1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Lịch sử văn hoá làng cổ định kẻ nưa (xã tân ninh thanh hoá) từ khi thành lập đến năm 2009

152 15 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 152
Dung lượng 816,18 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Làng Cổ Định nay là xã Tân Ninh, huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hóa đ-ợc mệnh danh là vùng văn hóa lâu đời và tiêu biểu cho văn hoá truyền thống của c- dân đồng bằng sông Mã.. Đặc biệt, là

Trang 1

Mục lục

Mở đầu ……… ………… 1

1 Lý do chọn đề tài ……… 1

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề ……… 3

3 Đối t-ợng, nhiệm vụ, phạm vi nghiên cứu của đề tài ……… 4

4 Nguồn t- liệu và ph-ơng pháp nghiên cứu ……… 4

5 Đóng góp khoa học của luận văn ……… 6

6 Bố cục của luận văn 6

Ch-ơng 1: Quá trình hình thành và phát triển của làng Cổ Định… 7 1.1 Điều kiện tự nhiên ……… 7

1.1.1 Vị trí địa lý ……… 7

1.1.2 Địa hình, đất đai ……… 7

1.1.3 Sông ngòi ……… 10

1.1.4 Khí hậu ……… 10

1.2 Nguồn gốc dân c- ……… 11

1.3 Quá trình hình thành và phát triển của làng Cổ Định ………… 13

* Tiểu kết ch-ơng I ……… 30

Ch-ơng 2: Văn hóa vật thể của làng Cổ Định ……… 32

2.1 Những di tích lịch sử- văn hoá đ-ợc công nhận cấp quốc gia … 32 2.1.1 Cụm di tích thắng cảnh núi N-a - Đền N-a và Am Tiên …… 32

2.1.2 Đền thờ Lê Bật Tứ ……… 40

2.2 Các di tích lịch sử- văn hoá đ-ợc công nhận cấp tỉnh ……… 47

2.2.1 Đền thờ Trần Khát Chân (Nghè Giáp) ……… 47

2.2.2 Đền thờ Luật Quốc công Lê Thân ……… 51

2.2.3 Đền thờ Khai Quốc Công thần Lê Lôi ……… 52

2.2.4 Đền thờ Quan Tào Sơn (miếu Tào sơn hầu) ……… 56

2.2.5 Di tích lịch sử nghệ thuật kiến trúc nhà cổ ……… 57

2.3 Một số di tích lịch sử văn hóa khác ……… 59

2.3.1 Đình làng Đài 59

2.3.2 Chùa Hoài Cảm 60

Trang 2

2.3.3 Văn chỉ ……… 62

2.4 Kiến trúc dân gian ……… 62

* Tiểu kết ch-ơng II ……… 67

Ch-ơng 3: Văn hóa phi vật thể làng Cổ Định ……… 68

3.1 Tôn giáo và tín ng-ỡng ……… 69

3.1.1 Tôn giáo ……… 70

3.1.1.1 Đạo phật ……… 70

3.1.1.2 Đạo nho ……… 71

3.1.1.3 Đạo giáo ……… 72

3.1.1.4 Đạo Thiên chúa giáo (Công giáo) ……… 74

3.1.2 Tín ng-ỡng ……… 75

3.1.2.1 Thờ tổ tiên ……… 75

3.1.2.2 Thờ Thành Hoàng ……… 77

3.2 Phong tục tập quán ……… 81

3.2.1 C-ới xin ……… 81

3.2.2 Tang ma ……… 84

3.2.3 Tục vọng Lão ……… 88

3.3 Các lễ tiết thờ cúng trong năm và lễ hội ……… 90

3.3.1 Các lễ tiết thờ cúng trong năm ……… 90

3.3.2 Lễ hội ……….……… 93

3.4 Văn học dân gian ……… 99

3.4.1 Chuyện kể dân gian ……… 99

3.4.2 Tục ngữ, ph-ơng ngôn, ca dao, đồng giao, vè ……… 100

3.4.3 Thơ ca ……… 103

3.4.4 Dân ca ……… 106

3.5 Truyền thống học tập, khoa bảng ……… 110

* Tiểu kết ch-ơng III ……… 116

Kết Luận ……… 118

Tài liệu tham khảo 121

Phụ lục ……… 126

Trang 3

Lời cảm ơn

Với lòng biết ơn sâu sắc, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất tới Pgs.ts Nguyễn Trọng Văn, ng-ời đã tận tình trực tiếp h-ớng dẫn, giúp đỡ tôi trong quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn này

Tôi xin đ-ợc bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đối với các thầy, cô giáo trong khoa lịch sử, khoa sau đại học- tr-ờng đại học Vinh đã nhiệt tình giảng dạy, h-ớng dẫn, quan tâm giúp đỡ tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành khoá học này

Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn tới phòng địa chí- th- viện khoa học tỉnh Thanh Hoá, bảo tàng Thanh Hoá và UBND huyện Triệu Sơn, UBND Xã Tân Ninh, đồng chí Lê Thanh Sơn tr-ởng văn hoá xã cùng nhân dân địa ph-ơng xã Tân Ninh đã giúp đỡ tôi trong quá trình thu thập tài liệu nghiên cứu

Cuối cùng tôi muốn gửi lời cảm ơn chân thành tới những ng-ời thân trong gia đình, bạn bè đã tạo mọi điều kiện về tinh thần, thời gian

và vật chất trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận văn này

Vinh, tháng 11 năm 2010

Tác giả

Đỗ Thị Thu

Trang 4

Bộ Giáo dục và đào tạo

Tr-ờng Đại học Vinh

Trang 5

mở đầu

1 Lý do chọn đề tài

1.1 Làng là cộng đồng dân c- trú cơ bản của ng-ời Việt, có nguồn gốc

xa x-a, nó ra đời đồng thời với quá trình tan rã của chế độ công xã nguyên thuỷ và hình thành xã hội có giai cấp và nhà n-ớc đầu tiên ở n-ớc ta Làng Việt có lịch sử lâu dài nh- lịch sử đất n-ớc Trong tiến trình lịch sử Việt Nam

kể từ thời đại dựng n-ớc cho đến nay, làng lúc nào cũng đóng vai trò hết sức quan trọng trên tất cả lĩnh vực của đời sống kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội Làng ng-ời Việt vừa là cộng đồng kinh tế, vừa một cộng đồng văn hóa ở đây chứa đựng những giá trị của quá khứ con ng-ời, nơi củng cố và tái hiện những giá trị xã hội và văn hóa Việt Nam

Không chỉ đóng vai trò hết sức trọng yếu trong lịch sử đất n-ớc mà làng còn là nơi sinh thành, là tr-ờng hoạt động, là nơi mỗi ng-ời dân Việt Nam gắn

bó cả cuộc đời Làng trong ý niệm sâu sắc và thiêng liêng của mỗi ng-ời Việt

là sự t-ợng tr-ng cho quê cha đất tổ, cũng là nơi thừa nhận địa vị thành công

và danh vọng của mỗi ng-ời Vì vậy nghiên cứu làng Việt qua văn hoá vật chất và văn hóa tinh thần là một việc làm cần thiết để biết đ-ợc quá trình, phát sinh phát triển, đóng góp cụ thể và vai trò, vị trí của nó trong lịch sử địa ph-ơng Đây là mảng lịch sử do nhân dân lao động sáng tạo ra hết sức sinh

động, phong phú nh-ng không đ-ợc sử cũ ghi chép lại Mặt khác những giá trị văn hóa đó còn có thể góp phần lí giải cuộc sống hiện tại và cả những vấn đề t-ơng lai phát triển của đất n-ớc và của mỗi con ng-ời Việt Nam

1.2 Làng Việt từ lâu đã đ-ợc nhiều nhà nghiên cứu trong và ngoài n-ớc quan tâm tìm hiểu từ nhiều góc độ khác nhau Cho đến nay nhiều công trình nghiên cứu về làng xã đ-ợc công bố, cung cấp những t- liệu mới, những nhận

định có giá trị cho khoa học và nâng cao nhận thức về thực thể làng xã và xã hội Việt Nam Tuy vậy, những kết quả nghiên cứu về làng vẫn ch-a đáp ứng

đ-ợc đầy đủ những đòi hỏi của khoa học đặt ra, vấn đề nông thôn, nông dân,

Trang 6

nông nghiệp đang là chủ đề hết sức quan trọng thu hút sự quan tâm của nhiều ngành khoa học Vì vậy nghiên cứu về văn hoá v`ật chất, văn hóa tinh thần của làng nhằm tạo cơ sở khoa học để đ-a nông thôn, nông nghiệp đi lên con

đ-ờng công nghiệp hóa, hiện đại hoá, là một công việc rất thiết thực, cấp bách

đòi hỏi sự đóng góp của nhiều nhà nghiên cứu

1.3 Làng Cổ Định (nay là xã Tân Ninh, huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hóa) đ-ợc mệnh danh là vùng văn hóa lâu đời và tiêu biểu cho văn hoá truyền thống của c- dân đồng bằng sông Mã Làng có nhiều di tích lịch sử văn hóa

đã có 2 di tích cấp quốc gia và 5 di tích cấp tỉnh, cùng các sinh hoạt cộng

đồng, lễ hội truyền thống Bên cạnh đó là sự phong phú của các truyền thuyết lịch sử, ca dao, tục ngữ, các hình thức diễn x-ớng làm rung động lòng ng-ời Và trong suốt chiều dài của lịch sử từ hàng ngàn năm phong kiến cho đến nay mảnh

đất này còn -ơm mầm và nuôi d-ỡng ra nhiều bậc anh tài về mọi mặt, chính vì vậy

mà miền đất này đ-ợc coi là mảnh đất thiêng đã hun đúc và ng-ng tụ nhiều giá trị tinh hoa văn hoá của đất n-ớc

Tuy nhiên trong xu thế phát triển của nhân loại hiện nay, làng quê Việt Nam nói chung và Cổ Định nói riêng lại đang đứng tr-ớc những thách thức quyết liệt giữa truyền thống và đổi mới, dân tộc và hiện đại Đổi mới song vẫn phải bảo l-u và giữ gìn đ-ợc bản sắc văn hóa của dân tộc Đó là một yêu cầu hết sức quan trọng đòi hỏi sự quan tâm đúng mức không chỉ của cấc cấp chính quyền ở trung -ơng và địa ph-ơng, mà còn đối với ý thức từng ng-ời dân sống trong cộng đồng làng xã Chính vì vậy, việc đi sâu nghiên cứu làng Cổ Định về những giá trị văn hoá vật thể - văn hoá văn hoá phi vật thể là một việc làm cần thiết, góp phần vào việc bảo tồn và phát huy những giá trị văn hóa đặc thù của làng Mặt khác giúp cho các thế hệ ng-ời dân Cổ Định nói riêng và xứ Thanh nói chung thêm hiểu biết và gắn bó với quê h-ơng Từ đó mỗi ng-ời có những việc làm thiết thực xây dựng quê h-ơng đất n-ớc ngày một giàu đẹp hơn

Trang 7

Với những lí do trên, tôi quyết định chón đề t¯i “Lịch sừ văn hõa l¯ng

Cổ Định (xã Tân Ninh, huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hóa) làm đề tài luận văn tốt nghiệp của mình

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề:

Nghiên cứu lịch sử văn hóa làng không còn là mảng đề tài mới nh-ng không kém phần hấp dẫn, lý thú Trong thời gian gần đây, trong xu thế giữ gìn

và phát huy những giá trị văn hóa của mỗi địa ph-ơng nói riêng, của dân tộc nói chung, các công trình nghiên cứu về văn hóa làng và làng văn hóa ngày càng tăng về số l-ợng lẫn chất l-ợng Cũng nh- các làng trên toàn quốc làng

Cổ Định đã đ-ợc giới nghiên cứu địa ph-ơng quan tâm

Trong c²c t¯i liệu trước đây như “ Đại Nam Nhất Thống Chí” (Quốc sừ qu²n triều Nguyễn), “Lịch triều hiến ch-ơng loại chí” (Phan Huy Chũ) đều

nhắc đến núi N-a - với ẩn sĩ thời Trần – Hồ Hiện nay có một số công trình nghiên cứu có đề cập tới danh nhân, di tích, thắng cảnh ở Cổ Định nh-: Danh nhân Triệu Sơn tập 1, 2 của Ban nghiên cứu và biên soạn lịch sử Thanh Hoá,

1993 Trong công trình trên thì đã phác thảo, những nét cơ bản về danh nhân l¯ng Cồ Định Hay cuốn “Danh nhân hó Lê” Thanh Hõa cða nh¯ xuất b°n Văn học, năm 2007 đã đề cập tới hai danh nhân tiêu biểu của làng là Lê Lôi và Lê Bật Tứ Bên c³nh đõ l¯ một số công trình kh²c cõ liên quan tới đề t¯i đõ l¯ “ Tên l¯ng x± Thanh Hõa” tập 2, cuốn “ Di tích v¯ danh thắng Thanh Hõa” Đặc biệt, là một số công trình nghiên cứu nêu một cách khái quát về lịch sử ra đời của làng và một số nét về đời sống văn hoá của làng Cổ Định nh-: “ Lịch sừ văn hõa dòng hó Lê Bật ở Cồ Định x± Tân Ninh huyện Triệu Sơn Thanh Hõa” của tác giả Đỗ Thị Vân – thạc sĩ khoa học đã đi sâu nghiên cứu về dòng họ

Lê Bật và những đóng góp của dòng họ ấy đối với quê h-ơng và dân tộc

Cuốn “Địa chí huyện Triệu Sơn” huyện uỳ - hội đồng UBND huyện

Triệu Sơn tỉnh Thanh Hóa, Phạm Tấn - Phạm Văn Tuấn (đồng chủ biên), NXB

Trang 8

Khoa học xã hội, năm 2010 giúp cho tác giả có cái nhìn khái quát về Triệu Sơn nói chung và làng Cổ Định nói riêng

