Các nhà thơ viết về trường cagiai đoạn này chủ yếu là những người đã qua những trải nghiệm khốc liệt củachiến tranh và với tư cách người trong cuộc, họ có nhu cầu được phát ngôncho những
Trang 1Bộ giáo dục và đào tạo
Tr ờng đại học vinh
-đặng thị hạnh
đặc điểm tr ờng ca anh ngọc
Chuyên ngành: văn học Việt Nam
Trang 2MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU ……… ……… 1
1 Lý do chọn đề tài ……… ……….….1
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề ……… ……….……… 2
3 Đối tượng nghiên cứu ……… ……… ……….…5
4 Phạm vi tư liệu khảo sát……… ……… 5
5 Nhiệm vụ nghiên cứu……… ………5
6 Phương pháp nghiên cứu……… 5
7 Đóng góp của luận văn……… 6
8 Cấu trúc luận văn……… 6
Chương 1: Trường ca Anh Ngọc trong bối cảnh trường ca Việt Nam sau 1975 ……… 7
1.1 Những tiền đề lịch sử - xã hội dẫn đến sự nở rộ trường ca trong thơ Việt Nam sau 1975 ……… 7
1.1.1 Khái niệm trường ca ……… 7
1.1.2 Bối cảnh lịch sử, xã hội, thẩm mĩ sau 1975 …… 9
1.1.3 Sự nở rộ của trường ca như một hiện tượng thể loại trong thơ Việt Nam sau 1975 ……… 11
1.2 Khái quát về các chặng đường thơ Anh Ngọc ………… 16
1.2.1 Anh Ngọc – vài nét tiểu sử ……… 16
1.2.2 Hành trình sáng tạo của Anh Ngọc ……… 17
1.3 Vị trí của trường ca trong sự nghiệp sáng tác của Anh Ngọc 19
1.3.1 Quan niệm về nghệ thuật của Anh Ngọc ………… 19
1.3.2 Về vị trí của trường ca trong sáng tác của Anh Ngọc … 22
Chương 2: Cảm hứng chủ đạo và hệ thống hình tượng trong trường ca Anh Ngọc ……… 24
2.1 Cảm hứng chủ đạo trong trường ca Anh Ngọc ………… 24
2.1.1 Cảm hứng sử thi ……… 24
Trang 32.1.2 Cảm hứng thế sự, đời tư ……… 31
2.1.3 Sự thống nhất giữa cảm hứng sử thi và cảm hứng thế sự đời tư trong trường ca Anh Ngọc 42
2.2 Hệ thống hình tượng trong trường ca Anh Ngọc 43
2.2.1 Hình tượng cái tôi trữ tình 43
2.2.2 Hình tượng đất nước, nhân dân 50
2.2.3 Hình tượng người lính 65
2.2.4 Hình tượng người phụ nữ 75
Chương 3: Phương thức thể hiện trong trường ca Anh Ngọc 81
3.1 Kết cấu 81
3.1.1 Kết cấu theo mạch cảm xúc - tư tưởng 82
3.1.2 Kết cấu theo hệ thống hình tượng 86
3.2 Ngôn ngữ 88
3.2.1 Gia tăng yếu tố kể, tả 88
3.2.2 Gia tăng lớp từ ngữ chính trị, quân sự 91
3.2.3 Vận dụng linh hoạt các biện phát tu từ 94
3.3 Giọng điệu 99
3.3.1 Giọng điệu trầm lắng, thiết tha 99
3.3.2 Giọng điệu đau đớn, nghẹn ngào 102
3.3.3 Giọng điệu quyết liệt, dữ dội 105
3.3.4 Giọng điệu khái quát, triết lí 108
KẾT LUẬN 112
TÀI LIỆU THAM KHẢO 114
Trang 4MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
1.1 Trường ca là một thể loại xuất hiện sớm trong lịch sử văn học Khó
có thể loại văn học nào mà lại có sự kết hợp nhuần nhuyễn nhiều hình thứcphát ngôn, nhiều giọng điệu, nhiều cảm hứng, nhiều chủ đề với sự tuôn chảy
ồ ạt của nguồn mạch cảm xúc mãnh liệt như trường ca Trong văn học ViệtNam, trường ca đặc biệt phát triển mạnh trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ.Sau 1975, với sự xuất hiện hàng loạt của các tác phẩm trường ca đã gây nênmột “hiện tượng lạ” trong văn học, thu hút sự chú ý của đông đảo độc giảcũng như giới phê bình ở thời điểm đó và cho đến mãi sau này Nghiên cứutrường ca, chúng ta sẽ thấy rõ sự vận động, phát triển bất khuất của tinh thầndân tộc trong những thời kỳ lịch sử khác nhau
1.2 Sự ra đời rầm rộ của trường ca vào bối cảnh những năm 70, 80 củathế kỉ XX trở thành một hiện tượng nổi bật trong đời sống thơ nói riêng, vănhọc Việt Nam nói chung Chỉ trong một thời gian ngắn nhưng thể loại này đãđạt được nhiều thành tựu cả về chất và lượng Các nhà thơ viết về trường cagiai đoạn này chủ yếu là những người đã qua những trải nghiệm khốc liệt củachiến tranh và với tư cách người trong cuộc, họ có nhu cầu được phát ngôncho những đau thương mất mát mà thế hệ mình, đất nước mình đã trải qua.Các nhà thơ áo lính có nhu cầu nội tại phải viết được những tác phẩm lớn vềcuộc chiến tranh mà họ đã đi qua Họ muốn nhận diện tổng kết một cách đầy
đủ, trọn vẹn, sâu sắc hơn về cuộc chiến tranh và muốn tìm ở chiến tranhnhững bài học lớn và những lời giải đáp về sức mạnh Việt Nam Khôngnhững thế, âm hưởng chiến thắng vẫn còn trong trái tim mỗi người Việt Nam,đặc biệt là nhà thơ nên mỗi người đều muốn hát ca về chiến thắng, về chiếncông mà lịch sử dân tộc đã làm nên Do đó, việc nghiên cứu trường ca giaiđoạn sau 1975 là một việc làm cần thiết, có ý nghĩa
1.3 Anh Ngọc là gương mặt thơ tiêu biểu thuộc thế hệ chống Mỹ Nhàthơ từng nhận rất nhiều giải thưởng như: Giải nhì cuộc thi thơ Báo Văn nghệ
Trang 51972- 1973 (bài thơ Cây xấu hổ); Giải A cuộc thi thơ Báo Văn nghệ 1975 (trường ca Sóng Côn Đảo); Chương 1 Nụ cười bốn mặt của tập trường ca Sông Mê Kông bốn mặt ngay khi công bố đã được trao tặng phẩm Thơ hay tạp
chí Văn nghệ quân đội năm 1979; Giải thưởng cuộc thi truyện ngắn Báo Vănnghệ 1998- 2000; Giải thưởng cuộc thi sáng tác văn học cho thiếu niên nhiđồng NXB Trẻ, giải thưởng văn học Nguyễn Trãi (Hội Văn học nghệ thuật HàTây), giải thưởng cuộc thi truyện ngắn Hội Văn học nghệ thuật Hà Tây, 2001;gần đây nhất là giải thưởng Văn học Sông Mê Kông lần thứ 2 năm 2009
(trường ca Sông Mê Kông bốn mặt) do hội đồng Văn học ba nước Việt Nam,
Campuchia, Lào trao tặng Anh Ngọc là một trong số những nhà thơ ViệtNam hiện đại viết nhiều trường ca Ông có bốn trường ca xuất sắc, để lại ấntượng trong lòng độc giả Trường ca của ông dựng nên một cách quy mô vềtinh thần bất khuất của dân tộc và những hình ảnh rất đặc thù về đất nước, conngười Việt Nam trong chiến tranh, trong đời sống
Tuy nhiên, việc nghiên cứu trường ca của ông lại chưa được quan tâmđúng mức Bởi vậy, nghiên cứu về đặc điểm trường ca Anh Ngọc, chúng ta sẽ
có cơ hội khám phá những cách tân về nội dung và nghệ thuật và những đónggóp của ông trong trường ca hiện đại Việt Nam
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Anh Ngọc có một sự nghiệp thơ ca khá phong phú Ông có nhiều tác
phẩm đã xuất bản: Hương đất màu mỡ, Ngàn dặm và một bước, Sông Mê Kông bốn mặt, Điệp khúc vô danh, Thơ tình rút từ nhật ký, Cây xấu hổ, Vị tướng già, Cho một người đóng góp lớn cho văn học hiện đại Việt Nam nói
chung và trường ca hiện đại nói riêng Tuy nhiên, những công trình nghiêncứu về sáng tác của ông, đặc biệt là trường ca chưa thật xứng đáng Hầu hết
đó là những bài viết ngắn, những cảm nhận, những nhận xét mang tính kháiquát, đăng rải rác ở một số tờ báo Sau đây, chúng tôi sẽ điểm qua một số ýkiến tiêu biểu
Trang 6Nhà thơ Xuân Diệu trong Bàn về công việc làm thơ, (báo Văn nghệ, 1973) cho rằng : “Làm một bài thơ trung bình trở lên đâu có dễ huống hồ đây
là cả một trường ca hàng ngàn câu, như một trận đánh lớn, phải điều binhkhiển tướng thế nào, không thông minh và trường vốn thì dễ bị hụt hơi lắm
Vậy mà Anh Ngọc đã có tới bốn trường ca, từ Sóng Côn Đảo, Sông núi trên vai, Sông Mê Kông bốn mặt và Điệp khúc vô danh ” [18] Với những trường
ca kể trên Xuân Diệu đã khẳng định: “Anh Ngọc để lại ấn tượng: Anh là mộtthi sĩ” [18]
Trong số các bài viết về Anh Ngọc thì Với nhà thơ Anh Ngọc thế gian đẹp và buồn (tháng 2 năm 2008) của tác giả Nguyễn Hữu Quý là bài viết công
phu nhất Nguyễn Hữu Quý đã rất sâu sắc và nhạy bén khi nhận ra được sựthay đổi trong hồn thơ Anh Ngọc Tác giả này đã chỉ ra được nét tiêu biểutrong sáng tác của Anh Ngọc, trong đó có trường ca: Nhìn chung, tác giả đãchỉ ra được nét độc đáo trong nội dung và hình thức thơ, đặc biệt là trường cacủa Anh Ngọc
Nhà báo Nguyễn Xuân Hải trong bài Những câu thơ vẫn hành quân không nghỉ (tháng 6 năm 2008) đã nhận xét về Anh Ngọc như sau: “Đọc thơ
ông đều thấy hiện lên “Tình yêu- nỗi đau” rất thật Nhưng đó là tình yêu - nỗiđau mang đậm chất lính” Những câu thơ như thể thực sự đã đồng cảm đượcvới một thế hệ thanh niên ra trận” Tác giả bài báo cũng thấy được “nhờchuyến đi Côn Đảo đầy kỷ niệm và đầy cảm xúc ấy đã giúp Anh Ngọc thành
công trong trường ca Sóng Côn Đảo” [26].
Trong bài viết Nhà thơ Anh Ngọc nhận giải thưởng Văn học Mê Kông lần thứ 2 (tháng 2 năm 2009), nhà báo Phúc Nghệ đã rất chú trọng đến
“nguồn thi hứng” để Anh Ngọc viết nên Trường ca Sông Mê Kông bốn mặt.
