvới sự quan tâm hỗ trợ kinh phí của Nhà nước, ngư dân làng Đồn Điền cũngnhư xã Quảng Thái đã sắm được những thuyền lớn, kiên cố, máy móc hiệnđại, có thể đánh bắt xa bờ, khai thác được nhiều loại hài sản có giá trị lớn, ngưnghiêp ngày càng thể hiện vai trò là ngành kinh tế chính của địa phương

2.1.4 Thương nghiệp

Trong sự phát triển của nền kinh tế hàng hóa nông thôn truyền thống,

Trang 31

ngành kinh tế là nông nghiệp và thủ công nghiệp Nước ta vốn là một nướcnông nghiệp, trên cơ sở của nền văn minh nông nghiệp, gia đình tiểu nônghình thành vừa là đơn vị sản xuất, vừa là đơn vị tiêu thụ sản phẩm do chínhmình làm ra và chỉ một phần sản phẩm dư thừa mới đem ra bán – trao đổi ởchợ làng Trong cộng đồng làng xã ở nông thôn thì chợ là một hình thứcthương mại quan trọng nhất.

Cư dân làng Đồn Điền nói riêng, cư dân Quảng Thái đã giao lưu kinh tếvới nhau và với các làng khác Theo Gia phả họ Trần Hữu ở làng Hà Đông xãQuảng Thái thì chợ đầu tiên được thành lập ở xã là chợ Đình ( ngày nay chợthuộc vào địa phận của xã Quảng Lộc ) Khi mới ra đời chợ nằm ở phía namcủa đình làng Hà Đông, vì vậy nên mới có tên gọi là chợ Đình Các cụ xưa cócâu:

‘‘Làng ta mở chợ hôm Đình

Có hồ sen nở rập rình đôi bên

Hồ sen trăm cảnh hữu tình

Ai đến chợ Đình nán lại mà xem.”

Chợ họp vào buổi chiều hàng ngày, khi rùng, gõ đã lên bờ; vào những ngàybiển lặng cá tôm đầy trắng chợ Người rao bán, người cần mua từ miền đồng

đổ về, nhộn nhịp hẳn lên,tạo một vùng quê ấm áp lạ thường.Vào những năm

1965 – 1966, cuộc kháng chiến chống Mỹ xâm lược ngày càng ác liệt, chợphải dời đi đôi ba lần nhưng vẫn quanh thôn 8 xã Quảng Thái bây giờ Chợđược họp dưới lùm cây cao, khi đầu làng, hôm giữa làng, nhằm tránh máy bay

Mỹ oanh tạc Trận pháo kích năm 1966, giăc Mỹ bắn từ ngoài biển vào, trậndội bom từ máy bay xuống đã cướp đi hàng chục mạng sống của người dân

vô tội, đau thương tang tóc bao trùm lên quê hương Sau đó chợ lại được sơtán về nơi xa cư dân, thuộc địa phận Linh Lung ( làng Lưn ) Nơi đây, xưahoang vắng, dân cư thưa thớt và cũng chính đây đã hình thành chợ Đình ngày

Trang 32

nay Chợ vẫn họp vào tất cả các buổi chiều như xưa, hàng tháng mở các phiênchính vào các ngày sau: mồng 4, mồng 8, 14, 18, 24, 28, các phiên chợ chínhngoài các mặt hàng như thông lệ thì có thêm các mặt hàng là giống cây trồng,vật nuôi, dân trong xã và ở các xã khác đến mua bán rất đông.

Chợ Đình là một chợ lớn, bây giờ thuộc về địa phận xã Quảng Lộc, cưdân Đồn Điền đi chợ phải đi xa hơn nhiều so với địa diểm ngày thành lập chợ.Chính vì vậy mà ở làng Đồn Điền đã thành lập một chợ mới nằm ở trung tâmcủa làng ( thuộc thôn 4 ngày nay ) có quy mô nhỏ hơn, chủ yếu buôn bán các

đồ ăn thức uống, nhu yếu phẩm phục vụ nhu cầu hàng ngày của dân làng Chợnày gọi là chợ Ngõ Trong làng Đồn Điền còn có bài thơ về chợ Ngõ như sau:

‘‘Ơn trời bể được mùa luôn Nhiều tôm cá định bán buôn thế nào?