Nhìn chung các t- liệu trên đã đề cập tới làng Cổ Định x-a, tuy nhiên tất cả đó đều là những mảng riêng lẻ chứ ch-a đi sâu nghiên cứu và hệ thống hoá một cách đầy đủ về lịch sử hình thành và phát triển văn hóa vật thể, phi vật thể của làng Mặc dù vậy, những tài liệu mà chúng tôi vừa trình bày thực

sự là nguồn t- liệu quí, dù ít ỏi, song đó là cơ sở giúp chúng tôi thực hiện và hoàn thành đề tài này

3 Đối t-ợng, nhiệm vụ, phạm vi nghiên cứu của đề tài:

3.1 Đối t-ợng:

Đối t-ợng nghiên cứu của đề tài là lịch sử văn hóa làng, là đề tài hấp dẫn thú vị Song hết sức phức tạp, đòi hỏi phải có quá trình nghiên cứu công phu, tỉ mỉ và lâu dài Do vậy, với nguồn t- liệu hiện có luận văn chủ yếu tìm hiểu, nghiên cứu về các vấn đề sau:

- Khái quát về vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên dân c- và lịch sử hình thành, phát triển của làng

- Văn hóa vật thể làng với các di tích lịch sử văn hóa cùng kiến trúc dân gian

- Văn hóa phi vật thể của làng về tôn giáo, tín ng-ỡng, phong tục tập quán, lễ hội, các lễ tết thờ cúng trong năm, văn học dân gian và truyền thống học tập, khoa bảng

3.2 Phạm vi nghiên cứu:

- Giới hạn thời gian: thời kì hình thành phát triển của làng từ khi thành lập đến năm 2009

- Giới hạn không gian: đề tài tập trung nghiên cứu cụ thể tại làng Cổ

Định xã Tân Ninh, huyện Triệu Sơn

4 Nguồn t- liệu và ph-ơng pháp nghiên cứu

4.1 Nguồn t- liệu:

4.1.1 Tài liệu gốc:

Trang 9

Chúng tôi tham khảo các bộ chính sử nh- Đại Việt sử kí toàn th-, Lịch triều hiến ch-ơng loại chí, Đại nam thống nhất chí, gia phả các dòng họ Lê Ngọc, Lê Đình, Doãn cùng một số văn bia nh- bia Hoàng giáp Lê Bật Tứ Ngoài ra chúng tôi còn khai thác các tài liệu nh-: Hồ sơ lich sử di tích lịch sử văn hóa kiến trúc nghệ thuật đền thờ Lê Bật Tứ, Đền N-a, di tích Am Tiên, đền thờ Khai quốc công thần Lê Lôi

4.1.2.Tài liệu nghiên cứu

Chúng tôi tham khảo những tài liệu nghiên cứu lịch sử – văn hóa nh- Việt Nam văn hóa sử c-ơng (Đào Duy Anh), Tìm về bản sắc văn hoá Việt Nam (Trần Ngọc Thêm), một số vấn đề làng xã Việt Nam (Nguyễn Quang Ngọc),

Bên cạnh đó chúng tôi còn tham khảo một số tài liệu về thơ địa lí có liên quan đến di tích, lễ hội của làng

4.1.3 Tài liệu điền dã

Đây đ-ợc coi là nguồn tà liệu chính để chúng tôi hoàn thành luận văn này Chúng tôi đã nhiều lần nghiên cứu thực địa tại các đền thờ, chùa gặp gỡ trực tiếp các vị cao niên trong làng, con cháu hậu duệ của các dòng họ

Đồng thời chúng tôi còn khảo sát và điều tra một số bản báo cáo thống kê, tài liệu của chính quyền địa ph-ơng

4.2 Ph-ơng pháp nghiên cứu

4.2.1 S-u tầm t- liệu

Để có nguồn t- liệu phục vụ cho luận văn, chúng tôi tiến hành s-u tầm, tích luỹ, sao chép t- liệu ở phòng địa chí th- viện tỉnh Thanh Hóa, bảo tàng Thanh Hóa, sử dụng các ph-ơng pháp: phỏng vấn, điều tra xã hội học, nghiên cứu và sao chép, chụp ảnh làm t- liệu các đền, đình, miếu, nhà cổ xã Tân Ninh

4.2.2 Xử lý t- liệu

Nghiên cứu văn hoá làng Cổ Định là một vấn đề hết sức bổ ích và lý thú, nh-ng cũng không ít khó khăn Trong qua trình nghiên cứu đề tài chúng

Trang 10

tôi dựa vào ph-ơng pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, nhìn nhận các vấn đề nêu ra trên cơ sở ph-ơng pháp so sánh lịch đại và đồng đại, nhằm

lý giải những vấn đề đặt ra một cách khoa học, khách quan Luận văn đề cập

đến những vấn đề văn hóa truyền thống và cả về văn hoá hiện tại, cho nên việc thu thập xử lý tài liệu, cách trình bày sao cho có sức thuyết phục là một thử thách lớn về ph-ơng pháp Chính vì vậy trong qua trình thực hiện đề tài, chúng tôi đã xử lý, tổng hợp phân tích các tài liệu, t- liệu theo ph-ơng pháp liên ngành, đã dùng ph-ơng pháp mô tả, thống kê so sánh, điều tra xã hội học, phỏng vấn hỏi chuyện những ng-ời cao tuổi tại địa ph-ơng có am hiểu về lịch

sử và văn hóa làng nhằm hệ thống hóa các nội dung về văn hóa làng Cổ Định

5 Đóng góp khoa học của luận văn.

Tr-ớc hết, luận văn góp phần cung cấp một l-ợng thông tin nhất định cho bạn đọc và các học giả nghiên cứu, nhất là bạn đọc ch-a có điều kiện tiếp xúc thực

tế tại địa ph-ơng hiểu về mảnh đất và con ng-ời làng Cổ Định về lịch sử văn hoá

Luận văn cũng góp một phần cung cấp cho các độc giả một cách toàn diện về mảnh đất và con ng-ời làng Cổ Định, đặc biệt là lịch sử văn hoá, truyền thống văn hiến của con ng-ời nơi đây

Bên cạnh đó, luận văn thể hiện đ-ợc những hoạt động mang tính tích cực cũng nh- những mặt còn hạn chế trong quá trình khôi phục và tôn tạo các

di tích, đền thờ Luận văn còn là nguồn tài liệu tham khảo đáng tin cậy cho việc hoạch định chiến l-ợc phát triển văn hoá du lịch của làng Cổ Định nói riêng và của huyện triệu Sơn nói chung

6 Bố cục của luận văn

Ngoài phần mở đầu, phần kết luận và phụ lục, nội dung chính của luận văn gồm 3 ch-ơng

Ch-ơng 1: Quá trình hình thành và phát triển của làng Cổ Định

Ch-ơng 2: Văn hoá vật thể làng Cổ Định

Ch-ơng 3: Văn hoá phi vật thể làng Cổ Định

Trang 11

Nội Dung Ch-ơng 1: Quá trình hình thành và phát triển của

làng Cổ Định 1.1 Điều kiện tự nhiên

1.1.4 Vị trí địa lý

Nhắc tới làng Cổ Định là nhắc tới một làng cổ, một làng đông dân c- trù phú vốn có nền văn hóa lâu đời, là trung tâm văn hóa của tổng Cổ Định x-a Làng Cổ Định nay là xã Tân Ninh huyện Triệu Sơn tỉnh Thanh Hóa Tân Ninh nằm ở Phía nam huyện Triệu Sơn Diện tích tự nhiên của xã: 2.573,99 ha, dân số 8.706 khẩu [29; 127] Phía bắc giáp xã Thái Hòa, xã Vân Sơn huyện Triệu Sơn; Phía Nam giáp xã Tân Thọ huyện Nông Cống; Phía Đông giáp xã Đồng Lợi huyện Triệu Sơn; phía Tây giáp xã Văn Du và Mậu Lâm huyện Nh- Thanh

Từ trung tâm thành phố Thanh Hóa ng-ợc lên phía Tây theo đ-ờng quốc

lộ 47 qua cầu Thiều (Km15) rẽ trái về Quán Giắt (huyện lỵ Triệu Sơn) đến

Giắt rẽ trái theo đ-ờng quốc lộ 15 đi qua Cầu Quan, đến Km 10 là địa phận xã Tân Ninh huyện Triệu Sơn tỉnh Thanh Hóa

1.1.5 Địa hình, đất đai

Triệu Sơn là huyện đồng bằng - bán sơn địa nằm ở phía tây - nam của châu thổ sông Mã - sông Chu tỉnh Thanh Hóa, tiếp giáp với các huyện miền núi Th-ờng Xuân và Nh- Thanh nên Triệu Sơn đã hình thành hai dạng địa hình cơ bản, đó là:

- Địa hình trung du miền núi Độ cao trung bình so với mặt n-ớc biển từ

70 - 80m

- Địa hình đồng bằng nằm trong vùng trọng điểm lúa của tỉnh và huyện

Độ cao trung bình là trên 10 m Trong đó xã Tân Ninh thuộc xã có địa hình trung du miền núi Nơi cao nhất là núi N-a với đỉnh cao 538m Truyền thuyết dân gian vẫn gọi là ngàn N-a hùng vĩ Các nhà địa chất gọi là phức hệ núi N-a

Trang 12

gồm các loại đá: dunit, harfbungit và serpentinit Đây là loại đá mà khi phong hóa tạo ra một loại quặng quý hiếm d-ới dạng sa Khoáng, đó là qặng Cromít Trong n-ớc đây là nơi duy nhất có mỏ kim loại quý hiếm này, và là một trung khai thác từ thời Pháp thuộc cho đến nay

Núi N-a là tên nôm mà dân gian th-ờng gọi, còn tên chữ mà sách x-a nhắc đến là núi Na (tức Na Sơn) Đây là ngọn núi cao nhất tiếp giáp với đồng bằng châu thổ phía tây nam của tỉnh Thanh Hóa và cũng là dãy núi cuối cùng của hệ thống núi đồi phía nam của tỉnh Hiện nay, núi N-a vẫn thuộc địa bàn của ba huyện Triệu Sơn, Nông Cống và Nh- Thanh Núi có chiều dài tới gần

20 km đã làm nên bức tr-ờng thành tự nhiên rộng lớn ở phía tây nam đồng bằng xứ Thanh Phần núi phía Triệu Sơn thuộc các xã Tân Ninh, Thái Hòa và Vân Sơn Là dãy núi khá liên tục, có đỉnh cao nhất 538m ở địa phận xã Tân Ninh và án ngữ sừng sững ở liền ngay khu vực đồng bằng phía tây nam tỉnh Thanh Hóa, cho nên núi N-a từ lâu đã đ-ợc coi nh- ngọn núi chủ ở vùng gạch nối giữa vùng đồng bằng với vùng trung du của xứ Thanh vậy Thế kỷ XV,

trong s²ch “ D- địa chí”, Nguyễn Tr±i trong mục núi sông ở Thanh Hóa đã ghi ngắn gón l¯ “Na, Tùng và L-ơng ở về Thanh Hóa Na, Tùng là tên hai núi,

L-ơng là tên sông” Ngo¯i Dư địa chí của Nguyễn Trãi (Thế kỷ XV), núi N-a

(Na Sơn) còn đ-ợc rất nhiều sách sử chép đến nh-: sách Đại Nam nhất thống

chí của Quốc sử quán triều Nguyễn, sách Lịch triều hiến ch-ơng loại chí của

Phan Huy Chú; sách Thanh Hóa tỉnh chí tập II của Nhữ Bá Sĩ Thật đặc biệt, núi N-a - Cồ Định nơi “ Bà Triệu t-ớng c-ỡi voi đánh cồng” thế kỳ III, l¯ nơi

tu luyện của vị đạo sĩ thời Trần - Hồ và còn trở thành nơi hò hẹn của rất nhiều

kẻ sĩ và tao nhân mặc khách Họ đến với núi N-a và lấy núi N-a làm đề tài sáng tạo ngâm vịnh để bộc bạch lòng mình với đất n-ớc Thế kỷ XVI, Nguyễn Dữ vì có một mối tình nồng nàn với núi N-a nên mới có những vần thơ lai

láng nh- bài Na Sơn ca (bài ca về núi Na), bài ca thích ngủ, bài ca thích cờ

Trang 13

Đầu thế kỷ XX, nhà chí sĩ yêu n-ớc Nguyễn Th-ợng Hiền đã từng cho dựng một ngôi nhà lá đơn sơ ở núi N-a để nghỉ ngơi và sáng tác thơ văn.[29;21]

Đến với núi N-a, khi lên đến đỉnh Am Tiên chúng ta mới thực sự cảm

nhận: “Núi Na đ² mọc chênh vênh, cây um tùm nước long lanh khói mờ“ và

“Trập trùng núi trời Tây, Na Sơn một d°i xuyên mây chín tầng“ và trên

đỉnh cao hơn 500m, nhìn về bốn phía, cảnh sắc của các vùng quê xứ Thanh bao la hiện ra lúc tỏ, lúc mờ nh- bức tranh thuỷ mặc lung linh đủ sắc mầu, biến hóa huyền ảo Đặc biệt, cứ vào những ngày đẹp trời có ánh nắng chiếu rọi, nhìn xuống phía đông vùng chân núi sẽ thấy rõ dòng Lãn Giang nh- một cô gái kiều diễm yêu kiều vừa tỉnh sau một giấc ngủ dài để rồi lại uốn mình nhập về sông Yên chảy về biển cả Xa hơn chút nữa là dãy núi Hoàng Nghiêu sừng sững Đó chính là vùng căn cứ chống Minh của t-ớng quân Nguyễn Chích hồi thế kỷ XV Cũng từ trên cao, dõi nhìn về phía tây, tây bắc là thấy cả

hệ thống rừng núi đại ngàn trùng điệp ở các huyện Th-ờng Xuân, Lang Chánh Còn từ chân núi N-a ở phía đông trở đi đã là vùng đồng bằng rộng lớn của Triệu Sơn - Nông Cống - Đông Sơn với xóm làng trù mật và ruộng đồng bát ngát