Và tác giả nhận xét “Trường ca mới thực sự là thế mạnh của nhà thơ AnhNgọc” [43]
Trong bài viết Tôi viết về Campuchia từ máu thịt (tháng 2 năm 2009), tác giả Đoàn Minh Tâm đã tìm hiểu hoàn cảnh ra đời của trường ca Sông Mê
Trang 7Kông bốn mặt Đi sâu vào tác phẩm, tác giả đã so sánh “Theo tôi thông
thường tên (nhất là của thể loại trường ca) đều là những hình ảnh mang tính
biểu tượng cao lặp đi lặp lại trong tác phẩm nhưng ở Sông Mê Kông bốn mặt,
hình tượng con sông Mê Kông tương đối nhạt nhòa mà thay vào đó là sự trở
đi trở lại của nhân vật trữ tình tôi” Khi đọc Sông Mê Kông bốn mặt, Đoàn
Minh Tâm thấy “cảm hứng của tác giả đi từ sự kinh ngạc, khâm phục rồi ngợi
ca vẻ đẹp của các công trình kiến trúc trên đất Campuchia và dừng lại ởnhững chiêm nghiệm về cái sự vĩnh hằng và bình dị của cuộc sống Conđường đi của cảm hứng sáng tác như vậy tương đối dài ” [63] Tác giả cảm
nhận “Phải chăng Sông Mê Kông bốn mặt không chỉ viết về đất nước
Campuchia mà còn viết về Việt Nam, và rộng hơn nữa là về cõi đời này” [63]
Trong bài Nhiều ám ảnh đã đưa tôi đến với trường ca (tháng 2 năm
2009), nhà báo Nguyễn Quang Việt đã viết: “Khi đã trực tiếp cầm súng chiếnđấu, thực hiện chiến tranh, lặn sâu vào người lính giúp ông (tức nhà thơ AnhNgọc) kịp nhận ra rằng, để tái hiện lại “gương mặt” chiến tranh thì những bàithơ thuần túy cảm xúc là chưa đủ Anh Ngọc tìm đến trường ca như một tấtyếu về thể loại và biểu đạt Có thể nói rằng, trường ca đã góp phần không
nhỏ làm nên tầm vóc thơ Anh Ngọc” [77] Tìm hiểu trường ca Sóng Côn Đảo,
tác giả đã thấy “Xuyên suốt trường ca là sự trở đi trở lại của hình tượng sóng.Hình tượng sóng đan xen và kết dính theo chuỗi dài làm nên mạch cảm xúcmênh mông và sâu lắng về nỗi đau và niềm căm uất không cùng của cả mộtthế kỷ ngục tù” Nguyễn Quang Việt đã nhận xét một cách khái quát nội dung
trường ca Anh Ngọc: “Nếu như Sóng Côn Đảo quy mô rộng về tinh thần bất khuất của dân tộc thì Sông núi trên vai đặt ra vấn đề khá đặc thù: phụ nữ và chiến tranh ” “Sông Mê Kông bốn mặt cũng khái quát tấn bi kịch của hai
dân tộc Campuchia và Việt Nam cách nay đã ba mươi năm, một sự ám ảnhkhông dứt” [77]
Trong các bài viết đã nêu ở trên, các tác giả đã phần nào chỉ ra nhữngđặc điểm, vẻ đẹp và sức sống riêng của thơ và trường ca Anh Ngọc Dù còn
Trang 8sơ lược, đấy là những gợi ý hết sức quan trọng cho chúng tôi trong quá trìnhthực hiện đề tài này Trên cơ sở tham khảo những ý kiến của người đi trước,chúng tôi sẽ tiếp tục phân tích và lí giải sâu hơn về đặc điểm trường ca AnhNgọc
3 Đối tượng nghiên cứu
Đặc điểm trường ca Anh Ngọc
4 Phạm vi tư liệu khảo sát
4.1 Nguồn tư liệu khảo sát chính là bốn trường ca của Anh Ngọc :
Sóng Côn Đảo (1975) Sông Mê Kông bốn mặt (1988) Điệp khúc vô danh (1993) Sông núi trên vai (1995)
4.2 Ngoài ra, chúng tôi còn mở rộng khảo sát các tác phẩm thơ củaAnh Ngọc và tham khảo các trường ca của các nhà thơ tiêu biểu thế hệ chống
Mỹ như : Thu Bồn, Thanh Thảo, Hữu Thỉnh, Trần Anh Thái để có sự sosánh nhằm tìm ra nét riêng của trường ca Anh Ngọc
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1 Tìm hiểu vị trí trường ca Anh Ngọc trong bối cảnh trường ca ViệtNam giai đoạn sau 1975
5.2 Tìm hiểu những đặc điểm cảm hứng và hình tượng nghệ thuật củatrường ca Anh Ngọc
5.3 Tìm hiểu những phương thức thể hiện trong trường ca Anh Ngọc
6 Phương pháp nghiên cứu
Để tiến hành làm luận văn này, chúng tôi đã sử dụng một số phươngpháp nghiên cứu sau:
Phương pháp khảo sát – thống kê
Phương pháp loại hình
Phương pháp phân tích – tổng hợp
Phương pháp so sánh - đối chiếu
Trang 97 Đóng góp của luận văn
Với luận văn này, chúng tôi là những người đầu tiên khảo sát toàn bộtrường ca của Anh Ngọc để tìm ra những đặc điểm nổi bật về nội dung vàhình thức nghệ thuật trong trường ca của ông Luận văn góp phần khẳng định
vị trí quan trọng của Anh Ngọc đối với sự phát triển của nền thơ Việt Namhiện đại nói chung và trường ca Việt Nam hiện đại nói riêng
8 Cấu trúc luận văn
Ngoài Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, nội dung chính của luậnvăn được triển khai qua 3 chương:
Chương 1: Trường ca Anh Ngọc trong bối cảnh trường ca Việt Nam
Trang 10Chương 1
TRƯỜNG CA ANH NGỌC TRONG BỐI CẢNH TRƯỜNG CA VIỆT NAM SAU 1975
1.1 Những tiền đề lịch sử - thẩm mĩ dẫn đến sự nở rộ trường ca trong thơ Việt Nam sau 1975
1.1.1 Khái niệm trường ca
Trường ca (tiếng Pháp: poème, trong thuật ngữ văn học Liên Xô cũ gọi
là poema), được hiểu theo một nghĩa rất rộng với nội hàm tương đối khó xácđịnh Khái niệm trường ca bắt đầu xuất hiện ở Việt Nam từ giữa những năm
50 của thế kỉ XX, dùng để gọi tên những sáng tác dân gian có tính sử thi và có
độ dài như Đam San, Xinh Nhã … Theo cách này, trường ca còn được hiểu như là sự đồng nhất với sử thi, anh hùng ca (Iliat, Ôđixê, Ramayana…) hoặc như các Khan ở Tây Nguyên, các Mo của dân tộc Mường vùng núi Tây Bắc.
Tuy nhiên, khái niệm trường ca dần dần được vận dụng để gọi tên những tácphẩm thơ hiện đại dài hơi có dung lượng lớn, sự kiện bao quát và có quy môcảm xúc, tư tưởng lớn… Thể loại trường ca trong văn học hiện đại là mốiquan tâm của các nhà nghiên cứu và của chính các tác giả viết trường ca Trênđường đi tìm định nghĩa hoàn chỉnh cho thể loại trường ca đã có rất nhiều ýkiến khác nhau
Từ điển thuật ngữ Văn học định nghĩa: “Trường ca là một tác phẩm thơ
có dung lượng lớn, thường có cốt truyện tự sự hoặc trữ tình Trường ca(Poème) cũng được dùng để gọi các tác phẩm sử thi (épopée) thời cổ và thờitrung đại, khuyết danh hoặc có tác giả Tên gọi “trường ca” một thời dùng chỉ
các sử thi dân gian như Đăm san, nay thường được dùng để chỉ các sáng tác thơ dài của các tác giả như Bài ca chim Chơ rao của Thu Bồn, Đường tới thành phố của Hữu Thỉnh” [25, 319]
Nhà nghiên cứu Lại Nguyên Ân có khá nhiều bài viết đề cập đến thểloại trường ca Ông cho rằng: “Có thể gọi chung các sáng tác thơ dài hiện nay
Trang 11là trường ca với nhiều kiểu kết cấu khác nhau: Trường ca kể chuyện, thơ sânkhấu, trường ca trữ tình chính luận…” [4,28] Ông định nghĩa: “Trường ca làtác phẩm thơ có dung lượng lớn, thường có cốt truyện tự sự hoặc sườn truyệntrữ tình Trường ca (pòeme) cũng được dùng để gọi các tác phẩm sử thi(épopée) cổ đại và trung đại, khuyết danh hoặc có tác giả, mà theo các nhànghiên cứu khác nhau, chúng được soạn bằng cách xâu chuỗi các bài hát sửthi và truyện kể (theo A.Veselovski) hoặc bằng cách “nới rộng” một hoặc mộtvài truyền thuyết dân gian (theo A- Hoysles) hoặc bằng cách cải biên các cốttruyện cổ xưa trong tiến trình tồn tại của sáng tác dân gian (theo A.Lord,M.Pany) Trường ca được phát triển từ những thiên sử thi miêu tả những sựkiện mang ý nghĩa lịch sử toàn dân” [6]
Tác giả Hoàng Ngọc Hiến trong bài viết Mấy vấn đề về đặc trưng thể loại
và thi pháp trường ca cho rằng: “Trường ca chỉ một thể loại tác phẩm thơ đặc
biệt có đặc trưng nội dung xác định” [28], mà theo ông đó là "nội dung lớn"
Tác giả Vũ Đức Phúc xác nhận: “Trường ca là một thuật ngữ văn họcmới chưa có sự thống nhất, chưa ổn định để sáng tác thơ dài” [51] và ôngphân chia trường ca thành anh hùng ca và sử thi, truyện thơ và thơ trữ tình
Hà Minh Đức – Bùi Văn Nguyên khi nghiên cứu hình thức và thể loạicủa thơ ca Việt Nam, cũng khẳng định: “Trường ca là một hình thức củatruyện thơ … Trường ca không dung nạp mọi loại đề tài và mọi loại tính cách.Nội dung trường ca thường gắn với phạm trù thẩm mỹ về cái đẹp, cái hùng,cái cao cả Những tính cách chủ yếu trong trường ca dù là một tính cách riêngbiệt hay tập thể cũng đều có phẩm chất cao cả ở mức độ này hay khác.Trường ca thường có cốt truyện như một truyện thơ nhưng đôi khi cốt truyệnkhông hoàn chỉnh, nhất là khi gắn với việc ca ngợi hoặc miêu tả trực tiếpnhững sự kiện lịch sử nào đó mà bản thân những sự kiện lịch sử này chưahình thành một cốt truyện cụ thể”[49,395]
Nhà thơ Thu Bồn cho rằng: “Trường ca là một thể loại thơ dài nhằmthể hiện một chủ đề tư tưởng thông qua hình tượng thơ ca, sử dụng ngôn ngữ,
Trang 12nhân vật, âm điệu, bố cục … một cách điêu luyện và tinh xảo nhất của toàn bộnghệ thuật thơ ca” [12, 536] “Trường ca là một tòa lâu đài của thơ ca, là mộtkiến trúc tổng hợp của thơ ca”[12, 538].