Đành đem ra ngõ mà rao Chợ xa xa quá đi bao giờ về!

Đôi khi khoai lúa ê chề Dân miền quê nối làng quê lại gần Bán buôn đổi chác lần lần Thế là cái ngõ nối dần mãi ra Trở thành chợ Ngõ làng ta Thế chi cũng tạm gọi là khang trang”

Như vậy, sự phát triển của chợ làng qua các phiên chợ tạo ra một vùng liên làng mang sắc thái khác nhau của từng địa phương Mạng lưới chợ khôngnhững thúc đẩy sự phát triển sản xuất hàng hóa trong nền kinh tế tiểu nông

mà còn góp phần bổ sung và duy trì nền kinh tế tiểu nông trong cộng đồng làng xã

Trang 33

2.2 Các nơi thờ cúng trong làng

2.2.1 Nghè làng

Nghè làng được đặt ở phía bắc của làng Đồn Điền, xây dựng từ xa xưakhông có di chuyển Xưa đất nghè rậm rạp, cổ thụ, âm u, là nơi cầy cáo ngựtrị, dân làng ít ai dám bén mảng tới trừ các ngày lễ hội Nghè có 5 gian tiềnđường và một gian chính tâm thờ ông Tô Chính Đạo và Tông Ngọc Châu vớiduệ hiệu là “ Đại cận quốc gia Nam Hải tứ vị thánh Nương thượng đẳngthần” Trong tâm lý dân làng Đồn Điền thì Nghè làng được tôn kính và giữvai trò tín ngưỡng quan trọng hơn đình làng

2.2.2 Đình làng

Đình làng Đồn Điền đặt ở giữa làng thờ bản thổ thành hoàng làng và các

vị tiên hiền của dòng họ trong làng Hàng năm vào dịp ăn tết lại ( đầu thánghai âm lịch ) đình làng mới rước kiệu Nam Hải Đại Vương và các thần tổ vềtrong ngày mùng 2 để tế cầu nông, có tổ chức hội vật, cướp bông lúa Còn TếtNguyên Đán thì chỉ thắp hương thờ bản thổ Thành Hoàng và các họ sẽ làmxôi gà ra đình cúng các vị tiên hiền Đình làng Đồn Điền đã bốn lần chuyểnhướng

2.2.3 Đền Đồn Điền

Ngày nay khi trở về làng Đồn Điền ta không còn bắt gặp khái niệm Nghèlàng, hay Đình làng nữa, tất cả đã không còn tồn tại, có chăng nó chỉ tồn tạitrong tâm niệm của người dân; người dân làng Đồn Điền dùng tên gọi: Nghè,Đình và Đền cho cùng một di tích : Đền làng Đồn Điền

Đền làng Đồn Điền trước đây được xây dựng trên một diện tích khárộng, khang trang, bao gồm một dãy nhà tiền đường gồm 5 gian thiết kế theokiểu trồng giường kẻ bẩy và một hậu cung nối với dãy nhà tiền đường tạothành kiến trúc hình chữ T Thời kháng chiến chống Pháp đền còn là khochứa vũ khí và bãi đậu xe của quân đội Năm 1963, đền lại bị tháo dỡ, phá đi

Trang 34

hoàn toàn chỉ để lại một số khung nhà và các đá tảng Sau này nhân dân mớidựng lại giữ nguyên phần cột kèo bao gồm 5 gian, thiết kế theo kiểu tườnghồi bít đốc nối với dãy nhà tiền đường là hậu cung 3 gian, nơi bài trí các đồthời và ngai vị Hậu cung chia làm 2 gian được nối với nhà tiền đường bằng 3cửa ra vào, hai bên hậu cung có thêm 2 gian cung nhỏ cuốn tò vò làm nơi phốithờ những người có công với làng bản.