Có thể nói núi N-a là nơi hội tụ khí thiêng sông núi làm nên làng Cổ

Định - Kẻ N-a quê h-ơng của truyền thuyết về ng-ời khổng lồ gánh núi, xẻ

đồi và vô số câu chuyện thần tiên kỳ thú nơi sản sinh ra nhiều danh nhân lừng danh tên tuổi nh- Doãn Tử T- (thời Lý Thái Tổ), Doãn Đình Khải (thời

Lý Nhân Tông), Doãn Băng Hải (thời Trần Minh Tông) đã kế tiếp nhau đi sứ ph-ơng Bắc thiết lập quan hệ bang giao, làm rạng danh quốc thổ, đến Lê Thân

- ng-ời có công soạn bộ hình luật ở thời Trần Anh Tông và Doãn Nổ - vị khai quốc công thần triều Lê có nhiều công lao trong cuộc khởi nghĩa Lam Sơn ở thế kỷ XV

Trang 14

Về đất đai, do là xã thuộc địa hình trung du - miền núi cho nên ở đây có

đất đỏ vàng phù hợp với việc trồng cây lâm nghiệp với trang trại v-ờn rừng, cây công nghiệp và cây ăn quả Ngoài ra đất phù sa có thể thâm canh cây lúa n-ớc

Hệ thống sông mới - sông đào đ-ợc làm từ thời Pháp thuộc vào năm

1928 đ-ợc gọi là sông nông giang

1.1.4 Khí Hậu

Xã Tân Ninh nằm trong vùng khí hậu của đồng bằng Thanh Hóa, khí hậu nhiệt đới gió mùa Đặc điểm đó là có nền nhiệt cao, mùa đông không lạnh lắm, mùa hè t-ơng đối nóng, m-a ở mức trung bình, bị ảnh h-ởng gió tây ( còn gọi

là gió Lào) khô nóng và hạn nh-ng có thể khắc phục bằng thuỷ lợi hóa

Về nhiệt độ: Tổng l-ợng nhiệt độ cả năm từ 8300° C - 8500° C Nhiệt độ không khí trung bình năm là 24.0° C Có 5 tháng (5,6,7,8,9) nhiệt độ trung bình lớn hơn 25° C Cá biệt có những hời điểm nhiệt độ không khí lên tới 41° C (trong các tháng 5,6,7- khi có gió tây khô nóng) Có 3 tháng (gồm tháng 12 và tháng 1,2 năm sau) có nhiệt độ trung bình d-ới 20° C (th-ờng từ 12 -18° C) Vào những ngày có gió mùa đông bắc và s-ơng muối, nhiệt độ có lúc hạ xuống tới

Trang 15

4,1° C (th-ờng vào tháng 12) Nắng cả năm có 1650 - 1800 giờ nắng Tháng có

số giờ nắng nhiều nhất là tháng 7 (xấp xỉ 220 giờ) Tháng có số giờ nắng ít nhất

là tháng 2 (48 giờ) Số ngày không có nắng trung bình hàng năm là 83 ngày

Về m-a: Tổng l-ợng m-a trung bình hàng năm từ 1800 - 1900 mm Hàng năm có khoảng 137 ngày có m-a Tháng có l-ợng m-a cao nhất là tháng 9 ( đạt xấp xỉ 400mm, khi lớn nhất cao nhất lên đến 790mm) Tháng có l-ợng m-a thấp nhất là thàng 1 (chỉ đạt d-ới 20mm), thậm chí có năm tháng 1 không có m-a Mùa m-a ở đây bắt đầu từ tháng 5 và kéo dài trong 6 tháng: 5,6,7,8,9,10 l-ợng m-a chiếm tới 85% tổng l-ợng m-a trong năm

Độ ẩm không khí: độ ẩm t-ơng đối hàng năm trung bình hàng năm từ

85 - 86% Mùa đông, vào những ngày hanh heo, độ ẩm xuống thấm d-ới 50% (th-ờng xảy ra vào tháng 12) Từ cuối đông sang xuân, vào những ngày m-a phùn, độ ẩm lên tới 89% và có thời điểm hơi n-ớc đạt bão hòa sinh ẩm -ớt (th-ờng xảy ra vào tháng 2, tháng 3)

Gió: H-ớng gió thịnh về mùa đông là h-ớng bắc, đông bắc và về mùa hạ là h-ớng đông nam

Ngoài ra, ở xã Tân Ninh còn có khu vực núi N-a thuộc kiểu khí hậu vùng trung du của Triệu Sơn ở đó có mùa hè t-ơng đối nóng, gió tây khô nóng và mạnh, m-a nhiều Mùa m-a đến sớm và kéo dài dẫn đến lụt úng cho các vùng chân núi

Nhìn chung, khí hậu thời tiết ở xã là có sự thuận lợi cho việc sản xuất cây trồng, vật nuôi Tuy nhiên, một số thời điểm có yếu tố bất lợi xảy ra (rét đậm, s-ơng giá, gió tây khô nóng, hay bão lụt, giông tố ) cũng làm ảnh h-ởng không nhỏ đến kết quả sản xuất Vì vậy, cần phải căn cứ vào quy luật và biến

đổi của khí hậu, thời tiết để thay đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi cho phù hợp để biến những bất lợi thành lợi thế, mang lại hiệu quả sản xuất.[29; 51]

1.2 Nguồn gốc dân c-

Trang 16

Làng Cổ Định là một làng có từ rất sớm, làng tối cổ Chính vì vậy, dân c- ở đây cũng là dân bản địa định c- từ rất lâu đời Qua các di chỉ, đồ vật, đồ trang sức đ-ợc tìm thấy d-ới các lớp đất phân tầng nơi họ ở, ng-ời ta tìm thấy những quan tài chôn ng-ời chết bằng cả cây gỗ tròn, đại bộ phận là gỗ lim,

đinh h-ơng, chua khét, dổi, vàng tâm loại gỗ tốt tồn tại hàng ngàn năm

Các di vật đ-ợc tìm thấy d-ới tầng địa chất, ven núi N-a, cách nơi dân c- làng Cổ Định ở hiện nay khoảng 1km, các đồ vật tìm đ-ợc nh- rìu đá (đ-ợc l-u giữ tại đền N-a và bảo tàng tỉnh) có vai chạm đá, khuyên đeo tai bằng đá trắng mài bóng, đều là loại đá cứng thạch anh có nhiều ở trên dãy núi N-a Xen lẫn các di vật còn có dao găm đồng, cán tạc ng-ời chống nạnh, mác đồng kiếm hai l-ỡi bằng đồng thau, đôi khi còn có cả khâu l-ng đúc bằng đồng, ngoài ra còn có nhiều loại đồ sành sứ các loại lớn nhỏ Bát đĩa dân dựng thô sơ

đôi khi còn có cả bát đĩa Đông Thanh nữa

Nh- vậy xen chân núi N-a thuộc Cổ Định ở hiện nay vẫn còn đào đ-ợc hòm gỗ trò, tiền mang ếch có chữ lai văn (tiền Âu Lạc), dao găm đồng đồ sành sứ, nồi lá mây, bát đĩa dân dụng, bát đĩa đông thanh, song không gặp đồ

đồng mài bóng nữa, điều đó khẳng định c- dân bản địa ở trên núi là thời gian tr-ớc, ở trên đất Cổ Định ngày nay là thời kỳ sau Nh- vậy ng-ời Kẻ N-a (Cổ

Định) x-a kia sống d-ới chân núi sau chuyển dần về phía bãi sống gần đồng bằng, thời tr-ớc có lẽ là thời các vua Hùng, thời sau là thời vua Lạc (An

D-ơng V-ơng) Văn tế ở Nghè Giáp (Cổ Định) có đoạn viết: : “Sơ canh

khai phá - Thập vị tiên công - Lê, Hứa, Nguyễn, Hoàng, Doãn, Phan, Ngô, Trịnh; viễn sơn nhi định - Cận Thuỷ tất thành - Thế thế quảng canh, niên niên đại chung - Toàn dân nghinh phụng - Tá thánh vi thần - Bảo hộ xã dân - Thiên thu công đức“

Nghĩa là: Buổi khai đầu khai phá có m-ời vị tiên công thuộc các dòng

hó “Lê - Hứa - Nguyễn - Hoàng - Doãn - Phan - Ngô - Trịnh” Xa nũi m¯ định

Trang 17

gần n-ớc ắt thành, đời đời quảng canh, năm năm h-ng thịnh, toàn dân mới h-ởng, r-ớc thánh làm thần, bảo hộ xã dân, ngàn năm công đức

Nh- vậy buổi đầu lập làng có m-ơi vị tiên công ở tám dòng họ và gốc ng-ời Cổ Định xa x-a là ng-ời dân bản địa, tr-ớc là ở ven núi N-a sau tiến dần về đồng bằng chọn dãi bờ sông Lãng Giang, hiện nay để sinh sống Trong các họ ban đầu ngụ c- từ ngoài Nam Hà vào Hiện nay họ Lê Bật và họ Lê

Đình là hai dòng họ có số dân đông nhất Tại Cổ Định đã trải qua nhiều b-ớc thăng trầm, thời kỳ làng bị tàn phá dân tới ba ngàn ng-ời chỉ còn lại 13 ng-ời Xin nêu chuyện kể về nhân vật ng-ời có công lập lại làng Cổ Định

* Hiệu vệ uý Lê Thìn (ng-ời có công lập lại làng Cổ Định - Tân Ninh) ( Theo gia phả tộc họ Lê Đình (Lê Thân) tại xã Tân Ninh)

Lê Thìn sinh năm 1388 là hậu duệ 5 đời của Luật quốc công Lê Thân, nhà Minh xâm l-ợc n-ớc ta Giặc kéo về tàn phá làng Cổ Na (Tân Ninh) chém giết dã man hơn 3000 ng-ời chỉ còn lại 13 ng-ời Gia phả nhiều họ còn ghi

“Ngô thời ph² tan, tam thiên dư nhân, cơ họ tận trây, tọn nhập tam nhân” Thoát khỏi vùng vây của giặc, Lê Thìn cùng Lê Lợi - Doãn Nổ h-ớng về Lam Sơn tụ nghĩa d-ới sự lãnh đạo của Lê Lợi

Năm 1428, đại thắng quân Minh - Lê Lợi lên ngôi vua, niên hiệu Thái

Tổ cao Hoàng Đế - Lê Thái Tổ, Lê Thìn đ-ợc phong hiệu uý, cảm thông với nỗi đau khổ của quê h-ơng, năm 1430 Lê Thìn xin vua Lê Thái Tổ về quê

chiêu tập dân ly t²n cùng “Thập vị tiên công“ lập lại làng xã lấy tên là

H-ơng Cổ Ninh Lê Thìn có công đầu đ-ợc nhân dân suy tôn là anh cả

Năm 1430 là năm lập lại làng “Cổ Ninh“ nay là Cổ Định - Tân Ninh

Lê Thìn mất năm Canh Thìn 1463 đ-ợc thờ tại đình thờ thần hoàng của làng Thanh Trì xã Tân Ninh Lúc này tại Cổ Định có 10 giáp là: Trì, Th-ợng

“Tuấn”, Đông, Đo¯i, Nội, Ngo³i, Thượng (qu°) H³, Đọng, Bến H¯ng năm lấy ngày 20 tháng 10 âm lịch làm ngày kỷ niệm lập tại làng

Trang 18

1.3 Sự hình thành và phát triển của làng

“L¯ng x± l¯ một cộng đọng cõ tính chất dân tộc hóc, x± hội v¯ tín ngưỡng

Nó hình thành trong quá trình liên hiệp tự nguyện giữa ng-ời dân lao động trên con đường chinh phúc nhửng vùng đất gieo trọng” [35,12] Theo giáo s-

Nguyễn Từ Chi làng là từ Nôm, để chỉ đơn vị tụ c- nhỏ nhất trong hoàn chỉnh của ng-ời nông dân Việt, còn xã là từ Hán để chỉ đơn vị hành chính thấp nhất

ở các vùng nông thôn Việt Vùng đồng bằng và trung du Bắc Bộ, xã của ng-ời Việt có thể bao gồm từ một đến nhiều làng, tùy từng tr-ờng hợp Mặt khác, trong nhiều tr-ờng hợp xã lại chỉ gồm một làng

Chạ Kẻ N-a, xã Cổ Định nay thuộc xã Tân Ninh, huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hóa vốn là vùng đất cổ đ-ợc hình thành vào thời đại các vua Hùng và

đã có trên 2000 năm lịch sử Ngay cái tên gọi Kẻ, Chạ, nói trên khẳng định

sự tụ c- và hình thành rất sớm các cộng đồng dân c- trong lịch sử dựng n-ớc

và giữ n-ớc

Xét về tên gọi của làng ban đầu có tên gọi là Kẻ N-a Đối chiếu với một

số công trình nghiên cữu về địa danh “KÍ” cða c²c nh¯ dân tộc hóc, x± hội học thì quá trình dựng n-ớc của các vua Hùng đ-ợc xác định theo truyền thuyết và th- tịch cổ vào khoảng 2000 năm TCN đã mở rộng địa bàn c- trú và tiếp tục đẩy mạnh công cuộc chinh phục đồng bằng Thanh Hóa, t-ơng ứng với thời kỳ văn hóa Đông Sơn rực rỡ Vào giai đoạn này ng-ời Việt cổ trên đất Thanh Hóa đã tràn xuống định c- trên các dòng sông lớn Cuộc sống ổn định, phát triển dân c- đông đúc thêm Lức này địa danh hành chính cơ sở Việt cổ

cõ tụ “KÍ” đã xuất hiện và phân bổ khắp các vùng Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ

“KÍ” chính l¯ tiền thân cða l¯ng sau n¯y, củng l¯ l¯ng Việt cồ, hình th¯nh trên cơ sở giải thể các công xã nông thôn hay những tổ chức t-ơng tự thời nguyên thuỳ” [48; 50]

Theo khảo cứu của GS Đinh Xuân Lâm thì địa thế Cổ Định có nhiều nét đặc sắc để đ-ợc chọn làm địa bàn sinh tụ sớm của con ng-ời Núi N-a là

Trang 19

dãy núi cuối cùng phía đông của một mạch núi kéo dài từ Tây Hiếu (Nghệ An) qua Nh- Xuân (Thanh Hóa) đổ về Với độ cao gần 500m, đây là một trong những dãy núi cao nhất rải rác quang đồng bằng Thanh Hóa Đây chính

là bức t-ờng thành đông nam của một thung lũng rộng lớn chạy suốt từ xã Hợp Thành, Hợp Lý đến Thọ Tiến, Thọ Tân của huyện Triệu Sơn Thung lũng này đ-ợc khép lại ở mạn đông bắc gồm những dãy đòi đất đỏ thấp và tròn nh- những quả trứng khổng lồ nên có tên là Cửu Noãn Sơn (ổ chín trứng rồng), nói lên mong muốn của ng-ời x-a có con cháu đời đời sinh sôi nảy nở, tiếp nối truyền thống

Ôm vòng chân núi phía đông núi N-a là len lỏi giữa các đồi bát úp, rồi đỏ

về phía đông nam là dãy Lãng Giang (sông L-ời) n-ớc chảy lững lờ, chậm chạp nên mới có tên đó Lòng sông hẹp nh-ng sâu thẳm, hai bên bờ dốc thẳng đứng Thung lũng núi N-a năm trên vành đai bao quanh đồng bằng châu thổ

từ phía bắc qua tây, đến tận cực nam Thanh Hóa Phía đông núi N-a là đồng bằng châu thổ, đất đai mầu mỡ, từ rất sớm đã là những tụ điểm dân c- dông

đúc Ng-ợc về phía tây nam núi N-a là một vùng rừng núi rộng lớn và càng vào sâu càng hiểm trở

Ngoài điều kiện tự nhiên trên, các truyền thuyết l-u truyền từ xa x-a trong vùng - nh- truyền thuyết “Tu Nưa g²nh nũi dón đọng”, “Tu Nưa đấu Tu Vọm” dẫn ta trở lại thời khai thiên lập địa xa x-a Sự tồn tại dai dẳng một số thổ ngữ ngày nay chỉ bắt gặp ở một vài c- dân miền núi càng khẳng định thêm tính chất tối cổ của địa ph-ơng này Ví dụ nh-: con kha cắn (gà gáy); buốt trốc (gội đầu); trốc cuốn (đầu gối); điền mụ (đàn bà); con cấy (con gái); cấu,

lọ (gạo, thóc).v.v Ngày nay ở di tích Nghè Giáp (đền thờ Trần Khát Chân) ng-ời ta tìm thấy vật thờ là vỏ trấu giống vật thờ ở đền Hùng Hai vỏ trấu tạc bằng gỗ sơn son, thiếp vàng, to bằng hai chiếc thuyền thúng, nhọn hai đầu, là hình ảnh t-ợng tr-ng cho thần lúa (một tục lệ thờ rất cổ của ta)

Trang 20

Trong khi đó các cuộc khai quật khảo cổ học trong vùng đã phát hiện tại núi N-a và trên tả ngạn sông Mã, các rìu đá có vai, khuyên đeo tai bằng đá

đen hay trắng, g-ơng soi bằng đá mà bóng, càng cho phép khẳng định Kẻ N-a (tức vùng đất Cổ Định ngày nay) xuất hiện từ thời các vua Hùng

Vì vậy, Cổ Định có nghĩa là tối Cổ vị Định, vị trí đã định là một làng tối

cổ X-a kia, Cổ Định có tên gọi là Kẻ Nứa (gọi nôm là Kẻ N-a) Tên Kẻ N-a

là bởi dãy núi phía tây Cổ Định có đặc sản là cây nứa, nứa là nguồn nhiên liệu, vật liệu dồi dào đ-ợc ng-ời dân bản địa dùng đan lát giành, phên, hom, tranh, bồ đem bán ở nhiều nơi (xã Tân Thọ có làng Nặng giáp danh với làng Cổ

Định chuyên làm nghề đan lát chất liệu lấy từ nứa) Vì vậy mà ở nơi khác đều gọi ng-ời dân ở núi N-a là ph-ờng Kẻ Nứa, dân Kẻ Nứa Kẻ Nứa tên gọi x-a của làng Cổ Định, kéo dài từ Hà Mơ xuống kẻ Trát xã Trung ý huyện Nông Cống theo chiều dài khoảng 22 km Đây là một điều kiện thuận lợi để ng-ời dân Cổ Định (Kẻ Nứa) phát triển kinh tế, đời sống, giúp ng-ời dân Kẻ Nứa

mở rộng giao l-u,tiếp xúc và tiệp thu những cái hay cái đẹp của nhiều nơi mang về xây dựng quê h-ơng Nói về cây Nứa ca dao cổ còn ghi:

“Em đ± thuận lấy anh chưa

Để anh đốn Nứa Ng¯n Nưa dựng nh¯“

Năm 111 (TCN) Nam Hán sang xâm l-ợc đặt châu, quận để cai trị Chữ Hán tiếng Nứa không có nên phiên âm là Na, vùng Nứa này gọi là Na Sơn hay

Cổ Na (làng Cổ)

Trong lịch sử của cuộc đấu tranh chống lại sự đô hộ của các triều đại phong kiến ph-ơng Bắc, nhân dân Cổ Định đón nhận nghĩa quân Hai Bà Tr-ng do t-ớng Đô D-ơng chỉ huy rút về vùng này lặp căn cứ tử thủ, để lại cho đời sau những câu chuyện dân gian đầy khí phách anh hùng Tuy nhiên phải đến khởi nghĩa Bà Triệu (248) thì Cổ Định mới thực sự rõ sức mạnh quật c-ờng của mình Nổi lên từ quận Quân An - thủ phủ quan sự quân sự của nhà Ngô, quân bà Triệu tiến về T- Phố (ở vùng làng Dàng thuộc xã Thiệu D-ơng,

Trang 21

huyện Thiệu Hóa , tỉnh Thanh Hóa ngày nay), thủ phủ chính trị của nhà Ngô Cả một vùng rộng lớn đã nổi dậy h-ởng ứng mà hậu cứ vững chắc là Ngàn N-a Cuộc khởi nghĩa nhanh chóng tiêu diệt đ-ợc lực l-ợngđầu não của chính quyền đô hộ ở Cửu Chân Sau đó, từ Cửu Chân, cuộc khởi nghĩa đã nhanh chóng lan ra Giao Chỉ vào tận Cửu Đức, Nhật Nam Sử nhà Ngô phải thừa

nhận cuộc khởi nghĩa cða B¯ Triệu đ± l¯m “toàn châu Giao trấn động” v¯ thữ

sử Châu Giao mất tích Hốt hoảng tr-ớc sức mạnh và thanh thế của nghĩa quân

Bà Triệu, triều đình nhà Ngô phải cử Lục Dận (cháu họ viên danh t-ớng Lục Tốn) đem một binh lực lớn với nhiều lâu thuyền yểm trợ kéo sang n-ớc ta nhằm đè bẹp cuộc khởi nghĩa Cuối cùng với t-ơng quan lực l-ợng chênh lệch, cuộc khởi nghĩa Bà Triệu bị đàn áp, và Bà Triệu đã anh dũng tuẫn tiết ở núi Tùng (Hậu Lộc - Thanh Hóa) Sau khi Bà Triệu mất, nhân dân nhiều nơi ở Thanh Hóa đã lập đền để thờ Bà Qua điều tra ở Thanh Hóa có năm địa ph-ơng có đền thờ Bà Triệu gồm một đền thờ ở Nông Cống, hai đền thờ ở Triệu Sơn, một đền thờ ở Yên Định và một đền thờ ở Hậu Lộc Tất cả các đền này đều có tên là Lệ Hải Bà V-ơng, nh-ng thông th-ờng thì đền ở địa ph-ơng nào thì lấy tên địa ph-ơng đó để gọi tên, nh- Đền N-a xã Tây Ninh huyện Triệu Sơn chính là đền Bà Triệu (mà dân gian còn gọi là đền Đức vua Bà).Từ bao đời nay, quanh vùng N-a vẫn còn bài đồng dao ca dao quen thuộc:

“ Ru con con ngủ cho lành

Để mẹ gánh n-ớc rửa bành cho voi Muốn coi lên núi mà coi

Coi b¯ Triệu tướng cỡi voi đ²nh cọng”

Hiện nay, xung quanh vùng núi N-a - Cổ Định (Tân Ninh - Triệu Sơn) vẫn còn rất nhiều địa điểm, địa danh gắn với truyền thuyết liên quan đến cuộc khởi nghĩa Bà Triệu nh-: Hang Cắc Cơ (nơi Bà Triệu đ-ợc kho vàng của giặc Ngô) Làng Chén: nơi ăn uống tập trung; Bãi bò (nơi chuyên nuôi bò thịt); Eo

sở (nơi chuyện trồng sở để lấy dầu thắp cho quân gia; Bùng cổ Ngựa (nơi cho

Trang 22

ngựa để nghe động tĩnh bên ngoài Từ làng nơi dân c- sinh sống nhìn vào núi N-a, nơi này giống l-ng con ngựa mà đầu ngựa đ-ợc cất cao là đỉnh Ngàn N-a l¯ nhửng tú điểm quân cða “nghĩa quân B¯ Triệu”, ²n ngử c° một vùng núi sông hoành tráng

Từ những địa danh, địa điểm và truyền thuyết nêu trên, chúng ta không thể xem đó là t- liệu hay sự kiện lịch sử chính thống, nh-ng trên bình diện xã hội học và văn hóa học mà xét thì tất cả những địa danh, truyền thuyết l-u truyền đều có giá trị vì đã phản ánh đ-ợc dấu ấn, tinh thần của lịch sử đã từng diễn ra trên vùng đất Kẻ N-a - Cổ Định Và núi N-a của căn cứ khởi nghĩa Bà Triệu chống Ngô năm 248 sẽ vẫn còn in đậm mãi mãi trong tâm thức của tất cả mọi ng-ời hậu thế với một sự tự hào khôn xiết

Nh- vậy đến thời Bắc thuộc tên gọi Kẻ N-a vẫn tồn tại Đến thời nhà

Đ-ờng (618-907), nhà Đ-ờng Sắp xếp lại toàn bộ chế độ hành chính và phân chia châu, quận, Kẻ N-a gọi là h-ơng Cổ Na (vì có núi Na Sơn ở vùng này) Giữa niên hiệu Khai Bình (907-911), khi tiết độ sứ Khúc Hạo giành đựơc quyền tự chủ đã đổi h-ơng làm giáp, h-ơng Cổ Na đ-ợc đổi là giáp Cổ Na.Đơn vị hành chính này đ-ợc duy trì đến thời Lý-Trần Vào năm 1292, nhà Trần lại đổi giáp làm h-ơng, giáp Cổ Na lại đ-ợc đổi thành h-ơng Cổ Na Vùng đất kẻ N-a với núi cao sông sâu, đồng bằng phì nhiêu, rừng thẳm kéo

dài trở thành vùng đất “địa linh nhân kiệt“ Chính đặc điểm đó đã sản sinh

cho vùng đất này nhiều nhân vật lịch sử nổi tiếng có những quan trọng cho sự phát triển đất n-ớc, trong đó có dòng họ Doãn D-ới thời Lý - Trần nhiều nhân vật lịch sử kẻ N-a đ-ợc sử sách ghi nhận và nêu g-ơng đó là Doãn Anh Khải vào năm Canh Tuất (1130) Thiên Thuận thứ ba đời Lý Thần Tông (1128- 1138), Doãn Tử T- năm Giáp Thân (1164) đời Lý Anh Tông ( 1138- 1175) là những bậc tài năng lớn đ-ợc các vua Lý tin t-ởng cử sang triều Tống (Trung Quốc) làm sứ giả của n-ớc Đại Việt Đến đời Trần có Doãn Bằng Hài đỗ Thái học sinh, đ-ợc cử làm chánh sứ sang triều Nguyên năm Nhâm Tuất (1322),

Trang 23

sau khi hoàn thành nhiệm vụ về n-ớc đ-ợc phong thiếu phó, t-ớc H-ơng

Đình hầu Tiếp đó, cụ Doãn Ân Phủ năm 1317 đ-ợc vua Trần Minh Tông cử

đi sứ Trung Quốc Đấy là những nhà ngoại giao xuất sắc Ngoài ra còn có cụ Doãn Định (1312 - 1363) làm giám sát Ngự sử d-ới triều Trần Dụ Tông, dám can ngăn vua, vạch lỗi lầm của Thái Th-ợng Hoàng