Như vậy, cho đến nay vẫn chưa có một quan niệm thống nhất về trường
ca Điều này cho thấy thể trường ca vẫn đang trong quá trình vận động, pháttriển Trạng thái biến đổi của trường ca khiến cho những định nghĩa trước đâykhông đủ sức bao quát những đặc điểm của nó Việc xác định thuật ngữtrường ca hiện nay cũng chỉ mang tính chất tương đối Công việc của ngườinghiên cứu là bám sát thực tiễn sáng tác, đánh giá xu hướng phát triển của thểloại, nắm bắt thêm những nét mới trong quá trình hoàn thiện thể loại
Trên cơ sở các ý kiến đã nêu, thông qua việc nghiên cứu, khảo sát cáctác phẩm trường ca đã ra đời trong và sau kháng chiến chống Mỹ, chúng tôi
tạm thời giới hạn thuật ngữ trường ca hiện đại như sau: Trường ca là những
tác phẩm thơ có dung lượng lớn, ra đời và phát triển trong hoàn cảnh xã hội
có những biến cố lịch sử trọng đại, thường có cốt truyện tự sự hoặc trữ tình
1.1.2 Bối cảnh lịch sử, xã hội, thẩm mĩ sau 1975
Chiến thắng mùa Xuân năm 1975 của quân dân ta là một sự kiện có ýnghĩa và tầm vóc thế giới Chiến công vĩ đại ấy đã đem lại hòa bình và thốngnhất đất nước Từ đây, giang sơn liền một dải, cả dân tộc cùng nhau hàn gắnvết thương chiến tranh, xây dựng cuộc sống văn minh, hạnh phúc theo địnhhướng xã hội chủ nghĩa
Cuộc chiến tranh vừa mới kết thúc, âm hưởng của “ngày hội chiếnthắng” vẫn còn vang vọng trong trái tim mỗi người Cuộc kháng chiến chốngPháp và chống Mỹ vĩ đại của dân tộc trong suốt ba mươi năm thực sự tạo nênmột hiện thực sử thi rộng lớn thúc đẩy sự ra đời của những tác phẩm có quy
mô và âm hưởng anh hùng ca Cuộc chiến tranh mà dân tộc ta tiến hành làcuộc chiến đấu quyết liệt nhất trong lịch sử chống ngoại xâm và có ý nghĩathế giới trọng đại Cuộc chiến đấu với tầm vóc lớn lao của nó đã đặt ra nhữngvấn đề có ý nghĩa về mặt lịch sử và xã hội Chiến tranh đã tạo ra “nội dung
Trang 13lớn” cho phép nhà thơ thực hiện những dự định nghệ thuật lớn, vượt qua giớihạn khuôn khổ thơ trữ tình vươn tới quy mô của trường ca Cuộc chiến đấu
“đau thương mà vĩ đại” ấy đòi hỏi phải có những bản trường ca tương xứng
để ngợi ca, cổ vũ, động viên, đồng thời để nhận diện, tổng kết, khái quát vềcuộc chiến tranh của dân tộc Chính vì vậy, trường ca ra đời và nở rộ sau năm
1975 là một tất yếu, nó xuất phát từ nhu cầu khái quát hiện thực, nhu cầu mởrộng khuôn khổ và sức dung chứa của tác phẩm thơ
Văn học Việt Nam vốn gắn bó chặt chẽ với đời sống và vận mệnh củadân tộc nên từ sau 1975 cũng dần chuyển sang một thời kỳ mới, với nhữngđặc điểm và quy luật vận động khác trước
Trong chiến tranh, con người buộc phải "gác tình riêng mưu việcchung", đặt lợi ích dân tộc lên trên lợi ích cá nhân, đặt tình yêu đất nước lêntrên tình yêu lứa đôi, hạnh phúc lứa đôi Chiến tranh kết thúc, thơ phải trở vềvới những cảm xúc gần gũi, chân thực của con người trong trạng thái bìnhthường, đời thường Sự trở về này là chuyển biến tất yếu, khách quan của thơtrong điều kiện cuộc sống không còn trạng thái sử thi “Thơ phải đời hơn,người hơn với những cung bậc vui buồn khác nhau” [19,55]
Sau 1975, quan hệ giữa thơ và hiện thực cuộc sống cũng đã được nhậnthức lại Nền văn học cách mạng với cảm hứng lãng mạn và cảm hứng sử thi
đã nhìn cuộc sống chủ yếu ở khía cạnh tích cực của nó, né tránh những mặtkhắc nghiệt của hiện thực Điều đó tạo nên sự phiến diện trong quan niệm vềthơ ca, về hiện thực Giờ đây, hiện thực được nhìn nhận một cách toàn vẹn, cảmặt sáng lẫn mặt tối, mặt khuất lấp “Nhìn thẳng vào sự thật” không chỉ làthái độ chính trị mà còn là một trong những cảm hứng chủ đạo trong thơ nóichung, trường ca nói riêng Trong thơ ca giờ đây, tất cả mọi điều đều có thể nóiđến, kể cả hiện thực khắc nghiệt của xã hội Thơ không chỉ có cảm hứng ngợi ca
mà còn có cảm hứng lên án, tố cáo Với ưu thế “sức dung chứa lớn”, trường ca
đã đáp ứng được yêu cầu phản ánh mọi mặt của cuộc sống Bởi thế nên trường
ca đã tồn tại và phát triển ngày càng mạnh mẽ những năm sau 1975
Trang 14Đất nước thống nhất, những người làm thơ với những hoàn cảnh khácnhau đã hội nhập với sự đa dạng về kiểu nhà thơ và bản sắc cá nhân Lựclượng sáng tác thơ chưa bao giờ lại đông đảo như vậy “Góp phần làm nêndiện mạo chính của thơ sau 1975 là lớp nhà thơ trẻ xuất hiện trong thời kỳchống Mỹ cứu nước Họ có ưu thế và thuận lợi hơn so với thế hệ trước Phầnlớn trong số họ được sinh ra sau cách mạng, lớn lên khi nhân dân ta đã giànhđược độc lập hòa bình trên một nửa đất nước, được đào tạo một cách bài bảntrong nhà trường xã hội chủ nghĩa Vốn kiến thức văn hóa nói chung, nhữnghiểu biết có hệ thống về văn học và thơ ca nói riêng đã nằm ngay trong hànhtrang của họ trong những bước đầu tiên đến với thơ” [48] Thế hệ chống Mỹcũng được kế thừa những kinh nghiệm, những thành tựu nghệ thuật của thế hệ
đi trước nên có nhiều thuận lợi Nhiều người đạt tới độ chín trong đời thơ củamình đồng thời táo bạo trong thể nghiệm, cách tân như: Thanh Thảo, HữuThỉnh, Nguyễn Khoa Điềm, Anh Ngọc, Vũ Quần Phương … Sáng tác của họ
là tiếng nói của người trong cuộc nói về chính họ, về thế hệ họ Do vậy, tácphẩm của họ nóng hổi hơi thở của cuộc chiến đấu, thấm nhuần tinh thần lãngmạn cách mạng, thấm nhuần chất sử thi – anh hùng ca
Có thể nói, sự tiếp nối quá khứ và tiếp cận cái mới dường như đã tăngthêm sức mạnh cho các nhà thơ trẻ Thế hệ trẻ đầy tài năng ấy tìm đến thể loạitrường ca để thể hiện những tình cảm thiêng liêng với nhân dân và đất nướctrong những ngày tháng làm nên lịch sử Chính vì vậy, khi nói tới thành tựucủa nền thơ chống Mỹ, không thể không nói tới sự đóng góp nổi bật của thế
hệ những nhà thơ trẻ tài năng và tâm huyết này
1.1.3 Sự nở rộ của trường ca như một hiện tượng thể loại trong thơ Việt Nam sau 1975
Thể loại trường ca ở Việt Nam đã có một vị trí nhất định trong đời sốngvăn học dân tộc Trường ca có khả năng khái quát, tổng hợp cả về nội dung,hình thức và thể loại Trường ca là bước phát triển mới của thơ trữ tình trongkhả năng bao quát, khái quát cuộc sống do nhu cầu mở rộng dung lượng phản
Trang 15ánh hiện thực Xét trên phương diện nội dung, tính chất khái quát, tổng hợpcho phép trường ca có một khả năng ôm chứa, chuyển tải nội dung lớn Vấn
đề cốt yếu của nội dung lớn là vấn đề tư tưởng, tình cảm của tác giả có sức
khái quát sâu sắc Maiakovxki từng nhấn mạnh tầm quan trọng của tư tưởng
trong câu nói nổi tiếng của ông: Có thể không viết về chiến tranh nhưng nhất thiết phải viết bằng chiến tranh Cái quyết định nội dung lớn của trường ca là
viết bằng những tư tưởng gì, còn viết về cái gì là điều thứ yếu Tư tưởng làmột tứ thơ lớn của trường ca Nhà thơ Anh Ngọc đã từng có ý kiến: “Để sángtác trường ca cần phải huy động mình đến mức rất cao… phải thường xuyên
mở cửa nhìn ra xung quanh để tìm cho mình một lối đi riêng… lối đi đó là sợichỉ tư tưởng…Tư tưởng là kết quả của những quan sát, những chiêm nghiệm,những suy tưởng Một nhận thức cụ thể có thể chỉ tồn tại trong một thời gian
ngắn nhưng tư tưởng đúng có sức sống lâu dài vượt qua năm tháng” [44] Ý
kiến này rất bổ ích cho việc nghiên cứu các trường ca hiện đại, khi chuyệnviết về đề tài gì ít được coi trọng
Thực tế sáng tác cho thấy, trường ca Việt Nam hiện đại chỉ thực sự pháttriển và trở thành hiện tượng khi bước vào giai đoạn chống Mỹ cứu nước vàsau khi chiến tranh kết thúc Chỉ trong một thời gian ngắn mà thể loại này đã
đạt được nhiều thành tựu cả về chất và lượng Bài ca chim Chơ rao (1963)
của Thu Bồn có thể coi là phát súng khởi đầu cho sự phát triển rầm rộ củatrường ca chống Mỹ, là thành công đầu tiên đáng chú ý của thể trường ca viết
về cuộc kháng chiến chống Mỹ Sau đó hàng loạt trường ca đã ra đời, có thể
điểm qua một số tác giả, tác phẩm tiêu biểu: Người anh hùng ở đất Hoan Châu (Võ Văn Trực, 1976); Bandan khát (Thu Bồn, 1977); Ngọn giáo búp đa (Ngô Văn Phú, 1977); Những người đi tới biển (Thanh Thảo, 1977); Mặt trời trong lòng đất (Trần Mạnh Hảo, 1977); Đường tới thành phố (Hữu Thỉnh, 1979); Đất nước hình tia chớp (Trần Mạnh Hảo, 1980); Trường ca sư đoàn (Nguyễn Đức Mậu, 1980); Hành khúc mùa xuân (Trần Vi Mai, 1980); Con đường của những vì sao (Nguyễn Trọng Tạo, 1980); Riêng Anh Ngọc có đến
Trang 164 trường ca: Sóng Côn Đảo (1975), Sông Mê Kông bốn mặt (1988), Điệp khúc vô danh (1993), Sông núi trên vai (1995) Chỉ trong một thời gian ngắn,
nhiều trường ca ra đời, gắn liền với sự thành danh của các cây bút: Thu Bồn,Thanh Thảo, Hữu Thỉnh, Anh Ngọc, Nguyễn Trọng Tạo, Trần Mạnh Hảo…
Giai đoạn sung sức nhất của trường ca hiện đại Việt Nam là khoảng haithập kỷ 70 và 80 của thế kỉ XX Trường ca viết trong thời kỳ này thuộcchặng đường chuyển tiếp từ văn học cách mạng trong chiến tranh sang nềnvăn học của thời kỳ hậu chiến Tính chất chuyển tiếp thể hiện rõ ở cả đề tài,cảm hứng, các phương thức nghệ thuật và cả quy luật vận động của văn học
Trường ca Những người đi tới biển (Thanh Thảo) là cuộc hành trình
của mỗi người đến với dân tộc, đến với cuộc chiến nhân dân vĩ đại Trên conđường đó rất nhiều chông gai và nước mắt, những người lính đã hy sinhnhững tháng năm tươi trẻ nhất, hy sinh cả tình yêu, cả bản thân mình để quyếtthắng cho tổ quốc Trường ca của Thanh Thảo có những câu, những đoạn tinh
tế, xúc động và bùi ngùi, nó như là cảm thức của một dân tộc, một thế hệthanh niên trước sự mất mát quá to lớn, trước cảm giác ý thức được mình màphải quên mình đi, trước những tháng năm cuộc đời vĩnh viễn không bao giờlấy lại được:
Chúng tôi đã đi không tiếc đời mình (Nhưng tuổi hai mươi làm sao không tiếc) Nhưng ai cũng tiếc tuổi hai mươi thì còn chi Tổ Quốc
Cỏ sắc mà ấm quá, phải không em?