Toàn bộ di tích được xây dựng trên thửa đất rộng 847m2, xung quanh cócây trồng xanh, cây lưu niên, trước di tích là cống nghênh môn 3 cửa ra vào,qua nghênh môn là sân, sân có lát gạch

Trong đền Đồn Điền hiện tại còn lại những hiện vật như sau: thùng đá cổ( có kích thước dài 1,03m, rộng 0,60m, cao 0,28m ); chân đá tảng ( kích thước0,44 * 0,43m ); hộp áo, sách với gỗ cũ; 5 lương án; hai thẻ bài chữ hán ( tínhtúc ); 1 ống hương, 1 cỗ kiệu Cửu Long; 1 hạp hương đồng; 3 cỗ ngai cổ,1 đôilộc bình; 1 án thờ cổ bị gãy; 1 bức đại tư cổ đề “ thượng đẳng tối linh”; 3 câuđối chữ Hán, 2 tập sách điền bạ và sắc phong chữ Hán Các bức hoành phi câuđối được gắn lên các cây cột trong đền thờ như:

Cặp câu đối thứ nhất :

” Khai thác cựu sơn thành yến dực tiền công giả quảng

Giang sơn kim lệch thủy tế thừa hậu thế kỳ sương ”

Cặp câu đối thứ hai :

” Đồn bảo cung tu tự Tô Uông thủy thiệu tư công Đền trầu thôn nghệch Trần Lê bắc ngật bản triều ”

Cặp câu đối thứ ba :

”Thiên hạ mẫu nghi bất tử cương thường tông bắc Tống

Lê nguyên tử dục như công đức tráng nam giao.”

Trang 35

Qua di tích Đền Đồn Điền chúng ta biết thêm dấu ấn về một thời kì lịch

sử với chính sách “ lập đồn điền”; đồng thời hiểu thêm về lich sử của nhữngnhân vật có công khai phá ra vùng đất này và tục thờ cúng những người cócông với đất nước Đền làng Đồn Điền cho đến ngày nay, mặc dù trải qua baonhiêu năm tháng chiến tranh, cộng với sự bào mòn của nắng mưa, bão lũ và

do hiểu sai lệch giá trị di sản văn hóa một thời đền bị tàn phá nặng nề; được

sự quan tâm của nhân dân chính quyền sở tại đã đóng góp tiền của công sứctôn tạo lại ngôi đền, ngày nay ngôi đền đã phần nào được trở lại diện mạo nhưxưa, góp phần vào giáo dục truyền thống cho mọi thế hệ

Ngoài ra, trong làng Đồn Điền hàng năm còn tổ chức hội làng và cúng tếtại: miếu thờ cá voi và Ngõ ông Thầy

Miếu thờ cá voi lộ thiên: hàng năm chỉ hoa quả, rượu thắp hương để thờ

vọng, ngoài ra không thờ phụng một nhân vật nào khác

Ngõ ông Thầy là đường ra biển thuộc phía bắc làng Đồn Điền gọi là

ngõ ông thày là vì trước kia có một ông họ Tô giỏi nghề phù thủy, phongthuật nổi tiếng trong vùng nhiều nơi đến cầu cúng nhờ vả Trên bờ biển từNgõ Ông Thầy đi ra là nơi hàng năm nhân dân tế cầu ngư vào ngày mùng 3

ăn tết lại

2.3 Nhà cửa

Cũng như ở các vùng nông thôn Việt Nam nhất là các vùng nông thônmiền Bắc, ở làng Đồn Điền các căn nhà 3 gian, 1 gian 2 trái, 5 gian là nhữngkiểu nhà phổ biến Sự giàu có hay nghèo hèn của chủ nhân những ngôi nhàđược thẻ hiện qua quy mô và vật liệu làm nhà, nhưng kiểu dáng hầu nhưkhông có sự thay đổi đáng kể Có thể có một vài biến tấu trong kết cấu kèo,cột, sự nhô ra thụt vào của các phòng…Những căn nhà này được bố trí theohàng ngang, có mặt tiền rất rộng, có thể có một hay nhiêu cửa cùng hướngmặt tiền của căn nhà Một đăc điểm nữa là kiểu bài trí đồ đạc trong nhà cũng

na ná như nhau:

Trang 36

Căn phòng chính giữa được bố trí làm phòng khách và nhà thờ Ngay sáttường đối diện với cửa cái người ta đặt bàn thờ Trước bàn thờ người tathường có đặt một bộ trường kỷ hoặc bàn ghế tiếp khách Hai bên cột nhà ởtrước bàn thờ người ta thường đặt bức hoành phi, câu đối hoặc như nhà nàonghèo trên vách cũng treo tranh hoặc câu đối bằng giấy Nhà thương không cóchia buồng ngang, nên người ta thường hay đặt hai bộ ván ở hai bên nhà Nếu

có chia làm hai trái thì một bên nhà người ta để cót thóc hoặc giống cây cácloại cho mùa sau Một bên người ta làm phòng ngủ Khu vực bếp thường làmriêng, biệt lập hoặc ngăn cách hẳn với ngôi nhà

Thông thường các căn nhà đều được bố trí theo hướng cửa chính làNam hoặc Đông Nam Các cụ thường ví: Lấy vợ đàn bà, làm nhà hưóngNam Nhìn chung thì hướng nhà phải được đảm bảo về mặt phong thuỷ vàhợp với cung mạng của chủ nhà

2.4 Ẩm thực

Ẩm thực Việt Nam là cách gọi của phương thức chế biến món ăn,nguyên lí phối trộn gia vị và những thói quen ăn uống nói chung của mọingười Việt Nam trên đất nước Việt Nam

Việt Nam là một nước nông nghiệp nghèo thuộc về xứ nóng, vùng nhiệtđới gió mùa Chính các đặc điểm về văn hóa và khí hậu đã quy định nhữngđặc điểm riêng của ẩm thực Việt Nam Đây là một văn hoá ăn uống sử dụngrất nhiều loại rau (luộc, xào, làm dưa, ăn sống); nhiều loại nước canh đặc biệt

là canh chua; trong khi đó số lượng các món ăn có dinh dưỡng từ động vậtthường ít hơn Những loại thịt được sử dụng chủ yếu thịt lợn, bò, ngan, vịt,các loại tôm, cá, cua ốc, trai, sò…Những loại thức ăn được chế biến từ loạithịt ít thông dụng như chó, dê, rùa, thịt rắn, ba ba…không phải là nguồn thịtchính, nhiều khi được coi là đặc sản và chỉ được sử dụng trong một dịp liênhoan nào đó với rượu uống kèm Ẩm thực ở làng Đồn Điền cũng mang nhữngđặc điểm trên, tuy nhiên nó cũng mang những nét đặc trưng riêng với những

Trang 37

món ăn rất độc đáo và rất riêng Sau đây chúng tôi giới thiệu một vài mónđược người dân nơi đây ưa thích:

Món Gỏi cá

Cư dân Đồn Điền đặc biệt là ngư dân rất thích ăn cá gỏi mà chủ yếu làgỏi cá biển Trong cá biển có hai loại cá lanh và cá giang là làm gỏi rất ngonbởi thịt của nó giòn và ngọt Cá làm gỏi phải là đang rất tươi và có trọnglượng càng lớn càng tốt Dù thế vẫn phải rửa sạch bằng nước hoà tan muốivới nồng độ vừa phải Rửa xong dùng giấy xốp lau thật khô con cá Dùng daolưỡi mỏng và sắc lạnh lấy nguyên thịt rồi thái vát từng miếng mỏng, xếp lênđĩa lớn, chỉ xếp một lớp Vắt chanh lấy nước gạn bỏ hết hạt, hoặc giấm rướilên để khử mùi tanh và làm chín các lát cá Cuối cùng dùng tay vắt ráo khôngcòn nước chanh hoặc nước giấm Nguyên liệu phụ dùng để làm món gỏi cá làthính gạo Các lát cá đã được gắp lại sang đĩa, bây giờ rắc thính vừa trộn đảocho đều, lượng thính đừng quá nhiều mà làm mất hương vị cá