Kẻ N-a còn là nơi sản sinh ra Luật Quốc công Lê Thân Năm H-ng Long thứ 7 (1299), d-ới triều Trần Anh Tông, triều đình mở khoa thi Hội, Lê Thân đã đậu bảng nhãn D-ới thời vua Trần Dụ Tông (1341 - 1369), Lê Thân

đ-ợc bổ chức hàn lâm viện biên tu hình Luật, sau đó đ-ợc thăng chức Hành khiển Với chức quan đầu triều và trọng trách nặng nề Lê Thân đã mệt mài nghiền ngẫm các sách cổ về hình luật, trải ba năm ông dâng lên vua bộ Hình luật, đ-ợc vua khen ngợi và đ-a ra triều đình cùng bàn luận

Khi tuổi cao sức yếu, Lê Thân xin đ-ợc về nghỉ ngơi tại quê nhà Vua Trần Dụ Tông thấy ông đã hết lòng với n-ớc, tận hiếu với dân xuống chỉ ban cho Lê Thân t-ớc Luật Quận công và cấp ruộng lộc điền để khai khẩu Ông còn đ-ợc vua Trần tiễn đ-a với bài thơ Tống Công Hồi, thắm thiết tình nghĩa Vua tôi Lê Thân mất ở tuổi 86, vua Trần cho quan về làm lễ quốc tế và phong

ông làm Phúc Thần của làng

Năm 1389, Nguyễn Kỵ ng-ời Cổ Định, lãnh đạo cuộc khởi nghĩa của nông dân chống áp bức bóc lột của phong kiến cuối thời Trần, lấy núi N-a làm căn cứ Nguyễn Kỵ tự x-ng là Lê V-ơng Điền Kỵ, sau đó kéo quân đến trang Đông Lỗ ( thuộc huyện Thiệu Yên tr-ớc đây) lập căn cứ chống lại sự rạn nứt của phong kiến cuối Trần và âm m-u c-ớp ngôi của Hồ Quý Ly

Đến thế kỷ XV, vùng đất Kẻ N-a đã là nơi khá phát triển về mọi mặt, trở thành một vùng trung tâm của tây nam Thanh Hóa Về nông nghiệp, công cuộc khai hoang mở rộng ruộng đồng, làng xóm đ-ợc đẩy mạnh, kinh tế thủ công nghiệp nh- nghề dệt, nghề đan lát đ-ợc chú trọng phát triển Sinh hoạt văn hóa dân gian ở Kẻ N-a với những ngày lễ, hội mùa trở thành những truyền

Trang 24

thống tốt đẹp, bền chặt mang lại không khí mới cho làng quê Về dân c-, Kẻ N-a thời kỳ này đã trở thành một làng dân c- đông đúc, sầm uất với nhiều dòng họ định c- Một số dòng họ vọng tộc lâu đời ở Kẻ N-a trong các thế kỷ tr-ớc đó đã có nhiều ng-ời nổi danh nh- họ Doãn, họ Lê mà những cống hiến của họ đã góp phần làm phong phú và rực rỡ thêm đời sống văn hóa của làng xã, đất n-ớc, nay lại đ-ợc phát huy trong điều kiện lịch sử mới Chính

đặc điểm đó, vào thế kỷ thứ XV, khi quân Minh sang xâm l-ợc ng-ời dân Kẻ N-a đã nổi dậy chống giặc từ những buổi đầu

Có thể thấy vào các năm 1414 - 1417, khi Nguyễn Chích nổi dậy chống quân Minh, lấy núi Hoàng Nghiêu làm căn cứ chống giặc, ng-ời dân Kẻ N-a

đã tích cực tham gia đóng góp xây dựng căn cứ; đặc biệt trong đó có ba anh

em họ Doãn là Doãn Luân, Doãn Lại, Doãn Thịnh đã nhiệt tình ủng hộ nghĩa quân Nguyễn Chích

Truyền thuyết và gia phả cho biết: năm 1414 khi giặc Minh tập trung lực l-ợng hòng dập tắt khởi nghĩa của Nguyễn Chích, bằng cách vây mọi ngả

đ-ờng vào căn cứ Hoàng - Nghiêu, vì thế mà nghĩa quân Nguyễn Chích gặp nhiều khó khăn Nh-ng ng-ời dân Kẻ N-a đã tổ chức nhiều đội vận l-ơng cho nghĩa quân Trong một lần đi tiếp tế cho căn cứ, cả ba anh em Doãn Thính (sau này có tên là Doãn Nỗ) đều bị bắt Sau đó ông trốn thoát và về sách Khả Lam tham gia nghĩa quân của Lê Lợi

Về những đóng góp của Doãn Nỗ đối với cuộc khởi nghĩa Lam Sơn,

sách Đại Việt sử ký toàn th- chép: “ Năm ất Tỵ (1425), tháng 5 vua sai T-

Không Lê Lễ (Lễ là cháu gọi bằng cậu, vốn họ Đinh đ-ợc ban họ Lê) đi tùân

ở Diễn Châu Lễ đặt phục binh tr-ớc, quân Minh không biết Gặp khi Đô tỵ Tr-ơng Hùng của nhà Minh đem hơn 3000 chiếc thuyền chở l-ơng từ Đông Quan đến Trong thành mừng lắm, tranh nhau mở cửa thành ra đón Quân phục thình lình nổi dậy, chém viên Thiên hộ họ T-ởng và hơn 300 quân giặc

Trang 25

Hùng thoá chạy, Lễ c-ớp lấy thuyền l-ơng rồi đuổi theo, vừa đi vừa đánh, đến tận thành Tây Đô

Bấy giờ, giặc đều đến cứu thành Nghệ An, vua đoán là các thành Tây

Đô đều đã suy yếu, liền chọn 200 quân tinh nhuệ, 2 thớt voi, sai bọn Lê Lễ, Lê Sát, Lê Nhân Chú và Lê Triện, Lê Bị đi gấp theo đ-ờng đất đánh úp Thành Tây Đô chém đ-ợc hơn 500 thủ cấp giặc, bắt sống đ-ợc rất nhiều Quân Minh

đóng cửa thành cố thủ Dân c- ngoài thành, bọn Lê Triện đều thủ dụ đ-ợc cả Bấy giờ ng-ời Thanh Hóa tranh nhau đến cửa quân xin liều chết đánh giặc Bèn bao vây th¯nh đõ”

Tiếp đõ “ Mùa thu tháng 7, vua dự đoán thành giặc ở các xứ Thuận Hóa, Tân Bình đã từ lâu không thông tin tức với Nghệ An và Đông Đô, bảo c²c tướng: “Người l¯m tướng giỏi ngày x-a bỏ chỗ rắn, đánh chỗ mềm, tránh chỗ mạnh đánh chỗ yếu, nh- thế chỉ dùng một nửa sức mà nên công gấp đôi” Bèn sai T- đồ Trần Hãn và Th-ợng t-ớng Lê Nỗ báo cho bọn Lê Đa Bồ

đem hơn 1000 quân và 1 thớt voi ra đánh các thành Tân Bình, Thuận Hoá và chiêu dụ nhân dân

Đến sông Bố Chính thì gặp giặc Minh, bọn Hãn đ-a quân vào chỗ hiểm yếu, bí mật mai phục ở Hà Kh-ơng để nhử giặc T-ớng Minh là Nhiệm Năng

đem hết quân tiến vào Bọn Hãn hợp binh t-ớng còn lại để đánh rồi giả cách thua chạy, Năng đuổi theo, quân mai phục đánh kẹp hai bên, giặc Minh tan

vỡ, bị chém đầu và chết đuối rất nhiều

Bấy giờ quân của Hãn là Nỗ có ít mà quân giặc còn rất đông, đã sai ng-ời cáo cấp và xin thêm quân từ tr-ớc Vua sai tiếp bọn Lê Ngân, Lê Bôi,

Lê Văn An đem 70 chiếc thuyền chiến v-ợt biển đến thẳng chỗ đó Đến khi

đ-ợc tin thắng trận của Nỗ, liền thừa thắng đánh vào các xứ Tân Bình3 , Thuận Hoá4 , quân và dân các nơi giặc chiếm đều quy thuận Quân Minh vào thành

cố thủ Thế là Thuận Hoá, Tân Bình đều thuộc về ta cả”[36; 254-255]

Trang 26

Đến cuối năm 1425, cả vùng rộng lớn từ Tân Bình - Thuận Hoá đến Thanh Hoá đã thuộc về nghĩa quân Lam Sơn Từ một đội quân nhỏ bé ở núi rừng Lam Sơn, đến nay lực l-ợng nghĩa quân đã đông đảo đến hàng vạn ng-ời gồm đủ quân thuỷ, bộ, voi, chiến tr-ởng thành v-ợt bậc về số l-ợng và chất l-ợng để tiến công ra Bắc giải phóng Đông Quan kết thúc thắng lợi cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc 10 năm do Lê Lợi khởi x-ớng và lãnh đạo Trong đội ngũ những ng-ời anh hùng có công trong sự nghiệp giải phóng dân tộc có tên Doãn Nỗ Tháng 4 - 1428, Lê Lợi từ dinh Bồ Đề chuyển về thành Đông Đô Ngày 29 tháng đó, Lê Lợi lên ngôi Hoàng đế, khôi phục quốc hiệu Đại Việt, lấy niên hiệu

là Thuận Thiên Cũng vào năm này, vua định công lao các công thần khai quốc,

có nhiều công lao đ-ợc mang họ vua, Doãn Nổ đ-ợc ban quốc tính (Lê Nỗ) nhập tịch Khả Lam, phong Trụ quốc Th-ợng t-ớng quân, t-ớc Quan phụ hầu

Vào thời Lê Thái Tổ, vùng h-ơng Cổ Na đ-ợc đổi thành xã Cổ Ninh Năm 1527, triều Mạc (1527 - 1592) thay thế triều Lê sau đó các cuộc xung đột giữa các phe phái phong kiến đ-a đất n-ớc vào tình trạng chia cắt kéo dài, hết Lê Mạc phân tranh, lại đến Trịnh Nguyễn phân liệt Tình hình đó

đã tác động trực tiếp đến đời sống kinh tế, chính trị, văn hoá ở mỗi địa ph-ơng, trong đó Thanh Hoá trở thành căn cứ địa của sự nghiệp trung h-ng nhà Lê Một loạt cuộc nổi dậy của các m-u thần nhà Lê trên đất Thanh Hoá, ở thời kỳ này khởi nghĩa của Lê ý, khởi nghĩa của Lê Công Uyên và vùng đất

Kẻ N-a – xã Cổ Ninh có là quê h-ơng của cuộc khởi nghĩa của Lê Tuấn Kiệt

Lê Tuấn Kiệt quê ở làng Cổ Định (nay thuộc xã Tân Ninh - huyện Triệu Sơn) Sinh tr-ởng trong một gia đình nghèo khó, lớn lên ông đi lính thời Lê Cung Đế (1522 - 1527), ông đã đ-ợc thăng đến chức Th-ợng tể (quan đầu triều) Khi Mạc Đăng Dung chiếm quyền, Lê Tuấn Kiệt lui về Thanh Hoá tập hợp binh mã, lấy danh nghĩa đánh giặc đem lại chính nghĩa Mạc Đăng Dung biết ông là ng-ời có tài, cho ng-ời đem vàng bạc tới dụ dỗ ông về hàng, sẽ

Trang 27

phong cho t-ớc v-ơng, nh-ng ông nổi giận mắng Đăng Dung là nghịch thần, rồi chém đầu sứ giả Khoảng thời gian sau 1527, ông dựng cờ khởi binh ở Thanh Hoá đánh Mạc Cuộc khởi nghĩa của Lê Tuấn Kiệt cũng nhanh chóng

bị nhà Mạc dập tắt, do ch-a đủ lực l-ợng, ch-a đủ mạnh để đối đầu với quân chính quy của Mạc Đăng Dung Sau các cuộc khởi nghĩa của các cựu thần nhà

Lê bị thất bại, công cuộc trung h-ng nhà Lê đ-ợc Nguyễn Kim khởi x-ớng và lấy Thanh Hoá làm căn cứ địa, vì thế mà suốt từ năm 1527 khi quân Lê - Trịnh thu phục đ-ợc kinh thành Thăng Long đến 1593, Thanh Hoá trở thành chiến tr-ờng ác liệt Và sau gần 70 năm bị đuổi khỏi kinh thành, vua Lê trở về chính

điện Thăng Long trăm quan đến chào mừng Sự nghiệp trung h-ng nhà Lê đến

đây hoàn tất

Thời Lê trung h-ng, vua đầu triều là Lê Trang Tông (1533 - 1548) tên huý

là Lê Duy Ninh vì kiêng tên huý nhà vua, Cổ Ninh đ-ơng đổi thành Cổ Định Thời kỳ này, Cổ Định cũng sản sinh nhiều bậc danh t-ớng l-ơng thần, những nhân vật nổi tiền đã có nhiều đóng góp cho quê h-ơng đất n-ớc Đó là

Hổ t-ớng Tào Sơn hầu Lê Mạnh có công phò giúp nhà Lê Tể t-ớng quận công Lê Bất T-, Doãn quận Công (tức Doãn Huy)

Đầu thế kỉ XIX, thời vua Gia Long(1802-1820) tên Cổ Định đ-ợc dùng

để đặt tên làng (xã) và tên tổng trong số 9 tổng của huyện Nông Cống, phủ Tĩnh Gia, trấn Thanh Hoá Thời vua Đồng Khánh (1885 – 1888) xã Cổ Định thuộc tổng Cổ Định, huyện Nông Cống, phủ Tĩnh Gia, tỉnh Thanh Hoá Xã Cổ

Định thời kỳ này đ-ợc chia thành các xóm: xóm Giáp, xóm ất, xóm Bính, xóm Đinh, xóm Mậu