Những người đi tới biển của Thanh Thảo miêu tả người lính từ lúc ra
đi, chia tay mẹ để đến với cuộc đời khốc liệt Từ giây phút ấy đến ngày toànthắng là quãng đời không thể nào quên, nhân vật tôi đã gặp biết bao con
người- những người lính nếm mật nằm gai, chia nhau manh áo rách, củ sắn lùi
với anh Đó là anh Sáu Như, anh Ba Tốt, anh Tám Hùng… Tất cả những conngười đó cũng có tuổi trẻ, cũng có cuộc đời, tình yêu, hy vọng và mơ ước Từ
Trang 17cuộc đời mỗi người lính và sự hy sinh cao cả của họ, Thanh Thảo đã khái quátsức mạnh của nhân dân:
Mãi mãi sống còn hỡi nhân dân tôi Người mãnh liệt hơn cả ngàn truyền thuyết Dẫu ai được ngàn lần tái sinh cũng không sao hiểu hết Tấm lưng trần kia mang nặng những gì
Chặng đường của nhân vật Tôi đi qua cũng giống như chặng đường của
Tổ Quốc, giờ nhìn lại thấy gian lao, vất vả, ngậm ngùi nhưng lại vô cùng hàohùng, mãnh liệt Cái còn lại cuối cùng vẫn là tình yêu, là nhân văn, chínhnghĩa Chính tình yêu mãnh liệt với đất nước của mỗi con người đã làm nênchiến thắng, đã giúp nhân dân “tới biển”
Hình tượng người lính là hình tượng trung tâm và chủ đạo của văn họcviết về chiến tranh Cuộc đời họ là những bản tráng ca, là những người anhhùng trong bất kỳ cuộc chiến tranh chính nghĩa nào Trường ca có ưu thế là đãtạo được âm hưởng anh hùng ca, đã tổng kết cuộc hành trình vĩ đại của ngườilính chiến đấu vì lý tưởng nhân văn, vì sự sống còn của dân tộc
Nội dung lớn đòi hỏi phải có một hình thức tương xứng Trường ca làthể loại mang tính tổng hợp cả trên phương diện hình thức, từ thể thơ tớigiọng điệu, hệ thống hình ảnh, ngôn ngữ… Một trong những đặc điểm nổi bậtcủa trường ca là việc sử dụng kết hợp nhiều thể thơ trong một trường ca đểthay đổi không khí, cảm xúc, hạn chế sự bằng phẳng, đơn điệu, đem đến chotác phẩm một chất lượng nghệ thuật mới Trong trường ca hiện đại Việt Nam,các thể thơ truyền thống và hiện đại được sử dụng đan xen, thường là thơ tự
do, thơ 5 chữ, thơ 7 chữ, những câu văn xuôi, thơ lục bát… trong đó thơ tự dochiếm vị trí chủ đạo Tính chất khái quát, tổng hợp của trường ca được thểhiện ngay trong hệ thống hình ảnh Trường ca sử dụng phổ biến hệ thống hình
ảnh biểu tượng, tượng trưng (cỏ, sóng, đất, cát, lửa, nước…) Trường ca còn
có sự phối hợp của nhiều giọng điệu Người viết trường ca phải có một nguồncảm hứng mãnh liệt và quan trọng là phải duy trì được nồng độ của cảm xúc
Trang 18từ đầu đến cuối trường ca mà không bị loãng Độ dài trường ca đòi hỏi sự mởrộng của biên độ cảm xúc, sự thay đổi linh hoạt các sắc thái cảm xúc, sự kếthợp của nhiều giọng trong một trường ca.
Trường ca sử dụng tổng hợp phương thức tiếp cận của cả ba loại hình
tự sự, trữ tình và kịch Sự kết hợp đó chủ yếu nhằm mở rộng dung lượng, tăngcường khả năng bao quát hiện thực của trường ca Tự sự và trữ tình là haiphương thức thể hiện chủ yếu trong trường ca hiện đại Việt Nam Sự kết hợpgiữa tự sự và trữ tình là đặc trưng cơ bản của trường ca Trữ tình bộc lộ chủthể, bộc lộ những cảm xúc và suy nghĩ; tự sự phản ánh khách thể, là miêu tả,tạo nên dáng dấp hiện thực Trong trường ca, sự gia tăng của yếu tố tự sự là
hệ quả của việc tăng cường chất liệu đời sống
Trường ca Việt Nam càng ngày càng có xu hướng gia tăng chất triết lí,cho thấy chiều sâu trong khả năng chiêm nghiệm hiện thực của các tác giảtrường ca Không chỉ dừng lại ở những chiêm nghiệm bó hẹp về tính dân tộc,giới hạn trong một giai đoạn lịch sử nhất định, những trải nghiệm đã được đẩycao lên tính nhân loại và chạm tới tinh thần nhân văn cao cả, chạm tới tínhngười muôn thuở, những vấn đề cốt lõi muôn đời của cuộc sống nhân sinh.Nhà thơ cũng không còn mải mê với những triết lý cũ về chiến tranh mà đãđẩy sâu hơn những suy nghĩ trăn trở về cuộc sống đời thường khiến chonhững triết lý mang đậm màu sắc nhân sinh thế sự…
Sự phát triển rầm rộ của trường ca viết về đề tài chiến tranh những nămsau 1975 có thể lý giải từ bối cảnh lịch sử - xã hội “Trong không khí chiếnthắng hào hùng của thời đại mới, những nhà thơ – người lính từng một thờivào sinh ra tử ở chiến trường có một nhu cầu hết sức tự nhiên là tổng kết,nhận diện lại về lịch sử, đất nước, nhân dân một cách sâu sắc, trọn vẹn hơn”[48] Trường ca với những ưu thế đặc biệt về thể loại đã nhanh chóng đáp ứngđược nhu cầu đó Trường ca có thế mạnh trong việc chiếm lĩnh và phản ánh
cả một khoảng không gian, thời gian rộng lớn, dựng lên những chân dung tínhcách của người anh hùng, nhân dân, đất nước trong thời đại chống Mỹ Nhân
Trang 19vật trung tâm trong trường ca là những hình tượng chứa đựng phẩm chất vàtinh thần chung của cả thời đại như đất nước, nhân dân, người lính, người phụ
nữ Các trường ca thời kỳ này cơ bản vẫn tiếp tục cách tiếp cận từ quan điểm
sử thi về hiện thực chiến tranh
Với tư cách là những người trong cuộc, những nhà thơ mặc áo lính cónhu cầu được phát ngôn cho những đau thương mất mát mà thế hệ mình, đấtnước mình, nhân dân mình đã trải qua Họ vừa là người chứng kiến chiếnthắng oai hùng, vĩ đại của dân tộc, đồng thời cũng là người thấu hiểu sâu sắcnhững hi sinh, mất mát, cái giá phải trả cho những vinh quang đó Do đó,chiến tranh không chỉ được nhìn từ mặt trước mà còn được nhìn từ phía sauvới bao nỗi đau trĩu nặng, bao nhức nhối khó lành Các nhà thơ không chỉ nóiniềm vui chiến thắng mà còn nói nhiều hơn, thấm thía, day dứt hơn về sự mấtmát, hi sinh, những chịu đựng âm thầm, lặng lẽ của nhân dân Chính vì có ưuthế về độ dài nên trường ca đã được các tác giả tìm đến để phản ánh cuộcchiến tranh đúng như nó xảy ra
Trên đây là những lý do giải thích cho sự nở rộ của trường ca nhữngnăm sau 1975 So với trường ca trước 1975, trường ca ở giai đoạn này đã thểhiện một cái nhìn trầm tĩnh hơn, hiện thực chiến tranh được tái hiện toàn vẹn,sâu sắc và chân thực hơn Các tác giả viết trường ca đã kết hợp khá nhuầnnhuyễn giữa tự sự và trữ tình, đan xen phối hợp nhiều thể thơ trong mộttrường ca, phác họa được nhiều chân dung của nhân vật trữ tình nhằm vươntới xu hướng khái quát, tổng hợp, mở rộng hiện thực, tăng cường tính triết lý,chính luận trong thơ
1.2 Khái quát về các chặng đường thơ Anh Ngọc
1.2.1 Anh Ngọc – vài nét tiểu sử
Nhà thơ Anh Ngọc tên thật là Nguyễn Đức Ngọc, sinh vào mùa thunăm 1943 tại Nghi Lộc - Nghệ An Anh Ngọc còn có bút danh khác là LySơn Sau khi tốt nghiệp khoa Ngữ văn trường đại học Tổng hợp Hà Nội, ônggiảng dạy ở trường Thương nghiệp rồi trở thành lính thông tin liên lạc và gắn
Trang 20bó với quân đội Ông là cựu chiến binh mặt trận Quảng Trị năm 1972 AnhNgọc từng là phóng viên báo Quân đội nhân dân, biên tập viên của tạp chíVăn nghệ quân đội; có mặt tại nhiều chiến trường B, K và biên giới (1973-1979) Ông sáng tác nhiều thể loại: thơ, truyện, ký và cả dịch thuật Ông đãđạt được rất nhiều giải thưởng văn chương như: Giải thưởng cuộc thi truyệnngắn báo Văn nghệ 1998 - 2000, giải thưởng cuộc thi sáng tác Văn học chothiếu niên nhi đồng - Nhà xuất bản Trẻ, giải thưởng văn học Nguyễn Trãi -Hội Văn học nghệ thuật Hà Tây, giải thưởng cuộc thi truyện ngắn Hội Vănhọc nghệ thuật Hà Tây, 2001… Hiện ông về nghỉ hưu với quân hàm Đại tá.