Nước chấm gỏi gọi là chẻo Chẻo là thứ nước chấm tổng hợp gồm vừnggiã nhỏ, mẻ đánh nhuyễn lọc lấy nước, nước mắm, một ít mắm tôm, đường,hành tỏi đập nát băm nhỏ, mỡ nước Trước nhất, cho mỡ vào đun sôi già bỏhành tỏi vào phi, nghe thơm sực thì đổ các thứ còn lại vào cùng lúc Đậy vungđun lửa liu riu, vài lần dùng đũa khuấy đều, chừng 15 phút là được Nướcchẻo phải đạt yêu cầu là sánh và sệt

Gỏi cá phải ăn với các thứ rau như: Lộc sung, lá đinh lăng, bánh tẻ, lá

mơ lông, chuối tiêu xanh thái lát mỏng và bánh tráng Một món ăn cùng lúccho thưởng thức rất nhiều mùi và vị hấp dẫn, thường được dùng trong nhữngdịp rãnh rổi hoặc đãi khách

Món Sứa

Mùa hè giải nhiệt với sứa mát kèm rau xanh húng lùi, chuối chát, khế,bạc hà…Muốn làm gỏi sứa ngon thì sứa phải được chần qua nước sôi, vắt ráo

Trang 38

Sau khi sứa được vắt khô ráo thì phải giã bột bánh tráng nướng thật nhỏ rồivùi sứa vào trộn kỹ sau đó mới đem ra trộn gỏi Món gỏi sứa thì được ăn kèmvới rau răm, bắp chuối hoặc xoài xanh băm nhỏ, lạc rang, hành phi và cả dừagià cạo nhỏ Tất cả được trộn chung, rưới nước mắm có gia vị vào cho vừa ănxong cho lên đĩa lớn, mỗi người tự lấy bánh tráng xúc gỏi ăn, thấy vừa daivừa thơm, vừa rất ngon nhờ rau mùi và lạc rang.

Song nhiều người ngược lại thích đơn giản hay do không đủ điều kiện

có đầy đủ các nguyên liệu thì món gỏi sứa được chần qua ít nước nấu bằngcác thứ lá có vị chát như lá ổi, lá xoài sau đó vắt thật khô ráo đem ra trộn vớibột bánh tráng đã được giã nhỏ ăn kèm với chẻo

2.5 Trang phục, đi lại

Trang phục của cư dân Đồn Điền gồm có nhiều loại: Quần áo, khănkhố, ô nón, giày dép, tóc tai…trong đó quần áo là quan trọng hơn cả

Trước đây, khi điều kiện còn hạn chế, chưa có nhiều vải vóc Vải đểmay quần áo, vải thường mua ở chợ Vải thô đem nhuộm nâu và nhuộm bùn.Nhuộm càng kỹ vải cứng như mo, mặc càng bền Phụ nữ Đồn Điền thơi trướcthường mặc váy và áo cánh xẻ hai bên hông, cổ áo tròn Có thêm dây thắtlưng bằng vải hoặc bằng nhiễu, dài khoảng 1 mét, yếm và khăn vấn tóc màuđen hoặc màu tím than Đàn ông thì thường ở trần, đóng khố, đi chân đất.Theo cụ Tô Vũ Cằm – một cao niên trong làng kể lại, trong sinh hoạt bìnhthường thì cư dân không bao giơ đi dép ( do không có dép mà đi ), vào nhữngngày hè nắng nóng, người dân đi biển phải đi qua bãi cát rất là bỏng chân,người ta cứ phải nhón chân lên mà chạy, được một đoạn thì đứng lại mangmột chân gạt bớt cát bỏng đứng bằng một chân còn chân kia thì gác lên cho

đỡ nóng rùi lại chạy tiếp, nếu thấy nóng quá thì dừng lại đứng đỏi chân cho

đỡ nóng rát Những ngày lễ Tết, hội hè, giỗ chạp thì họ mặc quần trắng, vận

áo, đội khăn đóng, chân đi guốc mộc hoặc guốc sơn nhưng đó là trang phục lễ

Trang 39

tết của những gia đình khá giả còn người nghèo thì trang phục lễ tết với trangphục sinh hoạt không khác nhau là mấy.