Cổ Định trong thời kỳ chống thực dân Pháp cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20 Cùng với phong trào khác trong tỉnh, trên đất huyện Triệu Sơn, các cuộc

nổi dậy đã bùng nổ ngay từ buổi đầu phối hợp với nhiều cuộc khởi nghĩa khác

Đ-ợc sự đồng tình của dân làng, tất cả các thủ lĩnh của phong trào đều lấy ngay quê h-ơng mình làm nơi mộ quân và luyện tập xây dựng đồn luỹ, biến

Trang 28

xóm làng thành chiến tr-ờng diệt địch, dãy núi N-a và những mạch núi đồi không cao lắm chạy dài về phía Tây Bắc có nhiều thung lũng xen kẽ là nơi che dấu lực l-ợng của nghĩa quân, có thể mở những con đ-ờng kín đáo chạy thẳng lên vùng th-ợng du Thanh Hoá, hoặc đi về các huyện khác Sông nhà Lê, sông Nhơm chạy qua huyện Triệu Sơn và hai bên bờ là rừng cây kín đáo và là đ-ờng thuỷ quan trọng, cũng là nơi trú quân của các nghĩa sĩ Cần V-ơng Trên đất Cổ

Định cũng là một trong hai trung tâm của nghĩa quân nhằm tập hợp lực l-ợng Trung tâm này bao gồm 20 xã phía Đông nam huyện Triệu Sơn (thuộc huyện Nông Cống cũ) đặt tại núi N-a Cổ Định, do cử nhân Lê Ngọc Toản lãnh đạo Năm 1868, ông Lê Ngọc Quang (làng Cổ Định, nay là xã Tân Ninh), 68 tuổi cùng con trai thứ 5 là Lê Ngọc Toản 24 tuổi đi thi h-ơng Lê Ngọc Toản đỗ

cử nhân xếp thứ 4 Lê Ngọc Quang đỗ cử nhân thứ 15, là ng-ời cuối cùng Lê Ngọc Quang đã trình bày với các quan giám khảo đánh tụt một bậc để đánh đầu

tú tài vì đầu gà còn hơn đuôi voi, tuổi đã cao có đỗ cử nhân cũng không đi làm quan đ-ợc Một mình Lê Ngọc Toản trẻ tuổi đi làm quan là đủ.Vì vậy, Nguyễn Văn H-u, ng-ời Ngọc Bối, huyện Đông Sơn đứng đầu tú tài đ-ợc đứng tên đỗ

cử nhân thứ 15 Cùng khoa thi năm ấy, xã Tân Ninh có Lê Ngọc Giáp cũng đỗ

tú tài Lê Ngọc Quang về nhà dạy học và mất năm 1886 Lê Ngọc Toản đ-ợc

bổ đi làm Tri phủ Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ Ông bị quân cờ đem của L-u Vĩnh Phúc bắt Khi đ-ợc tha, Lê Ngọc Toản bỏ trốn phủ đ-ờng, chạy một mạch về

Cổ Định, lại một mạch đến Tân Sở, Quảng Bình Ông đ-ợc vua Hàm Nghi

phong làm Tán t-ơng quân vụ nghĩa quân chống Pháp tại Nông Cống, d-ới

quyền ông là Tú Viễn Lê Ngọc Toản đ-ợc giao nhiệm vụ tuyển quân ở các tổng: Cổ Định, Lai Triều, Đồng Xá (20 xã phía Nam huyện Nông Cống, thuốc

huyện Triệu Sơn ngày nay) Năm 1885, Lê ngọc Toản viết Bài hịch Cần v-ơng

đầy nhiệt huyết nhằm tập hợp lực l-ợng:

“ Th²nh hiền nói quốc gia còn, mất Thất phu phải có trách nhiệm

Trang 29

Nh- n-ớc Đại Việt ta là n-ớc Văn Hiến Bỗng lâm thảm hoạ Tây d-ơng

N-ớc mất, nhà tan, thành tàn, chúa nhục Sông Lãn, núi Na xung khí uất

Tĩnh Gia, Nông Cống rực căm thù Chiếu Cần V-ơng kêu gọi toàn dân cử nghĩa Mệnh Ngọc tôi làm Tán t-ơng quân vụ Khởi dân binh, nổi trống ở Na Sơn Thiết nghĩ:

Vì n-ớc hãy đem hết sức Vì vua nào nghĩ đến yên thân Ng-ời tuy già nh-ng l-ỡi kiếm không già Mong mọi ng-ời một dạ xông lên

Diệt bọn xâm l-ợc, diệt bọn tay sai Việc đổi thành bại chỉ ở buổi này thôi Kính cẩn vài lời tâm huyết

Mong bàn dân thiên hạ cùng hay“

Vốn thuộc gia đình nho giáo, nhiều ng-ời học hỏi có danh vọng nên khi

Lê Ngọc Toản kêu gọi, nhân dân h-ởng ứng rất đông, Lê Ngọc Toản xây căn

cứ ở núi N-a ngay trên đất quê h-ơng của ông (nơi từ x-a đã có khởi nghĩa Bà Triệu) Cùng trong một địa bàn và do ảnh h-ởng, các nhóm nghĩa quân của Lê Xuân Tr-ờng (Thông D-ơng) xã Tân Khang và Nguyễn Văn Quỳ (Thông Quỳ) xã Trung Chính cũng nhanh chóng sát nhập với nghĩa quân núi N-a của

Lê Ngọc Toản Nghĩa quân Lê Ngọc Toản lập hai khu vực đồn trại ở khe Ba

Động và Sả Hẻo (nay thuộc xã Tân Ninh) Hai nơi đóng quân của ông cách nhau một cây số, nằm trên đ-ờng nối liền hai tổng Cổ Định và Lai Triều, lại

có đ-ờng xuyên sang Thọ Xuân, Nh- Xuân dọc chân núi N-a Nghĩa quân đặt một vọng gác tiền tiêu tại làng Tuy Định (nay là xã Tân Thọ) để án ngữ đoạn

Trang 30

đ-ờng từ Cầu Quan đi Quán Giắt Bộ chỉ huy nghĩa quân núi N-a đứng đầu là

Lê Ngọc Toản, ngoài ra còn có Lê Duy Tân làm quản binh luyện tập quân và

Lê Xuân Tr-ờng làm đốc vận quân l-ơng Nghĩa quân của Lê Ngọc Toản có khoảng 200 ng-ời, chuyên đánh phục kích quân Pháp trên đ-ờng đi từ Cổ

Định đến Quán Giắt Tả về căn cứ nghĩa quân, Lê Ngọc Toản viết trong bài

Sự nghiệp Cần V-ơng đ-ơng lúc dậy Bình Tây s²t t° ý không nho¯“

Có thể nói phong trào Cần V-ơng chống Pháp ở Nông Cống tập trung vào 3 nhân vật chủ yếu là: Tri huyện Tôn Thất Hàm, cử nhân Lê Ngọc Toản

và tú tài Nguyễn Ph-ơng Uy tín và ảnh h-ởng của 3 vị đã kích động các nhà nho, các quan chức và hào lý trong vùng, đứng lên cầm đầu phong trào chống Pháp của nhân dân Bên cạnh 3 nhân vật chủ chốt đó, liên quan đến phong trào Cần V-ơng ở Triệu Sơn còn có Đỗ Tuấn Dẫy (nguyên Cai tổng và là Bang tá bên cạnh Tri huyện Tôn Thất Hàm) Ông Hiệp Tá (quê làng Gốm, Triệu Sơn)

là nhân vật tích cực giúp Đỗ Tuấn Dẫy xây dựng căn cứ chống Pháp tại núi Hoàng Nghiêu Đầu năm 1886, nghĩa quân này đã lên tới 300 ng-ời

Nh- vậy, từ cuối năm 1885 đến đầu 1886, nghĩa quân của Tôn Thất Hàm, Đỗ Tuấn Dẫy (Bang Văn), Lê Ngọc Toản tích cực hoạt động ở huyện Nông Cống – một phần của huyện Triệu Sơn ngày nay

Sau khởi nghĩa Ba Đình, và Mã Cao thất bại tại xã Tân Ninh, quân Pháp bơm dầu hoả đốt nhà Lê Ngọc Toản và doạ đốt cả làng Cổ Định Lê Ngọc

Trang 31

Toản đành ký thoả -ớc với công sứ Pháp ở tỉnh Thanh Hoá: giải tán nghĩa binh, giao nộp vũ khí , quân sĩ không bị Pháp bắt tội Lê Ngọc Toản phải ra làm quan với vua mới là Đồng Khánh, đi làm tri huyện H-ơng Khê Đến H-ơng Khê, Lê Ngọc Toản tránh va chạm với Phan Đình Phùng còn đang chống Pháp ở đó Đ-ợc một năm, Lê Ngọc Toản trở về Cổ Định mở tr-ờng dạy học, tiếp tục cổ động học sinh tham gia phong trào Cần V-ơng cứu n-ớc

Mụng thượng thó, hóc trò tặng thầy bữc đ³i tứ kh°m trai cõ 4 chử lớn “Thọ

khảo tác nhân” (Sống lâu dạy nên những con ng-ời)

Đến năm 1903, tại Cổ Định, Lê Trọng Nhị con cụ Lê Ngọc Toản đỗ cử nhân Lê Trọng Nhị h-ởng ứng phong trào Duy Tân: cắt búi tóc,để tóc ngắn, lập hội buôn hàng nội hoá, mở trại khai hoang, mở tr-ờng dạy học kiểu Đông Kinh Nghĩa Thục, đọc Tân th-, vận động phong trào Đông Du Năm 1908, khoảng

20 sĩ phu Thanh Hoá bị đi tù và đầy ra Côn Đảo vì có liên quan đến phong trào chống thuế ở Trung Kì, huyện Triệu Sơn và huyện Nông Cống có gần một nửa, trong số đó có cụ Lê Trọng Nhị Những năm tháng ở Côn Đảo, địa ngục trần gian cụ cũng giữ vững chí khí của ng-ời sĩ phu yêu n-ớc chân chính Trong bài thơ ức Côn Lôn (nhớ Côn Lôn) viết sau khi đã ra tù, cụ tâm sự:

“Muôn trùng gian khổ nhớ Côn Lôn Sống về mới biết chí vẫn còn

Quỷ trắng (Pháp) chém tù lòng hể hả

Cai tù đánh phạm mặt nhơn nhơn Chí vững nh- non ai ép đ-ợc Kiên trung tựa bể sâu nào hơn Chín năm Côn Đảo ghi tâm khảm

Độc lập - Tự do - ái Quốc hồn“

Dịch thơ: Lê Đình Khải

Trang 32

Năm 1917, sau 9 năm bị giam cầm ở Côn Đảo, ra tù cụ Lê Trọng Nhị cùng c²c chữc sắc trong x± Cồ Định tiến h¯nh canh tân l¯ng x±: “c°i lương, hương chính”, x± Cồ Định mới được chia l¯m 5 thôn, 5 đọng chiên rất phiền phức đ-ợc hợp lại làm một; vận động đào giếng khơi lấy n-ớc sạch, xây các bến lên xuống sông, ao hồ cho sạch hơn; dựng các cầu gỗ thay thế cầu tre; nâng cấp đền N-a, đền Th-ợng Đặc biệt ông lo xây dựng tr-ờng học, kể từ năm 1924 - 1925 tr-ờng tiểu học ở Cổ Định và đến năm 1938 - 1939 có đủ 6 lớp, từ đồng ấu đến lớp nhất Đây là một điều đặc biệt, ngoại lệ, so với thể chế giáo dục của thực dân Pháp và triều Nguyễn lúc bấy giờ Chợ N-a đ-ợc mở có bán trâu, bò nh- chợ Bản ở Yên Định Ngày hội của chợ N-a, dân có câu ca:

“Cổ Định mở hội chợ N-a

Ông Cử, ông Cống ra lo việc l¯ng“ [ 34; 8]

Trong phong trào Đông Du do Phan Bội Châu khởi x-ớng vận động ng-ời đi ra n-ớc ngoài học tập để trở về đánh giặc Pháp, xã Cổ Định có cụ Tr-ơng Bá Kiều tham gia, ông bị giặc Pháp bắt và đi đầy biệt xứ

Tháng 3 - 1927, tại Thanh Hoá có phong trào tổ chức giỗ đầu cụ Phan Chu Trinh, nhiều ng-ời huyện Triệu Sơn là học sinh lớp nhất, lớp nhì tham dự

đều bị đuổi học nh-: Lê Ngọc Côn (con cụ Cử Nhị), Hoàng Văn Chi, Lê Huy C-ờng (cháu cụ Cử Nhị)

Tháng 7 - 1928, Tân Việt cách mạng Đảng thành lập, ông giáo Huy (tức

Lê Huy Lâm) quê Cổ Định là đảng viên đầu tiên ở huyện Triệu Sơn Ông bị bắt năm 1929 và sau đó buộc đi dạy ở Buôn Mê Thuột rồi về Quảng Ngãi Sau cách mạng tháng 8 - 1945, ông đ-ợc mời tham gia chính quyền ở huyện Nông Cống

Cổ Định trong thời kỳ đấu tranh từ 1925 đến cách mạng tháng 8 - 1945

Năm 1927, truyền đơn xuất hiện ở chợ N-a (vào loại chợ to, nổi tiếng lức bấy giờ ở Nông Cống, Thanh Hóa)

Đầu năm 1931, công nhân mỏ Cổ Định đấu tranh đòi giảm mức đãi quặng, chủ mỏ phải hạ mức từ 10% đến 15% mỗi ngày