1.2.2 Hành trình sáng tạo của Anh Ngọc
Anh Ngọc là một trong số những gương mặt tiêu biểu của thế hệ nhàthơ Việt Nam trưởng thành trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước Là mộtnhà thơ mặc áo lính, ông luôn cố gắng tìm sự độc lập trong suy nghĩ, khôngngừng theo đuổi những dự định sáng tạo mới, nỗ lực hết mình để cống hiếncho thơ ca Và hành trình đó vẫn đang được tiếp tục
Trước 1975, Anh Ngọc sáng tác các tác phẩm: Cây xấu hổ (1972), Sài Gòn đêm giao hưởng (1975) Ông nổi tiếng từ chùm thơ được giải nhì cuộc thi báo Văn nghệ 1972 -1973, trong đó có bài thơ Cây xấu hổ, sáng tác vào
ngày 31/5/1972 tại mặt trận Quảng Trị Có thể nói rằng, đã hơn một phần ba
thế kỷ đi qua, tên tuổi của ông luôn gắn liền với bài thơ Cây xấu hổ Cây xấu
hổ có sức lan tỏa nhanh trong công chúng yêu thơ, nhất là thế hệ thanh niên
sinh viên nhập ngũ vào những năm cuối của cuộc chiến tranh chống Mỹ cứu
nước Hoàn cảnh ra đời của Cây xấu hổ rất đặc biệt, Anh Ngọc viết trong
khoảnh khắc ngắn ngủi của một chiều hè đỏ lửa năm 1972 Anh Ngọc tâm sự:
“Còn nhớ, một buổi trưa, tôi một mình, một cây súng đi nối đường dây vừa bịđứt… tôi không nghĩ tới điều gì to tát mà chỉ thường thực một phản xạ khôngđiều kiện là nhảy bổ vào những bụi cây lúp xúp ven đường tránh bọn giặctrời Và lần ấy tôi đã lao ngay vào một lùm xấu hổ và bị loài cây nhỏ đầy gainày cào cho tứa máu… Chiều ấy về đơn vị tôi đã viết về loài cây này” [26]
Trang 21Và những câu thơ như thể thực sự đã đồng cảm được với một thế hệ thanhniên ra trận:
Giữa một vùng lửa cháy bom rơi Cây hiện lên như một niềm ấp ủ Anh lính trẻ hái một cành xấu hổ Ướp vào trong trang sổ của mình
Và chuyện này chỉ cây biết với anh
Bằng thủ pháp đối lập, Anh Ngọc đã khẳng định sức sống không gì vùidập được của thiên nhiên, đất nước, con người Việt Nam Âm hưởng thời đại,
âm hưởng thi ca đã tác động vào thơ ông tạo nên giọng điệu hăm hở, say mê
và có phần hào sảng Đọc Sài Gòn Đêm giao hưởng trước mắt chúng ta hiện lên một Anh Ngọc sáng láng, bay bổng và cũng rất thiết tha:
Phút này đây ta giành trọn cho nhau Anh trọn của em đến tận cùng ý nghĩ Giai điệu đẹp như hồn em cao quý Anh nhắm mắt vào uống cạn suối âm thanh
Từ 1975 đến 1986, Anh Ngọc sáng tác các tác phẩm: Sóng Côn Đảo (1975), Hương đất mầu cờ (1977), Ngàn dặm và một bước (1984) Giai đoạn
này ông sáng tác ít và không có những thành công thật nổi bật
Giai đoạn từ 1986 đến bây giờ là giai đoạn phát triển rực rỡ nhất của
hồn thơ Anh Ngọc Ông sáng tác rất nhiều tác phẩm: Ba cuộc đời một trái bóng (Truyện ký, 1986), Sông Mê Kông bốn mặt (Trường ca, 1988), Điệp khúc vô danh (Trường ca, 1993), Thơ tình rút từ nhật ký (Thơ, 1993), Sông núi trên vai (Trường ca, 1995), Một con mèo nằm ngủ trên ngực tôi (Thơ, 1997), Mạnh hơn tuyệt vọng (2001)… Sau cuộc chiến, cái phần hào sảng trong ông ít dần đi mà thay vào đó là sự lắng sâu, xoáy xiết: Những bước chân xin hãy nhẹ nhàng hơn/ bài điếu văn cũng đừng sang sảng quá/ rừng thổn thức để rơi vài chiếc lá/ lá thì vàng mà tóc họ đang xanh (Điệp khúc vô danh) Cái ngây ngất của Sài Gòn đêm giao hưởng đã được thay bằng nỗi
Trang 22thổn thức của người cầm bút Chiến tranh được phản ánh sâu hơn ở một góc
độ khác: nỗi mất mát đau thương vô cùng to lớn mà dân tộc này, đất nước nàygánh chịu Anh Ngọc chỉ muốn viết đúng lòng mình và hình như cũng muốn
bù lại cái phần khiếm khuyết, thiếu hụt của thơ trong chiến tranh Từ trường
ca Sông Mê Kông bốn mặt, Anh Ngọc đã thể hiện sự trở về của mình, ông có
ý thức hướng thơ mình vào những vấn đề muôn thủa của con người, đó là sựsống và cái chết, chiến tranh và hòa bình… với những trang viết đầy đam mê,tâm huyết
Ngoài sáng tác thơ, Anh Ngọc còn viết tiểu luận, phê bình Ông tỏ ra làcây bút viết phê bình sắc sảo và có sự am hiểu sâu sắc về lý luận Ông cũng làmột dịch giả có tài Tuy nhiên mặt mạnh của Anh Ngọc thể hiện rõ nhất là ởthể loại thơ và nhất là trường ca
1.3 Vị trí của trường ca trong sự nghiệp sáng tác của Anh Ngọc
1.3.1 Quan niệm về nghệ thuật của Anh Ngọc
Anh Ngọc đã từng thổ lộ: có hai câu thơ phác thảo gần đúng chân dung
tinh thần và tâm hồn mình Một là câu của chính ông, câu: Điều không thể nói lại là điều không thể giấu Một là của nhà thơ nổi tiếng Xuân Diệu: Làm sao sống được mà không yêu Nói ra điều này, có lẽ nhà thơ Anh Ngọc không
muốn giấu mình và hình như ở một cấp độ cao hơn ông đã bày tỏ quan niệm
sống Trong quan niệm của ông: Cuộc sống đơn giản hơn ta tưởng rất nhiều/
Và phức tạp hơn ta từng nghĩ Rõ ràng, những câu thơ mang chất triết luận
này, người ta khó có thể viết được khi còn trẻ, lúc ông chưa va đập nhiều vớicuộc đời, còn ít từng trải, chưa chứng kiến nỗi bi thương và nỗi tầm thườngcủa thế gian
Quan niệm về thơ, về nghệ thuật, sau 1975, Anh Ngọc đã bộc bạch:
Tôi đi qua tuổi học trò Nói năng khuôn phép câu thơ sáo mòn Cười mình quen thói đại ngôn
Thương vay khóc mướn véo von một thời
Trang 23Câu thơ dẫu viết xong rồi Vẫn như thấy thiếu … một lời ở trong Một lời thốt tự đáy lòng
Một lời vẽ được chân dung của mình
(Điệp khúc vô danh)
Như vậy là đã rõ! Giờ đây, tác giả muốn tìm một con đường vào thơtrong nguyên dạng trần trụi của những số phận, cảnh ngộ và các bức tranh đờithường Anh Ngọc muốn trung thực đến tận đáy lòng mình, ông muốn trở về
với thơ muôn đời: Đó là sự trở về cần thiết để hòa vào dòng chảy có thể đi tới vĩnh cửu (tự bạch của nhà thơ)
Sâu sắc và chân thực cho thơ, đó là tâm niệm và định hướng của AnhNgọc Thơ ca cần phải đổi mới nhưng đổi mới phải nương tựa vào đâu? AnhNgọc cho rằng “kinh nghiệm và cũng là bài học sáng tác của ông nằm trong
ba điều tâm niệm: Yêu thật, đau thật và viết thật Nhìn lại những gì mà ông
tạm bằng lòng với mình đều được viết ra từ nguyên lý ấy, dù vô tình hay cố ý
Dĩ nhiên, từ thật ở đây cần được hiểu một cách bản chất, không phải là cái
thật thà thô sơ thường tình, mà là cái thật của nghệ thuật, được diễn đạt bằng
sức mạnh đặc thù của nghệ thuật” [24] Chung nhau một chữ thật, nằm ngoài
cái ấy là sự giả Nhưng cái giả trong văn chương nghệ thuật thường nhận rakhó hơn cái giả trên sân đấu, sân cỏ của thể thao Nhà thơ Anh Ngọc cho rằngviết ra nỗi cô đơn, sự tuyệt vọng của mình cũng chính là cuộc hành hương trở
về với thơ chân thực, làm sao có thể viết khác đi tâm trạng, cảm xúc và lý trícủa mình được
Theo nhà thơ, “mỗi tác phẩm ra đời là sản phẩm tinh thần diễn đạt đúngtâm thế của người viết trong một thời thế nhất định Ngay với những sáng tác
có quá trình sáng tạo hoặc phải chỉnh sửa trong một thời gian dài thì cũngphải diễn ra trong một tâm thế và thời thế nhất quán; cũng như thái độ đối với
sự thật lịch sử, việc can thiệp vào những tác phẩm của chính mình trong quá
Trang 24khứ, cả về nội dung lẫn hình thức, khi tâm thế và thời thế đã thay đổi là điềukhông nên và không thể” [43]
Khi nói về ảnh hưởng của thơ ca trong đời sống văn chương cũng nhưđời sống tinh thần của dân tộc, nhà thơ Anh Ngọc đã nhận xét: “Sự ảnh hưởngcủa thơ vào đời sống tinh thần của con người tinh vi và âm thầm, không ồn ào
và nhanh chóng như các thứ ngôn ngữ khác như chính luận, tranh cổ độnghay cả âm nhạc… Từ những tác phẩm lớn như Truyện Kiều hay các tác phẩmcủa các nhà thơ cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, cho đến Thơ mới đều tìmđược sự cộng hưởng trong lòng đông đảo công chúng Trước hết, tôi nghĩrằng, chính vì những sáng tác ấy, từ góc độ này hay góc độ khác, đều đáp ứngđược nhu cầu có thực trong lòng nhân dân, diễn đạt hộ con người những cảmnhận tinh vi về cuộc sống, những khát vọng cháy bỏng hay âm thầm, bằng thứngôn ngữ nghệ thuật sâu sắc nhưng giản dị, tinh túy nhưng không cầu kỳ, mới