Tiểu kết chương 2:

Tóm lại, làng Đồn Điền – Quảng Thái – Quảng Xương – Thanh Hóa từmột vùng đất nghèo nàn, cát bụi, cằn cỗi, xa vùng trung tâm… có rất nhiềukhó khăn nhưng dưới bàn tay lao động trí óc của người dân, chăm lam chămlàm, thông minh chịu khó học hỏi đã trở thành một vùng đất phát triển

Tình hình kinh tế ở làng Đồn Điền là sự tác động qua lại giữa các nhântố: Nông nghiệp, thủ công nghiệp, thương nghiệp, mỗi nghành đóng một vaitrò khác nhau nhưng đều có tác dụng bổ trợ cho nhau cùng phát triển Thêmvào bức tranh các ngành kinh tế ở xã Quảng Thái thời trước, một nét đặc sắcchính là: Hiện tượng tha phương cầu thực đã trở thành một hoạt động kinh tếchính hay nói cách khác trở thành một ngành trong cơ cấu ngành kinh tế củađịa phương

Là một làng Việt cổ trên mảnh đất hình chữ S thân yêu nhưng lại mangnhững nét đặc trưng về vị trí địa lý, lịch sử phát triển và tình hình kinh tế xãhội mà cư dân làng Đồn Điền đã tự xây dựng được một diện mạo văn hóa vậtchất vừa đậm đà bản sắc dân tộc vừa mang dấu ấn riêng của mảnh đất “ binhđiền”

Trang 40

3.1.1 Tục thờ cúng tổ tiên

Tìm hiểu phong tục tập quán của người Việt, tất cả mọi người ai cũngbiết người Việt Nam rất trọng lễ và trọng lễ âm nghĩa cũng giữ phần quantrọng Xa xưa ông cha ta đã có nhiều câu ca dao nói về đạo lí “ uống nướcnhớ nguồn” như “ chim có tổ người có tông”, … Ngoài ra, có nhiều câuchuyện cổ tích, truyện thần thoại kể về nguồn gốc, số đông như chuyện: LạcLong Quân và Âu Cơ … Ngày nay, dù đi đâu dù sinh sống ở đâu chăng nữangười Việt Nam đều nhớ tới câu ca:

“Dù ai di ngược về xuôiNhớ ngày giỗ tổ mùng mười tháng ba

Dù ai buôn bán gần xaNhớ ngày giỗ tổ tháng ba mùng mười”

Theo quan niệm dân gian, ông Tổ của người Việt là vua Hùng, ông Tổ ởphạm vi làng Đồn Điền là nhị vị tiền tổ là Tô Chính Đạo và Uông Ngọc Châu.Cũng như cộng đồng cư dân khác trên đất nước người dân làng Đồn Điền rấtcoi trọng thờ cúng, lập bàn thờ gia tiên Việc lập bàn thờ cúng ông bà gia tiênkhông chỉ thể hiện lòng hiếu thảo của con cháu đối với gia tiên tiền tổ mà cònthể hiện tinh thần uống nước nhớ nguồn, nhớ đến công ơn sinh thành, nuôidưỡng đối với những người đã khuất Ngoài ra, trong mỗi chi họ của dòng họ