Trang 33

Năm 1936 - 1937: Cổ Định có phong trào đọc sách báo, học chữ quốc ngữ, th- viện sách báo mới đặt tại nhà ông Lê Bật Nhợi, ông Nguyễn Văn V-ợng và ông Lê Nguyên Phô xây dựng cơ sở cách mạng ở mỏ Cổ Định, làng

Cổ Định và 5 tổng phía Bắc Nông Cống Ông Nguyễn Văn V-ợng chính là nhà thơ Nguyên Hồng sau này

Năm 1940 - 1941, Hội “ph°n đế cữu quốc” được th¯nh lập ở mà Cồ Định, l¯ng

Cổ Định, phong trào quần chúng đ-ợc củng cố, truyền đơn xuất hiện ở chợ N-a Tháng 9 năm 1943, ban cán sự Việt Minh huyện Nông Cống đ-ợc thành lập, sau đó thành lập mặt trận Việt Minh ở Mỏ Cổ Định phát triển ngày càng sâu rộng và trở thành trung tâm cách mạng trong vùng

Đầu năm 1945 mở x-ởng rèn dáo mác ở nhà bà Hào Cự, ông Khoát (xóm Định), sửa súng hạt nẻ, súng mút ktông ở nhà ông Tài Chung và ông Nguyện (thợ rèn)

Lực l-ợng tự vệ Cổ Định đ-ợc thành lập, tham gia mít tinh biểu d-ơng lực l-ợng ở Lai Thôn (Nông Cống) sau đó ủy ban khởi nghĩa huyện, ủy ban nhân dân lâm thời huyện đ-ợc thành lập, ông V-ơng Trọng Hàng, ng-ời Cổ

Định đã tham gia cả 2 uỷ ban này Ngày 21- 8 - 1945, khởi nghĩa giành chính quyền huyện Nông Cống thắng lợi, tham gia phong trào cách mạng ở thời kỳ tiền khởi nghĩa này, Cổ Định có những cán bộ hoạt động tiêu biểu là Lê Nguyên Phô, Nguyễn Nhuận, V-ơng Trọng Hàng, Lê Đình Khải, Lê Nguyên Thành, Hứa Nh- ý, Lê Bật Thành

Sau cách mạng tháng 8 - 1945, Cổ Định mang tên mới là Tân Ninh với lời phân tích và đề nghị của hội đồng nhân dân xã họp khoá đầu tiên năm

1946, Cổ Định tr-ớc là Cổ Ninh, nay trong chế độ mới thay chữ Cổ thành chữ Tân và đặt tên mới là Tân Ninh thuộc huyện Nông Cống

Trong kháng chiến chống Pháp xâm l-ợc vào thời kỳ ác liệt, Tân Ninh

đ-ợc sát nhập với Thái Hoà thành xã Ninh Hoà Đến cải cách ruộng đất lại phân thành 2 xã: Tân Ninh và Thái Hoà thuộc huyện Nông Cống

Trang 34

Theo quyết định của Quốc hội và Chính Phủ n-ớc Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà, tháng 2 - 1965 huyện Triệu Sơn đ-ợc thành lập bao gồm 20 xã của huyện Nông Cống và 12 xã của huyện Thọ Xuân, xã Tân Ninh thuộc địa bàn mới của huyện Triệu Sơn

Trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ nhân dân Cổ Định

đã góp phần to lớn vào sự nghiệp giải phóng dân tộc, đã có 2.252 ng-ời đi bồ

đội, 238 ng-ời đi thanh niên xung phong, 223 ng-ời đi dân công hoả tuyến, ủng hộ kháng chiến 2.100 tấn gạo, 400 tấn thực phẩm, 160 chỉ vàng và 4.800

kg đồng, toàn xã có 299 liệt sĩ, 121 th-ơng binh, 103 bệnh binh, có 318 ng-ời dân đ-ợc tặng th-ởng Huân ch-ơng chiến công, 1043 ng-ời có Huy ch-ơng kháng chiến, Thủ t-ớng tặng 39 bằng khen, đ-ợc nhận cờ th-ởng thi đua

“Quyết tâm đ²nh thắng giặc Mỷ xâm lược” cða Họ Chí Minh, x± cõ 6 b¯ mẹ Việt Nam anh hùng

Với những thành tích đã đạt đ-ợc, năm 2001 xã Tân Ninh đ-ợc công nhận “Đơn vị anh hùng lức lượng vủ trang nhân dân”, đây l¯ vinh dứ và niềm

Cổ Định còn là mảnh đất địa linh nhân kiệt với nhiều truyền thống văn hoá lịch sử đẹp đẽ Từ khởi nguồn các thế hệ con cháu của m-ời vị tiên công của m-ời dòng họ ở Cổ Định đã cần cù lao động, kiên trì bền bỉ vật lộn với

Trang 35

thiên tai địch hoạ, khai hoá mở mang phát triển đất đai Đã bao đời ng-ời nông dân Cổ Định (trên 95%) đã không quản ngày đêm dầm m-a dãi nắng, quanh năm lam lũ làm ăn Khi thì ra đồng cấy cày gặt hái, lúc thì lên rừng lấy củi, khai thác lâm sản, khi thì vào mỏ đào quặng bới đất nhặt cỏ lo kiếm đồng tiền, bát gạo nuôi gia đình con cái duy trì một cuộc sống thanh bình đạm bạc Ngày mỗi ngày bằng tình cảm thiết tha, bằng sức lao động to lớn, họ đã cùng nhau xây dựng nên quê h-ơng Cổ Định yêu dấu của mình

Trải qua hàng ngàn năm lịch sử cùng với sự chăm chỉ, sáng tạo hiếu học của con ng-ời ở đây đã đủ kết thành một làng Cổ, có một truyền thống văn hoá lâu đời, phản ảnh qua hai giá trị tinh thần to lớn:

- Một làng quê có truyền thống yêu n-ớc sâu sắc

- Một làng quê có truyền thống hiếu học, siêng năng và trí tuệ

Trong sự nghiệp bảo vệ tổ quốc nhân dân Cổ Định đã bền bỉ tham gia chiến đấu chống xâm l-ợc của bọn phong kiến ph-ơng Bắc, của bọn thực dân

đế quốc ph-ơng tây Cổ Định đã từng là căn cứ khởi nghĩa của bà Triệu, thế

kỷ XV là hậu cứ của vùng căn cứ của Nguyễn Chích đóng tại dãy Hoành sơn trong cuộc kháng chiến chống quân xâm l-ợc Minh Cuối thế kỷ XIX, trong phong trào Cần V-ơng, Cổ Định lại là nơi tụ nghĩa Và cả trong cuộc kháng chiến chống Pháp xâm l-ợc, Cổ Định cũng là một vùng hậu ph-ơng vững chắc của Thanh Hoá đóng góp to lớn trong cuộc kháng chiến

Bên cạnh truyền thống yêu n-ớc rạng rỡ, Cổ Định còn có truyền thống hiếu học rất vẻ vang Cổ Định từ Triều Lý đã nổi tiềng là đất học Từ thế kỷ XVI đến đầu thế kỷ XX, nhiều bậc hiền tài nổi tiềng đ-ợc ghi trong sử sách, trên bảng vàng bia đá tiêu biểu nh- cụ Lê Bật Tứ năm 1598 đã đậu tiến sĩ rồi

đậu nhị giáp tiến sĩ tức Hoàng giáp Tên cụ đ-ợc khắc trên bia đá dựng tại văn miếu Quốc Tử Giám – Hà Nội

Tất cả những điều kể trên thực sự đã tạo dựng nên chiều sâu văn hoá, bề dầy lịch sử của làng Cổ Định, trong quá trình phát triển của mình và góp phần

Trang 36

tạo nên những sắc thái văn hoá riêng cho vùng đất Triệu Sơn nói riêng và Xứ Thanh nói chung

Ch-ơng 2 Văn hóa vật thể làng Cổ Định

2.1 Những di tích lịch sử- văn hoá đ-ợc công nhận cấp quốc gia

2.1.1 Cụm di tích thắng cảnh núi N-a - Đền N-a và Am Tiên

* Núi N-a:

Theo đ-ờng tỉnh lộ từ Thành phố Thanh Hóa đi ngã t- Quán Giắt (Triệu Sơn) đung 18 km, rẽ tay trái theo đ-ờng 15B về phía đi Cầu Quan - Nông Cống độ khoảng 10km là chúng ta sẽ đến vùng đất Kẻ N-a - Cổ Định (nay là

xã Tân Ninh, huyện Triệu Sơn) Sách Thanh Hóa tỉnh chí mô tả về núi N-a cụ thể nh-: “M³ch núi từ huyện Thọ Xuân thời cổ m¯ đến Sườn núi quanh co

suốt mấy chục dặm, đến đây mọc lên núi đá, chỗ um tùm và cao nhất tức chỗ núi ấy Phía ngoài có sông nhánh hợp l-u, giữa có động, thế núi trắc trở và sâu thàm“ Đây chính là ngọn núi lớn và cao nhất trong toàn bộ miền đồng

bằng xứ Thanh Theo bản đồ địa chính thì núi N-a cao 398m so với mực n-ớc biển, chỉ cách thành phố Thanh Hóa và huyện Đông Sơn đ-ờng chim bay ch-a

đầy 10km, cho nên từ rất xa, ở vị trí nào trên trục đ-ờng tới đây chúng ta đều thấy ngọn núi N-a hiện lên sừng sững nh- một bức t-ờng thành đồ sộ Có lẽ

vì thế núi sừng sững nh- vậy cho nên ở thế kỷ XV, khi viết về vùng đất “phên

dậu“ xứ Thanh, Nguyễn Trãi chỉ nhắc đến hai ngọn núi, đó là núi Na (tức núi

Trang 37

N-a) và núi Tùng (ở Hậu Lộc) Cả hai ngọn núi này đều liên quan đến cuộc khởi nghĩa Bà Triệu năm 248

Nh- phần trên đã nói, bất kể ai, khi đến núi N-a cũng đều say đắm bởi

cảnh “ban mai mây trắng nhởn nhơ đỉnh núi, lưng sườn“, “chiều t¯ bốn mặt

khói sương lồng“ và đêm thu “bóng nguyệt lờ đờ l¯n nước ²nh“, v.v

Trong hệ thống núi N-a, có nhiều ngọn chập trùng nh- bát úp D-ới

con mắt phong thuỷ của ng-ời x-a, dãy núi Nưa được ví gói l¯ “Cửu noãn xà”

(tức núi chín quả trứng) Theo truyền thuyết thì 9 trái núi nh- bát úp này gắn với truyền thuyết về ng-ời khổng lồ - Ông N-a thần thoại x-a đã tạo nên trong khi san núi, chia đồi Ông vừa quảy núi để lấy đất trồng cây, vừa đào sông để tiêu, dẫn thuỷ và từ đó đã tạo ra cảnh quan độc đáo hiếm nơi nào có đ-ợc

Để thấy hết cái đẹp và sự huyền ảo, lung linh đến mộng mơ ở núi N-a, chúng ta hãy lên đỉnh cao nhất để ngắm nhìn bốn phía rồi sẽ cảm nhận trời -

đất của xứ Thanh bao la chỉ ở trong tầm mắt Đặc biệt, vào buổi sáng đẹp trời, nhìn xuống chân núi phía đông, sẽ thấy dòng Lãng Giang nh- vừa thức dậy sau giấc ngủ dài để rồi uể oải uốn mình đ-a n-ớc nhập về sông Yên chảy về biển cả Dõi nhìn xa hơn, sẽ thấy dãy núi đá Hoàng - Nghiêu - căn cứ chống Minh của t-ớng quân Nguyễn Chích (đầu thế kỷ XV) chồng chập lô xô chẳng khác nào đàn thú dữ dị t-ớng kỳ binh, hùng hùng hổ hổ từ Đông Sơn chèn nhau chạy về, nh-ng đành phải phủ phục tr-ớc Ngàn N-a hùng vĩ Rồi lúc trời trong, nhìn về phía tây, tây bắc sẽ thấy cả hệ thống núi non trùng điệp của nơi rừng đại ngàn ở mãi huyện Th-ờng Xuân

Nói chung, từ trên đỉnh núi N-a với độ cao bốn trăm mét, nhìn về mọi phía, cảnh sắc của các vùng miền xứ Thanh hiện ra nh- những bức tranh thuỷ mặc với đủ mọi sắc màu thật lung linh, huyền ảo Và từ trên cao, chúng ta mới

cõ c°m nhận “Núi Na đá mọc chênh vênh, cây um tùm n-ớc long lanh khói

mờ“ hoặc “Trập trùng núi dựng trời tây, Na Sơn một gi°i xuyên mây chín tầng“,v.v , rồi làng, xóm, ruộng đồng của vùng Kẻ N-a từ x-a đến nay đều

Trang 38

rất trù phú và t-ơi đẹp Tất cả, tất cả đều có sức quyến rũ mọi du khách gần xa

đến để thăm thú, th-ởng ngoạn [29; 17]

* Chùa Am Tiên:

Nằm trên đỉnh núi N-a, đây là một khu đất bằng phẳng rộng tới hàng

mấy chục ha Sách “Thanh Hóa kỷ thắng“ của V-ơng Duy Trinh (đầu thế kỷ XX) đã chép nh- sau: “Trên đỉnh núi Na l¯ đền Am Tiên (TemphedeFées)

Truyền thuyết liên quan đến triều nhà Hồ (1400 - 1407) chuyện một ng-ời An Nam không chịu cộng tác với những ng-ời c-ớp ngôi nhà Trần“