mẻ nhưng không xa lạ… Những tác phẩm ấy bằng vẻ đẹp của sự chân thực đãtrở thành người bạn sẻ chia những buồn vui cùng con người, nâng đỡ conngười trong những thời khắc nó cần đến sự hỗ trợ của những tấm lòng đồngcảm Đến thời kỳ cách mạng và kháng chiến, trước đòi hỏi to lớn của đấtnước và nhân dân trong cuộc chiến đấu sống còn với kẻ địch, thơ ca đãchuyển mình mạnh mẽ, luôn có mặt trong đội ngũ chiến đấu bằng thứ vũ khísắc bén của mình, chấp nhận hy sinh những nhu cầu duy mỹ thuần túy củathời bình, để trái tim đập cùng một nhịp với trái tim toàn dân tộc đang chiếnđấu Với cách dấn thân như vậy, dĩ nhiên thơ đã làm được hơn cả một ngườibạn tâm tình, nó còn là một người lính như muôn vàn người lính khác… Tuynhiên sau chiến tranh… thơ phải trở lại với nhiệm vụ âm thầm và tinh vi củamình… Nhưng tìm tòi cái mới là vô cùng khó khăn Nó đòi hỏi nhiều thờigian và tâm huyết, đòi hỏi sự chín muồi của hoàn cảnh và người viết, đòi hỏitài năng… là những thứ không thể cố gắng mà có thể đạt được ngay” [24]
Anh Ngọc là một nhà thơ có ý thức sâu sắc về nghề viết Ông từng phátbiểu những quan niệm riêng của mình về tư tưởng trong trường ca: “Để sáng
Trang 25tác trường ca cần phải luôn huy động mình đến mức rất cao… phải thườngxuyên mở cửa nhìn ra xung quanh để tìm cho mình một lối đi riêng… lối đi
đó là sợi chỉ tư tưởng, … tư tưởng là một hệ thống nhận thức, bao quát mộtkhu vực trong ý thức của người viết trước cuộc sống Chính tầm vóc của tưtưởng chứa đựng quy mô của trường ca Có những trường ca chỉ có một tưtưởng từ đầu đến cuối, nhưng cũng có những trường ca có đến mấy tư tưởngkhác nhau Tư tưởng là kết quả của những quan sát, những chiêm nghiệm,những suy tưởng Một nhận thức cụ thể có thể chỉ tồn tại trong một thời gianngắn nhưng tư tưởng đúng có sức sống lâu dài vượt qua năm tháng” [42] Cóthể nói, ý kiến trên rất bổ ích cho việc nghiên cứu các trường ca hiện đại, khichuyện viết về đề tài gì ít được coi trọng
Quan niệm về nghệ thuật của Anh Ngọc phản ánh đúng bản chất củanghệ thuật và thống nhất với thực tiễn sáng tác của nhà thơ Anh Ngọc chỉmuốn viết đúng lòng mình và có lẽ như vậy mà những câu thơ của ông luônnhận được sự đồng cảm của các thế hệ bạn đọc
1.3.2 Về vị trí của trường ca trong sáng tác của Anh Ngọc
Khi đã trực tiếp cầm súng chiến đấu, hiện thực chiến tranh lặn sâu vàongười lính giúp ông kịp nhận ra rằng, để tái hiện “gương mặt” chiến tranh thìnhững bài thơ thuần túy về cảm xúc là chưa đủ Anh Ngọc tìm đến trường canhư một tất yếu về thể loại biểu đạt Ông nói: “Quả nhiên, trường ca là sảnphẩm của thời đại Khó có thể loại nào mang tính khái quát tổng hợp đượcnhư thế Nó đòi hỏi cả bề rộng lẫn chiều sâu của tư tưởng, đủ sức xuyên suốttác phẩm mà không làm mất đi mạch nguồn cảm xúc Tính thời đại với nhiều
ám ảnh đã đưa tôi tới với trường ca” [26] Với Anh Ngọc, trường ca là sảnphẩm của thời đại Ông cho rằng, nhu cầu của thời đại sản sinh ra trường ca,thể loại văn học khái quát những vấn đề lớn với bề rộng của quy mô, chiềusâu của tư tưởng Ông cũng khẳng định sự không thể thay thế được của thểloại này trong nhu cầu tiếp cận đời sống của con người: “Tôi nghĩ tâm thế vàthời thế lúc đó thôi thúc những nhà thơ thế hệ chúng tôi buộc phải viết trường
Trang 26ca Chất liệu cuộc sống đồ sộ, nguồn cảm hứng lớn “đặt hàng” cho nhà thơphải viết dài, thực sự có nhu cầu tát cạn mình” [41] Anh Ngọc không chỉ viết
một trường ca mà con số này lên tới bốn Đó là các trường ca: Sóng Côn Đảo, Sông núi trên vai, Sông Mê Kông bốn mặt, Điệp khúc vô danh Có thể nói
rằng, trường ca đã góp phần quan trọng làm nên diện mạo thơ Anh Ngọctrong nền thơ Việt Nam đương đại
Trang 27Chương 2
CẢM HỨNG CHỦ ĐẠO VÀ HỆ THỐNG HÌNH TƯỢNG
TRONG TRƯỜNG CA ANH NGỌC
2.1 Cảm hứng chủ đạo trong trường ca Anh Ngọc
Từ điển thuật ngữ văn học (2000) do Lê Bá Hán, Nguyễn Khắc
Phi,Trần Đình Sử đồng chủ biên, định nghĩa cảm hứng chủ đạo là: “Trạngthái tình cảm mãnh liệt, say đắm, xuyên suốt tác phẩm nghệ thuật, gắn liềnvới một tư tưởng xác định, một sự đánh giá nhất định, gây tác động đến cảmxúc của người tiếp nhận tác phẩm” “Cảm hứng là trạng thái tâm lý đặc biệtkhi có cảm xúc và sự lôi cuốn mãnh liệt, tạo điều kiện để óc tưởng tượng,sáng tạo hoạt động có hiệu quả” [24,107]
Như vậy, cảm hứng sáng tạo là một tình cảm mạnh mẽ, mang tư tưởng,
là một ham muốn tích cực đưa đến hành động, mà trong nghệ thuật, đấy làhành động sáng tạo của người nghệ sỹ Đứng trước những hiện tượng đờisống, người nghệ sỹ có một mong muốn, khát vọng thôi thúc được phản ánh,được thể hiện tư tưởng, tình cảm nhận thức của mình Khát vọng đó trở thànhnhiệt tình phê phán hoặc khẳng định trong tác phẩm của người nghệ sỹ Bởithế, khi đi vào tác phẩm văn học nghệ thuật, cảm hứng sáng tạo trở thành mộtlớp nội dung đặc thù Một khi tác phẩm ra đời, qua thế giới hình tượng đượcdệt nên bằng lớp ngôn từ, người đọc sẽ thấy được cảm hứng chủ đạo của nó là
gì Rộng hơn, người đọc sẽ thấy được cảm hứng chủ đạo trong sáng tác củamột nhà văn, hay nhiều nhà văn trong một thời kỳ … Đây là cơ sở cho phépchúng ta nói đến nét đặc thù trong cảm hứng sáng tạo của một loại hình vănhọc nhất định trong một thời kỳ nhất định
2.1.1 Cảm hứng sử thi
2.1.1.1 Cảm hứng ngợi ca chủ nghĩa anh hùng Cách mạng
Chiến thắng mùa Xuân năm 1975 của quân và dân ta thực sự đã làmnên một bản anh hùng ca sáng ngời chủ nghĩa yêu nước và tinh thần bất khuất
Trang 28của dân tộc Việt Nam Chiến tranh vừa mới đi qua, âm hưởng của “ngày hộichiến thắng” vẫn còn vang vọng trong trái tim mỗi người, đặc biệt là nhà thơ.Trong không khí ấy, mỗi người đều chỉ muốn hát ca về chiến thắng, về chiếncông, kỳ tích mà lịch sử dân tộc đã làm nên “Nhìn lại lịch sử từ một khoảngcách ngắn của thời gian, khi những cảm nhận của cá nhân và không khí chungcủa một xã hội, một dân tộc còn chưa nguôi chưa lặng, đó là thời điểm xuấthiện của những anh hùng ca, những trường ca” [65, 82] Chính vì thế, ởtrường ca sau 1975, cái tôi trữ tình - thế hệ là tiếng nói nổi trội, nhiệt tình đốithoại, phát ngôn, trong đó chủ yếu là tiếng nói phát ngôn mạnh mẽ cho thế hệtôi Trường ca sau 1975 chủ yếu lấy trữ tình làm yếu tố chính để mở ra khônggian cho những lời tự bạch, cho những bức chân dung tự họa tinh thần củamột thế hệ cầm súng.
Cả một thế hệ cầm súng nhận thức được vai trò lịch sử trước vận mệnhđất nước, xác định được con đường đi cho mình:
Ta không nô lệ cho đời
Ta sinh ra để làm người tự do Cùm gông trả lại quân thù Mênh mông tiếng hát trả cho con người Con đường chỉ một đường thôi
Trăm lời cũng chỉ một lời thủy chung (Tiếng hát những xà lim -Sóng Côn Đảo)
Qua những lời tuyên thệ đó, chúng ta thấy được quan niệm nhận thứccủa người lính trước mọi vấn đề của cuộc sống đang đặt ra Mỗi người chiến
sỹ cách mạng đều mang theo mình một lời thề cao cả vì lý tưởng, vì non sông
tổ quốc, vì núi sông hùng vĩ, tự do của nhân loại Họ nhận thức được, chỉ cóđộc lập tự do mới đem lại cuộc sống hạnh phúc cho nhân dân, mới đem lại
“tiếng hát cho con người” Ánh sáng của lý tưởng cách mạng đã soi chiếu,dẫn dắt họ đi theo con đường của Đảng để dành độc lập, tự do cho dân tộc
Trang 29Với vùng đất Côn Đảo, bằng trường ca Sóng Côn Đảo, Anh Ngọc muốn cho
nhân loại biết, không thể khuất phục nổi ý chí của một dân tộc:
Chỉ một lời: “Thà chết không ly khai”
Một tư thế: Trước kẻ thù đứng thẳng Anh là đất để gieo mầm của Đảng Anh là cây cho đồng đội nương cành (Áo đen - Sóng Côn Đảo)
Những người lính hiểu hơn ai hết giá trị của độc lập tự do Họ đã đưa ra
lời tuyên ngôn cho thế hệ mình: thà chết không ly khai, trước kẻ thù đứng thẳng Tư thế người lính hiện lên thật kiêu hãnh Họ bước vào trận hồn nhiên
hơn, đơn giản hơn, dường như không chút day dứt về số phận cá nhân Họkhẳng định mình như một thành viên của cuộc trường chinh giải phóng, làmột chiếc lá của rừng cây, một giọt nước của dòng sông, một ngọn sóng củabiển cả, một ngọn cỏ trong rừng già, một chiếc áo trong điệp trùng áo lính,
một hạt cát của đất đai để gieo mầm của Đảng, cho đồng đội nương cành.