Ngày đăng: 18/12/2013, 11:39

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đào Duy Anh (1992), Việt Nam văn hoá sử cương, Nhà xuất bản VHTT, Hà Nội Khác
2. Toan Ánh (2000), Tìm hiểu phong tục Việt Nam nếp cũ-lễ tết-hội hè, Nhà xuất bản Thanh Niên Khác
3. Toan Ánh (2000) Tín ngưỡng Việt Nam, (quyển thượng), Nhà xuất bản văn nghệ thành phố Hồ Chí Minh Khác
4. Ban nghiên cứu và biên soạn lịch sử Thanh Hoá (2000), Tên làng xã Thanh Hoá, tập 1, Nhà xuất bản Thanh Hoá Khác
5. Ban nghiên cứu và biên soạn lịch sử Thanh Hoá (2000), Lịch sử Thanh Hoá, tập 3, Nhà xuất bản khoa học xã hội, Hà Nội Khác
6. Ban chấp hành Đảng bộ huyện Quảng Xương,(1992), Quảng Xương lịch sử đấu tranh cách mạng, tập 1, Quảng Xương Khác
7. Phan Kế Bính, Việt Nam phong tục, Nhà xuất bản văn học Khác
8. Chương trình nghiên cứu Việt Nam – Hà Lan (1997), Tha phương cầu thực mang tính cộng đồng ở xã Quảng Thái Khác
9. Đặng Thị Hạnh (2007), Lịch sử- văn hoá làng Phủ Lý (Kẻ Rỵ), xã Thiệu Trung, huyện Thiệu Hoá, tỉnh Thanh Hoá ( từ thế kỷ X đến năm 1945), luận văn thạc sỹ Khác
10.Huyện uỷ Quảng Xương, ban liên lạc đồng hương Quảng Xương ở Hà Nội, nhiều tác giả (2002), Quảng Xương quê tôi, tập 2, Nhà xuất bản Nông nghiệp Hà Nội Khác
11. Hoàng Quốc Tuấn ( 2009), Lịch sử- văn hóa làng Nho Lâm (Diễn Châu – Nghệ An), luận văn thạc sỹ Khác
12.Hoàng Anh Nhân (1996), Văn hoá làng và văn hoá xứ Thanh, tập 3, Nhà xuất bản khoa học xã hội, Hà Nội Khác
13. Hồ Hoàng Hoa (1998), Lễ hội- một nét đẹp trong sinh hoạt văn hoá cộng đồng, Nhà xuất bản KHXH, Hà Nội Khác
14. Nhất Thanh- Vũ Văn Khiếu, Phong tục làng xóm Việt Nam, Nhà xuất bản Phương Đông Khác
15. Nhiều tác giả (2004), Địa chí tỉnh Thanh Hoá, tập 2, Nhà xuất bản khoa học xã hội, Hà Nội Khác
16. Nhiều tác giả 2006), Tư liệu địa chí xã Quảng Thái Khác
17. Nhiều tác giả, Lịch sử Đảng bộ xã Quảng Thái, tư liệu do ông Tào Quang Đảnh cung cấp Khác
18. Bùi Thị Phương (2010), Lịch sử-văn hoá làng Quỳ Chữ, xã Hoàng Quỳ, huyện Hoàng Hoá, tỉnh Thanh Hoá, luận văn thạc sỹ Khác
19.Quy ước xây dựng thôn văn hoá thôn 4 làng Đồn Điền ( lưu tại phòng Văn hoá- Thể dục, thể thao huyện Quảng Xương) Khác
20. Trương Hữu Quýnh (1995), Chế độ ruộng đất Việt Nam, Nhà xuất bản khoa học xã hội, Hà Nội Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình ảnh con ngựa trước cổng đền - Lịch sử   văn hóa làng gốm đồn điền, xã quảng thái, huyện quảng xương, tỉnh thanh hóa (từ thế kỷ XV đến nay) luận văn tốt nghiệp đại học
nh ảnh con ngựa trước cổng đền (Trang 86)
Hình ảnh hai vị thần ở cổng làng - Lịch sử   văn hóa làng gốm đồn điền, xã quảng thái, huyện quảng xương, tỉnh thanh hóa (từ thế kỷ XV đến nay) luận văn tốt nghiệp đại học
nh ảnh hai vị thần ở cổng làng (Trang 88)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w