Nói về Am Tiên, tr-ớc hết phải khẳng định đó là một khu thắng cảnh hết sức độc dáo và đầy sức quyến rũ nh- một khu tiên cảnh ở đây, cỏ cây hoa lá bốn mùa xanh tốt ở đỉnh cao nhất của Ngàn N-a lại rất rộng và bằng phẳng có cảm giác nh- một vùng bình nguyên, vẫn có mạch n-ớc ngầm chảy

ra trong vắt và không bao giờ cạn, đã tạo thành một cái giếng tự nhiên mà dân gian đặt tên là giếng Tiên, t-ơng truyền là nơi Bà Triệu tắm Xuống phía d-ới

độ vài trăm mét lại có một hồ n-ớc thiên tạo mà dân gian gọi là Ao Hóp - t-ơng truyền là nơi cung cấp nguồn n-ớc sinh hoạt cho nghĩa quân Bà Triệu

Trên đỉnh Am Tiên, nhìn cảnh sắc núi rừng phía tây và nhìn cảnh sắc làng xóm ruộng đồng ở phía đông mới có đủ cảm nhận về một không gian kỳ

vỹ, thơ mộng của một vùng đất n-ớc

Một điều cần l-u ý là tại khu vực Am Tiên này còn có tên địa ph-ơng là

Động Cắm Cờ (tức động Cắm Cờ) - t-ơng truyền là nơi dựng cờ nghĩa ở đại bản doanh Bà Triệu Chung quanh khu vực Am Tiên còn có những ngọn đồi thấp liền dải có tên rất đặc biệt nh- Đông Chợ Bụa - t-ơng truyền là nơi trao

đổi vật phẩm của nghĩa quân, rồi Bằng Yên Ngựa - t-ơng truyền là trạm quan sát và đồn tiền tiêu của nghĩa quân [29; 18]

Trên đỉnh Am Tiên, không biết đích xác từ thời lịch sử nào, ng-ời x-a

đã từng dựng chùa, dựng đền ở đây Trên núi có một ngôi chùa công đức lấy

tên là “Bích Vân Cung Tự“ tục gọi là chùa Am Tiên, đỉnh Am Tiên là vị trí

Trang 39

tiền đồn có tầm quan sát rộng, là một cao điểm lý t-ởng đủ để khống chế cả một khu vực rộng lớn huyện Nông Cống x-a (bao gồm cả Nh- Thanh, Triệu Sơn và Nông Cống ngày nay)

Khi cuộc khởi nghĩa Bà Triệu bị đàn áp, đồng nghĩa với bọn xâm l-ợc tàn sát ng-ời dân Cổ Na và những gì có liên quan đến Bà Triệu đều bị tàn phá Sau đó ng-ời dân Cổ Na ly tán trở về sửa sang lại chùa cũ Năm 1405 Hồ Hán Th-ơng bổ quân vây, phá chùa đốt núi (chuyện kể trong Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ thế kỷ XVI trong việc ng-ời tiều phu núi Na) Năm 1935 ông

Lê Quy Sinh là con trai út của cụ Lê Trọng Nhị (ng-ời làng Cổ Định - từng tham gia phong trào chống thuế ở Trung Kỳ) Lên khai phá vùng Am Tiên đã phát hiện ra nền chùa cũ, nh-: Bia đá, rùa đá, khánh đá và tảng đá búp sen, ngôi chùa bị vùi lấp với cỏ cây 530 năm, đã đ-ợc ông dựng lại, tôn tạo di tích của vị nữ anh hùng cứu quốc thửa x-a Từ đó khách thập ph-ơng đến lễ Phật

và chiêm ng-ỡng cảnh quan, công đức của Bà Triệu, ngày một đông vui nhộn nhịp, những thắng cảnh và điển tích đ-ợc ông tôn tạo lại nh- Ao Hóp, Đông Chợ Bụa, Khe bàn đá, Am Bích Vân, Bàn cờ tiên Hàng năm cứ đến ngày 15 tháng giêng âm lịch ông cho mở hội chùa 7 ngày Do chiến tranh và nhiều hoàn cảnh khác, sau cách mạng tháng tám năm 1945, lễ hội không đ-ợc tổ chức, chùa bị mai một, dột nát, h- hỏng, ng-ời trông coi chùa tr-ớc cách mạng tháng Tám là cụ H-ơng Nhã ng-ời họ Trần, thân sinh ra ông Trần Huy Nh-ợng, bí th- chi bộ Đảng cộng sản Việt Nam đầu tiên của xã Tân Ninh

Sau cách mạng tháng tám năm 1945 cụ H-ơng Nhã qua đời, làng xã b-ớc vào thời kỳ xây dựng nếp sống mới, chống mê tín dị đoan, chùa bị bỏ hoang cuối cùng bị dở bỏ, khoảng năm 1950 ông Tú Chí thôi làm giám đốc nhà máy giấy của nhà n-ớc ở Quần Kênh, ông đã đ-a gia đình và mấy công nhân lên Am Tiên để nuôi bò sữa và mở x-ởng ch-ng cất cồn bán cho nhà n-ớc Đến năm 1953 thời kỳ giảm tô, gia đình ông trở về quê ở Thiệu Hóa Thế là Am Tiên lại bị bỏ hoang Sau năm 1975 đất n-ớc thống nhất, địa

Trang 40

ph-ơng chủ tr-ơng khai hoang, khai khẩn trồng sắn và cây công nghiệp nh- long não, phát triển kinh tế Khi dừng khai hoang một bộ phận tín đồ Phật giáo ở địa ph-ơng đã manh nha tôn tạo lại chùa cũ Cụ Lê Bật Quy - xóm ất là ng-ời có công đầu và ở lâu nhất Tr-ớc đây đ-ờng đi lên chùa khó khăn, đi bộ tới 3km Năm 2006 gia đình ông Lê Bật Huỳnh làng Mậu làm đ-ờng lên núi thuận lợi cho đi lại bằng ph-ơng tiện ôtô, xe máy

Rất may là ở khu vực Am Tiên, nhân dân vẫn còn đang thu nhặt đ-ợc nhiều hiện vật bằng đá, gạch thời Lê và thời Nguyễn ( trong đó có cả khánh

* Đền N-a:

Nằm ở d-ới chân núi N-a (tức Na Sơn từ), đây là đền thờ Bà Triệu (tức

Lệ Hải Bà V-ơng mà dân gian vẫn th-ờng gọi tắt, gọi nôm là đền đức Vua Bà hoặc Chúa Ngàn N-a) Đền quay về h-ớng đông ở ngay cửa rừng N-a - một

vị trí cao, rộng và đẹp, phía tr-ớc có hệ thống ao hồ tự nhiên

T-ơng truyền: Lúc đầu chỉ là một bệ đá xếp để thờ, bát h-ơng đơn sơ chỉ là ống b-ơng, thờ ng-ời mẹ Ng¯n Nưa “ Sơn trang thượng ng¯n - Thiên tiên th²nh mẫu” Năm 248 nơi Ng¯n Nưa trùng điệp, theo lời sấm truyền về phong thuỳ “ Na Sơn thất phiến, long nhất biến, nhất hô v³n biến” ững v¯o vận mệnh ng-ời con gái họ Triệu tên là Trinh N-ơng, theo giả sử bà sinh ngày 2 tháng 10 năm Bính Ngọ năm (225) Bà là em gái Triệu Quốc Đạt hào tr-ởng lớn ở miền Quan Yên, quận Cửu Chân, chuyện đá biết nói giao truyền lời thần nhân mạch bảo:

“ Cõ B¯ Triệu tướng

Ngày đăng: 04/10/2021, 17:20

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1]. Đào Duy Anh (1992), Việt Nam văn hoá sử c-ơng, Nxb Văn hoá Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam văn hoá sử c-ơng
Tác giả: Đào Duy Anh
Nhà XB: Nxb Văn hoá Thông tin
Năm: 1992
[2].. Toan ánh (2005), Làng xóm Việt Nam, Nxb Trẻ, TP Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Làng xóm Việt Nam
Tác giả: Toan ánh
Nhà XB: Nxb Trẻ
Năm: 2005
[5]. Ban chấp hành Đảng bộ huyện Triệu Sơn (2005), Lịch sử Đảng bộ huyện Triệu Sơn (1965 - 2004), Nxb Thanh Hoá.{6}. Ban chấp hành Đảng bộ xã Tân Ninh, lịch sử Đảng bộ xã Tân Ninh huyện Triệu Sơn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Đảng bộ huyện Triệu Sơn
Tác giả: Ban chấp hành Đảng bộ huyện Triệu Sơn
Nhà XB: Nxb Thanh Hoá. {6}. Ban chấp hành Đảng bộ xã Tân Ninh
Năm: 2005
[11]. Bảo tàng Tổng hợp tỉnh Thanh Hoá (2000), Thanh Hoá di tích và thắng cảnh, Nxb Thanh Hoá.{12}. Bảo tàng Tổng hợp Thanh Hoá () tập bản vẽ kiến trúc di tích đền thờ Hoàng giáp Lê Bật Tứ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thanh Hoá di tích và thắng cảnh
Tác giả: Bảo tàng Tổng hợp tỉnh Thanh Hoá
Nhà XB: Nxb Thanh Hoá. {12}. Bảo tàng Tổng hợp Thanh Hoá () tập bản vẽ kiến trúc di tích đền thờ Hoàng giáp Lê Bật Tứ
Năm: 2000
[18]. Phạm Văn Đồng (1994), Văn hoá và đổi mới, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hoá và đổi mới
Tác giả: Phạm Văn Đồng
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 1994
[19]. Trần Hồng Đức (1999), Các vị trạng nguyên, bảng nhãn, thám hoa qua các triều đại phong kiến Việt Nam, Nxb Văn hoá Thông tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các vị trạng nguyên, bảng nhãn, thám hoa qua các triều đại phong kiến Việt Nam
Tác giả: Trần Hồng Đức
Nhà XB: Nxb Văn hoá Thông tin
Năm: 1999
[20]. Gia phả họ Lê Ngọc [21}. Gia phả họ Lê Bật ở Cổ Định Xã Tân Ninh huyện Triệu Sơn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Gia phả họ Lê Ngọc
[24]. Trần Văn Giáp (1971), L-ợc truyện các tác gia Việt Nam (Tập 1), Nxb KHXH, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: L-ợc truyện các tác gia Việt Nam
Tác giả: Trần Văn Giáp
Nhà XB: Nxb KHXH
Năm: 1971
[27]. Hồ Hoàng Hoa (1998), Lễ hội - một nét đẹp trong sinh hoạt văn hoá cộng đồng, Nxb KHXH, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lễ hội - một nét đẹp trong sinh hoạt văn hoá "cộng đồng
Tác giả: Hồ Hoàng Hoa
Nhà XB: Nxb KHXH
Năm: 1998
[30]. Vũ Ngọc Khánh - chủ biên (2001) Làng văn hoá cổ truyền Việt Nam, Nxb Thanh niên, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Làng văn hoá cổ truyền Việt Nam
Nhà XB: Nxb Thanh niên
[31]. Kỷ yếu Hội thảo khoa học (1990), Văn hoá làng Thanh Hoá, Sở Văn hoá Thông tin Thanh Hoá Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hoá làng Thanh Hoá
Tác giả: Kỷ yếu Hội thảo khoa học
Năm: 1990
[32]. Kỷ yếu Hội thảo khoa học (1997), Văn hoá truyền thống các tỉnh Bắc Trung Bộ, Nxb KHXH, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hoá truyền thống các tỉnh Bắc Trung Bộ
Tác giả: Kỷ yếu Hội thảo khoa học
Nhà XB: Nxb KHXH
Năm: 1997
[36]. Ngô Sĩ Liên (1967) Đại Việt sử ký toàn th- (Tập 1), Nxb KHXH, Hà Néi Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại Việt sử ký toàn th-
Nhà XB: Nxb KHXH
[40]. H-ơng Mao (1997), Những thắng cảnh của xứ Thanh, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những thắng cảnh của xứ Thanh
Tác giả: H-ơng Mao
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1997
[42]. Hoàng Anh Nhân (1996), Văn hoá làng và làng văn hoá xứ Thanh, Nxb KHXH, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hoá làng và làng văn hoá xứ Thanh
Tác giả: Hoàng Anh Nhân
Nhà XB: Nxb KHXH
Năm: 1996
[43]. Hoàng Anh Nhân, Lê Huy Trâm (1993), Khảo sát văn hoá làng xứ Thanh, Nxb KHXH, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khảo sát văn hoá làng xứ Thanh
Tác giả: Hoàng Anh Nhân, Lê Huy Trâm
Nhà XB: Nxb KHXH
Năm: 1993
[45]. Tỉnh ủy - HĐND - UBND tỉnh Thanh Hóa (2004), Địa chí Thanh Hóa (quyển 2), Nxb KHXH Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Địa chí Thanh Hóa
Tác giả: Tỉnh ủy - HĐND - UBND tỉnh Thanh Hóa
Nhà XB: Nxb KHXH Hà Nội
Năm: 2004
[46]. Nhất Thanh (1992), Đất lề quê thói, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đất lề quê thói
Tác giả: Nhất Thanh
Nhà XB: Nxb Thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 1992
[48]. Bùi Thiết (2000), Việt Nam thời cổ x-a, Nxb Thanh niên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam thời cổ x-a
Tác giả: Bùi Thiết
Nhà XB: Nxb Thanh niên
Năm: 2000
[49]. Trần Văn Thịnh, Trịnh Mạnh, Lê Bá Thức, Nguyễn Thế Long (1995), Danh sĩ Thanh Hoá và việc học thời x-a, Nxb Thanh Hoá Sách, tạp chí
Tiêu đề: Danh sĩ Thanh Hoá và việc học thời x-a
Tác giả: Trần Văn Thịnh, Trịnh Mạnh, Lê Bá Thức, Nguyễn Thế Long
Nhà XB: Nxb Thanh Hoá
Năm: 1995

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w