Nhưng thành viên ấy không hòa tan vào cộng đồng mênh mông nhờ ý thức vềchính mình, về số phận thế hệ mình
Cảm hứng anh hùng và lãng mạn khiến con đường ra trận luôn là conđường đẹp nhất Những người lính khẳng định trách nhiệm, vị trí của thế hệmình trước lịch sử và coi đó là thời sống đẹp nhất, say mê nhất, quên mìnhnhất, lý tưởng nhất:
Giờ họ nằm sát cạnh bên nhau thảnh thơi và yên lặng
… vừa xô đẩy, dóng hàng khúc khích cười, ghé tai nhau chọc ghẹo ném mũ, ba lô ngổn ngang thành gò đống
họ nằm lăn trên đất ngủ quên về (Ngọn tháp xanh - Sông Mê Kông Bốn Mặt)
Trong bom đạn họ vẫn hồn nhiên yêu đời, trong gian khổ họ vẫn hạnhphúc Bởi vì họ ra trận nhân danh tình yêu quê hương và người bảo vệ thành
Trang 30quả nhân dân, nên ở đâu họ cũng tìm được hơi ấm Họ không có nỗi cô đơntách ra khỏi cộng đồng mà là những tập thể đông đảo:
Ngọn lửa hơi ấm cộng đồng luôn bao bọc họ Nên dù sống ở trong tù,
trong đêm đen nhưng lúc nào tâm hồn họ cũng sáng ngời tin yêu Sự sống dù
có trải trên nền đạn bom hủy diệt vẫn đượm màu hồng, màu xanh tươi mát,sinh sôi nảy nở, biểu hiện sự bất diệt của tinh thần
Trong trường ca Anh Ngọc, chiến tranh và bom đạn là cái nền để hìnhtượng con người, thế giới con người giàu lòng vị tha, đức dũng cảm, nghĩatình, thủy chung, chịu đựng gian khổ hiện lên Thế giới mà ở đó con ngườiquyết vượt lên sự tàn phá hủy diệt để tồn tại, phát triển với vẻ đẹp sáng ngời.Trường ca nói chung, trường ca Anh Ngọc nói riêng đã phác họa được bứcchân dung tinh thần của thế hệ cầm súng Họ xem cái chết không phải là sựmất đi, tan biến đi mà là sự thăng hoa, bay lên, tan vào đất nước, quê hương,hồi sinh trong lòng thiên nhiên, tổ quốc, được đặt trong vĩnh hằng của đấtnước nên vừa có cái nhẹ nhàng thanh thản, vừa có dấu ấn của sự bất tử.:
Em đã gieo mình xuống dòng nước xiết Lòng thanh thản nhận về mình cái chết Như tình yêu trong giây phút hiến dâng Thân thể em thành một khối trong ngần Linh hồn em đã nhập vào ngọn lửa Cháy một lần không bao giờ tắt nữa
Em trở về trong lửa ấy Hoa ơi!
(Sợi chỉ - Sông núi trên vai)
Trang 31Họ đi ra bãi bắn mà giọng điệu nghe vẫn lạc quan, yêu đời:
Chào anh em ở lại, tôi đi hàng dương (Cát trắng dương xanh – Sóng Côn Đảo)
Có được điều này bởi vì họ đi vào cuộc chiến bằng một vóc dáng vữngvàng, sôi nổi, bằng nội lực tiềm ẩn, bằng lòng yêu nước, lòng dũng cảm củamột chiến sĩ cách mạng
Dân tộc Việt Nam đã trải qua hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước.Bao nhiêu thế lực ngoại xâm đã đến Việt Nam thì có bấy nhiêu thế hệ đãđứng lên nhận lấy trách nhiệm cao cả đánh đuổi giặc ngoại xâm bảo vệ đấtnước Những người lính ở đây không chỉ là các chàng trai mà còn là các côgái với:
Đôi bờ vai nho nhỏ Đong đầy ngàn cân (Tạo hình – Sông núi trên vai)
Họ là những cô gái Chưa một lần yêu cho lồng ngực rung lên Thắt đáy lưng ong em chưa một lần làm mẹ, Trăm trận sốt mặt người vàng mặt lá nhưng vẫn có thể gùi những gùi hàng như trái núi trên vai:
Con gái cao một mét năm nhăm Quả đạn DK vượt quá đầu nửa mét Gùi trên lưng sự sống và cái chết Như Nữ Oa xưa đội đá vá trời Những người đi cùng thế hệ với tôi Gùi lịch sử trên đôi vai bé nhỏ Tầm vóc họ lớn hơn chính họ (Tạo hình – Sông núi trên vai)
Ở đây, Anh Ngọc đã đối lập vóc dáng của người con gái với khả năngchịu đựng của họ Điều này càng khẳng định cho chúng ta thấy rằng: nhờ cósức mạnh của ý chí thì không có gì chúng ta không làm được, không có khókhăn nào mà chúng ta không thể vượt qua Kẻ thù dù có được trang bị đến
Trang 32từng chân tơ kẽ tóc, chúng ta dù “chân không áo vải” nhưng với lòng quyếttâm của mình, nhất định chúng ta sẽ chiến thắng, nhất định chúng ta sẽ đánhđuổi được giặc ngoại xâm ra khỏi bờ cõi nước nhà.
Sự anh dũng, ý chí quyết tâm của anh, của em, của đoàn quân trùngđiệp được trả giá bằng bản tin chiến thắng:
Họ đã đi từ Phai Khắt, Nà Ngần Qua Lô, Thao xác thù vùi dưới sóng Đồn giặc cháy đỏ trời Cao – Bắc – Lạng Những chiến khu Việt Bắc, Bưng Biền Những ngọn cờ băng qua ngàn lửa khói Kịp sáng bừng trên thung lũng Điện Biên (Vô danh – Điệp khúc vô danh) Trong trường ca Anh Ngọc, hình ảnh vị Chủ tịch kính yêu với dịu dàng khuôn mặt, vầng trán nhân từ, chòm râu phơ phất, nụ cười ánh mắt cảm thông được khắc sâu trong trái tim của người dân nói chung và thế hệ cầm
súng nói riêng như là một chỗ dựa tinh thần vững chãi:
Người gần gũi đến trở thành thân thuộc Giữa nhân dân không mượn đến nhiều lời Tiếng Người nói từ đáy lòng chân thực Lại hồi âm trong triệu triệu trái tim người
là động lực, là sức mạnh, là niềm tin để nhân dân ta vượt qua mọi khó khăn,gian khổ để đi đến đích cuối cùng đó là: độc lập tự do
Trong trường ca Anh Ngọc, con người luôn đặt trong những thử tháchkhốc liệt của hoàn cảnh và ở họ đã bộc lộ sự hy sinh cao cả Hướng về tổ quốc,nhân dân và lẽ sống của cả một thế hệ, trường ca luôn hướng tới cái cao cả, anhhùng Đó là phẩm chất cơ bản của cái tôi sử thi trong trường ca Anh Ngọc
2.1.1.2 Cảm hứng tố cáo những thế lực tàn bạo, thù địch với cuộc sống con người
Trang 33Bốn trường ca của Anh Ngọc (Sóng côn Đảo, Sông núi trên vai, Sông
Mê Kông bốn mặt, Điệp khúc vô danh) đều viết về đề tài chiến tranh nhưng
khuynh hướng tiếp cận đã khác với những cây bút trường ca trong giai đoạntrước Khuynh hướng sử thi mờ dần, chiến tranh chủ yếu được phản ánh ởmặt trái của nó: những tổn thất, hy sinh, mất mát và hậu quả không gì bù đắpđược… Trường ca của ông nhìn sâu hơn vào hiện thực chiến tranh Ôngkhông chỉ ngợi ca các thế hệ cầm súng đã hy sinh thân mình cho tổ quốc màcòn lên án, tố cáo chiến tranh, sự khắc nghiệt của hiện thực chiến tranh; tố cáonhững thế lực tàn bạo, thù địch với cuộc sống con người
Đời sống của người lính ở trong tù hết sức gian khổ:
Ta nhận chỗ của mình trong chuồng cọp Nhận thân ta kẻ thù gieo chết chóc Nhận đòn roi thay hơi ấm bàn tay Nhận thức ăn là mắm chua, khô đắng
Và quê hương là biệt xứ lưu đày (Giặt áo – Sóng Côn Đảo)
Họ phải chịu những tra tấn dã man khiến đòn thù dập nát mười đầu ngón tay Không những thế, họ còn là khẩu phần ăn sáng của hai ngàn con sấu đói đang ghếch mõm lên cao chờ.
Những người tử tù sống trong nỗi ám ảnh không nguôi về cái chết:
Nước mắt họ ứa ra thành máu chảy/ đầm đìa mỗi lỗ chân lông/ họ khóc toàn thân/ những giọt ròng ròng/ và lặng lẽ Cái chết là áp lực của mỗi cuộc chiến,
là sự hoang mang, nỗi cô đơn cùng cực khi bỗng dưng Xương thịt họ biến thành xương thịt cá, Những chiếc răng cá sấu cắn ngập trái tim mình, chỉ
trong khoảnh khắc mà bỗng dưng mọi sự chấm hết, đang cười nói bỗng trởthành câm lặng
Trang 34Âm hưởng chủ đạo của trường ca Anh Ngọc là âm hưởng anh hùngnhưng không thiếu những day dứt, dằn vặt trước đau thương mất mát, trướcthân phận con người trong cuộc chiến:
anh là đoạn phim quay nhanh đột ngột đến phút này dừng lại hàm răng há không sao ngậm lại cặp mắt mở không sao nhắm lại anh điểm trang bằng lúc nhúc một bầy dòi quàng quanh cổ cái chuỗi cườm quái gở lồng ngực anh một thời vạm vỡ
thành mái nhà che chở lũ nhặng xanh (Tôi từ chối – Sông Mê Kông bốn mặt)
Những người lính đã chiến đấu vì lý tưởng đến giây phút cuối cùng Họ
có mong ước nhỏ nhoi là đến phút cuối đời mình được nhận cái chết bình yên
ấm cúng mà không được, cái quyền ấy bây giờ anh đã mất.
Vòng xoáy cuộc chiến cuốn người lính vào những trận đánh liên miên,khiến tâm trạng họ luôn bất an, hỗn loạn Chính vì thế mà trong tâm khảm,trong trái tim của họ lúc nào cũng nhức buốt một mong ước đó là được trở lại
là chính mình:
Xin cho anh được trở lại là anh anh được sống với lòng mình chân thật sống cặm cụi như rễ cây bám đất không già nua mệt mỏi chẳng vô tình (Trái me này anh nhặt ở hoàng cung – Sông Mê Kông bốn mặt)
Là người từng thâm nhập vào đời sống chiến trường, Anh Ngọc cũng
đã nếm trải sự ác liệt, dữ dội của chiến tranh Hiện thực đời sống chiến trườngđược tái hiện lại trong trường ca qua hàng loạt chi tiết trần trụi, chân thực, cụthể Giống như các cây bút trường ca đi trước, Anh Ngọc cũng nói về tính
Trang 35chất ác liệt, dữ dội của chiến tranh, sự gian khổ của đời sống chiến trường màngười lính phải trải qua nhưng ngòi bút của ông sâu sắc hơn.
2.1.2 Cảm hứng thế sự, đời tư
2.1.2.1 Cái nhìn đa chiều về chiến tranh, lịch sử, con người
Anh Ngọc là người trực tiếp tham gia chiến tranh Ông đi ra từ cuộcchiến đấu gian khổ, khốc liệt với tinh thần tự hào của một người lính đã cốnghiến hết mình cho tổ quốc Những kỷ niệm của một thời lửa cháy, nhữngđồng đội đã ngã xuống thôi thúc ông luôn tưởng niệm Chính vì thế, trường cacủa ông mang nhiều tính tự bạch, tự thuật, là bài ca nói về đồng đội mình –những người cùng thời với mình Đọc trường ca, chúng ta thấy xuất hiện rất
nhiều những cụm từ thế hệ chúng tôi, đồng đội tôi… Nghĩa là, cái nhìn ở đây
là cái nhìn của người trong cuộc, cái nhìn ở phía chính diện, cái nhìn vềnhững người cùng chí hướng, cùng vượt qua gian khổ trong một phần cuộcđời của họ Cái nhìn đó (cái nhìn đa chiều về chiến tranh, lịch sử, con người)rất thật, rất cảm động và nhân ái Anh Ngọc luôn có xu hướng phản ánh, miêu
tả cuộc chiến tranh đúng như nó đã xảy ra Các trường ca của ông thật hơn khimiêu tả và phân tích hành động cao cả hay thấp hèn, những thân phận, cảnhhuống trắc trở, éo le, những thầm kín bản năng con người… Là người línhtừng vào sinh ra tử, Anh Ngọc không tách rời hiện thực bi tráng Mỗi cuộcchiến, mỗi tiếng súng, mỗi chiến thắng, mỗi sự hy sinh đều được ông đẩy lênthành biểu tượng cho sức sống bền bỉ và rạng rỡ của con người Việt Nam
Trong trường ca Anh Ngọc, chiến tranh bắt đầu bằng những tan tác,chia ly:
Họ đã về đây Những người vợ mất chồng Những người mẹ mất con Những đứa con mất cha, mất mẹ Nửa dân tộc khóc nửa kia đã mất Hai tay ôm lồng ngực gày gò
Trang 36Nước mắt không còn là tài sản của riêng ai (Phán xét – Sông Mê Kông bốn mặt)
Chiến tranh đã làm cho vợ mất chồng, con mất cha Chiến tranh cướp
đi sự hồn nhiên ngây thơ của con trẻ, cướp đi cái hạnh phúc sum vầy bên gia
đình, người thân, để lại những đứa trẻ lớn lên bằng nước mắt, nét già nua trên gương mặt trẻ con, lời thù hận tím bầm môi thiếu nữ, những tình yêu được nuôi bằng nước mắt Chiến tranh đã phủ một bầu không khí tang tóc lên
cuộc sống của con người:
Nơi trăm năm không có tiếng cười Chỉ có tiếng gầm gừ dã thú
(Đảo – Sóng Côn Đảo) Chiến tranh đã biến ruộng thành ao sông hóa bãi, đã làm xáo trộn tất
cả những sinh hoạt đời thường của cuộc sống làng quê, khiến cho cuộc sốngcon người vốn vất vả vì thiên tai địch họa giờ lại càng thêm khó khăn hơn:
Nước mênh mông ngập hết phố phường Con sóng đen những mái tóc bồng bềnh
Vỗ trên đầu triệu cuộc đời trôi dạt Những bàn chân không giày không dép Cuống cuồng chạy trốn dưới trời xanh (Con sóng đen – Sông Mê Kông bốn mặt)
Chiến tranh đã quét xuống thành phố không phải bằng tiếng gầm rú củathiết giáp, máy bay mà từ một góc nhìn hết sức bình dị của đời sống:
Thành phố ra đi chẳng kịp mang gì Những cánh cửa mở toang không kịp khóa Những ban công phất phơ áo tã.
(Con sóng đen – Sông Mê Kông bốn mặt)
Những câu thơ chân thực nhưng mới lạ trong cách cảm nhận, cách thểhiện bởi hệ thống hình ảnh khác lạ vốn không nằm trong trường liên tưởng
thông thường về chiến tranh Hình ảnh phất phơ áo tã hiện lên chính là hình
Trang 37ảnh có sức lên án, tố cáo cuộc chiến tranh một cách mạnh mẽ nhất Chiếntranh không chỉ làm cho người mẹ, người chị phải lam lũ, làm cho nhữngngười đàn ông phải hy sinh mà còn làm cho các em thơ – thế hệ tương lai củađất nước, mầm ươm của đất nước – không được một giấc ngủ yên, không
được một ngày hạnh phúc Các em luôn sống trong cảnh đói khát Con đói lắm cha ơi/ Cha nhớ mang về cho con một nắm xôi/ gói trong lá cây thốt nốt.
Đây là lời dặn dò của đứa trẻ chưa đầy ba tuổi hay chính là mũi tên đâm vàotriệu triệu trái tim của con người?
Trên cuộc hành trình để giành lại tự do, người lính đã trải qua biết baocảnh ngộ Trường ca Anh Ngọc đã cho chúng ta thấy nhiều mặt của cuộc đờingười lính Không chỉ họ chết vì bị bắn tỉa, vì mìn mà còn chết vì cái đói, cáikhát Anh Ngọc nhắc đến nỗi khổ này như một sự xót xa:
Bạn tôi chết vì một thằng bắn tỉa Mắt trợn trừng tay níu lấy trời xanh Một đứa khác chết vì mìn
Đứa thứ ba vì khát Lời trăng trối của nó là nước, nước Môi tím bầm, mạch máu cũng khô cong (Ngọn tháp xanh – Sông Mê Kông bốn mặt)
Con người đã chịu đựng đến tận cùng sự khổ cực Khắp nơi đâu đâu
cũng máu và xác chết:
Sắc chiều xám đôi bàn tay bị xích Trận đòn thù máu nhuộm đỏ hoàng hôn (Biển – Sóng Côn đảo) Những đống thây khô sau lớp đất vùi nông Chưa rửa hết chút thịt da oan khổ
Những góc ruộng bờ mương máu đổ Đêm đêm nức nở gió gào
Người sống chập chờn mơ kẻ chết
Trang 38Giật mình nghe gió gọi tên nhau (Tôi từ chối – Sông Mê Kông bốn mặt)
Như vậy, Anh Ngọc đã phản ánh một không gian sống mang tính đặctrưng của con người thời chiến Không gian ấy đậm chất hiện thực, gắn liềnvới cuộc chiến, nó mang một không khí tàn trận thê lương Cái không gian mà
con người nhìn vào cảm thấy ghê sợ, rợn ngợp bởi vây quanh họ chỉ có máu, xác chết và mùi thịt thối
Cũng giống như ba trường ca của Trần Anh Thái (Đổ bóng xuống mặttrời, Trên đường, Ngày đang mở sáng), trường ca Anh Ngọc cũng viết về đềtài chiến tranh nhưng cái nhìn của ông ở nhiều chiều kích hơn, khiến cho độcgiả có cái nhìn sâu hơn về chiến tranh và cảm nhận được sự đằm sâu của cảmxúc và suy nghĩ của tác giả
2.1.2.2 Bức tranh hiện thực về đời sống hậu chiến
Chiến tranh không phải là đề tài duy nhất của trường ca Anh Ngọc.Càng ở giai đoạn sau, trường ca Anh Ngọc càng có xu hướng mở rộng biên
độ hiện thực về phía cuộc sống đời thường Nhìn nhận bốn trường ca của AnhNgọc trong một quá trình, chúng ta có thể thấy sự thay đổi trong quan niệm
đề tài của tác giả Nếu như trường ca Sóng Côn Đảo, Sông núi trên vai chưa
quan tâm đến mảng hiện thực cuộc sống thời hậu chiến (đời sống hậu chiếnchỉ được nhìn nhận ở phương diện những tổn thất tinh thần của chiến tranh,
xét đến cùng vẫn thuộc đề tài chiến tranh) thì đến hai trường ca sau (Sông Mê Kông bốn mặt, Điệp khúc vô danh) đã tràn trề hơi thở của cuộc sống đương
đại Như vậy, sự nới rộng trong quan niệm đề tài đã mở rộng khả năng phảnánh hiện thực của trường ca, đem tới “sức sống mới”, “sức tố cáo mới” chotrường ca
Những dằn vặt trăn trở nhuốm màu thế sự này cũng là một cảm hứngtrong thơ của những tác giả cùng thế hệ Anh Ngọc, thế hệ những nhà thơ mặc
áo lính Từ chiến tranh trở về cuộc sống đời thường, Phùng Khắc Bắc viết:
Anh lại về ngôi nhà của mình
Trang 39Sau mười năm chiến tranh
Mẹ đón anh buổi bình minh nhập nhoạn Cơn mưa đón anh buổi hừng đông choạng vạng (…)
Không có trái bom nào rơi trúng mái nhà mẹ Không có viên đạn nào bắn thủng mái nhà mẹ Chỉ có đứa con trai đi xa
Chỉ có sự chờ đợi nặng nề giọt xuống
Đã xuyên thủng mái nhà thành những lỗ to lỗ nhỏ khác nhau
(Ngày hòa bình đầu tiên - Phùng Khắc Bắc)
Trong thơ Anh Ngọc, hình tượng người lính trở về sau chiến tranhđược mô tả qua những vần thơ đầy tâm trạng:
Anh đã về đến trước nhà mình run rẩy đặt bàn chân lên bậc cửa
kỷ niệm như chiếc bình đã vỡ lạnh lùng đau nhói dưới chân anh
… đâu rồi cái nồi, đâu rồi chiếc bát đâu rồi đôi đũa, đâu rồi cái thìa ngọn lửa đã tàn, mùi khói còn thơm đâu rồi bàn tay, đâu rồi đôi mắt…
(Điệp khúc bánh xe lăn – Sông Mê Kông bốn mặt)
Những câu hỏi dồn dập cứ xoáy vào tim người lính mãi không thôi.Những câu hỏi đặt ra không phải để hỏi mà để khẳng định một sự thật phũ
phàng hạnh phúc vỡ rồi không hàn lại được Rời xa chiến tranh, rời xa cái
chết, người lính không thể ngờ rằng đời sống khó khăn và hỗn độn thời hậuchiến đôi khi lại là “mặt trận không tiếng súng” Sau bao năm lăn lộn ở chiếntrường, giờ đây vật lộn với cuộc sống mưu sinh đời thường, người lính chua
Trang 40xót nhận ra không thể lợp mái nhà bằng bản tin chiến thắng mà phải lo đồng
tiền, bát gạo:
Trận đánh này phải tính từng cọng rạ, cái rơm Thanh củi, ngọn rau, miếng thịt, bát cơm
(Chân trời – Điệp khúc vô danh)
Sau chiến tranh là một cuộc sống khác Ra khỏi đội ngũ, người lính hiệndiện với tư cách những số phận cụ thể, trước mắt họ là bao điều khắc nghiệt củađời thường mà họ, giờ đây tồn tại như một con số đơn lẻ, phải đón nhận:
Sẽ sống ra sao trong căn nhà của mình?
Sống ra sao khi một mình một bóng (Đứng trước nhà mình – Sông Mê Kông bốn mặt)
Cuộc sống khó khăn và nhiều cám dỗ đã trở thành nguyên nhân đưa
đẩy con người tới bước lầm lạc và làm mòn nhân cách của họ:
Không chỉ diện quần bò và đeo kính râm
Lũ chuột ấy còn ưa dép cao su và thích màu quân phục Chúng có thể đi xe con, xách cặp da dày cộp
Móc túi nhẹ nhàng thôi nhưng tệ hại khôn lường (Chân trời – Điệp khúc vô danh) Trường ca Điệp khúc vô danh đã phản ánh rõ nét cái hỗn độn, bộn bề,
phức tạp, hào nhoáng giả tạo của cuộc sống đương đại:
Xe cứ chạy vì túi tiền phía trước Chỉ vì trong xe thiếu một trái tim (Chân trời – Điệp khúc vô danh)
Anh Ngọc trực tiếp va chạm với một đời sống hiện thực không lý tưởnghóa, lãng mạn hóa xã hội sau chiến tranh Trước hết, đó là nhận thức về nỗiđau có thực với những mất mát về con người, về tinh thần ngày càng thấmsâu Tiếp đó là những cảm nhận về trạng thái xã hội hiện tại với những khiếmkhuyết, băng hoại về môi trường và nhân cách, chứa đầy những thông tin